Truyen3h.Co

Khúc Ca Thành Sếu

Khúc thứ Nhất

higashiuramasakiddo

Đắc Ngài chậm rãi đi về phía đền Bà Âu. Râu cây đa rủ xuống như một người đàn bà ủ dột, cuộn tròn từng viên gạch cũ kỹ. Ánh sáng mập mờ từ cây đuốc in hằn dáng người thô ráp của anh ta lên mặt đất sần sùi. Anh lôi ra một cuộn thẻ tre, buộc lạt gọn gàng rồi đặt xuống trước cửa đền.

Chưa cả kịp quay gót, cửa đền bật mở toang ra như có ai ở trong cầm dây giật mạnh. Đắc Ngài giật mình ngoảnh đầu lại, nhìn thấy một lão nhân cao lớn đang chậm rãi cầm kéo tỉa từng nhành hoa cúc vàng. Lão cắt một khúc thân, đưa lên ướm vào bình gốm thấy vừa ý, liền cắm ngay ngắn đặt lên bàn thờ.

"Xin bố-cái đừng vội đi như thế," lão già lên tiếng.

Rút ba nén hương từ trong giỏ, lão hơ nhẹ lên cây đèn cầy đốt rồi cắm vào bát hương. Ngọn đèn dầu bập bùng đổ vàng mờ ảo lên lớp sơn son.

Cây leo gỗ bám lấy cột đền mà tua tủa. Nào là hồng, là cúc, nào là hướng dương, vạn thọ. Có đôi con chim Khuê Liễu bay cao, mỏ ngậm cây leo trải ra cho bằng với khung trần điện. Trên cùng lại có hai con rồng, miệng há ra ngậm chặt lấy ngọc quý, uốn lượn giữa mây trời bồng bềnh, ghi tạc ba chữ "Sở Âu Nhìn".

Vài bông tuyết trắng tinh rơi xuống giếng trời, nhẹ nhàng đáp xuống dưới sân đền như cánh hoa rơi. Trầm hương đốt nghi ngút tỏa khói bay khắp đền thờ hệt chốn bồng lai tiên cảnh.

Tượng mẹ Âu Kỷ trên ngai, dáng vẻ nguy nga, khoan thai, nghiêm khắc. Mắt mẹ nhìn thấu chúng sinh, tay mẹ ôm trọn lấy loài người. Mẹ cười hiền từ, da mẹ trắng, đôi môi mẹ hồng. Mẹ mặc phục xanh lục, đội mũ miện vàng, kiềng bạc, hoa tai ngọc ngà long la long lanh. Thật uy nghi, trang trọng làm sao. Đúng là bậc Ngài Côn Đại Thổ. Ngài Côn nghĩa là con người. Đại Thổ nghĩa là dạy dỗ. Ghép lại thì hiểu là dạy dỗ muôn dân, tức là bậc làm gương làm mẫu cho mọi người noi theo.

"Giờ này mà lão còn thức à?" Đắc Ngài nhặt cuộn thẻ tre dưới thềm rồi nhẹ nhàng đóng cửa. Anh chậm rãi bước vào điện thờ.

Lão già ngửa tay trỏ Đắc Ngài lên chốc cái phản ngồi, "Bố-cái cứ tự nhiên ngồi xơi nước đã!"

Lão múc một muỗng mật ong rừng hòa với nước gừng còn nóng hổi. Hương mật ong ngọt ngào nơi sống mũi, làm trùng mí mắt người đàn ông mệt mỏi cả ngày dài. Chỉ cần nhìn thứ màu hổ phách trong trẻo ấy thôi, làm gì có ai mà không tưởng tượng ra vị ngọt nơi đầu lưỡi quện với hậu cay dịu, nhẹ nhàng mà ấm áp cơ chứ.

"Tôi không có ý định ở đây lâu đâu." Đắc Ngài đặt cuộn thẻ tre trước Nhậm Lây. "Thôi thì để tôi trực tiếp nói với lão vậy."

Nhậm Lây xởi lởi, tiếp nước cho người đàn ông.

"Mời bố-cái," Lão nâng bát lấy một hớp nhỏ.

Đắc Ngài không kìm được mùi hương quyến rũ đang rù quến mọi giác quan trong cơ thể mệt nhoài. Anh xếp gọn áo khoác lông ngỗng đen tuyền ở bên, "Trà ngon."

"Bố-cái tới đền ta trong đêm khuya thế này, phải chăng có chuyện gấp?"

Đắc Ngài gật đầu, "Sứ thần từ Áng Phổ tới cách đây không lâu, dâng lên Chúa Thượng thánh chỉ của Si-Nhai. Nhưng kỳ lạ là, Si-Nhai không cho truyền chỉ trước mặt các Lạc Hầu, Lạc Tướng. Chúa Thượng bèn phải dẫn sứ thần về điện Ngàn Săm, ngồi từ trưa tới tận khi trời sẩm tối."

Nhậm Lây chau mày, suýt thì nói ra điều gì đó, song lại cố gắng sắp xếp từ ngữ chắc là để giữ lịch sự, "Ta cứ tưởng bố-cái đang vội, hóa ra lại muốn ngồi hàn huyên à?"

Đắc Ngài đảo mắt một vòng, đoạn nói, "Tôi không biết sứ thần đã đàm đạo gì với Chúa Thượng, hay cái vấn đề mà Si-Nhai muốn thông báo với nhà Chúa ta là gì. Nhưng sau khi gặp sứ thần, Chúa Thượng nhất quyết muốn đi Hạp Phi."

"Ý bố-cái là thành Hạp Phi trong rừng Các Tiên sao?" Nhậm Lây ngồi thẳng dậy. "Rốt cuộc là chuyện động trời gì mà Chúa Thượng lại muốn đi gặp loài Tiên?"

Đắc Ngài lắc đầu.

Chuyện này thật kỳ lạ, Nhậm Lây nghĩ. Đây không phải là lúc thích hợp để loài Người gặp Tiên. Loài Tiên bấy lâu nay luôn tránh tiếp xúc với loài Người, liệu họ có chịu mở lòng để tiếp đón Ngài hay không? Nhưng có lẽ vẫn còn một cơ hội, Chúa ta có một nửa dòng máu của họ. Thế nhưng chuyện quan trọng hơn cả là Chúa Thượng gặp họ, phải chăng là để nhờ vả điều gì? Đất nước của Chúa vẫn yên ổn từ trong ra đến ngoài. Điều gì khiến Chúa sốt sắng đến thế? Hay Áng Phổ xảy ra chuyện chẳng lành. Nếu phỏng đoán đó của lão là sự thật... Không, lão không muốn nghĩ sâu xa hơn.

Nhậm Lây nhìn khuôn mặt trầm ngâm của Đắc Ngài, đoạn nói.

"Nay bố-cái tới đền ta là ý của nhà Chúa chăng?"

"Dạ phải, nhà Chúa muốn lão cùng đi Hạp Phi. Về lý do thì tôi thực tình không rõ. Chúa Thượng nói rằng để mọi người tập trung ở Kinh Sư rồi sẽ truyền đạt một thể."

Đắc Ngài thở dài, trong lòng vẫn chưa thể hiểu lý do Chúa Thượng cứ úp úp mở mở chuyện thánh chỉ từ Áng Phổ. Người ta hỏi thì chẳng biết trả lời sao, vừa để người ta tin tưởng mà giao phó sinh mệnh cho nhiệm vụ từ trên trời rơi xuống, lại để sao cho người ta không mảy may nghi ngờ quyền uy nhà Chúa.

