Tiếng Ồn
Khi người cực kỳ hoạt bát gặp người thích yên tĩnh
Kiến trúc sư x Designer
...
"Anh Thỏ ơi."
Tôi từng nghĩ trên đời này không có âm thanh nào bền bỉ hơn tiếng máy khoan, nhất là vào những buổi sáng phải xuống công trường kiểm tra phần thô, đứng giữa một căn nhà còn trơ gạch đỏ mà nghe tiếng bê tông bị đục ầm ĩ ngay sát bên tai. Sau này, khi Thơm vào làm ở công ty, tôi mới nhận ra mình đã kết luận hơi sớm.
Cậu đến vào một sáng đầu hạ, khi nắng mới chỉ vừa tràn qua lớp kính lớn phía đông và cả tầng bảy vẫn còn chìm trong sự im lặng quen thuộc của đầu ngày. Thơm mang theo một chiếc balô màu be đã cũ, một chậu xương rồng bé bằng lòng bàn tay và một túi bánh chẳng biết mua ở đâu, vừa đặt chân qua cửa đã cúi đầu chào hết người này đến người khác, sau đó còn tự giác mở túi bánh ra mời cả phòng dù mới chỉ nhớ được tên của chị lễ tân.
Studio của chúng tôi chuyên thiết kế kiến trúc và nội thất, nhân sự không nhiều, phần lớn đều thuộc kiểu ngồi trước màn hình cả ngày, nói chuyện với nhau bằng tin nhắn ngay cả khi bàn làm việc chỉ cách vài bước chân. Không gian tầng bảy vốn yên tĩnh đến mức đôi khi người ta có thể nghe thấy tiếng rê chuột từ tận đầu bên kia căn phòng, vậy mà sự xuất hiện của Thơm khiến nơi ấy bỗng sáng bừng lên một cách khó hiểu, giống như ai đó mở thêm một ô cửa sổ mà chẳng buồn báo trước.
Chưa đầy nửa ngày, chị Hạnh ở quầy lễ tân đã biết cậu chỉ uống trà ô long, không thích cà phê đen vì "uống vào tim đập nhanh, tối lại thao thức nghĩ linh tinh"; chị kế toán biết nhà cậu nuôi ba con mèo, một con tên Mỡ nhưng gầy nhất đàn; anh bảo vệ dưới sảnh được nghe kể chuyện cậu từng đi lạc ở Đà Lạt vì mải ngắm một giàn hoa giấy, còn bác lao công thì được cậu phụ thay nguyên cuộn túi rác mới chỉ bởi lúc ấy Thơm đang đứng gần và vì "đằng nào Thơm cũng đang rảnh".
Đến ba giờ chiều, gần như ai trong công ty cũng đã gọi đúng họ tên cậu. Đến năm giờ, mọi người lại phát hiện thêm một chuyện khác: hình như cứ gặp việc gì không chắc, người đầu tiên Thơm nghĩ đến bao giờ cũng là tôi.
...
Lần đầu tiên cậu gọi là để hỏi cái cây đặt cạnh quầy lễ tân thuộc giống monstera hay philodendron. Khi ấy tôi đang sửa mặt bằng cho một căn hộ ở Tây Hồ, vừa nghe tiếng gọi từ cuối phòng đã ngẩng lên theo phản xạ, chỉ thấy Thơm đang đứng cạnh chậu cây lớn, một tay ôm tập tài liệu, tay còn lại vẫy tôi như thể câu trả lời quan trọng đến mức không thể chờ thêm.
"Anh Thỏ ơi."
"Hử?"
"Cây này là monstera hay philodendron ạ?"
"Tôi không biết."
Thơm ngẩn người. Vẻ ngạc nhiên của cậu rõ ràng đến mức tôi còn tưởng mình vừa nói điều gì vô lý lắm. Một lúc sau, cậu mới gãi gãi má rồi cười hơi ngượng.
