Truyen3h.Co

độc thoại

chưa đặt tiêu đề 1

dieyrnthfckff

Đông Anh quyết định viết về Jonathan và Johannes vào tháng thứ ba sau khi quen biết Tà Huy. Đây là một điều vừa tình cờ vừa không tình cờ. Không tình cờ vì hầu hết những gì Đông Anh viết dù ít hay nhiều thì đều sẽ có những nét tương đồng với cuộc sống của chính anh, còn tình cờ là bởi lẽ chính Đông Anh cũng không hay là rồi sẽ có một ngày cuộc đời của anh giao với cuộc đời của một người tên Huy, bện vào nhau rồi trở thành một nút thắt.

Jonathan là một trong vô số những nhân vật bị xếp vào loại nhân vật thứ nhất trong lối viết của Đông Anh. Những nhân vật mà anh đã tạo lập sẵn, thường là lời đáp cho một câu hỏi nếu như của chính anh. Mỗi nhân vật là một Đông Anh trong một đời sống khác, một cuộc đời tưởng tượng dựa trên nguyên gốc là cuộc đời anh: một Đông Anh dũng cảm và biết rõ mình sẽ theo đuổi cái gì, một Đông Anh hoặc tự do hơn hoặc bị trói buộc nhiều hơn, một Đông Anh hoặc phóng khoáng hơn hoặc ích kỷ hơn, những Đông Anh khác không hẳn là chính bản thân anh, nhưng dù là Đông Anh nào thì tôi cũng không thấy anh thương lấy họ bao giờ. Suốt nhiều năm nay anh vẫn viết về những nhân vật loại một quay quắt trong phiền muộn, mà không trao cho họ bất cứ cơ hội để đổi thay hay phát triển nào.

Đông Anh viết rằng Jonathan trưởng thành và sinh sống ở một thành phố Châu Âu nào đó rất sôi động, anh đã quên mất vì sao mình lại chọn cho nhân vật cái tên này, và vì sao lại đặt anh ta ở một châu lục mà anh không hiểu rõ. Có phải một hôm nào anh tình cờ thấy một đoạn phim được quay ở Ý, và chợt nghĩ nếu mình sống ở Châu Âu thì sẽ thế nào. Thủa trẻ con từng có khi anh đinh ninh rằng tên gọi bằng tiếng nước ngoài nghe hay hơn hẳn cái tên đặt bằng thứ tiếng của riêng đất nước anh, còn phim ảnh, báo đài, sách vở thì luôn rất giỏi quảng bá những phương trời xa lạ kia như là thiên đường của những gì đẹp đẽ và hạnh phúc, hình như cũng có lúc anh từng muốn đi xa khỏi Hà Nội, đi xa khỏi đất nước này. Lớn lên rồi anh thấy dù ở đâu thì cũng tồn tại bi kịch. Trong một buổi gặp với người bạn cũ đi du học – nhân nghỉ hè thì về thăm nhà, anh đã hỏi họ rằng ở khuôn viên trường học của họ có những nhóm cắm trại biểu tình phản đối diệt chủng như anh đã thấy trên mạng hay không. Họ trả lời là có, và thêm vào một câu gì đại loại như tao không tham gia, cứ linh tinh sẽ có ngày bị trục xuất. Đông Anh nhớ rằng ban đầu anh vốn không có ý hỏi người bạn đó về việc có tham gia hay là không, mà chỉ đơn giản là muốn biết một câu chuyện bị ém nhẹm và điều hướng liệu có đến được nơi mà người bạn đang học với đúng sự thật của nó, nhưng khi nghe chính người bạn nói không bằng giọng ráo hoảnh, Đông Anh vẫn thấy mình hoang mang buồn. Anh hiểu rằng nếu như anh là họ, nếu cha mẹ gom góp cả đời chỉ để đầu tư cho anh một chuyến học xa, thì có lẽ anh cũng chẳng thể làm gì hơn là rũ mắt đứng ngoài. Đông Anh không dám hỏi thêm liệu họ có từng làm gì khác như một nỗ lực để san sẻ thương đau với một dân tộc đang chịu áp bức, cổ họng khô đắng nên anh đã uống một hơi hết hơn nửa cốc, chắc là cà phê, chắc là nước ép, ở nơi đó người ta còn gì để uống hay không. Đông Anh nhìn xung quanh quán, rồi lại nhìn người bạn, anh hiểu dù ở đâu thì vẫn còn rất nhiều người bàng quan hơn vậy, và không thấy mình có thể thay đổi được gì.

