2
Chương 85
Chú Thành đứng một lúc lâu, chỉ thấy cô gái trẻ này lấy cam loại tốt nhất của ông, bán hết túi này đến túi khác với giá cực rẻ. Làm người đã sống nửa đời, ông chưa từng gặp tình huống nào như vậy, thật là một điều kỳ quặc của nhân gian.
Tống Minh Tuyết rõ ràng không ngờ lại có người xuất hiện nữa, sững người một chút. Phản ứng lại, cô chỉ tay về phía chiếc xe, giải thích: "À... Tôi đang trông hộ bạn một chút..."
Xe cam lớn như vậy, bỏ lại đây thì không ổn lắm, nhỡ bị trộm mất thì sao. Tống Minh Tuyết thấy tình huống này đúng là đau đầu. Thẩm tổng dẫn người đi thì đi, ít nhất cũng phải để lại một vệ sĩ trông coi chứ.
#Cái lòng trách nhiệm chết tiệt của cô#
Chú Thành nghe vậy, nghi ngờ nhìn cô: "Bạn? Bạn nào?"
Tống Minh Tuyết hơi lắp bắp: "Thịnh... Thịnh Xuyên..."
Chú Thành bừng tỉnh đại ngộ, à một tiếng: "Chú là chú của thằng Xuyên. Thằng Xuyên đâu rồi?"
Tống Minh Tuyết nghe vậy thì đầu óc như đóng băng, khó khăn lắm mới bịa được một lý do: "Thịnh Xuyên... Thịnh Xuyên có một người bạn bị bệnh phải nằm viện, nên... nên anh ấy đến bệnh viện chăm sóc rồi..."
Chú Thành nghe vậy thì gãi gãi đầu, vẻ mặt hơi khó xử: "Thế nó có nói khi nào quay lại không?"
Tống Minh Tuyết nghĩ bụng, chuyện này khó nói lắm, có thể một hai ngày, mà cũng có thể mười năm tám năm, cô cũng không chắc chắn, nên nói với giọng không xác định: "Có lẽ... vài ngày nữa sẽ quay lại."
Chú Thành nghĩ bụng mình còn đang chờ Thịnh Xuyên nghĩ cách giúp đây, sao tự dưng lại đi mất. Ông vừa chỉ đạo công nhân phía sau bốc dỡ hàng hóa, vừa nói: "Nếu cháu gặp được Xuyên, thì nhắn nó một tiếng, bảo là chú về hái trái trước. Lúc nãy có khách muốn đặt hàng, chú phải về quê gấp. Cháu bảo nó tự đón xe về."
Tống Minh Tuyết nghe vậy liền gật đầu đồng ý, nhưng rồi vội vàng đưa số tiền vừa bán cam cho ông: "Chú ơi, đây là tiền vừa bán cam được, cháu... cháu còn việc phải đi ngay."
Nói xong, cô không đợi chú Thành phản ứng, vội vàng mở cửa xe, nhấn ga rời đi ngay lập tức.
Ánh chiều dần buông, bên ngoài mây ráng phủ đầy trời, nhuộm cả không gian một màu cam rực rỡ. Cao ốc san sát nhau như bức tranh cổ điển, phía dưới là dòng người xe cộ tấp nập, tiếng ồn ào không ngớt.
Bên trong, đôi mắt của Thịnh Xuyên vẫn bị bịt kín, không thể nhìn thấy gì, nhưng thính giác lại trở nên nhạy bén hơn. Lớp vải đen che mắt càng làm nổi bật làn da trắng trẻo của anh. Anh khẽ nghiêng đầu, cảm nhận được hơi thở rất nhẹ nhàng trên đỉnh đầu, giọng bình tĩnh cất lên: "Không định cởi trói cho tôi sao?"
Nói xong, anh cử động đôi tay bị trói lại.
Người đàn ông chống tay lên tường ngay trên đầu Thịnh Xuyên, cúi mắt nhìn anh. Ánh chiều tà từ ngoài hắt vào, dường như tránh đi dáng người cao ráo của cậu ta, chỉ còn lại một bóng đen phủ kín. Cậu khẽ cười, hỏi với giọng đầy ý vị: "Cởi trói cho anh, rồi lần này anh định chạy kiểu gì nữa?"
Nếu bây giờ Thịnh Xuyên có thể nhìn thấy, anh sẽ phát hiện Thẩm Úc đã thay đổi rất nhiều. Từ cậu thiếu gia đơn thuần ngày xưa, giờ đây đã không còn chút dấu vết nào. Đúng như lời đồn bên ngoài, cậu trở nên trầm ổn khó lường, mang trong mình phong thái quyết đoán mạnh mẽ.
Gánh trên vai trọng trách nặng nề của nhà họ Thẩm, cuối cùng cậu cũng buộc phải trưởng thành.
Thịnh Xuyên nói: "Nếu tôi muốn chạy, thì đã không vào thành phố."
Nếu anh cứ ở quê, sống an phận thì sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra. Dù Thẩm Úc có muốn cũng không thể đến trước mặt ba mẹ anh để ép đưa anh đi. Ngay khi quyết định vào thành phố, Thịnh Xuyên đã dự liệu trước tình huống ngày hôm nay.
Anh không định trốn.
Thẩm Úc vừa từ công ty trở về, áo sơ mi đen xắn tay áo đến khuỷu tay. Màu tối này càng làm làn da cậu lộ vẻ tái nhợt không bình thường, gần như bệnh tật. Nghe anh nói vậy, cậu im lặng trong thoáng chốc rồi bất ngờ nắm lấy cằm của Thịnh Xuyên, từng chút từng chút siết chặt hơn: "Anh nghĩ tôi còn tin anh được sao?"
Giờ đây, Thẩm Úc ở vị trí cao, nhưng cũng bị cô lập, khó lòng đặt niềm tin vào bất kỳ ai.
Thịnh Xuyên am hiểu lòng người, dù không nhìn thấy khuôn mặt của cậu, nhưng vẫn cảm nhận được vài phần lạnh lẽo trong giọng nói. Nói không chạm đến lòng anh thì là dối lòng, bởi trong ký ức, anh vẫn nhớ rõ dáng vẻ ngông nghênh, tràn đầy sức sống của Thẩm Úc ngày xưa.
Anh khẽ nghiêng đầu, muốn tránh đi bàn tay đang nắm lấy cằm mình. Nhưng có lẽ vì hai người đứng quá gần, động tác ngẩng đầu vô tình chạm vào cằm của Thẩm Úc, lướt qua bên môi, khiến anh dừng lại.
Thời gian dường như ngưng lại trong khoảnh khắc.
Thịnh Xuyên giữ nguyên tư thế đó, không cử động. Thẩm Úc cúi đầu nhìn anh, đôi mắt đen thẫm dán chặt lên người đối diện, cũng không nhúc nhích. Đây là lần duy nhất họ có một khoảnh khắc thân mật, sau những tháng ngày căng thẳng.
Thịnh Xuyên vô thức nín thở, không rõ vì sao trong đầu có một sợi dây lý trí bất chợt đứt phựt. Anh nhẹ nhàng ngẩng lên, chính xác hôn lên đôi môi khô khốc của Thẩm Úc, khẽ mím lại.
Đối phương không né tránh, bất động. Qua lớp vải đen bịt mắt, chẳng thể đoán được cảm xúc của cậu ta.
Chờ khoảng ba giây, Thịnh Xuyên mới nhẹ nhàng cạy mở hàm răng của Thẩm Úc, từng chút xâm chiếm. Từ lạ lẫm trở nên quen thuộc, chỉ trong vài giây ngắn ngủi. Anh đứng dậy khỏi ghế, bước tới, cảm giác thảm dưới chân mềm mại. Dựa theo vị trí ghế đặt trong phòng, anh gần như xác định được đây là phòng của ai. Một sơ đồ bố trí dần hiện lên trong đầu anh.
Từng bước, từng bước, Thịnh Xuyên ép Thẩm Úc đến góc tường. Đợi khi cậu không thể lùi lại được nữa, anh mới tập trung toàn bộ sự chú ý vào nụ hôn, tiếp tục khám phá.
Cảm nhận hơi thở đối phương dần trở nên gấp gáp, nhiệt độ cơ thể cũng tăng lên, anh mới dừng lại, hơi nghiêng người kề sát bên tai Thẩm Úc, áp chặt vào người cậu, giọng nói mang theo chút khàn khàn đầy cám dỗ: "Cởi trói cho tôi..."
Anh muốn ôm lấy cậu...
Thịnh Xuyên không thích cảm giác hai tay bị trói như thế này, đôi mắt bị bịt kín bởi một dải vải tối màu, làn da lại trắng trẻo sạch sẽ, vừa cứng cỏi vừa dịu dàng, mang một sự mâu thuẫn không nói thành lời.
Nói xong câu đó, anh không làm thêm động tác gì, chỉ im lặng chờ câu trả lời từ đối phương.
Thẩm Úc bị anh ép vào tường, mái tóc vốn chỉnh tề giờ rủ xuống một lọn, đôi môi mang sắc đỏ không tự nhiên, tương phản rõ rệt với làn da tái nhợt. Nghe xong, cậu đưa ánh mắt khó đoán nhìn về phía Thịnh Xuyên, hơi nheo mắt lại, dường như đang cân nhắc điều gì.
"..."
Thịnh Xuyên không phải đợi lâu, anh cảm nhận được một bàn tay luồn ra sau lưng mình, tiếng động nhẹ nhàng vang lên, dây trói được cởi ra. Anh thuận thế thoát khỏi trói buộc, sau đó, dưới ánh mắt chăm chú của Thẩm Úc, không nói một lời, xoa nhẹ cổ tay.
Thịnh Xuyên không gỡ lớp vải che mắt. Có lẽ, đôi khi bóng tối cũng có thể là một lớp ngụy trang, giúp con người bớt bận tâm đến nhiều thứ. Anh lần mò nắm lấy tay Thẩm Úc, đẩy cậu áp vào tường, nhẹ nhàng siết chặt, không nói thêm gì, tiếp tục việc còn dang dở.
Ngón tay thon dài của Thịnh Xuyên móc lấy chiếc cà vạt của Thẩm Úc, kéo nhẹ, thuận tay cởi từng chiếc cúc áo của cậu. Khi hai cơ thể dán sát vào nhau, anh chỉ cảm nhận được đối phương dường như lại gầy đi. Qua lớp áo mỏng manh, xương quai xanh hiện lên rõ nét.
Họ đã lâu lắm không gần gũi như thế này. Thẩm Úc khép mắt, ngửa đầu, sắc mặt tái nhợt vì cơn đau. Yết hầu mong manh lộ ra trong không khí, nhấp nhô lên xuống. Nhưng Thịnh Xuyên không thể nhìn thấy, và cậu cũng không còn như trước kia mà thốt lên tiếng than đau đớn.
Tấm lưng cậu tựa sát vào bức tường lạnh lẽo, chiếc áo sơ mi đen buông lỏng trên người, càng làm tôn thêm dáng hình gầy gò, tái nhợt của mình.
Thịnh Xuyên mơ hồ nhận ra điều gì đó, lại cúi xuống hôn lên môi cậu, kiên nhẫn dỗ dành, mãi cho đến khi thân thể Thẩm Úc không còn căng cứng nữa, anh mới bế ngang cậu lên, sau đó bước đến bên giường.
Thời điểm cuối thu, chăn gối lộ ra trong không khí đều phủ một tầng hơi lạnh, nhưng không bao lâu đã bị nhiệt độ cơ thể làm ấm lên. Thịnh Xuyên chậm rãi hôn lên từng đường nét trên chân mày, đôi mắt của Thẩm Úc, một lát sau bỗng cất giọng: "Cậu gầy đi rồi."
Thẩm Úc nằm dưới thân anh, ánh mắt mơ màng, đuôi mắt vì k.ích thích mà hơi ửng đỏ. Nghe vậy, cơ thể cậu khẽ run lên, nhắm mắt lại không nói gì, chỉ dùng mu bàn tay chậm rãi che đi đôi mắt, dù Thịnh Xuyên vốn chẳng nhìn thấy được cậu.
Thịnh Xuyên hôn dọc từ môi cậu lên trên, lặng lẽ kéo tay cậu xuống. Khi hôn đến khóe mắt, đầu lưỡi anh bất giác nếm được vị chua xót của nước mắt. Năm ngón tay luồn qua mái tóc Thẩm Úc, chậm rãi đan vào, dường như cảm nhận được cảm xúc đang cuộn trào trong cậu, anh khẽ gọi một cái tên đã lâu không nhắc tới: "A Úc..."
A Úc.
Hai chữ này khiến cơ thể Thẩm Úc run lên. Cậu không hiểu vì sao, bỗng nghiêng đầu né tránh nụ hôn của Thịnh Xuyên, còn đưa tay định đẩy anh ra. Nhưng lúc này, hiếm khi Thịnh Xuyên lại cứng rắn như vậy, anh mạnh mẽ nắm lấy tay cậu.
Người dưới thân đang hô hấp không ổn định, tựa như đang cố kìm nén điều gì đó. Gân xanh trên cổ nổi lên, cơ thể không thể kiểm soát mà cong lên, trông vô cùng đau đớn. Thịnh Xuyên siết chặt cậu vào lòng, bờ vai lại cảm nhận được một mảng lạnh lẽo, động tác thoáng khựng lại.
"..."
Thịnh Xuyên dường như đã nhận ra điều gì, cuối cùng chậm rãi đưa tay, tháo bỏ miếng vải đen trên mắt. Đôi mắt đột ngột tiếp xúc với ánh sáng khiến anh hơi khó chịu, không kiềm được mà nheo lại, sau đó nhìn về phía Thẩm Úc.
Người trước mặt đã không còn là dáng vẻ trong ký ức của anh nữa. Như một thanh kiếm sắc rút khỏi vỏ, mọi nơi đều toát lên sự sắc bén, lại mang theo nét âm u bệnh hoạn khó tan. Lúc này, cậu dường như nhớ lại điều gì đau đớn mà không muốn đối mặt, không thể kiểm soát mà co người lại, đôi mắt đỏ hoe, giống như người sắp chìm nghỉm giữa dòng nước hoang dại.
Căn bệnh của cậu vẫn chưa khỏi, trở thành dáng vẻ ngày hôm nay, đều do những người cậu coi trọng nhất tính kế mà ra...
Người không vì mình, trời tru đất diệt. Trước đây, Thịnh Xuyên chưa từng cảm thấy bản thân sai, nhưng giờ đây, như có một bàn tay vô hình siết chặt lấy trái tim anh, sau đó nghiền nát thành bùn, hiếm khi khiến anh cảm nhận được cơn đau nhói.
Thịnh Xuyên khép mắt lại, đưa tay vén đi phần tóc ướt đẫm mồ hôi lạnh trên trán Thẩm Úc, sau đó lần lượt hôn đi những giọt nước mắt rơi xuống từ hốc mắt cậu. Động tác dịu dàng và tỉ mỉ chưa từng có, mãi đến khi môi và răng giao nhau, anh mới bất ngờ cất lên ba từ: "Xin lỗi..."
Xin lỗi...
Cuối cùng, Thịnh Xuyên vẫn nói ra câu mà trước đây anh từng cho là vô dụng, Thẩm Úc cũng chẳng hề cần, nhưng đã muộn rất nhiều năm, muộn cả một đời.
Hai từ chậm rãi rơi xuống, rồi tan biến trong nụ hôn của hai người. Thịnh Xuyên từng chút một sửa lại dáng vẻ co quắp của Thẩm Úc, giam cậu thật chặt trong vòng tay mình, nghe tiếng cậu vỡ òa trong nghẹn ngào khàn đục, đôi mắt đỏ hoe, khóc nức nở run rẩy. Nụ hôn của anh lại càng thêm cuồng nhiệt.
Mặt trời dần lặn, ánh sáng trong phòng nhạt đi, rèm cửa sổ mỏng manh khẽ tung bay, vẽ lên sàn nhà sáng bóng một bóng hình mờ nhạt, lờ mờ có thể thấy được những dao động trên giường.
Thẩm Úc dường như đã kiệt sức, khóe mắt còn vương vệt nước mắt khô. Cậu nằm úp mặt xuống giường, không nhúc nhích, mãi đến khi Thịnh Xuyên bước xuống giường, cậu mới bất ngờ phản ứng, vội vàng nắm lấy tay anh, ánh mắt nhạy cảm và đầy cảnh giác: "Anh đi đâu?"
Nghe vậy, Thịnh Xuyên thoáng sững người, vô thức nhìn về phía cậu. Anh không nói gì, chỉ thuận theo bàn tay đang giữ lấy mình, kéo cậu ôm vào lòng, sau đó bước vào phòng tắm.
Bồn tắm tròn rất lớn, đủ để chứa hai người. Khi hơi nước nóng bốc lên, dường như xua tan hết mọi mệt mỏi. Thịnh Xuyên ép Thẩm Úc tựa vào mép bồn, giữ lấy gáy cậu và hôn một lần: "...Tôi đã nói, sẽ không đi."
Nghe vậy, Thẩm Úc không nói gì, chỉ nhìn chằm chằm anh. Đôi mắt đen sâu thẳm khiến người khác khó đoán được cảm xúc, rõ ràng là không tin. Thịnh Xuyên dưới nước chậm rãi giữ lấy tay cậu, dường như đang suy nghĩ điều gì. Một lát sau, anh mới ghé sát tai cậu, thấp giọng hỏi: "Tại sao em lại gửi tiền về cho người nhà tôi?"
Nếu là Thẩm Úc, khi biết sự thật, Thịnh Xuyên chắc chắn sẽ không dễ dàng bỏ qua như vậy. Không gi.ết ch.ết kẻ lừa đảo đó đã là may, sao có thể gửi tiền về cho nhà anh chứ.
Câu hỏi này, Thịnh Xuyên biết đáp án, nhưng anh bỗng muốn nghe Thẩm Úc nói lại một lần nữa.
Bỏ đi lớp ngụy trang, dùng thân phận thật sự, nói lại một lần nữa.
Nghe vậy, Thẩm Úc nhìn anh, híp mắt lại, cười nhạt đầy châm biếm: "Vì tôi ngu, anh hài lòng chưa?"
Cậu vốn như vậy, luôn bộc lộ những mặt khiến người ta ghét ra ngoài, đến nỗi chẳng ai biết được cậu đã làm gì sau lưng.
