Truyen3h.Co

Hãng Luật

3

TcKhng039


20

Sau khi thực hiện chặng dừng bắt buộc ở Atlanta, chiếc Delta DC-9 đáp xuống trong mưa lạnh tại sân bay quốc tế Memphis. Nó đậu tại Cổng 19, và đám đông những hành khách kinh doanh nhanh chóng chen nhau xuống máy bay. Mitch chỉ xách theo chiếc cặp của anh và một tờ Esquire. Anh nhìn thấy Abby đang chờ anh gần một điện thoại trả tiền và len nhanh qua đám đông để đến đó. Anh ném chiếc cặp và tờ tạp chí vào tường rồi ôm hôn cô. Bốn ngày ở Washington dài như cả tháng ròng. Họ hôn nhau lần nữa, rồi lần nữa, và dịu dàng thì thầm với nhau.

"Một cuộc hẹn hò có được không?" anh hỏi.

"Em đã dọn bữa tối lên bàn và cất rượu trong tủ lạnh," cô nói. Họ nắm tay nhau len lỏi qua đám đông đang chen chúc xuống phòng đợi theo một hướng đi chung đến khu vực hành lý.

Anh nhỏ nhẹ nói. "Em! Chúng ta cần nói chuyện, nhưng ở nhà thì không được."

Cô nắm chặt tay anh hơn. "Sao?"

"Đúng vậy. Chúng ta cần một cuộc trò chuyện dài."

"Chuyện gì xảy ra vậy?"

"Phải lâu mới nói hết."

"Sao đột nhiên em cảm thấy bồn chồn thế này?"

"Bình tĩnh đi em. Cứ tiếp tục cười. Họ đang theo dõi đấy." Cô mỉm cười, liếc sang phải.

"Ai theo dõi?"

"Chút nữa anh sẽ giải thích." Mitch bất chợt kéo cô sang bên trái anh. Họ cắt ngang làn sóng người rồi xông vào một phòng đợi tối và hẹp, đầy ắp những thương gia đang uống bia và theo dõi chiếc tivi treo trên quầy bar trong khi chờ chuyến bay của họ. Một chiếc bàn tròn nhỏ vừa được giải phóng. Nó chất đầy những vại bia cạn, và họ ngồi vào đó, quay lưng vào tường, mắt hướng ra quầy bar và phòng đợi. Họ ngồi sát bên nhau, cách một chiếc bàn khác chừng một mét. Mitch nhìn cánh cửa, dõi theo từng khuôn mặt bước vào. "Chúng ta ngồi đây bao lâu?" cô hỏi.

"Sao cơ?"

Cô cởi chiếc áo choàng lông cáo, máng nó lên chiếc ghế bên kia bàn.

"Chính xác anh đang giở trò gì vậy?"

"Tiếp tục cười một lúc nữa đi. Hãy giả bộ như em thực sự nhớ anh. Đây này, hôn anh đi." Anh hôn môi cô rồi họ nhìn vào mắt nhau và cùng cười. Anh hôn má cô rồi liếc sang cánh cửa. Người phục vụ tiến đến bàn và dọn dẹp. Họ gọi rượu. Cô mỉm cười với anh.

"Chuyến đi của anh thế nào?"

"Chán ngấy. Anh ngồi trên lớp tám tiếng đồng hồ mỗi ngày trong suốt bốn ngày trời. Sau hôm đầu tiên anh chẳng mấy khi rời khách sạn. Lẽ ra phải mất đến sáu tháng, thế mà họ lại nhồi nhét những tu chính về thuế chỉ trong có ba mươi hai giờ."

"Họ có cho anh đi thăm thú gì không?"

Anh mỉm cười và âu yếm nhìn cô. "Anh nhớ em. Abby. Anh chưa từng nhớ ai như thế trong đời. Anh yêu em. Anh nghĩ em đẹp lộng lẫy, đẹp đến sửng sốt. Anh không thích thú gì khi phải đi một mình và thức dậy trên chiếc giường khách sạn xa lạ mà không có em bên cạnh. Và anh có một chuyện khủng khiếp muốn kể cho em nghe."

Cô thôi cười. Anh nhìn quanh căn phòng. Có ba người đàn ông ở quầy bar đang hò hét trong khi xem trận Knicks-Laker. Phòng đợi đột nhiên ồn ào hơn.

"Anh sẽ kể cho em," anh nói. "Nhưng rất nhiều khả năng có ai đó nơi đây đang theo dõi chúng ta. Họ không nghe được, nhưng có thể quan sát. Hãy thi thoảng mỉm cười, dù việc đó khó cho em."

Rượu được bưng đến, và Mitch bắt đầu câu chuyện của anh. Anh không bỏ sót điều gì. Cô chỉ cắt ngang một lần. Anh kể cho cô về Anthony Bendini và lão già Morolto. Rồi đến xuất thân từ Chicago của Nathan Locke. Rồi đến Oliver Lambert và những gã ở tầng năm. Abby bồn chồn nhấp rượu, dũng cảm sắm vai một người vợ đang yêu, một người vợ nhớ chồng và nay đang cực kỳ vui sướng với sự trở về của anh từ một cuộc hội thảo về thuế. Cô dòm chừng những

người ở quầy bar, nhấp ít rượu rồi thi thoảng cười toe toét với Mitch trong khi anh kể về chuyện rửa tiền và sát hại các luật sư. Cơ thể của cô nhức nhối vì sợ hãi. Hơi thở của cô hoảng loạn. Nhưng cô vẫn lắng nghe và diễn kịch.

Người hầu bàn mang thêm rượu đến khi đám đông thưa dần. Một giờ sau khi bắt đầu, Mitch kết thúc bằng một lời thì thầm, "Voyles nói Tarrance sẽ liên lạc với anh trong vài tuần tới để xem anh có hợp tác hay không. Ông ta chào tạm biệt rồi đi khỏi."

"Chuyện đó là vào hôm thứ Ba?" cô hỏi.

"Đúng vậy. Ngày đầu tiên."

"Anh làm gì vào những ngày còn lại trong tuần?"

"Ngủ một chút, ăn một chút, hầu hết thời gian thì đi bộ loanh quanh với một cơn đau đầu âm ỉ."

"Hình như em cũng bắt đầu có cơn đau đầu như thế."

"Anh xin lỗi, Abby. Anh chỉ muốn bay ngay về nhà để kể cho em nghe. Anh đã bị sốc suốt ba ngày nay."

"Ngay hiện giờ em cũng đang bị sốc. Em không tin chuyện đó, Mitch. Nó giống như một cơn ác mộng vậy, chỉ có điều nó còn tồi tệ hơn rất nhiều."

"Và đó mới chỉ là bắt đầu. FBI họ cực kỳ nghiêm túc. Chẳng thế thì cớ sao ông Giám đốc lại đích thân đến gặp anh - một luật sư tân binh nhãi nhép ở Memphis - trong thời tiết âm chín độ trên một băng ghế xi măng ngoài công viên? Ông ta đã điều năm đặc vụ đến Memphis và ba đặc vụ đến Washington. Và ông ta nói sẽ truy hãng

bằng bất cứ giá nào. Cho nên nếu anh ngậm miệng, phớt lờ họ đi và tiếp tục làm việc để trở thành một thành viên tốt và trung thành của Bendini, Lambert & Locke thì một ngày nào đó họ sẽ xuất hiện với trát bắt và lôi cổ tất cả mọi người đi. Còn nếu anh chọn hợp tác thì em và anh sẽ rời khỏi Memphis trong đêm, ngay sau khi anh giao nộp hãng cho các đặc vụ liên bang. Và chúng ta sẽ trốn đến sống ở Boise, Idaho, giống như gia đình Wilbur Gates vậy. Chúng ta sẽ có hàng đống tiền nhưng vẫn phải đi làm để tránh bị nghi ngờ. Sau khi làm phẫu thuật thẩm mỹ xong, anh sẽ làm công việc lái xe nâng trong một nhà kho, còn em có thể làm việc bán thời gian cho một nhà trẻ. Chúng ta sẽ sinh hai đứa con, có thể là ba, rồi cầu nguyện hàng đêm để những kẻ chúng ta chưa bao giờ gặp chịu giữ mồm và quên chúng ta đi. Chúng ta sẽ sống từng ngày từng giờ trong nỗi sợ bệnh hoạn của việc bị phát hiện."

"Vậy là hoàn hảo quá rồi, Mitch, quá sức hoàn hảo." Cô cố không bật khóc.

Anh mỉm cười, nhìn quanh phòng. "Chúng ta hãy còn một phương án thứ ba nữa. Chúng ta có thể bước ra cánh cửa này, mua hai chiếc vé đến San Diego, trốn qua biên giới và ăn tortilla đến hết phần đời còn lại."

"Ta đi ngay đi."

"Nhưng có lẽ họ sẽ bám theo chúng ta. Nếu xui xẻo thì Oliver Lambert sẽ chờ sẵn chúng ta ở Tijuana cùng với băng lưu manh của ông ta. Không được đâu. Đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua đầu thôi."

"Lamar thì sao?"

"Anh không biết. Anh ta đã ở đây sáu bảy năm, cho nên có lẽ anh ta biết. Avery là đối tác nên rất nhiều khả năng ông ta là đồng mưu."

"Còn Kay?"

"Ai mà biết được. Rất có khả năng các bà vợ đều không biết gì cả. Anh đã nghĩ về chuyện đó suốt bốn ngày, Abby ạ, và họ chính là tấm bình phong tuyệt vời. Hãng sẽ trông giống chính xác những gì nó phải giống. Họ đã lừa tất cả mọi người. Ý anh là, làm sao em hay anh hay những người mới có thể nghĩ ra được một hoạt động như vậy. Nó là hoàn hảo. Nhưng các đặc vụ liên bang nay đã biết được rồi."

"Và nay các đặc vụ liên bang đang kỳ vọng anh làm cái công việc dơ bẩn của họ. Tại sao họ lại chọn anh chứ, Mitch? Trong hãng có đến tận bốn mươi luật sư cơ mà."

"Vì anh chẳng biết gì về hãng cả. Anh là một mục tiêu dễ. FBI không biết chắc khi nào thì các đối tác lật bài với các cộng sự, cho nên họ không thể thử vận may với bất cứ ai. Anh tình cờ lại là người mới nên họ đã lập ra cái bẫy ngay khi anh đậu cuộc thi lấy chứng chỉ."

Abby nhai nhai môi, cố nén nước mắt. Cô thẫn thờ nhìn cánh cửa phía bên kia căn phòng tối. "Và họ đã nghe lén mọi điều chúng ta nói," cô nói.

"Không. Chỉ là toàn bộ các cuộc điện thoại và trò chuyện trong

nhà và trong xe thôi. Chúng ta có thể thoải mái gặp nhau ở đây hay trong hầu hết các quán ăn, và ta cũng còn có hàng hiên nữa. Nhưng anh đề nghị chúng ta nên di chuyển ra xa hơn cánh cửa trượt. Để cho an toàn, chúng ta sẽ phải nấp sau phòng kho và thì thào với nhau."

"Anh lại muốn pha trò hay sao vậy? Em mong là không phải vậy. Bây giờ không phải lúc để đùa. Em đã quá sợ hãi, quá tức giận, quá hoang mang, chỉ muốn nổi điên nổi khùng và chẳng biết phải làm sao. Em đang sợ trò chuyện ngay trong chính ngôi nhà của mình. Em phải cân nhắc từng lời em nói trên điện thoại, cho dù đó chỉ là một cuộc gọi nhầm số. Mỗi lần chuông điện thoại reo là em lại nhảy dựng lên, đăm đăm nhìn vào nó. Thế mà anh lại còn pha trò."

"Em cần một ly rượu nữa."

"Em cần mười ly rượu thì có."

Mitch nắm cổ tay cô và xiết chặt. "Khoan đã. Anh thấy có một khuôn mặt quen quen. Đừng nhìn xung quanh."

Cô nín thở. "Ở đâu?"

"Ở phía bên kia quầy bar. Hãy cười lên rồi nhìn anh." Ngồi trên ghế quầy bar, dán mắt vào chiếc tivi là một gã tóc vàng, da ngăm, mặc chiếc áo len tay dài tay màu trắng-xanh. Một khách mới đến. Mitch đã từng thấy đâu đó tại Washington cái làn da ngăm, mái tóc xén ngang trán và bộ ria mép vàng này. Mitch ráo riết canh chừng hắn. Ánh sáng xanh từ ngọn đèn rọi sáng khuôn mặt hắn. Mitch nép vào bóng tối. Gã đàn ông nhấc một chai bia, lưỡng lự một lúc, và –

đây, đây rồi! – hắn bắn một tia nhìn về phía góc phòng, nơi vợ chồng McDeere đang ngồi ôm ấp nhau.

"Anh có chắc không?" Abby mím môi hỏi.

"Chắc. Hắn đã ở Washington, nhưng anh không nhớ đã gặp hắn nơi nào. Thật ra, anh đã thấy hắn đến những hai lần."

"Hắn có phải là một trong số họ không?"

"Làm sao anh biết được chứ?"

"Ta ra khỏi đây đi."

Mitch đặt một tờ hai mươi lên bàn rồi họ rời sân bay.

Lái chiếc Peugeot, anh băng qua bãi đậu ngắn hạn, trả tiền cho người gác rồi tăng tốc phóng đến trung tâm thành phố. Sau năm phút im lặng, cô nghiêng sang, thì thầm vào tai anh, "Mình nói chuyện được không?"

Anh lắc đầu. "Mấy hôm anh đi vắng thời tiết ở đây như thế nào?" Abby nheo mắt, nhìn qua cửa sổ xe. "Lạnh," cô nói. "Có khả năng đêm nay sẽ có tuyết nhẹ."

"Nguyên một tuần ở Washington nhiệt độ là dưới không."

Abby có vẻ sửng sốt trước tiết lộ này. "Có tuyết à?" cô hỏi rồi nhướn mày, trợn mắt lên như thể đang say sưa trò chuyện. "Không. Chỉ lạnh và ẩm thôi."

"Trùng hợp ghê! Ở đây lạnh, ở đó cũng lạnh."

Mitch khúc khích cười. Họ im lặng đi đến một đường vòng xuyên bang. "Đội nào sẽ thắng giải Super Bowl đây?" anh hỏi.

"Oilers."

"Em nghĩ vậy hả? Anh thì bắt Redskins. Ở Washington người ta chỉ toàn nói chuyện đó."

"Trời. Đó hẳn đó là một thành phố rất vui nhộn."

Thêm một khoảng lặng. Abby đặt mu bàn tay lên miệng và tập trung nhìn các đèn hậu ở phía trước. Trong khoảnh khắc hoang mang này, cô có thể liều lĩnh đến Tijuana. Chồng cô, người xếp thứ ba trong lớp ở Harvard - người được các hãng ở Wall Street trải thảm đỏ, người có thể đi bất cứ nơi đâu - đã ký kết với... mafia! Với năm cái xác luật sư giắt trong túi, họ chắc chắn không do dự với cái chết thứ sáu, cái chết của chồng cô! Và rồi, rất nhiều cuộc trò chuyện với Kay Quin chợt kéo đến quay cuồng trong đầu cô. Hãng khuyến khích sinh em bé. Hãng cho phép các bà vợ đi làm, nhưng không được mãi mãi. Hãng không thuê những người có tiền bạc của gia đình. Hãng đòi hỏi sự trung thành. Hãng có tỷ lệ người ra đi thấp nhất nước. Thảo nào.

Mitch chăm chú nhìn cô. Hai mươi phút sau khi họ rời sân bay, chiếc Peugeot đã đậu trong ga ra cạnh chiếc BMW. Họ cầm tay nhau bước đến cuối lối xe.

"Thật là điên rồ, Mitch."

"Phải, nhưng nó là thực. Và nó sẽ chẳng đi đâu hết."

"Ta phải làm gì đây?"

"Anh không biết, cưng ạ. Nhưng chúng ta phải làm nhanh lên, và chúng ta không được phạm sai lầm."

"Em sợ."

"Anh cũng thấy kinh hoàng."

Tarrance không chờ lâu. Một tuần sau khi vẫy tay chào tạm biệt Mitch tại Bức Tường, anh ta bắt gặp Mitch đang bước vội trong gió lạnh, đi về hướng tòa nhà liên bang ở North Main, cách tòa nhà Bendini khoảng tám dãy phố. Anh ta đi theo anh hai dãy phố rồi lách vào một quán cà phê nhỏ có những dãy cửa sổ nhìn ra đường, hay trung tâm mua sắm, như cách người ta gọi. Ở đường Main, Memphis, xe hơi bị cấm vào. Nhựa đường được thay bằng gạch khi đại lộ không còn là con đường nữa mà chuyển thành trung tâm mua sắm Mid-America. Thi thoảng vài gốc cây vô dụng mọc lên từ gạch lát, vươn những cành nhánh trơ trụi của chúng giữa các tòa nhà. Những gã nghiện rượu và những kẻ lang thang chốn đô thị vật vờ qua lại hết bên này đến bên kia khu mua sắm để xin tiền và thức ăn.

Tarrance ngồi ở cửa sổ trước, theo dõi từ xa, khi Mitch biến mất trong tòa nhà Liên bang. Anh gọi cà phê và bánh rán sô cô la. Anh nhìn đồng hồ. Lúc này là mười giờ sáng. Theo sổ ghi án, McDeere có một phiên điều trần ngắn tại Tòa Thuế vào giấc này. Nó sẽ chỉ rất ngắn, viên lục sự tại tòa thông báo như thế với Tarrance. Anh chờ.

Nhưng ở Tòa thì chẳng có việc gì là ngắn cả. Một giờ sau, Tarrance nhích khuôn mặt của anh đến gần cửa sổ hơn, dọ xét những hình hài tản mác đang rảo bước phía xa xa. Lần thứ ba, anh uống cạn tách cà phê rồi đặt hai đô la lên bàn và đứng nấp sau cánh

cửa. Khi Mitch tiến đến từ phía bên kia khu mua sắm, Tarrance di chuyển nhanh về phía anh. Mitch thấy anh, bèn đi chậm lại trong giây lát.

"Chào Mitch. Anh không thấy phiền nếu tôi đi bộ cùng anh chứ?"

"Có đấy, tôi thấy phiền, Tarrance ạ. Quá nguy hiểm. Anh không thấy vậy sao?"

Họ rảo bước, không nhìn nhau. "Thấy cửa hàng bên kia không?," Tarrance hỏi, trỏ sang phía bên phải. "Tôi cần mua đôi giày." Họ tạt vào tiệm giày Don Pang's House. Tarrance bước ra sau một dãy kê hẹp rồi dừng lại giữa hai dãy Reeboks nhái với giá 4,99 đô la mỗi đôi. Mitch đi theo anh và nhặt lên một đôi khổ hai mươi lăm. Don Pang và vài người Triều Tiên nghi ngại nhìn họ nhưng không nói năng gì. Họ dòm chừng cửa trước qua những kệ giày.

"Hôm qua ông Giám đốc gọi cho tôi," Tarrance thì thầm nói. "Ông ta hỏi thăm anh. Bảo rằng đã đến lúc anh quyết định."

"Nói với ông ta rằng tôi vẫn đang suy nghĩ."

"Anh có nói gì với mấy gã ở văn phòng không đấy?"

"Không, tôi chỉ đang suy nghĩ."

"Thế thì tốt. Tôi nghĩ anh không nên nói gì với họ." Anh ta trao cho Mitch một tờ danh thiếp. "Hãy giữ nó. Có hai con số ở mặt sau. Hãy dùng một trong hai con số đó ở điện thoại trả tiền. Anh sẽ được ghi âm nên chỉ cần để lại thông điệp và cho tôi biết chính xác khi nào và nơi nào tôi có thể gặp anh."

Mitch nhét tấm thẻ vào túi.

Bất chợt, Tarrance hơi hụp xuống.

"Chuyện gì vậy?" Mitch hỏi.

"Tôi nghĩ chúng ta đã bị bắt gặp. Tôi vừa nhìn thấy một tên ngáo đi qua cửa hiệu và nhìn vào. Nghe tôi nè, Mitch, và nghe thật kỹ vào. Hãy ra khỏi cửa tiệm cùng tôi ngay lập tức, và vừa khi ra khỏi cửa hãy la lớn và xô đẩy tôi. Tôi sẽ làm bộ như đang gây sự muốn đánh nhau, còn anh thì chạy về hướng văn phòng của anh."

"Anh giết tôi rồi, Tarrance."

"Cứ làm theo tôi nói. Ngay khi về đến văn phòng, hãy báo cáo ngay sự việc này cho các đối tác. Nói với họ tôi bắt liên lạc với anh và anh đã lập tức tránh xa."

Ra đến ngoài, Mitch xô mạnh hơn cả mức cần thiết, miệng hét lớn, "Tránh xa tôi ra! Để cho tôi yên!" Anh chạy hai dãy phố đến đại lộ Union, rồi bước vào tòa nhà Bendini. Anh dừng lại ở nhà vệ sinh nam ở tầng một để lấy hơi. Anh nhìn mình qua gương và hít thở sâu mười lần.

Avery đang nghe điện thoại với hai chiếc đèn nhấp nháy. Bà thư ký ngồi trên trường kỷ, cầm cuốn sổ tốc ký, sẵn sàng cho cơn lũ các mệnh lệnh. Mitch nhìn bà, nói, "Làm ơn hãy ra ngoài. Tôi cần nói chuyện riêng với ông Avery." Bà đứng dậy và Mitch tiễn bà ra cửa. Anh khép nó lại.

Avery nhìn anh chằm chặp rồi ngắt điện thoại. "Có chuyện gì vậy?" ông hỏi.

Mitch ra đứng cạnh trường kỷ. "FBI vừa tiếp cận tôi khi tôi đang

trên đường trở về từ Tòa Thuế."

"Chết tiệt! Là ai vậy?"

"Cũng cái gã đặc vụ đó. Cái gã tên là Tarrance ấy."

Avery nhấc điện thoại nhưng vẫn tiếp tục trao đổi. "Việc đó diễn ra ở đâu?"

"Ở khu mua sắm. Phía bắc đại lộ Union. Lúc đó tôi đang đi một mình, mải nghĩ ngợi về công việc."

"Có phải đây là lần tiếp xúc đầu tiên sau cái lần kia không?"

"Phải. Thoạt đầu tôi không nhận ra hắn."

Avery nói vào điện thoại. "Avery Tolar đây. Tôi cần nói chuyện ngay với Oliver Lambert... Tôi không quan tâm ông ta có bận nghe điện thoại hay không. Hãy cắt ngang ông ta, và hãy làm ngay di."

"Có chuyện gì vậy, Avery?" Mitch hỏi.

"Chào Oliver. Avery đây. Xin lỗi đã làm gián đoạn ông. Mitch Deere đang ở văn phòng tôi. Vài phút trước đây, anh ta đang trên đường trở về từ tòa nhà Liên bang thì bị một đặc vụ FBI tiếp cận tại khu mua sắm... Sao cơ? Vâng, anh ta mới vừa vào văn phòng của tôi và kể cho tôi nghe chuyện đó... Được rồi, năm phút nữa chúng tôi sẽ đến." Ông gác máy. "Thư giãn đi, Mitch. Chúng ta từng trải qua chuyện này rồi mà."

"Tôi biết, Avery, nhưng tôi chẳng hiểu gì cả. Tại sao họ lại dây vào tôi chứ? Tôi là người mới nhất trong hãng mà."

"Đó là quấy rối, Mitch ạ. Thuần túy và đơn giản là như thế. Chẳng gì khác hơn là quấy rối. Ngồi xuống đi."

Mitch bước đến cửa sổ và nhìn ra con sông ở xa xa. Avery là một gã nói dối trắng trợn. Nay đã đến lúc cho cái câu cửa miệng "họ đang muốn bắt nạt chúng ta." Thư giãn đi, Mitch. Thư giãn cái gì? Với tám đặc vụ FBI đang bám theo hãng và đích thân ông Giám đốc Denton Voyles đang giám sát hàng ngày? Thư giãn cái mẹ gì? Anh mới vừa bị bắt quả tang đang thì thầm với một đặc vụ FBI bên trong một tiệm giày nhái. Và giờ thì anh buộc phải hành xử như một con tốt ngây thơ đang bị các thế lực tà ác của chính quyền liên bang chọn làm mồi. Quấy rối cái gì? Thế thì cớ sao lại có cái gã ngáo kia bám đuôi anh trong chuyến đi bộ thường lệ đến Tòa? Trả lời câu đó đi, Avery.

"Anh sợ, đúng không?" Avery hỏi khi choàng tay qua anh và nhìn ra cửa sổ.

"Cũng không hẳn. Lần trước Locke đã có giải thích rồi. Tôi chỉ mong họ để cho tôi yên."

"Đó là một vấn đề quan trọng, Mitch. Đừng xem thường nó. Ta đi gặp Lambert thôi."

Mitch bước theo Avery bọc qua góc nhà, rồi đi xuôi theo hành lang. Một người lạ mặc đồ đen ra mở cửa cho họ rồi khép nó lại. Lambert, Nathan Locke và Royce McKnight đứng bên chiếc bàn họp nhỏ. Mitch ngồi xuống phía đối diện. Mắt Đen ngồi ở đầu bàn, nhìn Mitch chằm chặp. Ông ta nói cùng một cái chau mày đầy dọa nạt. Không có nụ cười nào trong căn phòng.

"Mitch, kể từ lần gặp đầu tiên hồi tháng Tám vừa qua, Tarrance

hay ai khác từ FBI có bắt liên lạc với anh không?"

"Không."

"Anh chắc chứ?"

Mitch đập bàn. "Chết tiệt! Tôi đã nói là không mà! Sao các ông không bắt tôi thề luôn đi?"

Locke hơi giật mình. Tất cả bọn họ đều giật mình. Tiếp theo đó là một sự im lặng nặng nề và căng thẳng kéo dài trong ba mươi giây. Mitch trừng trừng nhìn Mắt Đen. Ông ta khẽ lui lại theo một động tác tự nhiên của cái đầu.

Lambert - nhà ngoại giao, người hòa giải - quyết định can thiệp. "Coi nào, Mitch, chúng tôi biết điều đó rất đáng sợ."

"Nó đáng sợ chết đi được ấy chứ. Tôi không thích nó chút nào cả. Tôi đang mải lo công việc, lết cái mông cày bừa chín mươi giờ mỗi tuần, chỉ cố trở thành luật sư giỏi và thành viên của cái hãng này. Thế mà, chẳng hiểu vì lý do nào, tôi cứ nhận những cuộc viếng thăm nho nhỏ đó của FBI. Giờ thì, thưa các ông, tôi muốn nghe vài câu trả lời."

Locke nhấn một chiếc nút đỏ trên máy ghi âm. "Lát nữa chúng tôi sẽ nói chuyện đó. Trước tiên hãy kể cho chúng tôi mọi việc đã xảy ra."

"Rất đơn giản, thưa ông Locke. Tôi đi bộ đến tòa nhà Liên bang vào lúc mười giờ để trình diện trước thẩm phán Kofer về vụ Malcolm Delaney. Tôi ở đó khoảng một tiếng đồng hồ và làm xong công việc. Tôi rời tòa nhà Liên bang và đi bộ theo hướng trở về văn phòng. Xin

nói thêm là tôi đang đi vội. Bên ngoài là âm bảy độ. Tôi đi được chừng một hai dãy phố trên đại lộ Union thì gã Tarrance đó bỗng đâu xuất hiện. Hắn nắm tay tôi rồi đẩy tôi vào một cửa tiệm nhỏ. Tôi định đập cho hắn một trận tới bến nhưng, nói gì thì nói, hắn cũng là đặc vụ FBI, mà tôi thì cũng chả muốn làm ầm ĩ. Trong cửa tiệm, hắn nói hắn muốn nói chuyện với tôi trong chốc lát. Tôi xô hắn rồi chạy ra ngoài cửa. Hắn đi theo tôi, tìm cách níu tay tôi, nhưng tôi đẩy hắn ra. Rồi tôi chạy về đây, đi thẳng đến văn phòng của ông Avery, và rồi chúng ta đang ngồi đây. Tôi nói hết rồi đó. Từng chi tiết một, tất tần tật."

"Hắn muốn nói chuyện gì?"

"Tôi đâu đã nghe hắn nói, ông Locke. Tôi không có kế hoạch nói chuyện với một đặc vụ FBI trừ khi hắn có trát tòa."

"Anh có chắc đó là cùng tay đặc vụ đó không?"

"Tôi nghĩ là vậy. Thoạt đầu tôi không nhận ra hắn. Tôi đã không gặp hắn từ tháng Tám. Khi vào trong cửa tiệm, hắn móc ra cái huy hiệu rồi xưng tên với tôi một lần nữa. Đến nước đó thì tôi chạy."

Locke nhấn một chiếc nút khác và ngồi lại xuống ghế. Lambert ngồi sau ông, mỉm cười nồng ấm như muôn thuở. "Nghe này, Mitch, lần trước chúng tôi đã giải thích rồi. Mấy gã đó đang càng lúc càng táo tợn. Mới hồi tháng qua họ đã tiếp cận Jack Adrich trong khi anh ta dùng bữa trưa trong một quán nướng nhỏ trên đường Second. Chúng tôi không chắc lắm họ nói gì với nhau, nhưng Tarrance đã ra ngoài tâm trí của anh ta. Đó là quấy rối chứ chẳng là gì khác hơn."

Mitch nhìn đôi môi ông nhưng chỉ nghe rất ít. Trong lúc Lambert nói, anh chợt nghĩ đến Kozinski và Hodge cùng các quả phụ và những đứa bé xinh đẹp tại các lễ tang.

Mắt Đen hắng giọng. "Đó là một vấn đề nghiêm trọng, Mitch ạ. Nhưng chúng tôi không có điều gì để giấu giếm cả. Họ nên dành thời gian đi điều tra các thân chủ của chúng ta nếu họ nghi ngờ có điều gì đó phạm pháp. Chúng ta là luật sư. Có thể chúng ta đại diện cho những người hay đùa bỡn với pháp luật, nhưng chúng ta chẳng làm gì sai trái cả. Hành động đó gây rất nhiều trở ngại cho chúng ta."

Mitch mỉm cười, dang hai tay ra. "Các ông muốn tôi phải làm gì nào?" anh nói với vẻ chân thành.

"Anh chẳng làm gì được cả, Mitch," Lambert nói. "Chỉ cần anh tránh xa cái gã đó ra và hễ cứ thấy hắn là chạy. Nếu hắn để ý đến anh quá nhiều thì hãy báo cáo ngay."

"Thì anh ta đã làm đúng như vậy rồi mà," Avery bao che nói.

Mitch chưa bao giờ trông đáng thương như thế.

"Anh đi được rồi đó, Mitch," Lambert nói. "Nhớ thông báo cho chúng tôi đấy."

Anh đi một mình ra khỏi văn phòng.

DeVasher bước qua bước lại sau bàn làm việc của ông, không ngó ngàng đến các đối tác.

"Hắn nói dối, tôi bảo các anh như thế đấy. Hắn nói dối. Thằng chó đẻ đó đang nói dối. Tôi biết hắn nói dối mà."

"Người của anh thấy gì?" Locke hỏi.

"Người của tôi thấy một câu chuyện khác. Hơi khác một chút nhưng lại là rất khác. Anh ta nói McDeere và Tarrance bước vào trong tiệm giày, ra vẻ như hờ hững. Chẳng có màn lôi kéo nào cả, hoàn toàn không có. Anh ta nói Tarrance bước vào trước. Chúng nói chuyện với nhau, cả hai ra vẻ như chúi mũi vào mấy cái kệ. Người của tôi nói chúng biến mất sau cửa tiệm. Chúng ở đó khoảng ba hoặc bốn phút. Rồi một người khác của tôi tiến đến cửa tiệm, nhìn vào bên trong và chẳng thấy gì cả. Hiển nhiên chúng đã nhận ra người của tôi, bởi lẽ chỉ sau vài giây chúng đã chạy ào ra khỏi cửa tiệm, McDeere thì xô đẩy và la hét. Có gì đó không đúng, tôi nói cho các anh biết."

"Có phải Tarrance đã nắm tay hắn, ép hắn vào cửa tiệm?" Nathan hỏi chậm, cố mạch lạc.

"Làm gì có. Và đó mới là vấn đề. McDeere tự ý bước vào, và nếu hắn nói gã kia nắm tay hắn thì ấy là hắn nói dối. Người của tôi nghĩ rằng chúng sẽ còn ở đó một lúc nữa nếu như không phát hiện ra chúng tôi."

"Nhưng anh đâu có chắc điều đó," Nathan Locke nói.

"Khốn kiếp, đúng là tôi không chắc. Chúng đâu có mời tôi vào cửa tiệm."

DeVasher tiếp tục bước qua bước lại trong khi các luật sư nhìn xuống sàn. Ông mở một hộp Roi-Tan rồi nhét điếu xì gà vào cái miệng to béo. Cuối cùng, Oliver Lambert lên tiếng, "Coi nào,

DeVasher, rất có thể McGeere nói thật và người của anh đã hiểu sai các tín hiệu. Tôi nghĩ McDeere chẳng lừa dối gì đâu."

DeVasher càu nhàu rồi bỏ qua.

"Từ hồi tháng Tám, anh có thấy liên lạc nào không?" Royce McKnight hỏi.

"Chúng tôi không thấy liên lạc nào cả, nhưng điều đó đâu có nghĩa chúng không nói chuyện với nhau, đúng không nào? Chúng ta đã từng chẳng hay biết gì về hai gã kia cho đến khi xém nữa đã là quá muộn. Không cách chi dõi theo từng di chuyển của chúng. Không cách chi." Ông bước qua bước lại dọc chiếc tủ búp-phê, rõ ràng đang suy nghĩ rất lung. "Để tôi sẽ nói chuyện với hắn vậy." cuối cùng ông nói.

"Với ai cơ?"

"McDeere. Đã đến lúc tôi và hắn phải có một cuộc trò chuyện nhỏ."

"Về việc gì?" Lambert bồn chồn hỏi.

"Cứ để tôi lo, được chứ? Chỉ cần các anh tránh đường ra."

"Tôi nghĩ làm vậy là hơi quá sớm," Locke nói.

"Tôi đếch quan tâm các anh nghĩ gì. Nếu mấy gã hề các anh mà phụ trách an ninh, thì cả đám các anh hẳn đã xộ khám từ lâu rồi."

Mitch khép cửa, ngồi trong văn phòng của anh, nhìn các bức tường. Một cơn đau đầu hình thành ở đáy sọ và anh cảm thấy buồn nôn. Có tiếng gõ cửa.

"Vào đi," anh nhỏ nhẹ nói.

Avery ló đầu vào rồi bước đến bàn làm việc. "Ăn trưa nhé?"

"Không, cảm ơn. Tôi không đói."

Vị đối tác đút tay vào túi quần, cười ấm áp. "Coi nào, Mitch, tôi biết anh đang lo lắng. Ta xả hơi chút đi. Tôi phải xuống khu thương mại để dự họp. Ta gặp nhau tại Câu lạc bộ Manhattan vào lúc một giờ nhé? Chúng ta sẽ có một bữa trưa kéo dài, tha hồ mà tán phét. Tôi đã đặt chiếc limo cho anh. Tôi sẽ chờ bên ngoài vào lúc một giờ kém mười lăm."

Mitch cố nở một nụ cười yếu ớt, như thể anh cảm động. "Tất nhiên, Avery. Sao lại không?."

"Tốt. Gặp anh lúc một giờ đấy nhé."

Lúc một giờ kém mười lăm, Mitch mở cửa trước và đi bộ đến chiếc limo. Người tài xế mở cửa và Mitch ngồi phịch vào. Có một người đi cùng đang chờ sẵn anh. Đó là một gã đàn ông to béo, hói đầu với cần cổ to bạnh. Ông ta ngồi huênh hoang ở một góc của băng ghế sau.

Ông chìa một tay ra. "Tôi tên là DeVasher. Rất vui được gặp anh, Mitch."

"Tôi có vào đúng chiếc limo không vậy?" Mitch hỏi.

"Dĩ nhiên. Dĩ nhiên. Thư giãn đi." Người tài xế de xe ra khỏi lề.

"Tôi có thể giúp gì cho ông?" Mitch hỏi.

"Anh có thể lắng nghe một lúc. Chúng ta cần một cuộc trò chuyện nhỏ." Người tài xế rẽ sang đường Riverside Drive rồi đâm thẳng đến cầu Hernando De Soto.

"Chúng ta đi đâu vậy?" Mitch hỏi.

"Đi dạo một chút. Thư giãn thôi mà, con trai."

Thôi rồi, mình là người thứ sáu, Mitch nghĩ. Đúng vậy. Mà không, khoan đã. Họ sáng tạo hơn thế nhiều, đâu phải chỉ biết có giết chóc.

"Mitch, tôi gọi anh là Mitch có được không?"

"Dĩ nhiên."

"Tốt. Mitch này, tôi là người phụ trách an ninh của hãng, và.."

"Tại sao hãng lại cần an ninh?"

"Hãy cứ lắng nghe đi, con trai, rồi tôi sẽ giải thích. Hãng có một chương trình an ninh rộng lớn nhờ công lao của lão Bendini. Lão là một gã cuồng tín về an ninh và bí mật. Công việc của tôi là bảo vệ hãng và, thẳng thắn mà nói, chúng tôi rất quan tâm đến cái hành động này của FBI."

"Tôi cũng vậy."

"Chúng tôi tin rằng FBI đã quyết tâm xâm nhập vào hãng với hy vọng thu thập được thông tin về một số thân chủ."

"Những thân chủ nào?"

"Vài tay chơi lớn với những lá chắn thuế đáng ngờ."

Mitch gật đầu rồi nhìn ra con sông bên dưới. Lúc này họ đang ở Arkansas, với Memphis dần nhạt nhòa ở đường chân trời phía sau. DeVasher ngưng trò chuyện. Ông ngồi như một con cóc, hai tay khoanh lại trước bụng. Mitch chờ đợi cho đến khi anh nhận ra rằng những khoảng lặng và sự im ắng lúng túng hình như chẳng hề tác động đến DeVasher. Vượt qua con sông nhiều cây số, người tài xế

rời đường xuyên bang, đi vào một con đường quê gập ghềnh, đánh một vòng rồi trở lại phía đông. Anh ta rẽ vào một con đường trải sỏi, đi một cây số rưỡi qua những cánh đồng đậu nành ven sông. Memphis chợt hiện ra trở lại phía bên kia dòng nước.