Khi đó Huy đã giơ máy ảnh lên, bấm nút, cậu nói rằng tấm ảnh này đã thu lại nỗi buồn anh, nên Đông Anh hãy quên đi vì Huy sẽ là người thay anh giữ chúng. Rồi cậu đưa mũ cho anh, để anh ngồi sau con xe cậu chỉ vừa mua lại, lái xe đi mà không hướng đến một đích đến nào. Hãy để những con đường dẫn mình đi, cậu nói vậy và chỉ vào một cây hoa giấy bên đường, thân cây cong về bên trái, cành lá lấp đầy những khoảng trống bên trên giàn kim loại, thành nên một mái che bóng mát, những cánh hoa trắng mảnh và dai hơi giấy rung rinh trong nắng gió của mùa hè Hà Nội. Hiếm có nhà nào trồng hoa màu trắng, mẹ anh nói đó là màu tang tóc, nhưng anh vẫn nhớ quán cà phê có giàn hoa giấy rờm rợp trắng mà cả nhà anh đã ghé qua trên con đường đến biển hồi năm anh tám tuổi. Đến giờ anh vẫn chưa thấy màu nào đẹp hơn màu trắng. Có phải vì vậy mà anh để ý đến Huy ngay từ lần gặp đầu tiên. Một cậu trai mặc áo sơ mi trắng, đeo kính gọng đen, nhập tâm vào giai điệu phát ra trong tai nghe đến nỗi không nghe thấy nhân viên bệnh viện đã gọi đến số của mình. Hôm chở anh trên xe Huy cũng mặc áo phông màu trắng, giữa trưa nắng gắt cậu cũng chẳng khoác thêm áo khoác ngoài. Cậu nói ở ngã rẽ tiếp theo cả hai sẽ rẽ trái, vì cây hoa giấy đã ngả thế mà.

Huy chở anh đi mãi, lấy bất cứ vật gì cậu thấy trên đường làm mũi tên chỉ hướng, tắt máy khi đèn đỏ và đi tiếp khi đèn xanh, những con đường xi măng bốc lên hơi nóng, những ngõ hẻm quanh co tường đầy rêu mốc, cậu đi mà biết là mình sẽ không thể lạc đường. Huy chỉ vừa đến đây nửa năm, mà đã quen thuộc phố xá hơn cả một người đã loay hoay cả đời ở Hà Nội. Anh nghĩ nếu xe không hết xăng hoặc anh không bảo cậu dừng lại, có lẽ cậu vẫn sẽ đi và đi mà chẳng biết mỏi mệt, miệng nghêu ngao những câu hát trong Hiệu ứng trốn chạy[1], ai đến đây trước ai đi theo sau, không biết đang ở đâu, cái band nhạc này rốt cuộc cũng đành tan rã, hay phải tan rã, bị tan rã, được tan rã, Huy hay tự lẩm nhẩm sửa lại lời mình. Cậu còn hay vẩn vơ nói hình như chưa có ai trốn chạy thành công cả, người ta không thể trốn chạy được khỏi sự thật rằng mình đang trốn chạy. Khi Đông Anh hỏi Huy cậu có đang trốn chạy không, cậu đáp là không, cậu chỉ đang đi vì vẫn chưa tìm được nơi để đến.

Johannes thuộc vào tuýp nhân vật thứ hai trong lối viết của Đông Anh, những nhân vật được xây dựng trên chất liệu là những người anh từng gặp gỡ, có thể đó không phải là những cuộc gặp mặt thật sự, anh nói với Huy anh hay gặp người này người kia trong phim hay trong sách, hoặc đùa rằng anh sắp đi gặp một ca sĩ, rồi chẳng thật sự đi đâu mà chỉ đơn giản là cắm tai nghe và bật nhạc. Johannes được tạo nên phần nhiều từ Tà Huy, vậy nên rất giống với cậu, anh sinh ra cũng là để đi.