Thịnh Xuyên không nghe được câu trả lời mình mong muốn, nhưng cũng không thất vọng. Anh vốn dĩ đã biết đáp án. Nghe vậy, anh đưa tay nâng mặt Thẩm Úc lên, sau đó hôn vào khóe môi mang nét chế giễu của cậu, thấp giọng sửa lại: "Không ngu..."
Chỉ là hơi ngốc một chút.
Chương 86
Đêm khuya tĩnh mịch, lúc đi ngủ, ánh mắt của Thẩm Úc nhìn chằm chằm Thịnh Xuyên đã không còn quá gay gắt như trước. Người sau còn tưởng cậu cuối cùng cũng thả lỏng đôi chút, nhưng khi vô tình bước ngang qua cửa sổ, anh lại phát hiện bên dưới có mấy vệ sĩ đứng canh. Nói cách khác, muốn leo cửa sổ chạy trốn như lần trước gần như là chuyện không thể.
Thẩm Úc tựa vào đầu giường, dáng người gầy gò. Cậu lười biếng ngẩng mắt lên, liền thấy Thịnh Xuyên đứng bất động bên cửa sổ. Từ ngăn kéo, cậu rút ra một điếu thuốc, châm lên. Ánh lửa xanh nhạt hắt lên nửa bên mặt của cậu, tạo nên vẻ ma mị đầy bệnh hoạn. Giọng cậu mang theo chút khàn khàn sau d.ục v.ọng, đầu ngón tay khẽ bật tàn thuốc, nói với giọng đầy mỉa mai: "Có bản lĩnh thì anh nhảy từ đây xuống đi."
Dùng ga giường làm dây để trèo, đâu phải là anh hùng gì.
Hầu hết đàn ông đều không thể rời xa thuốc lá và rượu, bởi hai thứ này có thể làm tê liệt thần kinh.
Ánh mắt của Thịnh Xuyên lướt qua tủ đầu giường, thấy trên đó bày la liệt mấy lọ thuốc tây không rõ tên, bên cạnh còn có một cái gạt tàn, trong đó đã chất đầy đầu lọc thuốc.
Anh từng nghĩ rằng sau khi mình rời đi, Thẩm Úc sẽ sống tốt hơn một chút, nhưng xem ra, thực tế lại chẳng phải như vậy.
Thịnh Xuyên phớt lờ sự mỉa mai ẩn chứa trong lời nói của Thẩm Úc, bước tới cạnh giường, sau đó rút điếu thuốc còn đang cháy dở trên tay cậu, dí tắt trong gạt tàn. Tuy không nói một lời, nhưng ý cấm cản lại vô cùng rõ ràng.
Đôi mày của Thẩm Úc hơi nhướng lên, trông có vẻ không hài lòng, giọng điệu đầy vẻ khó chịu: "Anh làm gì vậy?"
Thịnh Xuyên đẩy cậu vào bên trong, sau đó lật chăn lên giường. Nụ cười của anh vừa nhạt vừa có chút tà mị, thoạt nhìn giống hệt kiểu người nho nhã nhưng đầy mưu mô. Tuy nhiên, vẻ lạnh lùng trong ánh mắt anh đã dần tan đi: "Đêm rồi, tất nhiên là đi ngủ."
Thẩm Úc lặng lẽ nhìn anh, không nhúc nhích, một lát sau mới thu lại ánh mắt vô cảm rồi nằm xuống.
Bên dưới có nhiều người canh gác như thế, cậu không tin Thịnh Xuyên còn có thể chạy thoát.
Cậu nằm quay lưng lại với Thịnh Xuyên, dáng người gầy gò chìm sâu trong chiếc chăn, càng làm nổi bật sự mảnh mai của mình. Thịnh Xuyên tắt đèn đầu giường, nằm xuống bên cạnh cậu. Ánh mắt anh lướt qua mấy lọ thuốc trắng trên tủ đầu giường, sau đó thu lại, trong bóng tối lặng lẽ ôm lấy Thẩm Úc vào lòng. Anh định hỏi điều gì đó, nhưng cuối cùng lại không hỏi.
Thẩm Úc nhìn xuống bàn tay đang đặt trên eo mình, sau lưng cậu là lồng ng.ực nóng rực của người đàn ông, bị anh ôm chặt không còn kẽ hở. Cuối cùng, cậu cũng không còn phải co rúm người ngủ như trước.
Trong bóng tối, Thịnh Xuyên bất chợt gọi khẽ: "A Úc..."
Thẩm Úc nghe thấy liền mở mắt, im lặng chờ đợi điều anh muốn nói tiếp.
Nhưng Thịnh Xuyên chẳng nói gì thêm, dường như chỉ tùy tiện gọi một tiếng. Anh cúi xuống hôn lên dái tai lạnh lẽo của cậu, dùng đầu lưỡi nóng ấm trêu đùa, cố ý k.ích thích điểm nhạy cảm của cậu. Đến khi người trong lòng như con nhím xù lông dần mềm nhũn, hóa thành một chú thỏ mắt đỏ, anh mới khẽ dừng lại, v.uốt ve thêm một chút.
Thịnh Xuyên hôn cậu, dịu dàng nói: "Ngủ đi."
Nghe vậy, Thẩm Úc ngẩng mắt, liếc nhìn một trong những lọ thuốc ngủ trên bàn. Cậu dừng lại vài giây, rồi thu ánh mắt lại, cuối cùng nhắm mắt, không nói gì thêm.
Đã rất lâu rồi Thịnh Xuyên không có một giấc ngủ trọn vẹn. Tối nay, khi thần kinh đột nhiên được thả lỏng, anh nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, không mộng mị, ngủ một mạch đến sáng.
Một tia sáng ban mai chiếu xiên qua cửa sổ, rọi thẳng vào mí mắt anh, khiến anh khó chịu mà chậm rãi mở mắt. Trời đã sáng. Anh theo phản xạ cúi đầu nhìn người trong lòng, thấy Thẩm Úc vẫn chưa tỉnh, dáng vẻ khi ngủ của cậu thật gầy yếu và ngoan ngoãn, bớt đi mấy phần âm u lạnh lùng.
Không hiểu sao, Thịnh Xuyên cứ nhìn cậu như vậy rất lâu, hơi thất thần. Sau đó, anh giơ tay nhẹ nhàng vén những sợi tóc lòa xòa trước trán cậu, kéo cậu sát vào lòng hơn, tựa đầu vào vai Thẩm Úc, nhắm mắt dưỡng thần, đợi cậu tỉnh.
Dì Lâm đã chuẩn bị xong bữa sáng dưới nhà từ sớm. Có lẽ vì những người thân quen bên cạnh đều lần lượt rời đi, Thẩm Úc không đuổi bà đi mà để bà ở lại làm việc. Dì Lâm cũng trở nên ngoan ngoãn, chuyện không nên nhìn thì giả vờ như không thấy, chỉ lo nấu ăn.
Khoảng tám giờ sáng, Thẩm Úc cuối cùng cũng thức dậy. Khi mở mắt, phát hiện mình đã ngủ một giấc từ hôm qua đến tận sáng hôm nay, cậu ngẩn ra trong chốc lát. Cho đến khi bên tai vang lên một giọng nói quen thuộc, cậu mới hồi thần.
Thịnh Xuyên nói: "Tỉnh rồi thì xuống ăn sáng đi. Dì Lâm vừa lên giục vài lần."
Thẩm Úc nghe vậy liếc nhìn anh, không nói lời nào, đứng dậy mặc quần áo, rồi đi vào phòng tắm rửa mặt.
Thịnh Xuyên đi theo, khi đi ngang qua tủ quần áo đang mở một nửa, anh định đóng lại nhưng bỗng thấy bên trong treo đầy quần áo, một nửa là đồ mới tinh. Nhìn kỹ kích cỡ, quần áo này với Thẩm Úc thì rộng, nhưng với anh thì vừa khít. Anh im lặng một lúc, không biết đang nghĩ gì, lấy một bộ thay rồi bước vào phòng tắm.
Khi anh bước vào, nhận ra trong phòng tắm từ khăn tắm đến cốc đánh răng đều là hai bộ đôi, ngầm ám chỉ sự tồn tại của cả hai người.
Thẩm Úc đang rửa mặt, bỗng có một cơ thể ấm áp dán sát phía sau lưng mình. Cậu dừng động tác, ngước mắt nhìn vào gương, thấy ai đó ngậm bàn chải đứng ngay sau mình.
Thẩm Úc khẽ nheo mắt: "Anh làm gì vậy?"
Thịnh Xuyên mặc một chiếc áo sơ mi sáng màu, bên ngoài là áo len gile phong cách Anh quốc, thoạt nhìn như một quý công tử du học về, khí chất thanh nhã rất hợp với vẻ ngoài của anh. Anh ôm lấy Thẩm Úc từ phía sau, không nói gì, chỉ khẽ bảo: "Quần áo đẹp đấy."
Sau đó anh buông cậu ra, đi rửa mặt.
Dường như Thịnh Xuyên đã biết hết mọi chuyện. Nghe vậy, Thẩm Úc hơi khựng lại, vô thức nhìn anh, chỉ thấy anh cũng đang nhìn mình, rồi rất nhanh dời ánh mắt đi.
Dì Lâm đã chuẩn bị bữa sáng từ bảy giờ, sau đó hâm nóng lại một lần nữa. Khi thấy Thịnh Xuyên và Thẩm Úc xuống, bà chỉ bày biện bát đũa rồi rời đi, ngoài lời chào hỏi, không nói thêm một câu dư thừa.
Thịnh Xuyên ngồi xuống đối diện Thẩm Úc, thấy vậy liền cười: "Em vẫn giữ dì Lâm à?"
Thẩm Úc thực ra là một người hay hoài niệm, nhưng ngay cả bản thân cậu cũng không nhận ra điều này. Nghe anh nói, cậu cúi mắt, thờ ơ đáp: "Dùng quen rồi."
Thịnh Xuyên không vạch trần cậu, thấy Thẩm Úc chỉ uống hai thìa cháo đã không ăn nữa, bèn gắp một miếng quẩy bỏ vào bát cậu: "Ăn nhiều vào."
Thẩm Úc không thấy ngon miệng. Tinh thần và cơ thể cậu đều toát ra vẻ bệnh tật, rõ ràng thường ngày không ăn uống đàng hoàng. Cậu liếc nhìn miếng quẩy trong bát, vô cảm ăn hai miếng, rồi lại buông đũa.
Thịnh Xuyên dứt khoát kéo ghế, ngồi xuống ngay bên cạnh cậu. Anh đưa tay chạm vào trán Thẩm Úc, thấy không giống như sốt, lại nghĩ đến đống thuốc trên tủ đầu giường, bèn ngầm ám chỉ: "Em bị bệnh đúng không?"
Thẩm Úc dường như rất nhạy cảm với từ này, nghe vậy liền cau chặt mày, tránh tay anh ra, ánh mắt đầy sự phản kháng, giọng nói thấp trầm mang theo vẻ âm u: "Tôi không bệnh—"
Lời còn chưa dứt, bên ngoài bỗng vang lên tiếng chuông cửa. Dì Lâm vội chạy ra mở cửa, nhìn qua rồi quay lại nói với Thẩm Úc: "Cậu chủ, bác sĩ Tống đến rồi."
Tống Minh Tuyết có lẽ thường xuyên đến đây, dì Lâm vừa nói xong đã theo thói quen mở cửa mà không chờ Thẩm Úc lên tiếng.
Tống Minh Tuyết tay xách một chiếc hộp thuốc di động, bước vào cửa nhìn quanh một vòng, ánh mắt cuối cùng dừng ở bàn ăn. Thấy Thịnh Xuyên và Thẩm Úc đang ngồi ăn, cô khẽ mỉm cười, giọng hơi áy náy: "Thẩm tiên sinh, xin lỗi, hôm nay tôi đến sớm một chút, quấy rầy anh dùng bữa rồi."
Khi nói, ánh mắt cô dừng lại trên người Thịnh Xuyên, đánh giá từ trên xuống dưới. Thấy anh không thiếu tay thiếu chân, tinh thần cũng không tệ, cô mới âm thầm thở phào nhẹ nhõm.
Thịnh Xuyên nhìn thấy Tống Minh Tuyết, khựng lại một chút, mơ hồ đoán được điều gì, theo bản năng quay sang nhìn Thẩm Úc: "Em bị bệnh."
Không phải câu hỏi, mà là một lời khẳng định.
Nghe vậy, sắc mặt Thẩm Úc lập tức sa sầm, ánh mắt trở nên sắc bén đầy âm u. Đôi đũa trên tay cậu suýt bị bẻ gãy, các khớp ngón tay tái nhợt, cả người như đang trên bờ vực của sự phẫn nộ. Cậu gằn từng chữ, lạnh giọng nói: "Tôi đã bảo tôi không bệnh."
Tống Minh Tuyết nhìn thấy vậy, trong lòng giật thót, định dùng ánh mắt ra hiệu cho Thịnh Xuyên, bảo anh đừng kí.ch thích Thẩm Úc thêm nữa. Nhưng chưa kịp hành động, cô đã thấy người đàn ông đứng dậy khỏi ghế, kéo Thẩm Úc từ trên ghế lên, rồi ôm cậu vào lòng, bàn tay nhẹ nhàng vu.ốt ve lưng cậu, giọng nói trầm thấp dịu dàng: "Bệnh thì chữa, không có gì to tát cả."
Thẩm Úc cố gắng đẩy anh ra, nhưng không biết là vì sức cậu quá yếu hay sức anh quá mạnh, đẩy mấy lần vẫn không được. Sắc mặt cậu tái nhợt, khó chịu đến mức không nói nổi một lời.
Việc dỗ dành Thẩm Úc vốn dĩ đã là chuyện mà kiếp trước Thịnh Xuyên rất rành rẽ. Anh nghiêng người, tránh ánh mắt của Tống Minh Tuyết, cúi đầu nhỏ giọng nói mấy câu với Thẩm Úc, sau đó hôn lên môi cậu một cái thật nhẹ, rồi khẽ bảo: "Chỗ nào không thoải mái thì nói ra, kiểm tra một chút cũng không tốn bao nhiêu thời gian."
Tống Minh Tuyết quay lưng lại, trong lòng đầy khó chịu. Cô nghĩ mãi vẫn không hiểu tại sao mình lại đắc tội với Thịnh Xuyên. Hôm qua đứng ven đường bán cam giúp anh đã đủ rồi, sáng nay còn phải ngồi ăn "cẩu lương" từ sớm. Đúng là thời buổi này, làm bác sĩ riêng cũng khó khăn đến vậy.
Sắc mặt của Thẩm Úc không còn khó coi như ban nãy, nhưng vẫn không dễ nhìn chút nào. Nhân lúc tình hình dịu xuống, Tống Minh Tuyết nhanh chóng ngồi xuống đối diện cậu, lấy ra một quyển sổ ghi bệnh án, bắt đầu hỏi: "Thẩm tiên sinh, tối qua giấc ngủ thế nào?"
Thẩm Úc không trả lời ngay, một lúc sau mới nhàn nhạt đáp: "Ừm."
Không ai hiểu được chữ "Ừm" này của cậu mang ý gì, là ngủ tốt hay không tốt. Tống Minh Tuyết hơi khựng lại, định hỏi rõ hơn thì đã nghe Thịnh Xuyên giải thích: "Tối qua mười một giờ ngủ, sáng nay tám giờ dậy."
Nghe vậy, Tống Minh Tuyết liếc nhìn Thẩm Úc, vừa khéo nhìn thấy dấu vết mờ nhạt nơi cổ áo sơ mi của cậu, là một vết hôn không mấy rõ ràng. Ngay lập tức, cô hiểu ra vấn đề, chỉ "À" một tiếng rồi gật đầu, cúi xuống ghi chép.
Sau đó, cô tiếp tục hỏi: "Đêm qua trước khi ngủ có dùng thuốc hỗ trợ giấc ngủ không?"
Thẩm Úc ngừng lại một chút, rồi đáp: "Không."
Tống Minh Tuyết lại hỏi: "Tâm trạng vẫn dễ mất kiểm soát đúng không?"
Thẩm Úc không trả lời.
"..."
Thịnh Xuyên ngồi bên cạnh, im lặng lắng nghe. Đôi mắt anh cụp xuống, không biết đang nghĩ gì. Anh rời đi chưa bao lâu mà Thẩm Úc đã xảy ra biết bao chuyện mà anh không hay biết, thậm chí ngay cả việc ngủ cũng phải nhờ thuốc hỗ trợ.
Sự gầy gò và vẻ bệnh tật của cậu dường như cuối cùng đã có lời giải thích.
Có lẽ vì sự hiện diện của Thịnh Xuyên mà buổi hỏi thăm lần này không suôn sẻ, những câu trả lời chỉ điền được một khoảng trống rất nhỏ. Tống Minh Tuyết nghĩ ngợi một chút, cảm thấy chưa hẳn là điều xấu, bởi vì nút thắt thì chỉ người tạo ra mới có thể tháo gỡ.
Cuối cùng, cô hỏi thêm một câu: "Thuốc an thần còn lại bao nhiêu?"
Thẩm Úc mặc một chiếc sơ mi đen tuyền, làn da tái nhợt đến mức trông không bình thường, khiến khí chất cậu trông chẳng giống người tốt lành gì: "Ba viên."
Ba viên, tức là đủ cho một ngày. Tống Minh Tuyết ghi thêm một dòng vào bệnh án, rồi nói: "Thuốc an thần tạm thời có thể ngừng lại, thử xem tình trạng sau khi dừng thuốc như thế nào. Tôi sẽ kê thêm một số thuốc khác, mỗi ngày phải uống đúng giờ."
Trước đây cô đã kê cho Thẩm Úc rất nhiều loại thuốc, nhưng đối phương chỉ chịu uống thuốc an thần hỗ trợ giấc ngủ, những loại khác thì không chịu đụng đến.
Thịnh Xuyên nhận lấy đơn thuốc, đang định nói lời cảm ơn thì nghe Tống Minh Tuyết nhìn anh, ánh mắt đầy ẩn ý, đột nhiên hỏi một câu khó hiểu: "Lúc nhìn thấy tôi, anh có cảm giác mình quên mất điều gì không?"
Thịnh Xuyên:
"..."
Một xe cam của anh!!!