"Chúng ta đi đâu?" Mitch hỏi với đôi chút hốt hoảng.

"Thư giãn đi. Tôi muốn cho anh xem thứ này."

Nấm mộ, Mitch nghĩ. Chiếc limo dừng lại ở một vách đá cao ba mươi mét trên doi cát ven sông. Đường chân trời lừng lững ở phía bên kia. Có thể thấy được nóc của tòa nhà Bendini.

"Ta đi bộ một chút nhé," DeVasher nói.

"Đi đâu?"

"Coi nào. Không sao đâu mà." DeVasher mở cánh cửa bên phía ông ta rồi bước đến đuôi xe. Mitch chầm chậm đi theo ông.

"Như tôi nói, Mitch, chúng tôi rất e ngại cuộc liên lạc này với FBI. Nếu anh nói chuyện với họ, họ sẽ táo tợn hơn, và rồi ai biết được mấy gã ngốc đó sẽ giở trò gì. Anh nhất định không được nói chuyện với họ nữa, không bao giờ. Hiểu chưa?"

"Hiểu. Tôi đã hiểu ngay từ lần gặp đầu tiên hồi tháng Tám."

Bất thình lình, DeVasher quay sang anh, mặt đối mặt. Ông mỉm cười đầy nham hiểm. "Tôi có thứ này có thể giữ cho anh luôn trung thực." Ông thọt tay vào chiếc áo khoác thể thao, rút ra một phong bì màu kem.

"Xem qua đi." ông ta nói với một nụ cười nhếch mép trước khi bước ra xa.

Mitch tựa vào chiếc limo, nóng nảy mở phong bì. Có bốn tấm ảnh trắng đen rất rõ nét, khổ hai-mươi nhân hai-mươi-lăm. Trên bãi biển. Cô gái.

"Ôi Chúa ơi! Ai chụp chúng vậy?" Mitch hét lên.

"Chuyện đó thì có gì là quan trọng? Đó là anh, đúng không?" Không còn nghi ngờ việc đó là ai. Anh xé các tấm ảnh ra từng mảnh nhỏ, ném chúng về phía DeVasher.

"Chúng tôi có cả xấp ở văn phòng," DeVasher điềm tĩnh nói. "Nguyên cả xấp. Chúng tôi không muốn sử dụng chúng nhưng nếu có một cuộc trò chuyện nhỏ với ông Tarrance hay một gã cớm nào khác, chúng tôi sẽ gửi chúng cho vợ anh. Anh có thích vậy không, Mitch? Hãy hình dung cô vợ bé bỏng xinh đẹp của anh đi ra hộp thư để lấy cuốn Redbook và các tờ quảng cáo của cô ta, rồi nhìn thấy chiếc phong bì lạ gửi đến cho mình. Nghĩ về chuyện đó đi, Mitch. Lần sau, nếu anh và Tarrance quyết định đi mua sắm giày cao su thì hãy nhớ đến chúng tôi nhé, Mitch. Bởi lẽ chúng tôi sẽ theo dõi anh đấy."

"Ai đã biết về những tấm ảnh này?" Mitch hỏi.

"Tôi và người chụp ảnh, và bây giờ lại thêm anh. Trong hãng không ai biết cả, và tôi cũng không định cho họ biết. Nhưng nếu anh lại giở trò thì tôi đoán họ sẽ chuyền tay nhau xem chúng vào bữa trưa. Tôi chơi rắn lắm đấy, Mitch."

Anh dựa lên cốp xe, chà xát hai thái dương.

DeVasher bước đến cạnh anh. "Nghe này, con trai. Anh là một

người trẻ tuổi sáng láng và anh đang trên đường đi đến cả núi tiền. Đừng làm cho mọi chuyện hỏng bét. Hãy làm việc siêng năng vào, hãy chơi game, mua xe mới, xây nhà to hơn, sắm sửa này nọ. Giống như tất cả những gã khác ấy. Đừng có mà giở trò làm anh hùng. Tôi không muốn dùng đến mấy tấm ảnh này đâu đấy."

"Được rồi, được rồi."

21

Trong suốt mười bảy ngày và mười bảy đêm, cuộc sống đầy sóng gió của Mitch và Abby McDeere đã diễn ra yên bình, không có sự quấy nhiễu của Wayne Tarrance hay bất kỳ đồng nghiệp liên bang nào của anh ta. Những nề nếp bình thường đã trở lại. Mitch làm việc mười tám giờ mỗi ngày, tất cả mọi ngày trong tuần, và không bao giờ rời văn phòng vì bất cứ lý do nào, ngoại trừ việc lái xe về nhà. Bữa trưa diễn ra tại bàn làm việc. Avery cử những cộng sự khác chạy việc vặt, chuyển hồ sơ hay xuất hiện trên tòa. Mitch hiếm khi rời khỏi văn phòng của anh, cái chốn nương thân rộng mười-lăm nhân mười-lăm mét, nơi anh biết chắc Tarrance sẽ không thể nào vươn tới. Nếu có thể, anh tránh xa các hành lang, các phòng vệ sinh nam và phòng cà phê. Họ đang theo dõi, anh biết chắc điều đó. Anh chỉ không chắc lắm họ là ai. Nhưng, không nghi ngờ gì nữa, đang có nguyên một đám những gã cực kỳ quan tâm đến mọi di chuyển của anh. Thế nên anh đóng đô ở bàn làm việc với cánh cửa khép kín trong phần lớn thời gian. Anh cày cuốc một cách cần mẫn, ghi hóa đơn như điên cuồng, cố quên đi rằng tòa nhà này có cái tầng năm,

và trên cái tầng năm đó có cái gã lùn con hoang tên là DeVasher đang nắm giữ bộ sưu tập những tấm ảnh có thể hủy diệt anh.

Mỗi một ngày không sự kiện, Mitch càng rút sâu thêm vào cái chốn nương thân ấy, hy vọng rằng tấn tuồng cuối trong tiệm giày Triều Tiên đã dọa được Tarrance, hay biết đâu sẽ khiến anh ta bị sa thải. Voyles biết đâu sẽ chẳng đơn giản quên đi toàn bộ chiến dịch này? Và Mitch sẽ có thể đi tiếp con đường hạnh phúc và giàu sang của anh, sẽ trở thành đối tác, và sẽ mua tất tần tật những gì anh trông thấy. Nhưng anh biết sự thể không phải vậy.

Với Abby, ngôi nhà đã trở thành một phòng giam, mặc dù cô có thể đi và về tùy ý. Cô làm việc nhiều hơn ở trường học, dành nhiều thời gian hơn để đi dạo ở khu mua sắm, và ghé tiệm tạp hóa ít nhất một lần mỗi ngày. Cô dọ xét tất cả mọi người, đặc biệt là những gã đàn ông mặc suit sẫm đang nhìn cô. Cô đeo kính râm để họ không nhìn được mắt cô. Cô đeo nó cả khi trời mưa. Vào đêm muộn, sau những bữa tối một mình đợi chồng đi làm về, cô đăm đăm nhìn vào những bức tường, cố kháng cự sự cám dỗ của việc điều tra. Điện thoại thì có thể xem xét được qua kính lúp. Các sợi dây và micro cũng không thể nào tàng hình, cô tự nhủ. Nhiều hơn một lần, cô đã nghĩ đến việc tìm mua một cuốn sách nói về những loại thiết bị này để cô có thể tìm ra chúng. Nhưng Mitch đã nói không. Chúng đang ở trong nhà, anh quả quyết nói với cô, và mọi nỗ lực để tìm ra chúng đều sẽ dẫn đến những hậu quả khốc liệt.

Cho nên cô im lặng rảo bước trong ngôi nhà của mình, cảm thấy sự xâm phạm và biết rằng điều đó sẽ không sớm kết thúc. Cả hai vợ

chồng đều hiểu tầm quan trọng của việc phải tỏ ra như bình thường, nói năng như bình thường. Họ cố xoáy vào những câu chuyện bình thường về những diễn tiến trong ngày, về văn phòng, về các em học sinh, về thời tiết, về điều này điều nọ. Nhưng các cuộc trò chuyện của họ rỗng tuếch, thường xuyên là miễn cưỡng và không bao giờ thoải mái. Hồi Mitch còn ở trường luật, chuyện làm tình diễn ra thường xuyên và dữ dội. Giờ thì nó hầu như không tồn tại. Có ai đó đang lắng nghe.

Đi tản bộ lúc nửa đêm quanh khu nhà trở thành một thói quen. Sau một phần sandwich nhanh hàng đêm, họ nhắc nhau những điều đã trở thành lệ về nhu cầu tập thể dục rồi kéo nhau ra đường. Họ nắm tay nhau bước đi trong giá lạnh, nói về hãng, về FBI, về cách nào để xoay trở. Và họ luôn trở về với cùng một kết luận: Không có cách chi để thoát ra. Không cách chi. Mười bảy ngày và mười bảy đêm.

Ngày thứ mười tám mở ra một xoay chuyển mới. Mitch kiệt quệ vào lúc 9 giờ tối và quyết định ra về. Anh đã cần cù làm việc không ngưng nghỉ trong suốt mười lăm tiếng rưỡi với hai trăm phần trăm công suất. Như thường lệ, anh bước qua hành lang ở tầng hai, rồi leo tiếp cầu thang lên tầng ba. Làm mặt tỉnh, anh kiểm tra từng văn phòng để biết người nào còn làm việc. Tầng ba không có ai. Anh theo cầu thang lên tầng bốn, đi qua hành lang rộng vuông vắn như thể đang tìm kiếm chi đó. Tất cả các ngọn đèn đều tắt ngoại trừ một ngọn duy nhất. Royce McKnight đang làm việc muộn. Mitch lướt nhanh qua văn phòng của ông mà không bị nhìn thấy. Cửa phòng

của Avery đã đóng. Mitch xoay tay nắm cửa. Nó bị khóa. Anh bước đến thư viện cuối hành lang, tìm một cuốn sách mà anh không hề cần đến. Sau hai tuần nhởn nhơ dọ thám lúc đêm muộn, anh không thấy có chiếc camera mạch kín nào phía trên các hành lang hay văn phòng.

Họ chỉ nghe thôi, anh kết luận. Họ không thấy.

Anh chào tạm biệt Dutch Hendrix tại cổng trước rồi lái xe về nhà. Abby không chờ đợi anh về nhà sớm như vậy. Anh lặng lẽ mở cửa nhà xe rồi lách vào bếp. Anh bật công tắc đèn. Cô đang trong phòng ngủ. Giữa bếp và phòng làm việc riêng có một sảnh nhỏ với chiếc bàn xếp, nơi Abby đặt những thư từ hàng ngày. Anh nhẹ nhàng đặt chiếc cặp lên bàn và... thấy nó. Một chiếc phong bì lớn màu nâu ghi bằng bút dạ đen gửi đến Abby McDeere. Không có thông tin người gửi. Viết nguệch ngoạc trên phong bì bằng những từ đen sậm là dòng chữ: CÁC TẤM ẢNH – ĐỪNG CHỆCH CHOẠC. Thoạt tiên, trái tim anh ngừng đập, và rồi anh ngưng thở. Anh chộp lấy chiếc phong bì. Nó đã được mở sẵn.

Một làn mồ hôi dày tuôn dọc theo trán anh. Miệng anh khô khốc và anh không nuốt được nước miếng. Trái tim anh đập trở lại cùng với cơn thịnh nộ của một chiếc búa tạ. Anh thở nặng và khó nhọc. Anh cảm thấy buồn nôn. Chầm chậm, anh lui khỏi chiếc bàn, tay vẫn cầm phong bì. Cô đang ở trên giường, anh nghĩ. Đang đau khổ, buồn nôn, suy sụp, điên tiết đến khốn khổ khốn nạn. Anh chùi trán, cố lấy lại bình tĩnh. Hãy hành xử như một người đàn ông, anh tự

nhủ.

Cô đang nằm đọc sách ở trên giường với chiếc tivi không tắt. Con chó đã ở ngoài sân. Mitch mở cửa phòng ngủ, và Abby hoảng hốt bật dậy. Xém nữa cô đã hét vào kẻ đột nhập, nhưng kịp nhận ra anh. "Anh làm em hết hồn, Mitch!"

Mắt cô ánh lên vì sợ hãi, và sau đó là thích thú. Chúng không ngấn nước mắt, chúng trông ổn, trông bình thường. Không đau khổ. Không giận dữ. Anh không nói nên lời.

"Sao anh lại về?" cô hỏi khi ngồi dậy trên giường, lúc này đã mỉm cười.

Cười ư? "Vì anh sống ở đây," anh yếu ớt nói.

"Sao anh không gọi về?"

"Anh phải gọi điện trước khi về nhà của anh sao?" Hơi thở của anh hầu như đã bình thường trở lại. Cô ấy ổn!

"Gọi về vẫn hay hơn chứ. Lại đây hôn em đi."

Anh trao cho cô chiếc phong bì. "Cái gì đây?" anh hờ hững hỏi. "Em biết đâu đấy. Nó gửi cho em, nhưng bên trong chẳng có gì cả. Rỗng tuếch. Cô gập cuốn sách lại, đặt nó lên chiếc bàn đầu giường.

Rỗng tuếch! Anh mỉm cười với cô rồi hôn cô lần nữa. "Em đang đợi ai gửi ảnh hả?" anh hỏi với vẻ hoàn toàn ngờ nghệch.

"Không phải là người nào em quen. Hẳn là có nhầm lẫn."

Anh hầu như có thể nghe DeVasher đang cười ở tầng năm ngay chính vào lúc này. Lão con hoang béo phị đang đứng dậy ở đâu đó trong một căn phòng tối đầy dây nhợ và máy móc với chiếc tai nghe

căng cứng bao quanh cái đầu bự chảng như trái banh bowling, và lão đang cười rũ rượi.

"Lạ thật," Mitch nói. Abby xỏ chiếc quần Jeans rồi trỏ ra sân sau, Mitch gật đầu. Tín hiệu là rất đơn giản, chỉ một cú trỏ nhanh hay một cú hất đầu về phía hàng hiên. Mitch đặt chiếc phong bì lên bàn xếp và trong một khoảnh khắc đã chạm vào những chữ nguệch ngoạc ghi trên đó. Có lẽ là chữ viết của DeVasher. Anh hầu như nghe thấy tiếng lão cười. Các tấm ảnh có lẽ đã được chuyền tay nhau trong bữa trưa tại phòng ăn của các đối tác. Anh hầu như nhìn thấy Lambert và McKnight, và thậm chí cả Avery đang trố mắt chiêm ngưỡng bên tách cà phê và món tráng miệng.

Cứ để cho mấy người thưởng thức những tấm ảnh đó đi, chết tiệt. Cứ để cho mấy người tận hưởng vài tháng còn lại trong cái sự nghiệp luật sư tươi sáng, giàu có và hạnh phúc của mấy người đi. Abby đi qua, và anh nắm lấy tay cô.

"Bữa tối có gì?" anh hỏi để thỏa mãn những kẻ lắng nghe.

"Sao ta không đi ăn ngoài nhỉ? Chúng ta sẽ ăn mừng việc anh về nhà vào giờ giấc đàng hoàng."

Họ đi qua phòng làm việc. "Ý hay đấy." Mitch nói. Họ lách ra cửa hậu, băng qua hàng hiên rồi bước vào bóng tối.

"Gì vậy?" Mitch hỏi.

"Hôm nay anh có thư của Doris. Chị ấy bảo đang ở Nashville, nhưng sẽ trở lại Memphis vào ngày hai mươi bảy tháng Hai. Chị ấy nói cần gặp anh. Nói chuyện này rất quan trọng. Lá thư chỉ ngắn có

vậy thôi."

"Ngày hai mươi bảy! Đó đã là ngày hôm qua."

"Em biết. Em nghĩ chị ấy đã ở trong thành phố. Em chỉ thắc mắc không biết chị ấy muốn gì"

"Còn anh thì thắc mắc không biết cô ấy đang ở đâu."

"Chị ấy nói chồng chị đã có việc làm tại đây, trong thành phố này."

"Tốt. Cô ấy sẽ tìm đến chúng ta," Mitch nói.

Nathan Locke khép cửa văn phòng của ông rồi trỏ ngón tay mời DeVasher ngồi vào chiếc bàn họp nhỏ gần cửa sổ. Hai gã đàn ông thù ghét nhau và không hề có nỗ lực nào để hòa giải. Nhưng công việc là công việc, và họ đều nhận lệnh từ cùng một người.

"Lazarov muốn tôi nói chuyện với anh, chỉ riêng anh thôi," DeVasher nói. "Hai ngày qua tôi đã ở bên ông ta tại Vegas, và ông ta rất lo lắng. Tất cả bọn họ đều lo lắng, Locke a, và ông ta tin anh hơn bất kỳ ai khác quanh đây. Ông ta thích anh còn hơn cả tôi nữa đấy."

"Điều đó cũng dễ hiểu mà," Locke nói với một nụ cười. Những quầng đen quanh đôi mắt ông ta chợt hẹp lại rồi xoáy vào DeVasher. "Có vài chuyện ông ta muốn chúng ta phải thảo luận."

"Tôi nghe đây."

"McDeere đang nói dối. Anh biết Lazarov khoe khoang như thế nào về việc cài được chân rết vào FBI rồi đó. Phải, tôi chưa bao giờ tin ông ta và hiện vẫn không tin trong phần lớn các vụ việc. Nhưng

theo lời Lazarov thì cái nguồn tin nhỏ của ông ta đã cho ông ta biết về một cuộc gặp bí mật với sự góp mặt của McDeere và vài tay nặng ký của FBI khi thằng nhóc của các anh ở Washington mãi từ hồi tháng Một. Chúng tôi đã ở đó, và người của chúng tôi chẳng trông thấy gì cả, nhưng cũng không thể nào theo dấu ai đó suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày mà không bị phát giác. Có khả năng hắn đã xổng ra được một lúc mà chúng tôi không hay biết."

"Anh có tin chuyện đó không?"

"Tôi tin hay không không quan trọng. Quan trọng là Lazarov tin, và đó mới là vấn đề. Ông ta bảo tôi bằng mọi giá phải lên kế hoạch trước để... Ờ... để chăm sóc hắn."

"Chết tiệt, DeVasher! Chúng tôi không thể nào cứ liên tục khử người như thế."

"Chỉ là lên kế hoạch từ trước thôi, có gì là nghiêm trọng đâu. Tôi đã nói với Lazarov việc đó là quá sớm và đó có thể là một sai lầm. Nhưng bọn họ rất lo lắng, Locke ạ."

"Chuyện đó không thể tiếp diễn, DeVasher. Ý tôi là, khốn kiếp, chúng tôi còn phải nghĩ đến thanh danh nữa chứ. Chúng tôi có tỷ lệ tử vong còn cao hơn ở các dàn khoan nữa đó. Người ta sẽ bắt đầu bàn tán. Chúng tôi sẽ đi đến một điểm mà không một sinh viên luật có đầu óc tỉnh táo nào lại muốn nhận việc ở nơi đây."

"Tôi nghĩ anh không cần phải bận tâm việc đó đâu. Lazarov đã đóng băng việc tuyển dụng. Ông ta bảo tôi báo cho anh biết. Ông ta cũng muốn biết có bao nhiêu cộng sự vẫn còn mù mờ."

"Năm người, tôi nghĩ vậy. Để tính xem nhé, Lynch, Sorrell, Buntin, Myers và McDeere."

"Bỏ McDeere sang bên đi. Lazarov tin rằng hắn biết nhiều hơn chúng ta nghĩ. Anh chắc bốn tay kia không biết gì cả chứ?"

Locke suy nghĩ một lúc rồi lẩm bẩm. "Chúng tôi chưa nói gì với họ. Người của anh đang nghe ngóng và theo dõi đúng không? Họ nghe được gì nào?"

"Từ bốn gã đó thì chẳng nghe được gì cả. Anh sa thải chúng được không?"

"Sa thải họ? Họ là những luật sư đó, DeVasher. Anh không thể sa thải luật sư được. Họ là những thành viên trung thành của hãng đó!"

"Hãng đang thay đổi, Locke ạ. Lazarov muốn sa thải những ai không biết gì và đình chỉ việc thuê mướn luật sư mới. Rõ ràng đám Fibbie đã thay đổi chiến lược của chúng, và đã đến lúc chúng ta cũng phải thay đổi. Lazarov muốn xiết lại đội ngũ và bịt các rò rỉ. Chúng ta không thể nào cứ ngồi đó mà chờ chúng gom người của chúng ta."

"Sa thải họ," Locke bàng hoàng lặp lại. "Hãng này chưa từng bao giờ sa thải luật sư."

"Cảm động thật đó, Locke. 'Chúng tôi chỉ thanh toán có năm người chứ chưa bao giờ sa thải một ai cả.' Tốt ghê. Tôi gợi ý anh nên sa thải cả bốn đứa nó cùng một lúc. Bảo chúng rằng các anh đang bị mất một tài khoản lớn nên buộc phải cắt giảm."

"Chúng tôi có thân chủ chứ không phải tài khoản."

"Được thôi. Thân chủ lớn nhất của anh đang bảo anh sa thải Lynch, Sorrell, Buntin và Myers đó. Giờ thì hãy lên kế hoạch đi."

"Làm sao chúng tôi có thể sa thải bốn người đó mà lại không sa thải McDeere?"

"Anh sẽ nghĩ ra cách gì đó, Nat. Anh có một tháng đấy. Dẹp chúng đi và đừng thuê thêm thằng nhóc mới nào nữa. Lazarov muốn có một đơn vị nhỏ gọn, nơi mà mọi người đều đáng tin. Ông ta sợ, Nat ạ. Sợ mà lại còn nổi điên nữa chứ. Tôi chẳng cần nói anh cũng biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu mấy cậu nhóc của các anh phun hết ra."

"Không, anh không cần phải nói. Vậy ông ta định làm gì với McDeere?"

"Ngay hiện tại thì chẳng làm gì cả, vẫn như cũ. Chúng tôi đang nghe ngóng hai mươi bốn trên hai mươi bốn và thằng nhóc vẫn chưa bao giờ hé miệng một lời nào với con vợ của hắn hay ai khác. Không một lời nào! Hắn đã hai lần bị Tarrance tiếp cận, cho nên chúng tôi đã rất thận trọng. Nhưng Lazarov lại khăng khăng đã có một cuộc gặp bí mật ở Washington. Ông ta đang tìm cách xác nhận. Ông ta nói các nguồn tin của ông ta chỉ biết được chút ít, nhưng họ đang đào bới. Nếu quả thật McDeere đã gặp đám Fibbie trên đó và không báo cáo về chuyện này thì tôi chắc chắn Lazarov sẽ chỉ thị cho tôi hành động nhanh để thanh toán McDeere."

"Anh đã có kế hoạch nào cho việc đó chưa?"

"Còn quá sớm. Tôi chưa dành cho nó nhiều thời gian để suy

nghĩ."

"Anh biết rồi đấy, hắn và vợ sẽ đi nghỉ ở Cayman trong hai tuần nữa. Họ sẽ ở tại một trong các căn hộ chung cư của chúng tôi, như thường lệ."

"Chúng tôi không thể làm thêm một lần nữa tại nơi đó. Quá khả nghi. Lazarov dặn tôi làm sao để con bé đó dính bầu."

"Vợ của McDeere ấy à?"

"Chính thế. Ông ta muốn chúng có em bé, một đòn bẫy nho nhỏ. Con bé đang uống thuốc ngừa thai cho nên chúng tôi sẽ phải đột nhập vào, mang đi cái hộp be bé của nó, lấy thuốc ra rồi thay nó bằng giả dược."

Nghe đến đó, đôi mắt đen lớn hơi đượm buồn trong thoáng chốc rồi nhìn ra cửa sổ. "Chuyện quái gì thế này, DeVasher?" ông nhỏ nhẹ hỏi.

"Nơi này sắp phải thay đổi, Nat ạ. Có vẻ như đám đặc vụ liên bang đã trở nên cực kỳ quan tâm và chúng đang moi móc. Một ngày nào đó, ai biết được, một trong các cậu nhóc của các anh sẽ cắn câu, và tất cả các anh sẽ phải rời thành phố lúc nửa đêm."

"Tôi không tin chuyện đó đâu, DeVasher. Phải là ngu ngốc lắm một luật sư nơi đây mới liều mạng sống của mình và gia đình chỉ vì một vài lời hứa của đám đặc vụ liên bang. Tôi không thể nào tin chuyện đó. Những gã nhóc đó quá thông minh và chúng đang kiếm ra quá nhiều tiền."

"Tôi mong là anh đúng."

22

Người môi giới cho thuê đứng dựa vào vách sau buồng thang máy, ngắm chiếc váy da ngắn màu đen từ phía sau. Ông dõi theo nó xuống đầu gối, nơi nó kết thúc rồi được tiếp nối bằng đường xẻ của đôi vớ lụa màu đen ôm xuống các gót chân. Những gót chân đỏng đảnh với những chiếc nơ đỏ be bé ở bên kia các ngón. Ông chầm chậm trở lại với đường xẻ, rà qua chiếc váy da, dừng lại để chiêm ngưỡng sự tròn trịa của cặp mông, rồi từ đó đi tiếp lên chiếc áo len bằng vải cashmere đỏ. Từ vị trí của ông thì không thấy được gì nhiều, nhưng nhìn từ phía bên kia thì nó rất ấn tượng, như ông đã nhận ra ở hành lang. Mái tóc rũ xuống dưới bả vai tương phản tuyệt vời với sắc đỏ. Ông cũng biết nó được nhuộm vàng đấy, nhưng cộng hết cái việc nhuộm vàng đó với chiếc váy da mini, những đường xẻ, những gót chân đỏng đảnh và chiếc áo len bó sát, trộn tất cả lại với nhau, ông biết đó là người phụ nữ mà ông có thể có. Ông muốn có cô trong tòa nhà. Cô thì chỉ muốn một văn phòng nhỏ. Việc thuê mướn là có thể thương lượng.

Thang máy dừng lại. Cửa mở ra và ông đi theo cô vào một hành

lang hẹp. "Đi lối này," ông trỏ ngón tay rồi bật công tắc đèn. Tại một góc, ông đi vượt qua cô và nhét chìa khóa vào một cánh cửa gỗ cũ kỹ.

"Đây là hai phòng," ông nói khi bật một công tắc khác. "Hơn mười tám mét vuông."

Cô bước thẳng đến cửa sổ. "Cảnh quan thì ổn," Tammy nói, hướng mắt nhìn ra xa.

"Vâng, cảnh quan rất đẹp. Chiếc thảm là mới.Tường vừa sơn phết lại vào mùa thu vừa rồi. Nhà vệ sinh ở cuối hành lang. Đây là một nơi đẹp. Trong tám năm qua, toàn bộ ngôi nhà đã được sửa chữa lại." Ông nhìn những đường xẻ trong khi nói.

"Không tệ," Tammy nói, không hàm ý tất cả những gì ông nhắc đến. Cô tiếp tục nhìn ra cửa sổ. "Tên nơi này là gì vậy?"

"Tòa nhà Cotton Exchage. Một trong những tòa nhà cổ nhất ở Memphis. Đây thực sự là một địa chỉ danh giá."

"Tiền thuê thì danh giá đến mức nào?"

Ông hắng giọng rồi chìa tập hồ sơ ra phía trước. Ông không nhìn tập hồ sơ. Ông đang mải há hốc trước các gót chân. "Vâng, đó là một văn phòng hơi nhỏ. Ban nãy cô nói cô dùng nó làm gì nhỉ?"

"Công việc thư ký. Thư ký tự do." Cô phớt lờ ông, di chuyển đến cửa sổ thứ hai. Ông đi theo từng chuyển động.

"Tôi hiểu. Cô cần nó trong bao lâu?"

"Sáu tháng, có thể đến một năm."

"Được thôi, sáu tháng thì chúng tôi có thể cho thuê với giá ba

trăm năm mươi mỗi tháng."

Cô không do dự, không rời mắt khỏi cửa sổ. Cô trượt chân phải khỏi chiếc giày rồi cạ nó vào bắp chân trái. Ông quan sát thấy đường xẻ đi tiếp trên gót chân và chạy dọc theo bàn chân. Móng chân... màu đỏ! Cô hất mông sang trái, tựa vào bậu cửa sổ. Tập hồ sơ trên tay ông run rẩy.

"Tôi trả hai năm mươi mỗi tháng," cô nói đầy quyền uy.

Ông hắng giọng. Tham lam chẳng được gì. Những căn phòng tí tẹo là những không gian chết, chẳng ích gì cho ai, và chúng đã bị bỏ trống suốt nhiều năm qua. Tòa nhà có thể sử dụng một thư ký tự do. Trời ạ, ông thậm chí có thể sử dụng một thư ký tự do.

"Ba trăm, không thể ít hơn. Tòa nhà này rất đắt hàng. Ngay bây giờ tỷ lệ đầy phòng đã là chín mươi phần trăm. Ba trăm một tháng, mức đó đã là quá thấp rồi. Với giá đó, chúng tôi chỉ vừa đủ trang trải chi phí."

Cô đột ngột quay lại và... ông nghẹn giọng, không thể nói nên lời. Cô nhìn ông không chớp mắt. Chiếc áo len đã hớp hết hồn vía. "Quảng cáo nói có những văn phòng trang bị sẵn nội thất," cô nói.

"Chúng tôi có thể trang bị cho căn này," ông nói, háo hức với triển vọng hợp tác. "Cô cần gì?"

Cô nhìn quanh văn phòng. "Tôi muốn có một bàn thư ký với một tủ búp-phê ở đây. Nhiều kệ hồ sơ. Vài chiếc ghế cho khách hàng. Không cần thứ gì hào nhoáng cả. Căn phòng kia không cần phải trang bị. Tôi sẽ bố trí một máy photocopy ở đó."

"Không có vấn đề gì," ông nói với một nụ cười. "Tôi sẽ trả ba trăm một tháng, có trang bị."

"Tốt," ông nói khi mở hồ sơ và rút ra một bản hợp đồng cho thuê. Ông đặt nó lên chiếc bàn xếp và bắt đầu viết.

"Tên của cô?"

"Doris Greenwood." Mẹ của cô mới là Doris Greenwood, còn cô là Tammy Inez Greenwood trước khi cô chạy theo Buster Hemphill, người sau này trở thành Elvis Aaron Hemphill (một cách hợp pháp), và cuộc sống đã tụt dốc rất nhiều kể từ đó. Mẹ của cô sống ở Effingham, Illinois.

"Được rồi, Doris," ông nói trong một nỗ lực cố tỏ ra ngọt ngào, như thể họ nay đã thân quen và càng lúc càng gần gũi nhau hơn. "Địa chỉ nhà?"

"Ông cần địa nhà chỉ để làm gì?" cô gắt gỏng hỏi.

"Vâng thì... Chúng tôi cần thông tin đó.

"Đó không phải là việc của ông."

"Được rồi, được rồi. Không sao cả." Ông cuống quýt gạch xóa cái phần này trong bản hợp đồng. Ông chờn vờn phía trên nó. "Để xem nào. Chúng ta sẽ bắt đầu từ hôm nay, ngày 2 tháng Ba, trong sáu tháng, cho đến ngày 2 tháng Chín. Vậy được chưa?"

Cô gật đầu rồi châm thuốc.

Ông đọc sang đoạn kế tiếp. "Xong, chúng tôi cần khoản cọc ba trăm đô la và tiền thuê trả trước tháng đầu tiên."

Từ túi chiếc váy da bó sát màu đen, cô móc ra một cuộn tiền. Cô

đếm sáu tờ một trăm đô la rồi đặt nó lên bàn. "Cho tôi hóa đơn." cô yêu cầu.

"Dĩ nhiên." Ông tiếp tục viết.

"Chúng ta đang ở tầng mấy vậy?" cô hỏi, quay nhìn ra cửa sổ.

"Chín. Có khoản phạt mười phần trăm nếu vượt quá ngày mười lăm mỗi tháng. Chúng tôi được quyền vào kiểm tra vào bất cứ thời gian nào hợp lý. Các phòng không được sử dụng cho mục đích bất hợp pháp. Cô trả toàn bộ tiện ích và bảo hiểm cho những món đồ bên trong. Cô có một không gian đậu xe ở bãi đậu bên kia đường, và đây là hai chìa khóa. Còn câu hỏi nào không?"

"Còn. Nếu tôi làm lố giờ thì sao? Ý tôi là rất trễ vào buổi tối ấy."

"Không có vấn đề gì. Cô có thể đến hay đi tùy ý. Khi trời tối, nhân viên an ninh ở cửa ra đường Front sẽ để cô qua."

Tammy nhét điếu thuốc vào giữa đôi môi nhớp rồi bước đến chiếc bàn. Cô ngập ngừng rồi ký tên: Doris Greenwood.

Họ khóa cửa và ông chu đáo đi theo cô xuôi theo hành lang ra thang máy.

Trưa hôm sau, những món nội thất lạ lùng được giao đến và Doris Greenwood của công ty Greenwood Services sắp chiếc máy đánh chữ thuê và chiếc điện thoại thuê bên cạnh nhau trên chiếc bàn thư ký. Ngồi đối diện máy đánh chữ, cô có thể nhìn hé ra cửa sổ bên trái và quan sát giao thông trên đường Front. Cô nạp giấy đánh máy, sổ ghi chép, bút chì, và các thứ linh tinh vào đầy các ngăn kéo. Cô đặt các tờ tạp chí lên kệ hồ sơ và trên chiếc bàn nhỏ giữa hai chiếc ghế,

nơi khách hàng của cô sẽ ngồi.

Có tiếng gõ cửa. "Ai đó?" cô hỏi.

"Máy photocopy của cô," một giọng nói đáp lại.

Cô vặn khóa rồi mở cửa ra. Một người đàn ông thấp bé và siêu năng động tên là Gordy xộc vào. Ông ta dáo dác nhìn quanh căn phòng rồi xấc xược nói. "Được rồi, cô muốn đặt nó ở đâu?"

"Trong kia," Tammy nói, trỏ vào căn phòng nhỏ hai-mét-rưỡi nhân ba-mét, không có cánh cửa nào trên bản lề. Hai người trẻ tuổi mặc đồng phục xanh đẩy và kéo chiếc thùng các tông chứa máy photocopy.

Gordy đặt giấy tờ lên bàn. "Một chiếc máy quá mạnh cho một nơi như thế này. Nó sao y được chín mươi tờ mỗi phút đấy. Có cả gạt giấy lẫn khay tự động. Một chiếc máy lớn đấy!"

"Tôi ký vào đâu đây?" cô hỏi, bỏ ngoài tai những lời bình luận. Ông ta trỏ bằng cây bút. "Sáu tháng, với giá hai trăm bốn mươi mỗi tháng, bao gồm các dịch vụ và bảo trì, cộng thêm với năm trăm tờ giấy cho hai tháng đầu. Cô muốn khổ pháp lý hay khổ thư?"

"Pháp lý."

"Thanh toán lần đầu vào ngày mười, rồi cùng ngày đó cho năm tháng kế tiếp. Hướng dẫn sử dụng ở trên máng. Nếu có thắc mắc gì thì hãy gọi tôi."

Hai nhân viên dịch vụ trố mắt nhìn chiếc quần Jeans mài mòn và những gót giày đỏ. Họ chậm chạp rời văn phòng. Gordy xé rời bản sao màu vàng, trao nó lại cho cô. "Cảm ơn đã thuê dịch vụ," ông ta

nói.

Cô khóa cửa khi họ đi khỏi rồi bước đến cửa sổ gần bàn làm việc và nhìn lên hướng bắc, dọc theo đường Front. Đi lên hai dãy phố phía đối diện, từ đó có thể nhìn thấy tầng bốn và tầng năm của tòa nhà Bendini.

Anh lẩn tránh mọi người, chúi mũi vào các cuốn sách và hàng đống giấy tờ. Anh quá bận rộn để tiếp xúc với ai, ngoại trừ Lamar ra. Anh ý thức rất rõ việc rúc sâu của anh sẽ không qua mắt được họ. Cho nên anh làm việc chăm chỉ hơn. Có thể họ sẽ không nghi ngờ nếu anh ghi hóa đơn hai mươi giờ mỗi ngày. Có thể tiền bạc sẽ giúp cách ly anh.

Nina để lại một hộp pizza nguội khi bà ra ngoài dùng bữa trưa. Anh ăn nó trong khi dọn dẹp bàn. Anh gọi cho Abby. Anh nói anh chuẩn bị thăm Ray và sẽ trở về Memphis vào tối muộn ngày Chủ nhật. Anh lách qua cửa hông rồi đi vào bãi đậu.

Trong ba tiếng rưỡi, anh phóng xe trên đường Xuyên bang 40, mắt dán vào gương chiếu hậu. Không ai cả. Anh không thấy họ. Có lẽ họ chỉ gọi đến trước rồi chờ anh đâu đó ở trên đấy. Tại Nashville, anh bứt phá đột ngột, lái vào khu thương mại. Sử dụng chiếc bản đồ mà anh ghi chi chít, anh phóng ra phóng vào luồng giao thông, tạo ra những cú ngoặt hình chữ U bất cứ nơi đâu có thể, và nói chung là phóng xe như điên dại. Ở phía nam thành phố, anh rẽ nhanh vào một khu căn hộ rộng lớn rồi lái chầm chậm giữa các tòa nhà. Khu căn hộ khá ổn. Các bãi đậu sạch sẽ và các mặt tiền đều được sơn

trắng. Toàn bộ. Anh đậu xe gần văn phòng rồi khóa chiếc BMW. Chiếc điện thoại trả tiền cạnh hồ bơi phủ bạt vẫn hoạt động. Anh gọi taxi, cho địa chỉ ở cách đó hai dãy phố. Anh chạy bộ giữa các tòa nhà, xuống một con đường hông, và đến nơi chính xác cùng lúc với chiếc taxi. "Ga xe buýt Greyhound," anh nói với người tài xế. "Và tôi đang rất vội. Tôi chỉ có mười phút thôi."

"Thoải mái đi, anh bạn. Nó chỉ ở cách đây có sáu dãy phố thôi mà." Mitch hụp xuống trên băng ghế sau, quan sát giao thông. Người tài xế lái chầm chậm đầy tự tin và bảy phút sau đã dừng lại trước ga xe buýt. Mitch vứt lên ghế hai tờ năm đô la rồi lao ra ga. Anh hỏi mua vé một chiều trên xe buýt 430 đi Atlanta. Lúc này là bốn giờ ba mươi mốt, theo như chiếc đồng hồ treo tường. Bà bán vé trỏ vào cánh cửa xoay. "Xe buýt số 454 sắp lên đường." bà nói.