"Mọi người sao?" Nhậm Lây nhíu mày. "Ngoài ta ra, Chúa Thượng còn lệnh cho ai tháp tùng nữa à?"

"Có lão, tôi, và một người thợ rèn tên là Tông Thao, cũng là người thành Sếu này." Đắc Ngài mở rộng túi để Nhậm Lây nhìn thấy một cuộn thẻ tre khác ở trong.

"À cái anh Tông Thao nhà Sạ Ràng ấy à?"

Đắc Ngài gật đầu, "Chúa Thượng dự sẽ xuất phát sáng hăm ba."

"Gấp vậy sao!" Nhậm Lây đếm đốt tay. " May quá, hăm hai lão đã kịp lễ xong rồi."

"Lễ bà thần lửa Ả Lữ à?"

Nhậm Lây chép miệng, "Chúa Thượng thực sự đã nghĩ kỹ chưa? Bỏ lại triều chính để đi liệu có ổn không?"

"Vương Quân luôn thiết triều cùng Chúa Thượng suốt mười năm qua, tôi nghĩ ta có thể tin tưởng được ngài ấy."

"Bố-cái chưa đi thăm nhà Sạ Ràng nhỉ? Sắp tới tết Rảng Khạ Trá, người nhà họ bận rộn lắm, Chúa Thượng lại muốn mượn người tài nhất nhà họ đi. Nghe chừng khó cho bố-cái đây rồi."

"Đúng là Nhậm Lây hiểu được lòng tôi. Nhưng mà lệnh từ Chúa Thượng, chẳng lẽ nhà họ cứ muốn là khước từ được sao?"

"Bố-cái nói cũng đúng. Nhưng việc để thẻ tre trước cửa trong đêm rồi biến mất ấy mà, như khi bố-cái định làm với tôi, thì e rằng..." Nhậm Lây hớp một ngụm trà.

"Chúa Thượng đã nói rõ rằng tôi không nên làm lớn chuyện." Đắc Ngài thở dài, "Ban ngày ban mặt bước vào nhà họ, chưa kể lại có biết bao người không liên quan ở đó."

"Bố-cái đây còn lạ gì nữa. Nhà Sạ Ràng là một gia tộc lớn ở thành Sếu." Nhậm Lây lắc lư người, "Nguyên một phủ rộng, mấy đời sống chung với nhau, chưa kể kẻ hầu người hạ tới vài trăm người; lời ra tiếng vào chẳng phải là chuyện sớm muộn thôi sao? Thế thì chi bằng cứ hành xử cho phải đạo."

Đắc Ngài chống cằm, gân tay hiện rõ trong ánh lửa bập bùng.

"Theo ý mọn của ta, bố-cái cứ nghỉ ở chỗ ta một đêm. Sáng sớm mai tới nhà họ thưa chuyện cho rõ ràng. Chúa Thượng biểu tránh việc xào xáo là một nhẽ, nhưng ngài lại càng phải giữ lấy thể diện cho Chúa Thượng, đúng chứ?" Nhậm Lây cho thêm củi vào lò sưởi, "Đêm nay tuyết rơi dày lắm."

"Thôi được, tôi nghe lão." Đắc Ngài đứng dậy, bắt tay ra sau lưng nhìn hàng hũ sứ xếp ngay ngắn trên tủ, có lẽ đến cả trăm cái, "Mấy cái hũ này lão đựng gì thế?"

"Linh hồn người chết."

"Lão nói gì cơ?" Đắc Ngài quay phắt đầu ra sau.

"Họ là những linh hồn oan khuất. Linh khí vẩn đục, song ngày ngày được gột rửa bởi kinh văn tụng niệm, thì sớm muộn cũng sẽ cảm hóa mà siêu sinh."

"Nhiều oán linh như thế ở đền, lão chưa bao giờ bị họ quấy rầy sao?"

Đắc Ngài giật lùi lại, không dám đứng gần hàng hũ sứ lạnh lẽo ấy nữa.

"Có rồi chứ," lão liếc nhìn. "Nhưng một khi bước chân vào trong đền này nghĩa là đã ở trong lãnh địa của bà Âu rồi."

"Lắm lúc tôi tò mò không biết lão đã sống bao nhiêu cuộc đời. Ý tôi là, lão đâu sinh ra là một thầy tu, hay một pháp sư đâu."

"Đâu ai sinh ra đã là con người mà họ hiện tại đang là cơ chứ? Mỗi một vùng đất đi qua, con người ta lại lớn lên thêm một chút. Dù là Tiên, hay thậm chí là Rồng, ai ai cũng giống như vậy cả. Nhưng đối với con người, mọi chuyện trở nên gấp gáp hơn. Bố-cái thấy đấy, con người không có dư dả ba ngàn năm để chờ đợi có một cơ hội tốt đâu."

"Trong suy nghĩ của ta, lão đã đi cơ man là miền đất khắp cái Trung Vực này." Đắc Ngài nhâm nhi ly trà gừng, "Nơi lão ưa thích nhất là ở đâu?"

"Nơi ta thích nhất là Bạt Lạc." Nhậm Lây không ngập ngừng.

"Xứ Bạt Lạc của ta ư! Tại sao vậy?" Đắc Ngài đốt ba nén hương.

"Xét địa mạch nước ta, từ dãy Sừng Trời mà đến, như móng vuốt rồng giữ chặt lấy ngọc. Móng giữa chia ra làm núi Ba Gò. Móng đăm chia ra làm Hàm Quỷ. Lại có núi Khả Lùm huyện Ô Diên là móng chiêu vậy." Nhậm Lây pha thêm một muỗng mật ong, lại vừa kể tiếp,

"Năm xưa ông Sùng Lãng bà Âu Kỷ chọn đất này làm nơi dựng nên thành lập ra nước đều có lý do cả. Đất này khởi tổ từ ngọn núi cao tột mây xanh, hình tròn như cái bát úp, nhọn cao xanh đẹp, cho nên mới gọi là Khả Lùm. Núi quanh co bao lượn như thế rồng cuộn tới thành Cổ Lâu, lại về Chu Diên uốn lượn thành dốc Cun, vào đến quận Kẻ Chân rồi đặt đuôi xuống Biển Đông mà thành núi Ba Dội, không biết đâu mà đo lường. Cao sáng ngàn năm, rộng dài bề thế là vậy, cho nên cái khí anh sản đúc lại mới thành thần. Cũng bởi lẽ đó mà ta thích đất này vô ngần."

Đắc Ngài câu được câu chăng, gật đầu cho qua chuyện. Những thứ như là thần khí, rồi là nước gió của pháp sư đối với anh ta chẳng khác gì sấm rền bên tai vịt. Nhưng anh ta hiểu đại ý là...

"Đại ý là, nơi đây thích hợp để ta tu tập." Nhậm Lây như nghe rõ được suy nghĩ của Đắc Ngài, lão vuốt bộ râu bạc trắng rồi cười rung cả người, nghe chừng đã đời lắm.