Chương 87
Thịnh Xuyên và Tống Minh Tuyết im lặng đối diện một lúc, cuối cùng cũng chậm chạp nhớ ra chiếc xe cam kia, không biết để ngoài đường có bị trộm không. Theo bản năng, anh định lấy điện thoại gọi cho chú Thành, nhưng Tống Minh Tuyết đã lên tiếng: "Chú anh nhờ tôi nhắn lại với anh rằng, có khách đặt hàng nên chú đã về quê hái thêm cam, bảo anh tự bắt xe về."
Nói xong, cô ý nhị nhắc nhở thêm: "Tôi đã bảo với chú là bạn của anh đang nhập viện, anh đang chăm sóc ở đây, chưa về được."
Thịnh Xuyên chưa nghĩ ra cách nào để giải thích với chú Thành về sự biến mất kỳ lạ của mình. Nghe vậy, anh dừng lại một chút, cất điện thoại vào túi, rồi gật đầu nói: "Cảm ơn cô."
Tống Minh Tuyết nghĩ thầm, đúng là phiền thật. Cả đời cô đến giờ chưa từng bán cam bao giờ. Cô thu dọn hộp thuốc, đứng dậy nói: "Không làm phiền hai người nữa, tôi xin phép đi trước."
Thịnh Xuyên mân mê chai thuốc trong tay, đi theo ra ngoài: "Tôi tiễn cô."
Thẩm Úc ngồi trên ghế sofa, mái tóc rối xõa che khuất mắt, cả người toát ra vẻ u ám, tái nhợt, trông không có chút sức sống. Nghe thấy lời của Thịnh Xuyên, cậu khẽ nhướng mắt, tựa hồ nghĩ rằng anh lại muốn tìm cách chạy trốn, đôi môi thoáng cong lên một nụ cười mỉa mai rồi nhanh chóng biến mất.
Khi tiễn Tống Minh Tuyết ra cửa, Thịnh Xuyên liền thấy mấy vệ sĩ đứng bên ngoài đồng loạt nhìn anh, liền hiểu ngay vấn đề. Anh dừng bước rất thức thời, khép cửa lại một nửa, hỏi Tống Minh Tuyết:
"Cậu ấy mắc bệnh gì vậy?"
Tống Minh Tuyết nghe vậy, suy nghĩ một lúc, rồi đưa ra một khái niệm chung chung: "Bệnh tâm lý."
Ánh mắt Thịnh Xuyên tối lại: "Trước đây cậu ấy chỉ giả vờ..."
Tống Minh Tuyết ngắt lời: "Tôi cũng từng nghĩ là giả, nhưng thực tế, cậu ấy thực sự mắc bệnh."
Cô mở hồ sơ bệnh án của Thẩm Úc, giải thích: "Cậu ấy thường xuyên mất ngủ suốt đêm, thậm chí hay nhớ lại những chuyện trong quá khứ. Nhưng những ký ức đó chỉ khiến cậu ấy co giật thần kinh và đau đớn, ngay cả ăn uống cũng không bình thường, tính khí thì thất thường, dễ mất kiểm soát. Mỗi ngày, cậu ấy chỉ có thể ngủ được bốn đến năm tiếng nhờ vào thuốc."
Cô dừng lại một chút, rồi kết luận: "Cậu ấy rất đau khổ, nhưng bên cạnh không có ai giúp được."
Đúng vậy, thực sự không có ai giúp được cậu ấy.
Trong vườn trồng đầy cây ngân hạnh, nhưng khi đến mùa, lá rụng đầy đất, trải thành một con đường vàng óng. Tống Minh Tuyết vén mái tóc bị gió thổi rối ra sau tai, nói với Thịnh Xuyên: "Thuốc tôi đưa cho anh thực ra chỉ là vitamin. Thẩm tiên sinh đã không thể tiếp tục dùng thuốc an thần nữa. Dùng lâu sẽ gây ra sự phụ thuộc. Nếu có thể, hãy giúp cậu ấy đi."
Nói xong, cô khẽ gật đầu, xách hộp thuốc rời đi.
Thịnh Xuyên đứng trước cửa, không biết đang nghĩ gì. Trong đầu anh chỉ hiện lên dáng người gầy gò quá mức và ánh mắt u ám, nhạy cảm của Thẩm Úc. Anh nhắm mắt lại, điều chỉnh cảm xúc, sau đó mới quay người vào trong.
Thẩm Úc đang xem tivi, nhưng cậu chẳng xem vào được gì, phần lớn thời gian đều ngồi thẫn thờ một mình. Thế nhưng, ngồi chưa được mười phút, tâm trạng cậu lại trở nên bực bội, không kiểm soát được mà nổi giận hoặc đập phá đồ đạc.
Hôm nay lại hiếm hoi, cậu kiên nhẫn ngồi xem được mười lăm phút, với điều kiện là phải bỏ qua việc các kênh chương trình trên màn hình liên tục thay đổi và chiếc điều khiển gần như bị cậu bấm hỏng.
Thịnh Xuyên bước vào liền thấy cảnh này. Anh ngồi xuống ghế sofa, rút chiếc điều khiển khỏi tay Thẩm Úc rồi kéo cậu ngồi vào lòng: "Em xem kiểu này thì xem được gì."
Thẩm Úc vốn dĩ cũng không có ý định xem, nét mặt cứng đờ, không nói một lời.
Thịnh Xuyên liền tùy tiện chuyển sang một kênh hoạt hình, chẳng có gì đấu đá hay toan tính. Khi tâm trạng bực bội, xem hoạt hình cũng không tệ. Anh vặn nắp lọ thuốc, lấy ra một viên thuốc màu cam nhạt, rồi hỏi Thẩm Úc:
"Cần nước không?"
Nghe vậy, Thẩm Úc cau mày, quay đầu tránh đi, vẫn là câu nói quen thuộc:
"Tôi không bệnh."
Thịnh Xuyên lúc này cũng không thể ép buộc mà bảo cậu rằng cậu có bệnh. Nghe cậu nói, anh liếc nhìn viên thuốc trong tay, làm một việc ngoài dự đoán, thản nhiên ném viên thuốc vào miệng mình. Thẩm Úc vốn không biết đây chỉ là viên vitamin, thấy vậy đồng tử cậu co lại: "Anh..."
Cậu chưa nói hết câu, gáy đột nhiên bị giữ chặt, tiếp đó là cảm giác mềm mại ấm áp áp lên môi. Người kia dễ dàng cạy mở hàm răng cậu, đưa viên thuốc vào trong. Nó không hề đắng, mà mang chút vị cam.
"Ưm..."
Thẩm Úc đẩy anh hai lần, không những không đẩy ra, mà còn bị Thịnh Xuyên ép ngã lên ghế sofa. Yết hầu của cậu di chuyển, cứ thế hồ đồ nuốt viên thuốc xuống. Thịnh Xuyên liế.m nhẹ đôi môi cậu, nắm lấy tay Thẩm Úc, đan từng ngón tay vào nhau, dẫn dắt cậu đáp lại anh. Cơ thể áp sát, nhịp tim của cả hai hòa làm một cách kỳ lạ.
Thẩm Úc có chút khó thở, nằm trên ghế sofa, thở dốc khe khẽ, lồng n.gực phập phồng không yên. Thịnh Xuyên cúi nhìn cậu từ trên cao, dùng đầu ngón tay vuốt phẳng vết nhăn trên trán cậu, trượt xuống hai bên má, cuối cùng dừng lại ở đôi môi đỏ mọng sưng lên. Ngón tay anh chà xát nơi đó một lát, giọng nói trầm thấp, giống như một ly rượu vang đậm vị:
"A Úc."
Nghe lại hai chữ này, phản ứng của Thẩm Úc không còn mãnh liệt như lần trước. Cậu cúi đầu, bất ngờ cắn chặt ngón tay không an phận của Thịnh Xuyên. Nhưng anh cũng chẳng né, đầu ngón tay trắng trẻo khẽ động, trêu đùa đầu lưỡi mềm mại và đỏ hồng của Thẩm Úc. Bộ dạng đứng đắn và nhã nhặn lại làm hành động như thế này, tự dưng có chút mùi vị gợi cảm.
Thẩm Úc buộc phải nhả ra.
Đầu lưỡi sắc bén.
Thịnh Xuyên liếc nhìn vết răng trên tay, hơi nhướng mày, không quá bận tâm, rồi đặt lọ thuốc lên bàn: "Bác sĩ Tống nói sức khỏe em không tốt, sau này phải uống thuốc đúng giờ."
Thẩm Úc có chút bực bội, nhạy cảm đến mức chỉ nghe hai chữ uống thuốc liền phản cảm chán ghét: "Không uống."
Thịnh Xuyên giữ nguyên nụ cười, nghiêng đầu nhìn cậu: "Không uống thì tôi đút em uống."
Thẩm Úc: "..."
Buổi chiều, Thẩm Úc xử lý công việc trong thư phòng. Trước đây cậu thích mặc đồ thoải mái, nhưng giờ đây lúc nào cũng áo sơ mi sẫm màu, áo vest, giày tây, toát lên vẻ trầm ổn kín kẽ, hoàn toàn khác với trước kia. Cậu không quy định Thịnh Xuyên phải ở bên cạnh mình, chỉ cần không bước ra khỏi căn nhà này thì muốn đi đâu cũng được.
Lúc này, Thịnh Xuyên đang gọi điện thoại cho chú Thành ngoài hành lang, đại khái giải thích lý do rời đi, nói trong thời gian ngắn sẽ không về được, nhờ ông nhắn với mẹ mình rằng đừng lo lắng.
Chú Thành nói: "Chú nói với chị dâu rồi, nói con đang ở trong thành phố. Nhưng còn một chuyện, con phải giúp chú và ba con nghĩ cách."
Thịnh Xuyên: "Chuyện gì vậy ạ?"
Chú Thành đáp: "Hôm đó ở chợ đầu mối, con bảo chú đi tìm khách hàng, chú liền đi tìm một ông cụ, tên là... là gì ấy nhỉ, Hàn Cẩm Sơn. Chú hỏi ông ấy có thu mua trái cây không, ông ấy nói có, nên chú để ông ấy thử trái cây của nhà mình."
Thịnh Xuyên thật sự không ngờ ông lại tiến đến bắt chuyện: "Rồi sao ạ, ông ấy có đặt hàng không?"
Chú Thành hơi khó xử: "Ông ấy bảo hương vị rất ổn, nhưng chỉ đặt một lô nhỏ. Chú tính toán rồi, mang hàng vào thành phố không đủ lời, còn chẳng bằng bán cho chợ đầu mối. Con nói xem chúng ta nên bán hay không?"
Nghe vậy, Thịnh Xuyên suy nghĩ một lát: "Ông ấy có để lại danh thiếp không?"
Thành thúc: "Không, chỉ để lại số điện thoại và địa chỉ, bảo chúng ta mang hàng đến đó, sẽ có người nhận."
Thịnh Xuyên thực ra cũng đoán được, nhà họ Hàn là ông lớn trong ngành ẩm thực, sao có thể dễ dàng xác định nhà cung cấp. Trái cây của chú Thành tuy chất lượng cao, nhưng không có danh tiếng. Đây là bước thử nghiệm của đối phương: "Gửi đi. Họ cần bao nhiêu thì gửi bấy nhiêu, nhưng đừng chỉ tập trung vào mỗi nhà họ Hàn."
Nhà họ Hàn dù là khách hàng lớn, nhưng cũng không thể đặt hết hy vọng vào họ. Về lâu dài, vẫn cần xây dựng uy tín, đa dạng hóa kênh phát triển.
Chú Thành không hiểu lắm:
"Hả... ý con là gì?"
Thịnh Xuyên nhướng mày: "Chú nghĩ xem cam có thể làm được gì. Nước ép, đồ hộp, kẹo. Hãy đi tìm thêm các nhà máy, trái loại A thì bán ra ngoài. Nếu còn hàng tồn kho, bán không hết, thì có thể bán cho họ làm sản phẩm."
Được anh gợi ý, chú Thành liền hiểu ra: "Không nói thì thôi, chứ con đúng là học nhiều có khác, đầu óc thật linh hoạt. Gần nhà mình vừa hay có một xưởng nước giải khát, chú sẽ đi hỏi thử."
Nói thêm vài câu, rồi mới cúp máy.
Thịnh Xuyên tựa vào lan can, trầm tư trong chốc lát, nghĩ rằng dù sao cũng cần có danh tiếng. Anh tìm một chiếc máy tính xách tay từ phòng mình, rồi đi vào thư phòng của Thẩm Úc. Lúc này, cậu đang làm việc, thấy anh vào, liền ném con chuột qua một bên: "Anh làm gì đấy?"
Thịnh Xuyên nghĩ thầm, làm gì được nữa, làm em chứ gì. Anh đặt máy tính lên sofa, rồi ngồi bệt xuống đất. Dưới sàn trải thảm dày, ngồi xuống cũng không lạnh: "Ngồi với em một lúc, sao nào, sẽ không làm phiền em chứ?"
Anh biết Thẩm Úc sẽ không từ chối, mà quả nhiên cậu cũng chẳng nói gì, chỉ nhìn anh với ánh mắt kỳ lạ.
Thịnh Xuyên mở máy tính, tìm kiếm những thương hiệu trái cây nổi tiếng trong nước hiện nay. Phần lớn bọn họ đều có trang trại riêng, kết hợp giữa trồng trọt, chăn nuôi, và các ngành nghề phụ trợ, tạo thành một chuỗi công nghiệp khổng lồ. Nhưng chú Thành rõ ràng không thể làm được điều đó trong hiện tại, sản lượng không đủ, vốn cũng thiếu, chỉ có thể xem như mục tiêu tham khảo cho tương lai.
Thịnh Xuyên lại tìm kiếm một vài công ty quảng cáo và thiết kế bao bì nổi tiếng, tính toán sơ bộ chi phí ban đầu cho hiệu ứng quảng cáo, ít nhất cũng cần đến vài trăm nghìn, vượt quá khả năng chịu đựng, nên anh đành hạ thấp tiêu chuẩn, liệt kê bảng giá của những blogger bán hàng nổi tiếng trên các trang mạng.
Chỉ cần sản phẩm tốt, có thể chịu được thử thách, thì việc chi tiền cho quảng cáo cũng không thành vấn đề. Nhưng trước tiên cần phải đăng ký một cửa hàng trực tuyến, từng bước xây dựng danh tiếng, đồng thời tích lũy vốn. Hiện tại, nhiều công ty cũng đang tích cực hỗ trợ các dự án nông nghiệp, đây là thời điểm thích hợp để thử nghiệm mà không lo lỗ vốn.
Tuy nhiên, việc đăng ký cửa hàng trực tuyến lại cần một số giấy tờ, điều này buộc phải nhờ chú Thành hỗ trợ sau. Thịnh Xuyên tìm một công ty thiết kế quảng cáo mềm trên mạng, dự định trước tiên làm xong hình ảnh quảng bá rồi tính tiếp.
Trong phòng chợt yên tĩnh, chỉ còn nghe thấy tiếng gõ bàn phím. Thẩm Úc tranh thủ liếc mắt về phía Thịnh Xuyên, chỉ thấy người đàn ông ngồi bệt dưới đất, một chân hơi co lên, ánh mắt chăm chú nhìn vào màn hình máy tính. Ánh sáng mặt trời ngoài cửa sổ chiếu qua, tạo thành một viền sáng mờ nhạt như dát vàng quanh thân hình anh. Đôi mắt màu trà càng thêm trong suốt.
Thẩm Úc tắt máy tính, không gây tiếng động bước đến bên cạnh Thịnh Xuyên, định xem anh đang làm gì. Nhưng vừa lọt vào tầm mắt của Thịnh Xuyên, anh đã lập tức gập máy tính lại, nhanh đến mức Thẩm Úc chẳng nhìn rõ gì, chỉ thấy trên màn hình thoáng qua một mảng màu vàng rực.
"..."
Thẩm Úc không khỏi nghĩ: Thịnh Xuyên đang xem phim người lớn sao?
Chương 88
Thực ra, Thịnh Xuyên hoàn toàn không thể làm chuyện như vậy. Từ trong cốt cách, anh vốn dĩ có vài phần kiêu ngạo, không bao giờ ngang nhiên làm những việc khiến người khác đỏ mặt tía tai. Phần lớn thời gian anh đều mải mê tìm tòi cách kiếm tiền, thuộc mẫu đàn ông say mê sự nghiệp.
Đương nhiên, đó là nếu bỏ qua việc anh từng vứt nguyên một xe cam bên lề đường.
Thẩm Úc nhét tay vào túi quần, đứng từ trên cao nhìn xuống anh. Dáng người gầy mỏng nhưng lại tạo thành một bóng râm lớn: "Anh đang xem gì đó?"
Vừa rồi, Thịnh Xuyên đang trao đổi với công ty quảng cáo về thiết kế hình ảnh tuyên truyền. Thấy Thẩm Úc bước đến, anh lập tức đóng máy tính lại, hành động này không giống phong cách của anh. Bởi nếu có Thẩm Úc hỗ trợ, mọi thứ sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.
"Không có gì, đang giúp mấy người chú bác ở quê bàn chút chuyện làm ăn."
Thẩm Úc nhướn mày phải: "Chuyện làm ăn gì?"
Thịnh Xuyên: "Việc làm ăn hợp pháp."
Thẩm Úc: "..."
Trước khi phát bệnh, tính tình Thẩm Úc vốn đã khó chịu, sau khi phát bệnh lại càng không tốt hơn. Thấy Thịnh Xuyên không nói thật, cậu đưa tay định mở máy tính, nhưng bị anh nắm lấy tay ngăn lại.
Thịnh Xuyên tựa lưng vào ghế sofa, ngước mắt nhìn cậu, cố ý hỏi: "Sao, em định cho tôi tiền làm ăn à?"
Nghe thế, ánh mắt Thẩm Úc tối đi, không rõ là ý gì, cậu hỏi ngược lại: "Thế anh có muốn không?"
Thịnh Xuyên: "Em sẽ cho à?"
Thẩm Úc: "Anh nghĩ tôi sẽ cho sao?"
Thịnh Xuyên: "Em sẽ cho."
Thẩm Úc sẽ cho, anh dường như rất chắc chắn điều đó.
Nói xong, Thịnh Xuyên nắm lấy cổ tay cậu, kéo mạnh một cái, khiến Thẩm Úc ngã thẳng vào lòng mình. Khoảnh khắc cậu nhào tới, dường như Thịnh Xuyên có thể nhìn xuyên qua lớp da thịt, thấy được trái tim đỏ rực đang đập thình thịch trong lồng ng.ực cậu.