Người tài xế đóng sập cửa hành lý, cầm vé của Mitch rồi đi theo anh lên xe buýt. Ba dãy đầu chứa đầy những ông bà cụ da đen. Thêm một chục hành khách khác ngồi rải rác phía sau. Mitch bước chầm chậm dọc lối đi, nhìn vào từng khuôn mặt và không thấy ai quen. Anh lấy một chỗ gần cửa sổ ở dãy thứ tư tính từ đuôi lên. Anh đeo vào cặp kính mát rồi nhìn ra sau. Không ai cả. Chết tiệt! Hay là nhầm xe buýt? Anh nhìn qua khung cửa sổ tối đen khi chiếc xe buýt di chuyển nhanh vào luồng giao thông. Nó sẽ dừng lại ở Knoxville. Có lẽ người liên lạc với anh sẽ ở đó.

Khi ra đến cao tốc xuyên bang, và khi người tài xế đã đạt đến tốc độ đường trường của ông ta, một người đàn ông mặc quần Jeans xanh, áo sơ mi vải màn chợt xuất hiện và ngồi xuống cạnh Mitch. Đó

là Tarrance. Mitch thấy dễ thở hơn.

"Nãy giờ anh ở đâu?" Mitch hỏi.

"Ở phòng vệ sinh. Anh cắt đuôi chúng được chưa?" Tarrance hạ giọng, dõi mắt nhìn sau gáy các hành khách. Không có ai nghe ngóng. Và cũng chẳng ai nghe được.

"Tôi chưa từng thấy họ, Tarrance ạ. Cho nên tôi không thể nói đã cắt đuôi được họ chưa. Nhưng tôi nghĩ lần này họ phải là siêu nhân thì mới lần ra tôi được."

"Anh có thấy người của chúng tôi ở gần nhà ga không?"

"Có. Cạnh chiếc điện thoại trả tiền, đội nón lưỡi trai Falcons. Một gã da đen."

"Chính là anh ta. Nếu anh bị bám đuôi thì anh ta đã ra hiệu rồi."

"Anh ta đã ra hiệu cho tôi đi tiếp."

Tarrance đeo cặp kính mát phản quang gọng bạc dưới chiếc nón lưỡi trai màu lục của đội bóng bầu dục bang Michigan. Mitch có thể ngửi thấy mùi thơm của kẹo cao su Juicy Fruit.

"Có vẻ như hết đồng phục rồi phải không?" Mitch nói mà không cười. "Voyles cho phép các anh ăn mặc như thế này à?"

"Tôi quên chưa xin phép ông ta. Sáng mai tôi sẽ xin phép."

"Sáng Chủ nhật ấy à?" Mitch hỏi.

"Dĩ nhiên. Ông ta sẽ muốn biết tất tật về chuyến dạo chơi bằng xe buýt này. Tôi đã trao đổi với ông ta nguyên một giờ đồng hồ trước khi rời thành phố."

"Thôi được, chuyện nào trước nói trước. Xe của tôi sao đây?"

"Chúng tôi sẽ lượm nó trong vài phút nữa và bồng nó về cho anh. Lúc anh cần đến nó, nó sẽ ở Knoxville. Đừng lo."

"Anh nghĩ họ không truy dấu được chúng ta sao?"

"Không cách chi. Chẳng có ai bám đuôi anh khi anh rời Memphis, và chúng tôi không dò thấy gì cả ở Nashville. Anh tinh tươm như một tờ giấy trắng."

"Hãy thứ lỗi cho sự lo lắng của tôi. Nhưng sau cái lần thất bại ở cái tiệm giày đó, tôi biết đám các anh không thể vượt lên trên sự ngu ngốc."

"Đó là một sai lầm, được chưa? Chúng tôi."

"Một sai lầm chà bá có thể đưa tôi vào danh sách bị thủ tiêu."

"Anh chống chế tốt đấy. Chuyện đó sẽ không diễn ra lần nữa."

"Hứa với tôi đi, Tarrance. Hãy hứa với tôi sẽ không còn ai tiếp cận tôi nơi công cộng nữa."

Tarrance nhìn dọc lối đi rồi gật đầu.

"Không, Tarrance. Tôi cần nghe từ chính miệng của anh. Hứa đi!"

"Được rồi, được rồi. Nó sẽ không diễn ra lần nữa. Tôi hứa đấy."

"Cảm ơn. Có lẽ giờ đây tôi có thể đi ăn uống ở nhà hàng mà không sợ bị tóm."

"Chúng tôi biết ý anh rồi."

Một ông cụ da đen chống gậy nhích dần đến chỗ họ, mỉm cười rồi đi qua. Cửa phòng vệ sinh sập lại. Chiếc Greyhound leo sang làn bên

trái, vượt qua những người lái xe tuân thủ luật.

Tarrance lật giở một tờ tạp chí. Mitch dán mắt vào khung cảnh đồng quê. Ông cụ chống gậy đã giải quyết xong công việc của ông ta và loạng choạng trở về chỗ ngồi ở dãy đầu.

"Vậy điều gì đưa anh đến đây?" Tarrance hỏi, lật giở tiếp các trang giấy.

"Tôi không ưa máy bay. Cái tôi luôn đi là xe buýt."

"Hiểu rồi. Anh muốn bắt đầu từ đâu nào?"

"Voyles nói anh có một kế hoạch tác chiến."

"Tôi có chứ. Tôi chỉ cần một tiền đạo mà thôi."

"Tiền đạo giỏi thì mắc tiền lắm đấy."

"Chúng tôi có tiền."

"Nó khủng hơn rất nhiều so với suy nghĩ của anh đấy. Theo như tôi hình dung, tôi đang vứt đi bốn mươi năm sự nghiệp luật sư để đổi lấy, cứ cho trung bình là nửa triệu mỗi năm đi."

"Đó là hai mươi triệu đô lận đó."

"Tôi biết chứ. Nhưng chúng ta có thể thương lượng."

"Nghe êm tai đấy. Anh đang giả định anh làm việc - hay hành nghề, như cách các anh vẫn nói - trong bốn mươi năm. Đó là một giả định rất bấp bênh. Nói vui thôi nhé, hãy giả định rằng trong năm năm chúng tôi sẽ xóa sổ được cái hãng đó, sẽ truy tố anh cùng tất cả các bồ tèo của anh, và đạt được việc kết án, còn anh thì xộ khám mất vài năm. Họ chẳng giữ anh lâu đâu vì anh là loại cổ cồn trắng, nhưng dĩ nhiên anh đã nghe về các trại cải tạo liên bang và biết

chúng tốt đẹp như thế nào rồi đó. Dù gì đi nữa, anh sẽ bị tước giấy phép, mất nhà, mất chiếc BMW be bé của anh. Biết đâu cả vợ của anh nữa. Khi anh ra tù, anh chỉ có thể mở một dịch vụ thám tử tư giống như ông bạn già Lomax của anh thôi. Đó là một công việc dễ, trừ khi anh đánh hơi nhầm quần lót."

"Tôi nói rồi. Việc đó phải thương lượng."

"Được thôi, ta thương lượng nào. Anh muốn bao nhiêu?"

"Cho việc gì cơ chứ?"

Tarrance đóng tờ tạp chí lại, đặt nó lên ghế rồi mở một cuốn sách dày loại bìa mỏng. Anh vờ vĩnh như đang đọc. Mitch nói từ khóe miệng, đôi mắt nhìn vào giữa.

"Hỏi rất hay," Tarrance nhỏ nhẹ nói, chỉ vừa vặn lớn hơn tiếng rì rầm của chiếc động cơ diesel. "Chúng tôi muốn gì ở anh ấy à? Một câu hỏi hay. Thứ nhất, anh phải từ bỏ sự nghiệp luật sư của anh đi. Anh phải tiết lộ các bí mật và sổ sách thuộc về các thân chủ của các anh. Điều này dĩ nhiên sẽ đủ để tống khứ anh ra khỏi luật sư đoàn, nhưng việc đó xem ra cũng chẳng còn quan trọng nữa. Anh và tôi phải thỏa thuận với nhau rằng anh sẽ trao cái hãng đó cho chúng tôi trên một chiếc đĩa bạc. Một khi đã đạt thỏa thuận, nếu như chúng ta thỏa thuận được, tất cả những chuyện còn lại sẽ đâu vào đấy. Thứ hai, và cũng là quan trọng nhất, anh sẽ trao cho tôi đủ tài liệu để khởi tố mọi thành viên của hãng và phần lớn những gã chóp bu của gia đình Morolto. Các sổ sách đều nằm trong cái tòa nhà nhỏ trên đường Front."

"Sao anh biết chuyện đó?"

Tarrance mỉm cười. "Vì chúng tôi đã chi cả tỷ đô la để chiến đấu với tội ác có tổ chức. Vì chúng tôi đã lần theo đám Morolto từ hai mươi năm qua. Vì chúng tôi có những nguồn tin từ nội bộ gia đình đó. Vì Hodge và Kozinski đang sắp nói thì đã bị sát hại. Đừng bán đứng chúng tôi, Mitch."

"Và anh nghĩ tôi có thể đưa thông tin ra ngoài?"

"Đúng vậy, luật sư. Anh có thể dựng một vụ từ bên trong, làm cho hãng sụp đổ và phá banh một trong những gia đình tội ác lớn nhất nước. Anh có thể giúp chúng tôi lột trần hãng. Văn phòng của ai nằm ở đâu? Tên của tất cả các thư ký, lục sự, trợ lý. Ai làm việc với hồ sơ nào? Ai có thân chủ nào? Dây chuyền chỉ huy ra sao? Ai đang ở tầng năm? Có gì ở trên đó? Sổ sách được cất giữ ở đâu? Liệu có một khu vực lưu trữ trung tâm hay không? Bao nhiêu đã được nhập máy tính? Bao nhiêu nằm trong vi phim? Và quan trọng nhất là anh phải đưa được những thứ ấy ra ngoài và trao cho chúng tôi. Một khi chúng tôi có lý lẽ vững chắc, chúng tôi sẽ xông vào trong với cả một đội quân nhỏ và thu giữ tất cả mọi thứ. Nhưng đó là một bước đi dài khủng khiếp. Chúng tôi phải có những bằng chứng chặt chẽ và vững chắc thì mới có thể xông vào với trát khám xét."

"Và đó là tất cả những gì anh muốn?"

"Chưa hết. Anh sẽ phải tuyên thệ và khai báo chống lại tất cả các bồ tèo của anh tại những phiên tòa xét xử họ. Có thể sẽ mất nhiều năm đấy."

Mitch hít một hơi sâu rồi nhắm mắt lại. Chiếc xe buýt đi chậm lại phía sau một đám rước những ngôi nhà di động đang tách đôi. Màn đêm đang kéo đến, và, từng chiếc từng chiếc một, những chiếc xe ở làn phía tây lần lượt bật đèn pha. Tuyên thệ tại tòa! Anh đã không nghĩ đến điều này. Với hàng triệu đô la chi cho các luật sư hình sự giỏi nhất, các phiên tòa có thể lê lết đến bất tận.

Tarrance lúc này bắt đầu đọc cuốn bìa mềm, một cuốn sách của Louis LAmour. Anh chỉnh lại ánh sáng đèn đọc bên trên họ, cứ như thể anh là một hành khách đích thực trên một chuyến đi đích thực. Sau năm mươi cây số không chuyện trò, Mitch tháo kính mát ra, nhìn Tarrance.

"Điều gì sẽ xảy đến với tôi?"

"Anh sẽ có hàng đống tiền xứng đáng với công sức của anh. Nếu anh quan tâm đến đạo đức, anh có thể tự soi gương mỗi ngày. Anh có thể sống ở bất cứ nơi đâu trong nước, với một danh tính mới, dĩ nhiên. Chúng tôi sẽ tìm cho anh một việc làm, sửa chiếc mũi cho anh, làm tất cả những gì anh muốn, thật đấy."

Mitch cố giữ đôi mắt hướng ra đường, nhưng không tài nào. Anh chằm chặp nhìn Tarrance. "Đạo đức cái gì? Đừng nhắc từ đó với tôi lần nào nữa, Tarrance. Tôi là một nạn nhân vô tội, anh biết điều đó mà."

Tarrance làu bàu cùng một nụ cười nhoẻn ranh ma như quỷ sứ. Họ ngồi trong im lặng thêm vài cây số nữa.

"Vợ tôi thì sao?"

"Ừ thì anh có thể giữ được cô ta."

"Vui nhỉ?"

"Xin lỗi nhé. Cô ta sẽ có được tất cả những gì cô ta muốn. Cô ta biết nhiều cỡ nào?"

"Mọi chuyện." Anh chợt nhớ đến cô gái ngoài bãi biển. "Hầu như mọi chuyện."

"Chúng tôi sẽ tìm cho cô ta một công việc chính phủ béo bở tại Cơ quan An sinh Xã hội hay ở bất cứ nơi đâu anh và cô ta muốn. Không tệ lắm đâu, Mitch."

"Điều đó sẽ là tuyệt vời cho đến một thời điểm nào đó trong tương lai, khi một người trong số các anh mở cái miệng của hắn ta, tuồn ra thứ gì đó cho bọn xấu, và anh sẽ đọc thấy tên tôi và vợ tôi ở trên báo. Bọn tội phạm chúng không bao giờ quên đâu, Tarrance. Chúng nhớ dai như đỉa ấy. Và chúng giữ bí mật tốt hơn phe các anh. Các anh đã để mất người, cho nên đừng có chối chuyện đó."

"Tôi có chối đâu. Và tôi cũng phải thừa nhận với anh rằng chúng có thể rất sáng tạo khi quyết định phải giết ai."

"Cảm ơn. Vậy tôi đang đi đâu đây?"

"Tùy anh thôi. Ngay lúc này chúng tôi có khoảng hai ngàn nhân chứng trên khắp đất nước với những cái tên mới, nhà mới và công việc mới. Canh bạc đang nghiêng hẳn về phía có lợi cho anh đấy."

"Vậy là tôi phải đánh bạc à?"

"Đúng. Anh hoặc là cầm tiền rồi ù té chạy, hoặc là chơi trò đại luật sư và đánh cược rằng chúng tôi không bao giờ xâm nhập được."

"Lựa chọn cái kiểu quái gì vậy hả, Tarrance?"

"Nó là thế đấy. Và tôi mừng rằng đó là lựa chọn của anh chứ không phải của chúng tôi."

Bà lão đi cùng ông cụ da đen chống gậy yếu ớt đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bắt đầu lê bước về phía họ. Bà nắm từng chiếc ghế dọc lối đi và nhích dần xuống. Tarrance ngả về phía Mitch khi bà đi qua. Anh không dám nói khi có người lạ ở gần. Bà cụ ít nhất đã chín mươi tuổi, đi đứng khó khăn, có thể là thất học, và có lẽ cũng chẳng mấy quan tâm đến cái việc nín thở của Tarrance. Nhưng Tarrance đã lập tức nín thinh.

Mười lăm phút sau, cửa phòng vệ sinh bật mở, làm thoát ra cái âm thanh ùng ục khi nước cuộn xuống hố xí của chiếc Greenhound. Bà cụ lê bước về dãy ghế trước và ngồi lại vào chỗ của bà.

"Jack Aldrich là ai vậy?" Mitch hỏi. Anh nghi ngờ anh chàng này là nội gián của FBI và, từ khóe mắt, anh quan sát phản ứng của Tarrance. Tarrance ngước đầu lên, nhìn qua cuốn sách rồi nhìn vào chiếc ghế phía trước anh.

"Cái tên nghe quen quen. Tôi không nhớ người này."

Mitch hướng ánh mắt của anh trở về lại cửa sổ. Anh ta đã lúng túng. Đôi mắt của anh ta đã nhíu lại quá nhanh trước khi trả lời. Mitch quan sát luồng giao thông về hướng tây.

"Đó là ai vậy?" cuối cùng Tarrance hỏi.

"Anh không biết anh ta?"

"Tôi mà biết thì đâu có hỏi đó là ai."

"Anh ta là thành viên của hãng chúng tôi. Anh chắc chắn phải biết điều đó, Tarrance."

"Thành phố có cả đống luật sư. Tôi đoán anh quen biết tất cả bọn họ."

"Tôi chỉ biết những người ở Bendini, Lambert & Locke, cái hãng luật nhỏ xíu và yên ắng mà đám các anh đã dò la từ suốt bảy năm qua. Aldrich là người đã ở đó sáu năm. Họ cho rằng anh ta bị FBI tiếp cận vài tháng trước đây. Đúng hay sai?"

"Tuyệt đối sai. Ai nói với anh chuyện đó?"

"Điều đó không quan trọng. Chỉ là một tin đồn lan truyền bên trong hãng."

"Đó là dối trá. Kể từ tháng Tám chúng tôi đã không trò chuyện với bất cứ ai, trừ anh ra. Tôi thề với anh đấy. Và chúng tôi cũng không có kế hoạch trò chuyện với ai ngoài anh ra, dĩ nhiên trừ phi anh từ chối và chúng tôi buộc phải đi tìm một triển vọng khác."

"Các anh chưa bao giờ nói chuyện với Aldrich?"

"Tôi đã nói vậy rồi mà."

Mitch gật đầu rồi nhặt lên một cuốn tạp chí. Họ ngồi trong im lặng suốt nửa giờ. Tarrance từ bỏ cuốn tiểu thuyết của anh, và cuối cùng lên tiếng, "Này, Mitch, chúng ta sẽ đến Knoxville trong khoảng một giờ nữa. Chúng ta cần đạt được thỏa thuận nếu chúng ta hướng đến nó. Sáng mai Giám đốc Voyles sẽ đưa ra hàng ngàn câu hỏi."

"Bao nhiêu tiền?"

"Nửa triệu đô."

Mọi luật sư giỏi đều biết cần phải bác bỏ khoản chào đầu tiên. Luôn luôn là như thế. Anh đã từng thấy Avery há hốc miệng vì sốc, và cái đầu của ông thì lắc lia lắc lịa khi tỏ ý khinh bỉ và không thể tin nổi cái khoản chào đầu tiên, cho dù nó hợp lý cách mấy. Hai bên đã chào qua chào lại rồi lại thương thảo tiếp. Nhưng khoản chào đầu tiên thì chắc chắn phải bị bác. Cho nên, bằng cách lắc đầu và mỉm cười nhìn ra cửa sổ như thể đã biết trước như thế, Mitch đã nói không với nửa triệu đô.

"Bộ tôi nói điều gì buồn cười lắm hay sao?" Tarrance, người không phải là luật sư và không phải là nhà thương thuyết, cất tiếng hỏi.

"Thật là nực cười, Tarrance. Anh không thể kỳ vọng tôi bước ra khỏi cái mỏ vàng chỉ vì nửa triệu đô. Trừ đi thuế, tôi giỏi lắm chỉ còn được có ba trăm ngàn."

"Còn nếu như chúng tôi dẹp tiệm cái mỏ vàng đó rồi gửi toàn bộ đám lẽo lự mê hàng Gucci các anh vào tù thì sao?"

"Nếu. Nếu. Nếu. Nếu anh biết nhiều như thế thì tại sao anh không làm gì đi? Voyles nói đám các anh chỉ rình rập và chờ đợi suốt bảy năm trời. Giỏi quá đấy, Tarrance. Có phải anh luôn lanh lẹn như thế không?"

"Có muốn thách không đấy, McDeere? Cứ cho là chúng tôi mất thêm năm năm nữa đi, được chứ? Sau năm năm, chúng tôi sẽ dẹp tiệm cái ổ lưu manh đó và hốt anh vào khám. Đến khi đó, nhanh hay chậm có còn khác biệt gì nữa không? Kết quả cũng như nhau thôi, Mitch."

"Xin lỗi nhé, tôi nghĩ chúng ta đang thương lượng chứ không phải dọa dẫm."

"Tôi đã cho anh một lời chào rồi đó thôi."

"Lời chào của anh quá thấp. Anh kỳ vọng tôi giúp anh có hàng trăm cáo trạng chống lại một nhóm những tên tội phạm nhớp nhúa nhất nước Mỹ, một việc khiến tôi dễ dàng phải trả giá bằng tính mạng. Thế mà anh lại chào tôi một cục bèo. Ba triệu là ít nhất."

Tarrance không giật mình mà cũng chẳng cau mày. Anh vừa nhận một lời chào ngược từ một tay chơi poker giỏi với khuôn mặt tỉnh khô. Và Mitch, nhà thương thảo, biết rằng con số đó vẫn nằm trong dự liệu.

"Đó là rất nhiều tiền," Tarrance nói, hầu như với chính mình. "Chúng tôi chưa bao giờ trả nhiều đến thế."

"Nhưng các anh trả được, đúng không?"

"Tôi ngờ lắm. Tôi sẽ nói chuyện với Giám đốc."

"Giám đốc! Tôi tưởng anh có toàn quyền trong vụ này mà. Chẳng lẽ chúng ta cứ phải chạy qua chạy lại chỗ ông Giám đốc cho đến khi đạt thỏa thuận?"

"Anh còn muốn gì khác nữa không?"

"Trong đầu tôi còn có vài thứ nữa, nhưng chúng ta không thảo luận về chúng chừng nào chuyện tiền bạc vẫn chưa xong."

Ông cụ chống gậy có vẻ như bị yếu thận. Ông đứng dậy và khởi đầu chuyến đi lẩy bẩy đến đuôi xe buýt. Tarrance lại đang đọc sách, Mitch lại đang lật giở cuốn tạp chí cũ Field & Stream.

Chiếc Greyhound rời đường xuyên bang ở Knoxville vào tám giờ thiếu hai phút. Tarrance dịch sát hơn và thì thào, "Đi cửa trước ra khỏi nhà ga. Anh sẽ thấy một anh chàng mặc bộ đồ thể thao màu cam của Đại học Tennesse đứng bên cạnh chiếc Bronco. Anh ta sẽ nhận ra anh và gọi anh là Jeffrey. Hãy bắt tay anh ta như thể anh là bạn bè biệt tích lâu năm. Rồi hãy leo lên chiếc Bronco. Nó sẽ đưa anh đến chiếc xe của anh."

"Nó đang ở đâu?" Mitch thì thào.

"Sau một ký túc xá ở học khu."

"Họ đã kiểm tra việc gài bọ chưa?"

"Tôi nghĩ là rồi. Hãy hỏi anh chàng trong chiếc Brondo. Nếu chúng bám theo anh lúc ở Memphis thì giờ đây có thể chúng đang nghi ngờ đấy. Anh phải lái đến Cookeville. Nó ở cách khoảng một trăm năm mươi cây số phía bên này của Nashville. Có một Holiday Inn ở đó. Hãy ngủ qua đêm, rồi đi thăm anh trai của anh vào ngày mai. Chúng tôi cũng sẽ dòm chừng. Nếu mọi thứ trông có vẻ u ám thì tôi sẽ tìm đến anh vào sáng thứ Hai."

"Chuyến đi dạo xe buýt kế tiếp là khi nào?"

"Sinh nhật vợ anh là vào ngày thứ Ba. Hãy đặt bàn vào lúc tám giờ tối tại Grissantis, cái nhà hàng Ý trên đường Airways ấy. Chính xác vào lúc chín giờ, hãy ra máy bán thuốc lá tại quầy bar, nhét sáu đồng một phần tư vào để mua một gói thuốc bất kỳ. Trên chiếc khay nơi gói thuốc được nhả ra, anh sẽ tìm thấy một băng cassette. Hãy mua sẵn một chiếc máy cassette mà đám choai choai vẫn dùng với

tai nghe ấy. Sau đó hãy vào xe của anh mà nghe cuốn băng. Đừng nghe ở nhà, và tối kỵ không được nghe ở văn phòng. Hãy dùng tai nghe. Đưa cả cho vợ anh nghe nữa. Nó sẽ có trong băng cassette, và tôi sẽ chào anh khoản đô la đỉnh nhất của chúng tôi. Tôi cũng sẽ trình bày vài điều trong đó. Sau khi anh nghe vài lần, hãy tiêu hủy nó."

"Công phu nhỉ?"

"Phải, nhưng nhờ đó chúng ta sẽ không phải nói chuyện với nhau trong vài tuần. Chúng đang theo dõi và nghe ngóng đó, Mitch. Và chúng giỏi lắm đấy. Chớ quên điều này."

"Đừng lo."

"Ở trung học, áo cầu thủ của anh là số mấy?"

"Mười bốn."

"Còn ở đại học?"

"Cũng mười bốn."

"Được rồi. Mật mã của anh là 1-4-1-4. Tối thứ năm, từ một điện thoại trả tiền loại touch-tone, hãy gọi số 757-6000. Sẽ có một giọng nói hướng dẫn anh đi qua vài thủ tục nho nhỏ liên quan đến mã số của anh. Một khi được thông qua, anh sẽ nghe giọng ghi âm của tôi, và tôi sẽ đặt ra cho anh một loạt câu hỏi. Chúng ta sẽ xuất phát từ đó."

"Sao tôi không được hành nghề luật vậy trời?"

Chiếc xe buýt trờ tới ga rồi dừng lại. "Tôi sắp đi Atlanta," Tarrance nói. "Chúng ta sẽ không gặp nhau trong vài tuần tới. Có chuyện gì

khẩn cấp hãy gọi một trong hai số mà tôi đã trao cho anh trước đây."

Mitch đứng ở lối đi trên xe buýt, nhìn xuống người đặc vụ. "Ba triệu, Tarrance. Không bớt một xu nào. Nếu đám các anh chi được bạc tỷ để chống tội ác có tổ chức thì chắc chắn anh phải gom được cho tôi ba triệu. Và, Tarrance này, tôi còn có một phương án thứ ba nữa đấy. Tôi có thể biến mất lúc nửa đêm, tan biến trong không khí. Nếu chuyện đó xảy ra thì anh và đám Morolto sẽ tha hồ mà choảng nhau đến sứt đầu mẻ trán, còn tôi thì sẽ ngồi chơi domino ở Caribe."

"Dĩ nhiên, Mitch. Anh có thể giở trò này trò nọ, nhưng chúng sẽ lần ra anh chỉ trong vòng một tuần. Tạm biệt nhé, anh bạn."

Mitch nhảy từ xe buýt xuống rồi lao vào nhà ga.

23

Lúc tám giờ ba mươi ngày thứ Ba, Nina đã sắp xếp đống xà bần trên bàn làm việc của Mitch thành những chồng gọn gàng. Bà rất thích cái thủ tục sáng sớm này: xê dịch lại bàn và lập kế hoạch trong ngày cho anh. Sổ hẹn nằm lù lù ở góc bàn. Bà đọc nó. "Ông sẽ có một ngày bận rộn đấy, ông McDeere."

Mitch lật giở một hồ sơ và cố phớt lờ bà đi.

"Ngày nào mà chả bận."

"Ông có cuộc hẹn lúc mười giờ tại văn phòng của ông Mahan để bàn về vụ kháng cáo của Delta Shipping."

"Tôi đang rất nóng lòng đây," Mitch làu bàu.

"Ông có cuộc gặp vào lúc mười một giờ ba mươi tại văn phòng của ông Tolar về vụ giải tán Greenbriar, và thư ký của ông ta đã thông báo cho tôi nó sẽ kéo dài ít nhất trong hai giờ."

"Sao lại hai giờ?"

"Tôi không được trả lương để hỏi những câu đó, ông McDeere ạ. Tôi mà hỏi thì sẽ bị sa thải ngay. Lúc ba giờ rưỡi Victor Milligan

muốn gặp ông."

"Về chuyện gì?"

"Một lần nữa, ông McDeere, tôi không thể hỏi han lung tung. Và ông phải có mặt ở văn phòng của Frank Mulhalland tại khu mua sắm trong mười lăm phút nữa."

"Vâng, tôi biết. Nó nằm ở đâu vậy?"

"Tòa nhà Cotton Exchange. Cách bốn năm dãy phố phía trên đại lộ Union. Ông đã đi bộ qua đó hàng trăm lần."

"Được rồi. Còn gì khác không?"

"Sau bữa trưa tôi có phải mang gì về cho ông không?"

"Không. Tôi sẽ mua một ổ sandwich ở khu thương mại."

"Tuyệt. Ông đã có mọi thứ cho Mulholland chưa?"

Anh trỏ vào chiếc cặp đen nặng trịch, không nói năng gì cả. Bà đi khỏi, và vài giây sau Mitch đã ra hành lang, đi xuống cầu thang và ra ngoài bằng cửa chính. Anh dừng chân giây lát rồi bước nhanh đến khu thương mại. Chiếc cặp đen ở tay phải của anh, chiếc cặp chữ nhật da lươn màu vàng thì ở bên tay trái. Đó là tín hiệu. Đến trước tòa nhà màu xanh lục với các cửa sổ bằng ván, anh dừng lại cạnh một cột chữa lửa. Anh chờ một giây rồi băng qua đường Front. Một tín hiệu khác.

Ở tầng chín của tòa nhà Cotton Exchange Services, Tammy Greenwood của công ty Greenwood Services lui khỏi cửa sổ và mặc áo khoác vào. Cô khóa cửa rồi nhấn nút thang máy. Cô chờ. Cô sắp sửa gặp cái anh chàng đã có thể dễ dàng khiến cô bị giết chết.

Mitch bước vào sảnh rồi đi thẳng đến thang máy. Anh không thấy có người nào đáng dè chừng. Một nửa tá doanh nhân đến rồi đi hoặc đang trong quá trình thương thảo. Một người phụ nữ đang thì thầm vào chiếc điện thoại trả tiền. Một nhân viên bảo vệ lảng vảng gần lối vào trên đại lộ Union. Anh nhấn nút thang máy rồi chờ. Chỉ có một mình anh. Cánh cửa mở ra. Một anh chàng bảnh bao, dạng nhân viên của Merrill Lynch, mặc vest đen và mang giày nhọn bước vào trong thang máy. Mitch đã hy vọng một cuốc đi lên đơn độc.

Văn phòng của Mulholland nằm ở tầng bảy. Mitch nhấn nút số bảy và phớt lờ gã vest đen. Khi thang máy chạy, cả hai chăm chú nhìn những con số sáng lên ở phía trên cánh cửa. Mitch lui ra sau chiếc thang máy nhỏ, đặt chiếc cặp nặng xuống sàn, cạnh chân phải của anh. Cánh cửa mở ra ở tầng bốn và Tammy bồn chồn bước vào. Gã vest đen liếc nhìn cô. Sức hút của cô đến từ vẻ thủ cựu rõ rệt. Một chiếc váy ngắn bó sát giản đơn. Không có đường viền cổ áo trễ xuống. Không có đôi giày đỏng đảnh. Tóc cô nhuộm một sắc đỏ dìu dịu. Gã vest đen liếc nhìn lần nữa rồi nhấn vào nút ĐÓNG CỬA.

Tammy mang theo vào thang máy một chiếc cặp lớn màu đen trông na ná như chiếc cặp của Mitch. Cô phớt lờ ánh mắt của gã vest đen, đứng vào cạnh Mitch, lẳng lặng đặt nó xuống cạnh anh. Ở tầng bảy, Mitch xách cặp lên và rời khỏi thang máy. Ở tầng tám, gã vest đen rời thang máy, rồi ở tầng chín Tammy xách lên chiếc cặp đen nặng trịch chứa đầy những hồ sơ của Bendini, Lambert & Locke, đưa nó vào văn phòng của cô. Cô khóa cửa rồi cài chốt, cởi vội chiếc áo khoác rồi đi vào căn phòng nhỏ, nơi chiếc máy photocopy đang

khởi động. Có cả thảy bảy hồ sơ, cái nào cái nấy dày ít nhất hai phân rưỡi. Cô đặt chúng gọn gàng lên bàn xếp cạnh máy photocopy rồi lấy ra một hồ sơ ghi "Koker-Hanks từ East Texas PiPe." Cô tháo cái móc nhôm, lấy ra nội dung của hồ sơ rồi cẩn thận đặt xấp tài liệu, thư từ và ghi chép vào một khay nạp tự động. Cô nhấn nút PRINT rồi dõi theo chiếc máy khi nó tạo ra hai bản sao hoàn hảo của tất cả mọi thứ.

Ba mươi phút sau, bảy hồ sơ được trả vào chiếc cặp. Các hồ sơ mới in, cả thảy mười bốn tập, được cất và khóa trong một chiếc két chịu lửa. Chiếc két nằm trong một phòng kho nhỏ và cả phòng kho cũng được khóa lại. Tammil đặt chiếc cặp gần cửa rồi chờ đợi.

Frank Mulholland từng là đối tác trong một hãng mười người chuyên trách về ngân hàng và chứng khoán. Thân chủ của ông là một ông lão đã sáng lập và xây lên một chuỗi cửa hàng kim khí gia dụng, và đến một thời điểm đã đạt được giá trị lên đến mười tám triệu trước khi con trai của ông ta và hội đồng quản trị phản thùng nắm lấy quyền kiểm soát và buộc ông nghỉ hưu. Ông lão bèn đi kiện. Công ty kiện ngược lại. Mọi người kiện lẫn nhau tá lả. Các vụ kiện và kiện ngược đã bế tắc trong vô vọng suốt mười tám tháng. Nay, khi các luật sư đã béo và sung sướng ra, đã đến lúc phải bàn cách giải quyết. Bendini, Lambert & Locke phụ trách tư vấn thuế cho người con trai và hội đồng quản trị mới, và hai tháng trước Avery đã giới thiệu Mitch cho các bên thù địch. Kế hoạch là phải đề xuất với ông lão một gói cổ phiếu phổ thông, chứng khế chuyển đổi cùng một số trái phiếu.

Mulholland không ấn tượng lắm với kế hoạch này. Thân chủ của ông không tham lam, ông nhắc đi nhắc lại, và ông ta biết mình sẽ không bao giờ nắm lại quyền kiểm soát công ty. Công ty của chính ông ta, đừng quên chuyện ấy. Nhưng năm triệu là không đủ. Một bồi thẩm đoàn với mức độ thông minh tối thiểu sẽ có cảm tình với ông lão, và ngay cả một gã ngốc cũng thấy được vụ kiện này có giá trị tối thiểu là... xem nào... ít nhất hai mươi triệu!

Sau một giờ đồng hồ đẩy qua đẩy lại những lời chào và chào ngược qua bàn làm việc của Mulholland, Mitch đã nâng gói thỏa thuận lên tám triệu và luật sư của ông lão nói rằng ông có thể sẽ cân nhắc ở mức mười lăm. Mitch lễ độ cài lại chiếc cặp chữ nhật và Mulholland lịch sự tiễn anh ra cửa. Họ hứa sẽ gặp nhau lần nữa trong vòng một tuần. Họ bắt tay nhau như những người bạn thân thiết nhất.

Thang máy dừng lại ở tầng năm, và Tammy bình thản bước vào. Chiếc cặp của cô trở thành rỗng, còn chiếc của Mitch trở thành đầy. Khi cửa khép lại, anh nói, "Có vấn đề gì không?"

"Không hề. Hai bản sao đã được cất và khóa."

"Việc đó mất bao lâu?"

"Ba mươi phút."

Thang máy dừng lại ở tầng bốn và cô nhặt lên chiếc cặp rỗng. "Trưa mai hả?" cô hỏi.

"Ừ" anh đáp.

Cánh cửa mở ra và cô biến mất vào tầng bốn. Anh đi một mình

vào sảnh mà lúc này đã trống lốc chỉ còn lại người bảo vệ ban nãy. Mitchell McDeere, vị luật sư có chứng chỉ, lao vội ra khỏi tòa nhà với chiếc cặp nặng trịch xách trên tay, khệ nệ bước về lại văn phòng của anh.

Lễ mừng sinh nhật lần thứ hai mươi lăm của Abby diễn ra khá hời hợt. Qua ánh sáng ngọn nến mờ ảo trong một góc tối của nhà hàng Grisantis, họ thì thầm và cố mỉm cười với nhau. Việc này thật khó. Đâu đó vào lúc này, bên trong nhà hàng, một đặc vụ FBI vô hình đang cầm theo chiếc băng cassette mà anh ta sẽ bỏ vào một máy bán thuốc lá tại phòng đợi, chính xác vào lúc chín giờ. Và theo như dự kiến, Mitch sẽ phải đến đó sau hai mươi giây để thu hoạch mà không để bị kẻ xấu nào nhìn thấy hay bắt tại trận, dù kẻ xấu đó có là ai và trông như thế nào. Cuốn băng sẽ tiết lộ vợ chồng McDeere sẽ nhận được bao nhiêu tiền cứng để đổi lấy các chứng cứ. Và nó cũng sẽ tiết lộ về cuộc sống trốn chạy của họ sau này.

Họ xiên các món ăn, cố mỉm cười, cố giữ cho cuộc trò chuyện kéo dài, nhưng kỳ thực họ bồn chồn và liên tục kiểm tra đồng hồ. Bữa tối rất ngắn ngủi. Đến tám giờ bốn mươi lăm, họ đã ăn xong. Mitch đi về hướng nhà vệ sinh, nhìn vào phòng đợi tối đen khi anh đi ngang qua. Máy bán thuốc lá nằm ở góc, chính xác ở nơi nó phải nằm.

Họ gọi cà phê, và, vào lúc đúng chín giờ, Mitch trở ra phòng đợi, đi đến cỗ máy, nơi anh bồn chồn nhét sáu đồng xu một phần tư rồi kéo chiếc cần gạt cho nó trỏ vào bao Marlboro Lights để tưởng niệm Eddie Lomax. Anh hấp tấp rà tay vào chiếc khay, lấy ra bao thuốc lá,

và rồi, mò mẫm trong bóng tối, anh lần ra được cuốn băng cassette. Chiếc điện thoại trả tiền gần cỗ máy chợt reo lên, và anh giật bắn người. Anh quay lại, nhìn quanh phòng đợi. Nó trống rỗng, chỉ có hai người đàn ông ngồi ở quầy bar, đang xem chiếc tivi treo cao đằng sau người phục vụ quầy. Một tràng cười say xỉn chợt phát tại một góc tối phía xa xa.

Abby nhìn theo từng bước chân và cử động của anh cho đến khi anh ngồi xuống đối diện cô. "Sao rồi?"