Một người con gái từ trong buồng đi ra. Mái tóc trắng dài tới gót chân, mượt mà óng ả trong ánh sáng leo lắt của ngọn đèn dầu. Đôi chân nàng bước nhẹ như lướt trên làn gió. Thấy có khách tới chơi đền, nàng tiến tới gần rồi nghiêng đầu hành lễ. Nàng mang ra đôi khăn ấm đặt lên trên phản.

Đó là lần đầu tiên Đắc Ngài thấy Mặt Trời chói rọi trong đêm. Ánh nắng chiếu xuống bờ cát trắng dài, trải dát kim cương lên mặt biển rầm rì. Tiếng gió khe khẽ vuốt ve tâm can, đưa hương muối mặn chan hòa cánh mũi. Đắc Ngài cảm thấy mình vừa chu du ở một vùng đất xa xôi, nhưng thực ra anh mới chỉ vừa nhìn đắm đuối đôi mắt nàng.

"Xinh Siên à con, không ngủ mà lẩn thẩn ra đây làm gì?" Nhậm Lây nhẹ nhàng.

"Dạ thấy có khách, con mang khăn ấm ra cho thầy cùng ông lớn ủ tay lau mặt."

Đắc Ngài vươn mình ra lấy khăn ấm, lỡ chạm vào bàn tay trắng nõn của nàng. Anh giật vội tay mình lại, ngước mắt lên nhìn vừa là đang xem phản ứng đối phương, vừa như gửi một lời xin thứ lỗi đầy thành ý. Nàng chẳng nói chẳng rằng, chỉ mỉm cười nơi khóe môi rồi về lại trong buồng.

Đợi cô nàng vào hẳn bên trong, Đắc Ngài mới nói, "Đôi mắt nàng đẹp quá, cứ như là cổ tiên Nàng Màu trong tích cổ truyện xưa."

"Bố-cái biết cả con bé Xinh Siên đền tôi à? Con bé đích thực là Tiên Nàng Màu đấy. Có khi nó còn lớn tuổi hơn cả bố-cái." Nhậm Lây vừa nói vừa cười mà cứ như đang ho nhẹ, mà có khi là cả hai không chừng.

"Thế còn lão, lão năm nay đã kinh qua bao nhiêu mùa đông rồi?" Đắc Ngài cung kính rót trà cho lão pháp sư.

Nhậm Lây nhìn về xa xăm, có thật nhiều điều chẳng thể nói ra. "Ta chẳng còn nhớ nổi nữa," Lão cười xòa. Lão muốn thi đua ngựa với Đắc Ngài, lại càng muốn cưỡi voi quần thảo với anh ta một trận. Lão dư sức làm được.

Mới hôm kia thôi, lão vừa trở về sau hai tuần trăng ròng rã phi ngựa vào tận Kẻ Chân. Để làm gì ư, lão chỉ nói qua loa rằng lão đi để thực hiện một nhiệm vụ từ bà Âu Kỷ. Còn nhiệm vụ đó là gì thì không ai biết được. Cũng giống như việc lão đi khuất mất hai ba năm trời, sau đó dẫn thêm cô nàng Xinh Siên về đền.

Người ta nghi rằng lão chẳng phải là con Người, cũng chẳng phải Rồng hay Tiên gì sất. Muốn xác thực được chỉ cần kiểm tra xem máu của lão màu gì. Nếu chẳng phải là màu đỏ của Người, màu bạc của Rồng hay màu vàng của Tiên thì lão chắc hẳn đã sống trên cõi trần gian này từ trước khi Rồng Tiên mở mắt rồi. Cơ mà ai lại đi chích máu của một cụ già thủ nhang dễ mến làm gì; còn lão thì lại rất đỗi cẩn trọng, trên người chẳng khi nào có nổi một vết thương. Người ta lại cứ thấy thế mà đồn ác, không có gì giấu giếm hà cớ gì phải kỹ lưỡng đến thế.

Đắc Ngài bởi lẽ đó mà cũng tò mò tọc mạch, đâm ra mới nổi hứng mà hỏi. Nhưng cũng như bao lần, lão Nhậm Lây lại tránh né trả lời.

"Đêm đã khuya rồi. Giờ bố-cái hãy vô buồng nghỉ ngơi một chút," Nhậm Lây thắp thêm một cây đèn dầu khác rồi đưa cho Đắc Ngài. "Buồng của bố-cái ở phía kia, ngài vào đó ủ giường trước đi, con bé Xinh Siên đã lấy cho ngài một bộ chăn lông rồi đây."

"Chu đáo quá."

"Ngài không cần phải khách sáo. Cứ hễ khi nào rảnh, đừng có ngại mà tới thăm đền ta một chuyến nhé."

"Bây giờ thì khó rồi lão pháp sư ạ!" Đắc Ngài cười gượng.

"Phải. Đắc Ngài năm nao, giờ đã thành ông Cam San chỉ huy toàn quân rồi!" Nhậm Lây trải chăn ngăn nắp.

"Thôi bố-cái nghỉ ngơi!"

"Lão cũng nghỉ ngơi!"

Sáng sớm hôm sau, Đắc Ngài lật đật đi ra phía khoảng sân giữa đền phủ trắng tuyết chưa ai kịp dọn. Phía bếp đằng kia, cô nàng Xinh Siên đang ngồi nhóm bếp đun nấu thứ gì đó, tóc tai đã búi cao gọn gàng.

Đắc Ngài tiến tới gần, lại để tay trước miệng kiểm tra hơi thở một lượt, chẳng biết là đang run cầm cập vì rét buốt hay vì ấp úng.

"Chúc nàng buổi sáng tốt lành."

"Ông lớn đã dậy rồi ạ!" Cô nàng quay mình về phía anh chàng, nhoẻn miệng cười tươi. "Để con lấy nước ấm cho ông rửa mặt."

"Nàng cứ gọi ta là Đắc Ngài, và cũng chẳng cần xưng con xưng cháu gì sất." Anh đỡ lấy chậu nước từ tay nàng, chân rón rén bước vào điện tìm chỗ đặt chậu sao cho vẫn nhìn ra được ngoài sân.

Đắc Ngài rửa mặt súc miệng xong, vẫn chưa tỉnh ngủ hẳn. Khoảng sân tuyết trắng thắp sáng trong mắt xanh dương của người. Đắc Ngài bỗng nhớ lại câu chuyện ngày xửa ngày xưa.

Nữ thần Mệ Nạc ưu ái muốn tặng cho Tiên tộc một món quà bèn hạ thế xuống cửa sông Vàn Hy nơi Chúa Tiên đang cư ngụ. Khi vị thần đặt chân trái xuống, những lạch nước tuôn trào, chảy khắp đồng bằng rộng lớn. Và khi vị thần đặt nốt bàn chân phải xuống, không biết từ đâu, những bông lúa bắt đầu trổ bông rồi kết hạt nặng trĩu. Đàn cò trắng bay lượn trên đồng dù có mỏi cánh cũng chẳng lo sà xuống nước. Chúng nương mình đậu lên những ngọn buồm rực rỡ sắc màu, đang tấp nập ngược xuôi trong gió rẽ vào vịnh. Bởi thế mà vùng đất ấy mới mang tên Nàng Màu.

"Ta nghe từ thầy, mới biết nàng đây Xinh Siên hai chữ, Nàng Màu tiên cô."

"Dạ phải, tên em hai chữ Xinh Siên, cả cha lẫn mẹ đều là dòng Tiên Nàng Màu." Cô nàng cười buồn, "Chỉ có đôi mắt giữ làm của riêng, vẫn mong được một lần trở lại quê cha đất tổ."