Johannes là một kiến trúc sư, đâu đó khoảng chừng hai mươi tám tuổi, thường tình nguyện nhận những dự án cho phép anh được đi xa. Để có một câu chuyện kể về anh và tôi, đương nhiên Đông Anh phải đưa anh đến thành phố mà tôi đang sống. Chúng tôi tình cờ gặp trong một quán rượu, Đông Anh viết vậy, vì Johannes bỏ bữa tối, nhưng rất thường xuyên uống rượu đêm. Johannes không có quán quen, anh không lui tới một quán hơn hai lần trong vòng một quý. Anh uống nhiều, nhưng chưa bao giờ phân biệt được tên những loại đồ uống mà phục vụ mang đến cho anh, cũng như anh đi nhiều mà chẳng bao giờ nhớ nổi tên phố xá. Tôi ngờ rằng Đông Anh xây dựng Johannes như vậy cho thuận tiện, vì Đông Anh chưa từng uống rượu, cũng không sành về nước Ý. Kìa, anh đừng chê tôi ồn ào, tôi đang nói sự thật đấy thôi. Johannes vẫn nghe bản thân mình nói về một sự thật, với những người khách ngẫu nhiên anh gặp trong quán rượu đêm, rằng Milan là một vùng biên ký ức, một bên là hư hao ảo ảnh, một bên là thực tại mà Johannes chẳng có lấy nổi một mối liên quan. Johannes không muốn mình có thêm mối liên hệ nào với Milan - không một cột mốc, không một điểm cố định nào nữa - và vì vậy anh hay chuyển nhà thuê, đổi quán ăn, tiệm giặt; vì vậy anh nói chuyện với tất cả những người muốn nói với anh, anh nhận tất cả những lời mời tới mọi cuộc hẹn khả dĩ, anh vẽ ký họa cho những người lạ anh gặp trên tàu điện, rồi anh đi mà không mang theo một khuôn mặt nào, cái tên nào, giọng nói nào. Rồi anh đi mà không nhớ. Anh nói, sớm thôi, anh sẽ đi khỏi Milan mà không nhớ. Nhưng anh đã ở đây hai năm, chẳng lẽ một chút thôi anh cũng không muốn nhớ. Anh cười và nhẹ tênh thông báo rằng dự án anh tham gia ở đây đã vào công đoạn cuối, sang tuần anh sẽ đi, anh nhìn vào tôi và nói đã chẳng còn gì giữ anh lại đây, anh nhìn tôi và nói anh đã luôn mong mình không phải nhớ. Vậy thì tại sao ánh nhìn của anh lại làm tôi day dứt, hay chỉ vì anh không mang kính mắt, và tôi đã lầm tưởng sự mông lung trong đó là buồn.

Tôi hay nhớ về Johannes với mái tóc vàng vuốt ngược, đôi mắt màu nâu tối, cặp lông mày rất sắc, mùi da thuộc, thuốc lá của một hiệu tôi chưa biết bao giờ. Tà Huy thì không hút thuốc vì bị suyễn rất nặng, cậu hay cười nếu như phổi tốt hơn thì biết đâu cậu đã thử, thật ra cậu đã thử, mà chưa kịp biết mùi vị như thế nào thì đã tỉnh dậy trong bệnh viện, thuốc lá có thật sự làm tê liệt đầu óc không. Có phải vì vậy mà Đông Anh đã viết rằng Johannes có thể trạng mạnh khỏe và rất rành hút thuốc, đương nhiên là chỉ hút thuốc ở những chỗ vắng người - tôi không hề viết anh ta sẽ hút thuốc ở đâu, tự anh đã phỏng chiếu lên anh ta quan điểm đạo đức của anh, Đông Anh nói với tôi, nhưng tôi thấy mình không cần đáp lại, chính anh cũng vậy mà, anh chỉ nhìn ở Huy những gì anh muốn thấy. Johannes cận rất nặng, nhưng chỉ đeo kính khi làm việc, những lúc khác, anh mặc kệ, để đôi mắt mơ hồ của mình đánh lừa người khác rằng anh đang nhìn họ rất say mê. Tôi hay bắt gặp mình tránh ánh nhìn anh, có lẽ không chỉ mỗi Johannes là sợ phải nhớ.

Nhưng nhân loại sẽ luôn phải nhớ, con vật cũng nhớ và ngay cả cỏ cây cũng nhớ, nếu không nhớ con mèo sẽ không biết đi đâu, nếu không nhớ làm sao lá rời cành khi gió đông về tới, nếu không nhớ thì có lẽ mọi con người từ khi sinh ra cho đến khi chết đi đều sẽ hành xử giống hệt như nhau, không căm thù nữa cũng không có tình yêu nữa. Dựa vào ký ức người ta mới biết mình đã sống và còn phải tiếp tục sống thế nào.

