Câu9, 10HP
Câu 9. Khái niệm chế độ kinh tế.
khái niệm:
kinh tế và chế độ kinh tế
có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kinh tế, tuy nhiên, theo quan niệm chung, kinh tế được hiểu là những hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới tự nhiên thành những những của cải vật chất thoả mãn cho nhu cầu của con người.
chế độ kinh tế, với tư cách là một chế định của ngành luật hiến pháp, là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế cơ bản nhất, quan trọng nhất.
Quá trình phát triển của chế độ kinh tế qua các thời kỳ:
1. chế độ kinh tế theo hiến pháp năm 1946
do hoàn cảnh, điều kiện lịch sử khi xây dựng bản hiến pháp năm 1946 nên quy định về chế dộ kinh tế chưa được quan tâm trong hiến pháp 1946. những nội dung về mục đích, phương hướng phát triển kinh tế, hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, cũng như nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước về kinh tế chưa được định hình. hiến pháp 1946 chỉ có đề cập đến một quyền tư hữu tài sản (đ.12). tuy nhiên, qua nghiên cứu về hoàn cảnh ra đời của hiến pháp 1946, có thể thấy mục đích của việc phát triển kinh tế là nhằm đem lại ấm no, hạnh phúc cho người dân như đã được nhắc đến trong tuyên ngôn độc lập. phương thức phát triển kinh tế để đạt được mục đích trên chưa được đình hình và quy định rõ. các hình thức sở hữu khác nhau đối với tư liệu sản xuất tồn tại, nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động của nền kinh tế lúc bấy giờ.
2. chế độ kinh tế theo hiến pháp năm 1959
trong hiến pháp năm 1959, chế độ kinh tế đã đựoc xác định rõ trong chương 2 chế độ kinh tế và xã hội. trong đó xác định:
mục đích của phát triển kinh tế là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. để đạt được mục đích đó, hiến pháp 1959 xác định phương hướng phát triển kinh tế là tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên cnxh bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo cnxh, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xhcn với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến.
về các hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, hiến pháp 1959 ghi nhận các hình thức sở hữu của nhà nước, tức là sở hữu toàn dân; sở hữu của hợp tác xã, tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; và sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
các thành phần kinh tế chủ yếu được xác định là: thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần kinh tế hợp tác xã. trong đó, thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên.
ngoài hai thành phần cơ bản nói trên, còn có những người lao động riêng lẻ và các nhà tư sản dân tộc cũng tham gia hoạt động kinh tế. trong đó, nhà nước khuyến khích và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo xhcn bằng hình thức công tư hợp doanh; nhà nước ra sức hướng dẫn và giúp đỡ những người lao động làm nghề thủ công và những người lao động triêng lẻ khác cải tiến cách làm ăn và khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất và hợp tác xã mua bán theo nguyên tắc tự nguyện.
nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế, hiến pháp 1959 xác định nhà nước lãnh đạo hoạt động kinh tế theo một kế hoạch thống nhất.
3. chế độ kinh tế theo hiến pháp năm 1980
chế độ kinh tế trong hiến pháp 1980 được quy định thành một chương riêng (chương 2). trong đó, có một số nội dung cơ bản sau:
về mục đích và phương hướng phát triển kinh tế, hiến pháp 1980 xác định mục đích phát triển kinh tế là thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hoá ngày càng tăng của cả xã hội. như vậy mục đích phát triển kinh tế của hiến pháp 1980 cũng tương tự như trong hiến pháp 1959.
để đạt được mục đích nêu trên, hiến pháp 1980 xác định phương hướng phát triển kinh tế là từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai doạn phát triển tư bản chủ nghĩa, xây dựng một xã hội có kinh tế công- nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh và hạnh phúc.
về các hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất và thành phần kinh tế, hiến pháp 1980 xác định chế độ làm chủ tập thể đối với tư liệu sản xuất, nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xhcn về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. trong đó, thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên. nhà nước khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ nông dân cá thể, người làm nghề thủ công và những người lao dộng riêng lẻ khác tiến lên con đường làm ăn tập thể, tổ chức hợp tác xã sản xuất và các hình thức hợp tác, tương trợ khác theo nguyên tắc tự nguyện. những người buôn bán nhỏ được hướng dẫn và giúp đỡ chuyển dần sang sản xuất hoặc những nghề thích hợp khác. những cơ sở kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản đều bị quốc hữu hoá không bồi thường.
nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế, hiến pháp 1980 xác định nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất, nhà nước giữ độc quyền về ngoại thương và mọi quan hệ kinh tế khác đối với nước ngoài.