"Anh lấy được rồi. Loại cassette đen căn bản hiệu Sony của em." Mitch nhấp cà phê và mỉm cười ngây ngô trong khi quan sát nhanh căn phòng ăn đầy nghẹt người. Không có ai theo dõi cả. Chẳng ai quan tâm.

Anh trao tấm séc và chiếc thẻ American Express cho người phục vụ. "Chúng tôi đang vội," anh thô lỗ nói. Người phục vụ trở lại sau vài giây. Mitch nguệch ngoạc ký tên anh.

Chiếc BMW quả thật đã bị cài bọ. Cài từa lưa. Băng nhóm của Tarrance đã xem xét rất lặng lẽ và thấu đáo bằng kính lúp trong khi chờ chiếc Greyhound cách đây bốn ngày. Nó được cài một cách chuyên nghiệp, với những thiết bị mắc tiền đến khủng khiếp có thể nghe và thu âm đến cả tiếng hỉ mũi hay tiếng họ nhỏ nhất. Nhưng các con bọ chỉ nghe và thu âm mà thôi chứ không thể truy dấu. Mitch nghĩ điều này là quá tốt. Chỉ nghe mà thôi chứ không lần theo mọi chuyển động của chiếc BMW.

Nó rời bãi đậu của nhà hàng Crisantis mà không có trao đổi nào

giữa những người ngồi bên trong. Abby cẩn thận mở chiếc máy cassette loại xách tay rồi đặt cuốn bằng vào đó. Cô trao tai nghe cho Mitch, và anh đeo ngay vào. Cô nhấn nút bật. Cô quan sát anh trong khi anh nghe và lái vu vơ về phía cao tốc xuyên bang.

Giọng nói là của Tarrance: "Chào Mitch. Hôm nay là thứ Ba ngày 9 tháng Ba, vào khoảng sau chín giờ tối. Hãy gửi lời chúc sinh nhật đến cô vợ kiều diễm của anh. Cuốn băng này sẽ chạy trong mười phút, và tôi khuyên anh nên nghe nó kỹ vào, một lần hay hai lần, sau đó hủy nó đi. Tôi đã có cuộc gặp trực tiếp với Giám đốc Voyles vào Chủ nhật qua và đã báo cáo nhanh với ông ta về tất cả mọi thứ. Nhân tiện, tôi rất thích chuyến đi bằng xe buýt. Giám đốc Voyles rất hài lòng với diễn tiến sự việc, nhưng ông ta nghĩ chúng ta đã nói chuyện đủ lâu rồi. Ông ta muốn đạt thỏa thuận, và đạt nhanh vào. Ông ta đã trình bày cho tôi bằng những lời lẽ chắc nịch rằng chúng tôi chưa từng bao giờ trả đến ba triệu đô la, và chúng tôi sẽ không trả con số đó cho anh. Ông ta chửi bới rất dữ, nhưng tóm lại là Giám đốc Voyles bảo chúng tôi có thể trả cho anh một triệu bằng tiền mặt, không thể nhiều hơn. Ông ta nói tiền sẽ được gửi vào một ngân hàng Thụy Sĩ và sẽ không ai, kể cả IRS, hay biết gì về nó. Một triệu đô la, miễn thuế! Đó là thỏa thuận tốt nhất của chúng tôi, và Voyles bảo rằng nếu anh mà nói không thì cứ xuống địa ngục luôn đi. Chúng tôi phải phá banh cái hãng nhỏ đó, Mitch ạ, dù có anh hay không có anh."

Mitch rầu rĩ mỉm cười và nhìn dòng xe băng qua họ ở vòng xoay I-240. Abby quan sát từng dấu hiệu, từng tín hiệu, từng tiếng cằn

nhằn hay tiếng rên, mọi thứ có thể biểu thị cho tin tốt hoặc tin xấu. Cô không nói gì cả.

Giọng nói tiếp tục: "Chúng tôi sẽ chăm lo cho anh, Mitch. Anh sẽ tiếp cận được chương trình bảo vệ của FBI bất cứ lúc nào anh nghĩ anh cần đến nó. Chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra định kỳ cho anh nếu anh muốn. Còn nếu anh muốn di chuyển đến thành phố khác sau vài năm nữa, chúng tôi sẽ lo liệu chuyện đó. Anh có thể di chuyển sau mỗi năm năm nếu anh muốn, chúng tôi sẽ chi tiền cho anh và tìm việc làm cho anh. Một việc làm tốt tại VA hay bên An ninh Xã hội hay Dịch vụ Bưu chính. Voyles nói chúng tôi thậm chí sẽ tìm cho anh một công việc lương cao nơi một nhà thầu tư nhân của chính phủ. Anh cứ nói tên nhà thầu nào đi, anh sẽ có được người đó. Dĩ nhiên, chúng tôi sẽ cung cấp danh tính mới cho anh và vợ anh, và anh có thể thay đổi chúng mỗi năm nếu như anh thích thế. Không vấn đề gì cả. Hoặc giả anh có ý tưởng nào hay hơn, chúng tôi sẽ lắng nghe. Anh muốn sống ở châu Âu hay Úc ư? Chỉ cần anh nói là được liền. Anh sẽ được đối xử đặc biệt. Tôi biết chúng tôi đang hứa hẹn hơi nhiều, Mitch ạ, nhưng chúng tôi nghiêm túc lắm đấy và chúng tôi sẽ cam kết bằng giấy tờ hẳn hoi. Chúng tôi sẽ trả một triệu tiền mặt, miễn thuế, và sẽ đưa anh đến bất cứ nơi đâu anh lựa chọn. Thỏa thuận là thế đấy. Và để đổi lại, anh phải trao cái hãng đó và đám Morolto vào tay chúng tôi. Chúng ta sẽ bàn chuyện này sau. Nay thời gian của anh đã hết rồi. Voyles đang gí tôi sát nút và mọi thứ phải tiến triển thật nhanh vào. Tối thứ năm hãy gọi cho tôi bằng số đó từ chiếc điện thoại trả tiền cạnh phòng vệ sinh nam tại quán

Houston's on Popular. Tạm biệt Mitch."

Anh đưa một ngón tay gạt ngang cổ. Abby nhấn nút ngừng rồi cho tua ngược lại. Anh trao tai nghe cho cô, và cô bắt đầu lắng nghe cực kỳ chăm chú.

Đó là một chuyến dạo chơi vô tư trong công viên. Đôi uyên ương nắm tay nhau thanh thản rảo bước dưới ánh trăng thanh. Họ dừng lại bên khẩu đại bác và nhìn ra con sông hoành tráng đang chầm chậm nhích dần về phía New Orleans. Cũng khẩu đại bác đó là nơi mà Eddie Lomax quá cố đã từng đứng trong bão tuyết và cung cấp bản báo cáo điều tra cuối cùng của anh ta.

Abby ôm cuốn băng cassette trên tay, nhìn xuống con sông bên dưới. Có đã nghe hai lần và từ chối bỏ lại nó trên xe, nơi biết đâu ai đó sẽ thó mất. Sau nhiều tuần lễ nín lặng, chỉ trò chuyện những khi ra khỏi nhà, những lời lẽ đã trở nên khó nhọc.

"Em biết đấy, Abby." Mitch cuối cùng lên tiếng, tay vỗ vỗ chiếc bánh xe bằng gỗ của khẩu đại bác. "Anh luôn muốn làm việc tại một tòa bưu chính. Anh có một ông chú từng là một bưu tá ở nông thôn. Công việc đó cũng bảnh ra phết."

Cố tỏ ra hài hước chẳng qua cũng chỉ là đánh bạc. Nhưng nó lại có tác dụng. Cô lưỡng lự trong ba giây rồi bật cười khe khẽ. Có vẻ như cô thích câu chuyện này. "Phải đó, và anh cũng có thể chùi sàn nhà trong một bệnh viện VA."

"Anh không nhất thiết phải chùi sàn nhà. Anh có thể thay bô, làm điều gì đó có ý nghĩa, điều gì đó thầm lặng. Chúng ta sẽ sống trong

một ngôi nhà nhỏ ngăn nắp có khung sơn trắng trên đường Maple ở Omaha. Anh sẽ là Harvey, còn em là Thelma, và chúng ta sẽ cần một cái họ nào ngăn ngắn nghe không quá giả tạo."

"Poe," Abby gợi ý.

"Tuyệt lắm. Harvey và Thelma Poe, vợ chồng Poe. Chúng ta sẽ có một triệu đô la trong nhà băng nhưng không dám tiêu xu nào vì mọi người ở đường Maple có thể sẽ hay biết và sẽ trở mặt, điều mà chúng ta cực kỳ không mong muốn."

"Em sẽ sửa lại mũi."

"Nhưng mũi của em đã hoàn hảo rồi mà."

"Mũi của Abby thì hoàn hảo rồi, nhưng mũi của Thelma thì sao? Phải sửa thôi, anh có nghĩ vậy không?"

"Ừ, anh cho là thế." Anh lập tức chán ngán việc pha trò và trở nên im ắng. Abby bước đến trước mặt anh và anh choàng tay qua vai cô. Họ nhìn chiếc tàu lai dắt đang lặng lẽ đẩy hàng trăm chiếc sà lan dưới cây cầu. Thi thoảng một đám mây lại che khuất ánh trăng. Những cơn gió lạnh từ phía tây từng chập thổi đến rồi tan biến. "Anh có tin Tarrance không?" Abby hỏi.

"Về mặt nào?"

"Nếu giả sử anh không làm gì cả, anh có tin một ngày nào đó họ cuối cùng sẽ đột nhập được vào hãng?"

"E rằng anh không tin."

"Vậy ta lấy tiền rồi bỏ chạy hả?"

"Lấy tiền rồi bỏ chạy thì dễ cho anh rồi, Abby. Anh chẳng có gì để

lại ở phía sau. Với em thì lại khác. Em sẽ không bao giờ gặp lại được gia đình."

"Ta sẽ đi đâu?"

"Anh không biết. Nhưng anh không muốn ở lại đất nước này. Không thể đặt hoàn toàn niềm tin vào các đặc vụ liên bang. Anh sẽ cảm thấy an toàn hơn nếu sống ở một quốc gia khác, nhưng anh sẽ không nói cho Tarrance biết đâu."

"Bước kế tiếp sẽ là gì?"

"Chúng ta đạt thỏa thuận rồi nhanh chóng làm cái công việc thu thập thông tin để nhận chìm con tàu. Anh không có chút ý niệm họ muốn gì, nhưng anh có thể giúp họ tìm ra thứ họ muốn. Khi Tarrance nhận đủ, chúng ta sẽ biến mất. Chúng ta ôm tiền theo, sửa lại cái mũi rồi biến mất."

"Bao nhiêu tiền?"

"Hơn một triệu. Họ đang kỳ kèo chuyện tiền bạc. Tất cả đều đang thương lượng."

"Chúng ta sẽ nhận được bao nhiêu?"

"Hai triệu tiền mặt, miễn thuế. Không bớt một xu nào."

"Họ có chịu trả không?"

"Có chứ, nhưng đó không phải là vấn đề. Vấn đề là, chúng ta có nên ôm tiền bỏ chạy không?"

Cô thấy lạnh và anh khoác chiếc áo choàng lên vai cô. Anh ôm chặt cô.

"Đó là một thỏa thuận đồi bại, Mitch," cô nói, "nhưng ít ra chúng

ta sẽ được ở bên nhau."

"Tên anh là Harvey chứ không phải là Mitch."

"Anh nghĩ chúng ta sẽ an toàn không, Harvey?"

"Ở đây chúng ta không an toàn."

"Em không thích ở đây. Ở đây, em luôn cô đơn và sợ hãi."

"Anh cũng chán làm luật sư lắm rồi."

"Ta ôm tiền rồi ù chạy đi nhé!"

"Em đạt thỏa thuận rồi đó, Thelma."

Cô trao cuốn băng cassette cho anh. Anh nhìn nó rồi ném thật xa xuống phía dưới, sang phía bên kia đường Riverside, về hướng con sông. Họ cầm tay nhau bước nhanh qua công viên, hướng đến chiếc BMW đậu trên đường Front.

24

Lần thứ hai trong sự nghiệp, Mitch được phép thăm căn phòng ăn tráng lệ ở tầng năm. Lời mời của Avery đến cùng lời giải thích rằng các đối tác thảy đều rất ấn tượng trước con số ghi hóa đơn trung bình bảy mươi mốt giờ mỗi tuần trong tháng Hai, cho nên họ muốn thưởng cho anh một bữa trưa nho nhỏ. Đó là một lời mời mà không một cộng sự nào có thể từ chối, bất kể những lịch trình, hội họp, khách hàng, hạn chót và tất cả những khía cạnh quan trọng khủng khiếp và cấp bách khác cho sự nghiệp tại Bendini, Lambert & Locke. Trong lịch sử, chưa từng có cộng sự nào dám nói không trước lời mời đến phòng ăn. Mỗi người chỉ được mời hai lần mỗi năm. Kỷ lục vẫn còn đang được giữ kín.

Mitch có hai ngày để chuẩn bị cho cuộc gặp. Thôi thúc ban đầu của anh là từ chối, và khi Avery lần đầu nhắc đến nó, hàng chục những cái cớ què quặt đã thoảng qua đầu anh. Ăn uống, cười cợt, tán gẫu, kết thân với đám tội phạm, cho dù họ sung túc và bảnh bao cách mấy, cũng không thể nào thú vị bằng việc chia sẻ chén canh với những người vô gia cư ở ngoài trạm xe buýt. Nhưng nếu

nói ra như vậy thì sẽ là sự lăng mạ truyền thống một cách trắng trợn. Và với những gì đang diễn ra, những động thái của anh đã là đáng nghi ngờ lắm rồi.

Cho nên anh ngồi xoay lưng lại cửa sổ, cưỡng ép những nụ cười và những câu chuyện phiếm về hướng Avery, Royce McKnight, và dĩ nhiên, Oliver Lambert. Anh biết anh sẽ ăn cùng bàn với ba người này. Biết từ hai ngày trước. Anh biết họ sẽ quan sát anh kỹ lưỡng và ra vẻ hờ hững, cố dò la tất cả mọi biểu hiện thiếu nhiệt tình, nhạo báng hay tuyệt vọng. Tất tần tật. Anh biết họ sẽ hóng từng từ anh nói, bất kể anh nói gì. Anh biết họ sẽ vung vít những lời khen ngợi và những hứa hẹn lên đôi vai kiệt quệ của anh.

Oliver Lambert chưa bao giờ duyên dáng hơn. Bảy mươi mốt giờ mỗi tuần vào tháng Hai là kỷ lục đối với một cộng sự, ông nói trong khi Roosevelt phục vụ món sườn bò hảo hạng. Mọi đối tác đều khâm phục, đều thích thú, ông nhỏ nhẹ trình bày khi đảo mắt quanh phòng. Mitch cố rặn một nụ cười rồi cắt phần ăn của anh. Các đối tác - khâm phục hay thờ ơ - đang trò chuyện vu vơ và tập trung nhìn xuống sàn. Mitch đếm được mười tám đối tác đang hoạt động và bảy đối tác đã nghỉ hưu, những người mặc quần kaki, áo len và toát ra vẻ thư thái.

"Xung lực của anh đáng nể thật đấy, Mitch." Royce McKnight nói với cái miệng nhồm nhoàm. Anh lịch sự gật đầu. Phải rồi, tôi rèn luyện xung lực suốt ấy mà, anh tự nhủ. Nhiều nhất có thể, anh cố giữ cho tâm trí tách xa khỏi Joe Hodge, Mart Kozinski và ba luật sư chết, những người được tưởng niệm trên bức tường dưới nhà.

Nhưng anh không thể rời tâm trí khỏi những tấm ảnh về cô gái trên cát, và tự hỏi liệu tất cả bọn họ đều đã biết. Liệu tất cả bọn họ đều đã xem các tấm ảnh? Chuyền tay chúng trong những bữa trưa nho nhỏ kiểu này, nơi chỉ có duy nhất các đối tác và không có khách khứa? DeVasher đã hứa chỉ giữ lại cho riêng ông ta, nhưng lời hứa của một gã sát nhân thì có đáng tin không? Dĩ nhiên họ đã xem chúng. Voyles nói mọi đối tác và hầu hết các cộng sự đều tham gia vào âm mưu. Không còn khẩu vị nào, anh cố gắng xoay sở để làm ra vẻ đang ngon miệng. Anh thậm chí trét bơ và ngốn thêm một miếng bánh nữa để trông giống bình thường. Chẳng có gì là bất ổn với khẩu vị của anh.

"Vậy ra anh và Abby sắp sửa đến Cayman vào tuần tới?" Oliver Lambert hỏi.

"Vâng, Đó là vào dịp nghỉ xuân của cô ấy. Từ hai tháng trước chúng tôi đã đăng ký một trong các căn hộ chung cư. Chúng tôi đang rất nóng lòng."

"Một thời điểm kinh khủng để đi nghỉ," Avery nói, vẻ kinh tởm. "Ngay lúc này, chúng ta đã bị tụt lại phía sau đến cả tháng."

"Chúng ta lúc nào mà chẳng tụt lại phía sau cả tháng, Avery. Tụt lại thêm một tuần nữa thì có sao đâu? Tôi đoán ông muốn tôi mang theo các hồ sơ của tôi chứ gì?"

"Ý tưởng không tệ. Tôi luôn luôn làm vậy."

"Đừng làm vậy, Mitch," Oliver Lambert nhạo báng phản đối. "Lúc anh trở về, nơi này sẽ vẫn đứng vững thôi. Anh và Abby xứng đáng

có một tuần bên nhau."

"Anh sẽ thích dưới đó lắm đấy," Royce McKnight nói như thể Mitch chưa từng đến đó, câu chuyện trên bãi biển chưa từng xảy ra và không ai hay biết gì về các tấm ảnh.

"Khi nào thì anh đi?" Lambert hỏi.

"Sáng Chủ nhật. Sáng sớm."

"Anh có dùng chiếc Lear không?"

"Không. Tôi dùng Delta bay thẳng."

Lambert và McKnight trao đổi những cú liếc mắt nhanh mà họ nghĩ Mitch không thấy. Cũng có những ánh mắt khác từ những chiếc bàn khác, thi thoảng là những cú liếc nhanh đầy tò mò mà Mitch đã bắt gặp từ lúc mới vào phòng. Anh ở đây là để mọi người soi mói.

"Anh có biết lặn bình không?" Lambert hỏi, vẫn so sánh giữa Lear và Delta bay thẳng.

"Không, nhưng chúng tôi có kế hoạch thử lặn bằng ống thở."

"Có một tay ở Rum Point, tại đầu mút phía bắc, tên là Adrian Bench. Y có một khu nhà lặn rất tuyệt và có thể cấp chứng chỉ cho anh chỉ trong vòng một tuần. Đó sẽ là một tuần gian nan với rất nhiều hướng dẫn, nhưng nó đáng đồng tiền bát gạo."

Nói cách khác, mày hãy tránh xa gã cái gã Abanks đó ra, Mitch nghĩ. "Tên khu đó là gì vậy?" anh hỏi.

"Rum Point Divers. Một nơi rất tuyệt."

Mitch chau mày, ra vẻ thông thái, cứ như thể anh đang ghi nhớ trong đầu cái lời khuyên hữu ích này. Bất chợt, Oliver Lambert trở

nên buồn rười rượi. "Cẩn thận đấy, Mitch. Việc đi lặn có thể sẽ gợi lại những ký ức về Marty và Joe."

Avery và McKnight nhìn vào đĩa thức ăn của họ trong một thoáng mặc niệm những người đã khuất. Mitch khó nhọc nuốt và suýt nữa đã cười vào mặt Oliver Lambert. Nhưng anh vẫn làm mặt tỉnh, thậm chí còn xoay xở được để trông buồn bã giống như những người còn lại. Marty và Joe và các vợ góa con côi họ. Marty và Joe, hai luật sư trẻ giàu có bị giết một cách chuyên nghiệp, bị thủ tiêu trước khi kịp nói ra. Marty và Joe, hai con cá mập đầy hứa hẹn đã bị thịt bởi chính đồng loại. Voyles đã dặn Mitch hãy nghĩ đến Marty và Joe mỗi khi anh nhìn thấy Oliver Lambert.

Và nay, với chỉ một triệu đô, anh được kỳ vọng sẽ làm điều mà Marty và Joe chuẩn bị làm mà không để bị bắt. Có thể, một năm nữa tính từ hôm nay, người cộng sự mới kế tiếp sẽ ngồi đây, nhìn những đối tác đang buồn thiu nói về anh chàng luật sư trẻ Mitch McDeere và xung lực đáng nể của anh ta; nói về việc anh ta có thể đã là một luật sư khủng cỡ nào nếu như không vướng phải tai nạn. Họ sẽ còn giết bao nhiêu người nữa đây?

Anh muốn hai triệu. Cộng với một vài điều khoản khác.

Sau một giờ bàn chuyện hệ trọng bên những món ăn ngon, bữa trưa bắt đầu tàn khi các đối tác lần lượt cáo lui, nói vài lời với Mitch rồi rời khỏi phòng ăn. Họ rất tự hào về anh, họ nói vậy. Anh là ngôi sao sáng nhất của họ trong tương lai. Tương lai của Bendini, Lambert & Locke. Anh mỉm cười, cảm ơn họ.

Vào lúc Roosevelt phục vụ món bánh kem chuối và cà phê, Tammy Greenwood Hemphill của Greenwood Services đậu chiếc Rabbit nâu bụi bặm sau đuôi chiếc Peugeot bóng lộn trong bãi đậu của trường St. Andrew's Episcopal. Cô để máy nổ, đi bốn bước rồi nhét chìa khóa vào cốp chiếc xe Peugeot, lấy ra một chiếc cặp đen nặng trịch. Cô sập cốp xe rồi chui nhanh trở vào chiếc Rabbit.

Bên một cửa sổ nhỏ trong phòng khách của giáo viên, Abby nhấp cà phê, nhìn qua các hàng cây, qua sân chơi, rồi nhìn ra bãi đậu ở xa xa. Cô chỉ thấy thấp thoáng chiếc xe của mình. Cô mỉm cười, nhìn đồng hồ. Mười hai giờ ba mươi, đúng như dự định.

Tammy thận trọng len lỏi qua luồng giao thông trưa, hướng về khu thương mại. Cuốc xe rất mệt mỏi vì cô cứ phải dõi theo gương chiếu hậu. Như thường lệ, cô không thấy gì cả. Cô đậu xe vào lỗ dành cho cô ở phía bên kia đường từ tòa nhà Cotton Exchange nhìn sang.

Có chín hồ sơ trong đợt này. Cô xếp chúng gọn gàng trên bàn rồi bắt đầu việc sao chép. Sigalas Partners, Lettie Plunk Trust, Handy-Man Hardware và hai hồ sơ cột lỏng lẻo bằng dây cao su, ghi là CỦA AVERY. Mỗi trang giấy trong các hồ sơ, cô sao ra hai bản rồi tỉ mỉ sắp chúng lại. Trong một cuốn sổ cái, cô nhập ngày tháng, thời gian, tên của mỗi hồ sơ. Hiện đã có hai mươi chín đề mục. Anh ta nói cả thảy có thể lên đến khoảng bốn mươi. Cô đặt một bản sao của mỗi hồ sơ vào trong chiếc két giấu kín và khóa chặt ở bên trong phòng kho, rồi cô nhét lại vào cặp các hồ sơ gốc và một bản sao của

chúng.

Làm theo đúng chỉ dẫn của anh, một tuần trước cô đã thuê dưới tên cô một căn phòng ba-mét nhân ba-mét tại công ty dịch vụ lưu trữ Mini Storage trên đại lộ Summer. Nó ở cách khu thương mại hai mươi hai cây số, và ba mươi phút sau cô đã đến đó và mở cánh cửa số 38C. Trong một thùng các tông nhỏ, cô đặt vào các bản sao của chín hồ sơ rồi ghi ngày tháng vào cuối mỗi xấp. Cô đặt nó cạnh ba chiếc thùng khác trên sàn.

Chính xác vào lúc ba giờ chiều, cô bẻ lái vào bãi đậu, dừng phía sau chiếc Peugeot, mở cốp xe của nó ra và bỏ lại chiếc cặp vào nơi mà nó đã được tìm ra.

Vài giây sau, Mitch bước ra từ cửa trước tòa nhà Bedini và duỗi vai. Anh hít thở sâu rồi nhìn dọc nhìn xuôi đường Front. Một ngày xuân thật đáng yêu. Ba dãy phố lên phía bắc, rồi đi lên chín tầng. Ở cửa sổ, anh nhận ra những tấm mành đã được buông toàn bộ. Tín hiệu. Tốt. Mọi việc đều ổn. Anh mỉm cười với bản thân rồi quay về văn phòng.

Vào lúc ba giờ sáng hôm sau, Mitch khẽ khàng ra khỏi giường, lặng lẽ xỏ vào chiếc quần Jeans bạc màu, chiếc áo sơ mi vải flannel hồi học ở trường luật, đôi vớ trắng giữ nhiệt và đôi ủng cũ sờn mòn. Anh muốn trông như một tài xế taxi. Không một lời, anh hôn Abby, lúc này đã thức dậy, rồi rời khỏi nhà. East Meadowbrook vắng lặng, cũng như mọi con đường từ nhà đến cao tốc xuyên bang. Chắc chắn họ không bám theo anh vào giấc này.

Anh lái ra đường Xuyên bang 55, đi bốn mươi cây số đến Senatobia, Mississippi. Một điểm dừng xe tải bận rộn - gọi là điểm 4-55 – được rọi sáng từ hàng trăm mét bởi bốn làn xe. Anh vượt qua các xe tải ở phía sau, nơi hàng trăm chiếc xe đầu kéo đang đậu qua đêm. Anh dừng lại gần vịnh Truck Wash và chờ đợi. Một chục xe tải tám bánh đang nhích dần và len lỏi quanh các cột bơm.

Một gã da đen đội nón lưỡi trai của đội bóng bầu dục Falcons bước ra từ một góc, nhìn chiếc BMW. Mitch nhận ra anh ta chính là người đặc vụ ở ga xe buýt tại Knoxville. Anh tắt máy rồi bước ra khỏi xe.

"McDeere hả?" người đặc vụ hỏi.

"Dĩ nhiên. Còn ai vào đây chứ? Tarrance đâu?"

"Trong buồng điện thoại cạnh cửa sổ. Anh ta đang đợi đấy." Mitch mở cửa xe rồi trao chìa khóa cho người đặc vụ. "Anh đưa nó đi đâu?"

"Xuôi theo con đường này một chút. Chúng tôi sẽ chăm sóc nó. Anh sạch khi ra khỏi Memphis. Thư giãn đi."

Anh ta leo vào xe, lách giữa hai cột bơm diesel rồi phóng thẳng ra đường xuyên bang. Mitch nhìn chiếc xe BMW nhỏ của anh biến mất khi anh bước vào quán cà phê điểm dừng xe tải. Lúc này là ba giờ bốn mươi lăm.

Căn phòng ồn ào, đầy những gã đàn ông trung niên to béo đang uống cà phê và ăn bánh mua dọc đường. Họ xỉa răng bằng những que tăm sặc sỡ, bàn về việc câu cá vược và chính trị bình dân. Nhiều

người nói lớn tiếng bằng thứ giọng mũi của dân miền bắc. Merle Haggard đang rên rỉ trong hộp nhạc.

Chàng luật sư vụng về di chuyển ra phía sau, cho đến khi, từ một góc tối không đèn, anh nhận ra một khuôn mặt quen thuộc giấu dưới cặp kính mát phi công và cũng chiếc nón lưỡi trai bóng chày đó của bang Michigan. Khuôn mặt nhoẻn cười. Tarrance đang cầm cuốn sổ thực đơn và dòm chừng cửa trước. Mitch lách vào khoang điện thoại.

"Chào bạn hiền." Tarrance nói. "Chuyến đi theo xe tải thế nào?"

"Tuyệt. Nhưng tôi thích xe buýt hơn."

"Lần sau chúng tôi sẽ thử trên tàu hỏa hay phương tiện nào đó. Cho đa dạng ấy mà. Laney đã lấy xe của anh chưa?"

"Laney?"

"Là anh chàng da đen đó. Anh ta là đặc vụ, anh biết mà."

"Tôi và anh ta chưa được giới thiệu phải phép với nhau. Phải, anh ta đã lấy xe của tôi. Anh ta mang nó đi đâu vậy?"

"Xuống phía dưới đường xuyên bang. Anh ta sẽ trở lại sau khoảng một tiếng nữa. Chúng tôi sẽ cố gắng đưa anh trở lại đường vào lúc năm giờ để anh có thể đến văn phòng lúc sáu giờ. Chúng tôi không muốn làm be bét ngày làm việc của anh."

"Nó đã be bét rồi còn gì."

Một cô hầu bàn khập khễnh tên là Dot ghé vào để hỏi xem họ muốn dùng gì. Chỉ cà phê thôi. Một đợt sóng những tài xế đường trường bu lại ở cửa trước và nạp đầy các ly cà phê. Merle hầu như

chẳng còn nghe tăm hơi.

"Mấy gã ở văn phòng thế nào rồi?" Tarrance vui vẻ hỏi.

"Mọi chuyện đều ổn. Đồng hồ vẫn nhảy giờ trong khi chúng tôi nói và mọi người đang trở nên sung túc hơn. Cảm ơn vì đã hỏi thăm."

"Không có chi."

"Ông bạn già Voyles của tôi thế nào?" Mitch hỏi.

"Ông ta rất lo lắng, thật đấy. Hôm nay ông ta gọi cho tôi hai lần và lặp lại dễ đến lần thứ mười về nguyện vọng của ông ta muốn có câu trả lời từ phía anh. Ông ta nói anh đã có đầy đủ thời gian và này nọ. Tôi bảo ông ta cứ thư giãn đi. Tôi có nói với ông ta về cuộc hò hẹn nhỏ bên đường tối nay và ông ta thực sự rất phấn khích. Ông ta kỳ vọng tôi gọi lại sau bốn tiếng, chính xác là vậy."

"Hãy nói với ông ta rằng một triệu thì không được, Tarrance. Đám các anh chỉ giỏi khoe khoang về việc chi bạc tỷ để chống tội phạm có tổ chức, cho nên tôi nói hãy nhả ra cho tôi một chút ít. Đối với chính quyền liên bang thì hai triệu tiền mặt có là cái đinh gì."

"Vậy ra bây giờ là hai triệu?"

"Đúng bỏ xừ rồi còn gì, đó là hai triệu. Và không bớt một xu nào hết. Tôi muốn một triệu ngay bây giờ và một triệu trả sau. Tôi đang trong quá trình sao chép toàn bộ các hồ sơ của tôi, và tôi sẽ hoàn thành trong vài ngày tới. Những hồ sơ hợp pháp, tôi nghĩ vậy. Tôi mà trao chúng cho ai thì sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi luật sư đoàn. Cho nên khi tôi trao chúng cho anh, tôi muốn có một triệu đầu tiên.

Ta hãy gọi nó là khoản tiền thiện chí đi nhé."

"Anh muốn trả như thế nào?"

"Gửi vào một tài khoản ngân hàng ở Zurich. Nhưng chúng ta sẽ thảo luận sau về chi tiết."

Dot trượt hai đĩa nhỏ lên bàn rồi đặt hai chiếc tách khác loại lên chúng. Cô rót từ độ cao cách chín tấc, làm cà phê văng tung tóe khắp mọi hướng. "Uống thêm miễn phí." cô làu bàu rồi đi khuất.

"Còn triệu thứ hai?" Tarrance hỏi, không đếm xỉa đến món cà phê.

"Khi anh, tôi, và Voyles quyết định rằng tôi đã cung cấp đủ tài liệu để phát lệnh truy tố, tôi sẽ lấy một nửa. Sau khi tôi tuyên thệ lần cuối, tôi sẽ lấy nửa còn lại. Như vậy là cực kỳ công bằng, Tarrance ạ."

"Đúng vậy. Anh đã đạt được thỏa thuận."

Mitch hít một hơi sâu và cảm thấy yếu ớt. Một thỏa thuận. Một hợp đồng. Một sự chuẩn thuận. Điều tuy không bao giờ được viết ra nhưng vẫn mang một hiệu lực khủng khiếp. Anh nhấp cà phê mà không nếm trước. Họ đã đồng ý về chuyện tiền bạc. Anh đã vào cuộc. Phải tiếp tục dấn tới.

"Còn một điều này nữa, Tarrance."

Tarrance hạ thấp đầu, hơi nghiêng sang bên phải. "Tôi nghe đây?" Mitch khom xuống thấp hơn nữa, tì trên hai cẳng tay. "Việc này không tốn của các anh một xu nào cả, và các anh có thể tháo gỡ nó mà chẳng đổ một giọt mồ hôi. Được chứ?"

"Tôi nghe đây."

"Ray, anh trai của tôi, hiện đang ở Brushy Mountain. Bảy năm nữa mới được phóng thích. Tôi muốn anh ấy ra tù."

"Buồn cười thật đấy, Mitch. Chúng tôi có thể làm nhiều việc, nhưng chắn chắn chúng tôi không thể phóng thích các tù nhân của bang. Liên bang thì có thể, nhưng bang thì không. Không cách chi."

"Nghe tôi nè, Tarrance, nghe kỹ vào. Nếu tôi lên đường với đám mafia rượt sát nút thì tôi cần có anh trai của tôi cùng đi. Đây kiểu như là một thỏa thuận trọn gói vậy. Và tôi biết nếu Giám đốc Voyles muốn anh ấy ra tù thì anh ấy sẽ được ra tù. Tôi biết điều đó. Giờ thì đám các anh hãy lo mà hình dung cách nào để điều đó xảy ra."

"Nhưng chúng tôi không có thẩm quyền can thiệp đối với tù nhân bang."

Mitch mỉm cười rồi quay lại với ly cà phê của anh. "James Earl Ray đã trốn khỏi Brushy Mountain mà chẳng có sự trợ giúp nào từ bên ngoài."

"Ô, hay chưa. Chúng tôi phải tấn công vào nhà tù giống như biệt kích để giải cứu anh trai của anh sao? Thật là quá ngầu!"

"Đừng xạo sự với tôi, Tarrance. Việc này là không có thương lượng."

"Được rồi, được rồi. Để tôi sẽ xem coi có thể làm được gì. Còn gì khác nữa không? Còn bất ngờ thú vị nào nữa không?"

"Không, chỉ còn các câu hỏi về việc chúng tôi đi đâu và làm gì. Chúng tôi sẽ che giấu danh tính ở đâu? Chúng tôi sẽ trốn ở đâu giữa

lúc diễn ra các phiên tòa? Chúng tôi sẽ sống ở đâu trong phần đời còn lại? Chỉ những câu hỏi nho nhỏ giống như thế."

"Chúng ta có thể thảo luận sau."

"Hodge và Kozinski đã nói gì với anh?"

"Không đủ. Chúng tôi đã lấy được một cuốn sổ tay, một cuốn sổ tay khá dày. Chúng tôi đã tích hợp và đánh số mọi thứ chúng tôi biết về gia đình Morolto và hãng. Hầu hết những gã rác rưởi của Morolto, tổ chức của chúng, những tay chủ chốt của chúng, những hoạt động phạm pháp vân vân. Anh phải đọc toàn bộ trước khi chúng ta bắt tay vào việc."

"Điều đó, dĩ nhiên, sẽ là sau khi tôi nhận được một triệu đầu."

"Dĩ nhiên. Khi nào chúng tôi có thể thấy các hồ sơ của anh?"

"Trong khoảng một tuần. Tôi đã xoay xở sao chép được bốn hồ sơ thuộc về người khác. Tôi có thể nhúng tay vào thêm vài hồ sơ như vậy nữa."

"Ai là người làm công việc sao chép?"

"Không phải là việc của anh."

Tarrance suy nghĩ một giây rồi bỏ qua.

"Có bao nhiêu hồ sơ?"

"Từ bốn mươi đến năm mươi. Tôi phải tuồn chúng ra mỗi lần vài cái. Một số hồ sơ tôi đã làm việc suốt tám tháng, một số khác chỉ mới khoảng vài tuần. Đến nay tôi có thể nói họ là những thân chủ hợp pháp."

"Bao nhiêu thân chủ này anh đã từng gặp gỡ cá nhân?"

"Hai hoặc ba."

"Đừng đánh cuộc rằng tất cả họ đều hợp pháp. Hodge đã nói với chúng tôi về vài hồ sơ cuội hay hồ sơ mồ hôi như cách các đối tác vẫn thường gọi. Chúng xuất hiện từ vài năm nay và mọi cộng sự mới đều cắn ngập răng vào chúng. Đó là những hồ sơ nặng nề, đòi hỏi hàng trăm giờ làm việc và khiến cho các tân binh cảm thấy mình giống như những luật sư đích thực."

"Hồ sơ mồ hôi?"

"Đó là lời của Hodge. Nó là một mẹo dễ, Mitch ạ. Chúng dụ anh bằng tiền bạc. Chúng phủ ngập anh bằng những công việc trông có vẻ hợp pháp và phần lớn có lẽ quả thật là hợp pháp. Rồi, sau vài năm, anh trở thành một phần của âm mưu dù không hề mong muốn. Anh đã bị đóng đinh và không có con đường nào để thoát ra. Ngay cả anh nữa đó, Mitch. Anh bắt đầu làm việc vào tháng Bảy, tức tám tháng trước, và có lẽ anh đã chạm đến một vài hồ sơ bẩn. Anh không biết chuyện đó, không có lý do nào để nghi ngờ cả. Nhưng chúng thì đã bẫy được anh rồi đấy."

"Hai triệu, Tarrance. Hai triệu và anh trai của tôi."

Tarrance nhấp ly cà phê đã nguội và gọi một bánh dừa khi Dot tiến vào tầm nghe. Anh liếc đồng hồ rồi dọ xét đám đông các tài xế xe tải, tất cả đều đang hút thuốc, uống cà phê và tán gẫu.

Anh chỉnh lại cặp kính mát. "Vậy tôi sẽ nói gì với Voyles đây?"

"Bảo ông ta rằng sẽ không thể có một thỏa thuận tốt trừ phi ông

ta đồng ý đưa Ray ra khỏi tù. Không có thương lượng nào cả, Tarrance ạ."

"Có thể chúng tôi sẽ nghĩ ra cách chi đó."

"Tôi tin anh sẽ nghĩ ra được."

"Khi nào vợ chồng anh đi Cayman?"