Nên không sao Đông Anh quên được vai áo trắng và những chuyến xe đi không đích đến, một lúc nào đó em sẽ rời khỏi đây, một bên tai nghe nối với cái máy walkman cũ mèm mà âm thanh đôi khi bị chớp giật, tháng sau hoặc là năm sau, mùi mồ hôi và chiếc bình dung tích một lít rưỡi bao giờ cũng đầy ắp nước, sao ở cửa hàng tiện lợi người ta không dựng hẳn một bình to mà luôn để thành chai nhựa, đôi khi em phải vờ làm shipper để xin nước ở mấy quán bên ngoài, tiệm cà phê sách ở tận sâu trong con ngõ rộng không bằng khoảng cách từ vai phải người này đến vai trái người kia, em không trốn chạy mà chỉ chưa tìm được đích đến, cánh đồng hoa cải và lần thứ hai anh thấy mình đi rất xa khỏi Hà Nội, sao anh không đi cùng em, những cuốn film mà cậu nói là đã giữ đầy nỗi buồn của anh, lúc nào đi khỏi đây em sẽ mang cùng đi để giấu, nhạc Cá Hồi Hoang hoặc Datmaniac, nước mắt rơi không dành cho tôi[2], thứ ngăn cách con người chính là ngôn ngữ[3], tên của em có nghĩa là ánh nắng xiên nghiêng của buổi chiều, giọng cậu trầm trầm, con đường về nhà mà bao nhiêu năm qua không còn lại gì[4], tôi đang tới nơi biết mình trở về sẽ không là gì, trở về sẽ không là gì[5], cậu hát để lấp đầy yên lặng, phải làm sao để anh không buồn. Làm sao để em không buồn. Một lúc nào đó em sẽ rời khỏi đây. Sao anh không đi cùng em.

Nếu có thể thì anh mong mình không nhớ.

Người ta thuê Huy đến trường cấp Ba để chụp ảnh cho buổi lễ tốt nghiệp của đám học sinh cuối cấp, trùng hợp thế nào đó là trường mà Đông Anh đang công tác. Huy làm việc không nghiêm chỉnh, thường xuyên nói chuyện với anh hơn là chú tâm theo dõi buổi lễ, vậy mà vẫn biết lúc nào cần giương máy hay phải canh góc kiểu nào. Khi Đông Anh nhắc cậu tập trung, Tà Huy vô tư đáp, rằng anh chỉ cần tham gia đến buổi lễ thứ ba, hoặc thứ hai thôi là sẽ biết phải chụp vào những khoảnh khắc nào, tương tự cho cả kỷ yếu hay ảnh cưới. Người ta không cần tham chiếu ý nghĩa đằng sau tấm ảnh, họ chỉ đơn giản là cần ảnh chụp lại những gì đã có, để đăng lên đâu đó, lấp đầy một cái album nào, để tuyên bố rằng việc đã diễn ra rồi, như là một thủ tục. Cậu và anh đều biết nếu đến bất cứ trường học nào vào năm sau hay năm sau nữa mọi thứ cũng sẽ diễn ra hệt thế này. Tuyên dương gương mặt tiêu biểu; giáo viên, phụ huynh, học sinh tri ân lẫn nhau; bạn bè hứa hẹn tạm biệt nhau; tấm ảnh quan trọng nhất là hai học sinh nào đó ôm nhau khóc, để người không tham dự cũng biết là đã có người rơi nước mắt, tức là đó là một buổi lễ thành công cảm động. Đông Anh nói dù đấy là khoảnh khắc không độc nhất nhưng khi đến lượt người ta tự thân trải nghiệm thì cũng đáng để lưu giữ mà. Cậu đáp rằng em cũng từng nghĩ vậy, nhưng anh có biết điều gì đáng buồn không, đấy là có khi những khoảnh khắc này thậm chí còn không có thật, có những người không thật sự muốn gặp lại ai cả, cũng không muốn phải cảm ơn ai, nhưng vì một hiệu ứng chung tâm thế chung mà tất cả mọi người đều làm như vậy. Nếu họ từng thật thà chỉ trong một chốc thì tại sao sau này họ lại nỡ quên đi. Anh ơi em đang chụp cái gì đây. Và anh, cả anh rồi cũng quên đi phải không. Đôi mắt Tà Huy khi ấy tràn ngập hoang mang, và anh thấy lần đầu tiên mình ở rất gần nỗi buồn của cậu. Anh không có máy ảnh để thay cậu giữ lại, nhưng mãi đến sau này Đông Anh vẫn thấy mình kể đi kể lại khung cảnh ngày hôm đó trong những câu chuyện của anh, đôi khi anh vẫn thấy ánh mắt cậu khi đó lẫn trong những nhân vật của anh, anh không biết mình đã thay cậu giữ lại chút buồn nào chưa. Lúc đó Đông Anh đã có thể nói rằng mình sẽ luôn luôn nhớ, nhưng với Huy anh không muốn dối lừa.

Nếu có thể thì anh mong mình không nhớ.