"Ơ, em cứ tưởng anh cái gì cũng biết."
"Tại sao?"
"Em thấy mọi người hỏi gì anh cũng trả lời được ạ."
"Tôi học kiến trúc chứ có học nông lâm đâu."
"Thì trong nhà cũng có cây mà anh."
Tôi nhìn cậu vài giây, không biết nên giải thích thế nào về sự khác biệt giữa kiến trúc sư và kỹ sư nông nghiệp, cuối cùng chỉ cúi xuống tiếp tục sửa bản vẽ. Thơm cũng không để bụng, tự lấy điện thoại ra tra cứu một lúc rồi hào hứng thông báo với chị Hạnh rằng đó là philodendron, nhưng đến tận cuối ngày, tôi vẫn thấy buồn cười vì không hiểu bằng cách nào trong đầu cậu, tôi lại trở thành người có thể phân biệt được tất cả mọi loại cây cảnh.
...
Lần thứ hai là vì máy in hết giấy. Thơm đứng trước cái máy khổng lồ đặt ở góc phòng, loay hoay mở hết nắp này đến ngăn khác mà vẫn không biết khay giấy nằm ở đâu, cuối cùng lại quay sang gọi tôi.
"Anh Thỏ ơi, máy in hết giấy rồi."
"Thì thêm vào."
"Em không biết mở như nào ạ."
"Em đi tìm chị Hạnh ấy."
"Nhưng chị Hạnh đang đi họp rồi ạ."
"Thì ngồi đấy chờ chút chị ấy về."
"Nhưng em cần in để chiều gửi khách ạ."
Tôi vẫn không ngẩng đầu. "Hỏi cái Long ấy."
"Anh Long xuống công trường mất rồi."
Thơm đứng im thêm một lúc. Cậu không thúc giục, cũng chẳng cất tiếng gọi tôi lần thứ hai, chỉ ngoan ngoãn quay lại tiếp tục nghiên cứu cái máy in như thể thật sự định tự mình tìm cách. Chẳng hiểu sao, nhìn bóng lưng ấy được vài phút, tôi lại thấy hơi vướng mắt, đành đặt bút xuống rồi đứng dậy.
"Nào, đứng sang một bên."
Thơm lập tức lùi sang bên cạnh, đôi mắt sáng lên. "Anh biết mở thật à?"
"Không biết thì tôi sang đây làm gì?"
"Thấy không, em đã bảo là anh cái gì cũng biết mà."
"Tôi chỉ biết đọc chữ 'paper tray' thôi."
"Thì em cũng đọc thấy chữ ấy rồi đấy ạ."
"Thế sao không mở?"
"Em sợ kéo mạnh quá nó lại gãy ra đấy thì chết."
Tôi chẳng biết đáp lại thế nào, chỉ cúi xuống kéo ngăn giấy ra. Thơm đứng bên cạnh nhìn rất chăm chú, thỉnh thoảng còn gật đầu như đang được hướng dẫn một thao tác chuyên môn phức tạp. Đến lúc máy in hoạt động trở lại, cậu vui đến mức cảm ơn tôi hai lần, sau đó chạy về bàn tiếp tục làm việc, để lại tôi đứng cạnh cái máy với cảm giác mình vừa xử lý một sự cố nghiêm trọng, dù việc duy nhất tôi làm là kéo đúng một cái khay giấy ra.
...
Lần thứ ba là một cây bút.
Thơm lục hết túi áo, túi quần, ngăn kéo và cả balô, cuối cùng mới thò đầu qua vách ngăn hỏi tôi có nhìn thấy cây bút chì kim màu xanh của cậu ở đâu không.
"Anh Thỏ ơi."
"Hử."
"Anh có thấy bút em đâu không?"
"Tôi chưa từng động vào bút em."
Tôi bảo, Thơm lập tức giải thích rằng cậu không nghi tôi lấy, chỉ muốn hỏi xem trong lúc đi ngang có vô tình nhìn thấy hay không.