Trái tim ấy chi chít vết thương. Một vết do Thẩm lão gia để lại, một vết khác là của Thẩm Nhuận, còn vết sâu nhất, chính anh đã để lại.
Thịnh Xuyên giữ chặt lấy tay cậu, không cho cậu giãy giụa, áp sát bên tai cậu, thấp giọng nói: "Nhưng giờ tôi không muốn nữa."
Anh bỗng dưng không muốn nữa.
Thẩm Úc nghe vậy, cơ thể cứng lại, không quay đầu lại, giọng nói chợt trầm xuống: "Thế anh muốn gì?"
Thịnh Xuyên không đáp. Anh chăm chú nhìn vào góc nghiêng của cậu, ngón tay luồn qua mái tóc đen nhánh, từng chút một phác họa lại đường nét xương gò má và đôi mắt của cậu: "Đợi em khỏi bệnh rồi, tôi sẽ nói cho em biết."
Cậu bị bệnh.
Không ít người đã từng nói với Thẩm Úc như vậy. Đầu ngón tay cậu khẽ run lên, nắm chặt viên thuốc an thần trong túi áo, lực mạnh đến mức gần như nghiền nát viên thuốc. Nhịp thở cậu bất chợt dồn dập, ánh mắt cũng trở nên u tối trong khoảnh khắc.
Thịnh Xuyên lặng lẽ quan sát cảm xúc của cậu. Đợi đến khi nhận ra điều gì đó không ổn, anh liền nắm lấy vai cậu, vỗ nhẹ lên: "Em có biết tôi từng sống ở đâu khi còn nhỏ không?"
Thẩm Úc không trả lời, sắc mặt tái nhợt, nhưng cơn đau nhói trong cơ thể không dữ dội như trước. Cậu nhìn thấy Thịnh Xuyên mở máy tính, thoát khỏi giao diện ban đầu, chuyển sang một bản đồ, khoanh tròn một vùng đất xa xôi và nghèo nàn nhất: "Nhà tôi ở đây."
Không biết tại sao, Thịnh Xuyên bỗng muốn kể cho cậu nghe chuyện thời thơ ấu của mình. Giọng nói của anh trở nên xa xăm, tựa như chiếc chìa khóa vừa mở ra chiếc rương ký ức: "Nơi đó rất nghèo, quanh năm suốt tháng, gió cát mịt mù. Mùa hè đầy rẫy muỗi mòng, mùa đông thì lạnh đến mức không chịu nổi. Hồi ấy, nếu muốn đi học, tôi phải dậy từ khi trời còn chưa sáng, rồi đi bộ hai tiếng đồng hồ đường núi mới đến được trường..."
Thịnh Xuyên chưa từng kể những chuyện này với ai, thậm chí ngay cả bản thân anh cũng không muốn nhớ lại những ký ức ấy. Quá khổ, cũng quá mệt. Anh từng coi nơi ấy như một vũng lầy, liều mạng muốn thoát ra.
"Sau này, tôi trốn khỏi nhà, vừa đặt chân đến thành phố lớn, chẳng quen biết ai, chỉ làm việc bốc xếp trong nhà máy. Một tháng được hai nghìn tệ, bao ăn ở. Nói thật, trong lòng rất không cam tâm. Rồi sau đó..."
Nghèo khó chính là tội lỗi lớn nhất.
Nói đến đây, ánh mắt Thịnh Xuyên cụp xuống nhìn Thẩm Úc, thấy cậu vẫn lặng lẽ lắng nghe. Anh khẽ cười, tiếp tục nói: "Sau đó, tôi gặp Thẩm Nhuận, rồi gặp em..."
Nói xong, anh nheo mắt lại, dường như nhớ đến lần đầu tiên gặp cậu. Đầu ngón tay vô thức vẽ một vòng tròn nhỏ trên áo cậu, giống hình dáng một mặt trời bé xíu, rực rỡ và chói lọi.
Thịnh Xuyên nói: "Trước đây tôi cũng bị bệnh, nhưng sau này tôi phát hiện, trốn tránh chẳng có tác dụng gì, không thừa nhận cũng chẳng ích gì. Thay vì thế, chi bằng chữa khỏi sớm, để khỏi phải khổ suốt cả đời."
Nói xong, anh móc ngón út vào ngón út của Thẩm Úc, khẽ kéo một cái, nghiêm túc nói: "Sau này tôi sẽ không lừa em nữa."
Nghe vậy, Thẩm Úc nghiêng đầu nhìn anh. Đôi mắt cậu đen trắng rõ ràng, đầy tính công kích: "Anh nói không lừa là không lừa? Tôi dựa vào gì để tin anh?"
Mùi khó chịu của cái tính xấu.
Thịnh Xuyên ồ một tiếng, vẻ mặt như cười như không: "Em tin hay không tùy."
Thẩm Úc cười lạnh một tiếng, không đáp, đứng dậy đi về phía bàn làm việc, định xử lý nốt công việc còn dang dở. Nhưng chưa kịp ngồi xuống, cậu bất ngờ bị người phía sau đẩy mạnh áp vào mép bàn, mất thăng bằng, cả người đổ xuống bàn, tài liệu trên bàn cũng rơi lả tả xuống đất.
Căn phòng này ngoài cậu ra thì chỉ còn Thịnh Xuyên, người gây chuyện không ai khác.
Thẩm Úc bị giữ chặt eo, không cách nào đứng thẳng dậy được, tức tối chống tay lên bàn, thấp giọng quát: "Thịnh Xuyên!"
Không có ai đáp lại. Một cánh tay mạnh mẽ vòng qua eo cậu, nhanh chóng tháo dây thắt lưng của cậu ra. Thẩm Úc lập tức hiểu anh định làm gì, giãy giụa: "Đây là thư phòng!"
Thịnh Xuyên kéo áo sơ mi đen của cậu ra khỏi quần, để lộ vòng eo mềm mại, thon gọn, nước da trắng mịn đối lập rõ rệt với màu đen của chiếc áo. Anh cất giọng trầm ổn, nghiêm túc, chỉ là đôi mắt phảng phất ý cười gian xảo: "Ồ? Vậy thì thử xem sao."
Thẩm Úc rên lên một tiếng, không rõ cậu chửi thề điều gì, nhưng chắc chắn là loại văng tục có thể lôi tổ tiên mười tám đời ra mắng.
Mặt bàn lạnh ngắt, Thẩm Úc đành phải nằm úp sấp trên đó, khó chịu đến mức đưa tay cào Thịnh Xuyên hai cái. Tính khí của cậu nổi lên, lúc này trời có sập cậu cũng chẳng buồn để ý: "Tôi không muốn!"
Thịnh Xuyên xoay người cậu lại, một tay giữ lấy sau gáy cậu, cố ý hỏi: "Không muốn? Không muốn cái gì?"
Mắt Thẩm Úc đỏ lên, cả người mềm nhũn, không nói được lời nào. Thịnh Xuyên đưa đầu lưỡi nóng ấm nhẹ lướt qua chân mày, sống mũi và bờ môi của cậu, khắp nơi như có ngọn lửa bùng cháy. Nhưng những tập tài liệu chất đống trên bàn chắn đường làm anh không thoải mái, anh nhìn Thẩm Úc, hỏi ý kiến: "Tôi dọn hết chúng đi nhé?"
Đôi mắt Thẩm Úc đỏ hoe, như một con cá bị vớt khỏi nước, chỉ còn lại chút giãy giụa yếu ớt. Cậu nghe vậy cố tập trung một chút ý thức còn sót lại, phất tay quét hết đống tài liệu xuống đất, rồi nắm chặt vai Thịnh Xuyên, nhỏ giọng mắng: "Mẹ kiếp, có giỏi thì đừng làm trong thư phòng!"
Thịnh Xuyên m.út mạnh môi mỏng của cậu, cố ý cắn nhẹ một cái, như để trừng phạt cái tính nóng nảy của cậu. Anh tháo cà vạt ra, quấn quanh chiếc cổ trắng mảnh mai của Thẩm Úc, giọng trầm khàn: "Dù sao cũng chưa thử bao giờ, thử một lần xem sao."
Tất nhiên, nếu cảm thấy ổn, có lẽ sẽ còn lần thứ hai, lần thứ ba.
Thịnh Xuyên dùng đủ mọi cách để cố ý trêu chọc cậu, đến mức cổ họng Thẩm Úc khóc khàn cả tiếng. Cậu run rẩy ôm chặt lấy cổ anh, đầu ngón tay siết lại, để lại những vệt đỏ trên da anh, rõ ràng là kiểu bản thân khó chịu thì cũng không cho đối phương dễ dàng.
Thịnh Xuyên cảm nhận được sau gáy đau rát, anh hít mạnh một hơi, rồi bật cười: "Ở bên em một lần, tôi như mất nửa cái mạng. Sao em không học lần trước ở khách sạn, ngoan hơn một chút."
Chiếc bàn lạnh lẽo bị hơi ấm cơ thể làm nóng lên. Thẩm Úc vô lực nằm trên đó, lồng ng.ực không ngừng phập phồng, tóc đen thấm đẫm mồ hôi, che khuất ánh mắt. Cậu nghe anh nói, dùng tay chống dậy, lười biếng liếc nhìn anh, cười lạnh chế nhạo: "Ngoan? Ngoan thế nào cơ?"
Chiếc áo sơ mi đen vẫn khoác lỏng lẻo trên người cậu. Thẩm Úc đưa tay nắm lấy cà vạt của Thịnh Xuyên, ép anh cúi xuống, lặng lẽ nhìn anh một lúc, đột nhiên cúi đầu cắn nhẹ vào ống tay áo của mình, ánh mắt vô tội, dáng vẻ ngoan ngoãn như dễ bắt nạt: "A Xuyên..."
Thịnh Xuyên: "..."
Chết tiệt.
Sắc mặt Thịnh Xuyên không cảm xúc, yết hầu khẽ động, anh ôm chặt lấy cậu, bế thẳng ra sofa. Nhưng Thẩm Úc vẫn chưa chịu dừng lại, cắn lấy tay áo, ánh mắt tội nghiệp ngốc nghếch, gọi anh một tiếng: "A Xuyên..."
Thịnh Xuyên như quay trở lại đêm ở khách sạn. Dù anh có trêu chọc cậu thế nào, người dưới thân cũng chỉ biết khóc đến đỏ cả mắt, nghẹn ngào thở dốc, rồi gọi tên anh bằng giọng điệu ngây thơ đơn thuần.
D.ục vọng bị đè nén bấy lâu đột nhiên bộc phát, trong phút chốc lấn át mọi lý trí.
Đôi mắt Thịnh Xuyên ánh lên sắc đỏ nhàn nhạt, trông như muốn nuốt chửng người trước mặt. Thẩm Úc cũng không đóng kịch được nữa, giọng nói vỡ vụn, ý thức mơ hồ nghe được bên tai giọng anh gọi tên mình.
"A Úc..."
Hết lần này đến lần khác.
"A Úc..."
Trong giọng nói dường như ẩn chứa muôn vàn tình cảm, nhưng không cách nào nói ra được, đành gửi gắm hết vào hai tiếng ấy.
"A Úc..."
Cuối cùng, Thịnh Xuyên dồn toàn bộ sức nặng lên người cậu, như trong một giây bốc đồng mà khẽ cắn vào vành tai trắng trẻo của Thẩm Úc, giọng nói mơ hồ: "Em thế nào tôi cũng thích..."
Câu nói vừa thốt ra, không chỉ Thẩm Úc ngẩn người, ngay cả Thịnh Xuyên cũng sửng sốt. Anh khựng lại, cứng đờ người không dám động, một lúc lâu mới cúi đầu nhìn Thẩm Úc, lồng ng.ực phập phồng dữ dội: "..."
Thẩm Úc cũng nhìn anh, nét u ám trên mặt biến mất, dáng vẻ ngây ngô cũng không còn, biểu cảm khó đoán. Thịnh Xuyên nâng tay, nhẹ nhàng ôm lấy gương mặt cậu, hồi lâu không nhúc nhích, thậm chí anh có chút căng thẳng, ngay cả Thẩm Úc cũng nín thở.
Ánh mặt trời ngoài cửa sổ tràn vào phòng, chiếu sáng khắp nơi hỗn loạn vừa rồi. Tài liệu rải rác trên mặt đất, quần áo vương vãi khắp nơi, bụi trong không khí lơ lửng rồi từ từ rơi xuống, cuối cùng trở về sự tĩnh lặng.
Thịnh Xuyên hạ xuống môi cậu một nụ hôn nhẹ như chuồn chuồn lướt nước, chỉ đơn thuần dán lên mà không có hành động nào khác. Sự dịu dàng len lỏi vào tận xương tủy, nhưng lại khiến người ta cảm thấy như vậy còn thân mật hơn những gì vừa xảy ra.
Một lúc sau, Thịnh Xuyên khẽ động, anh nhẹ nhàng hôn lên đôi môi đã đỏ ửng của Thẩm Úc, tăng thêm một sắc thái mềm mại, ướt át và quyến rũ. Ánh sáng mặt trời chiếu thẳng lên cả hai, trong đôi mắt sâu thẳm của Thẩm Úc phản chiếu những tia sáng vàng nhạt, giống như lần đầu anh nhìn thấy cậu, giống như những gì anh từng nghĩ, rằng người này chính là mặt trời của anh: rực rỡ và ấm áp.
Thẩm Úc không hiểu sao lại cúi đầu, rụt rè đáp lại nụ hôn của anh, hành động nhỏ bé, mang theo chút dò xét, chút đề phòng, kết quả chỉ khiến người kia ôm chặt hơn.
Giọng nói của Thịnh Xuyên khàn khàn, tăng thêm một phần mê hoặc khiến người ta đỏ mặt tim đập: "A Úc..."
Thẩm Úc bỗng nhiên căng thẳng, vô thức cắn vào tay áo mình.
Tác giả có lời muốn nói:
#Di chứng giả ngốc#
Người khác giả ngốc: A ba A ba A ba!
Tổng giám đốc Thẩm giả ngốc: Cắn tay áo, cắn tay áo, vẫn là cắn tay áo.
Chương 89
Thịnh Xuyên cúi mắt, thấy Thẩm Úc đang ngẩn ngơ cắn tay áo mình, nghĩ cậu chắc giả ngốc đến mức thành thói quen rồi. Anh thấy buồn cười, nhưng không biểu lộ ra mặt, kéo tay cậu xuống, chỉ nói một chữ: "Bẩn."
Thẩm Úc: "..."
Cậu liếc nhìn tay áo mình, phản ứng chậm nửa nhịp mới nhận ra mình vừa làm chuyện ngớ ngẩn, lập tức buông tay, cười lạnh nói: "Anh quản được sao?"
Cậu cứ muốn cắn đấy, cứ muốn cắn đấy!
Thịnh Xuyên thầm mắng cái tính khí ngang ngược của cậu, vẻ mặt vừa như trêu đùa vừa như nghiêm túc hỏi: "Tôi không quản em, thì ai quản em?"
Bên cạnh Thẩm Úc, giờ chỉ còn mỗi anh.
Chỉ còn lại anh.
Ý thức được điều đó, ánh mắt Thịnh Xuyên bỗng chốc trầm xuống. Thẩm Úc lại không hề hay biết, chỉ nghe anh nói sẽ quản mình, liền quay đầu sang hướng khác, lẩm bẩm một câu gì đó. Chẳng rõ là chửi thề hay nói điều gì khác.
Thịnh Xuyên coi như không nghe thấy, bế cậu từ sofa lên đi thẳng vào phòng tắm, bỏ lại một đống tài liệu bừa bộn trên sàn, lặng lẽ nhắc nhở những gì vừa xảy ra ở đây.
Thời gian sau đó, Thịnh Xuyên bận xử lý việc đăng ký cửa hàng trực tuyến. Chú Thành gửi đầy đủ giấy tờ cần thiết đến, anh dùng danh nghĩa của chú Thành và ba mình để đăng ký một cửa hàng trên mạng. Sau khi hoàn tất các thủ tục liên quan, anh bắt đầu liên hệ với công ty quảng cáo để chuẩn bị bước tiếp theo.
Bên phía công ty thiết kế liên lạc rất nhanh: "Chào anh Thịnh, bên chúng tôi đã chuẩn bị xong hết thiết bị, có thể đến vườn quay video quảng cáo bất cứ lúc nào. Xin hỏi khi nào anh có thời gian?"
Thịnh Xuyên điều hành mọi việc từ xa, đã bỏ ra không ít tiền. Dù việc quay video quảng cáo thực địa có thể giao cho chú Thành xử lý, nhưng anh sợ họ không hiểu rõ, liền cân nhắc một lát rồi nói: "Không vội, đến lúc đó tôi sẽ liên lạc lại với các anh."
Nói xong, anh cúp máy.
Bên ngoài, nhóm vệ sĩ vẫn chưa rút đi. Chỉ cần Thịnh Xuyên đi hơi xa là lập tức bị cản lại. Hiển nhiên, Thẩm Úc vẫn chưa hoàn toàn yên tâm về anh. Sợ ảnh hưởng đến bệnh tình của cậu, anh cũng chưa từng đề cập đến chuyện ra ngoài. Nhưng tình hình này không thể kéo dài mãi.
Trong bếp, dì Lâm đang nấu cơm, tiếng thái rau vọng ra, thêm chút hơi thở đời thường vào căn nhà rộng lớn và lạnh lẽo này. Thẩm Úc không biết là vì dưỡng bệnh hay để canh chừng Thịnh Xuyên mà rất ít đến công ty, phần lớn thời gian đều ở trong thư phòng họp trực tuyến.
Thịnh Xuyên ngồi trên sofa một lát, ước chừng thời gian đã hợp lý liền lên lầu tìm cậu. Thẩm Úc vừa họp xong, thấy anh đến thì tắt màn hình máy tính: "Có chuyện gì?"
Tình trạng tinh thần của cậu dạo này khá hơn trước, nhưng vẫn gầy gò, mang nét u ám.
Thịnh Xuyên đi đến, tựa người vào cạnh bàn làm việc, không nói gì, chỉ giơ tay ra, khẽ cong ngón tay ra hiệu. Thẩm Úc thấy thế liền nheo đôi mắt dài hẹp, đặt tay mình lên tay anh, nhưng không lao vào lòng anh mà dùng sức kéo anh qua.