"Cha mẹ nàng là dòng tiên Nàng Màu, ý nàng là dòng Tiên từng sống trước khi Tiên tộc Đại Di Cư sao?" Đắc Ngài lúc này tỉnh cả ngủ. Anh nhớ rằng Cuộc Đại Di Cư của tộc Tiên đã là chuyện của gần hai ngàn năm về trước. Còn Nàng Màu giờ đây đã trở thành vùng đất hoang không người sinh sống. Nếu không sai, cô gái đứng trước mặt anh có lẽ đã sống trên thế gian này lâu hơn anh cả trăm lần.

Xinh Siên gật đầu e thẹn, "Tám-trăm bảy-mươi-lăm."

Sau khi ăn vài nắm cơm nếp muối vừng cho chắc bụng, Đắc Ngài mới hết ngượng. "Hai chữ Xinh Siên có nghĩa là gì?"

"Xinh Siên là tên tiếng tiên Hỷ Á của em. Trong tiếng Bạt Lạc nghĩa là con Chim Khuyên." Hai bên má cô nàng ửng hồng.

Bấy nhiêu năm nghe lời đồn đồn, bao nhiêu năm nghe lời đồn đến. Nghe tiếng đồn rằng thành Sếu có sông có cá, có núi có hồ, có vườn bông hoa, hạt cườm, có con chim khuyên báo tin vui, con chim khuyên báo điềm lành. Con chim khuyên xanh xanh mắt trắng, con chim khuyên líu lo nhảy cành. Người trai trẻ muốn vào rừng gặp con nhà người trồng lấy cây hoa, bước vào bãi rầm rì đơm hoa bờ giếng, để mà chơi bông hoa để rồi lượm lấy quả. Bông tuyết rơi xuống mái tóc nàng, nở trọn như bông hoa đào con tim, nở lẫn với đóa hoa Tiên im lìm. Trời đông lạnh giá sao lại say nắng, trời sáng sớm sao mà đã nhọc đường.

"Xinh Siên nàng ở đền, có bóng có hình hoa nào ở lẻ chăng?"

"Anh thăm đến cửa đến nhà, lại có lòng thương hỏi đến. Ở chốn nơi đây đều mạnh lành, cành hoa em đây còn nguyên; bóng với hình em vẫn còn lẻ chiếc, chưa người sóng đôi."

Chào mời xong đã đủ, nàng trộm mắt ngắm nhìn chàng. Thấy đẹp xống là chàng đẹp người, thấy đẹp áo là anh đẹp nết. Nàng đâm ra cũng ngả cũng siêu.

Chàng mời nàng tới ăn trầu, mở bọc trầu ra rã rã, mở gói trầu ra rời rời. Anh cầm miếng trầu lại sắp miếng cau; nàng ăn miếng trầu miệng cười mủm mỉm, nhá miếng trầu đỏ chót. Cái đỏ tươi rói là lúc vôi đã tan; cái đỏ hây hây là lúc vôi đã kịp ngấm. Ăn đã đủ đã vừa, đã đỏ môi đỏ miệng, đỏ hết cả góc răng trong ra tận dòng răng hàm, đỏ mặt lại vừa đen tươi, anh mới chợt nhận ra mình có mang theo một món quà, món quà từ khi đi thăm Bắc Đái, Thành Dền, Khúc Dương, Kiếp Bạc.

"Tôi có một chuỗi cườm đỏ, đối với nàng chẳng là thứ của sang. Tôi có một chuỗi cườm vàng, đối với nàng chưa chắc đã là thứ của hiếm. Nhưng cườm vằn đỏ, cườm vằn vàng, một tay tôi kết. Nàng thích chuỗi cườm nào, ta sẽ tặng nàng làm quà."

"Anh về đền em chơi, chuỗi cườm vằn đỏ đã là thứ của sang, chuỗi cườm vằn vàng đã là thứ của hiếm rồi ạ. Vậy em xin nhận lấy chuỗi đỏ, dành cho anh chuỗi vàng đeo tay để mãi nhớ ngày hôm nay."

Trái tim chàng như mở ra mà lấy đàn đồng. Đàn đồng gảy vọng vang vang, đi đường xa văng vẳng, gảy thêm vài khúc là thành tiếng thương tiếng nhớ. Nhớ nhanh nhánh cái răng đen tươi, đẹp con người đẹp liền mọi thứ.

"Gửi lời chào của ta tới thầy của nàng. Ta đã có việc phải đi."

"Chàng đi đâu, sao không dừng chân ghé lại thêm một lát?"

"Đi qua đi thẳng, đi tới đi lùi, đi ra vườn hoa vườn trái, cái vườn trái vườn hoa, đi khỏi cái rừng mùa sen nở lẫn mùa đào!"

Xinh Siên bật cười, đoạn lấy tay che miệng.

"Chàng lên đường bình an!"

Đắc Ngài khoác túi lên vai, tay buộc chặt giày, khoác áo choàng lông ngỗng rồi khép cửa đền lại.

Nước sông Vỵ chảy chậm, mà nếu để ý kỹ thì nhận ra chẳng hề chảy một chút nào. Dòng nước đục ngầu những tháng mùa thu giờ hóa trong vắt, quyến luyến mãi cái Bến Ngự thành Sếu mà chẳng muốn tuôn về Kinh Sư. Mùa đông ở Sếu Trắng rất lạnh, cho nên cái cảnh thuyền bè xếp thành từng hàng ở bến hoàn toàn biến mất. Hàng liễu bên kia bờ sông trơ trọi, vươn ra phía sông như xương bàn tay của một cái xác đã chết khô.

Từ Bến Ngự đi về phía Tây là chợ Rồng. Tuyết đã ngừng rơi nên hôm nay vẫn họp chợ như mọi ngày. Mấy đứa trẻ con thì khoe nhau xem cây nêu nhà ai cao hơn, đẹp hơn. Đàn ông trai tráng thì từ sớm đã thấy quanh quẩn mãi bên bộ cối đá và cái chày gỗ đã dính đầy thứ bột gạo, bột đậu xanh.

Đàn bà thì vất vả hơn, hết thấy lội đò qua bên kia sông hái lá dong, lá chuối, măng non; lại thấy gói bánh chưng, đồ xôi, luộc thịt. Thỉnh thoảng lại có mấy bà đứng chống nạnh trước cửa nhà, gọi ầm ĩ đứa con trốn việc chạy ra đầu đường nô nghịch, về để dọn dẹp nhà cửa, bếp núc, bàn thờ.

"Hôm nay đã hai mươi rồi." Đắc Ngài áp hai tay vào sát miệng để sưởi ấm. "Mấy ngày cuối năm này mới thực sự là Tết."

Từ chợ Rồng đi thẳng ra đường Cái Quan là tới được phủ Sạ Ràng.

Ở cửa phủ, có hai anh lính gác đang đứng chia nhau nắm cơm nếp.

"Tôi có việc muốn gặp bà-cả Sạ Ràng, phiền hai anh báo dùm cho."

Vị khách mới tới trước cửa phủ đi đứng vững chắc, tướng hổ mày rồng, khoác áo choàng lông ngỗng màu đen tuyền, bên hông giắt thanh kiếm chuôi chạm rồng cuộn. Hai anh lính gác thấy vậy mới trở nên nghiêm túc.