Mười phút sau, khi tôi đang cố tập trung vào một chi tiết trần, cậu lại lí nhí gọi.
"Anh Thỏ."
"Hử?"
"Em tìm thấy rồi."
"Ở đâu ra đấy?"
Thơm đưa tay chỉ lên tóc. Cây bút chì kim màu xanh đang được cài ngay ngắn phía sau tai, chẳng biết nằm ở đó từ bao giờ.
Tôi đặt bút xuống, nhắm mắt vài giây rồi tự nhủ từ hôm sau phải nhớ mang thêm một ít kiên nhẫn đến công ty.
...
Thế nhưng ngày hôm sau, Thơm vẫn gọi tôi. Ngày kế tiếp cũng vậy. Chuyện nọ nối chuyện kia, từ việc phần mềm dựng hình bỗng dưng biến mất thanh công cụ, bản vẽ xuất ra bị sai font, chiếc ghế mẫu ngoài showroom có một cái ốc hơi lỏng, cho đến chuyện cái máy pha cà phê tự nhiên kêu bíp bíp dù chẳng ai bấm gì. Có những việc thật sự liên quan đến chuyên môn, cũng có những việc chỉ cần cúi xuống đọc hướng dẫn là giải quyết được, nhưng chẳng hiểu vì sao, Thơm luôn mặc định rằng tôi sẽ biết.
Ban đầu tôi còn trả lời từ chỗ ngồi, về sau mới nhận ra mỗi lần nghe tiếng "Anh Thỏ ơi" vang lên từ cuối phòng, tay mình thường nhanh hơn cả suy nghĩ. Miệng còn chưa kịp cân nhắc xem có nên giúp hay không thì ghế đã được kéo ra, người cũng đã đứng dậy. Tôi vẫn thường xuyên bảo cậu tự tìm hiểu, vẫn lẩm bẩm rằng sao lắm chuyện thế, nhưng cuối cùng lần nào cũng đi sang, có khi chỉ mất hai mươi giây để chỉnh một thông số nhỏ, có khi lại đứng cạnh bàn cậu gần nửa tiếng vì phát hiện vấn đề phức tạp hơn tưởng tượng.
Thơm là designer mới vào, kinh nghiệm chưa nhiều nhưng mắt thẩm mỹ tốt, cách dùng màu và chất liệu cũng có nét riêng. Cậu chỉ thiếu sự tự tin, nhất là khi phải đưa ra những quyết định có thể ảnh hưởng đến cả phương án, thành ra mỗi lần phân vân đều mang bản vẽ sang hỏi tôi, dù trưởng nhóm trực tiếp của cậu là người khác.
Một tuần sau ngày Thơm vào làm, cả phòng bắt đầu phát hiện ra quy luật ấy. Hễ văn phòng yên được quá mười lăm phút, kiểu gì cũng sẽ có tiếng cậu vọng sang.
Có hôm tôi còn chưa kịp trả lời, Long ngồi đối diện đã nhìn đồng hồ rồi cười.
"Đến giờ rồi."
"Tôi biết."
Quả nhiên, ngay sau đó, giọng Thơm từ cuối phòng vang lên trong trẻo như mọi ngày.
"Anh Thỏ ơi, anh xem giúp em cái này với được không?"
Tôi vẫn nhìn màn hình. "Không."
Phía bên kia im lặng một nhịp, rồi Thơm hỏi lại bằng giọng rất thật thà.
"Anh đang bận ạ?"
"Ừ."
"Thế lát nữa anh rảnh anh xem giúp em nhé."
"Em tự xem đi."
"Em xem rồi, nhưng em thấy phương án nào cũng có lý."
"Google chưa?"
"Google cho ra năm cách ạ."
"Thì chọn một cách đi. Cách nào hợp lý nhất ấy."
"Nhưng em không biết cách nào hợp nhất."