Thịnh Xuyên dường như đã đề phòng từ trước, không hề nhúc nhích, ngược lại nắm lấy cổ tay cậu, đấu sức ngầm. Cuối cùng, anh vẫn nhỉnh hơn, mạnh mẽ kéo cậu vào lòng.
Thẩm Úc giãy giụa hai cái, rõ ràng là không phục.
Thịnh Xuyên giữ chặt tay cậu đang quơ loạn, cảm thấy cậu luôn tràn đầy sức lực trong những chuyện thế này. Anh siết chặt vòng tay, không lâu sau cậu đã ngoan ngoãn nằm im, ngoan đến bất ngờ.
Thịnh Xuyên hỏi: "Họp xong rồi à?"
Thẩm Úc cựa quậy trong lòng anh, tóc cọ qua cằm anh, mang đến cảm giác ngưa ngứa: "Xong rồi. Anh định làm gì?"
Thịnh Xuyên thấy tò mò, tại sao lần nào cậu cũng hỏi câu này. Ngón tay anh vẽ một vòng tròn trên eo cậu qua lớp áo mỏng, cố ý trêu: "Em nghĩ tôi muốn làm gì?"
Thẩm Úc rõ ràng nghĩ đến chuyện điên rồ lần trước trong thư phòng, khẽ hừ một tiếng, không nói lời nào.
Thịnh Xuyên xoa đầu cậu, giống như đang vuốt lông cho một con mèo, từng chút từng chút. Thẩm Úc híp mắt, lười biếng, trông như đang hưởng thụ. Đột nhiên, anh lên tiếng: "Tôi có việc, phải ra ngoài một chuyến."
Thẩm Úc nghe vậy, cơ thể khựng lại, đôi mắt đen lạnh lùng nhìn anh: "Tôi nói rồi, có giỏi thì nhảy từ lầu hai đi."
Thịnh Xuyên không giận cũng không cáu, ngược lại còn muốn bật cười: "Tại sao không cho tôi ra ngoài?"
Thẩm Úc nhíu mày, tâm trạng vì một câu nói của anh mà lập tức trở nên bực bội: "Không tại sao cả."
Thịnh Xuyên hỏi: "Em sợ tôi bỏ chạy sao?"
Thẩm Úc không đáp, mặc anh nghĩ thế nào thì nghĩ: "Dù sao anh cũng không được ra ngoài."
Trong lòng cậu dường như vẫn còn một nút thắt không thể tháo gỡ, tâm lý vẫn luôn vặn vẹo và cố chấp. Nói xong, cậu không muốn tiếp tục bàn luận về vấn đề này nữa, liền thoát khỏi vòng tay anh, sắc mặt u ám rời khỏi thư phòng.
Thịnh Xuyên đứng tại chỗ, tay vẫn giữ nguyên tư thế vừa nãy, một lúc lâu mới từ từ buông xuống. Anh nhìn về hướng Thẩm Úc rời đi, bước chân theo sau, thấy cậu vào phòng ngủ.
Thẩm Úc gần đây đã kiểm soát được bệnh tình, gần như không còn sử dụng thuốc. Nhưng câu nói nhẹ tênh của Thịnh Xuyên lại như một hòn đá nặng nề, bất chợt phá vỡ sự bình yên trong lòng cậu, khiến cậu cảm thấy nghẹt thở.
Thẩm Úc mặt không cảm xúc giật tung cà vạt, hơi thở gấp gáp, đầu ngón tay không kiềm được mà run rẩy. Cậu lục tung mọi ngăn kéo tìm thuốc an thần nhưng không thấy, mồ hôi lạnh đã thấm ướt cả áo. Cậu không chịu nổi, quét sạch đồ trên bàn xuống đất, một tràng âm thanh vỡ vụn vang lên.
Một món đồ sứ rơi xuống đất vỡ tan, những mảnh vỡ văng gần chân Thịnh Xuyên. Anh vừa vào cửa đã chứng kiến cảnh này, hơi khựng lại. Thẩm Úc cũng nhận ra sự hiện diện của anh, ngẩng đầu nhìn ra cửa. Khuôn mặt cậu tái nhợt, ánh mắt đen sâu thẳm nổi lên những đợt sóng ngầm.
Thịnh Xuyên ngừng lại giây lát, bước vào phòng, thản nhiên vượt qua những mảnh vỡ trên sàn, ngồi xổm trước mặt cậu, giọng điềm tĩnh: "Thuốc của em, tôi đã vứt hết rồi."
Anh nhấn mạnh thêm: "Tất cả đều đã vứt."
Thẩm Úc nhìn thẳng vào anh, lồng ngự.c phập phồng kịch liệt. Nghe xong, cậu siết chặt tay, các khớp ngón tay trắng bệch, như thể đang gắng sức kiềm chế điều gì đó.
Thịnh Xuyên thấy vậy, lau đi mồ hôi lạnh trên mặt cậu, hôn lên đôi môi khô khốc, khẽ hỏi: "Em đang sợ điều gì?"
Em rốt cuộc đang sợ điều gì, Thẩm Úc...
Thẩm Úc không trả lời, có lẽ chính cậu cũng không biết đáp án cho câu hỏi này. Giống như Tống Minh Tuyết từng nói, người mắc bệnh tâm thần thường có sự chiếm hữu cực kỳ mãnh liệt. Nếu cậu chịu chia sẻ một thứ gì đó với một người nào đó, điều đó chứng minh rằng cậu thực sự thích người ấy.
Nhưng ai có thể nói rõ được, sự chiếm hữu ấy là dành cho thứ đó, hay là dành cho người kia?
Thịnh Xuyên cứ thế ôm chặt lấy cậu, không liên quan đến d.ục v.ọng, không liên quan đến gió trăng, mãi đến khi cơ thể lạnh lẽo của Thẩm Úc cuối cùng được anh ủ ấm thêm một chút, anh mới kéo cậu từ mặt đất đứng dậy: "Tôi dẫn em đến một nơi, được không?"
Thẩm Úc ngẩng đầu nhìn anh, khuôn mặt trắng bệch vẫn còn vương mồ hôi mỏng, cả người giống như một bức tranh đen trắng tuyệt đối, không còn thấy bất kỳ sắc màu nào khác. Đầu óc cậu vẫn trong trạng thái mơ hồ, nghe vậy liền hỏi ngược lại, giọng không mang theo cảm xúc: "Anh định chạy?"
Thịnh Xuyên sửa lời: "Tôi không chạy, em đi cùng tôi."
Anh nói, giơ bàn tay đang nắm tay cả hai lên, khẽ lắc lư vài cái, thậm chí còn siết chặt thêm một chút, không để lộ một kẽ hở nào.
Thẩm Úc không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn anh, không biết là đồng ý hay không.
Thịnh Xuyên nhìn cậu như vậy liền xem như là đồng ý, nắm tay cậu kéo xuống lầu. Thẩm Úc chỉ giãy nhẹ một chút rồi ngừng lại, dường như muốn xem thử Thịnh Xuyên định làm gì. Đám vệ sĩ ngoài cửa thấy Thịnh Xuyên bước ra, theo bản năng muốn tiến lên ngăn cản, nhưng lại thấy Thẩm Úc cũng ở bên cạnh, do dự rồi lại lùi về.
Thịnh Xuyên để Thẩm Úc ngồi vào ghế phụ, còn mình ngồi vào ghế lái chính, lái xe rời khỏi biệt thự nhà họ Thẩm. Hôm nay trời nắng đẹp, Thịnh Xuyên hạ cửa sổ xe xuống một chút, có thể lờ mờ ngửi thấy mùi khô ráo của ánh nắng, ven đường lá vàng rơi đầy, bị bánh xe lăn qua cuốn bay tứ tán.
Thịnh Xuyên nhìn về phía Thẩm Úc: "Hôm nay trời đẹp quá."
Thẩm Úc không nói gì, khoảng thời gian này cậu hiếm khi bước ra ngoài, dường như chỉ muốn ở trong căn nhà quen thuộc và kín đáo ấy, giữ lấy những thứ cậu muốn là đủ rồi. Nghe vậy, cậu nhìn thoáng qua phong cảnh ngoài cửa sổ đang lướt qua nhanh chóng, rồi lại thu hồi ánh mắt.
Khoảng chừng nửa tiếng sau, Thịnh Xuyên lái xe lên một con đường ven biển. Thẩm Úc mơ hồ cảm thấy nơi này hơi quen thuộc, vô thức ngồi thẳng người dậy, nghiêng đầu chăm chú nhìn Thịnh Xuyên, giọng trầm thấp: "Anh rốt cuộc muốn đi đâu?"
Hơi thở của cậu rối loạn, cơ thể căng cứng, rất lâu vẫn không thả lỏng.
Thịnh Xuyên giảm tốc độ, thả một tay ra, bàn tay ấy dừng lại trên đầu cậu thoáng chốc như để trấn an, rồi lại nắm chặt vô lăng, thấp giọng nói: "Yên tâm đi, không sao đâu."
Đây là một ngọn núi gần biển, phong cảnh tuyệt đẹp, thuộc tài sản tư nhân của nhà họ Thẩm. Chỉ là nơi này chưa từng được khai thác, vì trước đây Thẩm lão gia từng đích danh nói rằng, sau khi mất, ông muốn được chôn cất ở đây. Về sau, ông thực sự an nghỉ tại đây.
Thịnh Xuyên tìm một chỗ đỗ xe, vòng qua bên kia, kéo Thẩm Úc xuống xe. Thẩm Úc hơi kháng cự nhưng không thể chống lại anh, cuối cùng loạng choạng bị dẫn đến một nghĩa trang.
Thẩm lão gia an nghỉ ở đây, bên cạnh là vợ đã qua đời từ lâu. Bức ảnh đen trắng trên bia mộ hiện lên sự trầm ổn và hiền từ, không còn vẻ nghiêm khắc sắc bén thường ngày. Một tấm bia đá lạnh lẽo ghi lại toàn bộ câu chuyện của cuộc đời ông.
Nơi này có người quét dọn chuyên trách, mỗi ngày đều đặt một bó hoa nhạt màu, nhưng vẫn không ngăn được cỏ dại mọc lan tràn. Thịnh Xuyên cúi xuống nhổ bớt một số, quay đầu lại thì thấy Thẩm Úc đứng im tại chỗ, đôi mắt đỏ hoe nhìn chằm chằm bia mộ kia. Gió biển thổi tung vạt áo cậu, phần phật vang lên.
Có đôi khi, người ta chỉ biết rằng nhà họ Thẩm đổi chủ, nhưng không biết điều đó đồng nghĩa với việc Thẩm Úc mất đi ba mình.
Trong một đêm, dường như cậu có được mọi thứ, nhưng lại mất đi tất cả.
Ông trời chính là thích trêu đùa con người như vậy.
Thẩm lão gia không thích Thịnh Xuyên, thậm chí có thể nói là chán ghét. Ông có đôi mắt đã nhìn thấu mọi sự đời, biết rằng Thịnh Xuyên tiếp cận Thẩm Úc chỉ vì tiền. Vì vậy, những lần gặp nhau ít ỏi giữa họ đều vô cùng không vui, Thịnh Xuyên không ít lần phải chịu khuôn mặt lạnh lùng của ông.
Tuy nhiên, giờ người cũng đã khuất, tính toán chuyện cũ cũng chẳng còn ý nghĩa gì.
Thịnh Xuyên dọn sạch cỏ dại xung quanh bia mộ, thấy trên đó đặt một bó hoa màu nhạt, còn đọng sương sớm. Anh chỉnh lại những cành hoa lộn xộn, sau đó từ từ đứng dậy, cúi người ba lần giữa làn gió biển thổi qua.
Thịnh Xuyên nhìn bức ảnh trên bia mộ, một lúc sau bỗng nói một câu: "Sau này, tôi sẽ chăm sóc tốt cho A Úc..."
Anh sẽ chăm sóc tốt cho Thẩm Úc.
Thịnh Xuyên có thể nói dối một cách hoa mỹ, nhưng những lời thật lòng ít ỏi lại chẳng nghĩ ra được bất kỳ từ ngữ đẹp đẽ nào. Bình thản nhưng nghiêm túc, đó là điều anh đã giấu kín nơi sâu thẳm trong lòng, phải trải qua hai kiếp mới có thể thốt ra được.
Không biết từ lúc nào, Thẩm Úc đã ngồi xổm xuống. Đôi mắt cậu đỏ hoe, khuôn mặt vùi vào đầu gối, cố gắng kìm nén tiếng nấc nghẹn ngào trong cổ họng. Nhưng bờ vai không ngừng run rẩy, hai tay dần siết chặt đầu gối, tấm lưng cô độc như một đứa trẻ mất cha, không còn gì cả.
Cậu không thể buông bỏ Thịnh Xuyên, vì sau khi ba qua đời, anh là người duy nhất trên thế gian mà cậu để tâm.
Là thứ duy nhất có thể nắm giữ trong lòng bàn tay trống rỗng.
Thịnh Xuyên không nói gì, anh từ phía sau nhẹ nhàng ôm lấy Thẩm Úc. Trước mắt là biển xanh bao la không thấy bờ, cùng với chất lỏng nóng hổi rơi trên mu bàn tay anh, cũng mặn chát như nước biển: "A Úc..."
Thịnh Xuyên nói: "Anh sẽ không rời đi đâu, sau này anh còn phải chăm sóc tốt cho em."
Nói xong, anh hôn lên một bên mặt của Thẩm Úc, từng chút một hôn đi những giọt nước mắt mặn chát ấy, nuốt trọn tiếng nức nở của đối phương vào trong cổ họng. Quấn quýt rất lâu sau, họ mới từ từ tách ra.
Thẩm Úc không biết vì sao, không nói lời nào. Thịnh Xuyên cho cậu thời gian để bình tâm lại, cùng cậu lặng lẽ ở lại khu mộ một lúc. Thấy trời đã không còn sớm, anh mới nắm tay cậu bước về phía xe.
Mặt trời không biết từ lúc nào đã lặn, chậm rãi chìm xuống đường chân trời. Mặt nước lấp lánh ánh sáng, phản chiếu bầu trời cam rực rỡ, tựa như một bức tranh đầy màu sắc.
Thẩm Úc cúi đầu, nhìn bàn tay hai người đang nắm lấy nhau, đột nhiên cất giọng khàn khàn hỏi: "Anh định đi đâu?"
Bước chân của Thịnh Xuyên khựng lại khi nghe vậy. Một lúc sau, anh mới nhận ra Thẩm Úc đang hỏi gì: "Anh về quê một chuyến."
Thẩm Úc ngẩng lên nhìn anh, giọng không rõ cảm xúc: "Về quê làm gì?"
Thịnh Xuyên nghe vậy cười cười, lại thở dài, lặng lẽ quan sát cậu, một lúc sau mới trêu chọc: "Bán cam, đi không?"
Thẩm Úc: "......"
Chương 90
Một chiếc lá che mắt, không thấy được Thái Sơn.
Trước đây, Thịnh Xuyên đặt lợi ích lên hàng đầu, nên tình cảm và lương tâm đều phải nhường chỗ, không nhìn thấy những thứ khác. Giờ đây khi chiếc lá ấy đã được gỡ xuống, anh dường như cuối cùng có thể đối diện với lòng mình.
Tình cảm giữa họ kéo dài hai kiếp, sâu sắc và phức tạp hơn nhiều so với người ngoài tưởng tượng. Dù lạnh lùng như Thịnh Xuyên, anh cũng không thể hoàn toàn buông bỏ, chỉ là trước đây không muốn thừa nhận mà thôi.
Anh nghĩ, có lẽ mình thật sự thích Thẩm Úc...
Thẩm Úc là người đầu tiên mà Thịnh Xuyên có sự tiếp xúc thân mật trong cả hai kiếp này. Dù ban đầu là vì lợi ích, mọi sự nhẫn nại và bao dung của anh đều dành cho cậu, mọi sự yêu chiều cũng đều dành cho cậu. Cậu là sự tồn tại đặc biệt nhất trong đời anh.
Hầu hết những hậu quả xấu đều do một tay Thẩm Nhuận gây ra, nhưng tổn thương sâu sắc nhất chỉ có người mà ta để tâm nhất mới có thể để lại. Chính tay Thịnh Xuyên đã từng chút từng chút biến Thẩm Úc thành con người như hiện tại.
Chàng trai kiêu ngạo và ngông cuồng như ánh mặt trời ấy, bị kéo thẳng xuống vực sâu.
Thẩm Úc không hiểu tình cảm của Thịnh Xuyên, vì anh quá kín đáo, chưa bao giờ thổ lộ với cậu lấy một lời. Cậu thậm chí nghĩ rằng lý do Thịnh Xuyên ở lại bên mình, chỉ đơn giản là vì đám vệ sĩ ngăn ngoài kia, hay chỉ vì sự cưỡng ép của cậu.
Thịnh Xuyên nói sẽ chăm sóc cậu là thật. Tại mộ phần của Thẩm lão gia, anh nói như vậy, chỉ để cậu biết rằng mình không hề nói dối.
Cả đời này, Thịnh Xuyên có thể nói dối bất cứ điều gì, nhưng không thể lừa được quỷ thần, cũng không thể lừa được người đã khuất.
Cơn gió biển mằn mặn thổi đến, mang theo chút hơi ấm cuối cùng của hoàng hôn. Thịnh Xuyên cứ thế tựa người lười biếng vào thân xe, nhìn Thẩm Úc mà cười, lại hỏi lần nữa: "Sao nào, có muốn theo anh về nhà bán cam không?"
Thẩm Úc không ngờ được rằng Thịnh Xuyên về quê là để bán cam. Nghe vậy cậu nghẹn lời, một hồi lâu không nói nổi câu nào. Thịnh Xuyên kiên nhẫn nhìn cậu: "Không nói gì tức là đồng ý rồi nhé?"
Thẩm Úc lập tức ngẩng lên, giọng không vui: "Ai đồng ý chứ?"
Thịnh Xuyên nhún vai: "Vậy là không đồng ý?"
Thẩm Úc không cần nghĩ đã phản bác: "Ai nói em không đồng ý?"
Thịnh Xuyên cười cười, mở cửa xe bước lên: "Dù em có đồng ý, anh cũng không dẫn em theo."
Thẩm Úc thấy vậy liền vòng sang bên kia, ngồi vào ghế phụ rồi đóng cửa cái rầm, cau mày hỏi: "Dựa vào đâu mà không dẫn em theo?"
Thật ngang ngược.