"Xin cho hỏi quý danh của ngài?"

"Ta tên Đắc Ngài, họ mẹ Pha Lang."

Hai anh lính gác giật nảy mình, cúi đầu khoanh tay làm lễ, "Kính lạy bố-cái!"

"Mong hai anh giữ yên lặng dùm cho."

Hai anh run rẩy, nhưng khi lấy lại được bình tĩnh thì đưa mắt nhìn nhau rồi gật đầu, "Mời bố-cái vô phủ đợi. Tôi sẽ đi báo cho bà-cả."

"Cảm ơn hai anh."

Đắc Ngài nhanh chóng bị mê hoặc bởi những bức phù điêu dọc hành lang. Bất ngờ, một người đàn ông tới sát đứng cạnh vị khách không mời.

"Ngài có thấy cách chúng nhảy múa dưới ánh sáng không?"

Đắc Ngài liếc nhìn, cười nói, "Tôi đã nghĩ đó là phép thuật cơ đấy."

"Nhà Sạ Ràng là thợ rèn," người đàn ông đưa tay phải ra phía trước, như muốn tiếp vị khách một vòng phủ. "Đối với chúng tôi, kim loại có linh hồn và đó là thứ mà ta uốn nắn được."

"Khi không nhìn thì tĩnh mà động. Khi chủ động nhìn thì động hóa thành tĩnh," Đắc Ngài cảm thán. "Thật là tài!"

"Cảm ơn quý ngài đã khen."

"Chúc ông buổi sáng tốt lành," Đắc Ngài khoanh tay làm lễ. "Tôi là khách mới tới thăm phủ, tên là Đắc Ngài. Xin cho hỏi quý ngài là?"

"Chúc ngài buổi sáng tốt lành," người đàn ông khoanh tay đáp lễ. "Tôi tên Tông Thao, phu-giông nhà Sạ Ràng."

Tông Thao chắc hẳn rất tự hào khi dùng hai chữ "phu-giông", bởi không phải ai cũng có đủ tài đức như thế để được gả vào cái nhà này.

Đắc Ngài nhận ra người đứng trước mặt anh là người Chúa Thượng muốn cử đi Hạp Phi. Anh nghe nói Tông Thao là người thợ rèn tài ba nhất đất nước, ấy thế mà người này không có vẻ gì là tự cao tự đại, mà trái lại còn vô cùng xởi lởi. Nhưng một nhà, có người thế này cũng sẽ có kẻ kia, giống như thể trời đã tròn như cái bát úp rồi thì đất ắt phải dẹt. Đắc Ngài hít một hơi thật sâu chuẩn bị tinh thần. Khó rồi, khó rồi đây, Đắc Ngài chột dạ. bà-cả Sạ Ràng rốt cuộc là người thế nào.

Ở giữa sân, một gốc cây sần sùi to như đá tảng, đè xuống nền đất, nặng tới nỗi Đắc Ngài cảm tưởng như thân cây đang chảy xuống, lan ra khắp nơi.

"Cây giữa sân là giống gì vậy anh Tông Thao?"

"Thưa ngài, là cây hoa đào."

"Hoa đào à," Đắc Ngài xuýt xoa. "Hoa mà nở thì đẹp lắm đây."

"Năm nay đông lạnh thế này, chẳng biết có kịp nở không!" Tông Thao cười.

"Năm nào hăm mươi hăm mốt tuyết cũng rơi ngập trời thế này, ra Tết trời nắng hoa rồi sẽ nở thôi," Đắc Ngài xoa hai bàn tay. "Nhưng tôi phải nói thật, thành Sếu lạnh thật đấy."

"Hơi lạnh từ Sừng Trời phả xuống là tới ngay thành Sếu, Kinh Sư lại có núi Khả Lùm che chắn cho nên mùa đông thành chúng tôi khi nào cũng lạnh hơn một chút."

"Không phải một chút đâu," Đắc Ngài cười lớn. "Người Kinh Sư ở đây lâu ngày chắc chẳng chịu nổi được. Anh nhìn tôi xem, co ro hết cả vào rồi đây này!"

Tông Thao ngại ngùng, ối lên một tiếng rõ to rồi gọi kẻ hầu mang lên một ly trà nóng dâng lên cho vị khách. "Tôi nghe nói anh muốn tới gặp bà-cả nhà tôi."

"Tôi có việc hệ trọng từ Kinh Sư muốn thông báo."

Tông Thao đứng khựng lại một chút, chợt nhận ra cái tên của vị khách có phần quen thuộc. "Bố-cái tên Đắc Ngài, phải chăng họ mẹ Pha Lang?"

"Anh đã nhận ra tôi mất rồi."

"Ôi ông Cam San!"

Tông Thao vừa định quỳ xuống thì Đắc Ngài đỡ lấy. "Xin ông bỏ bớt lễ nghi, tôi tới đây để truyền mệnh Chúa Thượng, không hề muốn gây ồn ã."

"Nào, tôi sẽ dẫn bố-cái tới gặp bà-cả nhà tôi."

Gió đông lùa qua những hành lang đồng thau, mang theo mùi trầm cháy dở. Trên các bậc thềm cao, bóng bà-cả thấp thoáng. Ánh nắng lấp ló chiếu qua giếng trời làm sáng bừng bộ phục màu xanh biếc, và bao la là trang sức lấp lánh nơi cổ tay và trán. Ấy thế mà Đắc Ngài chẳng hề nhìn rõ được mặt người đang ngự trên ngai.

"Kính mời ông Cam San tới Phủ Sạ Ràng chúng tôi!"

Giọng người đàn bà vang vọng khắp điện đá lớn. Vị chủ nhân bước xuống khỏi điện, khoanh tay làm lễ. Trang sức không là hồng ngọc, lam ngọc thì cũng là vàng ròng.

Đắc Ngài khoanh tay cúi đầu làm lễ, "Kính chào bà-cả Sạ Ràng."

"Bố-cái miễn lễ nghi!"

Nói xong, bà lệnh cho người hầu mang hai ghế trụ ra. Một cái cho khách, một cái cho chồng, "Ta nghe nói bố-cái mang tới phủ ta lệnh từ Chúa Thượng."

"Thưa bà-cả, đúng là vậy. Chuyện là..." Đắc Ngài ngó nghía xung quanh.

Bà Sạ Ràng thấy vậy, bèn lệnh cho kẻ hầu người hạ rời điện.

"Bố-cái cứ tự nhiên."

"Tháng trước, Chúa Thượng có tiếp một sứ thần của Si-Nhai. Chuyện của Chúa Thượng với vị sứ thần đó ta không rõ chi tiết, nhưng đột nhiên Chúa Thượng muốn khởi hành đi Hạp Phi, có lẽ một vấn đề vô cùng nghiêm trọng đã xảy ra."

"Chuyện của Chúa Thượng thì liên quan gì tới phủ ta?"

Bà Sạ Ràng quay lại ngai, một chân xếp bằng, chân kia buông lỏng. Người bà nghiêng về bên phải, tay trái vuốt ve con công xanh yểu điệu chẳng biết từ đâu bước ra.

"Không những thế, phủ ta vốn phải lo chuyện ở thành Sếu này. Ông Cam San có thể thấy đấy, đương là mùa lễ lạt, có đôi chút bận rộn."

