HAPPY ENDING
Quảng cáo - mua máy hàn cũ, giao sữa, thuốc nhuộm tóc, súng nhẹ hơn dành cho phụ nữ, vá giày, thông báo mất tích, dịch vụ lắp đặt đèn chùm chuyên nghiệp, camera, gel tẩy lông siêu mạnh, tờ rơi khuyến mãi cửa hàng thực phẩm, laptop, lốp xe, lược dành riêng cho ria mép.
"......"
Lược dành riêng cho ria mép ư?
Tôi nhíu mày, nhìn chăm chăm vào mẩu giấy quảng cáo nhỏ xíu. Trong đó có vẽ một chiếc lược nhỏ cỡ lòng bàn tay với những răng lược khít với nhau. Tôi quyết định cắt mẩu giấy đó ra. Ngoài ra, tôi cũng tách riêng quảng cáo giao sữa, bánh pudding, và tờ rơi khuyến mãi của cửa hàng thực phẩm.
Sang tháng 5, thời tiết bắt đầu nóng dần lên. Dù đã bật điều hòa, những tia nắng xuyên qua ô cửa kính vẫn làm văn phòng tiếp tân trở nên nóng nực. Bất chợt, tôi nhìn về góc phòng và bắt gặp ánh mắt của Kitty. Con chó gầm gừ, nhe răng như muốn cảnh báo đừng nhìn nó. Tuy vậy, tôi và Kitty khá thân thiết với nhau, đến mức đôi khi chúng tôi còn đi dạo cùng nhau. Nhưng giờ đây, có lẽ nó đang bực mình vì buổi chiều oi ả này.
Sự chờ đợi không kéo dài lâu. Chẳng bao lâu sau, một chiếc Ford bán tải bóng bẩy lao vào bãi đỗ xe trước văn phòng, làm bụi cát tung mù mịt. Maria mặc đồng phục, nhanh nhẹn nhảy ra khỏi xe. Con bé đã lớn lên đáng kể chỉ sau một năm. Khi nó đẩy cửa bước vào văn phòng, Kitty bật dậy ngay lập tức. Chẳng mấy chốc, Andres cũng bước vào sau.
"Có chuyện gì không?"
"Dạ... À, có một thứ."
Andres vừa đặt ba lô của Maria xuống, quay lại với vẻ tò mò. Tôi nhấc bổng Maria đang níu chặt lấy chân tôi lên, rồi đưa mẩu giấy quảng cáo về chiếc lược ria mép cho Andres xem.
"Thứ này đây, ông thấy sao?"
"Không cần đâu. Cái này dùng vẫn tốt mà."
"Ông đã có rồi ạ?"
Andres trả lời với vẻ không mấy vui vẻ.
"Có rồi thì đúng hơn. Sáng nào cũng chải cả."
Tôi dừng lại, ngắm nghía hàng ria mép của ông ấy một lúc, rồi nhún vai.
"Dù sao thì, tôi sẽ chuẩn bị đồ ăn nhẹ cho con bé rồi đi ngay."
"Khi nào cậu về?"
"Hôm nay chỉ ghé lấy thư, mai tôi sẽ về ngay."
Tôi đáp lớn, rồi dẫn Maria vào căn phòng nhỏ phía sau. Sau khi dỗ dành con bé đang vùng vằng và đưa nó vào phòng tắm, tôi bắt đầu chuẩn bị đồ ăn nhẹ. Thực đơn hôm nay là bánh mì phết đầy kem sô-cô-la. Những ngày thường nhật tại khách sạn Bogota cứ thế trôi qua một cách bình lặng. Tính ra tôi đã ở đây được bốn tháng rồi.
Đầu năm, mọi việc khá bận rộn. Đúng như Andres nói, khách sạn Bogota cũng có mùa cao điểm của nó. Tuy không đến mức treo biển "hết phòng", nhưng lượng khách thì chưa khi nào ngừng lại. Ngay khi vừa mới đến, tôi đã bị kéo vào guồng quay công việc: giặt ga giường, quét sân đầy bụi, sửa chữa lặt vặt, và đôi khi còn phải đi chợ. Mỗi sáng, tôi cùng mọi người ngồi ăn sáng bên bàn ăn, còn buổi tối, tôi thường ngồi cạnh ông cụ uống bia.
