Truyen3h.Co

đề cương NL

kinh tế

ntla1205

Câu 1: Phân tích nội dung các chức năng của tiền tệ.

Tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa và của các hình thái giá trị hàng hóa. Có bốn hình thái giá trị: Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên; Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng; Hình thái chung của giá trị; Hình thái tiền tệ. Như vậy, tiền tệ là hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. Tiền tệ có 5 chức năng:

- Thước đo giá trị:

+ Tiền tệ dùng tiền để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa khác. Khi thực hiện chức năng này, thì giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa.

+ Giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá cả. Trong các điều kiện khác không đổi, giá trị của hàng hóa càng cao thì giá cả của nó càng cao và ngược lại. Giá cả của hàng hóa có thể lên xuống xoay quanh giá trị, nhưng tổng số giá cả luôn bằng tổng số giá trị.

- Phương tiện lưu thông:

+ Với chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trung gian trong trao đổi hàng hóa. Khi thực hiện chức năng này đòi hỏi phải có lượng tiền mặt trên thực tế, tức tiền thật và khi đó trao đổi hàng hóa vận động theo công thức H - T - H. Đây chính là công thức lưu thông hàng hóa giản đơn.

+ Làm phương tiện lưu thông, lúc đầu tiền xuất hiện trực tiếp dưới hình thức vàng thoi, bạc nén, sau đó là tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy. Tiền giấy chỉ là ký hiệu của giá trị do nhà nước phát hành và buộc xã hội công nhận. Tiền giấy không có giá trị thực.

+ Thực hiện chức năng này, tiền làm cho quá trình trao đổi diễn ra thuận lợi, nhưng đồng thời cũng làm cho quá trình ấy tách rời nhau cả về không gian và thời gian, do đó nó đã bao hàm khả năng khủng hoảng kinh tế.

- Phương tiện cất trữ:

+ Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ. Để làm chức năng này, nhất thiết tiền phải có đủ giá trị, tức phải là vàng, bạc.

+ Chức năng phương tiện cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết trong lưu thông. Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông và ngược lại nếu sản xuất giảm, lượng hàng hóa giảm thì một phần tiền vàng sẽ rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ.

- Phương tiện thanh toán:

+ Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến một giai đoạn nào đó tất yếu sẽ nảy sinh việc mua bán chịu và do đó, xuất hiện chức năng phương tiện thanh toán của tiền. Thực hiện chức năng này, tiền được dùng để chi trả sau khi công việc giao dịch, mua bán đã hoàn thành.

+ Tiền làm phương tiện thanh toán có tác dụng đáp ứng kịp thời nhu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng; đồng thời cũng làm tăng thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể hàng hóa và khả năng khủng hoảng cũng tăng lên.

+ Trong quá trình thực hiện chức năng này ngày càng xuất hiện nhiều hơn các hình thức thanh toán mới không cần tiền mặt.

- Tiền tệ thế giới:

+ Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra bên ngoài biên giới tiền quốc gia và hình thành quan hệ buôn bán giữa các nước thì xuất hiện chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là vàng hoặc các ngoại tệ mạnh.

+ Việc chuyển đổi tiền của nước này ra tiền của nước khác được tiến hành theo tỷ giá hối đoái. Đó là giá cả một đồng tiền của nước này được tính bằng tiền của nước khác.

Năm chức năng của tiền tệ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.

Câu 2: Phân tích nội dung, yêu cầu và tác động của quy luật giá trị trong nền sản

xuất hàng hóa. Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật này đối với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay

· Nội dung, yêu cầu và tác động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng

hóa :

- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có quy luật giá trị hoạt động.

- Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.

+ Trong sản xuất, quy luật giá trị đòi hỏi người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết. Còn trong trao đổi, hay lưu thông phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi, mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng giá trị.

+ Cơ chế tác động của quy luật giá trị thông qua sự vận động lên xuống của giá cả xoay quanh giá trị hàng hóa. Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, là kết quả của sự thỏa thuận giữa người mua và người bán hàng hóa trên thị trường. Giá trị là cơ sở của giá cả. Giá cả có thể cao hơn, thấp hơn hoặc bằng giá trị.