"Sáng sớm Chủ nhật. Sao vậy?"

"Chỉ tò mò chút thôi, chẳng có gì cả."

"Được rồi, tôi muốn biết sẽ có bao nhiêu nhóm sẽ đi cùng tôi xuống dưới đó. Hỏi như vậy có phải là quá nhiều không? Chắc chắn chúng tôi sẽ thu hút nguyên một bầy và, nói thẳng ra, chúng tôi đang hy vọng có được chút riêng tư."

"Ở căn hộ chung cư của hãng hả?"

"Dĩ nhiên."

"Quên chuyện riêng tư đi. Nơi đó có lẽ còn gắn nhiều dây nhợ hơn cả cái tổng đài nữa đấy. Có lẽ thậm chí cả camera nữa."

"Nghe yên tâm ghê. Chúng tôi có thể sẽ ở vài đêm tại khu nhà lặn Abanks. Nếu đám các anh ở gần đó thì hãy tạt qua xơi chút nước nhé."

"Vui nhỉ, chúng tôi mà ở đó thì hẳn phải có lý do chứ. Và cái lý do đó thì anh sẽ không biết được đâu."

Tarrance cắn ba phát, nuốt trỏng luôn chiếc bánh. Anh bỏ lại hai đô trên bàn rồi họ bước vào bóng tối phía sau trạm dừng xe tải. Vỉa hè dơ bẩn trải nhựa đường rung chuyển bởi những tiếng rền không

dứt của vô vàn những động cơ diesel. Họ chờ trong bóng tối.

"Vài giờ nữa tôi sẽ nói chuyện với Voyles," Tarrance nói. "Sao anh và vợ anh không làm một chuyến đi thong dong vào chiều Chủ nhật ngày mai nhỉ?"

"Có nơi nào cụ thể không?"

"Có chứ. Cách đây năm mươi cây số về hướng đông có một thị trấn tên là Holly Springs. Một nơi cổ kính, đầy ắp những ngôi nhà từ Đệ nhất Thế chiến cùng lịch sử của Liên minh. Phụ nữ thích đi xe lòng vòng nơi đó, ngắm mấy khu nhà cổ. Hãy xuất hiện ở đó vào lúc khoảng bốn giờ và chúng tôi sẽ tìm đến anh. Anh bạn Laney của chúng ta sẽ lái chiếc Chevy Blazer màu đỏ sáng với biển số Tennessee. Hãy đi theo anh ta. Chúng ta sẽ tìm một chỗ để nói chuyện."

"Có an toàn không vậy?"

"Hãy tin chúng tôi. Nếu nhìn thấy hoặc đánh hơi thấy gì, chúng tôi sẽ tách ra ngay. Hãy lái quanh thị trấn trong một giờ đồng hồ, và nếu anh không thấy Laney thì hãy mua sandwich rồi quay trở về nhà. Anh sẽ hiểu là chúng đang ở quá gần. Chúng tôi sẽ không liều lĩnh."

"Cảm ơn. Một đám quá ngầu."

Trong chiếc BMW, Laney gọn gàng bọc góc rồi nhảy xuống. "Mọi thứ đều sạch. Không có dấu vết nào cả."

"Tốt." Tarrance nói. "Hẹn gặp anh ngày mai, Mitch. Dạo chơi xe tải vui vẻ nhé." Họ bắt tay nhau.

"Không thương lượng đâu đấy, Tarrance," Mitch nhắc lại.

"Hãy gọi tôi là Wayne. Hẹn mai nhé."

25

Những đám mây đen kịt và cơn mưa nặng hạt từ lâu đã xua đuổi toàn bộ các du khách đến bãi Seven Mile khi vợ chồng McDeere -ướt sũng và mệt mỏi - về đến căn hộ chung cư hai tầng sang trọng. Mitch de chiếc jeep thuê vào đoạn đường cong bên kia thảm cỏ nhỏ rồi lái đến cửa trước. Khu B. Lần viếng thăm đầu của anh là ở Khu A. Chúng có vẻ như nhau, ngoại trừ nước sơn và trang trí. Chìa khóa khớp vào ổ, họ tóm rồi lẳng những hành lý khi các đám mây vỡ ra và mưa rơi nặng hạt hơn.

Khi đã vào trong và khô ráo, họ tháo dỡ hành lý trong căn phòng ngủ đồ sộ ở trên gác với ban công hướng ra bãi biển ngập nước. Thận trọng từng lời, họ thám thính căn "khách sạn mini" kiểm tra từng căn phòng, từng nhà vệ sinh. Tủ lạnh trống rỗng, nhưng quầy bar thì được tích trữ rất dồi dào. Mitch trộn hai món thức uống, Rum và Coca, để vinh danh các đảo. Họ ngồi ở ban công, chân thò ra mưa, ngắm đại dương đang cuồn cuộn dâng trào, tiến vào bờ. Rumheads im ắng và thấp thoáng ở xa xa. Hai người bản địa ngồi ở quầy bar, uống rượu và nhìn ra biển.

"Rumheads ở đằng kia," Mitch nói, trỏ bằng cánh tay cầm ly.

"Rumsheads?"

"Anh kể cho em rồi mà. Đó là một điểm nóng, nơi du khách uống rượu và dân địa phương chơi domino."

"Em hiểu rồi." Abby không thấy ấn tượng. Cô ngáp và ngồi ngập sâu hơn trong chiếc ghế nhựa. Cô nhắm mắt lại.

"Ồ, hay thật đấy, Abby. Chuyến đi ra nước ngoài đầu tiên của chúng ta, chuyến đi trăng mật đích thực đầu tiên. Thế mà mới đặt chân đến nơi chưa được mười phút mà em đã buồn ngủ."

"Em mệt, Mitch ạ. Em đã soạn hành lý suốt cả đêm trong khi anh ngủ."

"Em gói ghém tám chiếc va li sáu chiếc là của em, của anh chỉ có hai. Em mang theo toàn bộ quần áo mà chúng ta có. Em thức trắng đêm là phải rồi."

"Em không muốn bị thiếu quần áo."

"Thiếu ư? Em mang theo bao nhiêu bộ bikini vậy? Mười à? Hay hai mươi?"

"Sáu."

"Tuyệt. Mỗi ngày một bộ. Sao em không mặc vào một bộ luôn đi?"

"Sao cơ?"

"Nghe anh nè. Hãy mặc chiếc bikini be bé màu xanh với vớ dài và đôi ba sợi dây cài ở phía trước, cái mà nặng nửa gam và trị giá sáu mươi đô ấy. Rồi hãy xõa tóc ra khi em bước. Anh muốn thấy cảnh

đó."

"Mitch, trời đang mưa. Anh đã đưa em đến hòn đảo này vào giữa mùa mưa. Hãy nhìn những đám mây kia kìa. Chúng đen, dày và cực kỳ ổn định. Em sẽ chẳng cần đến chiếc bikini nào suốt tuần này."

Mitch mỉm cười rồi bắt đầu vuốt chân cô. "Anh rất thích mưa. Thực sự, anh chỉ mong cho trời mưa suốt tuần. Nó sẽ cầm chân chúng ta trong nhà và trên giường. Chúng ta sẽ nhấp Rum và làm cho nhau đau."

"Anh làm em sốc đấy. Anh thực sự muốn tình dục sao? Ta đã làm chuyện đó một lần trong tháng này rồi mà."

"Hai lần."

"Em tưởng anh muốn lặn bình và lặn ống thở suốt cả tuần chứ."

"Không hề. Có thể một con cá mập đang chờ anh ngoài kia." Gió thổi mạnh hơn và ban công bắt đầu sũng nước. "Ta đi thay quần áo nhé," Mitch nói.

Một giờ sau, cơn bão bắt đầu di chuyển. Mưa thưa hạt dần rồi trở nên lất phất và chấm dứt. Bầu trời quang đãng hơn khi những đám mây đen thấp rời khỏi hòn đảo nhỏ để đi lên phía đông bắc theo hướng Cuba. Ít lâu trước sự ra đi lớp lang của những đám mây về phía chân trời, mặt trời đột nhiên ló dạng trong một màn trình diễn ngắn ngủi. Nó làm trống huếch hoác những lều tranh, nhà ở, chung cư, phòng khách sạn khi du khách tràn ra bãi cát, lao ra biển. Rumheads đột nhiên chật cứng những tay phóng phi tiêu và những người tắm biển khát nước. Trò chơi domino được vực dậy từ điểm

mà nó bị bỏ dở. Băng nhạc giậm giật tại Palms ở kế bên bắt đầu cất tiếng.

Mitch và Abby đi vẩn vơ dọc mép nước theo một hướng chung chung đến Georgetown. Cách xa cái nơi mà cô gái xuất hiện. Thi thoảng anh lại nghĩ đến cô ta và những tấm ảnh. Anh xác định đó là một cô ả chuyên nghiệp được DeVasher thuê để quyến rũ và chinh phục anh trước các camera giấu kín. Anh không định sẽ gặp lại cô lần này.

Như được hẹn trước, âm nhạc chợt dừng lại, những người đi dạo trên bãi biển chợt đóng băng và ngước nhìn, tiếng ồn tại Rumheads chợt lắng đọng khi mọi cặp mắt xoay chuyển để chiêm ngưỡng cảnh mặt trời đang tiếp nước. Những đám mây xám trắng rơi rớt của cơn bão hạ thấp dần ở đường chân trời rồi chìm xuống cùng vầng dương. Chúng từ từ làm xoay chuyển những sắc cam, vàng và đỏ, thoạt tiên chuyển thành màu xanh xám, rồi bất chợt là những tông tươi sáng. Trong một khoảnh khắc ngắn, bầu trời là một tấm vải bạt mà mặt trời vấy lên đó những sắc màu tuyệt mỹ bằng những nét mạnh bạo. Rồi quả cầu màu cam sáng chạm mặt nước và, chỉ trong tích tắc, nó biến mất. Những đám mây trở lại với màu đen và tản mác dần. Đó là khung cảnh mặt trời lặn ở Cayman.

Sợ hãi và thận trọng, Abby chầm chậm lái chiếc jeep giữa luồng giao thông buổi sáng sớm ở khu vực mua sắm. Cô đến từ Kentucky và chưa bao giờ lái xe bên lề trái trong bất kỳ khoảng thời gian đáng kể nào. Mitch chỉ đường và quan sát gương chiếu hậu. Những con đường và vỉa hè hẹp chưa chi đã chật ních du khách đi mua sắm

hàng sành sứ, hàng pha lê, nước hoa, máy ảnh và đồ nữ trang miễn thuế.

Mitch trỏ vào một con đường hông ở một chỗ khuất, và chiếc jeep len vào giữa hai nhóm du khách. Anh hôn lên má cô. "Anh sẽ gặp lại em đúng chỗ này vào lúc năm giờ."

"Cẩn thận đấy," cô nói. "Em sẽ đi đến ngân hàng rồi ra bãi biển gần chung cư."

Anh sập cửa rồi biến mất giữa hai cửa tiệm nhỏ. Con hẻm hẹp dẫn ra một con đường rộng hơn đi đến vịnh Hogsty Bat. Anh chui vào một cửa tiệm áo thun đông nghẹt người, với hàng kệ, hàng dãy những áo thun du lịch, nón rơm và kính mát. Anh lựa ra một chiếc áo hoa hòe màu xanh và cam và một chiếc nón Panama. Hai phút sau, anh thoát nhanh khỏi cửa hiệu, lao vào băng ghế sau của một chiếc taxi đi ngang. "Sân bay," anh nói. "Và nhanh lên nhé. Coi chừng sau đuôi. Ai đó có thể đang bám theo."

Người tài xế không phản ứng gì, chỉ băng qua các tòa nhà ngân hàng rồi ra khỏi thành phố. Mười phút sau, anh ta dừng xe trước ga hàng không.

"Có ai bám theo chúng ta không?" Mitch hỏi, rút tiền trong túi ra.

"Không đâu, mon. Bốn đô la và mười cent."

Mitch ném tờ năm đô la lên ghế rồi bước vội vào nhà ga sân bay. Chuyến đi của hãng Cayman Airways đến Cayman Brac sẽ cất cánh vào lúc chín giờ. Tại một cửa hàng quà tặng, Mitch mua một ly cà phê rồi nấp giữa hai dãy kệ chứa đầy hàng lưu niệm. Anh quan sát

khu vực chờ và không thấy ai khả nghi. Dĩ nhiên, anh chẳng có ý niệm họ trông ra sao, nhưng anh không thấy có ai đang lảng vảng như tìm kiếm người thất lạc. Có lẽ họ đang bám theo chiếc jeep hoặc đang xới tung khu mua sắm để tìm anh. Có lẽ thôi.

Với giá bảy mươi lăm đô la Cayman, anh đã đặt chỗ ở dãy ghế cuối trên chiếc Trislander - ba động cơ, mười hành khách. Abby đã đặt chỗ qua điện thoại trả tiền vào cái đêm mà họ đến. Vào những giây muộn nhất có thể, anh điềm tĩnh đi từ sân ga ra chiếc xe đưa đón rồi leo lên máy bay. Người phi công sập cửa, khóa lại rồi cho chiếc máy bay lăn bánh đến phi đạo. Không thấy có chiếc máy bay nào khác. Một nhà chứa máy bay nhỏ nằm ở bên phải. Mười du khách đang ngắm nghía mặt nước xanh trong và chỉ nói rất ít trong chuyến bay hai mươi phút. Khi đến gần Cayman Brac, người phi công bỗng trở thành hướng dẫn viên du lịch. Ông đánh một vòng rộng quanh hòn đảo nhỏ, đặc biệt lưu ý cái dốc đứng đổ xuống biển ở đầu phía đông. Nếu không có cái dốc đứng này thì hòn đảo cũng dẹt như Grand Cayman, ông nói vậy. Ông đáp máy bay êm ru trên dải băng hẹp tráng nhựa đường.

Cạnh một tòa nhà nhỏ khung trắng với dòng chữ PHI TRƯỜNG sơn ở cả bốn mặt, một người Caucasus trông bảnh bao đã chờ sẵn, quan sát các hành khách đang nhanh chóng rời máy bay. Anh ta là Rick Acklin, đặc vụ. Mồ hôi nhỏ tong tỏng từ mũi anh ta và khiến cho chiếc sơ mi dán chặt vào lưng. Anh ta hơi dấn tới. "Mitch," anh ta nói, hầu như với chính mình.

Mitch ngập ngừng rồi bước đến.

"Xe ở phía trước," Acklin nói.

"Tarrance đâu?" Mitch nhìn quanh quất.

"Anh ta đang đợi."

"Xe có điều hòa không vậy?"

"E rằng không. Xin lỗi."

Chiếc xe kém tiện nghi, thiếu cả không khí lẫn điện đóm và đèn tín hiệu. Đó là một chiếc 1974 LTD. Khi xe đi trên một con đường bụi bặm, Acklin biện bạch rằng ở Cayman Brac này đơn giản chẳng có bao nhiêu xe cho thuê để mà lựa chọn. Và lý do để chính phủ Hoa Kỳ phải thuê xe là vì anh ta và Tarrance không tài nào tìm ra được một chiếc taxi. Do đăng ký muộn như thế nên họ phải may mắn lắm mới tìm được một căn phòng. Những ngôi nhà nhỏ tươm tất nằm san sát nhau, và rồi biển xuất hiện. Họ đậu trong bãi cát của một nhà lặn có tên là Brac Divers. Một cầu tàu cũ kỹ nhô lên khỏi mặt nước đang neo giữ hàng trăm tàu thuyền đủ mọi kích cỡ. Dọc bãi biển về phía tây, một chục nhà tranh mái rạ mọc lên cách mặt cát chừng hai sáu tấc, chứa chấp những người đi lặn từ khắp nơi trên thế giới đổ về. Gần cầu tàu có một quán bar ngoài trời. Quán không tên, nhưng có đầy đủ domino và bảng phóng phi tiêu. Có những chiếc quạt trần bằng gỗ sồi bọc đồng treo trên xà nhà. Chúng quay chầm chậm và im ắng, tạo ra gió mát cho các tay chơi domino và gã phục vụ quầy.

Wayne Tarrance ngồi uống Coca một mình tại bàn, theo dõi một

tổ lặn đang chất từ cầu tàu lên hàng ngàn những chiếc bình màu vàng giống hệt nhau. Ngay cả với du khách, cách ăn mặc của anh cũng có phần quá trớn. Kính râm với gọng màu vàng, dép rơm màu nâu rõ ràng còn mới cứng, vớ đen, áo luau ôm sát của người Hawaii với hai mươi sắc màu ầm ĩ và một chiếc quần lửng thể thao màu vàng kim vừa cũ lại vừa ngắn, chẳng che phủ được là bao đôi chân trắng hếu đến bệnh hoạn đang thò dưới gầm bàn. Anh vung lon Coca trỏ về phía hai chiếc ghế trống.

"Áo đẹp đấy, Tarrance," Mitch nói với vẻ giễu cợt không che giấu.

"Cảm ơn. Như vậy mới nổi bật."

"Nước da cũng đẹp nữa."

"Đúng, như vậy mới là phong cách, anh biết đấy."

Người phục vụ lảng vảng ở gần đó, chờ họ gọi. Acklin gọi một Coca, Mitch nói anh muốn một Coca pha với chút ít Rum. Cả ba trở nên say đắm chiếc tàu lặn và những người đi lặn đang chất lên tàu những chiếc bình dưỡng khí cồng kềnh.

"Chuyện gì đã xảy ra ở Holly Springs?" Mitch cuối cùng hỏi.

"Xin lỗi, chúng tôi đã không làm gì được. Chúng bám theo vợ chồng anh khi anh và cô ta ra khỏi Memphis, và chúng có hai chiếc xe đón sẵn ở Holly Springs. Chúng tôi không thể tiếp cận anh."

"Trước khi đi, anh và vợ anh có bàn bạc về chuyến nghỉ mát không?" Acklin hỏi.

"Tôi nghĩ là có. Có lẽ chúng tôi có nhắc đến nó vài lần ở trong nhà."

Acklin có vẻ thỏa mãn. "Chúng chắc chắn đã chuẩn bị để bám theo vợ chồng anh. Một chiếc Skylard đã bám đuôi anh trong khoảng hai hay ba mươi cây số rồi biến mất. Chúng tôi đành phải rút."

Tarrance nhấp Coca rồi nói, "Vào đêm muộn hôm thứ Bảy, chiếc Lear đã rời Memphis, bay thẳng đến Grand Cayman. Chúng tôi nghĩ có hai hoặc ba tên lưu manh ở trên đó. Chiếc máy bay lại rời đi vào sáng sớm Chủ nhật và quay về Memphis."

"Vậy là họ đang ở đây và theo dõi chúng tôi?"

"Dĩ nhiên. Có lẽ chúng có một hoặc hai người ngồi trên cùng chuyến bay với anh và Abby. Có thể là nam, nữ hay cả nam lẫn nữ. Có thể là một gã da đen hay một người phụ nữ phương đông. Ai biết được chứ? Nhớ đi, Mitch, chúng có hàng đống tiền. Chúng tôi đã nhận ra hai tên. Một tên ở Washington lúc anh ở đó. Gã này tóc vàng trạc bốn mươi, sinh năm sáu mốt hoặc sáu hai. Tóc hắn cực ngắn, gần như húi sát, và trông hắn cực khỏe, dáng dấp như người Bắc Âu. Hắn di chuyển rất nhanh. Mới hôm qua tôi thấy hắn lái một chiếc Escort đỏ ra khỏi cơ sở cho thuê xe Coconut Car ở trên đảo."

"Tôi nghĩ tôi đã thấy hắn," Mitch nói.

"Ở đâu?" Acklin hỏi.

"Trong quán bar ở sân bay Memphis vào cái đêm tôi từ Washington về. Tôi bắt gặp hắn đang nhìn tôi, lúc đó tôi nghĩ tôi đã thấy hắn ở Washington."

"Chính là hắn đấy. Hắn đang ở đây."

"Gã kia là ai?"

"Tony Verkler, hay Tony Hai-Tấn như người ta thường gọi. Hắn là một tên lưu manh với một kỷ lục bị truy tố rất ấn tượng, hầu hết ở Chicago. Hắn làm việc cho nhà Morolto từ lâu lắm rồi. Hắn nặng chừng một trăm ba mươi lăm ký, và hắn chuyên trách cái công việc tuyệt vời là theo dõi người khác vì không ai có thể nghi ngờ hắn."

"Tối qua hắn ở Rumheads," Acklin bổ sung.

Với một nghi lễ long trọng, chiếc tàu lặn được đẩy khỏi cầu tàu để đi ra biển khơi. Bên kia cầu tàu, dân chài trên các thuyền buồm đang quăng lưới. Các thủy thủ đang dong những chiếc bè đôi sặc sỡ rời khỏi đất liền. Sau một khởi đầu hiền hòa và mơ màng, hòn đảo nay đã thức giấc. Một nửa số tàu neo ở cầu tàu đã rời đi hoặc chuẩn bị ra đi.

"Vậy khi nào đám các anh mới vào thành phố?" Mitch hỏi, nhấp cái món thức uống nhiều Rum hơn cả Coca.

"Tối Chủ nhật," Tarrance đáp trong khi quan sát chiếc tàu lặn từ từ biến mất.

"Chỉ là tò mò thôi nhé, các anh có bao nhiêu người trên các đảo vậy?"

"Bốn nam, hai nữ," Tarrance đáp. Acklin trở nên nín lặng, phó mặc toàn bộ cuộc trò chuyện cho cấp trên của mình.

"Và tại sao người của các anh lại ở đây?" Mitch hỏi.

"Ồ, có nhiều lý do lắm. Thứ nhất, chúng tôi muốn nói chuyện với anh và gút lại cái thỏa thuận be bé của chúng ta. Giám đốc Voyles

đang lo lắng khủng khiếp về việc đạt đến một thỏa thuận mà anh có thể chấp nhận. Thứ hai, chúng tôi muốn quan sát chúng để xác định xem có bao nhiêu tên lưu manh đang ở nơi đây. Chúng tôi sẽ dành nguyên tuần để điểm mặt từng tên. Hòn đào này có chút tẹo nên sẽ là một nơi tốt để quan sát."

"Và thứ ba là anh muốn làm cho da mình rám nắng?"

Acklin khẽ khúc khích. Tarrance mỉm cười rồi chau mày. "Không, không hẳn thế. Chúng tôi ở đây là để bảo vệ cho anh đó."

"Bảo vệ tôi?"

"Đúng. Lần cuối mà tôi ngồi ở ngay chính chiếc bàn này, ấy là khi tôi nói chuyện với Joe Hodge và Marty Kozinski. Đã khoảng chín tháng rồi. Chính xác là cái ngày trước khi họ bị giết."

"Và anh cho rằng tôi sắp sửa bị giết?"

"Chưa. Chưa đâu."

Mitch ra hiệu cho người phục vụ quầy mang ra thêm thức uống. Sòng domino trở nên nóng hơn. Anh nhìn những người bản địa đang cãi cọ và uống bia.

"Này, các bác, trong khi chúng ta nói chuyện ở đây, bọn lưu manh - như cách các anh hay gọi - có lẽ đang bám theo vợ tôi đi khắp Grand Cayman đấy. Tôi kiểu như sẽ khá bồn chồn khi nào còn chưa về lại. Giờ thì, thỏa thuận ra sao rồi?"

Tarrance rời mắt khỏi biển và con tàu lặn để quay sang Mitch. "Hai triệu là được, và..."

"Dĩ nhiên là được mà, Tarrance. Chúng ta đã thỏa thuận được,

đúng không?"

"Thư giãn đi, Mitch. Chúng tôi sẽ trả một triệu khi nào anh chuyển giao toàn bộ các hồ sơ của anh. Đến lúc đó sẽ không còn đường lui nữa, như cách người ta vẫn nói. Anh sẽ bị lún sâu tận cổ."

"Tarrance, tôi hiểu chuyện đó. Đó là gợi ý của tôi mà, nhớ chưa?"

"Nhưng đó mới chỉ là phần dễ. Chúng tôi thực sự không muốn các hồ sơ của anh vì chúng là những hồ sơ sạch, những hồ sơ tốt, những hồ sơ hợp pháp. Chúng tôi muốn những hồ sơ xấu, Mitch ạ, những hồ sơ có thể đóng dấu nhan nhản lệnh truy tố ấy. Các hồ sơ này sẽ khó kiếm hơn rất nhiều. Nhưng nếu anh kiếm được thì chúng tôi sẽ trả thêm nửa triệu nữa. Phần còn lại là sau phiên tòa cuối cùng."

"Còn anh trai tôi thì sao?"

"Chúng tôi sẽ cố."

"Nói vậy không đủ đâu, Tarrance. Tôi muốn có cam kết."

"Chúng tôi không thể hứa thả anh trai anh. Trời ạ, anh ta còn phải ngồi ít nhất bảy năm nữa."

"Nhưng anh ấy là anh trai tôi, Tarrance. Tôi không quan tâm anh ấy có phải là tên giết người hàng loạt đang chờ tử hình hay không. Anh ấy là anh trai tôi, và nếu các anh muốn tôi thì phải thả anh ấy ra."

"Tôi đã nói chúng tôi sẽ cố rồi mà, nhưng chúng tôi không thể cam kết điều gì được. Không có phương cách hợp thức, chính thức hay hợp pháp nào để đưa anh ta ra ngoài, cho nên chúng tôi phải

thử những phương cách khác. Ngộ nhỡ anh ta bị bắn trong khi đang vượt ngục thì sao?"

"Hãy đưa anh ấy ra, Tarrance."

"Chúng tôi sẽ cố."

"Các anh có thể dùng quyền năng và các nguồn lực của FBI để giúp anh trai tôi vượt ngục phải không, Tarrance?"

"Anh đã có cam kết của tôi rồi đấy thôi."

Mitch ngồi lại vào chiếc ghế của anh và hớp một ngụm dài. Giờ thì thỏa thuận đã hoàn tất, anh cảm thấy dễ thở hơn và mỉm cười nhìn về hướng biển Caribe lộng lẫy.

"Vậy khi nào chúng tôi có các hồ sơ của anh?" Tarrance hỏi.

"Tôi tưởng anh không muốn chúng cơ mà. Chúng quá sạch sẽ, nhớ không?"

"Chúng tôi muốn các hồ sơ, Mitch ạ. Bởi lẽ khi chúng tôi nhận chúng thì có nghĩa chúng tôi đã nắm thóp được anh. Anh sẽ tự chứng tỏ mình khi trao cho chúng tôi các hồ sơ của anh, hay nói nôm na là giấy phép hành nghề của anh đấy."

"Mười đến mười lăm ngày."

"Bao nhiêu hồ sơ?"

"Từ bốn mươi đến năm mươi. Các hồ sơ nhỏ cũng dày đến cả mấy phân. Các hồ sơ lớn thì có thể chất đầy chiếc bàn này. Tôi không thể sử dụng máy photocopy ở văn phòng, nên tôi phải thu xếp những cách khác."

"Có lẽ chúng tôi có thể hỗ trợ anh việc sao chép." Acklin nói.

"Có lẽ là không. Nếu tôi cần các anh giúp thì tôi sẽ nhờ."

"Anh đề xuất sẽ trao cho chúng tôi như thế nào?" Tarrance hỏi. Acklin một lần nữa rút lui.

"Rất đơn giản, Wayne. Một khi chúng tôi sao chép xong toàn bộ, một khi tôi lấy được một triệu ở nơi nào tôi muốn, khi đó tôi sẽ trao cho các anh chìa khóa để đi vào một căn phòng nhỏ nào đó trong khu vực Memphis, và các anh có thể khuân chúng vào chiếc bán tải của các anh."

"Tôi đã nói rồi mà, chúng tôi sẽ gửi tiền vào một tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ," Tarrance nói.

"Nhưng bây giờ tôi không muốn gửi tiền vào một ngân hàng Thụy Sĩ nữa, được chứ? Tôi sẽ áp đặt các điều khoản chuyển giao, và nó sẽ phải được thực hiện chính xác như tôi nói. Từ nay tôi đã bị mắc cái thòng lọng vào cổ rồi đó, các bồ tèo, cho nên tôi phải là người quyết định mọi việc. Ít ra là phần lớn mọi việc."

Tarrance mỉm cười rồi làu bàu nhìn ra cầu tàu.

"Vậy té ra anh không tin ngân hàng Thụy Sĩ?"

"Hãy chỉ nói là tôi đang nghĩ đến một ngân hàng khác. Tôi làm việc cho đám rửa tiền mà, nhớ lại đi, Wayne, cho nên tôi đã trở thành một chuyên gia giấu tiền trong các tài khoản hải ngoại."

"Chúng tôi sẽ xem xét."

"Khi nào thì tôi có được cuốn sổ tay đó về đám Morolto?"

"Sau khi chúng tôi nhận các hồ sơ của anh và trả khoản cọc đầu

tiên. Chúng tôi sẽ ghé thăm anh nhiều nhất trong chừng mực có thể, nhưng chủ yếu là anh phải tự lo cho bản thân. Anh và tôi sẽ phải gặp nhau rất nhiều, và dĩ nhiên việc đó rất nguy hiểm. Có thể chúng ta sẽ phải làm vài chuyến xe buýt nữa."

"Được rồi, nhưng lần sau tôi lấy ghế ở lối đi đấy nhé."

"Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Người nào mà trị giá hai triệu thì chắc chắn có quyền chọn chỗ trên một chiếc Greyhound rồi."

"Tôi sẽ chẳng sống nổi để thụ hưởng cái quyền đó, Wayne. Anh cũng biết vậy mà."

Ra khỏi Georgetown năm cây số trên con đường hẹp và ngoằn ngoèo dẫn đến Bodden Town, Mitch nhìn thấy hắn. Gã đàn ông đang ngồi chồm hổm sau một chiếc Vokswagen Beetle với mui kéo lên, như thể đang phải dừng xe do máy hỏng. Hắn ăn mặc như người bản địa chứ không như du khách. Có thể dễ dàng lầm tưởng hắn là một trong những người Anh đang làm việc cho chính phủ hoặc cho các ngân hàng. Da hắn rám nắng. Hắn đang cầm một chiếc cờ lê hay chỉ đó, ra vẻ như đang săm soi nó, nhưng thật ra lại đang quan sát chiếc Jeep của Mitsubishi vào lúc nó nổ máy ở bên tay trái con đường. Hắn là một người Bắc Âu.

Hắn nghĩ mình không bị ai để ý.

Theo bản năng, Mitch đi chậm lại, giảm tốc xuống còn năm mươi cây số mỗi giờ để chờ hắn. Abby quay lại nhìn đường. Con đường cao tốc hẹp dẫn đến Bodden Town chạy men theo bờ tám cây số rồi rẽ nhánh, và đại dương biến mất. Chỉ trong ít phút, chiếc VW xanh

lục của gã Bắc Âu đã xuất hiện, phóng qua một khúc lượn ngắn. Chiếc Jeep của McDeere ở gần hơn so với dự đoán của gã Bắc Âu. Thấy nó, hắn đột ngột giảm tốc rồi rẽ vào lối đi đá trắng đầu tiên phía đại dương. Mitch đạp ga chiếc Jeep, phóng nhanh đến Bodden Town. Ở phía tây một khu dân cư, anh ngoặt sang hướng nam và chưa đầy một cây số đã ra đến biển.

Lúc này là mười giờ sáng và bãi đậu của khu nhà lặn Abanks đã đầy phân nửa. Các tàu lặn buổi sáng đã lên đường từ ba mươi phút trước. Vợ chồng McDeere bước nhanh đến quầy bar, nơi Henry chưa gì đã dúi bia và thuốc lá cho các tay chơi domino. Barry Abanks đứng tựa vào cây cột chống dàn mái tranh của quán bar, nhìn hai chiếc tàu lặn của ông biến mất quanh góc đảo. Mỗi tàu sẽ thực hiện hai cuốc lặn tại những điểm như Bonnies Arch, Devils Grotto, Eden Rock và Roger's Wreck Point. Đó là những điểm mà ông đã từng lặn, từng đưa khách đến, từng hướng dẫn dễ đến hàng ngàn lần. Một số điểm là do chính ông khám phá ra.

Vợ chồng McDeere tiến đến gần, và Mitch nhỏ nhẹ giới thiệu vợ với "ông Abanks", người tuy không lịch sự nhưng cũng không đến nỗi lỗ mãng. Họ bắt đầu đi đến chiếc cầu tàu nhỏ, nơi một hoa tiêu đang chuẩn bị cho một tàu đánh cá dài mười mét. Abanks phun ra một chuỗi mệnh lệnh không cách chỉ giải mã được theo một hướng chung chung nhắm vào anh chàng hoa tiêu, người có vẻ hoặc là điếc đặc hoặc là không biết sợ chủ.

Mitch đứng cạnh Abanks - lúc này đã là đội trưởng - trỏ tay về phía quầy bar cách cầu tàu năm mươi mét. "Ông có biết tất cả

những người ở quầy bar không?" anh hỏi.

Abanks chau mày.

"Chúng đã tìm cách bám theo chúng tôi đến đây. Chỉ tò mò chút thôi," Mitch nói.

"Là băng thường lệ," Abanks nói. "Không có người lạ."

"Sáng nay ông có để ý thấy người lạ nào quanh đây không?"

"Này anh, nơi đây thu hút nhiều người lạ lắm. Tôi không ghi sổ người nào lạ, người nào không."

"Ông có thấy một người Mỹ to béo, tóc hung, nặng ít nhất một trăm ba mươi cân?"

Abanks lắc đầu. Anh chàng hoa tiêu đẩy con tàu lui ra, tách khỏi cầu tàu rồi hướng nó đến chân trời. Abby ngồi lên một băng ghế nhỏ bọc nệm, nhìn khu nhà lặn biến mất dần. Trong chiếc túi nhựa dẻo giữa hai chân cô là hai bộ ống thở và mặt nạ lặn còn mới nguyên. Đây được mặc định là một chuyến đi câu cá nhỏ, nếu như lũ cá chịu cắn câu. Người đàn ông tuyệt vời này đã đồng ý đích thân tháp tùng họ, nhưng đó chỉ là sau khi Mitch nài nỉ, bảo ông rằng vợ chồng anh cần bàn bạc chuyện riêng. Chuyện riêng, nhưng lại có liên quan đến cái chết của con trai ông.

Từ một ban công được chắn sáng trên tầng hai của tòa nhà Cayman Kai bên bãi biển, gã Bắc Âu quan sát những chiếc đầu đeo ống thở đang hụp lặn quanh tàu cá. Hắn trao ống nhòm cho Tony Hai-Tấn. Nhanh chóng nhàm chán, Tony Verkler trả nó lại. Đứng sau gã Bắc Âu là một cô ả tóc vàng nóng bỏng trong chiếc áo bơi một

mảnh màu đen để lộ đôi chân dài miên man. Cô ả đón lấy chiếc ống nhòm. Mối quan tâm đặc biệt của cô ả chính là anh hoa tiêu.

Tony lên tiếng. "Tôi không hiểu. Nếu chúng nó nói chuyện nghiêm túc thì thằng kia là để làm gì? Sao lại cho phép một đôi tai nữa ở quanh đó?"

"Phải chăng chúng bàn chuyện lặn ống thở và câu cá?" gã Bắc Âu hỏi.

"Em không biết," cô ả tóc vàng nói. "Việc Abanks dành thời gian đi câu cá là một điều bất thường. Lão thích đi theo những người lặn bình. Phải có lý do quan trọng nào đó thì lão mới chịu mất cả ngày cho hai người mới biết lặn ống thở. Có gì đó khả nghi ở đây."

"Thằng nhóc kia là ai?" Tony hỏi.

"Chỉ là một gã sai vặt thôi," cô ta nói. "Lão đó có hàng tá những gã như thế."

"Lát nữa em nói chuyện với hắn có được không?" gã Bắc Âu hỏi. "Phải đó," Tony nói. "Cho hắn xem chút da thịt, hít chút bột là hắn sẽ phun ra ngay thôi mà."

"Để em thử," cô ta nói.

"Tên hắn là gì?" gã Bắc Âu hỏi.

"Keith Rook."

Keith Rook lái con tàu dọc theo chiếc cầu tàu ở Rum Point. Mitch, Abby và Abanks leo ra khỏi tàu rồi đi thẳng ra bãi biển. Keith không được mời ăn trưa. Anh ở lại tàu, biếng nhác lau mặt boong.

Quán Shipwreck nằm cách bãi biển chừng một trăm mét, dưới

những tán cây rậm rạp hiếm hoi. Quán vừa tối vừa ẩm, với các cửa sổ lồng kính và những chiếc quạt trần cọt kẹt. Không có nhạc rập rình, domino hay bảng phi tiêu. Đám đông nay im ắng trong giấc trưa, mỗi bàn đều chăm chú vào những câu chuyện riêng tư. Cảnh quan từ những chiếc bàn của họ nhìn ra biển, hướng lên phía bắc. Họ gọi bánh mì phô mai và bia – bữa ăn chính ở đảo.

"Quán này hơi khang khác," Mitch khẽ nhận xét.

"Rất khác," Abanks nói. "Và nó có lý do của nó. Đây là nơi lui tới của đám buôn ma túy. Chúng có nhiều ngôi nhà và chung cư đẹp ở quanh đây. Chúng bay đến bằng máy bay riêng, bỏ tiền bạc của chúng vào nhiều ngân hàng tốt của chúng tôi, và dành ra vài ngày quanh đây để đi kiểm tra các bất động sản của chúng."

"Một khu vực đẹp."

"Rất đẹp phải không? Chúng có hàng triệu đô và chúng giữ rịt cho riêng chúng."

Cô phục vụ - một người lai vạm vỡ - thả lên bàn ba chai Jamaican Red Stripe, không nói một lời nào. Abanks khom tới, chống trên hai cùi chỏ, đầu hạ thấp. Một động tác đã thành lệ khi trò chuyện ở Shipwreck. "Mấy người nghĩ có thể bước ra được hay sao?" ông hỏi

Mitch và Abby khom đầu xuống cùng một lúc, và cả ba đầu người gặp nhau ở giữa bàn, chỉ vừa vặn cao hơn các chai bia. "Không phải bước mà là chạy. Chạy trối chết! Nhưng chúng tôi sẽ thoát được. Và chúng tôi cần sự trợ giúp của ông."

Ông suy nghĩ một lúc rồi ngước đầu lên và nhún vai. "Nhưng tôi

phải làm gì?" Ông nhấp ngụm Red Stripe đầu tiên của mình.

