Truyen3h.Co

đường lối

Không Tên Phần 1

HngGemini



KHÁI NIỆM

Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), an sinh xã hội là sự bảo về của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia định có con nhỏ.

Như vậy, về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần bảo đảm thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra cuộc sống tốt đẹp, bình an cho mọi thành viên trong xã hội. Vì vậy, an sinh xã hội mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.

Cấu trúc của an sinh xã hội bao gồm:

- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;

- Bảo trợ xã hội, cứu trợ xã hội;

- Trợ cấp gia đình;

- Các quỹ tiết kiện xã hội;

- các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng.

QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC VỀ ASXH

Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn An sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của đất nước. Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, cùng với việc không ngừng cải tiến chế độ tiền lương, tiền công và nâng cao thu nhập cho người lao động, Đảng và Nhà nước rất quan tâm chăm lo đến An sinh xã hội cho nhân dân. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Đảng ta đã xác định "...Cải thiện thêm một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân của nhân dân lao động, làm cho nhân dân ta được ăn no mặc ấm, tăng thêm sức khoẻ, có thêm nhà ở và được học tập, mở mang sự nghiệp phúc lợi công cộng, xây dựng đời sống mới ở nông thôn và thành thị"-(19). Đảng Lao Động Việt-Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Tập I, BCHTW Đảng Lao Động Việt-Nam xuất bản, tháng 9-1960, tr.86.

Những năm sau đó, mặc dù trong điều kiện còn hết sức khó khăn, thiếu thốn, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Tháng 12/1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương đổi mới đất nước toàn diện - mở ra một thời kỳ mới trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều vấn đề cấp bách phải giải quyết, nhưng bảo đảm an sinh xã hội vẫn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ thường xuyên và có tầm quan trọng hàng đầu vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển nhằm phát huy mọi khả năng của con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan điểm của Đảng ta về thực hiện tốt an sinh xã hội là để tạo ra tiền đề quan trọng cho sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, góp phần củng cố những thành quả trong đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, thường xuyên của nhân dân, tạo lòng tin cho nhân dân đối với sự nghiệp đổi mới đất nước toàn diện do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. Đảm bảo tốt an sinh xã hội sẽ góp phần tạo ra sự thống nhất giữa đổi mới về kinh tế với đổi mới chính trị, xã hội, tạo sự cân đối giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ngay trong những bước đi đầu tiên của sự nghiệp đổi mới .

Quan điểm trên của Đảng ta đã cho thấy sự chuyển hướng và đổi mới quan trọng về đường lối lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực An sinh xã hội. Chính những thành công trong đảm bảo an sinh xã hội đã góp phần tạo ra sự ổn định trong xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua giai đoạn khó khăn nhất.

Cùng với những thành tựu trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, nhận thức về An sinh xã hội cũng được tiến thêm một bước mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và lần thứ VIII của Đảng đã xác định đảm bảo An sinh xã hội là vì con người và là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu đảm bảo An sinh xã hội thống nhất với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đều nhằm phát huy sức mạnh nhân tố con người, phục vụ con người. Thực hiện An sinh xã hội góp phần "tạo ra những tiền đề đưa đất nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới - thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", tạo tiền đề vững chắc cho đất nước bước vào giai đoạn phát triển cao hơn ở đầu thế kỷ XXI.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chủ trương này đã trở thành một định hướng chiến lược để phát triển bền vững đất nước: "...Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường", " Đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội, đa dạng hóa hình thức bảo hiểm...; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện tốt chế độ bảo hộ lao động và vệ sinh lao động"; "Phát triển nâng cao chất lượng bảo hiểm y tế; xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; phát triển mạnh các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm y tế cộng đồng.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, vấn đề An sinh xã hội một lần tiếp tục được khẳng định: "Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống". Đảng, Nhà nước đã ban hành và thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Các chương trình, chính sách an sinh xã hội đã đạt được những thành tựu quan trọng cụ thể: về giải quyết việc làm, bảo đảm thu nhập và giảm nghèo đã thúc đẩy phát triển thị trường lao động, tạo cơ hội cho người lao động tìm việc hoặc tự tạo việc làm; các chương trình và chính sách giảm nghèo đã tập trung nguồn lực ưu tiên cho huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đông đồng bào dân tộc; bảo hiểm xã hội đã có bước phát triển đáng kể, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện đã thu hút được nhiều người tham gia; các chính sách trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với các nhóm có hoàn cảnh khó khăn đã đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân. Nhà nước không ngừng tăng đầu tư cho phát triển các dịch vụ cơ bản bao gồm giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin truyền thông, đặc biệt ưu tiên cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nông thôn, lao động khu vực phi chính thức và các đối tượng yếu thế khác. Đồng thời nguồn lực cho an sinh xã hội được xã hội hóa cao cả về tài chính và tổ chức thực hiện. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đã huy động sự tham gia đóng góp tích cực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các doanh nghiệp và sự tham gia của người dân.

