41-50
Chương 41
giới thiệu
Albert tiếp tục câu chuyện:
- Thưa bá tước, bây giờ xin phép cho tôi được giới thiệu với ngài ngôi nhà của một thanh niên chưa vợ như tôi, và cũng để ngài biết một thanh niên thủ đô sống ra sao.
Bá tước Monte Cristo theo Albert lên phòng hội họa, nơi mà chàng thanh niên ưa thích nhất, và sau đó tới phòng ngủ trang trí rất lịch sự và kín đáo. Trên tường có treo một bức chân dung sơn dầu đặt trong một chiếc khung vàng chói, do một họa sĩ nổi danh đương thời vẽ.
Bức chân dung đó rõ ràng làm bá tước phải chú ý, vì bá tước bước nhanh tới và đứng sững trước bức tranh. Đó là chân dung một thiếu nữ có nước da nâu, cặp mắt rực sáng ẩn dưới đôi lông mi mệt mỏi. Cô gái mặc một chiếc áo chẽn kiểu của dân chài lưới vùng Catalans, sọc đen xen đỏ, và những cái ghim vàng cài trên tóc. Cô nhìn ra biển, và hình dáng kiều diễm của cô nổi bật trên nền màu xanh của bầu trời và của biển cả.
Bá tước đứng trong bóng tối nếu không thì Albert đã nhìn thấy bộ mặt tái nhợt và bộ ngực phập phồng vì xúc động của ông khách. Sau vài phút im lặng, mắt dán vào bức tranh, bá tước nói một cách điềm nhiên:
- Tử tước có một người yêu tuyệt đẹp.
- A! Thật là một sự nhầm lẫn khó mà tha thứ được. Ngài không biết mẹ tôi, chính mẹ tôi trong tranh đấy, và bức tranh vẽ cách đây bảy, tám năm rồi. Mẹ tôi đã nhờ ông họa sĩ vẽ trong bộ quần áo và theo kiểu mà mẹ tôi ưa thích. Nhưng có lẽ vì đã vẽ trong lúc cha tôi đi vắng nên cha tôi không thích. Do đó, mẹ tôi đã cho riêng tôi và thỉnh thoảng vào ngắm để khói làm phật ý cha tôi. Nhưng có điều lạ lùng là hiếm khi mẹ tôi ngắm bức tranh mà không khóc.
Bá tước liếc nhìn Albert, xem xét mặt anh thanh niên đó biến đổi gì không, nhưng thấy anh vẫn hồn nhiên như thường. Albert nói tiếp:
- Bây giờ, xin ngài cho phép tôi được giới thiệu ngài với cha tôi, bá tước Morcerf. Hồi còn ở Rome, tôi có viết thư về kể hết câu chuyện tôi được ngài cứu trong trường hợp như thế nào cho cả nhà tôi biết, do đó cha mẹ tôi rất mong được gặp ngài để tạ ơn. Tôi cũng đã cho cha tôi biết tin ngài đến thăm.
Bá tước Monte Cristo chỉ nghiêng mình mà không nói gì rồi lặng lẽ theo Albert. Hai người đi qua tiền sảnh rồi bước vào phòng khách. Trên tường cũng treo chân dung một người đàn ông quãng bốn mươi tuổi, mặc áo võ tướng, ngù vai có tua vàng, ngực đeo Bắc đẩu bội tinh. Bá tước đang lơ đễnh nhìn bức tranh ấy thì cánh cửa ngách mở ra, một người đàn ông đứng tuổi bước vào phòng.
Đó là một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, tóc cắt ngắn, đã bạc gần hết, nhưng bộ ria mép và đôi lông mày rậm thì còn đen nhánh. Ông ta mặc thường phục, dáng đi bệ vệ và hơi vội vã. Bá tước Monte Cristo vẫn đứng nguyên tại chỗ, mắt đăm đăm nhìn người mới vào. Albert vội vàng chạy đến đứng giữa hai người nói:
- Thưa cha, con xin hân hạnh giới thiệu với cha: Bá tước Monte Cristo, một người bạn đại lượng mà con đã có diễm phúc được gặp trong những hoàn cảnh gay go mà cha đã biết.
- Thưa ngài - bá tước De Morcerf cúi đầu mỉm cười chào, - tôi xin kính chào vị ân nhân đã cứu tính mạng người thừa kế duy nhất của nhà tôi, chúng tôi không bao giờ dám quên ơn ấy.
Morcerf mời bá tước Monte Cristo ngồi xuống một chiếc ghế bành và y cũng ngồi xuống một chiếc khác cạnh cửa sổ. Bá tước Monte Cristo ngồi vào chiếc ghế được chỉ định, cố thu xếp sao cho thật sát vào tấm màn cửa để bóng tối của nó có thể che lấp bộ mặt của mình, nhưng lại có thể đọc được tùng chi tiết trên bộ mặt nhăn nheo và mệt mỏi, dường như chứa đựng một nỗi lo âu thầm kín của Morcerf.
- Nhà tôi cũng đã được báo cho biết có ngài hạ cố đến chơi. Bà ấy đang sửa soạn và sắp xuống chào ngài.
- Thật là vinh dự lớn cho tôi được tiếp xúc với một gia đình quý tộc có nhiều chiến công hiển hách và nói về tài sản thì đứng vào bậc nhất nhì Paris.
- Dạ thưa ngài - Morcerf hơi đỏ mặt đáp lại - tôi tiếc rằng đã về hưu rồi, chứ nếu được tham gia vài chiến dịch nữa có lẽ cũng sẽ làm nên đến chức thống chế. Nhưng tôi đã cởi bỏ bộ quân phục để khoác cái áo nghị sĩ dân biểu và đấu tranh trên vũ đài chính trị. Ngoài ra, tôi cũng đang ra sức mở mang công nghiệp và len lỏi trên thị trường quốc tế.
- Ngài quả là một đại biểu xứng đáng của một quốc gia oanh liệt và giàu mạnh. Ôi, một con người như ngài thật là tuyệt vời. Thật là hiếm có!
Albert nhìn bá tước, ngạc nhiên, vì từ lúc biết bá tước, anh chưa bao giờ thấy bá tước tán tụng ai như vậy.
- Chao ôi! - Bá tước Monte Cristo thở dài nói tiếp - Những người ở nước chúng tôi còn xa lắm mới đuổi kịp dân tộc ngài, vì chúng tôi còn để lãng phí thì giờ nhiều lắm.
- A! Mẹ đây rồi - Albert reo lên.
Bá tước Monte Cristo vội quay lại, thấy Morcerf phu nhân đang đứng sững người ở cửa phòng khách, mặt nhợt nhạt, người không nhúc nhích, cánh tay buông thõng. Monte Cristo đứng lên cúi rạp xuống chào. Phu nhân nghiêng mình đáp lễ không nói một câu.
- Trời, thưa bà - Bá tước nói - Bà làm sao vậy? Phải chăng không khí ngột ngạt trong phòng làm bà khó chịu?
Albert chạy đến trước mẹ kêu lên:
- Mẹ làm sao thế? Mẹ ốm à?
Mercédès mỉm cười, cám ơn cả hai người rồi chậm rãi trả lời:
- Không, tôi chỉ hơi bị xúc động trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với một người, mà nếu người đó không tận tình giúp đỡ, thì gia đình tôi lúc này chưa biết chừng chỉ là tang tóc, đau thương - Nói xong, Mercédès bình thản bước lại gần và tiếp tục - Thưa ngài, tôi mắc nợ ngài về việc ngài cứu tính mạng của con tôi. Xin ngài nhận lấy lời cảm ơn cũng như lời cầu phúc từ đáy lòng tôi.
Bá tước Monte Cristo lại cúi xuống thấp hơn lần trước, bộ mặt còn tái xanh hơn cả bộ mặt của Mercédès:
- Thưa bà, bà và ngài bá tước đánh giá quá cao hành động bình thường ấy của tôi. Cứu một người, tránh cho người cha một nỗi đau khổ, giảm nhẹ tình cảm thương tiếc của một người mẹ, đó không phải là một điều làm ơn mà chỉ là một hành động nhân đạo.
Đáp lại những lời nói dịu dàng và lịch sự ấy, bà Mercédès nói một cách sâu sắc:
- Thật là hạnh phúc cho con tôi được ngài làm bạn, tôi cám ơn Thượng đế đã sắp xếp như vậy.
Nói xong, bà Mercédès ngước cặp mắt tuyệt đẹp lên trời với một niềm biết ơn vô hạn, trong đó Monte Cristo thấy có rưng rưng hai giọt lệ.
Bá tước De Morcerf lại gần vợ bảo:
- Tôi đã xin lỗi vị khách quý của chúng ta là tôi có việc phải đi ngay bây giờ. Phiên họp khai mạc lúc hai giờ mà bây giờ đã ba giờ rồi. Vậy bà ở nhà tiếp khách, để tôi đi.
- Vâng, ông cứ đi đi - Bà bá tước đáp, rồi quay sang bá tước Monte Cristo - Thưa ngài, ngài cho chúng tôi cái vinh dự được đón tiếp ngài cho đến hết ngày hôm nay chứ?
- Cám ơn bà. Nhưng như bà biết đấy, tôi vừa ở xa đến là tới ngay đây nên chưa hề biết nhà cửa và chỗ ăn ở của tôi ra sao cả. Đó cũng là chuyện bình thường, nhưng cần phải quan tâm đến.
- Vậy để lần khác, ngài hứa với tôi chứ?
Bá tước Monte Cristo nghiêng mình không trả lời, nhưng cử chỉ đó cũng có nghĩa là ưng thuận rồi.
- Vậy - bà bá tước nói - tôi không dám giữ ngài ở lại nữa. Tôi không muốn sự biết ơn của tôi biến thành hoặc là sự tò mò hoặc sự quấy rầy.
- Bá tước thân mến - Albert nói - nếu ngài vui lòng, tôi sẽ để ngài dùng cỗ xe của tôi cho đến khi nào ngài tậu được xe mới.
- Rất cám ơn lòng nhiệt thành của tử tước. Tôi nghĩ là người quản gia của tôi đã có đủ thì giờ sắm một cỗ xe. Lúc này có lẽ ông Bertuccio đã mang tới chờ tôi ở ngoài cửa rồi.
Quả nhiên, lúc Albert tiễn bá tước ra đến cửa, chàng hết sức ngạc nhiên thấy một cỗ xe rất lịch sự của một hãng đóng xe nổi tiếng nhất Paris, đứng chờ ở đó rồi. Sau khi bá tước đã lên xe và những con ngựa đã phóng nước đại trên đường phố, Albert quay về phòng khách, thấy mẹ đang ngồi thu mình trong chiếc ghế bành, đầu phủ một chiếc khăn the che lấp bộ mặt nhợt nhạt và trên mặt bàn có để một lọ dầu xoa. Albert liền bảo:
- Mẹ ơi, mẹ ốm thật rồi đấy. Mẹ thấy trong người khó chịu lúc con ra ngoài kia phải không?
- Mẹ ấy à, không đâu con ạ. Chính là tại trong phòng này có nhiều thứ quá, nhất là mẹ lại không quen ngửi mùi hoa cam, nó có mùi rất hắc.
- Nếu vậy để con bảo gia nhân mang hết hoa ra ngoài kia. Nhưng đúng là mẹ có khó ở vì ngay lúc mới bước chân vào đây, mặt mẹ đã tái nhợt rồi.
Vừa lúc đó có một gia nhân vào, Albert bảo mang hết hoa ra. Sau khi chậu hoa cuối cùng đã được mang đi, bá tước phu nhân hỏi Albert:
- Danh hiệu bá tước Monte Cristo là thế nào? Đó là tên một dòng họ, tên một mảnh đất hay chỉ là một tước vị bình thường, hả con?
- Thưa mẹ, con cho đó chỉ là một tước vị. Bá tước đã mua một hòn đảo ở quần đảo Tuscan, có thế thôi. Nhưng dư luận chung ở Rome coi bá tước là một vị đại chúa tể.
- Con nghĩ về bá tước như thế nào?
- Một con người kỳ dị có những hành vi rất bí mật. Bá tước là một vị chúa đảo, giao dịch với cả bọn cướp biển và buôn lậu. Nhưng dù sao con cũng thấy ông ấy có một phong cách tuyệt vời, làm xiêu lòng mọi người. Các bạn con đều rất khâm phục. Con tin là ông ấy sẽ chiếm được nhiều tình cảm trong những phòng khách và giới thượng lưu ở Paris.
Phu nhân cúi đầu có vẻ tư lự, rồi với giọng run run, hỏi Albert:
- Con... con có... yêu ông ấy không?
- Thưa mẹ, con thấy mê ông ấy, mặc dù Francs đã kể cho con nghe nhiều chuyện lạ lùng về ông ấy.
Phu nhân có vẻ hãi hùng, nói lạc cả giọng:
- Albert con, mẹ thường luôn dặn con phải đề phòng khi có những giao dịch mới. Bây giờ con đã lớn rồi, con đã có thể khuyên được cả mẹ nữa rồi. Tuy nhiên mẹ thấy vẫn phải nhắc với con: Hãy thận trọng con ạ.
- Mẹ bảo con đề phòng gì bây giờ? Bá tước không bao giờ đánh bạc. Bá tước chỉ uống một thứ nước đỏ nhỏ một giọt rượu Tây Ban Nha. Bá tước giàu đến nỗi chẳng bao giờ cần vay tiền của con cả. Vậy thì mẹ bảo con còn lo ngại gì đối với bá tước?
- Con nói đúng đấy, những nỗi lo ngại của mẹ thật là hão huyền, nhất là đối với người đã cứu tính mạng con. Còn về phần cha con thì thế nào? Cha con thì rất bận, liệu có điều gì sơ suất với bá tước chăng?