· Quy luật giá trị có ba tác động:

- Một là, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

+ Điều tiết sản xuất: người sản xuất hàng hóa, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai là do họ quyết định. Mục đích của họ là thu được nhiều lãi. Dựa vào sự biến động của giá cả thị trường, họ biết được hàng hóa nào đang thiếu, bán chạy, có giá cao và nhiều lãi; hàng hóa nào ế thừa, giá thấp. Từ đó, họ sẽ mở rộng sản xuất những mặt hàng đang thiếu, bán chạy, nhiều lãi và ngược lại sẽ thu hẹp sản xuất, thậm chí đóng cửa không sản xuất những mặt hàng ế thừa, giá thấp. Kết quả là các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền vốn được dịch chuyển từ ngành này sang ngành khác; làm cho quy mô sản xuất của ngành này mở rộng, ngành khác thu hẹp.

+ Điều tiết lưu thông: dưới tác động của quy luật giá trị, hàng hóa được di chuyển từ nơi giá thấp đến nơi giá cao. Từ đó phân phối các nguồn hàng hóa một cách hợp lý hơn giữa các vùng của đất nước, giữa trong nước với ngoài nước, giữa cung và cầu về các loại hàng hóa trong xã hội.

- Hai là, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.

+ Trong sản xuất hàng hóa, người sản xuất nào cũng muốn có nhiều lãi. Người có nhiều lãi hơn là người sản xuất ra hàng hóa có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa. Muốn vậy, những người sản xuất phải tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý sản xuất, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động..

+ Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn. Kết quả là lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, năng suất lao động không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.

- Ba là, phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu nghèo, làm xuất hiện nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa.

+ Trong sản xuất hàng hóa, dưới sự tác động của quy luật giá trị và các quy luật khác, tất yếu dẫn đến kết quả: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ cao, có kiến thức, trang bị kỹ thuật tốt, có vốn..., hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. Họ sẽ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ. Ngược lại, những người không có các điều kiện trên, làm ăn kém cỏi hoặc gặp rủi ro, tai nạn sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản trở thành lao động làm thuê. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.

+ Sư phân hóa giàu – nghèo là hoàn toàn khách quan phụ thuộc vào khả năng của những người sản xuất – kinh doanh.

· Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy luật giá trị đối với sự phát triển nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN ở Việt Nam:

Nghiên cứu quy luật giá trị có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, biểu hiện ở hai mặt sau:

- Mặt tích cực:

+ Nó buộc các chủ thể kinh tế phải nhạy bén, năng động trong sản xuất, kinh doanh, phải tìm cách tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm; phải tìm đến ngành hoặc lĩnh vực mà mình có lợi thế, đến mặt hàng có nhiều người cần, tức là phải nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh tế.

+ Nó tác động làm cho cơ cấu của nền sản xuất được điều chỉnh một cách linh hoạt phù hợp với cơ cấu tiêu dùng của xã hội.

+ Nó buộc các chủ thể kinh tế phải cạnh tranh với nhau, điều này làm cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng có hiệu quả, kích thích tiến bộ kỹ thuật và công nghệ, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

+ Nó còn có tác động bình tuyển người sản xuất, nhờ đó chọn ra được những người năng động, tài kinh doanh, biết làm giàu; đồng thời buộc những người kém cỏi phải vươn lên, tích cực hơn nếu không muốn trở thành nghèo khó.

Với tác động này, chúng ta cần phải tôn trọng và phát huy vai trò tự điều tiết của quy luật giá trị để phân bổ các nguồn lực của xã hội cho các ngành, các lĩnh vực một cách linh hoạt và có hiệu quả; xây dựng các vùng kinh tế chuyên môn hóa; lựa chọn kỹ thuật, công nghệ mới; định hướng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển.

- Mặt tiêu cực:

+ Nó gây ra tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên, đổ chất thải bừa bãi, mất cân bằng sinh thái và gây ô nhiễm môi trường.

+ Nó dẫn đến khủng hoảng kinh tế và các căn bệnh kinh tế khác (đình trệ, suy thoái, lạm phát tiền tệ...) có cơ hội phát triển.

+ Nó dẫn đến sự mất bình đẳng về thu nhập trong xã hội, tác động tiêu cực đến tiến bộ xã hội...

Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực. Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, nghiên cứu, tìm tòi các giải pháp ngăn ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực của quy luật hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Câu 3: Phân tích nội dung tư bản bất biến và tư bản khả biến. Hãy nêu căn cứ và ý

nghĩa của việc phân chia tư bản bất biến, tư bản khả biến.

Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Để sản xuất giá trị thặng dư, tư bản ứng trước được phân chia thành hai bộ phận: tư bản bất biến và tư bản khả biến.