4. chế độ kinh tế theo hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung)
chế độ kinh tế được hiến pháp 1992 quy định trong chương 2. trong đó, xác định mục đích phát triển kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. phương hướng phát triển kinh tế là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa.
hiến pháp 1992 xác định chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. sau này, bộ luật dân sự năm 1995 đã cụ thể hoá những quy định trong hiến pháp, đưa ra nhiều hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu toàn dân; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; sở hữu hỗn hợp; sở hữu chung. bộ luật dân sự năm 2005 ghi nhận các hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước; sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu chung; sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.
các thành phần kinh tế được ghi nhận gồm có: thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. trong đó, thành phần kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành, lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế được hiến pháp 1992 xác định là nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của nhà nước.
Phân tích được nguyên nhân của những thay đổi qua từng bản Hiến pháp.
mục đích phát triển kinh tế đã được xác định rõ trong hiến pháp 1959. tư tưởng xây dựng hiến pháp 1959, hiến pháp 1980 chịu ảnh hưởng của đường lối xhcn, mà cụ thể là xô viết. theo đó, mục đích phát triển kinh tế nhấn mạnh đến cái chung, cái toàn thể. lợi ích chung là quan trọng. vì vậy, mục đích phát triển kinh tế trong hiến pháp năm 1959, hiến pháp năm 1980 đều đề cập đến việc nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của cả xã hội, của nhân dân nói chung. điều này cho thấy, những quy định về mục đích phát triển kinh tế trong hiến pháp 1959, hiến pháp 1980 có những hạn chế sau: mục đích phát triển kinh tế chỉ đề cập đến việc phát triển xã hội nói chung, chưa nhấn mạnh mục đích phát triển lợi ích của các cá nhân, tổ chức và nhà nước. vì vậy, chưa tạo động lực, chưa phát huy được tính sáng tạo chủ động của từng cá nhân đối với hoạt động phát triển kinh tế, đồng thời tạo ra sự trì trệ, tâm lý ỷ lại trong hoạt động kinh tế.
hiến pháp 92 là kết quả của việc nhìn nhận và đánh giá khách quan, đúng đắn quá khứ để rút ra những bài học kinh nghiệm; đánh giá khách quan thành tựu phát triển kinh tế của các nước trên thế giới, đặc biệt là sự đổi mới trong phát triển kinh tế ở trung quốc, ngoài ra còn có sự kiện Liên Xô tan vỡ. điều đó đã làm cho đảng và nhà nước ta đổi mới tư duy, cách nghĩ về mục đích và phương hướng phát triển kinh tế. tư duy đổi mới này được thể hiện trong văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ vi của đảng, cũng như trong hiến pháp 1992. hiến pháp năm 1992 đã nhìn nhận được những nhược điểm của hiến pháp 1959 và hiến pháp 1980 và chú trọng đến lợi ích của cá nhân, tổ chức và nhà nước, bên cạnh lợi ích chung của cả xã hội. theo đó, mục đích phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay, được xác định theo hiến pháp năm 1992, là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân
về phương hướng phát triển kinh tế, hiến pháp năm 1959 cũng như hiến pháp năm 1980, 1992 đều xây dựng nền kinh tế phát triển theo hướng xhcn. tuy vậy, trong từng giai đoạn khác nhau sự thể hiện phương hướng trên thể hiện ở những mức độ khác nhau: hiến pháp năm 1959 khẳng định “tiến dần lên cnxh”; hiến pháp 1980 lại khẳng định “tiến thẳng lên cnxh”; hiến pháp năm 1992 khẳng định “theo định hướng xhcn”, nghị quyết sửa đổi, bổ sung hiến pháp năm 1992 khẳng định “định hướng xhcn”. như vậy, hiến pháp năm 1959 và hiến pháp năm 1980 đã cho thấy sự chủ quan, nóng vội trong thời kỳ đó. đảng và nhà nước cho rằng việc phát triển lên cnxh là dơn giản, có thể thực hiện nhanh chóng, dễ dàng. thực tế đã cho thấy tư duy và quan niệm này không phù hợp.
hiến pháp năm 1992 xác định phương hướng linh hoạt hơn ở chỗ là phát triển định hướng xhcn, tức là thời kỳ quá độ lên xhcn có thể là lâu dài, trong giai đoạn quá dộ tạmthời phái chấp nhận những yếu tố, cơ chế không thuần tuý là của xhcn những đích hướng tối vẫn là xhcn, những yếu tố và cơ chế phi xhcn chỉ là bước đệm và sẽ được loại trừ dần khi tiến lên cnxh.
hiến pháp năm 1959, hiến pháp năm 1980 xác dịnh các yéu tố, các thành phần phi xhcn đều phải cải tạo. trong khi ấy hiến pháp năm 1992 xác dịnh cho phép duy trì, tồ tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá dộ. điều này tạo ra được cơ sở để phát triển cơ sở vật chất cho việc xây dựng cnxh. nó phù hợp với quy luật lượng - chất, bởi vì không thể đốt cháy giai đoạn đề tiến từ một nền kinh tế lạc hậu thấp kém, cơ sở vật chất kém lên ngay một nền kinh tế phát triển, tiến tiến, hiện đại của xhcn.