Dẫu vậy, tôi không phải lúc nào cũng ru rú ở trong khách sạn Bogota. Tôi thuê một căn hộ nhỏ ở trung tâm Los Angeles, và thỉnh thoảng khi có hứng, tôi lại ra đó ở vài ngày. Không phải vì có việc gì đặc biệt. Chủ yếu là ngồi trong một quán ăn ven biển, thưởng thức cua chiên nguyên vỏ hoặc cá ăn kèm chanh, rồi ngắm đường chân trời một cách nhàn nhã. Khi thích thì tôi đi bơi, và đôi lúc còn khám phá những địa điểm du lịch mà trước giờ tôi chưa từng ghé qua (thật ngạc nhiên là Los Angeles lại có rất nhiều nơi đáng để tham quan đến thế).
Hôm nay, lý do tôi ghé qua căn hộ là để kiểm tra thư. Tôi thường sử dụng địa chỉ của căn hộ này để nhận và gửi thư. Những người trao đổi thư với tôi cũng không ít. Khi đang ngồi trên sofa, tôi bất giác nghĩ đến từng gương mặt quen thuộc. Ngay lúc đó, cửa phòng tắm bật mở, và tôi đứng dậy.
Trong khi Maria đang thưởng thức bữa ăn nhẹ, tôi ngồi đối diện con bé tại bàn ăn và lắng nghe câu chuyện của nó. Gần đây, Maria ngày càng mê bóng đá hơn. Không lâu trước đây, đội bóng của Maria đã thắng tất cả các trận và giành chức vô địch trong giải bóng đá thiếu nhi. Tôi cũng tham dự trận chung kết. Cả Kitty, mọi người, và tôi đều ngồi trong bóng râm ở một góc trong sân cỏ để cổ vũ. Chúng tôi còn chụp ảnh kỷ niệm. Trong ảnh là Maria đeo huy chương, Andres nâng cao chiếc cúp vô địch, Kitty ngồi trong chiếc cúp, và tôi đang bế Maria. Bức ảnh đó hiện được treo trên tường tại quầy lễ tân.
Ngay sau khi Maria ăn xong, tôi leo lên chiếc xe bán tải để đi. Andres lái xe đưa tôi đến bến xe buýt. Chiếc Ford bán tải mới này là quà tôi tặng ông ấy. Lần đó, tôi mượn chiếc Toyota của Andres để đến nhà Julia, nhưng không may đã mất luôn chiếc xe. Khi trở về, món quà đầu tiên tôi mua chính là chiếc xe bán tải này. Andres, người từng phải lái những chiếc xe cũ kỹ như sắp hỏng, đã vui vẻ nhận món quà với nét mặt rạng rỡ.
Chẳng bao lâu, xe buýt đến. Nhưng vì phải di chuyển nhiều giờ đồng hồ, khi tôi đặt chân đến trung tâm Los Angeles, trời đã gần tối. Trên đường về căn hộ, tôi ghé qua một nhà hàng Trung Quốc để mua đồ ăn mang về. Kẹp túi đồ ăn bên hông, tôi dùng chìa khóa để mở hộp thư. Hóa đơn, thư quảng cáo các loại đồng loạt rơi ra. Tôi vừa bước lên cầu thang vừa lật qua từng thứ một, nào là thư từ ngân hàng, tòa thị chính, siêu thị, quán bánh mì... Những thư quan trọng nhất là từ chuyên gia thuế, luật sư, và một bức thư từ... chuột Mickey của Disneyland.
Vừa dùng vai đẩy cửa căn hộ, tôi đã nhăn mặt. Không khí ngột ngạt và bức bối do lâu ngày không được thông gió tràn ngập trong phòng. Tôi đặt túi đồ ăn và đống thư xuống sofa, sau đó nhanh chóng mở toang cửa sổ. Một làn gió mát mẻ hơn len lỏi vào. Châm điếu thuốc, tôi trở lại ghế sofa và bắt đầu xem xét đống thư. Bức thư từ chuyên gia thuế khiến tôi cảm thấy rối rắm. Đó là một rắc rối nảy sinh sau khi tôi nhận được một khoản thừa kế khổng lồ từ Julia. Khi mọi việc kết thúc, khối tài sản khổng lồ ấy đã thuộc về tôi. Mickey tự xưng là người đại diện của tôi, đã hoàn thành mọi thứ theo cách của cậu ta. Đến mức ấy, tôi cũng không còn sức để phản kháng, chỉ đành để mọi việc diễn ra theo như ý muốn của cậu ta.