Thịnh Xuyên quay xe lại, lái lên đường lớn, vừa nửa thật nửa đùa lý luận với cậu: "Nhà em là bán nhà, nhà anh là bán cam, tám đời chẳng liên quan."
Nói xong, chính anh cũng muốn bật cười.
Thẩm Úc hừ lạnh một tiếng, bề ngoài có vẻ điềm tĩnh, nhưng nếu cậu là một con vật lông lá, lúc này chắc đã dựng đứng cả lông chờ người dỗ. Quả nhiên, Thịnh Xuyên liền dỗ cậu, nửa cười nửa không: "Tám đời chẳng liên quan, giờ thì liên quan rồi, em nói có đúng không?"
Thẩm Úc cố ý quay đầu tránh ánh mắt anh, nhìn ra cửa sổ xe, nơi đường chân trời ngoài biển không ngừng thay đổi, im lặng không nói. Những cảnh vật ấy phản chiếu rõ ràng trong đôi mắt cậu, dường như xua tan đi một phần bóng tối trong lòng.
Cậu khẽ nhắm mắt lại, không hiểu vì sao vẫn không trả lời. Mãi đến khi vùng biển ấy đã bị xe bỏ lại phía sau, chỉ còn mờ dần ở phía xa, cậu mới đột nhiên nói một câu: "Đừng lừa em..."
Câu này cậu đã nói rất nhiều lần, nhiều đến mức bản thân cũng không đếm được, nhưng Thịnh Xuyên vẫn không làm được, lừa cậu hết lần này đến lần khác.
Nghe vậy, Thịnh Xuyên theo bản năng liếc nhìn cậu, vô thức giảm tốc độ xe. Một số chuyện cũ chợt hiện lên trong đầu anh, khiến anh ngẩn người. Phải đến khi định thần lại, anh mới xoa xoa đầu Thẩm Úc: "Lừa em anh là chó con."
Thẩm Úc liếc xéo anh, rõ ràng không hài lòng với câu trả lời này.
Thịnh Xuyên cười nói: "Nếu sau này anh còn lừa em, thì phạt anh bị em nhốt cả đời, thế nào?"
Nghe vậy, Thẩm Úc mới chịu thu lại ánh mắt, dường như cuối cùng cũng có chút vừa lòng, rồi không tình nguyện thốt lên một chữ: "Bán."
Hàng mi Thịnh Xuyên khẽ giật: "Bán gì?"
Thẩm Úc cau mày: "Bán cam!"
Phiền thật.
.
Người làm kinh doanh, ai mà chẳng muốn kiếm được nhiều tiền. Trước đây, chú Thành tuy chưa từng nghĩ đến điều đó, nhưng sau khi được Thịnh Xuyên gợi ý, trong lòng cũng nảy ra chút ý tưởng. Chú liền cùng Thịnh Giang Hà bàn bạc suốt một đêm, gom toàn bộ số tiền có thể xoay sở để làm vốn đầu tư ban đầu.
Thịnh Xuyên hẹn thời gian với đội thiết kế của công ty quảng cáo, vừa kịp trở về quê khi cam vào vụ thu hoạch. À, lần này còn có cả Thẩm Úc – vị chủ tịch tập đoàn Thẩm thị danh tiếng, đột nhiên lại quyết tâm về vùng quê nghèo khó để xem cam. Chuyện này quả thực khiến người ta không khỏi thắc mắc.
Nhóm thiết kế đang bận rộn quay video quảng cáo và tư liệu tuyên truyền trong vườn cam. Thịnh Xuyên phụ trách trao đổi về hiệu quả với họ. Sau khi thấy không có vấn đề gì, anh đứng sang một bên. Thẩm Úc mặc bộ đồ đen giản dị, đội mũ lưỡi trai, lười nhác tựa dưới một gốc cây cam. Cậu nhìn quanh vài vòng, có vẻ như chưa từng đến nơi thế này, đến mức nhìn thấy một con châu chấu cũng phải ngạc nhiên cả nửa ngày.
Dù nói vậy có vẻ không được hay lắm, nhưng Thịnh Xuyên bỗng thấy cậu như một kẻ ngốc. Anh bước đến bên cạnh Thẩm Úc, tiện tay hái một quả cam từ trên cây, bóc vỏ đưa cho cậu, nửa cười nửa không: "Nếm thử xem."
Thẩm Úc vốn đã muốn ăn từ trước, nhưng lại không dám tự hái. Thấy vậy liền nhận lấy, ăn một múi. Vị chua ngọt xen lẫn, nước lại nhiều. Thịnh Xuyên lại hái thêm vài quả từ nhánh cao hơn: "Cây này hướng nắng, quả trên cao ngọt hơn."
Lần này, anh hiếm hoi không mặc áo sơ mi hay vest. Dù vẫn mang nét trí thức, nhưng so với thường ngày, anh trông giống một chàng trai trẻ tràn đầy sức sống hơn, cả vạt áo cũng như thấm đẫm ánh nắng rực rỡ.
Thẩm Úc liếc nhìn anh một cái, nhướn mày: "Anh hái thêm thì không còn gì để bán nữa đâu."
Thịnh Xuyên dùng tay chống lên thân cây. Ánh nắng lọt qua kẽ lá rơi xuống lưng anh, tạo thành những đốm sáng lớn nhỏ. Từ góc độ này nhìn lại, dường như anh đang bao bọc lấy Thẩm Úc trong vòng tay. Đôi mắt sáng màu của anh chứa đựng nụ cười dịu dàng: "Trước tiên để em ăn đã. Ăn không hết thì bán."
Thẩm Úc hơi bối rối quay mặt đi, khẽ "xì" một tiếng: "Ai thèm chứ."
Ánh mắt Thịnh Xuyên dừng lại ở quả cam trong tay cậu: "Không thèm thì trả anh."
Thẩm Úc ăn xong quả cam trong vài ba miếng, sau đó nhét đống vỏ cam vào lòng bàn tay Thịnh Xuyên, thờ ơ nói: "Trả lại cho anh, cầm lấy đi."
Hành động khiến người ta tức đến nghiến răng.
Thịnh Xuyên nhìn đống vỏ cam trong tay, mãi mới nghĩ ra là thứ này có thể làm trần bì. Tất nhiên, đó không phải trọng điểm.
Thẩm Úc đứng ở một góc khá hẻo lánh, chỉ cần nhìn vẻ mặt "cười mà như không cười" của Thịnh Xuyên, cậu liền đoán được đối phương định làm gì mình. Cậu quay người định chuồn, nhưng bị anh nhanh tay lẹ mắt kéo lại.
Thịnh Xuyên đẩy cậu tựa vào thân cây, tán lá rậm rạp trở thành chiếc ô che chắn tốt nhất cho cả hai. Không khí phảng phất mùi đất, ánh nắng hơi gay gắt, ý cười nơi khóe miệng dịu dàng, nhưng ánh mắt lại khiến người ta có chút run rẩy: "Em trốn cái gì?"
Thẩm Úc liếc nhìn xung quanh, thấy không có ai để ý đến đây, nhướng mày nhắc nhở: "Đây là vườn cam."
Thịnh Xuyên: "Không sao, là của nhà anh."
Thẩm Úc: "..."
Cậu vừa định nói gì, thì đột nhiên bị anh áp lên thân cây hôn, một nụ hôn ngắn ngủi nhưng mãnh liệt. Khi cậu chưa kịp đẩy ra, đối phương đã lập tức rời đi, lại còn nhét đống vỏ cam kia vào tay cậu.
Thẩm Úc tức chết.
Việc quay quảng cáo mất hai, ba ngày mới xong. Trong thời gian này, đội ngũ làm việc đều ở lại trấn trên. Thẩm Úc và Thịnh Xuyên, sợ ba mẹ của anh phát hiện ra điều gì, cũng chọn ở lại trấn trên, chỉ trở về nhà ăn một bữa cơm vào ngày cuối cùng trước khi rời đi.
Thịnh Giang Hà có ấn tượng khá tốt về Thẩm Úc, nhưng không nghĩ ngợi nhiều, chỉ cho rằng cậu là đối tác làm ăn của Thịnh Xuyên. Ông luôn tươi cười, liên tục mời cậu ăn nhiều một chút. Vì sợ hai người lớn nhận ra điều gì, lúc ăn cơm, Thẩm Úc luôn giữ khoảng cách một cánh tay với Thịnh Xuyên, trông rất yên tĩnh.
Thịnh Giang Hà biết Thịnh Xuyên đã đổ rất nhiều tiền vào giai đoạn đầu, nên khi ăn cơm, ông vừa hút điếu thuốc lào vừa muốn nói gì đó nhưng lại thôi. Cuối cùng, trước khi Thịnh Xuyên rời đi, ông mới lôi từ trong tủ quần áo ra một chiếc thẻ ngân hàng, lén lút nhét vào tay anh mà không nói gì, chỉ bảo: "Cầm lấy mà dùng."
Rồi ông khoác áo, quay người vào phòng.
Thịnh Xuyên khựng lại một chút, nhưng không từ chối. Giai đoạn đầu khởi nghiệp đúng là cần nhiều vốn. Đợi sau này kiếm được tiền, anh sẽ trả lại cho họ. Sau đó, anh nghe mẹ mình lải nhải dặn dò thêm vài câu, rồi mới rời đi.
Thẩm Úc ngồi trong xe, thấy anh bước lên thì hỏi: "Sao vậy?"
Thịnh Xuyên đưa chiếc thẻ ngân hàng ra cho cậu xem: "Không sao, người lớn trong nhà đưa một ít tiền thôi."
Thẩm Úc biết anh gần đây đang làm ăn buôn bán, nghe vậy, vừa định nói gì thì đã bị anh chặn lời: "Không cần, lần này để anh tự thử sức."
Dường như anh đã đoán được cậu định làm gì. Mặc dù việc kinh doanh của tập đoàn Thẩm thị không liên quan đến lĩnh vực này, nhưng chỉ cần nhờ vả vài mối quan hệ trong giới, mở lời một chút, con đường này sẽ dễ dàng hơn nhiều. Ấy vậy mà, Thịnh Xuyên từ chối.
Thẩm Úc cố ý hỏi: "Nhỡ lỗ vốn thì sao?"
Thịnh Xuyên khởi động xe: "Em không thể mong anh may mắn một chút à? Lỗ thì em nuôi anh."
Thẩm Úc chống tay dưới cằm, nghe vậy liếc nhìn anh: "Thế nếu kiếm được tiền thì sao?"
Thịnh Xuyên nói: "Kiếm được thì anh nuôi em."
Đơn giản vậy thôi.
Cảm xúc của Thẩm Úc luôn dễ dàng bị anh điều khiển. Nghe xong, dù không nói gì, nhưng rõ ràng tâm trạng cậu vui lên thấy rõ. Cậu đưa tay chọc vào chân Thịnh Xuyên, nhưng bị anh nắm lại: "Đừng nghịch, anh đang lái xe."
Thẩm Úc khẽ hừ một tiếng, định rút tay về, nhưng rút hai lần vẫn không được. Cậu nhướng mày nhìn Thịnh Xuyên, mà anh lại không nhìn cậu, chỉ khẽ gãi lòng bàn tay cậu một cái rồi mới chịu buông ra.
Thẩm Úc bĩu môi: "Đồ kín đáo mà dâm."
Hiệu suất của công ty quảng cáo rất cao. Không lâu sau, video quảng bá đã được chỉnh sửa xong, hiệu quả thành phẩm khá tốt. Tiếp theo là bước thu hút lưu lượng truy cập để bán hàng, cũng là bước tiêu tốn nhiều tiền nhất.
Thịnh Xuyên âm thầm liên hệ với một số blogger nổi tiếng trong lĩnh vực bán hàng trực tuyến, mời họ làm đánh giá sản phẩm. Đa phần các blogger này đều rất coi trọng danh tiếng của mình, không vì kiếm tiền mà dễ dàng giới thiệu những thứ lung tung, cũng không dễ dàng nhận quảng cáo. Họ chỉ đơn thuần làm đánh giá rồi đưa ra nhận xét về sản phẩm, thu hút người hâm mộ đến mua hàng.
Thịnh Xuyên không chỉ tìm blogger trong lĩnh vực bán hàng, mà còn cả những blogger chuyên về ẩm thực. Nước cam, bánh cam, kẹo cam, chỉ cần liên quan là anh đều liên hệ hết. Trong khoảng thời gian sau đó, anh liên tục chạy qua chạy lại giữa các nơi, vừa đàm phán hợp đồng với công ty vận chuyển, vừa hướng dẫn chú Thành và mọi người cách đóng gói và gửi hàng. Dù sao thì trái cây không giống những thứ khác, để lâu hoặc bị va chạm dễ hỏng, nên việc đóng gói phải đặc biệt cẩn thận. Không lâu sau, công việc kinh doanh cuối cùng cũng đi vào guồng quay. Giống như ví tiền bị hao hụt nghiêm trọng, cân nặng của Thịnh Xuyên cũng giảm đáng kể.
Anh thực sự gầy đi rất nhiều, thân hình cũng săn chắc hơn, nhưng mặc quần áo vào lại không mấy rõ. Anh vẫn giữ dáng vẻ nho nhã thư sinh, chẳng nói chẳng rằng cũng đủ khiến người ta mắc bẫy, đầu óc toàn mưu mẹo.
Thẩm Úc bước ra khỏi phòng, thấy anh đang ngồi trên ghế sofa, bên cạnh đặt một chiếc máy tính. Cậu đứng trên lầu nhìn anh một lúc, sau đó đi xuống, bước thẳng đến chỗ anh.
Cậu chiếm luôn chỗ của anh, đặt máy tính sang bàn trà, rồi tự động ngồi vào lòng anh, ngón tay chọc vào bờ vai ngày càng rắn chắc của Thịnh Xuyên. Sau đó, ánh mắt lại chuyển sang khuôn mặt trắng trẻo chẳng bao giờ rám nắng của anh: "Làm ăn thế nào rồi?"
Thịnh Xuyên đưa máy tính cho cậu xem. Số tiền quảng bá đổ vào giai đoạn đầu không uổng phí, thu hút được rất nhiều khách hàng. Cộng thêm chất lượng quả cam đảm bảo, khách hàng quay lại rất nhiều, doanh số bán hàng mỗi ngày đều tăng lên, hiện tại đã bắt đầu có lãi.
Thịnh Xuyên nói: "Nhân lực trong vườn cam không đủ, chú Thành định thuê thêm vài công nhân. Nếu năm sau mọi thứ phát triển ổn định, có lẽ sẽ mở rộng thêm diện tích trồng..."
Nói xong, anh đột nhiên rơi vào một khoảng trầm lặng kỳ lạ. Dù sao thì trước khi hệ thống xuất hiện, mục tiêu của Thịnh Xuyên là giành được tài sản nhà họ Thẩm, trở thành tổng tài, chủ tịch hội đồng quản trị. Nhưng giờ đây, anh lại đang làm nghề bán cam. Tâm trạng anh lúc này thật khó diễn tả.
Thẩm Úc ngồi trong lòng anh, đung đưa đôi chân, nghiêng đầu nhìn anh, nhướng mày cười hỏi: "Vậy rốt cuộc là anh kiếm được hay không?"
Thịnh Xuyên móc ngón út của mình vào ngón tay cậu, nhẹ nhàng kéo một chút. Cái cúi đầu của anh khiến hai từ "tuấn tú" và "ôn hòa" đạt đến cực hạn. Giọng nói trầm ấm của anh cất lên: "Dù kiếm được hay không, anh vẫn sẽ nuôi em, được không?"
Nghe vậy, Thẩm Úc vui trong lòng nhưng lại không thể hiện ra ngoài. Trong mắt cậu, dù anh kiếm được bao nhiêu thì cũng chỉ là số tiền nhỏ, điều cậu quan tâm chỉ là thái độ của anh: "Anh định nuôi em thế nào đây?"
Thịnh Xuyên ngừng lại một chút, ánh mắt trong khoảnh khắc lóe lên sự ranh mãnh như một con cáo, rồi nghiêm túc nói:"Nếu đói, anh sẽ cho em ăn cam. Ăn sáng, ăn trưa, ăn tối, ăn đến no mới thôi."
Thẩm Úc: "..."
Chương 91
Từ lần cuối cùng Tống Minh Tuyết đến nhà họ Thẩm, đã qua một khoảng thời gian khá dài. Cô mang theo hộp thuốc đứng ở cửa, trong đầu nhớ lại lời Thịnh Xuyên nói trong cuộc gọi, rằng muốn cô kiểm tra tình trạng của Thẩm Úc. Thực ra, cô hơi do dự.
Trên thế giới này, bệnh khó chữa nhất không phải là bệnh lý trên cơ thể, mà là bệnh tâm lý. Tính cách của Thẩm Úc vốn dĩ đã có phần cực đoan, Tống Minh Tuyết rất khó dự đoán được tình trạng hiện tại của cậu là tốt hay xấu. Chắc chắn rằng, Thịnh Xuyên sẽ không vô cớ liên lạc với cô. Một khi đã gọi điện, chắc chắn là có vấn đề xảy ra.
Tuy nhiên, suy đoán này lập tức bị phá vỡ khi cô đẩy cửa bước vào.
Lúc ấy, Thịnh Xuyên đang ngồi trên ghế sofa trong phòng khách, vừa làm việc trên máy tính vừa chờ Tống Minh Tuyết đến. Nghe thấy tiếng động khi dì Lâm mở cửa, anh theo phản xạ nhìn qua, rồi đứng dậy khỏi sofa.
Thịnh Xuyên mỉm cười: "Mời ngồi."
Gần đây anh bận rộn công việc, mắt có chút mỏi, trên sống mũi đeo một chiếc kính gọng bạc. Ánh sáng lóe lên trên tròng kính tạo cho anh vẻ trầm ổn nghiêm túc, vừa trong trẻo lạnh lùng, giống như một người tinh anh đang ngồi trong tòa cao ốc văn phòng.
Dường như chưa quen lắm, khi không làm việc, anh tháo kính ra ngay. Điều này khiến khí chất anh trở nên dịu dàng như gió xuân. Tống Minh Tuyết nhạy bén nhận ra anh dường như đã khác trước, nhưng lại không nói rõ được là khác ở điểm nào. Cô ngồi xuống sofa, đưa mắt nhìn quanh một vòng, nhưng không thấy bóng dáng Thẩm Úc đâu: "Có phải bệnh tình của cậu Thẩm có dấu hiệu tái phát không?"