Bước sang giai đoạn chiến lược mới, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục coi bảo đảm An sinh xã hội là một nhiệm vụ chủ yếu thường xuyên. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã xác định: tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Tạo cơ hội bình đẳng hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Đồng thời đề ra mục tiêu đến năm 2020, trong đó GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 - 3.200 USD; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2% - 3%/năm; phúc lợi, an sinh xã hội và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được bảo đảm; thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so với năm 2010; thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và nhóm dân cư...Xoá nhà tạm đơn sơ, tỷ lệ nhà kiên cố đạt 70%, bình quân 25m2 sàn xây dựng/người. Cải thiện chất lượng môi trường, hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng.

Thực hiện quan điểm kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách, Báo cáo chính trị tại Đại hội XI (tháng 1-2011) của Đảng nhấn mạnh: "Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống. Tăng tỷ lệ người lao động tham gia các hình thức bảo hiểm. Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển các loại hình trợ giúp, trợ cấp xã hội sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng. Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu... Huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công"(7).

Với chức năng do Hiến pháp quy định, Quốc hội và Chính phủ nước ta đã lần lượt thể chế hóa những chủ trương, quan điểm nêu trên của Đảng thành hệ thống pháp luật, chiến lược, chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án,... cụ thể để đưa vào cuộc sống. Nhờ vậy, cùng với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, sự nghiệp bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta mấy chục năm qua đã đạt được nhiều thành tựu rất đáng khích lệ:

- Số người được giải quyết việc làm gia tăng đều đặn qua từng năm: Trong 10 năm (1991 - 2001) cả nước đã tạo việc làm mới cho khoảng 12 triệu người; những năm tiếp theo, số người được giải quyết việc làm lần lượt tăng thêm: giai đoạn 2001 - 2005 là 6,5 triệu người, giai đoạn 2006 - 2010: khoảng 7,2 triệu người và giai đoạn 2011 - 2015: 7,8 triệu người.

- Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả nổi bật: Theo chuẩn do Ngân hàng Thế giới phối hợp với Tổng cục Thống kê Việt Nam tính toán, tỷ lệ nghèo chung ở nước ta đã giảm từ 58% năm 1991 xuống còn khoảng 4,5% năm 2015. Những năm gần đây, khi kinh tế nước nhà gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã kịp thời đề ra Chương trình hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại hơn 60 huyện đặc biệt khó khăn với trên 50% số hộ nghèo. Đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện này giảm xuống còn 28%.

- Việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội có chuyển biến rõ rệt: Từ khi đổi mới đến nay, đối tượng này đã dần dần mở rộng ra nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước. Vì thế, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 4,8 triệu người năm 2001 tăng lên 12 triệu người năm 2015.

- Diện bao phủ bảo hiểm y tế tăng nhanh: Sau ba lần Chính phủ ban hành các Nghị định Bảo hiểm y tế vào các năm 1992, 1998 và 2005, diện bao phủ bảo hiểm y tế trong cả nước ngày càng mở rộng. Bên cạnh việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện cũng dần dần lan tỏa đến các đối tượng là nông dân, học sinh, sinh viên... Tính chung, số người tham gia bảo hiểm y tế các loại từ 11,34 triệu người năm 2001 tăng lên 69 triệu người năm 2015, bằng khoảng 75% dân số cả nước(8).

- Việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội từng bước được cải tiến: Những người được hưởng trợ giúp xã hội bao gồm hai đối tượng chủ yếu: những người bị thiệt hại do thiên tai và những người lâm vào cảnh khó khăn do già yếu, tàn tật, mắc bệnh hiểm nghèo... Việc trợ giúp hai đối tượng này được thực hiện qua cả kênh chính thức của Nhà nước và kênh phi chính thức dựa vào sự đóng góp của cộng đồng. Vì thế, kinh phí trợ giúp từ ngân sách nhà nước từ 113 tỷ đồng cho 180.000 người năm 2001, tăng lên 4.500 tỷ đồng cho hơn 1,6 triệu người năm 2010. Ngoài ra, cả nước hiện có 580 cơ sở nuôi dưỡng khoảng 20.000 người già cô đơn, người tàn tật nặng, trẻ em mồ côi,... không nơi nương tựa.

- Việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với người có công được đặc biệt quan tâm: Theo kết quả rà soát của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (trong hai năm 2014 - 2015), số người có công được hưởng đúng và đủ chính sách ưu đãi xã hội là 1,98 triệu người.

Cùng với tiến trình đổi mới 30 năm qua, hệ thống chính sách an sinh xã hội đa dạng đã được Đảng, Nhà nước hết sức chăm lo xây dựng và đưa lại hiệu quả ngày càng rõ rệt. Tuy nhiên trong một số năm gần đây, do kinh tế vĩ mô thiếu ổn định, lạm phát gia tăng,... nên tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại, số hộ tái nghèo còn nhiều. Cơ chế giảm nghèo đa chiều, đa mục tiêu chưa hình thành. Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị tuy đã giảm, nhưng vẫn còn khoảng 4%. Đặc biệt, trong nông thôn hơn mười năm qua, do hàng ngàn hộ gia đình nông dân thuộc diện có đất thu hồi cho công nghiệp hóa, đô thị hóa,... mà phần lớn lại chưa được hỗ trợ đào tạo nghề mới để kiếm sống, đã dẫn đến tình trạng thiếu việc làm khá nghiêm trọng. Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.

Việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội khác cũng còn không ít hạn chế. Một số chính sách chậm được đổi mới, chưa sát thực tế, thiếu cơ chế điều tiết hợp lý quan hệ lợi ích và kiểm soát các rủi ro. Một bộ phận nhân dân chưa được hưởng một cách công bằng các thành quả của công cuộc đổi mới.

TỔNG KẾT

Để phát huy hơn nữa những thành tựu đã đạt được, đồng thời khắc phục những hạn chế, yếu kém còn lại, Báo cáo chính trị do Ban Chấp hành Trung ương khóa XI trình bày tại Đại hội XII (tháng 1-2016) đã đề ra những chủ trương, chính sách bao quát sau đây:

"Phát triển bền vững văn hóa, xã hội; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Thực hiện Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc, lồng ghép hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng ngành, từng địa phương.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao mức sống người có công.  Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng đã đưa ra những định hướng lớn: Hoàn thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu của chính sách kinh tế với các mục tiêu của chính sách xã hội; nâng cao thu nhập và chất lượng sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả.

Để định hướng tổng quát nêu trên hiện thực hóa sinh động trong cuộc sống, những năm sắp tới, cụ thể là từ nay đến năm 2020, cần quán triệt và vận dụng tốt hơn một số quan điểm chủ yếu sau:

Một là, kết hợp hài hòa giữa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội với bảo đảm an sinh xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách.

Hai là, trong điều kiện tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an sinh xã hội phải triệt để khắc phục những tàn dư của chế độ phân phối theo kiểu bao cấp, bình quân, cào bằng.
Ba là, tăng cường các chương trình phát triển kinh tế, phát triển xã hội gắn với mở rộng việc làm để người lao động có và duy trì ổn định thu nhập tối thiểu, bảo đảm quyền an sinh.

Bốn là, nâng cao hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo bền vững. Cùng với ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước, tiếp tục huy động sự trợ giúp của cộng đồng doanh nghiệp và của toàn xã hội, hoàn thành tốt Định hướng giảm nghèo đa chiều bền vững giai đoạn 2016 - 2020 ở những huyện còn có tỷ lệ hộ nghèo cao.

Thứ năm, nhìn một cách bao quát nhất, việc bảo đảm an sinh xã hội gắn với công bằng xã hội đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững, cũng như có một nền văn hóa thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ.

Bởi lẽ chỉ có một nền kinh tế và một nền văn hóa như thế thì đất nước mới có khả năng huy động được đủ các nguồn lực vật chất và tinh thần cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho mọi đối tượng cần thiết. Không thể có an sinh xã hội đầy đủ trên cơ sở một nền kinh tế thiếu hụt, cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững trong một xã hội với đa số dân chúng thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất, suy thoái về đạo đức và một bộ phận đáng kể lao động lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Đúng như C. Mác đã chỉ rõ: "Quyền [của người dân có được an sinh xã hội gắn với công bằng xã hội] không bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định"(10)./.

------------------------------------------

(1) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 19, tr. 31 - 32

(2) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 22, tr. 350

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 5, tr. 65

(4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 51

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 175

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 17

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 228 - 229

(8) Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 299 - 301

(10) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Sđd, t. 19, tr. 36

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co