Tôi thở dài, tháo kính xuống đặt trên bàn rồi đứng dậy. Thơm thấy tôi đi sang liền dịch ghế nhường chỗ, tay chỉ vào màn hình, bắt đầu giải thích vấn đề bằng tốc độ nhanh đến mức nếu người khác nghe thì có lẽ sẽ thấy đau đầu mất. Tôi cúi xuống nhìn một lúc, chỉnh lại hai thông số rồi bảo cậu đổi hướng vân gỗ.
"Đây."
Thơm im lặng vài giây, sau đó reo lên như thể vừa giải được một bài toán rất khó.
"À, đúng rồi. Sao em không nghĩ ra nhỉ?"
"Vì em nhìn lâu quá nên bị mù thiết kế thôi. Anh là fresh eye nên dễ nhận ra hơn."
"Anh giỏi thật đấy."
"Bình thường."
"Em cảm ơn anh nhiều nhé!"
Cậu cười. Lại là nụ cười sáng bừng ấy, không hề che giấu sự vui vẻ, cũng chẳng giữ lại chút khách sáo nào, khiến người được cảm ơn có cảm giác mình vừa làm một việc quan trọng hơn thực tế rất nhiều.
Tôi quay về bàn. Long chống cằm nhìn tôi đi sang bàn Thơm rồi lại đi về, đợi đến lúc tôi vừa ngồi xuống mới chậm rãi cười một tiếng. Nó là đứa ngồi đối diện tôi lâu nhất trong công ty, đủ lâu để biết tôi ghét bị làm phiền đến mức nào, vậy mà suốt cả tuần nay cứ hễ nghe tiếng "Anh Thỏ ơi" vang lên từ cuối phòng là y như rằng tôi lại bỏ dở việc trong tay mà đứng dậy.
"Khổ thật." Long lắc đầu ra vẻ thấu hiểu lắm.
"Cái gì?"
"Anh."
"Tôi làm sao?"
"Khổ thân anh. Thơm nó gọi một cái là anh chạy đi ngay."
"Tôi bảo không rồi đấy thôi."
"Vâng, anh bảo không xong anh vẫn sang." Long vẫn cặm cụi với bản vẽ, nhưng mồm vẫn liến thoắn.
"Không sang thì nó hỏi mãi."
Long gật gù như thể đồng ý, nhưng vẻ mặt rõ ràng chẳng tin lấy một chữ. "Cả công ty này thiếu gì người để hỏi đâu. Chả hiểu sao thằng bé chỉ hỏi mỗi anh nhỉ?"
"Tôi cũng không biết." Tôi rê chuột thêm vài cái, giả vờ như mình đang rất bận.
"Hôm nó bảo anh đáng tin nhất còn gì."
Tôi khựng tay một chút rồi tiếp tục rê chuột, giả vờ như câu nói ấy chẳng có gì đáng để chú ý.
"Phiền thật đấy."
"Ừ, em biết phiền rồi. Junior thì lúc nào chả phiền." Long cười. "Nhưng nếu phiền thật thì anh mặc kệ đi."
Tôi không trả lời ngay. Trên màn hình, đường thẳng vừa vẽ lệch mất vài milimét, tôi phải xóa đi làm lại hai lần mới đúng.
"Thế sao anh vẫn đi sang bên đấy mãi thế?" Long vặn vẹo hỏi tiếp.
"Tại nó gọi đấy thôi. Không sang thế nào được."
Tôi nói như thể đó là một lý do hoàn toàn hiển nhiên. Long nghe xong chỉ bật cười, không hỏi thêm nữa.
...
Thơm không chỉ hay gọi tôi. Cậu có một cái tật rất kỳ lạ, ấy là nhìn thấy điều gì hay hay cũng phải tìm một người chia sẻ cho bằng được. Có hôm cậu chạy từ ban công vào chỉ để kéo mọi người ra xem một đám mây giống con cá voi, hôm khác lại đứng giữa văn phòng gọi ầm lên vì dưới bồn cây phía sau tòa nhà có mấy con mèo con mới sinh. Những ngày chẳng có gì đặc biệt, cậu vẫn có thể hí hửng cầm một cốc trà mới pha đi một vòng, bảo hôm nay mình vô tình mua đúng loại lá rất thơm, ai muốn ngửi thử thì cứ tự nhiên sang mà ngửi.