Abby thấy ả ta trước tiên. Phải là một phụ nữ thì mới chộp được một phụ nữ khác đang cố gắng một cách lịch lãm để nghe trộm cuộc trò chuyện nhỏ của họ. Cô ả ngồi đâu lưng lại Abanks. Đó là một ả tóc vàng hoe. Cô ả giấu một phần khuôn mặt bằng cặp kính mát nhựa đen loại rẻ tiền. Nó che khuất hầu hết khuôn mặt, và cô ả đang ngắm nhìn đại dương, nghe ngóng có phần hơi ráng sức. Khi ba người họ khom xuống, cô ả ngồi thẳng lưng lên và nghe ngóng một cách khá lộ liễu. Cô ả ngồi một mình ở chiếc bàn dành cho hai người.

Abby bấu các móng tay vào đùi chồng. Cô ả tóc vàng áo tắm đen nghe ngóng một hồi rồi quay về với cái bàn và món thức uống của mình.

Wayne Tarrance đã cải thiện tủ quần áo của anh ta vào hôm thứ Sáu trong Tuần lễ Cayman. Không còn đôi dép rơm, chiếc quần lửng bó sát và cặp mắt kính con nít. Không còn cặp giò trắng hếu đến bịnh hoạn. Bây giờ chúng đã thành màu hồng tươi, đến mức không ai nhận ra nổi. Sau ba ngày ở cái chốn nhiệt đới khỉ ho cò gáy có tên là Cayman Brac, anh và Acklin đã hành động nhân danh chính phủ Hoa Kỳ khi đáp xuống một căn phòng rẻ mạt tại Grand Cayman, cách bãi Seven Mile nhiều cây số và không nằm trong tầm đi bộ đến bất cứ địa điểm xa xôi nào trên các đảo. Tại đây họ đã thiết lập một trạm chỉ huy để giám sát việc đi ra đi vào của vợ chồng McDeere và những nhân vật thú vị khác. Tại đây, ở nhà nghỉ Coconut, họ chia sẻ một căn phòng nhỏ với hai chiếc giường đơn và một vòi sen nước

lạnh. Sáng thứ Tư, họ bắt liên lạc với "đối tượng" McDeere, và yêu cầu một cuộc gặp càng sớm cành tốt. McDeere nói không. Anh nói anh quá bận. Nói anh và vợ đang hưởng tuần trăng mật và không có thời gian cho một cuộc gặp như thế. Để sau đi, anh chỉ nói có vậy.

Rồi, vào tối muộn ngày thứ Năm, trong khi Mitch và Abby đang thưởng thức cá mú nướng tại quán Lighthouse trên con đường dẫn đến Bodden Town, Laney – đặc vụ Laney – trong trang phục phù hợp của dân đảo và trông rất giống một anh chàng bản địa da đen, đã dừng lại trước chiếc bàn của họ và đưa ra bản "thánh chỉ." Tarrance đòi một cuộc gặp.

Gà phải được nhập khẩu mới vào được Cayman, và đó không phải là những con ngon nhất. Chỉ là mấy con gà cỡ tầm tầm, không dành cho dân bản địa tiêu thụ mà dành cho dân Mỹ xa nhà đang thiếu thốn cái món ăn cơ bản nhất này. Đại tá Sanders đã có một thời gian khốn khổ dạy dỗ các cô gái đảo da đen (hay gần như da đen) cách thức để rán gà. Với họ, đó là một món ăn ngoại lai. Thế nên đặc vụ Wayne Tarrance, từ Bronx, đã thu xếp một cuộc gặp chớp nhoáng tại chi nhánh nhượng quyền của Kentucky Fried Chicken trên đảo Grand Cayman. Chi nhánh nhượng quyền độc nhất. Anh ta nghĩ nơi này sẽ trống lốc, và anh ta đã sai bét.

Hàng trăm du khách đói ngấu từ Georgia, Alabama, Texas và Mississippi nêm chật kín nơi đó, ngốn ngấu món da gà siêu giòn dùng với salad bắp cải và khoai tây sốt kem. Ở Tupelo có vị ngon hơn, nhưng ở đây cũng ổn. Tarrance và Acklin ngồi trong một

khoang của nhà hàng đông nghẹt, bồn chồn nhìn ra cửa trước. Hủy hẹn chưa phải là quá muộn, chỉ khốn nỗi nơi đây quá đông đúc. Cuối cùng Mitch bước vào, đi một mình. Anh đứng vào một hàng dài. Anh bưng một hộp be bé màu đỏ ra bàn của họ và ngồi xuống. Anh chẳng hỏi gì cả. Anh bắt đầu ăn bữa tối với ba khúc thịt gà, tốn của anh 4,89 đô la, đô la Cayman. Thịt gà nhập khẩu.

"Mấy bữa nay anh ở đâu?" Tarrance hỏi.

Mitch tấn công một khúc đùi. "Trên đảo chứ đâu. Gặp ở đây thì đúng là ngu thật đó, Tarrance. Quá đông người."

"Chúng tôi biết mình đang làm gì."

"Phải rồi, cũng giống như ở cái tiệm giày Triều Tiên ấy mà."

"Ăn nói có duyên ghê. Tại sao anh không muốn gặp tôi hôm thứ Tư?"

"Thứ Tư tôi bận. Tôi có sạch không đấy?"

"Dĩ nhiên anh sạch. Anh mà không sạch thì Laney đã cảnh báo cho anh ở ngoài cửa trước."

"Nơi này làm tôi thấy lo lắng, Tarrance ạ."

"Anh đến chỗ Abanks làm quái gì vậy?"

Mitch chùi miệng rồi cầm lên cái đùi ăn giở. Một cái đùi khá là bé. "Ông ta có con tàu. Tôi muốn đi câu cá và lặn ống thở. Thế là chúng tôi đạt thỏa thuận. Còn anh thì ở đâu, Tarrance? Trong một chiếc tàu ngầm kéo chúng tôi đi quanh đảo hả?"

"Abanks nói gì?"

"Ồ, ông ta nói nhiều lắm. Xin chào. Đưa tôi lon bia. Ai đang bám

theo chúng ta? Tùm lum tá lả."

"Chúng đang bám theo anh đấy, anh có biết không?"

"Chúng! Chúng nào? Chúng các anh hay chúng họ? Tôi đang bị bám theo đông đến mức còn gây ra cả nạn kẹt xe nữa đấy."

"Những gã xấu, Mitch ạ. Những tay từ Memphis, Chicago và New York. Những tay sẽ giết anh ngày mai nếu anh cứ có duyên như thế."

"Cảm động ghê. Vậy ra họ đang bám theo tôi. Tôi đưa họ đi đâu vậy? Lặn ống thở ư? Câu cá ư? Thôi nào, Tarrance. Họ theo tôi, anh theo họ, anh theo tôi, họ theo anh. Tôi mà đạp thắng thì chắc là có hai chục cái mũi dán vào mông tôi quá. Tại sao chúng ta lại gặp nhau ở đây, Tarrance? Nơi này đông như quỷ."

Tarrance ngượng nghịu nhìn quanh.

Mitch đóng hộp thịt gà lại. "Này, Tarrance, tôi đang cáu tiết và mất hết cả khẩu vị đây nè."

"Thư giãn đi. Từ chung cư đến đây anh sạch mà."

"Tôi lúc nào mà chả sạch, Tarrance. Tôi nghĩ rằng mỗi lần Hodge và Kozinski di chuyển họ lúc nào cũng sạch cả. Sạch ở chỗ Abanks. Sạch trên con tàu lặn. Sạch tại các lễ tang. Đó không phải là một ý hay đâu, Tarrance. Tôi sắp đi rồi đó."

"Được rồi, khi nào thì máy bay của anh rời khỏi đây?"

"Hỏi chi vậy? Đám các anh định bám theo à? Các anh theo dõi tôi hay theo dõi họ vậy? Lỡ họ đang theo dõi các anh thì sao? Lỡ tất cả đều rối như canh hẹ và hóa ra tôi đang theo dõi tất cả mọi người thì

sao?"

"Thôi nào, Mitch."

"Chín giờ bốn mươi sáng. Tôi sẽ cố giữ một ghế cho anh. Anh có thể lấy ghế ngồi cạnh cửa số, ở kế bên Tony Hai-Tấn ấy."

"Khi nào thì chúng tôi mới có các hồ sơ của anh?"

Mitch đứng dậy, cầm theo hộp thịt gà. "Trong khoảng một tuần nữa. Cứ cho tôi mười ngày đi. Và, Tarrance này, không được gặp nơi công cộng lần nữa nhé. Họ giết luật sư, nhớ không? Họ đâu có giết các đặc vụ FBI ngu xuẩn."

26

Vào lúc tám giờ sáng thứ Hai, Oliver Lambert và Nathan Locke được cho qua bức tường bê tông ở tầng năm và bước qua một mê cung những căn phòng và văn phòng nhỏ. DeVasher đang đợi. Ông khép cửa sau khi họ vào rồi trỏ những chiếc ghế. Những bước chân qua lại của ông không nhanh nhẹn như mọi khi. Đêm trước là một trận chiến kéo dài và đại bại trước vodka. Đôi mắt ông đỏ quánh và não của ông phập phù theo từng hơi thở.

"Hôm qua tôi đã nói chuyện với Lazarov ở Las Vegas. Tôi cố hết sức trình bày những lý do vì sao các anh lại lừng khừng như vậy trong việc sa thải bốn luật sư, Lynch, Sorrell, Buntin và Myers. Tôi đã đưa ra tất cả những lý do tốt đẹp của các anh. Ông ta nói đã nghĩ đến những chuyện đó, nhưng trong khi chờ đợi hãy đảm bảo chắc chắn bốn gã đó chỉ làm việc với các hồ sơ sạch mà thôi. Đừng có gây rủi ro và hãy canh chừng chúng cho kỹ vào."

"Ông ta tốt bụng thật đấy, phải vậy không?"

"Chứ còn gì nữa. Một người đàn ông quyến rũ. Ông ta nói ông Morolto đã hỏi thăm về hãng mỗi tuần một lần trong suốt sáu tuần

liền. Nói rằng tất cả bọn họ đều lo lắng."

"Anh nói gì với ông ta?"

"Nói với ông ta rằng mọi thứ đều an toàn, cho đến nay. Những rò rỉ đã bị bít, cho đến nay. Tôi không nghĩ ông ta tin tôi."

"Về McDeere thì sao?" Locke hỏi.

"Hắn có một tuần tuyệt vời bên cô vợ. Các anh đã thấy con bé trong bộ bikini dây chưa? Nó chỉ mặc mỗi một bộ suốt cả tuần. Mỹ mãn! Chúng tôi có vài tấm ảnh, cho vui thôi nhé."

"Tôi không đến đây để xem ảnh." Locke cáu kỉnh nói.

"Đừng như thế chứ. Chúng dành cả ngày đi chơi cùng anh bạn nhỏ Abanks. Chỉ ba người chúng nó cộng thêm với gã hoa tiêu. Chúng nghịch nước, câu cá một chút. Và chúng nói chuyện với nhau rất nhiều. Về việc gì thì chúng tôi không biết. Chẳng bao giờ đến được đủ gần. Nhưng việc đó khiến tôi nghi ngờ lắm đấy, các bồ tèo. Rất là khả nghi đó."

"Tôi chẳng thấy vì sao lại khả nghi cả," Oliver Lambert nói. "Chúng có thể nói gì cơ chứ, ngoài chuyện câu cá, lặn biển và dĩ nhiên là chuyện Hodge và Kozinski? Và việc chúng nói về Hodge và Kozinski thì có hại ở chỗ nào?"

"Hắn chưa bao giờ quen biết Hodge và Kozinski, Oliver ạ." Locke nói. "Tại sao hắn quan tâm nhiều như vậy đến cái chết của mấy gã đó?"

"Đừng quên rằng Tarrance đã nói với hắn trong lần gặp đầu tiên rằng những cái chết không phải là do tai nạn." DeVasher nói, "Cho

nên bây giờ hắn muốn trở thành Sherlock Holmes, đi tìm các manh mối."

"Hắn chẳng tìm được gì đâu, phải không DeVasher?"

"Không đời nào. Đó là một công việc hoàn hảo. Ồ, dĩ nhiên cũng có vài câu hỏi không có lời giải đáp, nhưng cảnh sát Cayman thì chắc như bắp rang sẽ không thể trả lời được. Cu cậu McDeere của chúng ta cũng thế thôi."

"Vậy sao anh lại lo?" Lambert hỏi.

"Vì ở Chicago họ đang lo, Ollie ạ. Và họ trả cho tôi bộn bạc để giữ cho dưới này cũng biết lo. Khi nào đám Fibbie còn chưa chịu buông tha chúng ta thì mọi người hãy tiếp tục lo lắng đi nhé, hiểu chưa?"

"Hắn còn làm gì khác nữa không?"

"Những việc thông thường khi nghỉ mát ở Cayman. Tình dục, phơi nắng, Rum, một ít mua sắm và ngoạn cảnh. Chúng tôi có ba người trên đảo và họ đã mất dấu hắn đôi ba lần, nhưng không có gì là nghiêm trọng cả, hy vọng là thế. Như tôi vẫn thường nói, không thể nào bám theo ai đó hai mươi bốn giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần mà không bị phát hiện. Cho nên đôi khi chúng ta cũng phải bình tĩnh."

"Anh nghĩ McDeere đang nói dối à?"

"Tôi chỉ biết hắn nói dối, Nat ạ. Hắn nói dối về sự kiện ở tiệm giày Triều Tiên hồi tháng trước. Đám các anh không muốn tin chuyện này, nhưng tôi tin hắn đã tự nguyện vào trong cái tiệm đó vì hắn muốn nói chuyện với Tarrance. Một trong những người của chúng tôi

đã phạm sai lầm khi đến quá gần, cho nên cuộc hội họp nhỏ đó đã bị bể. Phải đó, Nat, tôi nghĩ hắn đang nói dối. Cũng có thể hắn gặp Tarrance để bảo gã này cuốn xéo đi. Cũng có thể chúng rúc vào trong đó để tụ họp với nhau phi xì ke. Tôi không biết."

"Nhưng anh không có bằng chứng cụ thể nào cả, DeVasher," Ollie nói.

Bộ não nở ra và nén nhẹ lên hộp sọ. Nó đau muốn phát cuồng. "Không có, Ollie, không có điều gì giống như Hodge và Kozinski nếu đó là ý anh muốn nói. Chúng ta đã thu âm được hai gã đó và biết chúng sắp sửa nói. McDeere thì hơi khác. Hắn bỏ ra hàng ngàn giờ cho các hồ sơ mồ hôi, và những thân chủ duy nhất mà hắn phụ trách đều là hợp pháp. Avery đã cực kỳ thận trọng với những hồ sơ mà McDeere chạm tay vào. Tôi và anh ta đã có trao đổi về chuyện này."

"Hắn không nói vì hắn chẳng biết gì cả," Ollie bổ sung. "Marty và Joe thì biết cả đống chuyện, nhưng đó là vì chúng ở đây đã nhiều năm. McDeere thì chỉ là lính mới."

DeVasher từ tốn xoa nắn hai thái dương. "Té ra các anh đã tuyển mộ một thằng đần thứ thiệt. Hãy hình dung FBI đánh hơi được các thân chủ lớn nhất của chúng ta là ai. Nghĩ theo tôi đi. Và hãy giả thiết Hodge và Kozinski cung cấp đủ tài liệu cho chúng để xác định danh tính một thân chủ cụ thể nào đó. Hiểu tôi muốn nói gì chưa? Và hãy giả thiết rằng đám Fibbie đã nói với McDeere tất cả những gì chúng biết, cùng với một lượng tô vẽ nhất định. Đột nhiên, gã tân

binh ngù ngờ của các anh lại trở thành một gã rất thông minh. Và cũng là một gã rất nguy hiểm nữa."

"Làm cách nào ông chứng minh được điều đó?"

"Chúng tôi bắt đầu bằng việc tăng cường giám sát. Đưa vợ của hắn vào diện theo dõi hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Tôi đã gọi cho Lazarov, yêu cầu được tăng viện thêm người. Nói với ông ta rằng chúng tôi cần những khuôn mặt mới. Tôi chuẩn bị đi Chicago ngày mai để hội ý Lazarov, và có thể cả với ông Morolto nữa. Lazarov cho rằng ông Morolto đã cài được nội gián bên trong Cục, một gã thân cận với Voyles và sẽ bán thông tin cho chúng ta. Hẳn nhiên việc đó rất tốn kém. Họ muốn lượng định mọi thứ và quyết định sẽ đi theo hướng nào."

"Và anh sẽ bảo họ rằng McDeere đang nói?" Locke hỏi.

"Tôi sẽ bảo họ những gì tôi biết và nghi ngờ. Tôi e rằng nếu chúng ta cứ ngồi yên và chờ điều gì đó cụ thể thì có thể sẽ là quá muộn. Tôi tin chắc Lazarov sẽ muốn thảo luận về các kế hoạch thủ tiêu hắn."

"Kế hoạch sơ bộ hả?" Ollie hỏi, thấp thoáng chút hy vọng.

"Chúng tôi đã vượt qua giai đoạn sơ bộ rồi, Ollie."

Quán Hourglass Taver ở New York City hướng mặt ra đường Bốn mươi-sáu, gần góc đường giáp với đại lộ Ninth Avenue. Một nơi tụ tập nhỏ và tăm tối với hai mươi hai chỗ ngồi. Nó nổi tiếng bởi những thực đơn mắc tiền và quy định năm mươi chín phút mỗi bữa ăn. Trên các bờ tường, cách không xa những chiếc bàn, những chiếc

đồng hồ cát trắng lặng lẽ thu thập những giây phút cho đến khi người canh giờ - tức người phục vụ - thực hiện các phép tính và thông báo hết thời gian. Là nơi mà đám đông ở Broadway thường lui tới, nó thường xuyên chật kín, với những người hâm mộ trung thành xếp hàng chờ ngoài vỉa hè.

Lou Lazarov thích quán Hourglass vì nó tăm tối, và những cuộc trao đổi riêng tư là điều khả thi. Những cuộc trao đổi ngắn, dưới năm mươi chín phút. Ông thích nó còn vì nó không nằm ở Little Italy, mà ông thì không không phải là người Ý. Và mặc dù ông thuộc sở hữu của người Sicilia nhưng ông không nhất thiết phải ăn thức ăn của họ. Ông thích nó vì ông được sinh ra và trải qua bốn mươi năm đầu tiên của cuộc đời trong một quận kịch nghệ. Rồi các tổng hành dinh công ty được chuyển đến Chicago, và ông được chuyển giao. Nhưng việc làm ăn đòi hỏi sự hiện diện của ông ở New York ít nhất hai lần mỗi tuần. Và khi việc làm ăn này bao gồm cả việc gặp gỡ các thành viên bằng vai phải vế từ các gia đình khác, Lazarov luôn gợi ý Hourglass. Tubertini là bằng vai phải vế, hơi nhỉnh hơn một chút. Một cách miễn cưỡng, ông ta đồng ý đến Hourglass.

Lazarov đến trước và không phải đợi bàn. Từ kinh nghiệm, ông biết đám đông sẽ thưa bớt vào lúc bốn giờ chiều, đặc biệt vào ngày thứ Năm. Ông gọi một ly rượu đỏ. Cô phục vụ xoay chiếc đồng hồ cát trên đầu ông và cuộc chạy đua bắt đầu. Ông ngồi ở chiếc bàn mặt tiền, nhìn ra đường, lưng quay lại những chiếc bàn khác. Ở tuổi năm mươi tám, ông là một người bệ vệ, với một bộ ngực nở và chiếc bụng phệ. Ông khó nhọc khom xuống chiếc khăn bàn kẻ ô đỏ,

nhìn ra luồng giao thông trên đường Bốn-mươi-sáu.

May thay, Tubertini đến cũng nhanh. Chỉ chưa đầy một phần tư chỗ cát trắng bị ông ta làm lãng phí. Họ lịch sự bắt tay nhau khi Tubertini khinh bỉ nhìn những món đồ bạc bé tí của quán ăn. Ông bắn về phía Lazarov một nụ cười giả tạo rồi nhìn vào chỗ của ông bên cửa sổ. Lưng của ông quay ra đường, và điều đó là cực kỳ gây ngứa ngáy. Và cũng nguy hiểm nữa. Nhưng xe của ông đậu ở ngay bên ngoài với hai cận vệ tháp tùng. Ông quyết định phải lịch sự. Ông khéo léo lách vào chiếc bàn nhỏ và ngồi xuống.

Tubertini trông láng coóng. Ông ba mươi bảy tuổi, con rể của chính lão già Palumbo. Người nhà của lão. Lấy con gái duy nhất của lão. Ông mảnh mai và điển trai với nước da bánh mật, mái tóc đen ngắn được bôi dầu hoàn hảo và vuốt ngược ra sau. Ông gọi rượu đỏ. "Ông bạn Joey Morolto của tôi thế nào rồi?" ông hỏi với một nụ cười tươi rói.

"Tốt. Còn ông Palumbo?"

"Bệnh nặng lắm, và rất cáu bẳn nữa. Cũng như thường lệ thôi."

"Xin hãy chuyển đến ông ta sự tôn kính của tôi."

"Dĩ nhiên."

Cô phục vụ tiến đến, nhìn chiếc đồng hồ cát đầy hăm dọa. "Chỉ uống rượu thôi," Tubertini nói. "Tôi không ăn đâu."

Lazarov nhìn cuốn sổ thực đơn rồi trao lại cho cô.

"Cá đen áp chảo, và thêm một ly rượu nữa."

Tubertini liếc nhìn người của ông trong xe. Có vẻ như họ đang

chợp mắt. "Có gì không ổn ở Chicago vậy?"

"Chẳng có gì là không ổn cả. Chúng tôi chỉ cần ít thông tin, thế thôi. Chúng tôi nghe nói - chưa được xác nhận, dĩ nhiên – ông có một người rất đáng tin ẩn sâu ở đâu đó bên trong Cục, một nơi rất gần Voyles."

"Giả như chúng tôi có thì sao?"

"Chúng tôi cần vài thông tin từ gã này. Chúng tôi có một đơn vị nhỏ ở Memphis, và đám Fibbie đang ra sức xâm nhập. Chúng tôi đang nghi ngờ một trong các nhân viên đang làm việc cho chúng, nhưng chúng tôi chưa thể tóm hắn được."

"Còn nếu các ông tóm được hắn thì sao?"

"Chúng tôi sẽ xắt lát lá gan của hắn ra và đem cho chuột gặm."

"Nghiêm túc hả?"

"Cực kỳ nghiêm túc. Có điều gì đó mách bảo tôi rằng đám đặc vụ liên bang đã nhắm mục tiêu vào đơn vị nhỏ của chúng tôi ở dưới đó, và chúng tôi đang trở nên rất bồn chồn."

"Hãy cứ gọi tên hắn ta là Alfred, và hãy cứ cho là hắn rất gần gũi với Voyles."

"Vâng. Chúng tôi cần một câu trả lời rất đơn giản từ Alfred. Chúng tôi cần biết, có hay không, việc nhân viên của chúng tôi đang làm việc cho đám Fibbie."

Tubertini quan sát Lazarov rồi nhấp một ngụm rượu. "Alfred chuyên về những câu trả lời đơn giản. Hắn thích cái vụ có hay không. Chúng tôi đã sử dụng hắn hai lần, chỉ khi có chuyện gì quan

trọng. Và cả hai lần đều là cùng một câu hỏi 'có phải đám đặc vụ liên bang đang đến chỗ này hay chỗ nọ'? Hắn cực kỳ thận trọng. Tôi không nghĩ hắn sẽ cung cấp quá nhiều chi tiết."

"Hắn có chính xác không?"

"Chính xác bỏ mẹ đi được."

"Vậy thì hắn có thể giúp chúng tôi. Nếu câu trả lời là có thì chúng tôi sẽ hành động tương ứng. Nếu là không thì gã nhân viên kia sẽ được giải tỏa và làm việc như bình thường."

"Atfred rất mắc tiền đó."

"Tôi cũng e là vậy. Bao nhiêu?"

"Này nhé, hắn có mười sáu năm làm việc cho Cục và đang có triển vọng thăng tiến. Vì lẽ đó mà hắn rất thận trọng. Hắn có nhiều cái để mất."

"Bao nhiêu?"

"Nửa triệu."

"Mẹ kiếp!"

"Dĩ nhiên, chúng tôi cũng được hưởng một khoản lợi ích nhỏ trong vụ giao dịch này. Dẫu sao hắn cũng là của chúng tôi mà."

"Một khoản lợi ích nhỏ?"

"Rất nhỏ, thật đấy. Phần lớn sẽ rơi vào túi Alfred. Hắn trao đổi hàng ngày với Voyles, ông biết đấy, văn phòng của hắn chỉ cách chỗ lão ta có hai cánh cửa."

"Thôi được. Chúng tôi sẽ chỉ."

Tubertini bắn ra một nụ cười chinh phục rồi nhấp chỗ rượu của ông. "Tôi nghĩ ông nói dối, ông Lazarov. Ông nói đó là một đơn vị nhỏ ở Memphis. Điều đó không đúng, phải vậy không?"

"Không đúng."

"Tên của đơn vị đó là gì?"

"Hãng Bendini."

"Con gái của ông Morolto có lấy một người tên Bendini."

"Chính là ông ta đấy."

"Tên gã nhân viên đó là gì?"

"Mitchell McDeere."

"Việc này phải mất hai đến ba tuần. Gặp gỡ Alfred là cả một sự sắp xếp đấy."

"Vâng. Chỉ cần ông làm nhanh giùm cho."

27

Việc các bà vợ xuất hiện tại cái pháo đài nhỏ im ắng trên đường Front là một điều cực kỳ bất thường. Chắn chắn họ rất được chào đón, họ được bảo như vậy, nhưng rất hiếm khi nào họ được mời. Cho nên Abby McDeere đã đi qua cửa trước vào khu vực tiếp tân mà không được mời và không được thông báo. Cô bắt buộc phải gặp chồng, cô khăng khăng như thế. Cô tiếp tân gọi cho Nina ở tầng hai, và chỉ vài giây sau bà đã xuất hiện trong vội vã và nồng nhiệt để chào đón cô vợ của sếp. Mitch đang bận họp, bà giải thích. Anh ta lúc nào mà chẳng đang dự mấy cái cuộc họp chết tiệt ấy. Abby đáp. Hãy lôi anh ta ra khỏi đó! Họ đi vội đến văn phòng của anh, nơi Abby khép cửa lại và ngồi xuống chờ.

Mitch đang mục kích một chuyến lên đường đầy hỗn loạn nữa của Avery. Các thư ký va vào nhau và gói ghém những chiếc cặp trong khi Avery la hét vào điện thoại. Tay cầm cuốn sổ ghi chú, Mitch ngồi lên chiếc trường kỷ và theo dõi. Đối tác của anh được lên lịch đi Grand Cayman trong hai ngày. Ngày 15 tháng Tư ghi lừng lững trên tờ lịch tựa như một cuộc hẹn với đám người câu cá, và các ngân

hàng dưới đấy đang có những hồ sơ nào đó bỗng dưng trở nên quan trọng. Tất cả chỉ là công việc, Avery khăng khăng. Ông nói về chuyến đi trong năm ngày, càm ràm về nó, chửi rủa nó, nhưng lại thấy nó là hoàn toàn không thể tránh. Ông sẽ dùng chiếc Lear, và nó hiện đang chờ, một thư ký nói vậy.

Có lẽ nó đang chờ với cả đống tiền mặt, Mitch nghĩ.

Avery sập điện thoại rồi vớ lấy chiếc áo khoác. Nina bước qua cửa và nhìn Mitch. "Ông McDeere, vợ ông đang ở đây. Bà ấy nói có chuyện khẩn cấp."

Hỗn loạn bỗng trở nên thinh lặng. Anh nhìn Avery bằng ánh mắt vô hồn. Các thư ký như đóng băng. "Chuyện quái gì vậy?" anh hỏi rồi đứng dậy.

"Cô ấy đang ở trong văn phòng của ông." Nina nói.

"Mitch, tôi phải đi đây," Avery nói. "Tôi sẽ gọi lại cho anh ngày mai. Hy vọng mọi sự đều ổn."

"Dĩ nhiên." Không nói năng gì, anh đi theo Nina ra hành lang và trở về văn phòng. Abby ngồi tại bàn làm việc của anh. Anh khép cửa rồi khóa lại. Anh đăm đăm nhìn cô.

"Mitch, em phải về nhà ba mẹ."

"Sao vậy? Có chuyện gì xảy ra?"

"Ba em vừa gọi đến trường học. Họ phát hiện một khối u trong phổi của mẹ. Ngày mai họ sẽ tiến hành phẫu thuật."

Anh hít một hơi sâu. "Anh rất tiếc." Anh không chạm vào cô, và cô cũng không hề khóc.

"Em phải đi. Em đã nộp đơn xin vắng mặt ở trường."

"Trong bao lâu?" Đó là một câu hỏi đầy bồn chồn.

Qua vai anh, cô nhìn bức tường Kỷ Vật. "Em không biết, Mitch ạ. Chúng ta cần xa nhau một thời gian. Ngay lúc này em đã quá mệt mỏi vì nhiều chuyện, và em cần thời gian. Em nghĩ điều đó tốt cho cả hai ta."

"Ta hãy bàn chuyện này."

"Anh quá bận, làm sao mà bàn bạc được chứ, Mitch. Em định bàn từ sáu tháng nay rồi, nhưng không có cách chi anh tìm ra thời gian để nghe em."

"Em định đi trong bao lâu, Abby?"

"Em không biết. Em nghĩ điều đó còn tùy thuộc vào mẹ. Không, nó tùy thuộc vào nhiều điều."

"Em làm anh sợ đấy, Abby."

"Em sẽ về, em hứa đấy. Chỉ là em không biết khi nào. Có thể là một tuần. Có thể là một tháng. Em cần gỡ rối một vài chuyện."

"Một tháng?"

"Em không biết mà, Mitch. Em chỉ cần chút thời gian. Và em cần ở bên mẹ."

"Anh hy vọng bà ấy không sao. Anh mong thế."

"Em biết. Em phải về nhà để gói ghém vài thứ, và em sẽ đi trong khoảng một giờ nữa."

"Được rồi. Bảo trọng nhé."

"Em yêu anh, Mitch."

Anh gật đầu và nhìn cô mở cửa. Không có cái ôm từ biệt nào.

Ở tầng năm, một kỹ thuật viên cho quay lại cuốn băng rồi nhấn vào chiếc nút khẩn gọi đến văn phòng của DeVasher. Ông lập tức xuất hiện, xỏ tai nghe vào chiếc hộp sọ siêu bự. Ông lắng nghe một lúc. "Quay lại," ông ra lệnh. Ông im lặng một lúc nữa.

"Chuyện đó xảy ra khi nào?" ông hỏi.

Người kỹ thuật viên nhìn vào một bảng điện đầy những con số. "Cách đây hai phút mười bốn giây. Tại văn phòng của hắn ở tầng hai."

"Chết tiệt, chết tiệt! Con bé sắp rời khỏi hắn, phải vậy không? Trước đó có nói gì về ly thân hay ly dị không?"

"Không. Nếu có thì ông đã biết rồi. Họ chỉ cãi nhau về cái tập quán nghiện việc của hắn mà thôi, và hắn thù ghét cha mẹ của cô ta. Nhưng không có câu chuyện nào như thế này cả."

"Phải, phải. Kiểm tra lại chỗ Marcus xem ông ta có nghe được gì trước đó không. Kiểm tra các cuốn băng xem có bỏ sót điều gì không. Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt!"

Abby khởi đầu theo hướng Kentucky, nhưng lại không giữ hướng đó. Đi một giờ theo hướng tây của Nashville, cô rời đường Xuyên bang 40 rồi vòng ra Cao tốc 13 ở phía bắc. Cô không thấy có gì khác lạ ở phía sau. Cô lái với tốc độ một trăm ba mươi cây số giờ rồi giảm xuống còn tám mươi. Vẫn không thấy có gì. Tại thị trấn nhỏ Clarksville, gần tuyến đường Kentucky, cô đột ngột rẽ sang hướng

đông, đi vào Cao tốc 12. Một giờ sau, cô vào Nashville bằng đường cao tốc của hạt, và chiếc Peugeot đỏ mất hút trong luồng giao thông đô thị.

Cô đậu xe trong khu vực dài hạn tại phi trường Nashville rồi bắt một xe con thoi để đến sân ga. Trong phòng vệ sinh ở tầng một, cô mặc vào chiếc quần lửng đi bộ bằng vải kaki, xỏ đôi giày Bass, khoác vào chiếc áo len trùm đầu bằng vải dệt kim màu xanh dương. Đó là một bộ đồ trẻ trung, hơi trái mùa một chút, nhưng cô đang hướng tới một khu vực thời tiết nóng hơn. Cô cột mái tóc xõa ngang vai thành chiếc đuôi ngựa rồi nhét nó dưới cổ áo. Cô đổi kính râm rồi tống chiếc váy, giày cao gót, quần tất vào một chiếc túi thể thao bằng vải bạt.

Gần năm tiếng đồng hồ sau khi rời Memphis, cô đi bộ đến cổng lên máy bay của hãng Delta rồi trình vé. Cô yêu cầu một chỗ ngồi gần cửa sổ. Không chuyến bay nào của Delta trong thế giới tự do có thể bỏ qua việc quá cảnh Atlanta, nhưng may thay cô không bị buộc phải đổi máy bay. Cô chờ đợi bên cửa sổ, nhìn màn đêm buông xuống cái sân bay bận rộn. Cô bồn chồn, nhưng cố không nghĩ đến điều đó. Cô uống một ly rượu và đọc một tờ Newsweek.

Hai giờ sau, cô đáp xuống Miami và rời khỏi máy bay. Cô đi bộ nhanh qua sân bay, bắt gặp những cái nhìn, nhưng phớt lờ chúng. Đó là những cái nhìn thường nhật của ngưỡng mộ và dục vọng, cô tự nhủ. Chẳng là gì khác.

Tại cổng lên máy bay duy nhất của Cayman Airways, cô chìa chiếc

vé khứ hồi, cùng tờ khai sinh và giấy phép lái xe. Những người Cayman này thật tuyệt vời, nhưng họ sẽ không cho phép bạn vào đất nước của họ nếu như bạn không mua sẵn vé về. Làm ơn hãy đến đây và tiêu tiền của quý vị rồi cuốn gói ra về. Làm ơn.

Cô ngồi ở một góc của phòng đợi đông nghẹt, cố gắng đọc tờ tạp chí. Một ông bố trẻ đi cùng cô vợ đẹp và hai em bé cứ dán mắt vào cặp đùi của cô, nhưng ngoài ra thì không có ai khác để ý đến cô. Chuyến bay đến Grand Cayman sẽ cất cánh trong ba mươi phút nữa.

Sau một khởi đầu khó khăn, Avery đã bắt được nhịp. Ông đã dành ra bảy giờ tại ngân hàng Royal Bank của Montreal, Georgetown, chi nhánh Grand Cayman. Khi ông ra về vào lúc năm giờ chiều, căn phòng họp miễn phí đã đầy ắp những bản in máy tính và tổng kết tài khoản. Ông sẽ hoàn tất vào ngày mai. Ông cần McDeere, nhưng hoàn cảnh đã khiến những kế hoạch giải trí của ông bị cắt giảm nghiêm trọng. Avery nay kiệt sức và khát nước. Ngoài bãi biển thì mọi thứ đều đang sôi động.

Tại Rumsheads, ông lấy một chai bia tại quầy bar và lách cái cơ thể rám nắng của ông qua đám đông để đi ra hàng hiên, nơi ông tìm được một chiếc bàn. Trong khi ông đang tự tin băng qua sòng domino, Tammy Greenwood Hemphill của Greenwood Services bon chồn nhưng bình thản bước vào đám đông, đến ngồi vào chiếc ghế ở quầy bar. Cô quan sát ông. Nước da bánh mật của cô là vốn có, là tự nhiên, chỉ với vài chỗ nâu hơn những nơi khác. Nhưng nhìn tổng thể thì đó là một làn da bánh mật đáng thèm muốn trong một giờ muộn của tháng Ba. Mái tóc cô nay được nhuộm một màu vàng dịu

của cát, và trang điểm của cô cũng chừng mực. Chiếc bikini đạt đến mức nghệ thuật với sắc cam tươi huỳnh quang lôi cuốn sự chú ý. Bộ ngực lớn đong đưa tuyệt vời, làm căng hết cỡ những dây chằng và mảnh che. Mảnh dây nhỏ vắt ngang sau lưng tuyệt đối không che phủ bất cứ thứ gì. Cô đã bốn mươi tuổi nhưng có đến những hai mươi cặp mắt đói đang theo cô đến quầy bar, nơi cô gọi một ly nước ngọt và châm điếu thuốc lá. Cô hút thuốc và quan sát ông.

Ông là một con sói. Ông trông phong độ, và ông biết điều đó. Ông nhấp chai bia của ông và chậm rãi quan sát tất cả những người thuộc phái nữ trong phạm vi năm mươi mét. Ông chốt lại một người, một cô nàng tóc vàng trông có vẻ như sẵn sàng bám dính khi người đàn ông của cô ta đến và đặt cô ta lên đùi. Ông nhấp chai bia và tiếp tục theo dõi.

Tammy gọi một ly nước ngọt khác cùng với một lát chanh. Cô dợm bước đến hàng hiên. Con sói lập tức nhìn xoáy vào bộ ngực lớn, trông nó nẩy tưng tưng.

"Tôi ngồi được không?" cô hỏi.

Ông hơi nhổm dậy để với lấy chiếc ghế. "Xin mời." Với ông, đó là một khoảnh khắc tuyệt vời.

Trong số hàng trăm con sói đói đang lảng vảng ở quầy bar và hàng hiên của Rumheads, cô ta đã chọn ông. Ông đã từng có được nhiều cô trẻ tuổi hơn, nhưng trong thời điểm này, tại nơi này, cô chính là người nóng bỏng nhất.

"Tôi là Avery Tolar. Từ Memphis."