"Dẫu sao thì cũng đã sống sót. Hãy nhận thừa kế, sống thật thoải mái và tận hưởng lâu dài đi. Chẳng phải bây giờ là lúc anh xứng đáng được hưởng thụ rồi sao?"
Những lời Mickey đã nói, tôi không phải là không hiểu. Hơn nữa, cậu ta cũng đúng. Một khi đã thử sống một cách trọn vẹn, tôi nhận ra rằng cuộc sống có thể dễ chịu đến mức nào.
Bức thư từ luật sư thì dễ hiểu hơn một chút. Nội dung rõ ràng và đơn giản. Họ đang cố gắng xóa bỏ những đoạn video được quay tại câu lạc bộ nhiều nhất có thể, mặc dù không thể thu hồi hoàn toàn. Tuy nhiên, không thể buộc tội thêm được gì đối với kẻ đã phát tán những đoạn video đó.
Ông John đã tự sát tại London vào mùa thu năm ngoái, đúng lúc tôi còn đang nằm bất tỉnh trong nơi ẩn náu ở Portsmouth. Người ta đồn rằng ông ta đã tuyệt vọng đến mức phải tìm đến cái chết sau khi mất đi nàng thơ của mình - Julia. Nhưng một số người khác lại nói rằng đó là một vụ giết người được ngụy tạo thành vụ tự sát. Sự thật thì chỉ có ông John, người đã khuất, mới biết rõ được.
Bức thư từ chuột Mickey của Disneyland lại là một lá thư tư vấn tình cảm. Có vẻ như Harry cuối cùng cũng bắt đầu thổ lộ tình cảm với Mickey. Tôi cũng từng chứng kiến một phần của câu chuyện đó. Người đã đến Bluebell để đón tôi chính là Mickey. Việc cậu ta biết được tôi đang ở Bluebell sau khi mất liên lạc ở York thì tôi không rõ, nhưng dù sao, chính cậu ta đã đưa tôi đến chỗ bà Stella. Bà ấy vẫn chăm sóc tôi như trước đây. Harry đôi khi còn ghé qua để kể những câu chuyện linh tinh rồi rời đi.
Ban đầu, tôi dự định ở lại đó suốt mùa đông. Nhưng rồi tôi thay đổi ý định và rời đến Pháp. Tôi không thể xem trận chung kết World Cup, nhưng đã có dịp xem một trận đấu tại sân vận động từng tổ chức World Cup trước đây. Tôi cũng đến Nice để tắm biển, ngồi giữa những người câu cá và quan sát họ kéo lưới suốt cả ngày. Tôi chậm rãi bước đi trên con đường mà mình đã không lựa chọn từ lâu, như thể đang khám phá những gì đã bỏ lỡ. Sau đó, tôi trở về khách sạn Bogota.
Khi đến Los Angeles, tôi đã đắn đo rất lâu và cuối cùng cũng quyết định đi tìm Matt. Khu nhà xe kéo giờ đây rộng lớn và phức tạp hơn trong ký ức của tôi rất nhiều. Sau ba ngày tìm kiếm, tôi mới tìm thấy chiếc xe kéo mà Matt và tôi từng sống, nhưng giờ nó đã thuộc về người khác. Người này không biết gì về Matt. Lang thang khắp nơi để hỏi thăm, tôi tình cờ gặp lại người đã từng đưa tôi thanh sô-cô-la sữa ngày trước. Anh ấy đã kể cho tôi nghe về Matt.
"Cậu ta đã chết rồi."