Khi này Đắc Ngài mới thấm thía lời của Nhậm Lây. Quả thực nếu cứ để cuộn thẻ tre ở đó rồi về Kinh Sư thì Chúa Thượng sẽ chẳng bao giờ để cho cái đầu của anh nằm nguyên vẹn trên cổ.

"Bà để ông Cam San nói hết đã."

"Chúa Thượng không biểu rõ lý do, mà chỉ nói rằng chuyến đi Hạp Phi lần này muốn được đồng hành cùng ông Tông Thao nhà Sạ Ràng," Đắc Ngài lấy từ trong túi cuộn thẻ tre dâng lên cho bà-cả. "Còn chi tiết xin bà-cả đọc thư từ Chúa Thượng."

Bà-cả thở dài, hếch lông mày, không có ý định mở thư ra đọc.

"Giáp trụ quân lính Bạt Lạc đều do nhà Sạ Ràng ta rèn đúc, Chúa Thượng muốn mang người tài giỏi nhất phủ ta đi, chắc hẳn cũng đã suy trước tính sau rồi?"

"Tiếng tăm của phủ Sạ Ràng lan khắp Bạt Lạc, không ai là không biết. Thế mà sáng sớm nay tôi mới được chứng kiến sự bề thế ấy, quả thực mở mang tầm mắt. Được tới như ngày hôm nay, phần nhiều là do tài nghệ của dòng họ, nhưng cũng nhờ sự tín nhiệm của nhà Chúa Thượng."

Đắc Ngài lại nói tiếp, "Năm xưa Chúa Thượng thống nhất giang sơn Bạt Lạc, dời đô về Cổ Lâu. Chúa trọng người tài, giữ lại các kỹ nghệ của cố đô Sếu Trắng không cho mai một đi. Phải lỡ năm ấy thiên hạ có rơi vào tay một hôn quân bạo chúa nào đó, thử hỏi họ có thoát nổi nạn binh đao, đầu rơi máu chảy hay không?"

Bà-cả gật đầu mỉm cười, khi này mới mở cuộn thẻ tre ra. Bà ta đọc một lúc, lại nhíu mày. Đắc Ngài cảm giác nếu như không phải giữ lấy uy nghiêm của bản thân, có thể bà ta đã nhảy ra khỏi cái ngai của mình. Chúa Thượng đã viết gì vào trong thư? Có điều gì mà anh không biết chăng? Thế còn bức thư gửi cho Nhậm Lây thì sao?

Khi đã lấy lại được bình tĩnh, bà-cả nhẹ nhàng nói, "Chúa Thượng cần phu-giông ta bao nhiêu lâu?"

"Thưa bà, xuất phát ngày hăm ba, tối thiểu là bốn con trăng sẽ về lại Kinh Sư."

"Lần này đi Hạp Phi, nghĩa là trong nước không vua, trong quân không tướng. Ta nhiều phần lo lắng. Vậy lại phải phiền ông Cam San báo lại với Chúa Thượng, ta sẵn sàng góp sức nếu nhà Chúa cần."

Đắc Ngài quỳ xuống trước ngai bà-cả, quỳ xuống xếp hai tay bằng trên đỉnh đầu.

"Thay mặt nhà Chúa, xin cảm ơn nhân từ nhà Sạ Ràng."


"Thưa Chúa Thượng, con mới từ thành Sếu trở về." Đắc Ngài khoanh tay làm lễ.

Chúa Thượng khoác áo nhung hươu, mái tóc đen dài buông xuống tận mắt cá chân như một dòng sông bất tận. Bà khoan thai ngồi xuống bên bệ cửa của cung điện sáu tầng nguy nga. Màn sương mùa đông cuộn tròn trôi xuống khỏi núi Khả Lùm như thác đổ, để lộ ra ngôi sao Khạ Trá sáng rực ở phía Tây xa xăm. Khi này mái tóc đen của bà Chúa sáng bừng lên, như thể cả dải Ngân Hà vừa chảy qua trần gian thế tục.

"Đêm mai, Bà Ả-Lữ sẽ bắt đầu hành trình bảy ngày đi thắp sáng sao Khạ Trá," Chúa Thượng đứng dậy, đỡ lấy tay Đắc Ngài. "Suôn sẻ cả chứ, ngài Cam San?"

"Dạ thưa, Nhậm Lây đền bà Âu thì không thành vấn đề. Nhưng con đã gặp một chút khó khăn ở phủ Sạ Ràng. Họ quả thực rất cứng rắn. Nếu không nhờ thư tre của Chúa Thượng, thì con chẳng tài nào thuyết phục được họ. Không biết Chúa Thượng đã ghi gì trong tấm thẻ tre ấy ạ?"

"Có thể là giống với những gì ngươi đã nói với nàng ta chăng," Chúa Thượng bật cười khẽ nhưng ánh mắt lạnh giá như dòng sông băng. Đắc Ngài để ý dường như bà Chúa đã không chớp mắt một lúc lâu.

Đắc Ngài như nuốt cục đá trong họng, chẳng thể thốt lên. Vẻ mặt của bà-cả nhà Sạ Ràng khi mở tấm thư tre ấy, anh không tài nào quên được. Chẳng lẽ kẻ hầu thân cận nhất như Đắc Ngài đây lại là người được biết sự thật sau cùng sao?

"Thưa Chúa Thượng, xin người hãy nói cho con biết, rốt cuộc lần này ta lên đường vì mục đích gì?" Đắc Ngài không dám đối diện bà Chúa. "Đất nước ta, thù trong giặc ngoài đều đã được dẹp yên cho nên không thể là vì chiến tranh! Vậy rốt cuộc nguyên do gì khiến Người muốn gặp mặt Chúa Tiên thành Hạp Phi?"

"Loài Rồng tôn sùng sức mạnh. Họ tin rằng kẻ mạnh cần phải đứng trước hiểm họa, coi chiến trận như lửa thử vàng, như thử thách để chứng minh cốt cách bản thân. Từ thuở ban mai, họ đã quy phục biết bao dòng họ, sớm đã trở thành bá chủ Trung Vực. Còn với loài Tiên, mọi vật đều là sinh linh. Họ xem việc giữ gìn sự tuôn chảy của muôn dòng linh hồn là bổn phận của mình. Áng Phổ cứng rắn, Nàng Màu uyển chuyển. Cái thế cục cân bằng ấy tưởng chừng sẽ chẳng bao giờ bị lung lay."

"Cho tới khi hắn tới, vị thần Mệ Nạc rời bỏ loài Tiên khiến họ phải lẩn trốn vào trong rừng sâu hiểm độc. Khi này loài Rồng đứng lên chống lại hắn. Họ hứa sẽ giữ gìn Trung Vực bằng sức mạnh, bằng chiến trận, bằng thanh rìu vĩ đại. Nhưng rồi kẻ đứng ra bảo vệ muôn loài, dần cũng đứng trên muôn loài. Vua Rồng tự xưng là Si-Nhai, nghĩa là Tổ Phụ; còn vua của Người và Tiên thì trở thành các Lưu Chúa. Này Đắc Ngài, có biết chữ Rìu trong tiếng của loài Rồng là gì không?"

"Dạ thưa, đọc là lưu ạ."

"Phải," bà Chúa gật đầu. "Đối với loài Rồng thì loài Người và loài Tiên là thuộc hạ, là chư hầu. Dùng rìu để bảo vệ, dùng rìu để giám sát, cho nên mới gọi là Lưu Chúa."