- Thái độ của cha con rất là tuyệt. Hơn thế nữa, cha lại rất hài lòng về những lời chúc tụng của bá tước, cứ như là bá tước đã quen biết cha con đến ba mươi năm nay rồi, cho nên lúc từ biệt nhau, hai người cứ như là đôi bạn thân nhất đời.
Phu nhân không trả lời nữa. Bà như đang đắm chìm vào một cơn mơ mộng, từ từ nhắm mắt lại. Chàng thanh niên đứng trước mặt mẹ, nhìn mẹ một cách âu yếm. Khi thấy mẹ đã nhắm mắt, hơi thở đã đều đều, anh nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng, vừa đi anh vừa lẩm bẩm một mình:
"Con người kỳ quặc đó, mình đã nói trước là sẽ làm chấn động thế giới. Mẹ ta đã để ý đến thì hẳn phải là con người đáng gờm!".
Chương 42
ông bertuccio
Toà nhà ở Paris mà Ali đã chọn tìm cho bá tước Monte Cristo ở đại lộ Champs-élysées nằm giữa một cái sân và một khu vườn rộng. Trước mặt nhà có xây một hòn non bộ rất cao, trồng cây rậm rạp, hai bên là đường đi rải sỏi, có đặt những chậu sành trồng đủ các thứ hoa, xung quanh nhà có hàng rào sắt kiên cố, có cổng chính và cổng hậu.
Cỗ xe vừa đỗ trước cổng, hai người đã chạy vội ra đón bá tước. Đó là Ali, tươi cười nhìn ông chủ vẻ vui mừng, còn Bertuccio cúi rạp xuống chào và giơ tay cho bá tước nắm để xuống xe. Bá tước vừa trèo lên bậc tam cấp vừa hỏi:
- Ông Bertuccio, viên quản khế đã tới chưa?
- Thưa đã! Ông ta đang chờ ngài bá tước trong phòng khách.
- Còn những tấm danh thiếp, ông đã cho in chưa?
- Xong cả rồi ạ. Và tôi đã gửi một tấm cho ngài nam tước Danglars ở Số 7, đại lộ Chaussée-d’Antin.
- Tốt lắm. - Bá tước nói, rồi đi theo người quản gia vào phòng khách
Bertuccio giới thiệu viên quản khế đang ngồi chờ trên ghế. Bá tước hỏi:
- Ông quản khế, ông đã thảo xong bức văn tự bán ngôi nhà nghỉ mát cho tôi chưa? Nó ở đâu?
- Thưa ngài! Ở Auteuil, giữa rừng Boulogne, cách đây không xa lắm.
Nghe viên quản khế nói tên địa điểm, Bertuccio tái mặt.
- Tôi tưởng một ngôi nhà nghỉ mát phải ở nông thôn. - Bá tước nói vẻ lơ đễnh. - Không ngờ lại gần thế. Thôi cũng tạm được ông đưa bản hợp đồng cho tôi xem.
Bá tước nhìn qua bản hợp đồng, cầm bút ký rồi bảo Bertuccio:
- Ông trả cho ông quản khế năm mươi lăm ngàn frăng.
- Thưa ngài bá tước! - Viên quản khế thật thà nói. - Kể cả mọi khoản phí tổn chỉ có năm mươi ngàn frăng thôi ạ.
- Không sao, chỗ tiền thừa là khoản thù lao cho ông và bây giờ mời ông về nhà nghỉ.
Viên quản khế cúi rạp xuống đất chào rồi lùi ra phía cửa. Ông ngạc nhiên vì thấy từ ngày đi làm đến giờ ông chưa gặp một ông khách nào giàu như thế này. Bá tước rút cuốn sổ tay ra ghi địa chỉ ngôi nhà nghỉ mát rồi gọi người quản gia bảo:
- Ông Bertuccio, ông có biết rõ vùng ngoại ô Paris không?
- Thưa ngài không ạ! - Lão quản gia có vẻ lúng túng sợ sệt. - Nếu vậy, ông đi Auteuil với tôi để xem ngôi nhà ra sao. - Bá tước nói và nhìn thẳng vào mặt lão ra lệnh.
Bertuccio mặt mũi tái nhợt, cúi đầu đi theo bá tước.
Chương 43
ngôi nhà auteuil
Monte Cristo nhận thấy khi đi xuống các bậc thềm, Bertuccio đã làm dấu thánh giá theo kiểu người Corse, nghĩa là dùng ngón tay cái chặt vào không khí theo hình chữ thập, và lúc ngồi trong xe lão lâm râm cầu kinh.
Hai mươi phút sau cỗ xe chạy tới Auteuil và đỗ trước một ngôi nhà ở phố La Fontaine. Sự xúc động của viên quản gia càng tăng. Lão xuống xe đến gõ cửa, người gác cổng chạy ra. Bertuccio đưa tờ biên lai giới thiệu:
- Đây là vị chủ nhân mới đến xem ngôi nhà.
-Ngôi nhà này bán rồi à? - Lão gác cổng ngạc nhiên hỏi.
- Phải! - Bá tước nói. - Bán cho tôi
- Bán đi cũng phải. - Lão gác cổng lẩm bẩm. - Ngài hầu tước Saint Méran giữ ngôi nhà này chẳng được lợi gì cả.
- Hầu tước Saint Méran! - Monte Cristo nói. - Cái tên này nghe quen quá nhỉ! Hầu tước Saint Méran...
- Một nhà quý tộc già, một người trung thành với Đức vua. Ngài có một cô con gái độc nhất gả cho quan phó biện lý Villefort.
Monte Cristo liếc nhìn Bertuccio thấy lão tái mét mặt phải đứng dựa vào tường mới vững.
- Cô con gái ấy hình như chết rồi phải không? - Monte Cristo hỏi. - Tôi nghe người ta nói thế.
- Thưa ngài vâng! Chết cách đây đã hai mươi mốt năm rồi và từ ngày đó tôi không thấy mặt hầu tước quá ba lần.
Trời đã sẩm tối, bá tước nhét vào tay người gác cổng hai đồng tiền vàng và bảo:
- Bây giờ, lão lấy đèn soi đường đưa tôi vào.
Lão gác cổng tay cầm đèn run run vì món thù lao quá hậu hĩnh, đưa ông khách lên gác trên gồm hai buồng ngủ và một buồng tắm, phía sau có một cầu thang ăn thông ra vườn. Tới đây bá tước cho lão gác cổng trở lui.
Bertuccio mặt như gà cắt tiết, chân đi không vững, theo bá tước ra ngoài vườn. Trăng toả một ánh sáng mờ nhạt. Qua một con đường nhỏ tới một lùm cây đen ngòm, bá tước dừng lại. Bertuccio lau mồ hôi trán, không thể tự kiềm chế được lâu hơn nữa, lão kêu lên thất thanh.
- Ôi! Thưa bá tước! Xin ngài cho phép tôi ra khỏi chốn khủng khiếp này, tôi van ngài!
- Ông Bertuccio, ông làm sao thế? Ông mất trí rồi sao?
Lão quản gia lắc đầu và chắp hai tay vào nhau nói có vẻ thảm thiết:
- Chao ôi! Xin ngài hãy thương tôi, một con người thật thà, chất phác, và nếu tôi đã gây ra tội ác, chẳng qua chỉ vì mối thù truyền kiếp!
Nói xong, lão quỳ xuống ôm lấy chân bá tước. Bá tước thản nhiên:
- Mối thù truyền kiếp. Phải! Tôi đã biết rõ cái tập quán bất hủ của dân đảo Corse các ông. Bây giờ, ông hãy nhớ lại từng sự việc và kể rành rọt cho tôi nghe.
- Câu chuyện này đã có lần tôi kể cho linh mục Busoni nghe rồi, và coi đó là lời thú tội của tôi. Ngoài ra tôi không muốn phải nhắc lại nữa.
- Ngài linh mục nghe vì ngài thay quyền Thượng đế rửa tội cho ông. Còn tôi, tôi cần nghe để khỏi bị ông cảnh sát trưởng đến thăm, nếu câu chuyện bị vỡ lở ra.
- Thưa ngài bá tước! Thưa ngài! - Bertuccio nghe thấy vậy hoảng hốt kêu lên. - Tôi xin kể ngài nghe không sót một chi tiết nào. Tôi mong được sự che chở của ngài cũng như sự che chở của linh mục Busoni. Xin ngài hãy đứng ra chỗ khác vì hắn đã bị ngã gục ở chỗ này.
- Hắn là ai? - Bá tước điềm tĩnh hỏi.
- Villefort, phó biện lý, con rể hầu tước Saint Véran.
Chương 44
mối thù truyền kiếp
Bertuccio hỏi:
- Thưa ngài bá tước! Ngài muốn tôi bắt đầu từ đâu?
- Tùy ông, tôi có biết gì đâu mà muốn với không muốn.
- Tôi tưởng linh mục Busoni đã nói với ngài...
- Có! Một vài chi tiết thôi, nhưng đã bảy tám năm nay rồi, tôi chẳng còn nhớ mấy tý.
- Vậy tôi có thể, không làm nhàm tai ngài chứ?
- Cứ nói đi. Ông thay tờ báo buổi tối cho tôi.
Bertuccio bắt đầu kể:
- Sự việc diễn ra từ năm 1815, trong thời kỳ Hoàng đế Napoléon trở lại ngôi báu một trăm ngày. Tôi có một người anh cả, thiếu úy trong đạo quân viễn chinh của Hoàng đế, bị thương trong cuộc thất trận ở Waterloo, theo đơn vị rút lui về miền Nam nước Pháp. Một hôm, tôi nhận được thư của anh tôi viết từ Nimes bảo tôi gửi cho ít tiền. Tôi rất thương anh nên còn một nghìn frăng tôi đưa cho chị dâu tôi một nửa, còn một nửa tôi lên đường đem đi Nimes. Lúc này ở miền Nam nước Pháp, vì tình hình chính trị hỗn loạn, trộm cướp nổi lên như rươi và những vụ giết người, cướp của thường diễn ra hàng ngày. Tôi tới quán trọ mà anh tôi đã hẹn tới, thì đau đớn quá, anh tôi đã bị người ta giết chết từ hôm trước, và không biết thủ phạm là ai.
Tôi tới yết kiến quan chưởng lý Villefort, trước kia làm phó biện lý ở Marseille, yêu cầu ngài mở cuộc điều tra để tìm ra thủ phạm. Lúc được biết anh tôi là người đảo Corse và là sĩ quan của Napoléon, Villefort trắng trợn nói, anh tôi chết là đáng đời vì nếu còn sống cũng sẽ bị xử bắn về tội theo kẻ tiếm ngôi. Tôi van nài xin cho chị dâu tôi được hưởng món tiền tủ tuất thì y cũng từ chối nốt. Tôi ra về, căm thù y thâm gan tím ruột, và ngài cũng biết rằng, một khi người Corse chúng tôi căm thù ai thì ghê gớm lắm. Tôi quyết trả thù cho anh tôi và, nếu không giết được hung thủ, tôi cũng tìm cách hạ sát được kẻ đã lăng mạ anh tôi. Tôi nói thẳng vào mặt Villefort là kể từ giờ phút này tôi sẽ không đội trời chung với y. Y biết là thế nào tôi cũng giữ lời thề nên đâm hoảng, phải xin thuyên chuyển đi Versailles.
Dù xa xôi tới mấy tôi cũng lặn lội tới được chỗ ở của y. Tôi có thể giết được y một cách dễ dàng nhưng phải làm thế nào để khỏi bị bắt. Trong ba tháng trời, tôi theo dõi y từng bước, và một hôm, tôi thấy y bí mật tới Auteuil, vào ngôi nhà này bằng cửa ngách ở khu vườn. Ngôi nhà này là nhà nghỉ mát của hầu tước Saint Méran, bố vợ của Villefort. Vì hầu tước ở Marseille nên ngôi nhà bỏ trống và cho một nữ nam tước goá chồng thuê.
Một buổi tối, tôi đứng nấp ngoài hàng rào, thấy một thiếu phụ trẻ, đẹp đi thơ thẩn một mình trong vườn, thỉnh thoảng lại nhìn ra phía cửa ngách. Khi thiếu phụ tới gần, tôi nhận ra cô chỉ độ mười tám tuổi, mặc áo choàng ngủ, để lộ một cái bụng to tướng, có lẽ sắp tới ngày ở cữ. Một lát sau, cửa mở, một người đàn ông bước ra, hai người ôm nhau đi vào trong nhà. Người đàn ông chính là Villefort, còn thiếu phụ thì tôi không biết tên. Tôi bèn đi quanh nhà quan sát rất kỹ lưỡng, chờ cơ hội thuận tiện.
Ba hôm sau, vào quãng bảy giờ tối, tôi thấy một người đầy tớ trong nhà cưỡi ngựa đi về Versailles, tôi đoán là đi tìm Villefort. Quả nhiên ba giờ sau y cưỡi ngựa đến vào trong vườn, khóa cửa lại rồi vào nhà. Tôi lẻn vào vườn nấp đằng sau lùm cây vì cho rằng lúc ra về thế nào Villefort cũng đi qua đây.