Một đêm nọ, giữa cuộc ẩu đả của những kẻ làm nghề mại dâm, Matt bị trả thù trên đường về nhà và đã chết ngay tại chỗ. Khi tôi lặng người không nói nên lời nào, chàng trai sô-cô-la sữa ấy chỉ nói thờ ơ:
"Vốn dĩ cậu ta là người gây thù chuốc oán với nhiều người mà."
Cuối cùng, tôi không thể làm gì khác ngoài việc quay lưng rời đi mà không tìm được Matt.
Mùa đông năm ấy, có rất nhiều người đã chết vì hận thù, nhưng những ai sống sót thì vẫn tiếp tục sống. Tôi cũng vậy. Nhưng bằng chứng cho thấy đó không phải là một giấc mơ vẫn còn tồn tại tại ở khách sạn Bogota. Chiếc rương mà tôi mang theo từ rất lâu về trước vẫn được cất giữ ở đó. Khi tìm thấy một chiếc tất lẻ của Simon, tôi không thể chịu nổi cảm giác nhớ nhung ùa về. Trong lòng tôi bỗng nhói đau khi nghĩ đến chàng trai mà tôi đã bỏ lại ở Bluebell.
Tôi đã không thể cứu anh ấy. Chúng tôi không thể cứu được nhau. Chỉ là... không thể khác được. Nhưng giờ đây tôi không còn nghĩ rằng Simon đã sai. Tôi chỉ chọn cách chấp nhận. Không phủ nhận, không lảng tránh, không phá bỏ, cũng không cố gắng thấu hiểu nỗi bất hạnh của anh ấy nữa. Tôi chỉ đơn giản là chấp nhận cái chết bất hạnh của anh. Và khi nỗi đau trở nên quá sức chịu đựng, tôi chợt nhớ đến những lời bà Stella từng nói:
"Khi chết đi, người ta chỉ đơn giản là bị lãng quên thôi."
Dựa vào câu nói ấy, tôi chờ đợi ngày Simon bị lãng quên. Điều đó thật mâu thuẫn. Dùng những lời nói để khích lệ cuộc sống, lại để đối mặt với cái chết...
Rốt cuộc, kế hoạch của Mickey kết thúc với sự hy sinh của một người. Nhưng hai người còn sống sót cũng chẳng thể hoàn toàn đi theo tinh thần cốt lõi của kế hoạch đó nữa.
Tôi ngủ một mình trong căn phòng của khách sạn Bogota. Chiếc giường cứng cáp phủ tấm ga thô ráp đến mức gây rát da, trần nhà với những vết ố vàng như vết nước tiểu chuột, và màn đêm im lặng đến mức không thể chịu nổi. Trước khi ngủ trong căn phòng tận cuối hành lang ấy, tôi đọc một cuốn tiểu thuyết. Tôi tự nhủ, khi đọc xong cuốn sách này, tôi sẽ rời khỏi khách sạn Bogota. Nhưng tôi đã đọc xong từ rất lâu. Tôi đọc, rồi lại đọc lại.
Khi những đêm dài trở nên không thể chịu đựng nổi, tôi bước ra khỏi khách sạn và trở về căn hộ nhỏ. Tôi đi đến nhà hàng ven bãi cát ở Malibu, và tôi gọi mực chiên thay vì cua chiên nguyên vỏ, ăn bánh hamburger phô mai thay vì món cá ăn kèm chanh. Tôi thưởng thức ly cocktail có vị nước trái cây ngọt lịm làm tê cả đầu lưỡi. Khi nhắm mắt lại, tôi nghe tiếng sóng vỗ vào bờ biển, âm thanh rì rào, rì rào cuốn tôi trôi về một nơi xa. Một nơi rất xa. Một nơi quá xa đến mức không còn ai cả. Đến mức ngay cả những con sóng cũng không còn xô bờ. Tôi tưởng tượng và tin vào nơi đó.
Tôi đã sống không ngừng nghỉ trong suốt một thời gian dài. Từ khi rời khỏi Bluebell, tôi đã đi qua chiến trường, lang thang khắp nước Mỹ, lùng soát từng ngóc ngách của nước Anh để làm nghề thám tử, và cuối cùng còn xuất hiện trên một tờ tạp chí giải trí hạng ba. Đó không hẳn là một cuộc đời yên bình. Nhưng rồi, cuối cùng, tôi lại trở về khách sạn Bogota.