Ban đầu, mọi người còn đáp lại vài câu cho có lệ. Lâu dần thành quen, đến mức cứ thấy Thơm ôm cốc chạy tới là cả phòng đều biết lại sắp được nghe thêm một câu chuyện chẳng liên quan gì đến công việc nữa.
Tôi vốn không thích những thứ như thế. Làm việc phải đeo tai nghe chống ồn, đọc sách phải đóng cửa, họp xong chỉ muốn ngồi yên một lúc để đầu óc được nghỉ ngơi cho khuây khỏa. Một ngày tôi chỉ có một số lượng lời nhất định để nói, nếu buổi sáng đã phải gặp khách hàng thì đến chiều gần như chẳng còn muốn mở miệng. Thơm lại hoàn toàn ngược lại. Cậu có thể vừa chỉnh bản vẽ vừa khe khẽ hát sai lời một bài nhạc cũ, có thể tự nói chuyện với chậu xương rồng trên bàn, cũng có thể từ một câu hỏi về vật liệu mà kể sang chuyện con mèo nhà mình từng cào rách cả cuộn giấy dán tường.
Điều đáng nói là Thơm chẳng bao giờ cố tình gây chú ý. Cậu chỉ đơn giản sống rất thật, thấy vui thì cười, thấy đẹp thì muốn người khác cùng nhìn, gặp chuyện thú vị thì không giữ được trong lòng. Sự náo nhiệt của cậu không giống tiếng ồn từ một chiếc loa mở quá lớn, mà giống tiếng chim ngoài hiên vào buổi sáng, đôi khi khiến người ta mất tập trung nhưng lại khó lòng ghét được.
Tôi vẫn thường nhắc cậu nói nhỏ thôi, nhất là những lúc phải tập trung. Thơm nghe rất ngoan, lần nào cũng hạ giọng xuống, nhưng chỉ được một lúc lại quên mất. Đến khi nhận ra mình vừa cười hơi lớn, cậu sẽ lập tức quay sang nhìn tôi, đặt ngón tay lên môi rồi tự nhắc bản thân.
"Suỵt, anh Thỏ đang làm việc."
Tôi không biết nên bực hay nên buồn cười.
...
Sau một tháng, tôi bắt đầu biết nhiều thứ về Thơm hơn mức cần thiết. Tôi biết cậu không ăn được cay nhưng cứ thấy người khác ăn mì cay lại thèm, biết cậu hay quên mang ô nhưng rất thích đứng nhìn mưa, biết mỗi lần bí ý tưởng sẽ xoay chiếc nhẫn bạc trên ngón tay, còn nếu căng thẳng quá thì sẽ cắn vào đầu bút đến mức lớp sơn bong hết. Tôi cũng biết cậu thường quên điện thoại ở phòng họp, để cốc trên máy pha cà phê rồi đi thẳng về bàn, có hôm còn mặc xong áo khoác rồi bỏ quên khăn choàng lại văn phòng giữa mùa đông.
Ban đầu tôi chỉ tiện tay nhắc một câu. Sau này thành quen, có khi Thơm còn chưa đứng dậy khỏi ghế, tôi đã biết lát nữa kiểu gì cậu cũng phải quay lại lấy đồ.
"Thơm."
Cậu lập tức ngẩng đầu. "Dạ?"
"Điện thoại."
Thơm nhìn xuống bàn trống không, sau đó quay sang phòng họp rồi vỗ trán. "Ôi, suýt nữa em quên mất."