Đêm hôm đó, vào khoảng cuối tháng Chín, trời tối đen, gió thổi rất mạnh. Đến nửa đêm, tôi nghe trong nhà có tiếng rên rỉ. Đèn cầu thang thắp sáng, một người mặc áo choàng bước ra vườn, tay cầm một vật gì. Khi người ấy tới gần lùm cây tôi nhận ra là Villefort. Tay y cầm một cái cuốc, chưa hiểu y dùng cuốc để làm gì. Tôi rút dao găm ra chờ lúc hành sự. Tôi thấy y bỏ cái bọc giấu trong áo choàng ra và cầm cuốc đào một cái hố. Tôi nhìn kỹ, thấy cái bọc là một cái hòm nhỏ, dài khoảng sáu mươi, rộng hai mươi phân. Y đào xong, bỏ cái hòm xuống, lấp đất lên và lấy cuốc san phẳng mặt đất.
Nhanh như cắt, tôi nhảy tới, đâm một nhát trúng ngực y và hét to: "Ta là Bertuccio, ta trả thù cho anh ta và mang số tiền bạc mi chôn giấu về cho chị dâu ta". Tôi bới cái hòm lên, lấp đất lại như cũ rồi nhảy qua hàng rào chuồn thẳng.
Tôi chạy một mạch ra bờ sông, ngồi nghỉ một lát rồi lấy dao nạy nắp hòm ra để xem vớ được bao nhiêu tiền. Nhưng lạy Chúa! Trong một cái tã bằng vải rất mịn, bọc một hài nhi đỏ hỏn còn thoi thóp thở. Tôi bèn ghé miệng vào mình đứa trẻ, để truyền vào ngực nó hơi thở nóng hổi của tôi và một lát sau nó thét lên một tiếng, nhưng là một tiếng vui mừng. "Ôi! Lạy Chúa! Xin Chúa hãy tha tội cho con, con đã tiêu diệt một mạng người để đổi lấy một cuộc sống của một mạng người!".
Tôi bèn tìm đến một cô nhi viện, nói là nhặt được đứa bé ở dọc đường, và trước khi trao đứa bé cho người ta, tôi đã cắt đôi chiếc tã giữa hai chữ thêu ở góc, và giữ lại một nửa. Trên cái tã có thêu hai chữ H và N.
Mười lăm hôm sau, tôi trở về làng nói cho chị dâu tôi biết, tôi đã trả thù cho anh tôi rồi và kể chuyện cứu sống được đứa trẻ. Chị tôi ngỏ ý tiếc là tại sao không đem về nuôi để chuộc tội với Chúa. Tôi bèn đưa nửa mảnh tã cho chị dâu tôi và nói bao giờ có tiền sẽ đến chuộc đứa bé về.
Để xua đuổi những hình ảnh quá hãi hùng và cũng để cưu mang người chị dâu tôi quá khổ cực, tôi trở thành một tay buôn lậu ở vùng biển miền Nam nước Pháp. Bọn chúng tôi thường giao dịch với tên chủ quán trọ ở Beaucaire mang tên "Quán trọ cầu sông Gard". Công việc làm ăn của tôi khá phát đạt vì có những mánh lới tinh vi, vì tính gan dạ và kiên trì, nhẫn nhục. Một ngày kia, tôi trở về nhà sau một thời gian khá dài vắng mặt, vừa bước vào cửa đã thấy trong buồng chị Assunta, có một cái nôi rất đẹp, bên trong đặt một đứa con trai bảy, tám tháng. Thì ra chị dâu tôi, trong lúc tôi vắng nhà, đã lên tận Paris xin đứa bé về sau khi đưa mảnh tã làm chứng.
Tôi vô cùng sung sướng vớ được thằng bé và cho là Thượng đế đã ban ân cho tôi. Tôi hết lòng yêu quý nó và chị dâu tôi cũng rất nuông chiều nó. Tôi đặt tên cho nó là Benedetto. Ôi! Thằng bé nom ngộ nghĩnh quá! Đôi mắt xanh biếc. Mớ tóc vàng làm nổi bật nước da trắng mịn và nó có cái miệng cười rất hóm hỉnh. Ngày nào chị dâu tôi đi chợ cũng mua về cho nó rất nhiều quà bánh, và cũng chỉ vì quá nuông chiều nên nó đâm ra hư hỏng. Khi nó lên sáu tuổi, hàng xóm luôn kêu mất những thứ lặt vặt, và có một hôm nó ăn cắp một đồng tiền vàng của một người ở cạnh nhà. Nó biến mất suốt ngày hôm đó và mãi đến chiều tối mới vác mặt về nhà, đem theo một con khỉ, nó vừa mua được của một anh làm xiếc rong. Tôi giận tái người định cho nó mấy cái tát tai. Nó kêu ầm lên, bảo tôi không phải là cha nó nên không có quyền đánh nó. Tôi đành nhượng bộ. Được thể nó lại càng làm già, chẳng còn coi ai ra gì.
Càng lớn nó càng hung hãn, ngỗ ngược làm lắm điều xằng bậy. Nó tiêu tiền như rác và chị dâu tôi lại sợ nó một phép. Mới hơn mười tuổi đầu mà nó đã giao du với những thằng ba que xỏ lá, lưu manh côn đồ nhất vùng, và nhà chức trách đã nhiều lần phải cảnh cáo nó. Tôi đâm hoảng, định đem nó đi theo tôi, vì tôi nghĩ rằng cuộc đời gian nan, nguy hiểm của nghề buôn lậu sẽ rèn luyện nó trở thành người khôn ngoan, chín chắn. Tôi nói rõ ý định cho nó. Chẳng ngờ nó cười vào mũi tôi, nói là nó chẳng thích làm nghề đó một chút nào, bị vào tù như chơi, vì ở nhà nó cũng kiếm được khối tiền tiêu, bao giờ hết tiền đã có chị dâu tôi cho. Tôi chán nản quá định bụng đi buôn một chuyến nữa, khi nào về sẽ có kế hoạch sau.
Tôi ghé thuyền vào bờ biển miền Nam nước Pháp, tìm đến cái quán trọ trên đường đi Beaucaire mà tên chủ quán là người cùng bọn với chúng tôi. Tên hắn là Caderousse, trước làm thợ may ở Marseille, sau làm ăn thua lỗ phải bò ra đấy.
- Ông nói lại tên chủ quán là gì? - Monte Cristo hỏi, hình như bá tước đã bắt đầu quan tâm đến câu chuyện của Bertuccio.
- Hắn tên là Caderousse, Gaspard Caderousse. Hắn lấy vợ người làng Carconte; chúng tôi không biết tên thật của mụ là gì, ngoài tên làng của mụ. Mụ ta mắc bệnh sốt rét cứ như người sắp chết, còn anh chồng thì to lớn vào quãng bốn tư, bốn lăm tuổi.
- Việc đó xảy ra vào năm nào? - Monte Cristo hỏi tiếp.
- Thưa bá tước! Năm 1829.
- Vào tháng nào?
- Tháng Sáu.
- Đầu hay cuối tháng?
- Vào buổi chiều ngày mồng ba.
- Á! À! - Monte Cristo nói. - Chiều ngày 3 tháng Sáu năm 1829... Tốt! Ông nói tiếp đi.
- Chúng tôi có lệ đi vào nhà hắn không cần công khai, chỉ việc lặng lẽ nhảy qua hàng rào của mảnh vườn rồi trèo lên gác xép chỉ cách phòng ăn một tấm liếp mỏng. Tôi ngồi trên đó, thấy Caderousse dẫn một người lạ mặt vào nhà. Đó là một người mua bán kim hoàn có nhiều vốn liếng ở chợ Beaucaire.
Caderousse bước vào phòng, gọi vợ bảo:
- Này nhà nó, lão linh mục tốt bụng không lừa dối cánh mình đâu. Viên kim cương này trị giá đúng năm chục ngàn frăng và ngài đây sẵn sàng trả với giá đó. Bây giờ, nhà hãy nói cho ngài biết chúng mình đã có viên kim cương trong trường hợp nào. Hình như trời sắp có dông, oi lắm, để tôi đi lấy thức giải khát cho ngài.
Người khách ngồi xuống ghế, ngắm căn buồng rồi nghe mụ vợ Caderousse kể chuyện từ lúc gặp vị linh mục người Ý ra sao, sau đó bảo tên chủ quán cho xem lại viên kim cương. Ông ta cầm viên kim cương, rút cái cân tiểu ly trong túi ra cân, ngắm vuốt một lúc rồi nói chỉ trả cho bốn mươi ngàn vì chỉ đem theo có thế.
Vợ chồng Caderousse đang ngần ngừ thì ông khách rút trong cặp ra một nắm tiền vàng đỏ ối và một thếp giấy bạc làm vợ chồng tên chủ quán hoa cả mắt.
- Được! - Caderousse nói. - Tôi bằng lòng để cho ngài với giá đó nhưng ngài phải thêm cho tôi một sợi dây chuyền và một đôi bông tai.
Người khách rút cái hộp đựng đồ nữ trang ra đưa cho vợ Caderousse một sợi dây chuyền vàng và một đôi hoa tai, rồi xỉa ra bàn đủ số tiền, vừa tiền vàng, vừa tiền giấy.
Riêng tôi, lần đầu tiên trông thấy một món tiền khổng lồ như vậy, tôi cũng phải hoa mắt lên tưởng chừng như mơ ngủ. Trời lúc đó đã xâm xẩm tối. Caderousse thắp đèn lên, đếm đi đếm lại số tiền, còn vị khách đưa viên kim cương lên ngắm nghía; nó óng ánh dưới ánh đèn. Bên ngoài trời đã bắt đầu nổi gió. Mụ Carconte đi lại tủ lấy ra một cái cặp da, bỏ tiền và vàng vào đấy rồi hỏi người khách:
- Ngài nghỉ lại đây ăn cơm với chúng tôi chứ?
Người khách rút đồng hồ ra xem rồi trả lời:
- Cám ơn bà, muộn mất rồi, tôi phải về Beaucaire trước đêm nay kẻo nhà tôi mong. Thôi chào ông bà.
Người khách vừa nói xong bỗng có một tiếng sét dữ dội, tiếp theo đó là một tia chớp sáng lòa ngoài trời.
- Ồ! - Caderousse nói. - Trời như thế này mà ngài cứ ra đi à? Ngài không sợ bọn cướp ư?
- Sợ gì bọn chúng, tôi đã có cái này.
Nói xong, người khách rút trong túi ra một khẩu súng ngắn đã nạp đạn sẵn rồi mở cửa bước ra ngoài. Một luồng gió rất mạnh thổi vào phòng. Caderousse thấy vậy chạy ra đóng sập cửa lại. Sau đó, hắn mở tủ đem cái cặp da ra và cùng mụ vợ đếm lại số tiền. Tay chúng run lên và bộ mặt chúng tái nhợt. Hai vợ chồng chúng nhìn nhau bằng con mắt thăm dò. Mụ vợ lên tiếng trước:
- Anh là một thằng tồi. Nếu không, đời nào lão ta ra khỏi cái nhà này được.
- Trời đất ơi! Nhà nói gì vậy? Không sợ quỷ thần à?
Giữa lúc đó lại thêm một tiếng sét khủng khiếp làm rung chuyển cả quán trọ, rồi có tiếng gõ cửa. Mụ Carconte mỉm cười bảo chồng:
- Đấy quỷ thần đưa lão trở về với chúng ta đó.
Mụ ra mở cửa, còn Caderousse mặt mày xanh xám, thở hổn hển ngồi phịch xuống ghế.
- Xin mời ngài kim hoàn vào. - Mụ Carconte nói.
- Hình như quỷ thần không muốn tôi về Beaucaire tối nay. - Khách nói. - Ông Caderousse thân mến, ông đã mời tôi ở lại, tôi xin nhận lời.
Chương 45
trận mưa máu
Người khách trở vào phòng, đưa mắt nhìn quanh nhưng không thấy gì khả nghi. Caderousse vẫn khư khư ôm cái cặp tiền trong tay, còn mụ vợ nhìn ông khách mỉm cười. Khách hỏi:
- Trong quán có ai lạ mặt không?
- Chỉ có vợ chồng chúng tôi thôi ạ. - Mụ Carconte đon đả. - Ngài trở lại là đúng lắm vì sấm chớp đùng đùng và đang mưa rất to. Tôi đi dọn thức ăn để ngài ăn rồi mời ngài đi nghỉ.
Caderousse ngạc nhiên nhìn vợ về cách đón tiếp vồ vập ấy, khác hẳn thái độ lạnh nhạt ngày thường. Khách ngồi vào bàn ăn. Khi bữa ăn đã xong, Caderousse ra mở cửa:
- Trời có vẻ tạnh rồi!
Nhưng ngay lúc đó, lại một tiếng sét dữ dội làm rung chuyển nhà cửa, một luồng gió mạnh ào vào, mang theo mưa và làm ngọn đèn tắt ngấm. Caderousse vội vàng đóng cửa lại. Mụ vợ thắp lại ngọn đèn, xong mụ bảo khách:
- Ông ạ. Ông có vẻ mệt mỏi, tôi đã dọn giường, mời ông đi nghỉ và chúc ông ngủ ngon.
Người khách chào chủ nhà rồi nặng nề bước lên cầu thang. Và Caderousse dọn dẹp xong, đóng cửa lại. Suốt cả ngày đi đường mệt nhọc, tôi buồn ngủ díp cả mắt và ngủ thiếp đi, không còn biết trời đất là gì nữa.