"Xin Chúa Thượng thứ lỗi, con vẫn chưa hiểu điều Người muốn nói."

"Si-Nhai muốn tập hợp các Lưu Chúa ở Hạp Phi," Bà Chúa đanh mắt, bàn tay thanh mảnh trắng ngần vuốt nhẹ gương mặt thô ráp. "Một mối nguy đã xuất hiện, Cam San của ta. Si-Nhai phải ra tay bảo vệ Trung Vực và các Lưu Chúa như ngài đã hứa."

Chúa Thượng ủ rũ, mái tóc dài không còn ánh lên thứ hào quang trong trẻo nữa. "Mối nguy đó không đơn thuần chỉ là binh biến, nó liên quan đến của cải của các vị thần, thứ của cải mà loài Tiên luôn coi là những sinh linh đáng giá."

Đêm đó, bà Chúa rời điện Ngàn Săm. Đám người hầu theo chân bà tới Điện Bà Lôi nơi vị phu-giông của bà đang thắp đèn cặm cụi làm thứ gì đó.

"Chàng chưa ngủ sao?"

"Ngày mốt Bà Chúa đi sứ để lại ngai vua trống trải hơn bốn tuần trăng. Sở dĩ là người lên nhiếp chính làm sao mà không hồi hộp cho được, nên vi thần đây phải ngồi đọc qua đống tấu chương này. Ngày mai lên triều, không được để mấy tên Lạc Tướng Lạc Hầu đó bắt thóp." Đức Phu-Giông cười chua chát.

"Bấy lâu nay khi em duyệt tấu chương, cũng đều có chàng ngồi cạnh cùng làm. Mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa thôi."

"Sắc mặt nàng không tốt, chắc là lạnh quá đấy," Đức Phu-Giông đứng dậy lấy một chiếc bát đất nung, cẩn thận đem đi tráng cho sạch rồi nói người hầu hứng cho nửa bát nước.

"Chàng đun trà à?"

Đức Phu-Giông lấy từ trong hộp ra thứ trà đặc biệt. Màu lông tuyết trắng phủ mịn trên từng cánh trà, như làn tuyết mỏng phủ trên từng ngọn đồi núi non trùng điệp.

"Trà tuyết Sái đấy."

Đức Phu-Giông cho thêm củi vào lò, để lửa cháy già, lửa reo tí tách bên bếp đất, nước dần sôi lên, rồi sôi mạnh. Nước sôi rồi, ông tráng qua cái chum sứ Bắc Đái trắng ngần. Ông đong một nửa đốt tre, thong thả đổ trà khô vào trong chum, từ tốn rót nước nóng lên trên. Lá trà gặp nước nóng bắt đầu tỉnh dậy, tỏa hương dìu dịu khắp một khúc sông nguyên thủy, hòa quyện vào tiếng chim muông, gió rừng.

Chớ có uống luôn. Nước đầu tiên phải gạn bỏ đi, gột cho sạch bụi bẩn trên lá trà. Phải đợi lần rót thứ hai, cho trà mở lòng, thả ra tinh chất như một cô em miền núi giờ chẳng còn e ấp giữ lại bên trong mình ngâm khúc thượng ngàn nữa mà ngả màu hổ phách, lúc ấy mới được rót ra chén, mời nhau thưởng thức.

Bà Chúa nhấp một ngụm trà,

"Bông giá, trà hương che trắng đồi,

Chum ấm, nước chảy, đây ta ngồi,"

Đức Phu-Giông đặt chén nước xuống chiếu,

"Sao tỏ, trăng treo trông xơ xác,

Gió lạnh, đêm xưa, tạc muôn đời."

Mặt Trăng lặn xuống ở đằng Tây, các ngôi sao cũng dần thiếp ngủ. Mặt Trời chỉ còn vài giờ nữa sẽ lại nhô lên từ phía Rảng Mai. Bà Chúa ôm chặt lấy vị Phu-Giông của mình, chẳng muốn buông.

Khi ấy cũng là lúc lão Nhậm Lây vừa đi có việc về. Lòng lão như một con sông uốn lượn đang tuôn chảy lại bị chặn lại bởi đất đá. Nhưng cái đống đất đá đó ở đâu rơi xuống thì lại mịt mùng tăm tối. Lão khó chịu lắm. Vừa về tới, lão qua loa hỏi thăm Xinh Siên dăm ba câu, rồi tới trước bàn thờ, thay rượu đốt nhang.

Lão lẩm nhẩm vài câu thần chú bằng tiếng Hỷ Á, đoạn lại gieo hai viên xương bò khắc hình sao Mai – Mạ Linh và sao Hôm – Vạ Lang xuống đĩa gốm.

Mạ Linh, Vạ Lang đẹp sao

Ngày mây rờn múa, trăng cao lững lờ

Áo khăn vải lụa thướt tha

Chim khen, hoa thán véo von muôn ngàn.

Lão nhìn một lúc rồi nói. "Bách Thần Cư Thị, là thành Hạp Phi. Trăm Vua Hội Bàn, là các Lưu Chúa."

"Chẳng hay thầy đã tỏ được ý của Si-Nhai rồi ạ?"

Lão lắc đầu, "Chưa con ạ. Ta chưa nhìn được rõ ràng. Nhưng ta thấy không chỉ có Chúa Thượng ta đâu, mà dường như ở Hạp Phi lần này các Lưu Chúa khác cũng sẽ có mặt. Một cuộc hội ngộ không hẹn trước. Nhưng mà..."

Nhậm Lây như vừa mới chợt nhớ ra một điều gì, chạy tuốt vào trong phòng tối hôm qua Đắc Ngài vừa tá túc. Đây rồi, cái cuộn thẻ tre mà Đắc Ngài dặn rằng lão phải đọc. Đây là thứ mà Đắc Ngài viết, hay là thứ mà Chúa Thượng viết?

Lão bỗng ngửi thấy hương hoa lan. Tại sao lão không nhận ra sớm hơn cơ chứ. Đây rõ ràng là thư Chúa Thượng muốn lão đọc. Lão vội vàng mở thư, một dòng chữ tiếng Hỷ Á được viết ngay ngắn gọn gàng.

Ampar ampar Angafan nyar Shêra martár

"Có chuyện gì vậy thầy?"

Nhậm Lây xoa đầu Xinh Siên, xong lúng túng cuộn bức thư thẻ tre lại. Lão lấy lại được bình tĩnh, nắm chặt cây gậy hướng về phía thư phòng.

Ampar ampar Angafan nyar Shêra martár

Sắp rồi, sắp rồi. Khi-Ri ở Áng Phổ. Sắp chết.

Hôm sau, mọi người ai nấy đều diện trên mình những bộ phục đẹp nhất. Đàn ông cuốn áo vải màu ngà làm bằng sợi vỏ cây, đầu búi tóc gọn gàng, trông thật hân hoan tươi sáng. Đàn bà diện váy nào màu nâu gụ, màu xanh chàm, màu vàng nghệ sặc sỡ, lại đeo cả khuyên tai, và đi những đôi guốc được trang trí tỉ mỉ. Mọi người rủ nhau đi đền Bà Âu xem hội đâm trâu.