Một hôm khác, cậu đeo balô, chào cả phòng rồi đi thẳng về phía thang máy. Tôi nhìn cái ví nằm cạnh bàn phím, đợi đến lúc cửa thang máy sắp đóng mới bước ra gọi.
"Thơm."
Cánh cửa lập tức bật mở. Gương mặt cậu ló ra từ bên trong. "Dạ?"
"Ví."
"Ối chết."
Cậu chạy về, vừa nhặt ví vừa cười ngượng. "Không có anh chắc em phải xuống đến sảnh mới biết."
"Không có tôi thì em cũng tự sống được mà nhỉ."
"Vẫn sống được." Thơm gật đầu rất nghiêm túc. "Nhưng vất vả hơn."
Cậu nói xong liền chạy đi, chẳng nhận ra tôi đã đứng yên vài giây mới quay về bàn cúi xuống tiếp tục làm việc.
...
Đến tháng thứ hai, việc Thơm xuất hiện bên bàn tôi đã trở thành một phần bình thường trong ngày. Có khi cậu mang theo bản vẽ, có khi chỉ cầm một hộp bánh mới mua, cũng có lúc chẳng có việc gì, chỉ thò đầu qua vách ngăn để kiểm tra xem tôi còn thức hay đã ngủ quên trước màn hình.
"Anh Thỏ."
"Hử?"
"Không có gì ạ."
"Thế gọi làm gì?"
"Em tưởng anh ngủ mất."
"Tôi đang làm việc."
"Em vừa thấy anh nhắm mắt xong í."
"Tôi đang suy nghĩ thôi."
"À thế ạ."
Thơm gật gù, sau đó lặng lẽ trở về chỗ. Đi được vài bước, cậu lại quay đầu nhắc.
"Anh đừng nghĩ lâu quá nhé, đau đầu đấy."
Tôi nhìn theo bóng lưng cậu, trong lòng thoáng qua một cảm giác bất lực rất khó gọi tên. Hình như trên đời này có những người sinh ra đã biết cách chen vào sự yên tĩnh của người khác mà không khiến người ta thật sự muốn đẩy họ ra ngoài.
...
Một sáng thứ Tư, Thơm xin nghỉ phép.
Tôi không biết chuyện ấy cho đến khi đến công ty, bởi hôm trước cậu chỉ nhắn trong nhóm chung lúc gần nửa đêm, khi tôi đã tắt điện thoại. Thơm bị cảm nhẹ, không sốt nhưng đau họng, chị Hạnh bảo cậu ở nhà nghỉ một ngày cho khỏe hẳn rồi hãy đi làm.
Văn phòng sáng hôm ấy yên tĩnh đến lạ.
Không ai chạy đi hỏi cái máy pha cà phê tại sao tự nhiên lại kêu. Không ai đứng ngoài ban công gọi mọi người ra xem đám mây có hình thù kỳ quặc. Không ai vừa render vừa khe khẽ hát sai lời, cũng chẳng có cái đầu nào cứ cách nửa tiếng lại nhô lên phía sau vách ngăn để gọi tôi.
Tôi làm việc rất hiệu quả. Bản vẽ hoàn thành sớm hơn dự kiến, email trả lời hết trước buổi trưa, cuộc họp chiều cũng kết thúc đúng giờ vì không có ai nhân lúc mọi người thu dọn tài liệu mà kể thêm chuyện con mèo nhà mình vừa học được cách mở cửa.
Mọi thứ đều trơn tru, đúng theo cách tôi vẫn thích.
Chỉ có điều, gần bốn giờ chiều, khi một người đi ngang phía sau lưng, tôi lại vô thức kéo tai nghe xuống.
"Hử?"
Không có ai gọi.
Người vừa đi qua chỉ là Long đang cầm cốc ra máy pha cà phê. Nó dừng lại, nhìn tôi một lúc rồi nhướng mày.
"Ô gì đấy, ai gọi đâu."
"Tôi biết."
"Biết mà vẫn trả lời?"