"Rất vui được gặp anh. Em là Libby. Libby Lox từ Birmingham." Giờ thì cô là Libby. Cô có một em gái tên Libby, một bà mẹ tên Doris, và tên của cô là Tammy. Và cô đang lo đến chết làm sao giữ cho mọi thứ khớp lại được với nhau. Mặc dù không đeo nhẫn nhưng cô có một người chồng mang cái tên pháp lý là Elvis, và anh ta được cho là đang ở Oklahoma City, cải trang thành Ông Vua, và có lẽ đang cưa cẩm các em thiếu nữ bằng những chiếc áo thun love me tender.

"Điều gì đưa em đến đây?" Avery hỏi.

"Tìm vui thôi mà. Mới đến sáng hôm nay. Đang ở Palms. Còn anh?"

"Anh là một luật sư về thuế và, tin hay không tùy em, anh đến đây vì công việc. Mỗi năm, anh bị buộc phải xuống đây nhiều lần. Thực sự là một cuộc tra tấn."

"Anh đang ở đâu?"

Ông trỏ ngón tay. "Hãng của anh sở hữu hai căn hộ chung cư ở đằng kia. Một nơi be bé xinh xinh để xả hơi."

"Đẹp quá."

Con sói không do dự. "Em có muốn đi xem không?"

Cô cười khúc khích như một em sinh viên. "Để sau đi."

Ông nhoẻn cười với cô. Vụ này chắc dễ. Ông yêu các đảo. "Em đang uống gì vậy?"

"Gin và soda. Cùng với một lát chanh."

Ông đi đến quầy bar rồi trở ra với hai món thức uống. Ông dịch ghế lại gần cô hơn. Giờ thì chân của họ đã chạm nhau. Bộ ngực tì

êm ả lên mép bàn. Ông nhìn xuống giữa nó.

"Em đi một mình à?" Một câu hỏi thừa, nhưng ông vẫn phải nêu.

"Ừ. Còn anh?"

"Ừ. Em đã có kế hoạch cho bữa tối chưa?"

"Không hẳn."

"Tốt. Có một nhà hàng rất tuyệt ở gần Palms, bắt đầu từ lúc sáu giờ. Hải sản ngon nhất trên đảo. Nhạc hay. Rum Punch. Không có quy định về trang phục."

"Em tham gia."

Họ ngồi sát vào nhau hơn, và bàn tay của ông đột nhiên ở giữa các đầu gối của cô. Khuỷu tay của ông ép chặt vào ngực trái của cô, và ông mỉm cười. Cô cũng mỉm cười. Nói chung cũng dễ chịu, cô nghĩ, nhưng công việc thì vẫn là công việc.

Barefoot Boys cất tiếng và lễ hội bắt đầu. Những người lang thang trên bãi biển đổ xô về Palms từ mọi hướng. Người bản địa trong áo vest và quần lửng trắng sắp những chiếc bàn xếp và trải những tấm vải bông nặng lên trên. Mùi tôm luộc, mùi cá cam Nhật Bản và cá mập nướng lan tỏa khắp bãi biển. Đôi uyên ương Avery và Libby tay trong tay bước vào khu sân vườn của Palms và xếp hàng để dùng tiệc đứng.

Trong ba giờ, họ ăn rồi nhảy, uống rồi nhảy và cảm thấy như đang trong một cơn sốt cuồng. Khi ông đã say xỉn, cô trở lại với nước ngọt không pha chế. Công việc đã đến tay. Lúc mười giờ, ông đã quắc cần câu và cô dìu ông ra khỏi sàn nhảy, đi đến chung cư ở

kế bên. Ông tấn công cô ở cửa trước. Họ hôn nhau và mò mẫm nhau trong năm phút. Ông xoay xở mở được khóa, và họ vào bên trong.

"Thêm một ly nữa đi," cô nói như một cô gái của tiệc tùng. Ông trở ra quầy bar lấy cho cô một Gin và soda, ông thì vẫn dùng Scotch và nước lọc. Họ ngồi ở ban công bên ngoài căn phòng ngủ hoành tráng, ngắm vầng trăng khuyết đang trang điểm cho đại dương hiền hòa.

Cô đã theo ông từng ly, ông nghĩ, và nếu cô còn chịu được thì cớ sao ông không chịu được. Nhưng mẹ thiên nhiên lại lên tiếng lần nữa và ông đành cáo lỗi để vào phòng vệ sinh. Ly Scotch và nước lọc nằm trên chiếc bàn liễu gai ở giữa họ và cô mỉm cười với nó. Dễ hơn nhiều so với cô mong đợi. Cô lấy ra một bịch ny lông nhỏ từ cái mảnh màu cam giữa hai đùi rồi bỏ một viên chloral hydrate vào ly rượu của ông. Cô nhấp một ngụm Gin soda.

"Nâng ly nào, bé cưng." cô nói khi ông trở ra. "Em sẵn sàng để lên giường rồi đó."

Ông chộp ly Whiskey rồi nuốt trọng. Vị giác đã tê dại từ hàng giờ. Ông nuốt một ngụm nữa rồi bắt đầu thư giãn. Thêm một ngụm nữa. Đầu của ông bắt đầu lắc lư từ vai này sang vai kia, và cuối cùng chiếc cằm của ông chạm lồng ngực. Hơi thở bắt đầu phì phò.

"Ngủ ngon đi, bé cưng." cô nói với chính mình.

Với một người đàn ông nặng tám mươi ký, một phát chloral hydrate có thể gây ra một giấc ngủ sâu trong mười giờ. Cô cầm lên

chiếc ly của ông và săm soi chỗ rượu còn lại. Không nhiều. Tám giờ là an toàn. Cô lăn ông ra khỏi chiếc ghế rồi lôi ông lên giường, đầu trước chân sau. Rất nhẹ nhàng, cô lột chiếc quần lửng lướt sóng dọc theo đôi chân ông rồi liệng nó xuống sàn. Cô nhìn một chặp rồi đắp lên ông tấm khăn trải giường và tấm mền. Cô hôn ông, chúc ngủ ngon.

Trong tủ áo, cô tìm được hai xâu chìa khóa. Mười một chiếc chìa. Ở gác dưới, tại hành lang giữa căn bếp và căn phòng lớn với cảnh quan trông ra bãi biển, cô tìm thấy cánh cửa khóa bí ẩn mà Mitch đã phát hiện hồi tháng Mười một. Anh ta đã thám thính từng phòng một, từ gác trên xuống gác dưới, và xác định rằng căn phòng này phải rộng ít nhất bốn-mét-rưỡi nhân bốn-mét-rưỡi. Nó khả nghi do có cánh cửa kim loại, do nó bị khóa và do tấm biển PHÒNG KHO đính vào đó. Đó là căn phòng duy nhất có ghi biển trong căn hộ chung cư. Một tuần trước đó, trong căn hộ Khu B, Mitch và Abby không thấy có căn phòng nào như thế.

Một xâu chìa khóa có chìa của chiếc Mercedes, hai chìa của tòa nhà Bendini, một chìa khóa nhà, hai chìa khóa căn hộ và một chìa khóa bàn làm việc. Cô thử nó trước tiên và chiếc chìa thứ tư ăn khớp. Cô nín thở, mở cửa phòng kho. Không có điện giựt, không có báo động, không có gì cả. Mitch đã dặn cô mở cửa xong thì hãy chờ năm phút, đợi cho không có chuyện gì xảy ra thì mới hẵng bật đèn.

Cô đợi mười phút, mười phút lê thê và hãi hùng. Mitch suy luận rằng khu A được dành cho các đối tác và khách tin cẩn, còn Khu B thì dành cho các cộng sự và những người cần được theo dõi thường

trực. Cho nên khu A sẽ không bị gắn từa lưa những dây nhợ, camera, thiết bị ghi âm hay chuông báo động, anh hy vọng như thế. Sau mười phút, cô mở rộng cửa và bật đèn. Cô lại chờ đợi và không nghe thấy gì cả. Căn phòng vuông vức, khoảng bốn-mét-rưỡi nhân bốn-mét-rưỡi, với những bờ tường trắng, không có thảm, và cô đếm được mười hai chiếc tủ hồ sơ chống cháy khổ pháp định. Chầm chậm, cô lựa rồi kéo ngăn trên cùng. Nó không khóa.

Cô tắt đèn, đóng cửa lại rồi trở về phòng ngủ trên gác, nơi Avery đang hôn mê và ngáy ran. Lúc này là mười giờ ba mươi. Cô sẽ phải làm việc như điên trong tám tiếng đồng hồ và ra đi vào lúc sáu giờ sáng.

Cạnh bàn làm việc ở góc có ba chiếc cặp lớn đặt thành hàng ngay ngắn. Cô vớ lấy chúng, tắt đèn rồi đi ra bằng cửa trước. Bãi đậu nhỏ tối đen và trống hoác với lối đi trải sỏi dẫn ra cao tốc. Một lối đi bộ dẫn đến gần các bụi cây ở mặt trước của cả hai khu và dừng lại ở một hàng rào gỗ sơn trắng dọc theo đường phân giới. Một cánh cổng dẫn đến một gò đất cỏ lưa thưa, và tòa nhà đầu của Palms nằm ngay trên đó.

Từ căn hộ chung cư đến Palms chỉ mất một cuốc ngắn, nhưng những chiếc cặp đã nặng lên rất nhiều khi cô đến được Phòng 188. Nó nằm ở tầng một, mặt tiền, với cảnh quan hồ bơi chứ không phải bãi biển. Cô thở gấp và vã mồ hôi khi gõ cửa.

Abby mở toang cửa ra. Cô tóm lấy những chiếc cặp và đặt chúng lên giường. "Có vấn đề gì không?"

"Chưa thấy gì. Tôi nghĩ ông ta ngắc ngứ rồi." Tammy chùi mặt bằng chiếc khăn tắm rồi khui một lon Coca.

"Ông ta ở đâu?" Không một nụ cười nào. Abby chỉ quan tâm công việc.

"Trên giường. Theo tôi tính toán, chúng ta có tám tiếng. Đến sáu giờ."

"Chị vào được phòng đó chưa?" Abby hỏi trong khi trao cho cô chiếc quần lửng và chiếc áo cotton kềnh càng.

"Rồi. Có chừng một chục tủ lớn đựng hồ sơ, không khóa. Vài hộp các tông và vài thứ linh tinh, ngoài ra thì không có gì nhiều."

"Một chục?"

"Phải, cái nào cũng cao ngất. Toàn bộ là khổ pháp lý. Chúng ta phải may lắm mới xong việc vào lúc sáu giờ."

Đó là căn phòng đơn duy nhất với chiếc giường khổ Nữ hoàng. Trường kỷ, bàn cà phê và giường đã được đẩy sát tường. Một máy photocopy Canon Model 8580 với khay và cần gạt tự động được đặt giữa căn phòng với động cơ khởi động sẵn. Island Office Supply đã cho thuê nó với cái giá cắt cổ ba trăm đô la trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, giao tận nơi. Đó là một chiếc máy photocopy cho thuê đời mới nhất và lớn nhất trên đảo, người bán hàng nói vậy, và anh ta có vẻ không được phấn khởi lắm với việc cho thuê nó chỉ trong vòng một ngày. Nhưng Abby đã quyến rũ anh ta và đặt những tờ một trăm đô la lên quầy thu ngân. Hai thùng giấy photocopy, mười ngàn tờ giấy, đang nằm ở cạnh giường.

Họ mở chiếc cặp đầu tiên, lấy ra sáu hồ sơ mỏng. "Cùng một loại hồ sơ," Tammy lẩm bẩm. Cô tháo chiếc kẹp hai ngạnh trong hồ sơ rồi lấy ra các trang giấy. "Mitch nói họ rất chu đáo với các hồ sơ của họ," Tammy trình bày khi cô nạp vào một tài liệu mười trang. "Anh ta nói các luật sư có giác quan thứ sáu và hầu như có thể đánh hơi thấy nếu có thư ký hay lục sự nào chạm vào chúng. Cho nên cô phải rất cẩn thận. Từ từ thôi. Sao chép tài liệu nào xong thì cột ngay nó lại, cố xỏ cho ngay ngắn vào các lỗ cũ. Việc này rất tẻ nhạt. Mỗi lần chỉ sao một tài liệu, cho dù số trang là bao nhiêu đi nữa. Rồi từ từ sắp chúng lại theo trình tự. Rồi ghim các bản sao để mọi thứ đâu vào đấy."

Với khay nạp tự động, một tài liệu mười trang chỉ mất có tám giây. "Nhanh đấy," Tammy nói.

Chiếc cặp đầu tiên được hoàn tất trong hai mươi phút. Tammy trao hai xâu chìa khóa cho Abby rồi nhặt lên hai túi xách Samsonite rỗng, cả hai đều bằng vải bạt. Cô ra ngoài để trở về căn hộ chung cư. Abby theo cô ra rồi khóa trái cửa. Cô đi bộ đến phía trước Palms, ra đến chiếc Nissan Stanza mà Tammy đã thuê sẵn. Lạng lách tránh những luồng xe tới từ phía trái chiều, cô lái dọc theo bãi Seven Mile rồi đi vào Georgetown. Cách tòa nhà Swiss Bank hai dãy phố, trên một con đường hẹp đôi bên là những ngôi nhà khung ngăn nắp, cô tìm được nơi ở của người thợ khóa duy nhất trên đảo Grand Cayman. Chí ít ông ta cũng là người duy nhất mà cô lần ra được mà không cần ai trợ giúp. Ông ta sở hữu một ngôi nhà màu xanh lục có các cửa sổ để ngỏ với những đường viền trắng bọc quanh các cánh

cửa và cửa sập.

Cô đậu xe trên đường rồi đi qua cát đến một hàng hiên nhỏ ở mặt tiền, nơi ông thợ khóa và các hàng xóm của ông ta đang uống rượu và nghe Radio Cayman hát. Nhịp điệu Solid Gold. Họ im bặt khi cô tiến đến, không một ai đứng dậy. Đã gần mười một giờ tối. Ông ta nói có thể làm việc đó tại cửa hiệu của ông ở sau nhà, giá cả của ông rất phải chăng, và một chai Myers's Rum bảy trăm năm mươi mililít là khoản chi trước để cho ông khởi động.

"Ông Dantley, tôi xin lỗi đã đến muộn. Tôi có mang cho ông chút quà nhỏ." Cô chìa ra chai Rum bảy trăm năm mươi.

Ông Dantley hiện ra từ bóng tối và vồ lấy chai Rum. Ông săm soi nó. "Má ơi, một chai Myers's."

Abby không hiểu được họ nói gì với nhau, nhưng rõ ràng là cái băng nhóm ở hàng hiên đang cực kỳ phấn khích về chai Myers's. Dantley trao nó cho họ rồi dẫn Abby ra sau, đến một chái nhà phụ be bé chứa đầy những món đồ nghề và máy móc nhỏ, cùng hàng trăm thứ linh kiện. Một bóng đèn vàng duy nhất treo lơ lửng trên trần thu hút hàng trăm con muỗi. Cô trao cho Dantley mười một chiếc chìa khóa. Ông cẩn thận đặt chúng lên một chỗ trống trên chiếc bàn thợ bề bộn.

"Chuyện này dễ ợt," ông nói mà không ngước nhìn lên.

Mặc dù uống rượu vào lúc mười một giờ đêm, Dantley tỏ ra rất tỉnh táo. Có lẽ hệ thống của ông đã có sự miễn nhiễm đối với Rum. Ông làm việc qua một cặp kính thợ dày, hết khoan rồi lại dũa từng

bản sao. Sau hai mươi phút, ông làm xong. Ông trao cho Abby hai bộ chìa khóa gốc và các bản sao của chúng.

"Cảm ơn ông Dantley. Tôi phải trả ông bao nhiêu?"

"Vụ này dễ mà." ông lè nhè nói. "Mỗi chìa một đô la." Cô thanh toán nhanh cho ông rồi ra về.

Tammy nhét đầy những thứ chứa trong ngăn trên cùng của tủ hồ sơ đầu vào hai chiếc cặp nhỏ. Năm ngăn, mười hai tủ, sáu mươi lần đi đến chiếc máy photocopy rồi trở ra. Có thể làm xong trong tám giờ. Có những hồ sơ, sổ tay, bản in máy tính và thêm những hồ sơ nữa. Mitch dặn phải sao lại tất cả. Anh ta không biết chắc mình đang tìm kiếm gì, cho nên cứ phải sao toàn bộ.

Cô tắt đèn rồi chạy lên gác để kiểm tra bé cưng. Ông vẫn không xê dịch. Tiếng ngáy vang lên chầm chậm.

Mỗi chiếc Samsonite nặng mười bốn ký, và tay cô tê dại khi đến được Phòng 188. Cuốc đầu tiên trong sáu mươi cuốc, chắc cô không chịu nổi quá. Abby vẫn chưa trở về từ Georgetown nên Tammy gọn gàng dỡ các chiếc cặp ra giường. Cô uống một hớp Coca rồi lên đường với những chiếc cặp rỗng. Trở lại chung cư. Ngăn kéo thứ hai cũng tương tự. Cô nạp các hồ sơ theo trình tự vào các chiếc cặp rồi nén chặt dây khóa kéo. Cô vã mồ hôi, há hốc mồm để thở. Bốn gói mỗi ngày, cô nghĩ. Cô thề sẽ cắt xuống chỉ còn hai. Hay thậm chí chỉ còn một. Lên cầu thang để kiểm tra ông ta. Không thấy tiếng ông ta thở từ sau cuốc đi vừa rồi.

Chiếc máy photocopy lách cách và ro ro khi cô trở về từ cuốc đi

thứ hai. Abby đang hoàn tất cặp tài liệu thứ hai, chuẩn bị bước sang chiếc thứ ba.

"Cô có các chìa khóa rồi chứ?"

"Vâng, không có vấn đề gì. Anh chàng của chị sao rồi?"

"Nếu máy photocopy không chạy thì cô nghe được tiếng ông ta ngáy đấy." Tammy dỡ thêm một xấp nữa, đặt ngay ngắn trên giường. Cô lau mặt bằng chiếc khăn tắm ẩm rồi lên đường đến căn hộ chung cư.

Abby hoàn tất chiếc cặp thứ ba rồi bắt tay vào những xấp từ các tủ hồ sơ. Cô nhanh chóng với lấy chiếc máng của khay nạp tự động, và ba mươi phút sau cô đã di chuyển với sự thanh thoát và hiệu quả của một thư ký dày dạn chuyên trách việc sao chép. Cô nạp các hồ sơ, tháo rồi gài lại trong khi cỗ máy phát ra những tiếng lách cách nhanh rồi nhả ra những bản sao qua bộ phận sắp giấy.

Về đến từ cuốc thứ ba, Tammy thở dốc, mồ hôi nhỏ tong tỏng từ mũi. "Ngăn thứ ba," cô báo cáo. Ông ta đang ngáy. Cô mở khóa kéo của chiếc cặp và tạo thêm một chồng ngay ngắn nữa trên giường. Cô lấy hơi, lau mặt rồi chất những bản sao của ngăn kéo đầu vào các túi. Trong suốt phần còn lại của đêm hôm đó, cô sẽ còn chất ra và chất vào.

Lúc nửa đêm, Barefood Boys hát bản nhạc cuối cùng và Palms lắng xuống cho giấc nghỉ. Tiếng rì rầm lặng lẽ của chiếc máy photocopy không thể nghe được từ bên ngoài Phòng 188. Cửa đã khóa kín, chốt đã gài chặt, tất cả các bóng đèn được vặn nhỏ, ngoại

trừ chiếc ở cạnh giường. Không ai còn nhận ra cô nàng mệt mỏi và nhễ nhại mồ hôi đang xách hai chiếc cặp chạy qua chạy lại giữa các căn phòng.

Sau nửa đêm, họ không nói một lời. Họ mệt nhoài. Họ quá bận rộn và sợ hãi. Vả lại cũng chẳng có gì để báo cáo ngoại trừ những dịch chuyển trên giường của bé cưng, nếu có. Nhưng đã không có dịch chuyển nào cho đến một giờ sáng, khi ông ta bất chợt trở mình sang một bên và giữ nguyên tư thế đó trong vòng hai mươi phút trước khi trở lại với tư thế nằm ngửa. Tammy kiểm tra ông mỗi cuốc và mỗi lần như thế đều tự hỏi cô sẽ phải làm gì nếu mắt ông đột ngột mở ra và ông tấn công cô. Cô có một ống xịt hóa chất Mace nhỏ trong túi quần lửng để phòng trường hợp có đối kháng xảy ra và cần phải thoát thân. Mitch khá lập lờ về chi tiết của một cuộc thoát thân như thế. Đừng dẫn lối cho ông ta vào căn phòng ở nhà nghỉ, anh ta nói. Lấy Mace xịt ông ta rồi vắt giò lên cổ mà chạy, đồng thời hãy hét lên "Hiếp dâm! Hiếp dâm!"

Nhưng sau hai mươi lăm cuốc, cô bắt đầu tin rằng còn phải mất nhiều giờ nữa ông ta mới tỉnh dậy. Chạy việt dã như một con lừa thồ hàng vẫn còn chưa đủ, mỗi cuốc cô lại phải leo lên các bậc thang, mười bốn bậc cả thảy, để kiểm tra gã Casanova. Cho nên, thay vì kiểm tra mỗi cuốc, nay ba cuốc cô mới kiểm tra một lần.

Vào lúc hai giờ sáng, kế hoạch đã đi hết nửa chặng đường. Họ đã sao chép xong nội dung của năm tủ hồ sơ. Họ đã tạo ra bốn ngàn bản sao, và chiếc giường đang phủ kín những xấp tài liệu nhỏ gọn gàng. Các bản sao của họ được xếp thành bảy hàng chạy dọc theo

bờ tường gần trường kỷ, mỗi hàng cao đến gần thắt lưng.

Họ nghỉ ngơi trong mười lăm phút.

Vào lúc năm giờ ba mươi, phía đông le lói những tia sáng mặt trời đầu tiên, và họ đã quên cả sự mệt mỏi. Abby tăng tốc các thao tác của cô quanh chiếc máy photocopy, chỉ hy vọng là nó không bốc cháy. Tammy xoa bắp chân bị chuột rút rồi bước nhanh về lại căn hộ chung cư. Đó là cuốc đi thứ năm mươi mốt hay năm mươi hai. Cô đã lạc mất con số. Chỉ một lát nữa thôi sẽ là cuốc đi cuối cùng. Anh ta đang đợi.

Cô mở cửa rồi đi thẳng đến phòng kho, như thường lệ. Cô đặt các cặp Samsonite lên sàn, như thường lệ. Cô rón rén bước lên gác, vào phòng ngủ và... sững sờ. Avery đang ngồi trên mép giường, hướng mặt ra ban công. Ông nghe thấy tiếng động bèn từ từ quay lại, đối mặt cô. Mắt ông sưng và đờ đẫn. Ông cau có nhìn cô.

Một cách bản năng, cô cởi nút chiếc quần kaki, để nó rơi xuống sàn. "Chào bé cưng." cô nói, cố hít thở bình thường và hành xử như cô gái của tiệc tùng. Cô bước đến mép giường nơi ông ngồi. "Anh dậy sớm ha. Ta ngủ thêm chút nữa đi."

Ánh mắt ông hướng về cửa sổ. Ông không nói năng gì. Cô ngồi xuống cạnh ông và xoa bắp chân ông. Cô luồn tay lên phía bên trong hai đùi ông, và ông không cử động.

"Anh đã tỉnh chưa?" cô hỏi.

Không có câu trả lời.

"Avery, nói với em đi cưng. Ta ngủ thêm một chút nhé. Ngoài kia

hãy còn tối."

Ông ngả sang bên, nằm đè lên gối. Ông làu bàu. Đó không phải là một nỗ lực phát âm. Chỉ đơn giản là làu bàu. Rồi ông nhắm mắt lại. Cô nhấc hai chân ông vào giường và đắp cho ông lần nữa.

Cô ngồi bên ông trong mười phút, và khi tiếng ngáy trở lại với cường độ cũ, cô xỏ chiếc quần lửng rồi chạy về Palms.

"Abby, ông ta tỉnh lại rồi." cô thông báo trong hoảng loạn. "Ông ta đã tỉnh dậy rồi ngủ lại."

Abby dừng tay, nhìn. Cả hai người phụ nữ cùng nhìn chiếc giường phủ đầy những tài liệu chưa sao chép xong.

"Được rồi, chị tắm nhanh đi." Abby điềm tĩnh nói. "Rồi hãy vào giường cùng ông ta và chờ. Khóa cửa phòng kho lại và gọi cho em khi ông ta tỉnh dậy, vào phòng tắm. Em sẽ tiếp tục sao chép đống còn lại. Chúng ta sẽ tìm cách di chuyển nó sau khi ông ta đi làm."

"Như vậy thì rủi ro kinh khủng quá."

"Đằng nào mà chẳng rủi ro. Nhanh lên đi!"

Năm phút sau, Tammi/Doris/Libby trong bộ bikini dây màu cam sáng làm thêm một cuốc đi nữa đến căn hộ chung cư, lần này không xách theo chiếc cặp nào. Cô khóa cửa trước và cửa phòng kho rồi đi vào phòng ngủ. Cô cởi phần trên của chiếc bikini cam rồi chui vào trong chăn.

Tiếng ngáy giúp cô tỉnh trong mười lăm phút. Rồi cô thiu thiu ngủ. Cô ngồi dậy trên giường để tránh không ngủ gục. Cô thấy sợ khi phải ngồi đó cùng một gã đàn ông trần truồng, kẻ có thể sẽ giết

chết cô nếu biết được. Cơ thể mệt mỏi của cô giãn dần ra và giấc ngủ trở thành điều không thể tránh. Cô lại ngủ thiu thiu.

Bé cưng bừng tỉnh khỏi cơn hôn mê vào lúc chín giờ ba phút. Ông rên lớn rồi lăn ra mép giường. Hai mí mắt ông dính chặt. Chúng từ từ mở ra. Và ánh nắng ban ngày đâm xuyên qua chúng. Ông rên lên một tiếng nữa. Cái đầu nặng đến hàng chục ký, và ông lóng ngóng lắc lư hết từ phải sang trái, mỗi lần lắc là lại làm bộ não bên trong xáo động mạnh. Ông hít thở sâu và khí ôxy tươi mát ào ạt tràn vào các thái dương. Ông chú ý đến cánh tay phải. Ông cố nhấc nó lên, nhưng những xung động thần kinh không thẩm thấu vào não. Cánh tay chầm chậm dâng lên, và ông liếc nhìn nó. Ông cố tập trung trước hết vào mắt phải, sau đó đến mắt trái. Đồng hồ.

Ông nhìn chiếc đồng hồ số trong ba mươi giây trước khi giải mã được các con số màu đỏ.

Chín không năm. Chết tiệt! Ông phải có mặt ở ngân hàng vào lúc chín giờ. Ông rên lên. Cô gái!

Cô cảm thấy ông cử động và nghe những âm thanh của ông nhưng vẫn nằm im với đôi mắt nhắm. Cô cầu cho ông đừng chạm vào cô. Cô cảm thấy ông đang nhìn.

Trong sự nghiệp lừa đảo và làm kẻ xấu của ông, đã có rất nhiều cơn khó ở, nhưng chưa từng có cơn nào như thế này. Ông nhìn khuôn mặt cô và cố nhớ lại cô ngọt ngào như thế nào. Ông luôn nhớ được điều đó. Bất chấp kích cỡ của cơn khó ở, ông luôn nhớ được các phụ nữ của ông. Ông nhìn cô một lúc rồi bỏ cuộc.

"Chết tiệt!" ông nói khi đứng dậy và cố gắng bước đi. Hai chân ông nặng như đôi ủng chì, và chúng chỉ miễn cưỡng làm theo ý chí của ông. Ông cố tựa vào cánh cửa lùa của ban công.

Phòng tắm ở cách sáu mét, và ông quyết định phải vào đó. Bằng từng bước chân ê ẩm và vụng về, cuối cùng ông cũng đến được đó. Ông chờn vờn trên bồn cầu rồi nôn thốc.

Cô lăn mình, quay mặt về ban công. Khi ông xong việc, cô cảm thấy ông ngồi xuống giường, bên cạnh cô. Ông khẽ chạm vai cô. "Libby, dậy đi." Ông lay cô, và cô sợ cứng người.

"Dậy đi cưng," ông nói. Một quý ông lịch lãm.

Cô trao cho ông một nụ cười ngái ngủ rạng rỡ nhất của cô. Nụ cười của thỏa mãn và cam kết. Nụ cười của Scarlett O'Hara vào buổi sáng sau khi Rhett ngủ với cô ta.

"Anh tuyệt lắm, bé cưng." cô thủ thỉ với đôi mắt nhắm.

Bất chấp cơn đau nhức và buồn nôn, bất chấp đôi chân chì và cái đầu nặng như trái banh bowling, ông thấy tự hào về bản thân. Cô gái đã ấn tượng. Đột nhiên ông nhớ rằng đêm qua ông rất tuyệt. "Libby này, chúng ta đã ngủ quên. Anh phải đi làm đây. Anh đã trễ giờ rồi."

"Không hứng hả?" cô khúc khích. Cô chỉ cầu sao cho ông đừng có hứng.

"Không, không phải bây giờ. Tối nay được không?"

"Em sẽ ở đây, bé cưng."

"Tốt. Anh phải đi tắm đây."

"Khi nào ra thì đánh thức em nhé."

Ông đứng dậy, lẩm bẩm chi đó, rồi khóa cửa phòng tắm. Cô trườn qua giường, với lấy chiếc điện thoại rồi gọi cho Abby. "Ông ta trong phòng tắm."

"Chị có sao không?"

"Không sao. Ông ta có muốn cũng không thể."

"Sao lâu vậy?"

"Chắc ông ta chưa tỉnh hẳn."

"Ông ta có nghi ngờ gì không?"

"Không. Ông ta chẳng nhớ gì cả. Tôi nghĩ ông ta đang ê ẩm."

"Chị sẽ ở đó trong bao lâu?"

"Tôi sẽ hôn tạm biệt ông ta khi ông ta tắm xong. Mười, hay có thể là mười lăm phút."

"Được rồi. Nhanh lên nhé!"

Abby gác máy và Tammy trườn lại sang bên phần giường của cô. Ở gác mái trên căn bếp, một máy ghi âm khẽ phát ra tiếng "cách" rồi tái lập cho cuộc gọi kế tiếp.

Vào lúc mười giờ ba mươi, họ đã sẵn sàng cho cuộc tiến công cuối cùng vào căn hộ chung cư. Món hàng lậu được chia thành ba phần bằng nhau. Ba cuộc đột kích táo bạo giữa ban ngày. Tammy nhét các chìa khóa mới sáng loáng vào túi áo khoác rồi nhấc lên các chiếc cặp. Cô bước nhanh, mắt cô đảo khắp mọi hướng sau cặp kính mát. Bãi đậu phía trước các căn hộ chung cư vẫn trống trơn. Giao thông thưa thớt trên cao tốc. Chiếc chìa khóa mới ăn khớp, và cô đã

vào được bên trong. Chìa khóa phòng kho cũng khớp. Năm phút sau cô rời khỏi căn hộ chung cư. Cuốc thứ hai và thứ ba diễn ra nhanh chóng và vô sự. Khi rời phòng kho lần cuối, cô xem xét nó kỹ lưỡng. Mọi thứ đều đâu vào đấy, cô thấy vậy. Cô khóa cửa căn hộ chung cư rồi xách các chiếc Samsonite đắc dụng về Phòng 188.

Trong một tiếng đồng hồ, họ nằm cạnh nhau trên giường, cười nhạo Avery và cơn khó ở của ông ta. Nay mọi việc đã xong xuôi -phần lớn mọi việc – và họ đã hoàn tất một tội ác hoàn hảo. Và bé cưng chính là bên tham gia tự nguyện dù chẳng hay biết gì. Mọi chuyện đều trót lọt, họ quả quyết như vậy.

Núi bằng chứng nhỏ chất đầy trong mười một chiếc thùng rưỡi bằng các tông. Đến hai giờ ba mươi, một người bản địa đội nón rơm, ở trần, đến gõ cửa và tuyên bố anh ta đến từ một cơ sở có tên là Cayman Storage. Abby trỏ những chiếc thùng. Không có lối để đi và cũng chẳng việc gì phải vội, anh ta bê lên chiếc thùng đầu tiên rồi khuân nó ra xe, chậm chạp đến phát sốt. Như tất cả những người bản địa, anh ta hoạt động theo giờ giấc của Cayman. Không việc gì phải vội cả, mon.

Họ đi theo anh ta trên chiếc Stanza đến một nhà kho ở Georgetown. Abby xem xét căn phòng kho được đề xuất rồi trả bằng tiền mặt để thuê nó trong ba tháng.

28

Wayne Tarrance ngồi ở băng ghế sau vào lúc 11g 40 tối. Chiếc Greyhound đi từ Louisville đến Indianapolis rồi đến Chicago. Dù anh ngồi một mình nhưng chiếc buýt vẫn đông nghẹt. Đó là tối thứ Sáu. Chiếc buýt rời khỏi Kentucky ba mươi phút trước đó, và lúc này anh đang tin rằng có gì đó không ổn. Ba mươi phút mà vẫn không một lời hay một tín hiệu từ bất cứ ai. Phải chăng anh đi nhầm xe buýt? Phải chăng McDeere đã đổi ý? Rất nhiều thứ có thể xảy ra. Băng ghế sau nằm trên động cơ diesel, chỉ cách có vài phân, và Wayne Tarrance từ Bronx nay đã vỡ lẽ ra vì sao các hành khách thường xuyên của Greyhound lại tranh nhau cái chỗ ngồi ngay phía sau người tài xế. Cuốn Louis L'Amour của anh rung lắc mạnh đến mức anh cảm thấy nhức đầu. Ba mươi phút. Không có chuyện gì cả.

Tiếng dội cầu vang lên phía bên kia lối đi rồi cánh cửa bật mở. Mùi hôi thoát ra và Tarrance nhìn đi chỗ khác, về phía luồng giao thông ở hướng nam. Từ hư vô, cô lách vào chiếc ghế cạnh lối đi rồi hắng giọng. Tarrance giật nảy sang phải, và cô đã ở đấy. Anh đã từng gặp cô trước đây ở đâu đó.

"Ông có phải là ông Tarrance không?" Cô mặc quần Jeans, xỏ giày đế mềm bằng vải cotton, khoác chiếc áo len xanh lục mòn cũ và nặng trịch. Cô giấu mặt sau cặp kính đen.

"Phải. Còn cô?"

Cô nắm bàn tay anh, lắc mạnh. "Abby McDeere."

"Tôi kỳ vọng gặp chồng cô."

"Tôi biết. Anh ấy quyết định không đến nên tôi đang ở đây."

"Ơ... Tôi... Tôi chỉ muốn nói chuyện với anh ta mà thôi."

"Vâng, nhưng anh ấy cử tôi đến. Cứ coi tôi như là phái viên của anh ấy đi."

Tarrance đặt cuốn sách bìa mềm lên ghế rối nhìn ra cao tốc. "Anh ta đang ở đâu?"

"Chuyện đó thì có gì là quan trọng, ông Tarrance? Anh ấy cử tôi đến để bàn công việc, ông cũng ở đây để bàn công việc, vậy thì ta bàn việc đi."

"Thôi được. Cô hãy hạ thấp giọng, và nếu có ai đi xuống dọc lối đi thì hãy nắm tay tôi và dừng nói. Hãy cư xử như chúng ta là vợ chồng hay đại loại như thế. Được chứ? Thế này nhé, ông Voyles... cô có biết ông ta là ai không?"

"Tôi biết tất tật, ông Tarrance ạ."

"Tốt. Ông Voyles sắp hủy thỏa thuận vì chúng tôi vẫn chưa nhận hồ sơ nào của Mitch. Những hồ sơ tốt ấy. Cô hiểu vì sao chúng lại quan trọng rồi chứ?"

"Hiểu rất rõ."

"Vậy nên chúng tôi cần các hồ sơ."

"Còn chúng tôi thì cần một triệu đô la."

"Vâng, đó là thỏa thuận mà. Nhưng tôi phải nhận các hồ sơ trước đã."

"Không được. Đó không phải là thỏa thuận. Ông Tarrance, thỏa thuận là chúng tôi nhận một triệu đô la chính xác tại nơi chúng tôi muốn, sau đó chúng tôi sẽ trao các hồ sơ."

"Cô không tin chúng tôi sao?"

"Đúng vậy. Chúng tôi không tin ông, không tin Voyles và bất cứ ai khác. Tiền phải được chuyển dưới dạng điện tử đến một tài khoản ngân hàng ở Freeport, Bahamas. Chúng tôi sẽ lập tức được thông báo, sau đó tiền sẽ được chuyển bằng điện tử đến một ngân hàng khác. Một khi chúng tôi nhận nó ở nơi chúng tôi muốn, các hồ sơ sẽ là của các ông."

"Các hồ sơ đang ở đâu?"

"Trong một nhà kho mini ở Memphis. Có năm mươi mốt hồ sơ cả thảy, tất cả đều đóng thùng rất gọn gàng và ngăn nắp. Ông sẽ ấn tượng đấy. Chúng tôi đã làm việc rất tốt."

"Chúng tôi? Cô đã thấy các hồ sơ chưa?"

"Dĩ nhiên. Tôi còn giúp đóng thùng nữa kìa. Có những bất ngờ trong thùng số tám đấy."

"Được rồi. Bất ngờ gì vậy?"

"Mitch đã sao chép được ba trong số các hồ sơ của Avery Tolar,

và chúng đều có vấn đề. Hai hồ sơ liên quan đến một công ty có tên là Dunn Lane, Ltd. mà chúng tôi biết là một công ty đăng ký ở Cayman do mafia kiểm soát. Nó được thành lập năm 1986 bằng mười triệu đô la tiền bẩn. Các hồ sơ còn liên quan đến hai dự án xây dựng do công ty này đầu tư."

"Làm sao cô biết nó được đăng ký ở Cayman? Và làm sao cô biết về mười triệu đô la? Chắc chắn số tiền đó không nằm trong các hồ sơ rồi."

"Đúng, nó không nằm trong đó, nhưng chúng tôi có các sổ sách khác."

Tarrance suy nghĩ về các sổ sách khác trong suốt mười cây số đi đường. Rõ ràng anh sẽ không thấy được chúng chừng nào vợ chồng McDeere chưa nhận được một triệu đâu. Anh bỏ qua. "Tôi không chắc chúng tôi có thể chuyển tiền bằng điện tử như ý cô muốn trước khi nhận các hồ sơ." Đó là một trò thấu cáy yếu kém. Cô đọc được nó hoàn hảo. Cô mỉm cười.