Nên anh nói, rồi rốt cuộc anh cũng sẽ quên, đấy là mục đích của anh, anh chọn làm công việc này không hẳn vì hiểu được cái thiêng liêng của nghề nhà giáo, cũng không hoàn toàn vì không phải lo về học phí - đó chỉ là một phần, một phần khác là vì anh thấy đây là cái nghề thích hợp nhất để làm quen với chia biệt. Anh luôn chuẩn bị trước cho một ngày bố anh rời đi, anh luôn chờ tới một ngày mẹ anh chọn lấy hạnh phúc của riêng bà. Anh luôn chuẩn bị để mình là người sau cùng, ở lại. Cũng đúng nhỉ, ở đây anh chia tay đều đặn mỗi năm, mỗi lần vài chục vài trăm học trò, Huy bật cười pha trò, vậy chứ lúc em đi anh có nói chia tay với em không. Cậu đã giấu đi đâu khuôn mặt sắp khóc, bao năm rồi em vẫn chỉ là thợ chụp chứ chưa là một nhiếp ảnh gia. Cậu nói mình sẽ đi đâu đó thật xa, làm một bộ ảnh để đời cho riêng cậu rồi tìm một nghề nào đó khác. Anh thấy lái xe chở hàng thì có được không, luôn luôn được đi mà đâu đâu cũng sẽ là nhà. Cậu hỏi anh câu ấy làm gì, anh nghĩ, rốt cuộc cậu vẫn sẽ luôn đi. Mà thôi em tính lại rồi, nếu đi quá nhiều như vậy thì đến một lúc mình sẽ nhớ hết mọi con đường, thế thì không còn đi đâu được nữa.

Và anh bảo, vẫn còn xa lắm, bây giờ Huy còn chưa thuộc Hà Nội. Cứ thà như bây giờ, cứ thà cậu ở lại đây cho tới khi nhớ hết mọi con đường, mọi ngóc ngách, cứ thà là nói về những gì ngay lúc này, về ngày mai, ngày kia, cậu đừng nói về một tương lai xa mà anh biết mình sẽ không được dự phần trong đó. Đông Anh biết rồi Huy sẽ thuộc làu Hà Nội như cậu đã nhớ hết Sài Gòn, Huy sẽ bỏ lại Hà Nội như đã mãi bỏ lại Sài Gòn, sau cùng Huy vẫn sẽ luôn đi. Còn anh, anh nhìn xuống và thấy mình đang mang đôi giày duy nhất đã mòn và bám bụi, gần một năm nay, anh xỏ đôi giày này khi ngồi sau xe Huy, đi sau lưng Huy, rồi anh lại nhớ về cái tủ mà mẹ đã thay anh chất đống những đôi giày mới, sao mẹ chưa từng mua gì cho chỉ riêng bà, những đôi giày mà anh đi đến hai năm mà đế vẫn chẳng mòn, anh đâu đi đâu ngoài trường học, nhà anh-nhà mẹ, cả bệnh viện nữa trong những lần anh đón đưa bà. Nếu không gặp Huy, anh biết mình sẽ chẳng đi đâu xa ngoài Hà Nội. Lần duy nhất đi xa là năm tám tuổi, lần thứ hai là với Huy. Anh nhìn cậu và không biết liệu hai người có kịp sửa soạn cho lần đi thứ ba hay không, rồi lại gạt đi và tự nói với mình là chính anh không muốn.

Bố mẹ anh đều là người Đông Anh, gặp nhau và yêu nhau ở Đông Anh, Đông Anh là bằng chứng cho tình yêu của bố mẹ nên Đông Anh phải tên là Đông Anh. Cái tên anh, không lâu sau đã trở thành một gánh nặng với cả ba người. Năm anh mười tuổi mẹ anh nhìn thấy bố anh ôm ấp ai trong căn nhà mà hai người xây cất. Bà cho rằng đấy chỉ là một lần ông lầm lỡ rồi tha thứ cho ông, dầu đêm đêm bà vẫn trốn ra hành lang để khóc. Bà không bao giờ nén tiếng khóc của mình. Bố anh đã nhiều lần muốn bỏ đi, nhưng mẹ nói Đông Anh cần có bố, chẳng lẽ anh không nhớ chính anh đã chọn cho nó cái tên này. Mỗi khi bố nhìn anh, có lẽ ông không thấy gì ngoài một tình yêu đã tắt, và một cuộc đời chôn chặt trong căn nhà cấp bốn ở Đông Anh. Còn mẹ của anh, anh ngờ vì cái cái tên của anh, mà bà mãi mãi bấu víu vào những hy vọng đã không còn. Bà chăm vườn để rồi chỉ thấy cây chết yểu. Mẹ nói phải có ba người thì mới là một gia đình, nhưng chưa lần nào anh về nhà mà thấy bố. Bố sẽ về vào tối muộn, mẹ bảo vậy, ta cứ ăn cơm trước đi thôi. Anh nghe mẹ gọi tên anh và thấy mình không thể đi đâu quá xa bà.