Khách sạn Bogota vẫn ở đó, như thể nó vẫn luôn như vậy. Giữa sa mạc cháy nắng, mái nhà phủ đầy cát bụi, cánh cửa kính của quầy tiếp tân dán đầy tờ rơi quảng cáo, và căn phòng tận cuối dãy hành lang. Nhìn ra con đường nơi hơi nóng đang bốc lên, tôi đột nhiên cảm thấy mọi thứ thật xa lạ. Đặc biệt là trong sự yên lặng của sa mạc, những âm thanh náo động khủng khiếp mà tôi đã từng trải qua bỗng chốc hóa thành một giấc mộng mơ hồ.
Tối hôm đó, tôi vừa ăn món ăn Trung Quốc nguội lạnh một nửa vừa viết thư hồi âm. Mickey, người suốt đời chỉ biết làm việc và chưa từng hẹn hò, có vẻ đang bị cuốn theo một cách không biết phải làm sao. Tôi viết rằng cứ để bản thân bị cuốn đi. Rồi cuối cùng cũng sẽ đến được đâu đó. Địa chỉ người nhận là "chuột Mickey, Disneyland." Không hiểu sao, viết địa chỉ như vậy mà thư vẫn luôn đến đúng nơi. Sau khi viết xong thư, tôi lại theo thói quen đọc một cuốn tiểu thuyết lãng mạn rẻ tiền. Một kết cục mà tôi đã biết trước nhưng vẫn đọc thêm một lần nữa.
Hôm sau, tôi bận rộn suốt cả ngày. Tôi liên lạc với nhân viên thuế và luật sư, ghé qua ngân hàng rồi đến bưu điện gửi thư. Tôi còn ghé vào hiệu sách và chọn một cuốn tiểu thuyết mới. Vì muốn trở về khách sạn Bogota vào buổi tối, tôi làm mọi thứ thật nhanh chóng. Tôi mua đồ chơi và đồ ăn vặt cho Maria và Kitty... và sau một hồi đắn đo, tôi mua bộ dụng cụ chăm sóc ria mép cho Andres. Trong chiếc túi da có một chiếc lược, kéo, dao nhỏ, gương, và vài thứ khác.
Dù hành lý nặng hơn hôm qua, tôi vẫn mang theo một cách nhẹ nhàng. Cân nặng của tôi không hoàn toàn trở lại như trước kia, nhưng ít ra cũng không yếu như mùa thu năm ngoái.
Khi Andres đến đón tôi ở trạm xe buýt, tôi ngay lập tức chìa bộ dụng cụ chăm sóc ria mép ra.
"Quà tặng cho ông đấy."
Andres mở túi ra xem, rồi phì cười. Bộ ria mép của ông ấy khẽ rung rinh. Vừa vuốt ria mép một cách hài lòng, ông vừa nói.
"Cảm ơn nhé."
"Không có gì đâu ạ."
Maria ngồi trên ghế trẻ em ở hàng ghế sau, lục lọi túi và phát hiện ra hộp bánh kem. Con bé vui mừng reo lên, nhưng ngay lập tức bị Andres quở trách.
"Hôm nay không được nữa! Cháu vừa ăn thanh sô-cô-la trước đó rồi còn gì."
Có vẻ món ăn vặt hôm nay của con bé là thanh sô-cô-la. Tôi mỉm cười và nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm cảnh hoang mạc thoáng đãng phía trước. Mặt trời đang dần lặn xuống.
Khi chúng tôi đến khách sạn Bogota, trong bãi đỗ xe vốn lúc nào cũng trống trơn lại có một chiếc Jeep bám đầy bụi ở đó. Tôi thầm thắc mắc, chẳng lẽ vào thời điểm này lại có khách đến? Vừa quay sang ghế lái để hỏi Andres, ánh mắt của tôi đã chạm phải ánh mắt của ông.
"Cuộc đời là thế đấy."
Ông cụ nói, khóe mắt đầy nếp nhăn của ông lại càng sâu thêm.
"Sống là phải trải qua đủ loại gian khổ và thăng trầm. Bởi vậy mới nói sống thật khó."