Nghe vậy, Thịnh Xuyên định trả lời, nhưng lại nghe thấy tiếng bước chân. Ngẩng đầu lên, anh thấy Thẩm Úc từ trên lầu đi xuống, liền ngừng nói, chỉ khẽ liếc mắt ra hiệu với Tống Minh Tuyết.
Thẩm Úc hiển nhiên không ngờ Tống Minh Tuyết sẽ đến, bước chân trên cầu thang khựng lại một chút, sau đó liền khôi phục dáng vẻ bình thường. Cậu kín đáo liếc mắt nhìn Thịnh Xuyên một cái, rồi tự nhiên ngồi xuống bên cạnh anh, gật đầu chào hỏi Tống Minh Tuyết.
Tinh thần ổn định, cảm xúc bình thường, thái độ lịch sự.
Tống Minh Tuyết lặng lẽ quan sát Thẩm Úc, không thấy cậu có điểm nào bất thường, liền nghi hoặc nhìn sang Thịnh Xuyên, nhưng anh không bắt được ánh mắt cô, chỉ chăm chú nhìn Thẩm Úc.
Thịnh Xuyên không nói rằng Tống Minh Tuyết là do anh mời đến, chỉ nhẹ nhàng giải thích: "Bác sĩ Tống hôm nay đến để tái khám cho em."
Thẩm Úc trước đây rất kháng cự việc này, nghe vậy vẫn có chút không thoải mái. Dù sao thì không ai muốn thừa nhận mình có bệnh. Nhưng có lẽ do tâm trạng gần đây đã bình lặng hơn, cậu không biểu hiện quá lo âu, chỉ hơi miễn cưỡng: "Tùy."
Tống Minh Tuyết hiểu ý trong lời nói của cậu, mở sổ ghi chép, giọng điệu nhẹ nhàng như đang trò chuyện cùng bạn bè: "Dạo này giấc ngủ của cậu thế nào?"
Thẩm Úc bắt chéo chân, suy nghĩ một lúc rồi đáp: "Cũng tạm."
Tống Minh Tuyết đánh một dấu tích vào mục giấc ngủ: "Chế độ ăn uống có đều đặn không?"
Có Thịnh Xuyên quản thúc, muốn không đều cũng khó. Thẩm Úc nói: "Đều đặn."
Vẻ mặt Tống Minh Tuyết dường như thoải mái hơn một chút: "Vậy... dạo gần đây còn gặp ác mộng không?"
Lần này, Thẩm Úc ngừng lại một chút mới trả lời: "Có, nhưng rất ít."
Thịnh Xuyên ngồi bên cạnh, lặng lẽ lắng nghe. Anh biết Thẩm Úc có bệnh, vì thế hơn ai hết, anh mong cậu khỏi bệnh. Nhưng vì không phải bác sĩ, anh vẫn muốn tìm Tống Minh Tuyết xác nhận mới yên tâm.
Buổi kiểm tra lần này rất kỹ lưỡng. Tống Minh Tuyết không hay biết mình đã viết kín cả một trang giấy, từng câu hỏi đôi khi khá sắc bén, nhưng Thẩm Úc đều nhẫn nại trả lời. Có thể nhận ra rằng cậu đã khá hơn trước rất nhiều.
Cuối cùng, cô đặt bút xuống, cẩn thận xem lại ghi chép của mình, rồi so sánh với những lần khám trước, sau đó khép sổ lại một cách nhẹ nhàng, nở nụ cười dịu dàng: "Cậu Thẩm hồi phục rất tốt, cơ bản đã không còn vấn đề gì lớn. Thi thoảng có thể ra ngoài đi dạo, giữ tâm trạng vui vẻ là được."
Nghe vậy, trong lòng Thẩm Úc bất giác thở phào nhẹ nhõm. Cậu cúi đầu, xòe đôi tay thon dài ra nhìn thoáng qua, rồi lặng lẽ nắm lại. Trên lòng bàn tay không biết từ khi nào đã lấm tấm mồ hôi lạnh.
Cậu cũng sợ mình có bệnh...
Tâm trạng của Thịnh Xuyên cũng không khác cậu là bao. Nghe vậy, nét mặt anh cũng giãn ra. Thấy Tống Minh Tuyết dường như chuẩn bị rời đi, anh đứng dậy khỏi sofa, nói: "Tôi tiễn cô ra ngoài."
Tống Minh Tuyết không từ chối. Cô xách hộp thuốc đi ra cửa, nhớ lại lần trước đến, lá cây rụng đầy mặt đất, giờ đây lại sạch sẽ, cành cây đã nhú những chiếc lá non xanh biếc, tràn đầy sức sống.
Thịnh Xuyên ngoái đầu nhìn lại, thấy Thẩm Úc vẫn ngồi trong phòng khách, khép hờ cánh cửa, khẽ hỏi: "Bệnh của em ấy thực sự đã khỏi chưa?"
Tống Minh Tuyết đút tay vào túi áo, có chút bất đắc dĩ, nhưng vẫn đùa: "Thịnh tiên sinh, xin hãy tin vào chẩn đoán của bác sĩ."
Vậy tức là không còn vấn đề gì nữa.
Thịnh Xuyên đứng trên bậc thềm, dáng người càng thêm cao ráo, khẽ nói: "Tôi biết em ấy đã khá lên nhiều, nhưng vẫn muốn xác nhận thêm."
Từ không bận tâm trở nên quan tâm, có lẽ là như vậy. Thịnh Xuyên nhớ lại khoảng thời gian Thẩm Úc tinh thần hỗn loạn, vẫn cảm thấy như mới hôm qua.
Tống Minh Tuyết hiểu sự lo lắng của anh: "Cậu Thẩm về cơ bản không còn vấn đề gì lớn, giống như một món đồ sứ từng bị vỡ, đã được người ta tỉ mỉ ghép lại. Nhưng nếu bị vỡ thêm lần nữa, sẽ không thể ghép lại được."
Câu nói này mang ý tứ sâu xa.
Nghe vậy, Thịnh Xuyên ngẩn người, sau đó lắc đầu, đáp: "Sẽ không có chuyện đó."
Anh nói rất nghiêm túc, khiến Tống Minh Tuyết cũng tin tưởng. Cô là bác sĩ, chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân luôn là niềm vui, liền cười: "Được thôi, hy vọng sau này hai người không cần tìm đến tôi nữa."
Nói xong, cô rời đi.
Thịnh Xuyên dõi theo bóng cô khuất xa, rồi xoay người chuẩn bị vào nhà. Nhưng lại thấy Thẩm Úc đang tựa vào cửa sổ, không biết đã đứng nhìn từ lúc nào. Anh bước đến, mở cửa sổ ra, chống tay lên bệ cửa, hỏi: "Đứng nhìn lén gì thế?"
Nghe vậy, Thẩm Úc gõ nhẹ ngón tay lên lớp kính trong suốt, mặt mày khó chịu: "Nhìn lén cái gì? Em nhìn đường đường chính chính mà."
Dứt lời, cậu nắm lấy cà vạt của Thịnh Xuyên, kéo mạnh khiến anh phải tiến sát lại gần, đầy vẻ như đang chất vấn, ghé vào tai anh hỏi: "Bác sĩ là anh mời tới?"
Thẩm Úc nói chuyện, hơi thở nóng bỏng phả lên cổ khiến Thịnh Xuyên có chút ngứa, anh hơi nghiêng đầu, nhịn cười đáp: "Ừ, là anh mời tới."
Lời vừa dứt, bờ môi liền bị phủ lên bởi một cảm giác ấm áp, Thẩm Úc nhẹ nhàng cắn một cái, giọng nói nửa thật nửa đùa vang lên bên tai anh: "Dù có bệnh hay không, em cũng sẽ không buông tha cho anh."
Thịnh Xuyên từng nghĩ rằng Thẩm Úc chỉ coi anh như một món đồ chơi để tiêu khiển, nên anh luôn tự nhắc nhở mình đừng quan tâm đến bất cứ điều gì về cậu. Nhưng bây giờ nghĩ lại, ngay từ đầu anh đã có suy nghĩ sai lầm.
Thẩm Úc đã đường đường chính chính đưa Thịnh Xuyên vào nhà họ Thẩm, không ngại đối đầu với ông cụ để ở bên anh, chính là không muốn người khác coi anh như một thứ vô dụng, có cũng được mà không có cũng không sao. Chỉ tiếc rằng lúc đó Thịnh Xuyên đã không nhận ra.
Thịnh Xuyên nâng mặt Thẩm Úc lên, không nói lời nào, cúi đầu hôn lên môi cậu, nụ hôn sâu và dịu dàng, Thẩm Úc không khỏi thở dồn dập, đẩy anh ra. Hai người cuối cùng tách nhau ra, nhưng trán vẫn tựa vào nhau, đầu mũi chạm vào đầu mũi.
Thịnh Xuyên thuật lại lời của Tống Minh Tuyết: "Bác sĩ Tống nói bệnh của em đã khỏi rồi."
Thẩm Úc vẫn cố chấp, dáng vẻ ngạo nghễ như mình là lớn thứ hai sau trời đất: "Em vốn không có bệnh."
Thịnh Xuyên không ghét tính cách này của Thẩm Úc, ngược lại, anh hy vọng cậu mãi mãi kiêu ngạo, mãi mãi phóng túng, muốn chiều chuộng cậu trở lại dáng vẻ ngang ngạnh như trước kia.
"Được, em nói sao cũng đúng."
"Thật không?"
"Thật."
Thịnh Xuyên đứng thẳng người, chuẩn bị vào nhà, nhưng đột nhiên thấy một ánh sáng màu xanh lam từ người mình bay ra. Một thân hình tròn trĩnh, phía sau có đôi cánh nhỏ đang vỗ phành phạch, chính là hệ thống đã lâu không xuất hiện.
Thịnh Xuyên khựng lại, theo anh biết, hệ thống thường sẽ không xuất hiện nếu không có chuyện gì quan trọng. Anh liền hỏi:
"Sao vậy?"
Hệ thống 009 bay quanh anh một vòng, sau đó chầm chậm hạ xuống, ngang tầm mắt của anh:
【Ký chủ, tôi phải đi rồi~】
Thịnh Xuyên: "Ý là gì?"
Hệ thống giải thích:【Anh đã thành công vượt qua bài kiểm tra của Quản lý Hành tinh rồi, chúng ta có thể gỡ bỏ liên kết!】
Nghe vậy, Thịnh Xuyên hiểu ra, nhưng vẫn còn một điều thắc mắc: "Tại sao tôi lại được tái sinh?"
Hệ thống lắc đầu:【Do Quản lý Hành tinh ngẫu nhiên chọn, nhưng không phải ai cũng có cơ hội này đâu, anh phải biết trân trọng nhé.】
Thịnh Xuyên hơi nhướng mày: "Không có lần sau nữa sao?"
Hệ thống lại lắc đầu, dùng đôi cánh nhỏ vỗ nhẹ lên đầu anh:【Không có lần sau đâu.】
Thịnh Xuyên là người thông minh, nhưng khi người thông minh làm chuyện ngu ngốc, thì còn tệ hơn cả kẻ ngốc. Giống như đời trước của anh, vì bạc tình bạc nghĩa, đến cuối cùng chẳng được gì.
Nếu anh chịu quay đầu lại, sẽ thấy ba mẹ luôn chờ mình trở về. Nếu anh chịu gạt bỏ lợi ích cá nhân, nhìn nhận một cách chân thành, sẽ nhận ra Thẩm Úc thực sự đã yêu mình. Là chính anh bị lòng tham che mắt.
Không có lần sau nữa...
Nghe vậy, Thịnh Xuyên nhẩm đi nhẩm lại mấy chữ này, tim hơi thắt lại, nhưng sau đó lại hóa thành sự thanh thản. Anh thở dài, mỉm cười: "Tôi hiểu rồi."
So với người khác, anh đã sống thêm một đời, thế đã là may mắn lắm rồi, không nên tham lam thêm nữa.
Hệ thống lại vỗ nhẹ lên đầu anh:【Hãy làm lại cuộc đời, sống thật tốt nhé.】
Thịnh Xuyên: "...Được."
Anh ngẩng đầu, nhìn ánh sáng xanh lam trước mặt dần nhạt nhòa dưới ánh mặt trời, cuối cùng tan thành những đốm sáng nhỏ rồi biến mất vào không khí. Cùng lúc đó, bên tai vang lên một giọng nói máy móc lạnh lẽo:【Ting! Bắt đầu quy trình tách rời. Xin mời ký chủ chuẩn bị.
Kích hoạt chương trình tự kiểm tra.
Tự kiểm tra hoàn tất.
Đang gỡ bỏ liên kết:
20%
50%
100%
Gỡ bỏ thành công.】
Hệ thống thật sự đã rời đi. Thịnh Xuyên có thể cảm nhận được một thứ gì đó bên trong cơ thể mình đang lặng lẽ tách ra. Không hiểu sao, anh cảm thấy có chút trống trải.
Đúng lúc này, từ phía sau vang lên một tiếng đập cửa kính. Anh quay đầu lại, liền thấy Thẩm Úc đang đứng sau cửa sổ, nheo mắt nhìn anh với vẻ nghi hoặc: "Anh đứng ngoài đó làm gì? Vào đi."
Nhìn bộ dáng cậu thò đầu ra ngoài, Thịnh Xuyên bất giác bật cười, dựa vào tường nói: "Anh không vào. Em ra đây đi."
Nghe vậy, Thẩm Úc lập tức đẩy cửa sổ ra, động tác gọn gàng trèo ra ngoài, dáng vẻ kiêu ngạo, dưới ánh mặt trời càng thêm rực rỡ. Cậu nhếch môi, cười như không cười: "Em ra đây rồi, anh định làm gì?"
Thịnh Xuyên nhìn cậu, khẽ nhướng mày, mỉm cười giơ tay ra, ngón tay khẽ ngoắc: "Lại đây."
Thẩm Úc híp mắt, cảm thấy hôm nay Thịnh Xuyên có chút kỳ lạ, đứng yên không nhúc nhích. Nhưng chỉ sau một lát, cậu vẫn ngoan ngoãn bước tới, không ngoài dự đoán bị anh kéo vào lòng.
Thịnh Xuyên thấy cậu thật ngốc, bật cười: "Anh bảo em lại đây thì em lại đây thật à?"
Thẩm Úc liếc anh một cái, nghĩ bụng còn cách nào khác đâu: "Em bảo anh vào nhà mà anh không chịu vào."
Thế nên cậu đành tự mình ra ngoài thôi.
Trời đã sang xuân, lá cây trong vườn bắt đầu đâm chồi, trong ánh mặt trời ấm áp tràn ngập hạnh phúc.
Sống lại một lần nữa, Thịnh Xuyên từng nghĩ mình có thể tránh được mọi chuyện, âm mưu hay cạm bẫy. Nhưng hóa ra, có những thứ vốn đã được định sẵn, muốn tránh cũng không tránh được.
Thẩm Úc, lần này em lại đâm vào lòng anh rồi...
Như thiêu thân lao vào lửa, hết lần này đến lần khác.
Chương 92: Ngoại Truyện - Kết Thúc Thế Giới 3
Nhà họ Thẩm là danh gia vọng tộc, thỉnh thoảng sẽ tổ chức tiệc tùng ở biệt thự. Xe cộ bên ngoài toàn loại giá trị bạc tỷ trở lên, khắp nơi đều là hương thơm yến tiệc, xa hoa tột bậc.
Dù là con cả nhà họ Thẩm, nhưng khi ông cụ còn nắm quyền, Thẩm Nhuận cũng chẳng làm nên trò trống gì. Đám đông chỉ giữ sự khách sáo với hắn, sau đó nhanh chóng chuyển ánh mắt đi nơi khác.
Khu vườn bên ngoài đặt một bàn ăn dài, tiếng nước chảy róc rách từ đài phun nước kiểu Âu hòa quyện cùng điệu nhạc khiêu vũ vọng ra từ bên trong. Từng nhóm khách mời nhảy múa trên bãi cỏ, ly rượu chạm nhau leng keng.
Dưới ánh trăng, một người đàn ông tựa vào bức tường ngoài, không nhúc nhích. Anh mặc bộ vest sáng màu cắt may vừa vặn, trông vừa thanh nhã vừa chững chạc, tay phải cầm một ly champagne. Gương mặt góc cạnh rõ nét, ánh mắt sắc sảo nhưng lại ánh lên vẻ ấm áp như ngọc, khéo léo che giấu đi sự lạnh lùng thoáng qua.
Thẩm Nhuận tìm một lúc mới thấy được anh, tránh tai mắt của những người xung quanh, không để lộ thái độ gì nhưng không nhịn được nhíu mày, lạnh nhạt nói: "Cậu đứng đây làm gì?"
Cậu nói, cằm khẽ hất, ra hiệu về phía trong hội trường tiệc, giọng lạnh lùng: "Thẩm Úc đang ở trong đó, cậu đứng đây thì làm sao câu được cậu ta?"
Thịnh Xuyên lắc lắc ly rượu trong tay, chất lỏng màu nhạt bên trong phản chiếu ánh sáng, trông thật đẹp: "Chuyện này anh nên tìm phụ nữ làm."
Nghe cũng hiểu, anh có phần phản đối chuyện quyến rũ Thẩm Úc này.
Thẩm Nhuận nghe vậy, khuôn mặt vốn thật thà và nghiêm nghị thoáng hiện nét giễu cợt đầy khinh miệt: "Nếu cậu ta thực sự thích phụ nữ thì tốt quá, tôi còn phải tìm cậu đến đây làm gì? Đừng phí thời gian ở đây nữa, muốn quyến rũ thì đi quyến rũ người cho xong, không thì quay lại xưởng làm công việc vặt của cậu đi."
Thẩm Nhuận xưa nay luôn cẩn thận, nói xong lại đảo mắt nhìn quanh, thấy không ai để ý đến chỗ này, chỉnh lại cà vạt, tiện tay lấy một ly rượu từ khay của phục vụ, sau đó quay lại hòa mình vào đám đông giao thiệp.
Thịnh Xuyên nghe vậy liền nhìn qua cửa kính, ánh mắt rơi trên thiếu niên giữa hội trường, được vây quanh như một ngôi sao sáng. Chỉ cần nhìn mặt cậu thôi cũng đủ biết tính cách cậu ấy kiêu ngạo, phóng túng đến cực điểm, rực rỡ như mặt trời. Hoàn toàn trái ngược với dáng vẻ cẩn trọng dè dặt của Thịnh Xuyên.