· Tư bản bất biến

- Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu phụ...) mà giá trị của nó được lao động cụ thể của người công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm mới, tức là giá trị không thay đổi về lượng trong quá trình sản xuất, ký hiệu là c.

- Tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư. Song, giá trị của bất kỳ tư liệu sản xuất nào cũng đều nhờ có lao động cụ thể của người công nhân mà được bảo toàn và di chuyển vào sản phẩm nên giá trị đó không thể lớn hơn giá trị tư liệu sản xuất đã bị tiêu dùng để sản xuất ra sản phẩm.

· Tư bản khả biến

- Tư bản khả biến là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động, tuy không tái hiện ra,

nhưng thông qua lao động trừu tượng của người công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất, ký hiệu là v.

- Máy móc dù có hiện đại như thế nào cũng chỉ là lao động chết. Nó phải được lao động sống "cải tử hoàn sinh" để biến thành nhân tố của quá trình lao động. Nó chỉ là phương tiện nhờ đó sức sản xuất của lao động tăng lên. Như vậy, tư bản bất biến (c) chỉ là điều kiện cần thiết không thể thiếu để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến (v) có vai trò quyết định trong quá trình đó, mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư.

Giá trị hàng hóa = c + v + m

· Căn cứ và ý nghĩa của việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến:

- Căn cứ phân chia : Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v) căn cứ vào vai trò của mỗi bộ phận tư bản trong việc làm gia tăng giá trị và tạo ra giá trị thặng dư.

- Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v) có ý nghĩa to lớn:

+ Nó vạch rõ nguồn gốc duy nhất của giá trị thặng dư là do sức lao động của công nhân làm thuê biểu hiện dưới hình thức tư bản khả biến tạo ra. Tư bản bất biến tuy không là nguồn gốc của giá trị thặng dư, nhưng là điều kiện khách quan cần thiết để sản xuất và tăng năng suất lao động của công nhân.

+ Nó giúp người lao động có cơ sở để phê phán quan điểm của giai cấp tư sản cho rằng máy móc sinh lời cho nhà tư bản chứ không phải nhà tư bản bóc lột công nhân làm thuê.

Với ý nghĩa này, công thức khái quát để tính giá trị hàng hóa (W) trong các doanh nghiệp tư bản là: W = c + v + m, trong đó (v + m) là giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra, nhưng họ chỉ được hưởng một phần trong giá trị mới đó bằng v, còn m bị nhà tư bản bóc lột.

Câu 4: Phân tích nội dung tư bản cố định và tư bản lưu động. Hãy nêu căn cứ và ý

nghĩa của việc phân chia tư bản cố định, tư bản lưu động.

Sản xuất TBCN là sự thống nhất biện chứng giữa quá trình sản xuất và quá trình lưu thông. Lưu thông của tư bản là sự vận động của tư bản nhờ đó mà tư bản lớn lên và thu được giá trị thặng dư, cũng tức là sự tuần hoàn và chu chuyển của tư bản. Các bộ phận khác nhau của tư bản sản xuất không chu chuyển giống nhau. Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau của từng bộ phận tư bản , người ta chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định, tư bản lưu động:

· Tư bản cố định (Kcđ):

- Kcđ là một bộ phận của tư bản sản xuất đồng thời là bộ phận chủ yếu của tư bản bất biến (máy móc, thiết bị, nhà xưởng...), tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần mà chuyển dần từng phần vào sản phẩm mới theo mức độ hao mòn của nó trong quá trình sản xuất.

- Kcđ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ SX và nọ bị hao mòn dần trong QTSX. Có hai loại hao mòn Kcđ::

+ Hao mòn hữu hình: do quá trình sử dụng và tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của Kcđ dần hao mòn đi đến chỗ hư hỏng và phải được thay thế.

+ Hao mòn vô hình: hao mòn thuần túy về mặt giá trị do xuất hiện máy móc mới, hiện đại hơn, nhiều chức năng, công dụng hơn, công suất cao hơn mà lại rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương loại máy móc đang sử dụng.

- Tăng tốc độ chu chuyển tư bản của Kcđ là một biện pháp quan trọng để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, tránh được thiệt hại do hao mòn hwuuwx hình và hao mòn vô hình gây ra.

· Tư bản lưu động (Klđ):

- Klđ là một bộ phận của tư bản sản xuất, gồm một phần tư bản bất biến (nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ...) và tư bản khả biến (sức lao động) được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm mới trong quá trình sản xuất.