"Tưởng cậu gọi."
Long cười nhưng không nói gì, tiếp tục đi về phía cuối phòng. Tôi đeo tai nghe lại, mắt nhìn màn hình, mãi một lúc lâu vẫn không nhớ nổi mình vừa định chỉnh chỗ nào.
Đến gần năm giờ, khi vô thức ngẩng đầu lên, tôi mới nhận ra mình vừa nhìn sang bàn Thơm lần thứ sáu.
Chiếc ghế vẫn trống. Cốc giữ nhiệt in hình quả dứa nằm im bên cạnh bàn phím, trên nắp còn dán một miếng sticker vương miện đã bong mất một góc. Chậu xương rồng cậu mang đến từ ngày đầu tiên vẫn nghiêng về phía cửa sổ, bên cạnh là một con mèo bằng đất sét Thơm tự nặn, xấu đến mức chẳng ai nhận ra nếu cậu không giải thích.
Tự nhiên văn phòng rộng hơn hẳn.
Cũng yên tĩnh hơn hẳn.
Yên đến mức tiếng điều hòa chạy nghe rõ mồn một, tiếng lật giấy của chị Hạnh ở ngoài quầy lễ tân cũng vọng được tận vào trong. Tôi từng nghĩ chỉ cần bớt đi giọng nói của Thơm, cả ngày sẽ dễ chịu hơn rất nhiều. Đến lúc điều ấy thật sự xảy ra, tôi mới phát hiện sự yên tĩnh mình mong muốn lại không giống như tưởng tượng.
Nó giống một căn phòng được sắp xếp quá ngay ngắn, sạch sẽ, gọn gàng, nhưng thiếu mất thứ gì đó khiến người ta chẳng muốn ở lâu.
Long ôm tập hồ sơ đi ngang, thấy tôi vẫn nhìn về phía bàn trống liền dừng lại.
"Anh đang tìm gì à?"
"Không."
"Thế nhìn bàn nó làm gì đấy?"
"Tự nhiên lướt mắt sang thôi."
Long gật gù, vẻ mặt rất nghiêm túc. "Ừ, tự nhiên thật. Năm phút nhìn một lần."
"Tôi nhìn xem cây có cần tưới không."
"Đó là xương rồng đấy ông."
"Xương rồng thì không cần nước à?"
"Nhưng hôm qua Thơm vừa tưới rồi."
Tôi quay sang nhìn nó. "Cậu rảnh quá à? Sao cứ đốp chát với tôi mãi thế?"
"Không rảnh." Long cười, ôm hồ sơ đi tiếp. "Chỉ là em thấy hôm nay yên ắng quá, sợ có người chưa quen nên đến xé tan bầu không khí thôi."
Tôi không trả lời. Một lúc sau, tôi vẫn đứng dậy sang bàn Thơm, dùng ngón tay ấn thử lớp đất trong chậu xương rồng rồi phát hiện đúng là còn ẩm. Bên cạnh chậu cây có một tập mẫu vải chưa được cất, tôi tiện tay xếp lại cho ngay ngắn, sau đó đặt cái cốc giữ nhiệt vào trong ngăn bàn để tránh bụi.
Làm xong, tôi mới nhận ra mình chẳng có lý do gì phải làm những việc ấy.
Buổi tối hôm đó, Thơm nhắn vào nhóm công ty một tấm ảnh ba con mèo nằm chen nhau trên giường, bảo ngày mai cậu sẽ đi làm lại vì ở nhà cả ngày bị chúng nó giành hết chỗ ngủ. Mọi người thả biểu tượng cười liên tục. Tôi đọc xong thì tắt màn hình, nhưng chưa đầy một phút sau lại mở lên xem lần nữa, chỉ để chắc rằng cậu thật sự đã đỡ rồi.
...