Buổi lễ tốt nghiệp năm đó anh đã buộc vào dây quai ba lô cậu một dải ruy băng màu trắng - một kiểu mô phỏng lại hoạt động của đám học trò, xanh là xin lỗi, đỏ là cảm ơn, vàng là dành cho người làm mình cười nhiều nhất, hồng là thích còn trắng là không muốn rời xa. Anh chỉ buộc ruy băng màu trắng. Hoạt động này gần như đã trở thành xu hướng mới trong những buổi lễ tốt nghiệp cấp ba, rất nhiều trường tổ chức, nhưng mỗi trường lại dùng màu ruy băng khác nhau, và gọi tên những màu sắc bằng những ý nghĩa khác nhau. Vì Tà Huy đã không chuyên tâm theo dõi nên cậu sẽ không hiểu ý nghĩa của các màu. Hình như anh đã mong là cậu sẽ không bao giờ phải hiểu.

Sau cùng Đông Anh vẫn để Johannes nói sẽ đi. Đêm cuối gặp nhau và Johannes ngồi xuống cây đàn trong quán vắng, đặt cốc rượu trước mặt, đặt tay trên những phím đàn. Từ đầu ngón tay anh những thanh âm rơi ra, Đông Anh đã viết ở đoạn này rằng tôi nghe rất lâu mà không biết ấy là bản nhạc nào, nhưng đấy là bởi vì chính Đông Anh không biết, đáng ra tôi cũng không biết, nhưng Johannes đã chơi bản nhạc này một lần, và dù không muốn thì con người vẫn nhớ, tôi thấy cả Johannes cả tôi đều là con người, nên tôi đã biết bài nhạc đó với riêng mình. Đông Anh không toàn tri và những gì anh ta viết ra có lúc không hợp lý, anh là một người kể chuyện không thành thật và ích kỷ, anh mong tạo ra những anh khác nhưng vẫn muốn họ đau đớn giống hệt mình. Anh đã hiểu anh chưa mà luôn cho rằng anh hiểu chúng tôi. Anh hãy lặng yên đi để tôi được nghe Johannes đàn tiếp. Anh cũng biết là chỉ còn đêm nay. Một đoạn âm thanh gần giống nhau được lặp lại bốn lần, chậm rãi như những hạt mưa tí tách, rồi âm thanh loang ra gấp rút hơn một chút, réo rắt hơn một chút, sau lại nhỏ dần nhỏ dần, im chững, rồi đột ngột trào ra. Lần nữa.

Anh buông thõng hai tay và nói đoạn nhạc này là Tình yêu của chúng ta[6]. Johannes từng hỏi tôi thế nào là cách yêu đúng nhất, Đông Anh viết tôi đáp là không biết, vì có lần Huy đã hỏi anh một câu tương tự và Đông Anh thấy mình không tìm được câu trả lời. Tôi nhớ về mẹ và tình yêu của bà, cha và tình yêu của ông, đáng cười hay đáng giận khi số phận của tôi quá giống Đông Anh, tôi không còn nhớ ai đã yêu mình nữa, mà thế nào mới là yêu. Yêu người yêu mình yêu mẹ yêu cha yêu nhân tình yêu bè bạn yêu ruột thịt yêu người lạ yêu đồng loại yêu cỏ cây yêu là san sẻ yêu là thấu hiểu yêu là đồng hành yêu là hy sinh yêu là rời bỏ yêu là vĩnh viễn yêu là ngắn hạn yêu là đúng yêu là sai yêu là cần thiết yêu là vô bổ yêu là tham dục yêu là chấp nhận yêu là thay đổi yêu là cố gắng yêu là quy hàng yêu là quên yêu là nhớ yêu là rẻ mạt yêu là cầm tù yêu là một đề tài quá thường để viết yêu là thất bại yêu là tội lỗi yêu là tự do yêu là gánh nặng yêu là đau là vui là buồn là sướng là khổ là hờn giận yêu là bao dung yêu là ích kỷ yêu là yêu. Từng ấy thứ và tôi chấp nhận để Đông Anh viết rằng tôi nhìn vào mắt Johannes và đáp rằng không biết.