Bỗng một tiếng súng nổ làm tôi giật mình tỉnh giấc. Tôi đang bàng hoàng, chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra, thì nghe có tiếng bước chân thịch thịch trên sàn gác rồi có một vật gì rơi bịch xuống cầu thang. Tiếp theo là tiếng rên rỉ và vật lộn, rồi một tiếng thét làm tôi hoảng hồn. Tôi mở mắt thấy tối om, lấy tay sờ trán thấy ướt đầm, dường như bị thứ nước gì trên trần rỉ xuống. Sau một phút im lặng, tôi nghe có tiếng bước chân giẫm ở cầu thang, tiếng một người bước xuống cầu thang rồi vào phòng ăn, đánh diêm châm đèn. Đó là Caderousse, mặt trắng bệch, áo sơ mi bê bết máu. Hắn cầm trong tay một cái hộp con, mở ra. Bên trong là một viên kim cương. Sau đó, hắn lấy khăn mùi soa bọc lại quấn vào cổ. Hắn mở tủ lấy tiền và vàng nhét vào đầy túi áo rồi chạy vụt ra ngoài cửa, biến mất vào trong đêm tối.
Tôi vội vàng chạy ra cầm đèn, trên cầu thang thấy có xác mụ Carconte nằm chặn cả lối đi, mụ bị một viên đạn vào cổ họng. Tôi bước qua xác mụ lên gác, thấy người khách nằm sóng soài dưới chân giường giữa một vũng máu lênh láng, một con dao cắm ngập vào ngực. Người khách nhìn tôi bằng con mắt mờ đục, môi mấp máy như muốn nói rồi tắt thở. Tôi giẫm phải khẩu súng bên cạnh xác chết. Mụ Carconte đã phải đền tội vì khẩu súng này.
Cảnh tượng hãi hùng đó làm cho tôi muốn phát điên. Tôi lao xuống cầu thang, hai tay bứt tóc, miệng gào lên những tiếng hãi hùng. Vừa xuống tới chân cầu thang, tôi đã rơi vào tay mấy viên cảnh binh. Tôi thấy họ chỉ trỏ tôi. Tôi nhìn xuống thì thấy áo mình đỏ lòm những máu. Thì ra những giọt nước mà tôi đã tưởng là nước mưa giội xuống người tôi là máu của người bất hạnh, tôi hiểu ngay họ cho tôi là thủ phạm, tôi cố giãy giụa, nói không ra hơi, trong khi một cảnh binh giơ súng ra dọa bắn nếu tôi cố chống cự, hoặc chạy trốn. Tôi bị khóa tay lại và giải đi nhốt vào nhà lao Nimes.
Tôi ở nhà lao hai tháng, không biết làm cách nào phân trần được trong lúc tôi bị họ hỏi cung và chờ ngày ra toà. Tôi mất hết hy vọng: chưa bắt được Caderousse thì lấy gì mà xác minh là mình vô tội?
Một hôm, có một vị linh mục tên là Busoni vào thăm tôi. Tôi mừng quá, vội kể cho linh mục nghe đầu đuôi câu chuyện. Linh mục có vẻ tin lòng thành thực của tôi, an ủi tôi và hứa sẽ tận tình giúp đỡ. Còn vài ngày nữa đến phiên toà xét xử thì may cho tôi quá, người ta tóm được cổ tên Caderousse ở nước ngoài. Hắn đã thú nhận tội lỗi và bị kết án chung thân. Ở tù ra, tôi được linh mục trao cho một bức thư giới thiệu với ngài bá tước đây, một người bạn thân của linh mục. Từ đó tới nay tôi được diễm phúc hầu hạ ngài và được ngài tin cẩn.
- Vậy là ông đến tôi. - Monte Cristo hỏi. - Ông có mang đến một bức thư giới thiệu của linh mục Busoni? Ông nói chi tiết hơn nữa đi.
- Thưa ngài vâng! Linh mục có vẻ rất quan tâm đến tôi, bảo tôi: "Anh mà cứ đi buôn lậu nữa khi ra khỏi tù, anh lại sẽ nguy mất".
- Thưa cha! - Tôi hỏi. - Vậy thì con làm thế nào sống được với chị dâu con và con?
- Một người bạn thân của tôi muốn tìm một người tin cẩn, anh muốn đến ở với người đó không? Tôi sẽ giới thiệu.
- Thưa Cha! - Tôi reo lên. - Thế thì phúc đức cho con quá.
- Nhưng anh có dám thề rằng sẽ không để cho ta phải hối hận?
Tôi liền đưa tay ra thề, linh mục trao cho tôi giấy giới thiệu mà tôi đã nộp ngài. Bây giờ, tôi có dám tự hào mà thưa với ngài rằng: ngài có điều gì phải phàn nàn về tôi không ạ?
- Không. - Monte Cristo. - Tôi vui lòng trả lời ông như thế, mặc dù ông chưa được hoàn toàn tín nhiệm.
- Tôi ư! Thưa ngài bá tước?
- Phải! Ông! Tại sao ông có một người chị dâu và một đứa con nuôi, thế mà chẳng thấy ông nói gì với tôi cả.
- Than ôi! Thưa ngài bá tước! Đó là điều còn lại, tôi phải nói với ngài về quãng đời sầu thảm nhất của tôi. Trước khi đến với ngài, tôi về qua đảo Corse vì sốt ruột muốn thăm và an ủi bà chị dâu tôi. Nhưng khi về đến nhà, thì ở nhà đã xảy ra một cảnh tượng kinh khủng mà hàng xóm láng giềng còn nhớ mãi. Trong lúc tôi vắng nhà, thằng Benedetto khốn kiếp càng chơi bời lêu lổng và luôn nã tiền chị dâu tôi. Một buổi tối, nó mang theo hai thằng bạn lưu manh về nhà tra khảo mẹ nuôi nó để lấy tiền. Chúng nó trói chị Assunta lại, nhét giẻ vào mồm rồi lấy lửa đốt chân. Trong lúc chị dâu tôi giãy giụa thì lửa bén vào quần áo cháy bùng lên, cháy lan ra cả phòng. Chúng hoảng hốt bỏ chạy, và khi hàng xóm kéo đến thì chị dâu tôi đã bị thiêu chết. Thằng Benedetto từ ngày đó không thấy mặt đâu nữa.
Thưa ngài! Chính vì lẽ đó mà tôi không dám thưa với ngài, vì Benedetto đã mất tích, còn chị dâu tôi thì chết rồi, còn gì đáng kể với ngài nữa.
- Ông nghĩ về chuyện đó thế nào?
- Thưa ngài! Đó là một sự trừng phạt đối với tôi, về tội giết chết tên Villefort đáng nguyền rủa ấy.
- Tôi cũng thấy thế. - Monte Cristo lẩm bẩm bằng một giọng khiếp đảm.
- Và bây giờ, có phải không ạ? Ngài đã hiểu rằng cái nhà này, mảnh vườn này đã tù lâu tôi không đến, nay bỗng nhiên tôi lại ở đây. Chính trên mảnh đất này tôi đã giết chết một mạng người, đã làm tôi nhớ lại cảnh tượng hãi hùng, đã gây cho tôi những mối xúc động quá sức mà ngài đã muốn biết rõ nguồn gốc. Vì rằng cuối cùng, tôi không dám chắc chắn là ở trước mặt tôi đây, dưới chân tôi đây, tên Villefort đã có nằm trong cái hố mà hắn đã đào cho con hắn không?
- Tất cả đều có thể. - Monte Cristo tiếp lời rồi hạ thấp giọng. - Ngay cả là Villefort chưa chết. Linh mục giới thiệu ông đến với tôi là đúng. Ông đã kể chuyện về ông cho tôi nghe là đúng, vì tôi sẽ không có những ý nghĩ đen tối về ông. Còn tên Benedetto ấy thì đã có bao giờ ông thăm dò tin tức về nó chưa? Đã bao giờ ông tìm hiểu nó ra sao chưa?
- Không bao giờ cả. Nếu như tôi biết nó ở đâu thì thay vì đến với nó, tôi sẽ chạy trốn nó như trốn một con quỷ dữ. May thay, tôi chưa hề nghe thấy nói nó về. Tôi mong là nó đã chết quách rồi.
- Ông Bertuccio ạ. Ông đừng có hy vọng những tên bất nhân, bạc ác, chết được như vậy đâu. Vì Thượng đế còn giữ chúng lại để làm công cụ cho sự trả thù.
- Có thể như vậy. - Bertuccio nói. - Tôi chỉ cầu trời là sẽ không bao giờ phải thấy nó nữa. Bây giờ, thưa bá tước, ngài đã biết hết cả rồi, ngài là vị quan toà xét xử tôi ở đây cũng như Thượng đế sau này sẽ xử ở trên kia; ngài có câu gì an ủi tôi?
- Ông nói đúng, tôi sẽ nói với ông điều mà linh mục Busoni chắc cũng đã nói: Tên Villefort mà ông đã giết, đáng bị trừng trị về tội đối với ông, lại còn tội đối với người khác nữa. Benedetto, nếu nó còn sống, sẽ là công cụ để trả thù của chúa, rồi đến lượt nó sau này sẽ bị trừng trị. Còn ông, thì hãy còn đáng bị chê trách một điều, hãy tự hỏi lương tâm ông xem. Sau khi đã cứu sống đứa hài nhi, tại sao ông không trả về cho mẹ nó? Tội lỗi của ông là ở chỗ ấy đấy, ông Bertuccio ạ.
- Thưa ngài vâng! Tội lỗi của tôi chính là ở chỗ ấy đấy, vì trong sự việc này tôi là một tên hèn nhát.
Bertuccio úp mặt vào lòng hai bàn tay. Bá tước nhìn lão một lúc rồi an ủi:
- Ông Bertuccio, ông nên nhớ rằng đối với mọi nỗi đau khổ chỉ có hai món thần dược là thời gian và im lặng. Ông hãy trở về nhà nằm nghỉ, khi nào cần đến người an ủi, tôi sẽ có mặt và sẽ làm giúp ông bất cứ việc gì như linh mục Busoni đã làm cho ông.
Bertuccio kính cẩn nghiêng mình trước bá tước rồi theo bá tước ra xe về Paris. Đến ngôi nhà Champs-élysées, bá tước xem xét kỹ lưỡng ngôi nhà đó từng buồng, từng lối đi, từng cầu thang. Ali đi theo bá tước. Sau khi đi thăm một lượt, bá tước lấy đồng hồ ra xem rồi bảo Ali:
- Bây giờ, đã mười giờ rưỡi đêm rồi, cô Haydée có lẽ cũng sắp về tới đây đấy. Anh đã báo cho các cô hầu phòng biết chưa?
Ali tỏ dấu hiệu đã làm xong cả. Một lát sau, có tiếng xe ngựa đỗ trước cửa. Bá tước bước xuống, cánh cửa xe mở ra, bá tước giơ cánh tay ra cho một thiếu nữ mặc một áo lụa màu xanh lá cây thêu bằng vàng. Thiếu nữ cầm lấy bàn tay của bá tước, đưa lên môi hôn với một tình yêu thương pha lẫn kính trọng. Thiếu nữ đó chính là cô gái Hy Lạp xinh đẹp đi cùng với bá tước Monte Cristo ở Rome. Bá tước đưa thiếu nữ về phòng riêng dành cho cô rồi từ biệt về phòng mình.
Một lát sau, cả toà nhà chìm trong bóng tối.
Chương 46
tài khoản vô hạn định
Ngày hôm sau, vào khoảng hai giờ chiều, một cỗ xe ngựa rất đẹp đỗ ở trước cửa toà nhà của bá tước Monte Cristo. Trên xe là một người đàn ông mặc lễ phục màu xanh, áo gilê trắng, cổ đeo lủng lẳng một sợi dây bằng vàng và quần màu hạt dẻ. Người đó trạc ngoài năm mươi nhưng cố chải chuốt cho có vẻ trẻ hơn. Mớ tóc đen nhánh rủ xuống đến tận lông mày, không ăn khớp với cặp má đã nhăn nheo, đôi môi mỏng dính, đôi gò má cao, cặp mắt sắc và xảo quyệt nên mặc dù đã khoác bộ quần áo quý tộc có đính cuống huân chương Bắc đẩu bội tinh song trông y vẫn như một kẻ tầm thường. Người đó ngắm nhìn toà nhà một lúc lâu rồi sai người đánh xe vào gõ cửa:
- Đây có phải nhà bá tước Monte Cristo?
- Đức ngài ở đây. - Người gác cổng đáp. - Nhưng...
Người gác cổng nhìn Ali, Ali lắc đầu.
- Nhưng sao? - Tên đánh xe hỏi.
- Nhưng bây giờ Đức ngài không tiếp khách được.
- Nếu vậy. - Tên đánh xe nói. - Đây là tấm danh thiếp của chủ nhân tôi: Nam tước Danglars. Bác đưa giùm cho bá tước và báo với bá tước là chủ nhân tôi trên đường đến Viện dân biểu đã tranh thủ ghé thăm bá tước.
- Tôi không nói được với bá tước đâu. - Người gác cổng bảo. - Đó là nhiệm vụ của người hầu phòng.
Tên đánh xe quay lại thưa với Danglars, Danglars hỏi:
- Vậy ông này là một hoàng thân hay sao mà người ta gọi là Đức ông và chỉ có hầu phòng mới trực tiếp báo được. Chẳng hề gì, ông ta có tài khoản ở ta, khi nào cần tiền là phải mò đến ta thôi.
Nói xong, Danglars ra lệnh cho xe đi đến Viện dân biểu.
Qua một tấm mành cửa sổ, bá tước Monte Cristo đã được báo trước kịp thời, dùng một chiếc ống nhòm nhỏ quan sát Danglars. Lúc Danglars đã đi xa, Monte Cristo ngẫm nghĩ và nói một mình: "Đúng là một kẻ bần tiện, mới gặp lần đầu ai cũng có thể nhận thấy nó là một con rắn độc có cái trán dẹt, cái sọ lồi và cái mõm có mỏ nhọn".