Hôm sau Thơm đến sớm hơn thường lệ. Tôi vừa ngồi xuống chưa bao lâu đã nghe tiếng cửa mở, rồi giọng cậu vang lên ngoài quầy lễ tân, hơi khàn một chút nhưng vẫn tràn đầy sức sống.
"Chào mọi người. Em quay lại rồi đây!"
Cả phòng có vài tiếng chào đáp lại. Thơm đặt balô xuống bàn, kiểm tra chậu cây trước tiên, rồi mới nhận ra cốc giữ nhiệt đã được cất vào ngăn kéo. Cậu nhìn quanh như muốn hỏi, nhưng chỉ một lát sau đã đoán ra, lập tức ôm một túi giấy chạy sang phía tôi.
"Anh Thỏ."
Tôi ngẩng đầu. "Hử?"
"Cốc của em anh cất giúp ạ?"
"Ừ đấy. Để ngoài lại bám bụi mất."
"Em cảm ơn anh."
"Khỏi."
Thơm mở túi giấy, lấy ra một hộp bánh nhỏ. "Em có mua bánh dứa này."
"Ừ."
"Anh ăn không?"
"Tôi không thích đồ ngọt."
"Cái này ít ngọt lắm. Em hỏi người ta rồi."
"Tôi không đói, em cứ giữ lại mà ăn."
"Thế em để đây, lát anh đói thì ăn nhé."
Cậu đặt hộp bánh cạnh bàn phím, hoàn toàn không chờ tôi đồng ý, sau đó quay về chỗ, vừa đi vừa chào hỏi những người chưa kịp gặp. Chỉ trong vài phút, căn phòng lại đầy tiếng kéo ghế, tiếng cười, tiếng Thơm kể rằng hôm qua ba con mèo thay nhau nằm đè lên chân khiến cậu không ngủ được.
Tôi nhìn hộp bánh dứa trên bàn, rồi nhìn bóng người đang đứng cuối phòng, cảm giác quen thuộc cuối cùng cũng trở lại, lấp đầy khoảng trống khó chịu đã tồn tại suốt cả ngày hôm trước.
Hóa ra có những thứ ở bên cạnh mình lâu quá sẽ khiến người ta lầm tưởng đó chỉ là tiếng ồn. Chỉ đến khi nó biến mất, mình mới nhận ra âm thanh ấy vốn đã len vào từng nhịp sinh hoạt, lặng lẽ giữ cho một ngày bình thường có hình dạng của nó.
Tôi mở hộp bánh, lấy một chiếc ra ăn thử. Vỏ bánh mềm, nhân dứa hơi chua, quả thật không ngọt như tưởng tượng.
Thơm từ cuối phòng nhìn thấy, lập tức cười tươi.
"Ngon không anh?"
"Bình thường."
"Bình thường là ngon đúng không?"
"Không."
"Thế sao anh ăn đến miếng thứ hai ạ?"
Tôi cúi xuống, lúc ấy mới nhận ra tay mình đã tự động lấy thêm một chiếc khác. Cả phòng nghe thấy liền bật cười, Long còn quay sang nhìn tôi bằng vẻ mặt rất đáng ghét.
Tôi chẳng buồn giải thích, chỉ đóng nắp hộp bánh lại.
"Thơm."
"Dạ?"
"Đau họng thì nói ít thôi."
Cậu ngoan ngoãn gật đầu. "Vâng ạ."
Chưa được năm phút, phía cuối phòng lại vang lên tiếng cậu gọi chị Hạnh ra xem con chim vừa đậu ngoài ban công.
Tôi tháo kính xuống, day day sống mũi, trong lòng nghĩ đúng là chẳng thể trông chờ gì ở lời hứa sẽ giữ im lặng của người này.
Thế nhưng khi giọng Thơm lại vang lên lần nữa, gọi đúng tên tôi như mọi ngày, tôi vẫn ngẩng đầu đáp lại gần như ngay lập tức.
"Hử?"
Căn phòng hôm ấy đúng là hơi ồn.
Nhưng như thế cũng tốt.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co