Có phải rất buồn cười không, Johannes nói, mình thiếu thốn còn tình yêu của cha mẹ đôi là quá sức để Jonathan có thể đáp lại. Chúng ta dễ dàng sở hữu những điều mà người khác hằng ao ước, vậy mà không bao giờ con người ta biết hài lòng với hoàn cảnh của chính mình. Vậy thì mình có thật sự cần nhau không, hay ấy chỉ là những khát khao, mộng hão, hay ấy chỉ là bởi vì chúng mình đã luôn rất tham lam.

Anh thì sao, tôi hỏi, thế nào mới là cách yêu đúng nhất. Johannes đáp rằng anh không biết, cả đời anh chỉ biết có đi. Hồi đó anh từng yêu Milan, Johannes nói với tôi, anh đã ăn phần gelato ngon nhất đời mình vào năm mười bốn tuổi, không phải ở Vittorio Emanuele II, mà ở một hàng quán nhỏ trong một ngách phố ở Milan. Khi ấy, cha anh vẫn còn ở với mẹ anh, và anh trai anh còn chưa mất. Anh nhìn tôi qua ly rượu trên tay, nói rằng mình chưa say, song đôi mắt của anh đã tố cáo điều ngược lại. Đêm ấy chúng tôi uống whisky, nhưng đời nào ở cái quán ẩm ương nơi ngoại vi thành phố này người ta kiếm ra được whisky thật, ở đây chỉ có những thứ rượu dởm được đơm giá quá cao. Johannes thì không bao giờ tin điều đó, anh luôn có một lòng tin khôi hài với người lạ, và mối bất an vô thức với những người đã thân thiết với anh.

Rồi Johannes đều giọng kể, gia đình anh chỉ sống đúng sáu tháng ở Milan. Nhưng những kỷ niệm cuối cùng và đầu tiên về một điều gì bao giờ cũng ám ảnh người ta ghê gớm nhất, nên anh không tài nào quên nổi khung cảnh gia đình bốn người ở quảng trường Duomo một ngày tháng sáu, và bóng lưng cha khi ông quay gót rời đi. Johannes nói anh không biết từ khi nào thì cha không còn yêu mẹ nữa, còn mẹ, có phải bà chưa từng yêu ông. Vì tình yêu mà cha anh đã không còn cầm bút viết, dù thời đó ông vốn là một tay bút có tiếng tăm. Có lần anh nghe được lời ông nói với mẹ trong phòng đóng, sau khi nhận được thư hồi âm từ tòa soạn trong một nỗ lực để viết lại vài câu chuyện ngắn, rằng vì bà mà ông đã bỏ lỡ cơ hội tốt nhất để cầm bút, đã quá lâu rồi, bây giờ bây giờ người ta không còn thích cách kể giống như ông. Johannes lớn lên trong sự dìu dắt và bảo bọc của cha, và rất hiếm khi là những cái ôm của mẹ. Nhưng vào cái mùa hè năm anh mười bốn tuổi ấy, không một chuyến đi chơi gia đình nào là thiếu vắng mẹ anh. Dường như bà đang cố bồi đắp cho sự vắng mặt trong suốt tuổi thơ của hai người con trai, hoặc ấy là tất cả những gì bà có thể làm để bồi thường trước cho anh khi bỏ mặc anh rất nhiều năm sau đó. Hình như họ đã tham quan hết mọi nơi trong thành phố, thậm chí còn nghĩ đến việc sẽ ngồi tàu đến những nơi khác tham quan. Johannes năm mười bốn thích nhất là đi bảo tàng, phòng trưng bày, triển lãm, nhưng Johannes năm hai mươi chín tuổi lại nói, bảo tàng và phòng trưng bày chẳng có gì hay, chỉ có những triển lãm ngắn hạn là tạm được, vì chúng không bao giờ lặp lại giống như nhau.