Rồi bá tước gọi "Ali!", lập túc Ali xuất hiện. Bá tước bảo đi tìm quản gia. Một lát sau, Bertuccio đến, bá tước hỏi:
- Ông có nhìn thấy những con ngựa rất đẹp vừa đỗ ở cửa nhà ta không?
- Thưa có ạ! Thật những con ngựa tuyệt đẹp!
- Sao ông lại để như thế được? - Bá tước cau mày nói. - Tôi đã yêu cầu ông phải có cho tôi những con ngựa đẹp nhất Paris, thế mà những con tuyệt mỹ nhất lại không có ở trong chuồng ngựa của tôi đấy.
- Thưa ngài bá tước! Những con ngựa đó người ta không bán ạ.
Monte Cristo nhún vai:
- Ông quản gia của tôi ơi! Ông nên biết rằng tất cả đều đem bán được với những ai biết đặt giá mua.
- Ông Danglars đã mua với giá mười sáu ngàn frăng đấy ạ.
- Nếu vậy, ông cứ việc trả giá ba mươi hai ngàn. Ông ta là chủ ngân hàng và một chủ ngân hàng thì không bao giờ bỏ lỡ cơ hội làm tăng gấp đôi số vốn mình đã bỏ ra.
- Thưa bá tước! - Bertuccio nói. - Ngài nói nghiêm chỉnh đấy chứ ạ?
Monte Cristo nhìn người quản gia của mình với vẻ ngạc nhiên của một người thấy người khác dám chất vấn mình:
- Chiều hôm nay. - Bá tước nói. - Đúng năm giờ tôi phải đến thăm một nơi. Tôi muốn rằng những con ngựa đó phải được mắc vào cỗ xe của tôi với bộ cương mới. Ông đi mà chuẩn bị khẩn trương lên và báo cho Ali biết.
Đúng năm giờ chiều, Bertuccio vào báo là cỗ xe đã chuẩn bị xong. Bá tước đi xuống, thấy hai con ngựa sáng nay ở xe Danglars bây giờ đã đóng vào cỗ xe của mình.
- Những con ngựa tuyệt trần. - Bá tước khen. - Đại lộ Chaussée-d’Antin, nhà Danglars.
Cỗ xe chạy như bay trên đường phố, một lát sau đã đỗ lại trước cửa toà nhà lộng lẫy của nam tước Danglars. Danglars đang họp với một tiểu ban của nghị viện bàn về việc mở rộng hệ thống đường xe lửa thì người hầu vào báo có bá tước Monte Cristo đến thăm. Nghe tên bá tước, Danglars đứng dậy trịnh trọng:
- Thưa quý vị! Tôi vừa được báo là có bá tước Monte Cristo đến gặp tôi có việc. Vậy xin phép quý vị để tôi được ra tiếp ông ta. Nhân tiện, tôi xin nói để quý vị biết là vừa rồi hãng Thomson và French có mở một tài khoản vô hạn định ở ngân hàng của tôi cho bá tước Monte Cristo. Đó là một sự kiện chưa bao giờ xảy ra. Vì vậy buổi trưa nay tôi đã đến nhà riêng của ông ta để thỏa mãn tính tò mò và xem cách sống của ông ta ra sao. Ngôi nhà nom có vẻ khá lắm, nhưng con người không biết có được như thế không. - Danglars nở nụ cười hiểm độc, nói tiếp. - Một tài khoản không hạn định kể ra cũng rắc rối đấy, nhưng ông ta chưa biết rõ đối thủ đấy thôi, chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!
Nói xong! Danglars đi sang phòng khách trắng và vàng. Những phòng khách này vốn đã nổi tiếng trong các giới. Hắn cho mời ngay khách vào đấy để làm khách phải choáng mắt ngay từ phút đầu gặp gỡ.
Bá tước Monte Cristo đang đứng nhìn một vài bức tranh. Nghe tiếng động bá tước quay lại. Danglars khẽ gật đầu chào và ra hiệu mời bá tước ngồi vào một chiếc ghế bành bằng gỗ mạ vàng phủ xa tanh trắng, viền vàng.
- Có phải ông là Monte Cristo mà tôi được hân hạnh tiếp?
- Còn tôi. - Bá tước đáp. - Với ông nam tước Danglars, Bắc đẩu bội tinh nghị Viện dân biểu?
Monte Cristo đã đọc tất cả chức tước được ghi trên tấm danh thiếp của Danglars. Thấy cú đầu mình đã bị hố rồi, Danglars cắn môi chống chế:
- Xin ông tha lỗi, tôi đã không nêu chức tước của ông ngay thoạt đầu, nhưng chắc ông cũng thông cảm, chúng ta đang sống dưới một chính thể bình dân, và tôi, tôi lại là một đại biểu cho lợi ích của dân tộc.
- Và nếu nói rằng vẫn duy trì cái cung cách làm cho người ta phải gọi mình là nam tước, ông lại quên mất chức bá tước của người khác.
- Ồ! Thưa ông! - Danglars đánh trống lảng. - Tôi cũng chẳng nghĩ về tôi đâu. Người ta đã gọi tôi là nam tước và tặng tôi huân chương Bắc đẩu bội tinh chẳng qua vì tôi lập được một số thành tích, nhưng...
- Nhưng ông đã khước từ các chức tước của ông như kiểu các ông Montmorency và Lafayette đã làm xưa kia. Thật là một tấm gương đẹp đẽ cần phải theo, thưa ông.
- Không hẳn là như thế. - Danglars bối rối. - Tuy nhiên, đối với những người đầy tớ, ông hiểu cho rằng...
- Vâng! Đối với cấp dưới, ông bắt người ta gọi ông là Đức ngài; đối với các vị nhà báo, gọi ông là ông; đối với những ủy thác viên thì gọi ông là đồng bào. Đó là những màu sắc rất thích hợp cho cái chính phủ lập hiến. Tôi hiểu rất rõ điều đó.
Danglars cắn môi, biết là trong lĩnh vực ấy hắn không địch lại được Monte Cristo. Hắn liền quay về lĩnh vực mà hắn quen thuộc. Hắn bèn nghiêng mình:
- Thưa ông bá tước! Tôi mới nhận được một giấy báo của hãng Thomson và French.
- Tôi rất sung sướng, vì như vậy tôi không cần phải tự giới thiệu nữa, một việc chẳng thú vị chút nào. Vậy là ông đã nhận được một giấy báo?
Danglars rút trong túi ra một bức thư rồi nói:
- Vâng! Giấy báo của hãng Thomson và French ở Rome yêu cầu tôi mở một tài khoản không hạn định cho ông bá tước Monte Cristo trong ngân hàng của mình. Vậy xin ông cho biết ông cần dùng một số tiền là bao nhiêu? Ngân hàng chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng cung cấp những món tiền rất lớn. Ông cần một triệu nhé...
- Bao nhiêu? - Monte Cristo hỏi
- Một triệu. - Danglars ngả người trên ghế, nở một nụ cười kiêu ngạo, nhắc lại.
- Một triệu thì tôi làm gì được. - Bá tước bắt đầu. - Nếu chỉ là một triệu thì tôi cần gì phải mở cái tài khoản nghèo nàn ấy. Một triệu? Lúc nào trong túi tôi, hoặc trong tủ tôi chả có số tiền đó.
Và Monte Cristo rút trong túi áo ra một quyển sổ nhỏ, trong đó để những tấm danh thiếp và hai tấm ngân phiếu mỗi tấm năm trăm ngàn frăng trả ngay cho người cầm phiếu tại kho bạc.
Bá tước đã giáng một chùy chứ không phải chỉ là chọc nhẹ vào một kẻ như Danglars. Hắn từ choáng váng đâm ra mê mẩn, hắn trợn tròn cặp mắt đần độn nhìn Monte Cristo, con ngươi hắn lồi ra một cách kinh khủng. Monte Cristo nói tiếp:
- Thế nào, ông hãy thú thật là ông đã coi thường hãng Thomson và French. Cũng thật đơn giản, tôi đã đề phòng trường hợp này. Đây là hai ngân phiếu nữa giống như cái ông vừa xem, một cái của Arettanh ở Áo, một cái của hãng Barinh ở Luân Đôn.
Danglars, tay run run, đón xem mấy tờ ngân phiếu. Hắn kiểm tra đi kiểm tra lại rất kỹ rồi đứng lên như để chào mãnh lực của vàng trong con người đang đứng trước mặt hắn. Hắn nói:
- Thưa ông, vâng! Đây là ba chữ ký có giá trị mấy triệu. Ba tài khoản không hạn định tại hãng chúng tôi! Xin bá tước tha lỗi cho tôi, tôi không còn dám nghi ngờ gì nữa, nhưng tôi không thể nào hết ngạc nhiên.
- Ồ! Một ngân hàng lớn như của ông thì có gì mà ngạc nhiên. Vậy là ông có thể trao cho tôi một số tiền chứ?
- Vâng! Chẳng còn gì làm tôi phải nghi ngờ nữa. Xin ông cứ nói.
- Nếu vậy chúng ta hãy ấn định chung cho năm thứ nhất là sáu triệu chẳng hạn.
- Sáu triệu! - Danglars nói như bị nghẹt thở.
- Vâng! Đủ cho tôi tiêu ở Pháp trong một năm... Sau sẽ tính. Ngày mai, yêu cầu ông cho mang tới nhà tôi năm trăm ngàn frăng trước, tôi sẽ để tấm biên lai lại cho người quản gia của tôi trong trường hợp tôi đi vắng.
- Ông muốn tiền vàng hay tiền giấy?
- Nửa nọ, nửa kia.
- Đúng mười giờ sáng mai tôi sẽ cho đem tiền đến hầu ông. Xin thú thật với ông là tôi đã biết rõ tất cả số tài sản của những người giàu có nhất châu Âu, nhưng đối với ông tôi không dám phỏng đoán là bao nhiêu.
- Tài sản của tôi. - Monte Cristo cười nhạt. - Có từ lâu đời lắm rồi, ông không biết được cũng đúng thôi.
- Với một người có nhiều tiền của và một phong cách lịch thiệp như ông, ông sẽ đánh đổ tất cả những tay triệu phú nhỏ bé như chúng tôi ở thủ đô này. Và để ông hiểu rõ tôi hơn, hôm nay xin phép ông cho tôi được giới thiệu nam tước phu nhân Danglars. Tôi rất tin rằng nhà tôi sẽ lấy làm hân hạnh được đón tiếp một khách hàng quan trọng như ông.
Nói xong, Danglars kéo chuông gọi người hầu phòng lên hỏi:
- Nam tước phu nhân có nhà không?
- Dạ! Bà lớn đang tiếp ngài Lucien Debray.
Danglars gật đầu rồi quay sang nói với Monte Cristo:
- Ông Lucien Debray, bạn thân của chúng tôi, là thư ký riêng của ngài Bộ trưởng Ngoại giao. Còn nhà tôi là goá phụ của hầu tước Nargonne.
- Tôi chưa được vinh hạnh biết mặt nam tước phu nhân, nhưng tôi đã được gặp ông Lucien ở nhà tử tước Morcerf rồi.
- Ông cũng biết tử tước à? Phải rồi, tôi đã nghe phong phanh ông đã cứu mạng chàng thanh niên quý tộc đó ở Rome thì phải...
Vừa lúc đó, người hầu vào báo:
- Nam tước phu nhân đang chờ hai ngài.
Chương 47
cặp ngựa màu đốm xám
Bá tước Monte Cristo đi theo nam tước Danglars qua những gian buồng trang trí theo kiểu cách đã lỗi thời và thiếu thẩm mỹ, dẫn tới phòng tiếp khách của nam tước phu nhân. Căn phòng hình bát giác, tường căng xa tanh màu hồng nha, nhủ ren Ấn Độ, ghế bành thếp vàng, trên tường treo mấy bức tranh phấn màu, đặt trong những khung bầu dục. Nam tước phu nhân có một sắc đẹp quyến rũ, mặc dù đã ba mươi sáu tuổi. Bà đang ngồi trước một chiếc dương cầm chạm trổ rất công phu, còn Lucien đã kể cho phu nhân nghe những câu chuyện trong bữa tiệc ở nhà bá tước De Morcerf. Phu nhân thấy rất thú vị và nóng lòng muốn biết mặt con người kỳ dị ấy. Vì vậy, khi bá tước vào, phu nhân nghiêng mình chào rất duyên dáng và ban cho Danglars một nụ cười, Danglars nói:
- Tôi xin giới thiệu với mình: Bá tước Monte Cristo vừa từ Rome tới Paris với ý định ở lại Paris chơi một năm và sẽ tiêu hết số tiền sáu triệu frăng vào những buổi dạ hội và tiệc tùng linh đình. Tôi tin rằng chỉ nay mai ngài bá tước sẽ chiếm được hết trái tim của những vị phu nhân và tiểu thư đẹp nhất thủ đô này.
Mặc dù trong lời giới thiệu có những câu khá sỗ sàng, thô lỗ nhưng nó cũng cho nam tước phu nhân biết rằng hiếm có một người nào đến Paris chỉ để tiêu xài trong một năm cho hết cả cái gia sản của một ông hoàng. Điều đó làm Danglars phu nhân nhìn bá tước bằng cặp mắt có đôi chút vụ lợi. Phu nhân hỏi:
- Và thưa ông, ông đã đến?...
- Từ sáng hôm qua, thưa bà.
- Theo thói quen của ông và theo như người ta nói với tôi thì ông đến từ góc biển chân trời?
- Lần này thì chỉ có từ Cađich thôi ạ.
- Ôi! Ông đã đến Paris không đúng lúc chút nào, vì không có gì chán bằng mùa hè ở thủ đô. Chẳng có vũ hội, trò vè, họp mặt gì cả. Nhạc viện và ca kịch quốc gia đều biến đâu mất hết, chỉ còn mấy cuộc đua ngựa ở quảng trường Thần hỏa. Ông có sành nuôi ngựa thi không?