"Chúng ta có cần phải vờ vịt với nhau không, ông Tarrance? Sao ông không đơn giản đưa tiền cho chúng tôi và thôi kỳ kèo đi?"

Một sinh viên nước ngoài, có vẻ là người Ả Rập, thong dong đi xuôi xuống lối đi để đến phòng vệ sinh. Tarrance liền đóng băng và nhìn ra cửa sổ. Abby vỗ vỗ tay anh như một cô bạn gái đích thực. Tiếng dội cầu nghe như âm thanh một thác nước nhỏ.

"Khi nào thì việc đó diễn ra?" Tarrance hỏi. Cô đã thôi chạm vào anh.

"Các hồ sơ đã sẵn sàng. Khi nào thì các ông có thể xoay được một triệu đô?"

"Ngày mai."

Abby nhìn ra cửa sổ rồi nói từ khóe miệng bên trái. "Hôm nay là thứ Sáu. Thứ Ba tuần tới, lúc mười giờ sáng. Giờ Bahamas, miền đông. Ông chuyển một triệu đô la bằng điện tử từ tài khoản của các ông tại ngân hàng Chemical Bank ở Manhattan vào một tài khoản ghi số tại ngân hàng Ontario ở Freeport. Đó phải là một giao dịch điện tử sạch sẽ và hợp pháp... chỉ mất khoảng mười lăm giây."

Tarrance cau mày, cố theo kịp. "Nếu chúng tôi không có tài khoản ở Chemical Bank tại Manhattan thì sao?"

"Hiện thời thì không, nhưng thứ Hai các ông sẽ có. Tôi tin chắc các ông có ai đó ở Washington có thể xử lý một cuộc chuyển tiền đơn giản."

"Dĩ nhiên chúng tôi có."

"Tốt."

"Nhưng tại sao phải là Chemical Bank?"

"Đó là lệnh của Mitch, ông Tarrance ạ. Hãy tin anh ấy, anh ấy biết những gì anh ấy làm."

"Có vẻ như anh ta đã nghiên cứu rất kỹ."

"Anh ấy luôn nghiên cứu rất kỹ. Và có một điều này ông phải luôn ghi nhớ. Anh ấy thông minh hơn ông rất nhiều."

Tarrance khịt mũi và cố biến nó thành một tiếng khúc khích nhỏ. Họ ngồi im vài cây số, mỗi người suy nghĩ về câu hỏi và câu trả lời

kế tiếp.

"Được rồi," Tarrance nói, hầu như với chính mình. "Khi nào thì chúng tôi nhận các hồ sơ?"

"Khi tiền bạc đã an toàn ở Freeport chúng tôi sẽ thông báo. Sáng thứ Tư trước mười giờ ba mươi, tại văn phòng của ông ở Memphis, ông sẽ nhận được một bao thư của Federal Express cùng một lời ghi chú và chìa khóa của nhà kho mini."

"Liệu tôi có thể nói với ông Voyles rằng chúng tôi sẽ nhận các hồ sơ vào chiều thứ Tư?"

Cô nhún vai, không nói gì cả. Tarrance cảm thấy mình vừa nêu ra một câu hỏi ngu ngốc. Nhanh chóng, anh nghĩ ra một câu hay ho. "Chúng tôi sẽ cần số tài khoản ở Freeport."

"Nó đã được viết ra sẵn. Tôi sẽ đưa cho ông khi xe buýt dừng lại." Những việc cụ thế này đã được hoàn tất. Anh lần xuống ghế, lấy ra cuốn sách của anh. Anh lật giở các trang, vờ vĩnh như đang đọc. "Hãy ngồi lại đây thêm một phút nữa," anh nói.

"Có câu hỏi nào à?" cô hỏi.

"Có đấy. Chúng ta hãy nói về các sổ sách khác mà cô đã đề cập đến, có được không?"

"Dĩ nhiên."

"Chúng ở đâu?"

"Hỏi hay đấy. Theo cách mà tôi được trình bày về thỏa thuận, trước tiên chúng tôi phải nhận được khoản tạm ứng, nửa triệu. Đổi lại, các ông sẽ nhận đủ bằng chứng để đạt được các cáo trạng. Các

sổ sách khác là một phần của khoản ứng trước kế tiếp."

Tarrance lật một trang sách. "Ý cô là vợ chồng cô đã nắm được... các hồ sơ bẩn?"

"Chúng tôi đã có phần lớn những gì chúng tôi cần. Vâng, chúng tôi đã có hàng đống hồ sơ bẩn."

"Chúng đang ở đâu?"

Cô cười dịu dàng, vỗ vỗ cánh tay anh. "Tôi cam đoan với ông rằng chúng không nằm trong cái nhà kho mini cùng các hồ sơ sạch."

"Nhưng vợ chồng cô đã chiếm hữu được chúng?"

"Đại loại như thế. Ông muốn biết đôi ba hồ sơ chứ?"

Anh gập sách lại, hít một hơi sâu và nhìn cô. "Chắc chắn rồi."

"Tôi cũng nghĩ vậy. Mitch nói anh ấy sẽ đưa cho ông một xấp tài liệu dày hai tấc rưỡi về Dunn Lane, Ltd.: các bản sao sổ sách ngân hàng, các khoản vay của công ty, các biên bản, nội quy, các chức sắc, cổ đông, các giao dịch ghi âm, các thư từ mà Nathan Locke gửi cho Joey Morolto, các giao kèo, và hàng trăm phi vụ béo bở sẽ khiến cho các ông mất ngủ. Những chất liệu tuyệt vời. Mitch nói, chỉ riêng từ sổ sách của Dunn Lane không thôi, các ông đã có thể sẽ đạt được đến ba mươi lệnh truy tố."

Tarrance hóng từng lời và nay anh đã tin cô.

"Khi nào chúng tôi có thể thấy được nó?" anh nói khẽ nhưng đầy háo hức.

"Khi nào Ray ra tù? Đó là một phần của thỏa thuận, ông nhớ không?"

"Ối trời. Ray."

"Ối trời, ông Tarrance. Hoặc là anh ta ra khỏi các bức tường hoặc là ông hãy quên béng cái hãng Bendini đi. Mitch và tôi sẽ ẵm một triệu còm của chúng tôi và biến mất trong đêm."

"Tôi đang lo việc đó."

"Tốt nhất ông hãy làm việc siêng năng vào." Đó không phải là một lời dọa suông đâu, anh biết như vậy mà. Abby rút từ túi ra tấm danh thiếp của Bendini, Lambert & Locke rồi thả nó lên cuốn sách. Ở mặt sau, cô đã ghi sẵn số tài khoản: 477DL-19584, Ontario Bank, Freeport.

"Tôi sẽ trở về chỗ của tôi ở phía trước, cách xa cái động cơ này. Chúng ta đã thống nhất về thứ Ba tuần tới rồi chứ?"

"Không có vấn đề gì, mon. Có phải cô đã thoát ra ở Indianapolis?"

"Phải."

"Cô đi đâu vậy?"

"Về nhà ba mẹ tôi ở Kentucky. Mitch và tôi đã chia tay." Cô đi khỏi.

Tammy đứng trong một hàng nóng bức cỡ mươi người tại hải quan Miami. Cô mặc quần lửng, áo hở lưng, mang dép, đeo kính mát, đội nón rơm, trông đúng như hàng ngàn du khách đang rã rời trở về nhà từ những bãi biển ngập nắng của Caribe. Phía trước cô là hai vợ chồng mới cưới đang cáu kỉnh, xách theo những chiếc túi đựng rượu và phấn son miễn thuế, và rõ ràng là đang ở giữa một đợt hục hặc nghiêm trọng. Phía sau cô là hai chiếc túi da mới cứng

hiệu Hartman chứa đầy ắp những tài liệu và sổ sách có thể truy tố được bốn mươi luật sư. Người tuyển dụng cô, cũng là một luật sư, đã gợi ý cô nên mua một chiếc va li với những bánh xe nhỏ dưới đáy để cô kéo dọc sân bay Miami International. Cô còn xách theo một chiếc túi xách tay chứa vài món áo quần và bàn chải đánh răng để trông cho hợp lý.

Cứ sau mỗi mười phút, cặp vợ chồng trẻ lại nhích lên được mười lăm phân, và Tammy cũng nhích lên theo cùng với các hành lý của cô. Một giờ sau khi bước vào hàng, cô đã đến được điểm kiểm soát.

"Không khai báo?" một nhân viên hải quan gầm gừ bằng thứ tiếng Anh giả cầy.

"Không!" cô gầm gừ lại.

Anh ta hất đầu về phía các túi da lớn. "Có gì trong đó?"

"Giấy tờ."

"Giấy tờ?"

"Giấy tờ."

"Kiểu giấy tờ gì?"

Giấy vệ sinh, cô nghĩ. Chị chú mày đi Caribe để nghỉ mát và gom giấy vệ sinh. "Tài liệu luật pháp và mấy thứ tào lao giống như thế. Tôi là luật sư."

"Ờ, ờ." Anh ta kéo dây khóa chiếc túi xách và nhìn vào. "Được rồi. Kế tiếp!"

Cô cẩn thận đẩy các chiếc túi, rất cẩn thận. Chúng có chiều hướng muốn lật. Một nhân viên hành lý tóm lấy chúng, chất cả ba

chiếc lên một xe lăn hai bánh. "Chuyến bay Delta Flight 282 đến Nashville. Cổng 44, Phòng đợi B." cô nói khi trao cho anh ta một tờ năm đô la.

Tammy và toàn bộ ba chiếc túi đến Nashville vào lúc nửa đêm ngày thứ Bảy. Cô chất chúng lên chiếc Rabbit của cô rồi rời sân bay. Ở một khu ngoại ô của Brentwood, cô đậu xe vào nơi đã được chỉ định, lần lượt khuân từng chiếc túi Hartmans vào căn hộ một phòng ngủ.

Ngoại trừ chiếc trường kỷ xếp mà cô thuê, căn hộ không có đồ đạc nào. Cô dỡ các chiếc túi trong phòng ngủ và bắt đầu cái quá trình tẻ nhạt sắp xếp các bằng chứng. Mitch muốn có bản danh sách từng tài liệu, từng sổ sách ngân hàng, từng công ty. Anh ta muốn nó phải sẵn sàng. Anh ta nói một ngày nào đó anh ta sẽ tạt qua trong vội vã, và anh ta muốn tất cả phải đâu vào đó.

Trong hai giờ, cô thực hiện việc kiểm kê. Cô ngồi xuống sàn và ghi chép cẩn thận. Sau ba chuyến đi trong một ngày đến Grand Cayman, căn phòng đã bắt đầu đầy. Thứ Hai cô sẽ đi lần nữa. Cô cảm thấy như mình chỉ ngủ có ba tiếng trong suốt hai tuần qua. Nhưng đó là việc khẩn, anh ta nói vậy. Đó là vấn đề sinh tử.

Tarry Ross, bí danh Alfred, ngồi trong góc tối tăm nhất tại phòng đợi của khách sạn Wahington Phoenix Park. Cuộc gặp sẽ là cực ngắn. Hắn uống cà phê, chờ người khách của mình.

Hắn chờ và nguyện trong đầu sẽ chỉ chờ thêm năm phút nữa. Chiếc tách bị sánh khi hắn nhấp. Cà phê bắn tung tóe trên bàn. Hắn

nhìn chiếc bàn rồi tuyệt vọng nhìn quanh. Hắn chờ.

Người khách xuất hiện từ hư vô. Hắn ngồi xuống, đâu lưng vào tường. Tên của hắn là Vinnie Cozzo, một gã tội phạm đến từ New York thuộc gia đình Palumbo.

Vinnie nhận ra chiếc tách sánh và chỗ cà phê bị đổ.

"Thư giãn đi, Alfred. Nơi này đủ tối mà."

"Anh muốn gì?" Alfred hỏi.

"Tôi muốn uống."

"Không phải là lúc để uống. Tôi đi đây."

"Ngồi xuống đi, Alfred. Thoải mái đi anh bạn. Ở đây không có người thứ ba đâu."

"Anh muốn gì?" Alfred lại rít lên.

"Chỉ một chút thông tin thôi."

"Sẽ tốn kém đấy."

"Lúc nào mà chẳng tốn." Một người phục vụ bén mảng đến. Vinnie gọi Chivas và nước lọc.

"Ông bạn Delton Voyles của tôi thế nào rồi?" Vinnie hỏi.

"Khốn kiếp, Cozzo. Tôi đi đây. Tôi sẽ ra khỏi đây."

"Được rồi, anh bạn, thư giãn đi. Tôi chỉ cần chút thông tin thôi mà."

"Nói nhanh đi," Alfred nhìn quanh quất khắp phòng đợi. Chiếc tách của hắn hầu như đã cạn, phần lớn cà phê vương vãi khắp mặt bàn.

Chivas đến và Vinnie uống một cách ngon lành. "Có một tình huống nhỏ dưới Memphis. Một số đại ca kiểu như đang lo lắng chuyện đó. Đã bao giờ nghe về hãng Bendini chưa?"

Một cách bản năng, Alfred lắc đầu phủ nhận. Thoạt đầu phải luôn luôn nói không. Và rồi, sau khi đã cày xới cẩn thận, phải quay lại với cái báo cáo nhỏ ngon xơi đó và nói có. Hắn có nghe về hãng Bendini và các thân chủ béo bở của họ. Chiến dịch Laundromat. Đích thân Voyles đã đặt tên cho nó như thế và hết sức tự hào về sáng tạo của ông ta.

Vinnie nhấp thêm một hớp ngon lành nữa. "Này nhé, có một gã dưới đó tên là McDeere, Mitchell McDeere, làm việc cho hãng Bendini, và chúng tôi ngờ rằng hắn đang chơi trò móc ngoéo với bên các anh. Hiểu ý tôi rồi chứ? Chúng tôi nghĩ hắn đang bán thông tin về Bendini cho đám đặc vụ liên bang. Chỉ cần biết chuyện đó là có thật hay không. Thế thôi."

Alfred lắng nghe với khuôn mặt không biểu cảm, dù điều đó không phải dễ. Hắn biết cả nhóm máu của McDeere lẫn quán ăn yêu thích của anh ta tại Memphis. Hắn biết McDeere đã nói chuyện với Tarrance đến nay đã có đến nửa tá lần, và ngày mai, thứ Ba, McDeere sẽ trở thành triệu phú. Dễ như ăn bánh.

Vinnie châm một điếu Salem Light. "Thế đấy, Alfred, đó là một vấn đề nghiêm trọng. Tôi không có xạo sự đâu. Hai trăm ngàn tiền mặt." Alfred buông tách xuống. Hắn rút chiếc khăn tay từ túi sau, chùi cặp kính một cách dữ dội.

"Hai trăm? Bằng tiền mặt?"

"Tôi đã nói rồi đó. Lần trước chúng tôi chi cho anh bao nhiêu?"

"Bảy mươi lăm ngàn."

"Hiểu ý tôi chưa? Nó nghiêm trọng khủng luôn. Alfred. Anh làm được không đấy?"

"Được."

"Khi nào?"

"Cho tôi hai tuần."

29

Một tuần trước ngày 15 tháng Tư, những kẻ nghiện việc ở Bendini, Lambert & Locke đạt tới đỉnh điểm của sự căng thẳng và mở hết tốc lực chỉ nhờ vào adrenaline. Và cả nỗi sợ hãi nữa. Sợ bỏ sót một khoản khấu trừ, một khoản xóa sổ, một khoản khấu hao quá mức khiến cho một thân chủ giàu có phải tốn kém thêm một triệu nữa hay cỡ đó. Sợ phải nhấc điện thoại, gọi cho thân chủ và thông báo rằng khoản thu về nay đã hoàn thành và, rất tiếc, phải chi thêm một khoản dôi ra là tám trăm ngàn. Nỗi sợ không hoàn thành xong trước ngày mười lăm và buộc phải xin gia hạn và chịu phạt, chịu lãi suất. Bãi đậu chật kín vào lúc 6 giờ sáng. Các thư ký làm việc mười hai giờ mỗi ngày. Có rất ít chỗ cho tâm trạng. Việc trò chuyện là hiếm hoi và luôn luôn trong vội vã.

Không còn vợ để trở về, Mitch làm việc hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Sonny Capps đã chửi bới và mắng nhiếc Avery vì ông ta còn nợ thuế 450.000 đô la trên khoản thu nhập kiếm được là sáu triệu. Avery bèn quay sang chửi bới Mitch và họ cùng nhau cày cuốc lại các hồ sơ của Capps, vừa đào bới vừa chửi rủa. Mitch đã tạo

được hai khoản xóa số rất đáng ngờ, giúp hạ mức thuế xuống còn 320.000 đô la. Capps nói ông ta đang cân nhắc tìm một hãng luật mới. Một hãng ở Washington.

Phải đi vắng sáu ngày, Capps đòi một cuộc họp khẩn với Avery tại Houston. Chiếc Lear đang rảnh rỗi và Avery lên đường vào lúc nửa đêm. Mitch lái xe chở ông ra sân bay, nhận các chỉ đạo của ông dọc đường.

Không lâu sau 1 giờ 30 sáng, anh trở về văn phòng. Ba chiếc Mercedes, một BMW và một Jaguar nằm rải rác ở bãi đậu. Bảo vệ mở cửa sau và Mitch lên thang máy đến tầng bốn. Như thường lệ, Avery đã khóa cửa văn phòng của ông. Cửa phòng của các đối tác luôn luôn khóa. Ở cuối hành lang có thể nghe thấy một giọng nói. Victor Milligan, người đứng đầu về thuế vụ, đang ngồi ở bàn làm việc, nói những lời xấu xí vào chiếc máy tính của ông ta. Các văn phòng khác đều tối đen và khóa chặt.

Mitch nín thở, nhét một chìa khóa vào cửa của Avery. Tay nắm xoay, và anh đã ở bên trong. Anh bật toàn bộ các đèn rồi đi đến chiếc bàn họp, nơi anh và vị đối tác của anh thường làm việc vào ban ngay và phần lớn các ban đêm. Các hồ sơ được chất lên như gạch quanh những chiếc ghế. Giấy tờ nằm vương vãi khắp nơi này nơi nọ. Các cuốn sách và quy định của IRS nằm chồng chất lên nhau. Mitch ngồi vào bàn và tiếp tục bản nghiên cứu của anh về Capps. Theo sổ tay của FBI, Capps là một doanh nhân hợp pháp đã sử dụng dịch vụ của hãng trong ít nhất tám năm qua. Các Fibbie đã

không quan tâm đến Sonny Capps.

Sau một giờ, cuộc trao đổi dừng lại, Milligan đóng cửa rồi khóa lại. Ông đi ra lối cầu thang mà không nói lời tạm biệt. Mitch nhanh chóng kiểm tra từng văn phòng ở tầng bốn, rồi đến tầng ba. Tất cả đều trống người. Lúc này đã gần 3 giờ sáng.

Cạnh các kệ sách trên một bức vách trong văn phòng của Avery, bốn tủ hồ sơ bằng gỗ sồi cứng cáp nằm chơ vơ. Mitch đã để ý đến chúng từ nhiều tháng, nhưng chưa bao giờ thấy chúng được sử dụng. Nhưng hồ sơ đang làm việc được cất giữ trong ba chiếc tủ bằng sắt gần cửa sổ. Các thư ký vẫn hay lục lọi chúng, thường là khi Avery quát tháo họ. Anh khóa cửa rồi bước đến các tủ gỗ sồi. Chúng bị khóa, dĩ nhiên. Anh lựa ra hai chiếc chìa khóa nhỏ, mỗi chiếc dài khoảng hai phân. Chiếc đầu tiên khớp với tủ đầu, và anh mở nó ra.

Từ bản kiểm kê ở Nashville của Tammy về hoạt động buôn lậu, anh đã ghi nhớ nhiều cái tên công ty ở Cayman vận hành bằng tiền bẩn chưa rửa. Bằng ngón cái, anh lật giở nhanh các hồ sơ ở ngăn trên cùng, và những cái tên nhảy xổ ra. Dunn Lane, Ltd., Eastpointe, Ltd., Virgin Bay, Ltd., Inland Contractors, Ltd., Gulf-South, Ltd. Anh tìm ra thêm nhiều cái tên quen thuộc trong các ngăn thứ hai và thứ ba. Các hồ sơ đầy ắp những tài liệu cho vay từ các ngân hàng Cayman, các ghi chép về chuyển tiền điện tử, chứng từ đảm bảo, hợp đồng cho thuê, chứng từ thế chấp và hàng ngàn những giấy tờ khác. Anh đặc biệt quan tâm đến Dunn Lane và Gulf-South. Tammy đã ghi lại một lượng tài liệu đáng kể của hai công ty này.

Anh nhặt ra bản hồ sơ của Gulf-South với đầy ắp những giao dịch điện tử và tài liệu cho vay từ Royal Bank of Montreal. Anh bước đến chiếc máy photocopy ở giữa tầng bốn rồi bật nó lên. Trong khi chờ nó nóng máy, anh liếc nhìn quanh, làm mặt tỉnh. Nơi này im như thóc. Anh nhìn dọc trần nhà. Không có camera. Anh đã kiểm tra điều này nhiều lần trước đây. Đèn báo SỐ TRUY CẬP sáng lên, và anh nhấn số hồ sơ của bà Lettie Plunk. Bản khai thuế của bà ta đang nằm trên bàn anh ở tầng hai, và nó có thể giúp tiết kiệm vài bản sao. Anh đặt các nội dung lên khay tự động, và ba phút sau hồ sơ đã được sao ra. Một trăm hai mươi tám bản sao, tính tiền cho Lettie Plunk. Trở lại tủ hồ sơ, rồi trở lại máy phocopy với xấp bằng chứng khác của Gulf-South. Anh nhấn số truy cập vào hồ sơ của Greenmark Partners, một công ty phát triển bất động sản tại Bartlett, Tennessee. Những thân chủ hợp pháp. Bản khai thuế đang ở trên bàn của anh và có thể giúp tiết kiệm vài bản sao, chính xác là chín mươi mốt.

Mitch có mười tám bản khai thuế trên bàn làm việc của anh đang chờ được ký và đệ trình. Với sáu ngày để ra đi, anh đã hoàn tất công việc tối hậu của anh. Toàn bộ mười tám hồ sơ đều tự động ghi hóa đơn sao chép cho Gulf-South và Dunn Lane. Anh đã ghi lại số truy cập của chúng lên một tờ ghi nhớ, và nó đã nằm trên chiếc bàn cạnh máy photocopy. Sau khi sử dụng mười tám con số, anh truy cập bằng ba con số mượn từ các hồ sơ của Lamar và ba con số mượn từ các hồ sơ của Capps.

Một dây nối chạy từ máy photocopy qua một lỗ trên tường, rồi đi

vào một phòng kho, nơi nó được nối với ba máy photocopy khác ở tầng bốn. Đường dây, lúc này đã lớn hơn, chạy xuống qua trần nhà rồi chạy dọc theo chân tường đến phòng tính tiền ở tầng ba, nơi một máy tính ghi nhận và lập hóa đơn cho từng bản sao thực hiện bên trong hãng. Một sợi dây nhỏ màu xám, trông vô thưởng vô phạt, chạy từ máy tính lên tường rồi xuyên qua trần đến tầng năm, nơi một máy tính khác ghi lại mã truy cập, số lượng bản sao và vị trí của chiếc máy tạo ra mỗi bản sao.

Lúc 5 giờ chiều ngày 15 tháng Tư, Bendini, Lambert & Locke đóng cửa. Đến 6 giờ, bãi đậu trống lốc, và những chiếc xe mắc tiền tái tập hợp cách đó ba cây số, phía sau một nhà hàng hải sản bề thế có tên là Anderton. Một phòng nhỏ đã được đặt chỗ cho bữa đại tiệc thường niên ngày 15 tháng Tư. Tất cả các cộng sự và đối tác tại vị đều hiện diện cùng mười một đối tác đã nghỉ hưu. Những người nghỉ hưu trông rắn rỏi và nhàn hạ, những người tại vị thì phờ phạc và cáu kỉnh. Nhưng tất cả đều đang trong tinh thần lễ hội, sẵn sàng để bùng nổ. Những điều luật hà khắc về sống sạch và điều độ sẽ được lãng quên đêm hôm đó. Một điều luật khác của hãng thậm chí còn cấm tiệt mọi luật sư và thư ký làm việc trong ngày 16 tháng Tư.

Những đĩa tôm luộc và những dãy hàu ướp lạnh nằm trên những chiếc bàn kê dọc tường. Chào đón họ là một thùng phi lớn bằng gỗ chứa đá và bia Moosehead ướp lạnh. Mười két bia được đặt ở phía sau chiếc thùng phi. Roosevelt ra sức khui nắp. Đến tối muộn, ông sẽ say xỉn cùng mọi người, và Oliver Lambert sẽ gọi taxi để điệu ông về nhà, trả lại cho bà Jessie Frances. Đó là một thông lệ.

Em họ của Roosevelt, Little Bobby Blue Baker, ngồi ở chiếc đại dương cầm rầu rĩ hát trong khi các luật sư nạp thức ăn và thức uống. Hiện thời, ông ta là nguồn giải trí. Muộn hơn, sẽ chẳng ai cần đến ông ta nữa.

Mitch phớt lờ thức ăn, lấy một chai ướp lạnh màu xanh lục rồi đi thẳng ra bàn ở gần chiếc dương cầm. Lamar đi theo anh với một ký tôm càng. Họ nhìn các đồng nghiệp cởi áo khoác và cà vạt rồi tấn công các chai Moosehead.

"Đã xong hết việc chưa?" Lamar hỏi trong khi ngấu nghiến món tôm.

"Rồi. Tôi xong từ hôm qua. Avery và tôi làm cho Sonny Capps đến năm giờ chiều. Xong hết rồi."

"Bao nhiêu?"

"Một phần tư triệu."

"Ối chà." Lamar dốc ngược chai bia, tu hết phân nửa. "Lão chưa bao giờ trả nhiều như thế, đúng không?"

"Đúng vậy, và lão đã rất phẫn nộ. Tôi chẳng hiểu nổi lão này. Lão có sáu triệu không phải trả bất kỳ khoản mạo hiểm nào, thế mà lão lại nổi điên nổi khùng vì phải trả năm phần trăm thuế."

"Avery thế nào?"

"Ít nhiều lo lắng. Tuần trước, Capps đòi ông ta bay đến Houston và chuyến đi đó không được tốt đẹp cho lắm. Ông ta đi bằng Lear lúc nửa đêm. Sau đó có cho tôi biết Capps đã chờ sẵn tại văn phòng của lão vào lúc bốn giờ sáng, giận dữ vì cái mức thuế cao đó. Đổ hết

lỗi cho Avery. Dọa sẽ đổi hãng khác."

"Lão lúc nào mà chả nói thế. Anh uống bia nữa không?"

Lamar rời đi rồi trở lại với bốn chai Moosehead.

"Mẹ của Abby sao rồi?"

Mitch mượn một con tôm của Lamar rồi lột vỏ. "Đến nay bà ấy vẫn chưa sao. Họ cắt một lá phổi."

"Abby thế nào?" Lamar dừng ăn, quan sát bạn của anh.

Mitch bắt đầu một chai khác. "Cô ấy ổn."

"Coi nào, Mitch, mấy đứa nhóc nhà tôi học ở St. Andrew's. Việc Abby xin nghỉ phép chẳng phải là điều gì bí mật cả. Cô ấy đã đi hai tuần rồi. Vợ chồng tôi biết điều đó, và chúng tôi lo lắm."

"Mọi thứ sẽ bình thường trở lại. Cô ấy muốn xa nhà một thời gian ngắn. Chẳng có vấn đề gì lớn cả, thật đấy."

"Coi nào, Mitch. Khi vợ anh rời nhà mà không định ngày về thì đó là một vấn đề lớn. Ít nhất cô ta đã nói chuyện đó với hiệu trưởng."

"Đúng vậy. Cô ấy không biết khi nào về. Có lẽ khoảng một tháng nữa. Cô ấy đã có một khoảng thời gian khó khăn với giờ giấc của tôi ở văn phòng."

Tất cả các luật sư đã hiện diện và được điểm danh, cho nên Roosevelt đóng cửa lại. Căn phòng trở nên náo nhiệt hơn. Bobby Blue hát những bài ca theo yêu cầu.

"Anh có nghĩ đến việc giảm tốc không?" Lamar hỏi.

"Không, không hẳn. Sao tôi lại phải giảm tốc chứ?"

"Coi nào, Mitch, tôi là bạn của anh mà, đúng không? Tôi lo cho anh đấy. Anh không thể kiếm được một triệu đô trong năm đầu tiên đâu."

Có đấy, anh nghĩ. Tôi vừa kiếm được một triệu đô hồi tuần rồi. Trong mười giây, cái tài khoản be bé ở Freeport đã nhảy vọt từ mười ngàn lên thành một triệu mười ngàn. Và mười lăm phút sau, tài khoản ấy đã bị đóng và tiền đã nằm an toàn trong một ngân hàng ở Thụy Sĩ. Ôi, phép lạ của chuyển khoản điện tử. Và do cái triệu đô đó, đây sẽ là bữa tiệc 15 tháng Tư đầu tiên và duy nhất của anh trong cái sự nghiệp luật sư ngắn ngủi nhưng đáng nể. Và cái anh bạn tốt đang hết sức quan tâm đến cuộc hôn nhân của anh nhiều khả năng sẽ đi tù từ lâu trước đó cùng với tất cả những người khác trong căn phòng này, ngoại trừ Roosevelt. Quỷ tha ma bắt, Tarrance có thể sẽ hứng chí đến mức khởi tố luôn cả Roosevelt lẫn Jessie Frances ấy chứ... chỉ để cho vui thôi.

Rồi sẽ đến phiên tòa. "Tôi, Mitchell Y. McDeere, xin long trọng thề sẽ nói sự thật, toàn bộ là sự thật và chỉ sự thật. Do đó xin Chúa hạy cứu vớt con." Và anh sẽ ngồi lên chiếc ghế nhân chứng, trỏ ngón tay vào anh bạn thân Lamar Quin. Kay và lũ nhỏ sẽ ngồi ở hàng ghế đầu, khóc rấm rức và tuyên bố kháng cáo. Anh uống hết chai bia thứ hai và bắt đầu chai thứ ba.

"Tôi biết, Lamar, nhưng tôi không có kế hoạch giảm tốc. Abby sẽ phải tự điều chỉnh. Mọi thứ rồi sẽ ổn."

"Anh đã nói vậy thì thôi. Kay muốn mời anh đến chén một lát thịt

bò rõ to vào ngày mai. Chúng ta sẽ nướng nó trên vỉ và ăn ngoài sân. Anh nghĩ sao?"

"Vâng, nhưng với một điều kiện. Không được bàn luận gì về Abby. Cô ấy về nhà thăm mẹ, và cô ấy sẽ quay lại, được chứ?"

"Tốt thôi. Dĩ nhiên."

Avery ngồi ở phía bên kia bàn với một đĩa tôm. Ông bắt đầu lột vỏ. "Chúng tôi vừa mới nói chuyện về Capps," Lamar nói.

"Đó không phải là một chủ đề thú vị," Avery đáp.

Mitch chăm chú nhìn mấy con tôm cho đến khi một đám vỏ nhỏ được tích tụ từ sáu con tôm mới lột. Anh với tay qua bàn, tóm lấy chúng rồi tọng cả vào miệng. Avery nhìn anh bằng đôi mắt mệt mỏi và rầu rĩ. Một đôi mắt đỏ. Ông định có một phản ứng nào đó thích đáng, nhưng rồi lại thôi và bắt đầu ăn những con tôm chưa bóc. "Tôi thích tôm còn nguyên đầu," ông nói giữa những nhát cắn. "Còn đầu thì ngon hơn nhiều."

Mitch với tay qua bàn, vét hai nắm đầy rồi bắt đầu nhai rào rạo. "Tôi thì thích phần đuôi. Luôn luôn là người ăn đuôi."

Lamar ngừng ăn, trố mắt nhìn họ. "Chắc các anh đang đùa."

"Không đâu." Avery nói. "Hồi tôi là một thằng nhóc ở Et Paso, chúng tôi thường mang lưới ra ngoài và vớt được cả đống tôm tươi. Chúng tôi ăn chúng tại chỗ, khi chúng còn ngoe nguẩy. Nhoam, nhoam. Đầu là phần ngon nhất vì nó chứa toàn bộ nước cốt não."

"Tôm Ở El Paso?"

"Đúng vậy, ở Rio Grande tôm thì đầy."

Lamar đi lấy thêm một cữ bia nữa. Sự kiệt quệ, nước mắt, căng thẳng và sự buồn ngủ hòa trộn nhanh với cồn và căn phòng trở nên náo nhiệt hơn. Bobby Blue đang chơi một bản của Steppenwolf. Ngay đến cả Nathan Locke cũng cười cợt và to tiếng. Chỉ là một trong số họ. Roosevelt bổ sung bốn két nữa vào chiếc thùng phi đá.

Lúc mười giờ, phần ca hát bắt đầu. Không đeo nơ, Wally Hudson đứng lên chiếc ghế cạnh dương cầm, dẫn dắt dàn hợp xướng những tiếng tru vào sự pha trộn ồn ào các bản nhạc chè chén của nước Úc. Nhà hàng đã đóng cửa nên ai mà quan tâm cơ chứ. Kendall Mahan là người kế tiếp. Anh ta từng chơi bóng bầu dục tại Cornell và đang có một tiết mục tuyệt vời với những bài hát bia bọt đầy phóng đãng. Năm mươi giọng ca say xỉn và không năng khiếu đang hân hoan hòa nhịp cùng anh ta.

Mitch xin cáo lui và đi vào phòng vệ sinh. Một người hầu bàn mở cửa sau và anh bước ra bãi đậu. Từ xa, tiếng hát nghe thật dễ chịu. Anh dợm bước đến chiếc xe của anh, nhưng thay vì bước đến cửa sổ xe, anh đứng lại trong bóng tối gần một góc của tòa nhà, quan sát và lắng nghe. Kendall lúc này đang chơi dương cầm, đưa dàn hợp xướng vào một điệp khúc dung tục.

Những giọng hát vui vẻ của những con người sung túc và hạnh phúc. Anh đã quan sát từng người họ quanh bàn. Khuôn mặt họ đỏ lự. Mắt họ sáng rỡ. Họ là những người bạn của anh – những người đàn ông của gia đình cùng với vợ và con cái. Tất cả đều tham gia vào cái âm mưu khủng khiếp đó.

Năm ngoái, Joe Hodge và Marty Kozinski đã hát cùng họ. Năm ngoái, anh là một ngôi sao đến từ Harvard với những thư chào việc nhét đầy các túi. Nay anh là một triệu phú, và cái đầu của anh sẽ sớm được ra giá.

Thật thú vị, một năm có thể làm thay đổi biết bao điều.

Cứ ca hát tiếp đi, hỡi những người anh em.

Mitch quay lại và đi tiếp.

Khoảng giữa đêm, những chiếc taxi nối đuôi nhau trên đường Madison, và những luật sư giàu có nhất thành phố được khuân, được kéo vào những băng ghế sau. Dĩ nhiên, Oliver Lambert là người tỉnh táo nhất trong đám, và ông cũng chính là người điều hành cuộc sơ tán.

Cả thảy là mười lăm chiếc taxi, chở theo những luật sư bét nhè nằm lăn lóc khắp nơi.

Cùng lúc đó, ở phía bên kia thành phố, trên đường Front, hai chiếc xe tải Ford nho nhỏ trờ tới trước cổng. Chúng trông na ná như nhau, màu xanh dương và vàng, với logo DUSTBUSTER sáng rỡ ở hai bên hông. Dutch Hendrix ra mở cổng rồi vẫy chúng đi qua. Chúng de lại ở cửa sau và tám người phụ nữ mặc đồng phục bắt đầu dỡ xuống các máy hút bụi và những chiếc xô chứa đầy những bình xịt. Họ đưa xuống những cây chổi, giẻ lau, cuộn giấy vệ sinh. Họ thì thầm trò chuyện khi băng qua tòa nhà. Nhận chỉ đạo từ bên trên, các nhân viên lau rửa từng tầng một, bắt đầu từ tầng bốn. Các bảo vệ đi qua đi lại trên các tầng, canh gác họ ráo riết.

Các bà các cô không đếm xỉa gì đến họ, thì thào với nhau về công việc của mình: đổ các thùng rác, lau chùi bàn ghế, hút bụi và kỳ cọ các phòng tắm. Cô gái mới đến làm lề mề hơn những người khác. Cô mải chú ý đến nhiều thứ. Cô kéo các ngăn bàn và ngăn tủ hồ sơ khi các bảo vệ không dòm ngó. Cô tập trung chú ý. Đó là đêm thứ ba cô làm công việc này, và cô đang tìm hiểu các ngõ ngách ở xung quanh. Trong đêm đầu tiên, cô đã phát hiện văn phòng của Tolar ở tầng bốn, và cô đã mỉm cười một mình.

Cô mặc một chiếc quần Jeans bẩn, xỏ đôi giày tennis sờn mòn. Chiếc áo xanh của nhân viên vệ sinh là cực rộng, để che giấu thân hình và cũng để cô trông phốp pháp giống như các nhân viên khác. Tấm thẻ gắn trên túi áo ghi tên cô là Doris. Doris, nhân viên vệ sinh.

Khi đội vệ sinh hoàn thành được phân nửa tầng hai, một gã bảo vệ gọi Doris và hai người khác, Susie và Charlotte, đi theo hắn. Hắn nhét khóa vào bảng điều khiển thang máy và nó dừng lại ở tầng hầm. Hắn mở khóa một cánh cửa sắt nặng và họ bước vào một căn phòng rộng chia thành một chục khoang. Từng bàn làm việc nhỏ đều bừa bộn và lừng lững một chiếc máy tính lớn. Khắp nơi là các thiết bị đầu cuối. Các tủ hồ sơ màu đen xếp thành dãy dọc theo các bờ tường. Không có cửa sổ.

"Dụng cụ ở trong đó," gã bảo vệ nói, trỏ vào căn phòng kho chứa đồ vệ sinh. Họ lấy ra chiếc máy hút bụi và các bình xịt rồi bắt đầu làm việc.

"Đừng động đến các bàn làm việc," hắn nói. 

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co