Nhiều năm sau trở lại Milan anh đã tìm đến những địa chỉ mà khi cũ nhà anh thường xuyên lui tới, quán xá đã không còn nữa, đến cả công viên cũng bị san bằng. Mình không nghĩ những gì liên quan đến gia đình mình đều bị buộc xóa sổ, tiểu thuyết quá, nhưng nhiều năm rồi, một vài địa điểm đều sẽ ngẫu nhiên biến đổi, đó là điều tất yếu phải diễn ra ở đô thị lớn, chỉ là tình cờ thế nào chúng đều là những nơi liên quan đến quá khứ của mình. Có lúc mình thấy một hàng quán từ xa, hao hao giống như trong ký ức, nhưng đến gần rồi thì mình lại thấy là không phải. Milan cứ làm mình chợt nhớ chợt quên như vậy, nên dần dần mình ghét Milan, cũng sợ phải gắn bó với bất kỳ nơi nào khác. Vậy thì cách mình yêu Milan chắc không phải là cách đúng, anh kết luận. Nên mình sẽ đi sớm, ngày mai, em có hiểu không. Mà dù em không hiểu đi nữa. Anh nói dù biết là tôi sẽ buồn. Johannes ngồi bên cây đàn, không chơi thêm một bản nhạc nào cho đến hết đêm, chỉ ngồi đó uống hết ly này rồi ly khác, ly này rồi ly khác.

Rồi bất chợt anh hỏi tôi, vì sao Jonathan lại khiến mình yêu thành phố này thêm lần nữa, và anh bật cười, nói rằng mình đã quá say. Đã quá muộn rồi, Đông Anh nói với tôi từ bên kia trang viết, thì tôi vẫn luôn biết thế mà. Anh đừng uống nữa, tôi cố nói với Johannes như thế, nhưng tiếng nói không làm sao thoát ra được khỏi miệng tôi. Có lẽ không phải chỉ mỗi mình anh là tàn nhẫn.

Đông Anh không dám gặp Tà Huy một lần cuối, có phải vì vậy mà tôi và Johannes mới có đêm nay. Cậu gọi anh ba lần và Đông Anh không nhấc máy, từ ấy trở đi anh không bao giờ kết nối được với số máy kia. Ít nhất thì tôi đã kịp nói với Johannes một lời sau cuối, mong anh thuận lợi bình an, và chào anh nhé, người Ý từ biệt có nói với nhau như vậy thật không, câu chào gì mà khuôn sáo quá, mà thôi cũng chẳng còn kịp để sửa lời. Có một lần khi đang lang thang trong hiệu sách cũ Đông Anh bỗng thấy một bìa sách rất quen, Tà Huy đã để lại trước cửa nhà anh vài thứ, vậy mà phải mất rất lâu sau anh mới bỏ được hết chúng đi. Anh nhớ trong những quà tặng đó có cuốn sách này, và chưa một lần nào anh dám mở ra xem. Giờ anh mở ra và thấy ở trang bìa mà người ta hay ký chữ có một đoạn viết, anh nhìn nét chữ và nghĩ hình như đó thật sự là cuốn sách mà cậu đã tặng anh. Em từng ghen tị vì anh có một chỗ để về, nhưng sau này trên những chuyến xe em chở anh đi, đã bao nhiêu lần em ước anh không cần phải quay về nữa. Bây giờ anh chưa thể đi cùng em, nhưng nếu sau này anh không còn vướng bận, anh có muốn đi không. Mình hãy hẹn nhau năm năm, ngày mười lăm tháng tám, vì đó là ngày đầu tiên mình đã gặp nhau, anh hãy đến quán cà phê mà mình vẫn hay ngồi khi trước, em sẽ đợi anh cho đến hết ngày. Anh nhìn lịch treo tường và thấy khi đó đúng là tháng tám của năm năm sau, nhưng giờ đã là quá trưa của ngày mười bảy.

Lúc tôi nhìn xung quanh quán và không còn thấy Johannes, tôi đã mong biết bao là Đông Anh sẽ xé đi trang cuối để viết lại kết thúc. Anh muốn thay đổi ra sao, Đông Anh hỏi tôi hay đang hỏi chính mình, và tôi không thể trả lời, đã bao lần tôi ước rằng mẹ có một cuộc đời của riêng bà, hình như yêu là chấp nhận để cho họ được đi xa, giờ đây Huy đã đi và Johannes đã đi, đấy hẳn phải là điều tốt nhất. Dù tôi và anh sẽ tiếp tục là người ở lại, sau cùng.

Thế nên tôi nói với anh, hình như cả tôi và anh đều không còn có thể thay đổi được gì, nữa.

Câu chuyện phải kết thúc ở đó.

Anh buông bút, thấy mình đã không còn gì để kể.

/

[1] Một bài hát của band nhạc Cá Hồi Hoang.
[2] Lời "Không điều kiện" của Cá Hồi Hoang.
[3] Lời "Mấy con mèo" của Datmaniac.
[4] Lời "Thiên hà trước hiên nhà" của Datmaniac.
[5] Lời "Đảo giữa dòng nước lạnh" của Cá Hồi Hoang.
[6] Our Love của Emile Mosseri.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co