- Dạ! Tôi đã sống lâu năm ở phương Đông, và những người phương Đông chỉ có hai cái thú trên đời là có một con ngựa tốt và một phụ nữ đẹp
Giữa lúc đó, cô hầu phòng thân cận của phu nhân đi vào và ghé vào tai phu nhân nói nhỏ mấy câu. Phu nhân tái mặt.
- Không thể thế được.
- Thưa đúng như vậy đấy! - Cô hầu phòng nói.
Phu nhân quay về phía chồng hỏi:
- Có đúng như vậy không hả ông?
- Sao kia? - Danglars bối rối.
- Con hầu phòng vừa nói với tôi rằng lúc người đánh xe vào chuồng để dắt ngựa ra đóng vào xe cho tôi thì không thấy ngựa ở trong chuồng. Thế là thế nào?
- À! Bà này. - Danglars nói. - Bà hãy nghe tôi nói đây. Những con ngựa của chúng ta còn non nên chúng hăng lắm, có thể gây cho bà và cho tôi những tai họa bất ngờ, có thể là khủng khiếp nữa.
- Thôi đi ông ạ. Đã từ một tháng nay tôi mượn được một tay đánh xe cừ khôi nhất Paris, tôi mong rằng ông không đem bán hắn cùng với những con ngựa ấy.
- Bà ạ. Tôi sẽ tìm được những con ngựa cũng y như vậy nhưng hiền lành hơn. Chúng sẽ không còn làm cho chúng ta phải lo sợ như trước nữa.
Phu nhân nhún vai vẻ khinh bỉ. Danglars lại gần vợ nói nhỏ:
- Bà hãy tưởng tượng mà xem, có người đã đến đây hỏi mua những con ngựa ấy với một cái giá khủng khiếp, không hiểu cái thằng điên rồ nào sắp phá sản hay sao mà phái đến chỗ tôi tên quản gia của hắn. Nhưng thực tế là tôi đã vớ được một món tiền lãi là mười sáu ngàn frăng. Xin bà đừng ngăn tôi nữa, tôi sẽ chia cho bà bốn ngàn và con Eugénie hai ngàn.
Danglars phu nhân trừng cặp mắt khủng khiếp lên nhìn chồng. Lúc đó Lucien Debray đang đứng ở cửa sổ nhìn ra ngoài, bỗng reo lên:
- Ồ này! thưa bà nam tước. Nếu tôi không nhầm thì những con ngựa của bà lại đóng vào xe của bá tước Monte Cristo.
Phu nhân lao ra cửa sổ, rồi cũng kêu lên:
- Đúng chúng nó rồi, những con ngựa màu đốm xám của tôi.
Danglars sửng sốt, Monte Cristo làm ra vẻ ngạc nhiên:
- Có thể như thế được không?
- Không thể tưởng tượng được. - Danglars lẩm bẩm.
Phu nhân nói vài câu vào tai Debray. Debray liền bước lại gần Monte Cristo hỏi:
- Nam tước phu nhân muốn hỏi ngài, ngài đã tậu những con ngựa ấy hết bao nhiêu tiền?
- Nào tôi có biết gì hơn đâu? - Bá tước đáp. - Người quản gia của tôi làm tôi phải bất ngờ, và... Tôi đã phải trả một cái giá đâu ba trăm ngàn frăng thì phải.
Danglars mặt mũi tái xanh tái xám và mất hết tinh thần, làm cho Monte Cristo thấy thương hại. Bá tước bảo hắn:
- Ông có thấy không, phụ nữ họ đến là bội bạc. Ông lo xa như thế mà cũng chẳng hề làm cho phu nhân mủi lòng. Từ bội bạc dùng ở đây chưa đúng đâu, phải nói là điên rồ mới hết nghĩa. Nhưng làm thế nào được, con người ta vốn ưa thích những cái gì có hại.
Danglars không nói gì. Hắn thấy trước rằng sắp xảy ra một tấn thảm kịch đây. Debray lấy cớ bận việc xin rút lui. Monte Cristo thấy ở lại không có lợi gì hơn, cũng chào Danglars phu nhân rồi ra về để mặc Danglars trơ lại trước cơn tam bành của vợ hắn. Vừa đi ra Monte Cristo vừa nghĩ thầm: "Tốt rồi, thế là ta đã đạt được mục đích. Bây giờ, ta nắm trong tay sự hòa thuận của gia đình này và chỉ một đòn là ta đủ chiếm một trái tim của ông chồng và bà vợ. Hay quá! Nhưng ta còn chưa được biết đứa con gái Eugénie Danglars. Tuy vậy ta còn chán thì giờ sau này sẽ hay".
Nghĩ vậy rồi bá tước bước lên xe về nhà.
Hai giờ sau, Danglars phu nhân nhận được một bức thư rất tình cảm của bá tước Monte Cristo. Trong thư bá tước cho biết vì mới bước chân đến Paris nên ông không muốn làm cho một người đẹp phải buồn rầu nên bá tước gửi lại phu nhân cặp ngựa đó. Cũng vẫn bộ cương như ban sáng, chỉ có khác ở mỗi cái nắp che tai có đính thêm một viên kim cương.
Nam tước Danglars cũng nhận được một bức thư, trong đó bá tước xin phép được tặng phu nhân những thứ đó. Cử chỉ đó hẳn là thói ngông của kẻ triệu phú theo kiểu Á Đông.
Buổi tối hôm đó Monte Cristo đi Auteuil, có Ali đi theo hầu. Vào khoảng ba giờ chiều hôm sau, bá tước gọi Ali vào buồng hỏi:
- Ali, anh vẫn thường nói với ta là anh có tài quăng thòng lọng phải không?
Ali gật đầu và ưỡn ngực ra một cách kiêu hãnh.
- Tốt! Với thòng lọng, anh có thể tóm được một con bò chứ?
Ali gật đầu.
- Một con hổ?
Ali gật đầu.
- Một con sư tử?
Ali mỉm cười.
- Nhưng với anh, con ngựa đang chạy, anh có bắt được chúng dừng lại không?
Ali kiêu hãnh.
- Thế thì tốt lắm. Bây giờ, anh hãy nghe đây: Lát nữa sẽ có một cỗ xe qua đây đóng hai con ngựa đốm xám giống như những con ngựa của ta hôm qua. Dù có bị đè bẹp đi nữa, anh cũng phải làm cho cỗ xe đó dừng lại ở trước cửa nhà ta.
Ali gật đầu, rồi ngồi ở đầu góc toà nhà, giở thuốc lá cuốn ra hút. Bá tước một mình trong phòng riêng thỉnh thoảng đi đi lại lại có vẻ sốt ruột, thỉnh thoảng lại ra cửa sổ nhìn xuống đường.
Quả nhiên một lát sau, vào quãng năm giờ, có tiếng xe chạy ầm ầm, nhanh như gió, từ đằng xa lại, và một cỗ xe có đóng con ngựa đốm xám xuất hiện. Người đánh xe cố kìm dây cương, nhưng hai con ngựa lồng lộn chồm lên, bờm dựng ngược, thở phì phì và phóng như điên dại. Trên xe có một thiếu phụ ôm chặt đứa con trai bảy tám tuổi, nó sợ quá đến nỗi kêu không ra tiếng nữa.
Những người đi đường kinh hãi chạy giạt sang hai bên lề. Cỗ xe kêu răng rắc và chỉ cần vấp phải một hòn đá, hoặc một cành cây là chiếc xe sẽ vỡ tan tành. Trước cảnh tượng khủng khiếp đó những người trông thấy đều kêu thất thanh.
Ali vội quẳng điếu thuốc lá đi, rút trong túi ra một cuộn dây thừng tung ra phía trước. Cái thòng lọng quấn chặt lấy chân trước bên trái con ngựa làm con vật ngã khuỵu xuống. Trước khi cỗ xe mất thăng bằng, anh chàng da đen nhanh như cắt, nhảy bổ vào nắm được sợi dây buộc mõm con ngựa bên phải bằng bàn tay cứng như sắt, làm cho con ngựa không thể chồm lên phía trước được nữa.
Giữa lúc đó, một người trong nhà lao nhanh ra mở cửa xe ôm thốc lấy thiếu phụ cùng với đứa bé trong tay lúc đó đã ngất lịm đi, đem họ vào trong nhà, đặt lên chiếc tràng kỷ.
- Xin phu nhân yên tâm. - Bá tước Monte Cristo, người vừa cứu thiếu phụ nói. - Phu nhân không việc gì cả.
Thiếu phụ mở mắt nhìn đứa con trai hãy còn nằm bất tỉnh. Bá tước liền nói tiếp:
- Cậu bé không làm sao cả, chỉ vì sợ quá mà ngất đi thôi.
- Trời ơi! - Thiếu phụ thốt lên. - Thằng Édouard, đứa con trai yêu quý của tôi. Sao mặt mũi nó nhợt nhạt thế này? Nó chết mất, trời ạ! Xin ngài cho mời ngay thầy thuốc tới đây. Tôi sẽ biếu cả gia sản của tôi cho ai cứu được con trai tôi.
Monte Cristo xua tay ra hiệu bảo người mẹ cứ yên tâm và mở một ngăn tủ lấy ra một cái lọ mạ vàng trong đựng một chất nước đỏ như máu rồi rỏ một giọt vào môi đứa trẻ. Đứa trẻ, mặc dù còn tái xanh, lập tức mở mắt ra. Thấy thế, người mẹ mừng quá, cuống quít kêu lên:
- Tôi ở đâu thế này? Sau một cơn hãi hùng tôi có được hạnh phúc như thế này là nhờ ơn quý ông nào vậy?
- Thưa bà! - Monte Cristo đáp. - Bà đang ở nhà một người đã có diễm phúc tránh được cho bà một cơn sầu muộn.
- Ôi! Cái tính tò mò chết tiệt của tôi. - Thiếu phụ nói. - Tất cả Paris đều bàn tán đến đôi ngựa tuyệt diệu của bà Danglars và tôi đã có cái điên rồ là muốn đi thử chúng.
- Sao? - Bá tước giả vờ ngạc nhiên rất khéo, reo lên. - Những con ngựa này là của bà nam tước à?
- Thưa ông, vâng! Ông có biết nam tước phu nhân không?
- Bà Danglars? Tôi đã có được hân hạnh ấy và tôi càng vui mừng là đã cứu thoát được bà khỏi mấy con ngựa này, vì tai biến này cũng là do lỗi ở tôi: Hôm qua, tôi đã mua hai con ngựa ấy của nam tước nhưng tôi thấy nam tước phu nhân tỏ vẻ tiếc rẻ nên tôi đã biếu lại tận tay phu nhân.
- Vậy ông là bá tước Monte Cristo mà Hecmin đã nói rất nhiều với tôi tối hôm qua?
- Thưa bà! Vâng.
- Thưa ông! Còn tôi, tôi là Héloise De Villefort.
Bá tước cúi chào với cái chào của một người đứng trước một cái tên chưa hề quen biết. Bà Héloise nói tiếp:
- Ôi! Ông Villefort nhà tôi sẽ biết ơn ông biết chừng nào. Vì nhà tôi đã mang ơn bá tước cứu hai tính mạng: vợ và con. Một điều chắc chắn là nếu không có người đầy tớ của ông thì mẹ con tôi đã mất mạng rồi, xin phép ông cho tôi được đền ơn người đó.
- Thưa bà! Xin bà đừng làm hư hỏng Ali của tôi, đừng khen, đừng thưởng gì hết. Ali là nô lệ của tôi, cứu tính mạng bà là nghĩa vụ của tôi, và nhiệm vụ của hắn, là phục vụ tôi.
- Nhưng anh ta đã không sợ nguy hiểm đến tính mạng anh ta là gì?
- Tôi đã cứu tính mạng hắn: hắn đã bị người ta đem ra hành hình, nhưng mới bị cắt mất lưỡi và sắp sửa chặt mất đầu thì tôi đã đến kịp cứu sống hắn. Vậy là tính mạng hắn thuộc về tôi.
Bà Villefort im lặng, có lẽ bà đang suy nghĩ đến con người này mới gặp lần đầu mà đã gây cho người khác những ấn tượng sâu sắc.
Trong khoảnh khắc im lặng ấy, Monte Cristo ngắm nghía đứa bé. Nó gầy nhom, da trắng bủng beo, mớ tóc đen bù xù rủ xuống trán và che kín gáy, cặp mắt tinh quái, đôi môi mỏng dính mím chặt có vẻ vừa độc ác vừa hỗn xược. Nhìn bộ mặt của nó, bá tước cũng biết đứa trẻ được mẹ rất nuông chiều và đã hư hỏng. Cử chỉ đầu tiên của đứa trẻ là tụt xuống khỏi tay mẹ, ra mở cánh cửa cái tủ mà bá tước đã để lọ thuốc.
Chẳng cần xin phép ai, nó cầm lấy một lọ thuốc định mở nút ra. Thấy thế bá tước vội nói:
- Cháu ơi! Đừng nghịch cái ấy, thuốc nước rất độc đấy, không những chỉ uống mà ngửi cũng không tốt đâu.
Bà Villefort tái mặt, vội ngăn tay đứa bé. Đến khi hết sợ, bà liếc nhìn cái ngăn tủ bằng một cái nhìn thoáng qua nhưng đầy ý nghĩa. Bá tước Monte Cristo bắt gặp cái nhìn ấy. Vừa lúc đó, Ali vào. Bá tước liền nói với bà Villefort:
- Thưa bà! Tôi đã cho người đóng những con ngựa lúc nãy vào xe của tôi để đưa bà và cháu về nhà. Người đánh xe của bà sẽ ở lại đây chữa xe của bà và Ali sẽ thay anh ta điều khiển xe.