Người ta xếp thuyền ở Bến Ngự thành một hàng gọn gàng. Thuyền nào cũng treo một cây đèn lồng, nào là hình con sếu Khuê Liễu, nào là hình con rùa Hà Rạ. Trước cửa nhà nào cũng cắm một cây nêu cao vút; nhà thì lấy tre, nhà thì dùng lồ ô, bương. Trên ngọn cây treo một vòng tròn nhỏ treo nào thì cá chép giấy, nào thì giỏ trầu cau, nào thì bầu rượu bện bằng rơm.

Tối đến, một cây nêu cao mười lăm tấc được dựng trước sân đền Bà Âu. Mọi người trong thành Sếu đều tập trung ở nơi ấy, đốt lửa thắp đuốc sáng bừng một góc phố.

Mọi người im lặng, hướng mắt nhìn vào nơi có trống đồng. Lão Nhậm Lây bước lên bục, tay cầm cây trượng chạm trổ cầu kỳ.

Lão Nhậm Lây phát biểu.

"Hỡi con cháu của Khi-Ri, hỡi thần dân của bà Tiên Âu Kỷ ông Rồng Sùng Lãng vĩ đại. Hai vụ mùa bội thu nhờ ơn Trời Đất, ơn Nước Lửa đã nuôi dưỡng. Đêm nay là đêm hăm hai, vị nữ thần Ả Lữ lại bắt đầu hành trình bảy ngày thắp sáng ngôi sao Khạ Trá. Đêm nay chúng ta cùng ở nơi đây, cầu cho ngọn lửa Ả Lữ mãi thắp sáng đêm tối sâu thẳm, cầu cho sự phồn vinh của Bạt Lạc, của loài Người!"

Tiếng trống đồng vang lên rộn ràng cùng bập bùng lửa đốt. Đàn ông thổi khèn còn đàn bà nhảy múa. Một khoảng trời đêm sáng bừng lên ấm áp. Rìu đồng nhấp nhô theo điệu nhạc, khiên và cày xoay tròn uyển chuyển như gió xuân nhẹ nhàng, in bóng xuống mặt đất màu mỡ.

Nói một chuyện đời xưa

Kể một chuyện đã từng

Như con cáo già trên núi thủ thỉ vài câu

Như hòn sỏi dưới sông in hình bóng nước

Như người già truyền lại cho muôn đời con cháu.

Ngày xưa ngày xưa ấy,

Ở trời chưa có Trời

Ở đất chưa có Đất

Ở trời chưa sáng ngôi sao Ngời

Ở đất chưa có cánh đồng xanh xanh.

Trời còn lùng bùng như nước

Đất còn nhão nhoét như bùn

Ngó lên trông xuống mịt mùng

Một màu đen chẳng ra đen,

Một màu trắng chẳng ra trắng.

Loài người, loài vật chưa có

Cái gì cũng chưa có chưa nên

Trên núi chưa có con cáo già

Dưới sông lại chưa có hòn sỏi nhỏ

Trong cửa trong nhà,

Chưa có ông già kể chuyện.

Đêm nay người ta nướng một con trâu to lắm, mấy ông đàn ông lại được dịp mở hũ rượu đã ngâm cả chục năm.

"Này này, bữa trước thấy có người mặc áo lông ngỗng đen, trông cứ như con tịnh đứng trước cửa phủ Sạ Ràng," ông Lãng Thư bán vải khơi chuyện.

"Ôi dào ơi! Cái nhà đấy thì còn lạ gì, một ngày có biết bao nhiêu người ra vào," Phạ Ngườm buôn rượu vắt chân chữ ngũ, vừa nói vừa xỉa răng. "Mai mốt mà có thấy nhà Chúa tới thăm phủ Sạ Ràng thì cũng đừng có mà sửng sốt làm gì cho tốn công."

"Anh nói vậy là coi thường nhà Chúa quá." Bà Hùn Dư bán xôi chè cũng tham gia. "Bé bé cái mồm thôi, không sợ bị bắt đi chém à?"

"Phải đấy phải đấy," ông Lãng Thư ủng hộ. "Thôi ngay cái kiểu nói đấy đi. Không nhờ nhà Sạ Ràng thì dân ta làm gì giữ được thành Sếu."

"Cái thành Sếu này ấy mà, trước đây hẳn là cố đô đấy, thế nhưng mà mùa đông lại lạnh giá quá, có cái mùa thu thì lũ cuốn nước trôi. Để mà dân tụ về cũng khó, huống chi là xây thành quách cung điện, đâu còn là cái thời ông Sùng bà Âu," bà Hùn Dư tiếp lời. "Người ta dời đô về đất Mụ Đậu, dựng thành Cổ Lâu, vị thế thành Sếu giảm một bậc. Không nhờ tài trí của nhà Sạ Ràng thì làm gì có ai muốn ngó ngàng đến."

Phạ Ngườm nốc cạn chén rượu, lại lè nhè. "Cái tên Tông Thao nhà ấy, không có căn cơ gì cả sao mà gả được vào nhà Sạ Ràng được cũng hay!"

Ông Lãng Thư nhìn cái mỏ chảy dãi của Phạ Ngườm mà ngao ngán, bụng nghĩ. "Người ta chứ có phải anh đâu cơ chứ."

"Nhưng chuyện ông nói tôi cũng để ý đấy," bà Hùn Dư ghé sát nói nhỏ chỉ vừa đủ lớn để ông Lãng Thư nghe thấy. "Trong nhà đấy đồn rằng Tông Thao sắp phải đi Kinh Sư bốn năm tuần trăng."

"Ôi làm cái gì mà đi tận bốn năm tuần trăng?" ông Lãng Thư sửng sốt.

"Không biết, nhưng nghe chừng gấp lắm. Chẳng lẽ là có biến gì chăng?"

"Thì dĩ nhiên là có biến rồi nhưng mà là biến gì?" ông Lãng Thư ngồi ngẩn ra một lúc, nhắm cá nướng với rượu mận rồi hừ một tiếng đã đời. "Chúa Thượng từ khi đăng ngai chưa bao giờ để dân oán thán một câu."

"Thế là ông cũng nghĩ giống tôi đấy," bà Hùn Dư cụng ly với tên Phạ Ngườmđã xỉn quắc cần câu. "Tôi tin là bà Chúa biết mình đang làm gì."


Angafan trong tiếng Hỷ Á mượn từ Áng Phổ trong tiếng Bạt Lạc, tuy nhiên trong tiếng Đa Càn lại là Saphunam, bắt nguồn từ Shafnaron trong tiếng Sấm Rồng.


Tsiyaw (tiếng Sấm Rồng), nghĩa là tổ phụ.


Hoipryam (tiếng Đa Càn), Koipriya (tiếng Hỷ Á). Có thể dịch là thành Bách Thần.


Wahiram (tiếng Đa Càn), Wahira (tiếng Hỷ Á). Có thể dịch là Đại Giang.


Namuwam (tiếng Đa Càn), Namaw (tiếng Hỷ Á). Ngoài ra còn được gọi là Namýra, Namuwa. Có thể dịch là thành Cái Phá, tuy diễn xướng thường liên hệ cái tên này với sự tích Mệ Nạc dựng thành Nàng Màu.


Sisinýa (tiếng Hỷ Á)


Dịch từ mâruda trong tiếng Sấm Rồng, ghép mâru nghĩa là rìu, cùng da nghĩa là chủ nhân.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co