Hoàng hôn đỏ rực phủ xuống ngoài khung cửa sổ xe.
Khách sạn Bogota chìm trong tĩnh lặng, như thể đang say ngủ. Căn phòng ở cuối dãy là nơi tối tăm nhất, và không khí nặng nề bao trùm mọi ngóc ngách. Tôi mở tung cánh cửa đang đóng chặt.
Ánh nắng hoàng hôn mạnh mẽ từ phía sau chiếu xuyên qua, xua tan bóng tối trong căn phòng mờ ảo. Trong ánh sáng đỏ rực tràn ngập khắp căn phòng, một người đàn ông đang chờ đợi tôi. Căn phòng đủ lớn để một người khác có thể bước vào, và anh ấy ngồi đó, như thể đó là chỗ dành riêng cho mình.
Tôi luôn thắc mắc một điều. Tại sao Simon lại mang Jerome đến Bluebell vào ngày hôm đó? Tại sao không để Jerome chết trong khu rừng đó mà lại cứu anh ấy? Liệu Simon có biết rằng anh không thể cứu tôi?
"Em có tài năng để trở thành một điệp viên xuất sắc đấy."
Người đàn ông trong bóng tối cất tiếng. Trên đầu gối của anh ấy là cuốn "Nhật ký điệp viên" mà Maria từng viết. Anh đặt cuốn sổ xuống và đứng dậy.
"Tôi đến để nói với em câu trả lời mà tôi chưa thể nói ra."
Anh ấy như đang bừng cháy, hòa vào sắc đỏ rực rỡ của hoàng hôn. Thời gian chất chứa đầy căm phẫn trở thành những thanh củi, thiêu đốt cuộc sống mà tôi từng sống. Anh đã từng nói sẽ mang đến cho tôi những khoảnh khắc rực rỡ, và giờ đây, anh như là ánh sáng, chìm trong ngọn lửa của hoàng hôn. Cuộc sống mà anh ấy mang đến đã từng khiến tôi khổ sở, sống một cuộc đời bất hạnh trong suốt một thời gian dài.
"Về cách chúng ta sẽ sống tiếp từ đây."
Anh ấy bước tới, từng bước một, tiến thẳng về phía tôi. Mỗi bước chân của anh dường như vang vọng đến kỳ lạ. Mỗi bước đưa anh đi qua những năm tháng dài đằng đẵng ở phía sau. Mùa hè lạnh giá ở Bluebell, những tháng ngày tại Laverham, khu vườn thủy tinh bốc cháy ở Rellium. Trở lại Bluebell, nơi những ký ức về sự ngược đãi sụp đổ. Khi anh dừng lại trước cửa nơi tôi đứng đó, dòng thời gian bất tận chảy qua lưng anh cũng ngừng lại. Chúng tôi đang đứng giữa một ngã rẽ nào đó của cuộc đời - không phải là bất hạnh, cũng không phải là không bất hạnh - chỉ là một khoảnh khắc với vô số ngày tháng sống còn ở phía trước.
"Hãy đi cùng tôi nhé."
Một bàn tay lạnh giá nắm lấy tay tôi. Cảm giác lạnh lẽo và xa lạ từ lòng bàn tay ấy kéo tôi đi. Tôi nhìn thấy ông cụ đang đứng lặng lẽ trong bãi đỗ xe, như thể ông ấy đã dự cảm về một cuộc chia ly, dõi theo chúng tôi.
Vùng đất hoang vu bị nhuộm đỏ, như thể đang bốc cháy trong ánh hoàng hôn. Chúng tôi cùng lao vào ngọn lửa khô cằn đó, tiến về nơi mà anh đã chuẩn bị cho chúng tôi, nơi mà cuộc sống của chúng tôi có thể tiếp tục.
Khi mặt trời lặn, những con sóng sẽ vỗ vào màn đêm trong sa mạc. Chúng tôi sẽ bị cuốn đi đâu đó, một nơi không thể biết trước, một nơi không thể đoán trước được. Một nơi mà cả tôi và anh đều chưa từng đặt chân đến. Cuộc sống đang chờ đợi chúng tôi ở đó sẽ không còn cơn ác mộng nào nữa.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co