- Nhưng thưa ông. - Bà Villefort nói. - Tôi không còn dám đi những con ngựa đó đâu.
- Ồ! Không! thưa bà đừng ngại. Dưới bàn tay của Ali, những con ngựa ấy sẽ trở thành những con cừu.
Ali lại gần những con ngựa, anh cầm ở tay một miếng vải có thấm một chất nước thơm xoa vào mũi và thái dương hai con ngựa đầy mồ hôi và bọt. Lập tức chúng thở phì phì và rùng mình toàn thân trong vài giây. Ali đóng ngựa vào xe rồi đưa hai mẹ con bà Villefort về nhà.
Buổi tối hôm đó, sự kiện xảy ra ở Auteuil đã là đề tài trò chuyện khắp mọi nơi. Albert đơ Morcerf kể cho mẹ nghe, Satô Renée tán dương trong câu lạc bộ đua ngựa. Debray trong phòng khách của bộ trưởng. Ngay cả Beauchamp cũng đăng lên báo tin đó với vài chục dòng tán dương bá tước Monte Cristo như một vị anh hùng đối với tất cả phụ nữ của giới thượng lưu. Nhiều người đến tận nhà Villefort để được nghe bà Héloise kể trực tiếp những chi tiết về hành động vĩ đại ấy.
Còn ông Villefort, ông mặc bộ lễ phục đen vào, xỏ đôi găng tay trắng nhất trèo lên cỗ xe bóng loáng, ra lệnh cho người đánh xe, mặc áo thêu kim tuyến, đưa ông đến toà nhà số 30, đại lộ Champs-élysées.
Chương 48
tư tưởng
Người hầu vào báo có quan chưởng lý De Villefort tới thăm, giữa lúc bá tước Monte Cristo đang chăm chú nghiên cứu một địa điểm trên tấm bản đồ trải trên một mặt bàn lớn.
Ngài chưởng lý bước vào phòng khách, dáng đi bệ vệ và trang trọng như khi vào phòng xử án. Bá tước rất ngạc nhiên thấy con người trước đây là phó biện lý ở Marseille, sau một thời gian khá dài, đã không thay đổi mấy. Vóc người mảnh khảnh trở thành khô đét, nước da nhợt nhạt chuyển thành màu vàng ệch, cặp mắt trũng sâu hoắm ẩn sâu đôi kính trắng gọng vàng. Còn chiếc cà vạt màu trắng tương phản rõ rệt với bộ quần áo màu đen, màu của tang tóc.
Villefort lên tiếng, giọng lanh lảnh và khô khan mà thói quen nghề nghiệp đã tạo cho y:
- Thưa ngài! Việc làm tốt đẹp của ngài đối với vợ con tôi đã buộc tôi phải tới đây để bày tỏ với ngài lời cám ơn chân thành của tôi.
- Thưa ngài! - Monte Cristo lạnh lùng đáp lại. - Tôi rất lấy làm sung sướng đã giành lại được sự sống của một em bé để trả lại cho mẹ nó, vì tôi biết là không có gì cao cả và thiêng liêng bằng tình mẹ con. Cũng vì thế tôi mới có cái vinh dự được ngài Villefort đến thăm hôm nay chứ!
Villefort giật mình vì câu châm chọc rất tế nhị của bá tước. Y bèn nhìn quanh để tìm cách đánh trống lảng. Khi nhìn thấy tấm bản đồ, y vội vàng nói:
- Ngài bá tước đang nghiên cứu địa lý đó ư? Thật là một công việc thích hợp với một người đã từng ngao du khắp thế giới như ngài.
- Vâng! Thưa ngài, tôi đang chú trọng tới cuộc sống của con người để hiểu biết tâm lý của họ.
Nói xong, Monte Cristo mời Villefort ngồi xuống ghế. Villefort nói:
- À! Ra ngài muốn đi sâu vào triết học. Tôi xin thú thật với ngài là nếu không có việc gì làm, tôi không bao giờ đi tìm một công việc buồn tẻ như vậy.
- Thế công việc của ngài có gì đặc sắc hơn không? Tôi đã so sánh những luật pháp của tất cả các quốc gia, nhưng tôi nghĩ rằng thứ công lý của những dân tộc cổ xưa, nói trắng ra là quy luật "ác giả ác báo" là hợp lẽ trời hơn cả.
- Nếu quy luật đó được áp dụng thì công việc của những nhà làm luật sẽ được giản đơn đi rất nhiều.
- Điều đó rồi sẽ tới, vì những tìm tòi của con người càng đơn giản bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Những đạo luật của nước Pháp hay của bất cứ một nước nào, theo sự hiểu biết của tôi chỉ là tương đối. Đứng trước những cơ cấu xã hội, ngài mới chỉ nhìn thấy sự chuyển động của bộ máy khổng lồ, chứ chưa thấy được đấng Thiêng liêng cao cả đã phát sinh ra nó.
- Ồ! Thưa ngài! - Villefort ngạc nhiên nói. - Tôi chưa từng được nghe ai nói như ngài.
- Bởi vì ngài bị kìm hãm trong bộ máy bình thường, chưa vươn tới cái Thiên cầu cao vút của Thượng đế đã cấu tạo ra những vật vô hình và đặc biệt.
- Ngài tin là cái Thiên cầu đó có thật ư? Những nhân vật vô hình và đặc biệt ấy có thật ư?
- Sao lại không? Thế ngài có trông thấy được cái không khí mà ngài hít thở không? Và nếu không có nó thì ngài có thể sống được không?
- Vậy là chúng ta sẽ không trông thấy những nhân vật mà ngài đang nói tới chứ?
- Có chứ, khi mà Thượng đế cho phép họ biến thành vật thể! Ngài sẽ nom thấy, sờ thấy, và nói chuyện với họ, họ sẽ trả lời ngài.
- À há! - Villefort cười. - Tôi mong một ngày kia sẽ được tiếp xúc với một nhân vật đặc biệt như ngài vừa nói. Theo ngài, con người ta chắc ai cũng có khuyết điểm cả?
- Vâng... Khuyết điểm và... Tội ác. – Bá tước Monte Cristo l
ơ đãng. - Và bản thân tôi cũng không phải là một con người hoàn chỉnh.
- Ngài có bà con thân thuộc nào không?
- Tôi sống độc thân.
- Ngài có sợ chết không?
- Tôi không sợ chết, tôi chỉ lo cái chết sẽ làm cản trở công việc của tôi thôi.
- Thế còn tuổi già? Còn bệnh thần kinh?
- Đã có lần tôi suýt mắc phải và tôi cho đó là điều khủng khiếp nhất.
- Nhưng thưa ngài. - Villefort buồn rầu. - Còn có một bệnh nguy hiểm hơn thế nữa, đó là bệnh trúng phong làm cho người bị bại liệt chứ không chết hẳn, cứ sống ngắc ngoải mãi cho tới khi nhắm mắt. Tôi mong một ngày kia ngài đến chơi nhà tôi, tôi sẽ giới thiệu ngài với cha tôi: ông Noirtier De Villefort, một đảng viên hăng hái trong cuộc cách mạng Pháp, một con người dũng cảm, đầy nghị lực, con người đã làm những công việc kinh thiên động địa, đã từng tham gia lật đổ chiếc ngai vàng, đã coi thường công danh, phú quý, ngày nay chỉ còn là ông già bất động trong chiếc ghế có bánh lăn. Thể xác ông im lìm và giá lạnh dưới sự chăm sóc của đứa cháu gái yếu đuối tên là Valentine, và cái thể xác đó cũng đã mất hết cảm giác chỉ còn chờ ngày tiêu tan.
- Thưa ngài! - Monte Cristo nói. - Cảnh tượng đó đối với tôi không có gì là xa lạ vì tôi cũng đã được học qua nghề làm thuốc, và tôi đã từng chữa những bệnh hiểm nghèo hơn thế. Nếu cảnh tượng đó đối với ngài là quá hãi hùng, thì một ngày kia, nếu ngài yêu cầu, tôi sẽ đến thăm ngài để giải quyết nỗi buồn phiền trong gia đình ngài.
- Cũng may là bên cạnh ông già thống khổ đó, tôi được Thượng đế ban cho hai mụn con: một gái tên là Valentine, con riêng người vợ trước của tôi là Renée De Saint Méran và thằng Édouard mà ngài vừa mới cứu mạng, con người vợ kế của tôi.
- Ngài nghĩ về sự bù trừ đó ra sao?
- Tôi nghĩ rằng có thể trước kia cha tôi đã gây ra một tội ác nào đó mà không bị con người trừng phạt thì ngày nay phải chịu cái hình phạt của đấng Thượng đế chí công và chỉ một mình cha tôi phải đền tội.
Monte Cristo mỉm cười và tiễn Villefort ra về. Khi cỗ xe của quan chưởng lý đã đi xa rồi, Monte Cristo mới gượng cười, tuy trong lòng vẫn cảm thấy bực bội, khó chịu, ông ta lẩm bẩm: "Thôi! Thuốc độc đối với trái tim ta như thế đã đủ rồi, bây giờ ta phải đi tìm thuốc giải độc". Rồi bá tước kéo chuông.
Ali, ta đi lên gặp cô nương, nửa giờ nữa cỗ xe phải sẵn sàng nhé.
Chương 49
haydée
Trưa nào bá tước Monte Cristo cũng dành thời gian để đến thăm Hay đê, người con gái Hy Lạp hiện đang ở một căn buồng lộng lẫy tại toà nhà ở đại lộ Champs-élysées. Bá tước muốn tìm ở đây những giây phút êm dịu cho tâm hồn sau những lúc đầu óc bị xúc động và căng thẳng.
Cô thiếu nữ ở một căn buồng cách xa buồng của bá tước, trang trí theo kiểu Á Đông, trên mặt sàn trải thảm Thổ Nhĩ Kỳ, tường căng rèm gấm. Giữa buồng có kê một chiếc giường thấp, xung quanh xếp những chiếc gối bằng sa tanh thêu rất đẹp. Haydée có ba hầu gái người Pháp và một hầu gái người Hy Lạp để làm phiên dịch, vì cô chỉ nói được tiếng La Mã.
Thiếu nữ đang nằm trên tấm thảm, một tay chống lên cái gối xếp, một tay vòng ra sau đầu. Cô mặc chiếc quần sa tanh màu hồng thêu hoa để lộ đôi bàn chân trắng nõn xỏ đôi hài mũi nhọn thêu kim tuyến có đính những hạt ngọc, mặc một cái áo sọc xanh, trắng tay áo rộng và một cái áo bó ngực có ba khuy bằng ba hạt kim cương, bụng cô quấn một thắt lưng lụa màu sặc sỡ. Đầu cô đội chiếc mũ chỏm thêu chỉ vàng, xung quanh đính hạt trai, một bên cài một bông hồng làm nổi bật mớ tóc đen nhánh và khuôn mặt kiểu Hy Lạp tuyệt đẹp với cặp mắt đen như nhung, mũi dọc dừa thẳng tắp, đôi môi mọng đỏ như son, hàm răng đều và trắng bóng. Cô thiếu nữ hiện thân cho vẻ đẹp kiều diễm mê hồn của người phụ nữ phương Đông ấy mới khoảng mười chín tuổi.
Monte Cristo bảo một hầu gái vào xin phép để bá tước vào thăm. Để trả lời, Haydée chỉ ra hiệu cho cô hầu gái vén một tấm thảm ở cửa buồng lên. Bá tước bước vào, Haydée ngồi dậy, đưa một tay cho bá tước, mỉm cười nói:
- Tại sao Đức ông lại xin phép em để vào? Đức ông không còn là chủ, em không còn là nô lệ của Đức ông sao?
Monte Cristo mỉm cười đáp:
- Haydée, cô nên biết là...
- Tại sao Đức ông lại không gọi em bằng em như mọi khi? Em đã phạm một lỗi lầm nào chăng? Nếu vậy Đức ông cứ phạt em chứ đừng gọi em bằng cô.
- Haydée. - Bá tước nói tiếp. - Em nên biết là chúng ta đang ở Pháp, tức là em được tự do.
- Tự do làm gì kia? - Thiếu nữ hỏi.
- Tự do xa ta.
- Xa Đức ông... Tại sao em lại xa Đức ông?
- Nói thế nào nhỉ? Ta sẽ phải giao tiếp với thiên hạ.
- Em chẳng muốn tiếp ai cả!
- Và nếu trong đám thanh niên đẹp trai em thấy thích ai, ta không nỡ...
- Em chưa hề gặp một người con trai nào đẹp hơn Đức ông, và trên đời này em chỉ yêu có hai người, cha em và Đức ông.
- Khổ thân em. - Monte Cristo nói. - Lúc nào cũng chỉ thấy em nói đến cha em và ta thôi.
- Em còn nói đến ai nữa? Cha em gọi em là nguồn vui của Người, với Đức ông, em là nguồn yêu thương
- Haydée, em còn nhớ cha em không?
Cô gái mỉm cười chỉ tay vào mắt và ngực mình nói:
- Cha em ở đây này.
- Thế còn ta, ta ở đâu? - Monte Cristo tủm tỉm cười, hỏi.
- Đức ông ở khắp mọi chỗ.
Monte Cristo cầm lấy tay cô gái định đưa môi hôn, nhưng cô gái thơ ngây ấy rụt tay lại và chìa trán ra để bá tước hôn.