Câu 10.Phân tích cơ sở nội dung…….điểm mới HP1992
_Mới về mụch đích, phương hướng phát triển kinh tế: ta đã đánh giá khách quan đúng đắn quá khứ để rút ra những bài học kinh nghiệm: đánh giá khách quan thành tựu phát triển kinh tế của các nc trên thế giới, đb là TQ, điều đó đã làm nn ta đổi mới tư duy, cách nghĩ về mục đích và phương hướng phát triển. HP59,80 có những hạn chế là chỉ đề cập đến việc phát triển xh nói chung, chưa nhấn mạnh mục đích phát triển lợi ích cá nhân, tổ chức nhà nc. Vì vậy chưa tạo động lực,chưa phát huy đc tính sáng tạo chủ động của từng cá nhân đối vs hd phát triển kt, đồng thời tạo tâm lí ỷ lại trong hd kt.
HP92 đã nhìn nhận đc nhược điểm đó, đã chú trọng đến lợi ích cá nhân, tổ chức và nn. Mục đích phát triển kinh tế theo HP92 là làm cho dân giàu nc mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nd, có tư duy mới trong việc sắp xếp thứ tự ưu tiên lợi ích của ng' dân trk lợi ích của xh và nn. Điều này tạo đc động lực cho việc tgia của ng' dân vào phát triển kt vì nó gắn liền vs lợi ích ctri của họ.
Phương hướng phát triển kt: HP59 và 80 đã cho thấy sự nóng vội chủ quan nóng vội của Đảng và nn trong việc cho rằng đi lên XHCN là đơn giản, thực hiện nhanh chóng. HP92 đã xd phương hướng linh hoạt hơn ở chỗ là phát triển định hướng XHCN, tức là thời kì quá độ lên CNXH có thể lâu dài.
_Mới về sở hữu và các thành phần kte: HP92 thực hiện đổi mới tư duy , nn thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đa dạng khác nhau: sở hữu nn, sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội; chính trị xh nghề nghiệp; tổ chức xh, tổ chức xh nghề nghiệp. HP46, nn phải chấp nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau, trong đó hình thức tư hữu tài sản đc nhấn mạnh. HP59 ghi nhận nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu toàn dân,sở hữu tập thể của nhân dân lao động, sở hữu của ng' lao động riêng lẻ.
Hp92 xác định nhiều thành phần kt: kt quốc doanh, kte tập thể, kte các thể, kte tư bản tư nhân, kte tư bản nn, kte có vốn đầu tư nc ngoài. Những quy định mới này phù hợp vs phương hướng phát triển kt đã đc đặt ra trong tki đổi mới. HP46 cho thấy nền kte bấy giờ quy định nhiều tp khác nhau phát triển tự do. HP59 xác định nền kte nhiều tp trong đó tp kinh tế quốc doanh và tp kte hợp tác xã là tp chủ yếu. Hp80 xd tp kte quốc doanh và tp kte hợp tác xã là chủ yếu.
_Mới về nguyên tắc quản lí nn về kte: HP59,80 đều xd nguyên tắc quản lí nn đối vs nền kte bằng kế hoạch tập trung và đã gặp phải những bất cập như: các tổ chức kte ko có quyền đc tự do tự chủ trong hd, thiếu năng động sáng tạo, hoạt động trì trệ kém hiệu quả, tạo ra tư duy xấu trong quản lí nn đối vs hd kte là muốn can thiệp sâu vào hd vi mô của các đơn vị doanh nghiệp. HP92 thực hiện tinh thần đổi mới , xd nền kte thị trường có sự quản lí vĩ mô của nn trong hoạt động cạnh trạn lành mạnh vs nhau. NN chỉ thực hiện quản lí vĩ mô nhằm đảm bảo sự phát triển của kte đúng định hướng, khắc phục nhược điểm cảu kte thị trường: thất nghiệp, bóc lột ld, đầu cơ, phân hóa giàu nghèo……
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co