- Klđ chu chuyển nhanh hơn Kcđ, việc tăng tốc độ chu chuyển của Klđ có quan trọng, một mặt vừa làm tăng lượng Klđ được sử dụng trong năm do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước; mặt khác làm tăng tốc độ chu chuyển của Klđ khả biến (sức lao động) sẽ làm tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư tăng lên hàng năm.

· Căn cứ và ý nghĩa của việc phân chia tư bản cố định, tư bản lưu động:

- Căn cứ phân chia:

Việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động, căn cứ vào phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản vào sản phẩm mới trong quá trình sản xuất.

- Ý nghĩa phân chia:

Sự phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong quản lý kinh tế. Việc sử dụng tiền vốn trong sản xuất kinh doanh phải hợp lý nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Tận dụng tối đa công nghệ máy móc, thiết bị để tránh hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình, tiết kiệm nguyên vật liệu, nhiên liệu... là khoa học và nghệ thuật quản lý kinh tế, đồng thời là đòi hỏi bức xúc ở nước ta hiện nay.

Câu 5: Phân tích bản chất và những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc

quyền nhà nước.

· Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

- CNTB độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền tư

nhân với sức mạnh của nhà nước tư sản thành một thiết chế và thể chế thống nhất, trong đó nhà nước tư sản bị phụ thuộc vào các tổ chức độc quyền và can thiệp vào các quá trình kinh tế nhằm bảo vệ lợi ích của các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản.

- CNTB độc quyền nhà nước là nấc thang phát triển mới của CNTB độc quyền. Nó

là sự thống nhất của ba quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau: sức mạnh của các tổ chức độc quyền + sức mạnh chính trị và vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế, + sức mạnh kinh tế của độc quyền tư nhân thành một thể thống nhất (một bộ máy, một trung tâm điều tiết...)

Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội chứ không phải là một chính sách trong giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là hình thức vận động mới của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nhằm duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản, làm cho chủ nghĩa tư bản thích nghi với điều kiện lịch sử mới.

· Những biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

- Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản

+ Sự kết hợp này được thực hiện thông qua các đảng phái tư sản. Chính các đảng

phái này đã tạo ra cho tư bản độc quyền một cơ sở xã hội để thực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội ngũ công chức cho bộ máy nhà nước.

+ Thông qua các hội chủ doanh nghiệp, một mặt, các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác nhau; mặt khác, các quan chức và nhân viên chính phủ được cài vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, nắm giữ những chức vụ trọng yếu chính thức hoặc danh dự, hoặc trở thành những người đỡ đầu các tổ chức độc quyền.

- Sự hình thành và phát triển của sở hữu tư bản độc quyền nhà nước

+ Sở hữu độc quyền nhà nước là sở hữu tập thể của giai cấp tư sản độc quyền có

nhiệm vụ phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền. Nó biểu hiện ở chỗ sở hữu nhà nước được tăng lên và mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và sở hữu độc quyền tư nhân được tăng cường.

+ Sở hữu nhà nước bao gồm: động sản, bất động sản cần cho hoạt động của bộ máy nhà nước; các xí nghiệp nhà nước, ngân sách nhà nước... trong đó ngân sách nhà nước là bộ phận quan trọng nhất.

+ Sở hữu nhà nước thực hiện các chức năng: một là, mở rộng sản xuất tư bản chủ nghĩa, bảo đảm địa bàn rộng lớn cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản; hai là, giải phóng tư bản của tổ chức độc quyền từ những ngành ít lãi để đưa vào những ngành kinh doanh có hiệu quả hơn; ba là, làm chỗ dựa về kinh tế cho nhà nước để nhà nước điều tiết các quá trình kinh tế phục vụ lợi ích của tư bản độc quyền.

- Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản.

+ Sự điều tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau như pháp luật, giá cả, thuế khóa, tài chính - tiền tệ, ngân hàng, phát triển các xí nghiệp nhà nước...

+ Bản thân sự điều tiết của nhà nước cũng có mặt tích cực và mặt tiêu cực. Những sai lầm trong sự điều tiết của nhà nước có khi lại đưa đến hậu quả tai hại hơn là tác động tiêu cực của cạnh tranh tự do và độc quyền tư nhân. Vì thế, hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước đã dung hợp cả ba cơ chế: thị trường, độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của từng cơ chế. Xét đến cùng và về bản chất, hệ thống điều tiết đó phục vụ cho chủ nghĩa tư bản độc quyền.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co