- Bây giờ, Haydée ạ! - Bá tước nói. - Em nên biết là em được tự do. Em là một nữ chủ nhân, em là một bà hoàng. Em có thể cứ giữ bộ quần áo này hay thay bộ khác là tùy em. Em sẽ ở lại đây nếu em muốn, hay ra khỏi nơi này là tùy em. Luôn luôn lúc nào cũng có một cỗ xe cho riêng em dùng. Ta chỉ yêu cầu em có một điều thôi.
- Xin Đức ông cứ nói?
- Phải giữ kín lý lịch của em, không được nói một câu nào về quá khứ của em. Trong bất cứ trường hợp nào cũng không được nói lên tên người cha lừng danh và mẹ của em.
- Thưa Đức ông! Em đã nói với Đức ông rồi, em sẽ chẳng gặp ai cả thì lo gì em nói.
- Hãy nghe đây Haydée, cái lối sống cách biệt kiểu phương Đông này không thể thích hợp với Paris được. Em cần phải tìm cuộc sống ở đây cũng như em đã từng làm ở Rome, ở Milan, ở Madrit. Hoặc em muốn tiếp tục sống ở đây, hoặc em muốn trở về phương Đông...
Cô thiếu nữ ngước cặp mắt to và ướt lên nhìn bá tước:
- Hoặc là chúng ta trở về phương Đông? Đức ông nói thế có phải không?
- Phải! - Monte Cristo đáp. - Em nên biết là ta không bao giờ xa em cả. Cây không bao giờ xa rời hoa, mà chỉ có hoa xa rời cây mà thôi.
- Em không bao giờ xa Đức ông cả. - Haydée kêu lên. - Em tin chắc rằng em không thể sống thiếu Đức ông được.
- Em ơi! Mười năm nữa ta sẽ già và mười năm nữa em vẫn còn trẻ lắm.
- Cha em có một bộ râu bạc dài, cái đó không ngăn cản em yêu cha em. Cha em sáu mươi tuổi, thế mà em thấy cha em đẹp hơn tất cả mọi thanh niên mà em gặp.
- Nhưng này, em hãy nói xem, em có tin rằng em sẽ quen với đây chứ?
- Có được gặp Đức ông không?
- Hàng ngày.
- Nếu vậy em còn đòi hỏi gì hơn nữa, thưa Đức ông?
- Ta e rằng em sẽ buồn.
- Thưa Đức ông! Không buồn đâu ạ! Vì cứ mỗi buổi sáng em được nghĩ rằng Đức ông sắp đến và mỗi buổi tối em lại tự nhủ là Đức ông đã đến. Thế rồi, trong trái tim em có ba thứ linh cảm không thể nào được: Sự chờ đợi tình yêu và lòng biết ơn.
- Em thật xứng đáng là người con gái xứ Hy Lạp, kiều diễm và thơ mộng. Em cứ yên tâm, ta sẽ hành động sao cho tuổi thanh xuân của em không uổng phí, vì em đã yêu ta như cha em. Vậy ta cũng sẽ yêu em như con gái ta.
- Đức ông nhầm rồi đấy. Em không yêu cha em như em yêu Đức ông đâu. Tình yêu của em đối với Đức ông là một tình yêu khác kia! Cha em đã chết nhưng em có chết đâu. Còn nếu Đức ông mà chết, em sẽ chết theo ngay.
Bá tước đưa bàn tay ra và cô gái mỉm cười đỡ lấy. Như thường lệ, cô đặt lên đó một cái hôn nồng thắm.
Monte Cristo cảm thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, êm ái và sẵn sàng đến thăm Maximilien Morrel cùng gia quyến.
Vừa đi, bá tước vừa lẩm nhẩm câu thơ của Panhđa:
"Tuổi trẻ là đoá hoa, tình yêu là trái quả"
"Hạnh phúc thay người hái hoa nào biết hái nó lúc đang hé mở".
Theo lệnh của bá tước, cỗ xe đã sẵn sàng. Bá tước lên xe và như thường lệ, xe phóng nước đại.
Chương 50
gia đình morrel
Mấy phút sau, cỗ xe đã đưa Monte Cristo đến căn nhà số 7, phố Meslay, một ngôi nhà ba tầng, có sân, trông ra một mảnh vườn có hai khóm hoa khá đẹp. Ngôi nhà khá duyên dáng và vui mắt, thuộc vào lịch sự nhất phố.
Vợ chồng cô Julie ở hai tầng dưới. Maximilien ở tầng trên cùng. Ngoài ra, hai bên còn có vài căn nhà phụ. Khi bá tước tới người gác cổng chính là bác Coclès. - Người thủ quỹ của ông Morrel nay đã về hưu, vào báo cho Max biết. Anh thanh niên sĩ quan vội chạy xuống đón khách quý. Anh reo lên:
- Trời ơi! Bá tước Monte Cristo, tôi biết ngay là thế nào chúng tôi cũng sẽ được cái hân hạnh này. Ôi! Cám ơn, nghìn lần cám ơn bá tước đã không quên lời hứa.
Chàng sĩ quan thân mật bắt tay bá tước. Qua cái bắt tay đó, bá tước thấy cả một tấm lòng thực tâm mong đợi mình.
- Xin mời bá tước vào, em gái tôi hiện ở trong vườn, đang tỉa hoa. Em rể tôi ngồi đọc báo cạnh đấy. Hai vợ chồng họ chẳng bao giờ chịu xa nhau quá sáu bước.
Tiếng những bước chân làm một thiếu phụ ngẩng đầu lên. Thiếu phụ trạc hai mươi lăm tuổi, mặc áo dài lụa. Thiếu phụ đó chính là cô Julie bé nhỏ của chúng ta trước đây. Trông thấy người lạ, cô kêu lên một tiếng. Max cười, bảo:
- Em đừng ngại, Đức Monte Cristo mới đến Paris ba bốn hôm nay.
- Ôi! Thưa ông! Anh tôi đưa ông vào đột ngột thế này thực chẳng lịch sự chút nào. Đấy là tội của anh tôi muốn trêu đứa em gái đây mà... Penelon! Bác Penelon!
Một ông già đang lúi húi xới một luống hoa, tóc cụ đã bạc trắng, nước da bánh mật, cặp mắt cho ta thấy cụ là một thủy thủ già từng trải, đã từng phơi mình dưới ánh nắng vùng xích đạo, phơi mình trong bao trận phong ba bão táp. Nghe tiếng gọi, cụ ngừng tay xới và ngẩng đầu lên, Julie bảo:
- Bác Penelon, bác làm ơn bảo với nhà cháu là nhà có khách đến chơi, và đề nghị anh Max mời bá tước lên phòng khách. - Rồi quay lại phía bá tước, cô nói. - Xin phép cho tôi được rút lui một chút ạ.
Và chẳng đợi ý kiến của khách, cô chạy biến mất. Bá tước có vẻ suy nghĩ rồi hỏi một câu như để trả lời cho chính ý nghĩ của mình:
- Gia đình đại úy hẳn là hạnh phúc lắm?
- Thưa bá tước! Xin thú thật là quả như thế. Các em tôi không còn đòi hỏi hạnh phúc gì nữa. Chúng còn trẻ, chúng vui vẻ, chúng yêu nhau, chúng có tiền lời hàng năm hai mươi lăm nghìn đồng bảng.
- Tuy nhiên, thế vẫn còn ít lắm đấy. - Bá tước mỉm cười nói bằng giọng rất dịu dàng và thắm thiết như một người cha. - Chắc là đôi bạn trẻ của chúng ta không dừng lại ở đây; một ngày kia họ sẽ trở thành triệu phú. Em rể của ông là luật sư... Là bác sĩ...
- Thưa ông! Em rể tôi là nhà buôn. Em tôi thừa kế hãng buôn của cha tôi. Sau khi cha tôi mất để lại một gia sản năm trăm nghìn. Tôi một nửa và em gái tôi một nửa. Chồng em gái tôi khi lấy nó không có một gia sản nào khác ngoài sự thông minh, cần cù và một lai lịch trong sạch. Nó quyết định phải kiếm cho được một số tiền bằng số tiền của vợ. Trong sáu năm cần cù, nó đã kiếm đủ số tiền hai trăm năm mươi nghìn.
Giữa lúc đó, Emmanuel ở trong nhà bước ra, chào bá tước rất niềm nở rồi mời bá tước và phòng khách. Julie đã thay những bông hoa mới đượm mùi hương trong các bình hoa và ăn mặc rất lịch sự để mời khách uống trà.
Monte Cristo nhìn Julie:
- Thưa bà! Bầu không khí yên vui, ấm cúng của gian phòng này và những bộ mặt hân hoan, tươi tỉnh của chủ nhân làm tôi vô cùng xúc động và vui sướng.
- Cảnh gia đình chúng tôi hiện nay rất êm đẹp. - Julie trả lời. - Nhưng cũng phải nói rằng trước kia chúng tôi đã từng trải qua những thời kỳ rất khó khăn và gian truân.
- Đúng như vậy đấy ạ. - Max nói. - Gia đình chúng tôi đã từng có những giờ phút nguy nan khủng khiếp. Và giữa lúc con thuyền của chúng tôi bị sóng gió hãi hùng, sắp chìm xuống đáy biển, thì có một bàn tay của Thượng đế đã đến cứu vớt chúng tôi.
Bá tước đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng, vẻ mặt rất xúc động. Sau đó, dừng lại trước cái tủ kính, có bày một quả bóng bằng thủy tinh, bên trong có để một cái túi lưới bằng lụa đỏ trên một cái hộp bằng nhung đen, bên cạnh có một mẩu giấy gấp làm tư và một viên kim cương rất đẹp. Max thấy bá tước nhìn chăm chú một cách khác thường, bèn nói:
- Thưa bá tước! Đây là những bảo vật quý báu nhất của gia đình chúng tôi.
- Vâng. - Julie tiếp lời. - Anh tôi muốn nói những vật này do một thiên thần của Thượng đế phái xuống để cứu vớt chúng tôi mà chúng tôi cũng chẳng bao giờ được biết mặt cả.
- Vậy kia à? - Bá tước nói nghẹn ngào
Max liền chạy lại, nhấc quả bóng thủy tinh lên, cầm lấy cái túi đưa lên môi hôn, rồi nói:
- Thưa bá tước! Vật này là của người đã cứu sống cha chúng tôi khỏi một cái chết vì phá sản và mất danh dự. Mảnh giấy này tự tay người viết ra và viên kim cương này người đã tặng em gái tôi làm của hồi môn. Chúng tôi chưa được diễm phúc nhìn thấy mặt người và người chỉ cho biết tên người là "Thủy thủ Simbard".
- Ôi! - Julie nói. - Tôi luôn luôn hy vọng là vào một ngày kia tôi sẽ được ôm hôn tay người cũng như hôn cái túi này, cái túi mà người đã từng mó tay vào. Cách đây bốn năm bác Penelon, người làm vườn cho chúng tôi hiện nay, có gặp ở Trirét một người Anh giống vị đại diện người Anh đã đến nhà chúng tôi ngày mồng 5 tháng Sáu và ngày mồng 5 tháng Chín năm 1829, là người đã viết cho tôi mảnh giấy này. Bác Penelon quả quyết là mình nhìn không nhầm nhưng không dám hỏi.
- Ông khách người Anh. - Max nói. - Tự xưng là thay mặt hãng Thomson và French ở Rome, cho nên hôm bá tước nhắc đến tên đó trong bữa tiệc ở nhà tử tước Morcerf, làm tôi giật mình. Một điều kỳ lạ nữa là hãng Thomson và French luôn luôn chối là không hề giúp chúng tôi việc đó.
- Nếu vậy. - Bá tước nói. - Người Anh đó có thể là người đã hàm ơn ngài Morrel nên đã lấy cớ đó để trả ơn đấy thôi
- Nhưng cha tôi lại khẳng định vị cứu tinh của cha tôi lại không phải là người Anh đó.
- Thế cha ông là... - Bá tước rùng mình hỏi. - Ông Morrel?...
- Thưa bá tước! Cha tôi coi việc đó là một câu chuyện thần kỳ. Cha tôi tin vào một vị cứu tinh đã trỗi dậy từ một nấm mồ để đến với chúng tôi. Ôi! Một sự mê tín thật là cảm động. Đã nhiều lần cha tôi cứ lẩm nhẩm như trong một giấc mơ, gọi tên một người bạn rất thân, một người bạn đã mất. Mãi tới khi sắp tắt thở, cái ý nghĩ đó, từ trước đến nay chỉ là sự ngờ vực, thì đã trở thành hiển nhiên. Và, những câu trối trăng cuối cùng của cha tôi trước khi mất là "Maximilien con người đó là "Edmond Dantès".
Bộ mặt của bá tước vốn đã tái xanh, nghe đến câu nói đó lại càng tái đi một cách đáng sợ. Tất cả máu như dồn hết về tim, bá tước không nói được nữa. Ông rút đồng hồ ra như quên mất giờ, cầm lấy mũ và chào mọi người.
- Thưa bà! Cho phép tôi thỉnh thoảng được đến thăm gia đình nhà ta, tôi thấy ấm cúng quá. Xin cám ơn sự đón tiếp nồng hậu của cả nhà.
Nói xong, bá tước bước nhanh ra ngoài.
- Bá tước Monte Cristo là một con người kỳ dị. - Phải! - Max nói. - Nhưng anh còn tin là ông ta còn có một trái tim giàu nhân ái và anh chắc chắn là ông ta quý chúng mình lắm.
- Còn em. - Julie. - Em thấy là giọng nói của bá tước cứ như đi thẳng vào trái tim em và đã hai ba lần em có cảm giác không phải là lần đầu tiên em nghe thấy.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co