Con trai nhà giàu kiểu này dễ quyến rũ sao?
Thịnh Xuyên không biết. Đây là lần đầu anh làm chuyện như thế này, vẻ ngoài điềm tĩnh chín chắn thực ra che giấu một trái tim đang đầy do dự bất an.
Trong hội trường này, khách mời ngoài những danh nhân giới thương nghiệp và các phu nhân quyền quý, nếu quan sát kỹ, vẫn có thể nhận ra vài gương mặt thường xuyên xuất hiện trên truyền thông, phần lớn là những phụ nữ dáng người mảnh mai, quyến rũ.
Chu Chấn Gia ngồi tựa hẳn vào tay ghế sofa, nhìn quanh một lượt rồi lập tức phát hiện ra điều bất thường. Hắn là người có nhiều scandal nhất trong đám công tử nhà giàu này, quen mặt với các minh tinh và hot girl trên mạng. Nhìn một lúc, hắn liền thúc vào Thẩm Úc đang ngồi cạnh, cười nói: "Này, kia chẳng phải là Phàn Vân, streamer đang hot của ST sao? Sao cô ấy lại lọt vào được đây nhỉ?"
Từ "hot girl" có thể khen ngợi hoặc chế nhạo, nhưng trong trường hợp này, nó gần như mặc định sẽ khiến người ta xem thường. Những buổi tiệc kiểu này, các cô ấy thực sự không đủ tư cách chen chân vào, trừ khi là người cực kỳ nổi tiếng.
Thẩm Úc nghe vậy, ánh mắt lướt qua, nhìn thoáng qua người mà Chu Chấn Gia chỉ, chưa đầy một giây đã thu lại tầm mắt. Cậu nhướng mày, vẻ không mấy quan tâm: "Không biết."
Người bên cạnh cười cợt, pha trò: "Cậu không biết à? Bây giờ mấy hot girl thường hay tự làm mình trông giống tiểu thư nhà giàu, rồi tìm cách chen chân vào tiệc của giới thượng lưu để tìm chồng giàu đấy."
Thẩm Úc khẽ hừ một tiếng, cảm thấy nhàm chán, vung tay chỉ một vòng quanh đám bạn: "Ai để bị mấy cô ấy lừa thì đúng là đồ ngu."
Chu Chấn Gia đẩy cậu một cái, cười phì: "Nói hay nhỉ, cậu không thích con gái, tất nhiên không sợ bị lừa rồi."
Thẩm Úc nhíu mày: "Biến đi!"
Cậu vừa nói vừa liếc nhìn về phía mấy bậc trưởng bối, thấy họ không nghe được câu nói vừa rồi của Chu Chấn Gia, lúc này mới thở phào nhẹ nhõm. Thẩm lão gia đã lớn tuổi, tư tưởng lạc hậu, nếu biết cậu thích đàn ông, chắc chắn sẽ không bỏ qua.
Buổi tiệc kiểu này chẳng có gì thú vị, chỉ để mở rộng mối quan hệ. Ngồi được một lát, Thẩm Úc đã thấy chán, nhân lúc Thẩm lão gia không chú ý, cậu lén lút chuồn ra ngoài. Ai ngờ đi nhanh quá, lúc rẽ ở góc hành lang, cậu đụng mạnh vào người khác.
Tính cách Thẩm Úc luôn hùng hổ, va chạm hay không va chạm gì cũng chỉ có cậu mắng người khác, chưa từng có ai mắng cậu. Nhưng lần này, cậu cảm giác mình đâm phải một người đàn ông cao lớn, đau đến choáng váng, lảo đảo lùi lại mấy bước, may mà được đối phương giữ lấy khuỷu tay. Ngay sau đó, bên tai cậu vang lên một giọng nam trầm thấp: "Đồ hậu đậu."
Thịnh Xuyên khó khăn lắm mới lấy đủ can đảm bước vào hội trường. Ai ngờ lại có người lao thẳng vào lòng anh, lực va chạm mạnh đến nỗi cằm anh đau nhói, bỗng dưng anh nhớ đến từ này.
Nóng nảy, hấp tấp vội vàng, chẳng phải chính là đồ hậu đậu sao?
Thẩm Úc quen được nuông chiều, bất kể là cậu đâm người khác hay người khác đâm cậu, thì đều chỉ có cậu chửi người, chưa từng bị ai chửi lại. Nghe vậy, mắt cậu nheo lại, định bụng xem thử kẻ nào to gan, kết quả nhìn thoáng qua liền ngẩn người.
Đối phương là một gương mặt xa lạ, ít nhất trong giới của cậu, Thẩm Úc chưa từng thấy qua. Người đàn ông cao ráo, dáng vẻ nho nhã, trong ánh đèn tối mờ, trông sạch sẽ, lạnh nhạt. Nhưng trong ánh mắt lại như thấp thoáng một nụ cười khó đoán. Chiếc áo sơ mi cài kín đến tận cổ, toát lên vẻ cấm dục.
Nhưng trong ký ức của Thẩm Úc, những người cấm dục thường lạnh lùng, không giống Thịnh Xuyên, vẫn có nét hay cười.
Cậu nhìn tay đối phương đang giữ lấy mình, lần đầu tiên trong đời thấy có chút khó chịu, giọng điệu hung dữ vô cớ cũng yếu đi mấy phần: "Này, anh nói ai hậu đậu?"
Thịnh Xuyên lúc này mới nhìn rõ mặt cậu, nghĩ thầm chẳng phải đây là nhị thiếu gia nhà họ Thẩm sao. Anh chậm rãi buông tay, dừng một chút, rồi mỉm cười: "Ai đâm tới, tôi nói người đó."
Nói xong, anh vô thức đưa tay xoa xoa cằm bị va chạm đến đỏ bừng, vẫn còn cảm giác đau âm ỉ.
Thẩm Úc tất nhiên cũng nhận ra động tác của anh, không biết là xấu hổ hay khó chịu, quay người định bước đi. Ai ngờ còn chưa kịp tỉnh táo sau cú va chạm, lại bất cẩn vấp phải bậc thềm ở cửa.
Thịnh Xuyên chẳng cần quay đầu, chỉ đưa tay ra đỡ cậu lần nữa, giống như sau lưng có mắt. Trong lòng lại cảm thán, nhị thiếu gia nhà họ Thẩm sao trông ngốc nghếch thế, giọng nói có ý nhắc nhở: "Đi đứng cẩn thận."
Thẩm Úc bị quê đến mức hận không có cái lỗ nào để chui xuống. Cậu hất tay anh ra như bị điện giật, ngẩng đầu lên liền thấy Chu Chấn Gia và mấy người kia đang nhìn về phía này, ôm bụng cười nghiêng ngả.
Chu Chấn Gia cười đến đau cả bụng, nước mắt sắp rơi: "Xong rồi xong rồi, nhị công tử Thẩm bị cưa đổ rồi!"
Miệng của hắn như có phép thần, chẳng khác nào tiên đoán trước số phận của Thẩm Úc.
Thẩm Úc không nghe thấy họ nói gì, chỉ biết họ đang cười, cười vì lý do gì thì không rõ. Trong lòng buồn bực, không còn tâm trạng tranh cãi với Thịnh Xuyên, chỉ một mình rầu rĩ rời khỏi hội trường.
Cậu không đi xa, chỉ tìm một chiếc bàn tròn trên bãi cỏ bên ngoài, ngồi xuống, xung quanh phát ra một luồng khí khiến người khác không dám lại gần. Thịnh Xuyên nhớ lại lời Thẩm Nhuận nói, đứng bên quan sát một lúc, sau đó bước tới kéo ghế ngồi xuống đối diện cậu.
Thẩm Úc ngẩng đầu, thấy là Thịnh Xuyên, rõ ràng sững sờ một chút, giọng điệu không mấy thiện cảm: "Anh là ai?"
Ánh mắt Thịnh Xuyên lặng lẽ đánh giá cậu thiếu gia này. Ánh trăng chiếu rọi phía sau anh, tỏa ra một vầng sáng mờ ảo, trông như thể rất hứng thú: "Người bị cậu đụng vào."
Thẩm Úc không muốn thừa nhận mình đã đâm vào người khác, cậu ngồi bắt chéo chân, dáng vẻ y như một kẻ được nuông chiều quá mức: "Là tôi đâm thì sao nào?"
Muốn đánh nhau? Đánh thì cậu cũng không sợ.
Thịnh Xuyên mỉm cười: "Được thôi, coi như cậu đâm vào tôi đi."
Thẩm Úc nghe vậy liếc nhìn anh, tự dưng cảm thấy câu nói này có hàm ý gì đó, ngồi thế nào cũng thấy không thoải mái. Là cậu đâm vào thì coi như xong? Vậy nếu người khác đâm thì sao?
Cậu còn quá đơn thuần, chưa từng trải qua đời, trong lòng nghĩ gì đều hiện hết lên mặt, Thịnh Xuyên nhìn thoáng qua đã thấy rõ ngay. Anh gõ nhẹ ngón tay lên mép bàn, gọi nhân viên phục vụ mang tới hai ly rượu, cầm lấy một ly, mỉm cười ra hiệu cho Thẩm Úc: "Coi như xin lỗi."
Thẩm Úc thầm nghĩ người này sao cứ hay cười thế, cậu cố tình phớt lờ vành tai đã hơi đỏ của mình, chỉ cảm thấy nụ cười của Thịnh Xuyên thật đáng ghét: "Không phải anh vừa nói là tôi đâm anh à, vậy còn xin lỗi cái gì?"
Thịnh Xuyên hơi nghiêng đầu, ánh mắt đầy ý cười, giả vờ khó hiểu hỏi lại: "Nghe nói lực tác động là tương hỗ mà?"
Thẩm Úc không nói gì, vành tai không biết từ lúc nào đã đỏ rực lên, cậu lầm bầm điều gì đó, chẳng ai nghe rõ. Thịnh Xuyên chỉ thấy cậu giống như một tờ giấy trắng tinh, chưa từng vấy bẩn bởi xã hội này.
Trong lòng bỗng có chút tiếc nuối, không rõ tại sao.
Thịnh Xuyên giả vờ không biết cậu: "Cậu tên gì?"
Thẩm Úc nghe vậy nhướng mày: "Anh không biết tôi à?"
Ngữ khí đó, như thể cậu là minh tinh lớn, không biết cậu thì đúng là tội lỗi tày trời.
Thịnh Xuyên cố nín cười, gật đầu: "Ừ, trước giờ tôi ở nước ngoài, mới về nước không lâu."
Đây là thân phận do Thẩm Nhuận sắp xếp cho anh.
Thẩm Úc nghĩ thảo nào trông mặt mũi anh lại lạ lẫm thế, cậu nhấp một ngụm rượu, nhìn anh, giọng điệu có vẻ tùy ý nhưng lời lẽ rõ ràng: "Thẩm Úc."
Cậu nói: "Tôi tên Thẩm Úc."
Thịnh Xuyên cảm giác trong giọng nói đó như còn thiếu một loạt những lời kiểu "Anh nhớ cho kỹ, không được phép quên, quên thì tôi đánh chết."
Anh gật đầu: "Thịnh Xuyên."
Đôi mắt màu trà của anh dường như luôn mang theo một thứ ảo giác dịu dàng, trong trẻo như ánh trăng gió mát.
Thiếu niên dễ động lòng nhất, họ gặp nhau vào đêm nay, cuối cùng mọi chuyện đều như nước chảy thành sông, giống như Chu Chấn Gia từng nói, nhị thiếu gia nhà họ Thẩm đã bị người ta trói chặt, không những bị trói chặt, mà còn bị ăn gọn ghẽ.
Mẹ của Thẩm Úc mất sớm, Thẩm lão gia tuy thương cậu nhưng không thể hiện ra ngoài, thỉnh thoảng còn nghiêm khắc quở trách cậu vài câu. Lâu dần, tính cách cậu trở nên phản nghịch, bướng bỉnh, ít ai chịu nổi. Nhưng riêng Thịnh Xuyên lại có thể trị được cậu.
Ở bên nhau lâu rồi, luôn phải đột phá giới hạn cuối cùng. Thẩm Úc sợ đau nên không đề cập, Thịnh Xuyên thì rất kiên nhẫn. Chỉ có những thợ săn kiên trì nhất mới có thể bắt được con mồi lớn nhất, nên anh cứ khéo léo khuyên nhủ, dỗ dành, cuối cùng Thẩm Úc cũng gật đầu.
Trên tầng cao nhất của khách sạn năm sao, một người vụng về ngơ ngác, một người giả vờ chín chắn, loạng choạng mà thành chuyện.
Thẩm Úc, cậu chàng được cưng chiều từ bé, chịu không nổi chút đau nào. Cậu không biết là đau thật hay đau giả, nhưng Thịnh Xuyên chưa làm được gì mà cậu đã giở chứng, nói gì cũng không chịu tiếp tục.
Căng dây nỏ rồi, cậu lại đột ngột rút lui, ngay cả Thịnh Xuyên cũng tức tới nghiến răng. Anh lôi Thẩm Úc ra khỏi chăn, giọng khàn khàn, mang theo chút nhẫn nhịn, yết hầu chuyển động lên xuống: "Ngoan, không đau đâu."
Thẩm Úc bĩu môi, cất tiếng khinh khỉnh, dùng chăn quấn lấy th.ân thể tr.ần tr.ụi, chỉ lộ ra cái đầu, đôi mắt đen trong suốt như pha lê, đầy lý lẽ ngang ngược: "Người nằm dưới không phải anh, anh tất nhiên không thấy đau rồi."
Thịnh Xuyên giữ cậu lại trong vòng tay qua lớp chăn, trực tiếp hôn lên môi cậu. Lực đạo mãnh liệt, Thẩm Úc giãy vài cái đều không thoát, cuối cùng bị hôn đến mơ màng, thế là cứ thế thuận theo.
Chùm đèn pha lê trên trần nhìn lâu khiến cậu choáng váng.
Thẩm Úc vẫn thấy rất đau, mặt tái nhợt. Cậu chẳng thể đẩy Thịnh Xuyên ra, cảm giác thật sự muốn sống không được, muốn chết cũng không xong, chỉ liên tục hít sâu: "Đau..."
Thịnh Xuyên nói: "Lần đầu đều đau cả."
Có lẽ anh vẫn bực bội vì chuyện Thẩm Úc vừa giở chứng, giọng điệu nghe có chút lạnh nhạt.
Thẩm Úc nghe vậy tự dưng thấy tủi thân, nhưng không nói gì nữa, đành tự chịu đựng.
Thịnh Xuyên thầm nghĩ Thẩm Úc sao mà dễ bị lừa như vậy. Lần đầu đúng là sẽ đau, nhưng đau cũng không kéo dài. Anh cố ý.
Cho dù là người làm bằng đất sét, phải chịu đựng tính thiếu gia của Thẩm Úc mỗi ngày cũng sẽ bị chọc tức, chỉ có thể báo thù trong chuyện này.
Nhưng nhìn đối phương đang đáng thương chịu đựng, anh lại ngừng lại.
Lúc này Thịnh Xuyên mới chợt nhận ra, Thẩm Úc không giống anh, anh xuất thân từ một gia đình nghèo khó, còn Thẩm Úc, có lẽ từ nhỏ tới giờ ngón tay cũng chưa từng bị trầy xước, sợ đau cũng là điều dễ hiểu.
Thịnh Xuyên lại hôn lên môi cậu, chậm rãi an ủi dọc theo sống lưng, những nụ hôn nóng ấm di chuyển dần lên vành tai, rồi khẽ li.ếm cắn. Đây là điểm nhạy cảm của Thẩm Úc, cậu run lên một cái, khóe mắt nhanh chóng đỏ hoe.
Thịnh Xuyên dỗ dành: "Thấy không, anh đã nói là không đau mà."
Thẩm Úc ôm lấy cổ anh, lí nhí: "Vẫn đau."
Thịnh Xuyên lần đầu tiên không biết phải làm gì với một người. Đánh không được, mắng cũng không xong. Anh hôn lên mặt cậu: "Đau thì hôn một cái."
Thẩm Úc chớp mắt: "... Vẫn đau."
Thịnh Xuyên lại hôn lên môi cậu: "Vậy thì hôn thêm một cái nữa."
Anh dung túng mọi điều của Thẩm Úc vô điều kiện, giống như một thứ thuốc phiện khiến người ta nghiện ngập. Thẩm Úc cúi đầu dụi vào hõm vai anh, có vẻ cuối cùng đã hài lòng, đôi mắt ngấn một tầng hơi nước, trông chẳng khác gì một chú mèo con ngoan ngoãn.
Thẩm Úc bỗng hỏi: "Thịnh Xuyên, anh có thích em không?"
Cậu hỏi mà chẳng hề hồi hộp, dường như chắc chắn anh sẽ đáp đúng điều mình muốn nghe.
Thịnh Xuyên khẽ "ừ" một tiếng: "Thích."
Thẩm Úc vui vẻ: "Em cũng thích anh."
Cậu nói thích, là thật lòng thích, vô cùng chân thành, chẳng chút giả tạo, nặng trĩu tay.
Trước đây, Thẩm Úc không dám để Thẩm lão gia biết mình thích đàn ông, sợ bị đánh gãy chân. Nhưng về sau, cậu vẫn thẳng thắn đưa Thịnh Xuyên về nhà, nói với ông cụ rằng: "Người này, con thích."
Khi đó, Thẩm lão gia giận tới mức trợn mắt, thiếu chút nữa đã ném luôn cây gậy trong tay.
Thịnh Xuyên đứng bên cạnh, nhìn người trẻ tuổi bảo vệ mình mà nở nụ cười.
Cậu thích Thịnh Xuyên, không xem anh như trò đùa. Ánh mắt cao ngạo của cậu thiếu gia chỉ khi nhìn anh mới giữ được sự ngang bằng, cuối cùng từng chút một, hạ thấp xuống đến tận bụi trần.
Thịnh Xuyên yên lặng ôm lấy Thẩm Úc. Dù cách một lớp da thịt và xương cốt, anh vẫn có thể cảm nhận rõ ràng sự vui sướng rạo rực của đối phương. Trong vài giây ngắn ngủi, một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu anh.
Nếu...
Nếu thân phận của anh là thật thì tốt biết bao...
Nhưng đáng tiếc, tất cả đều là giả dối...
Thịnh Xuyên cúi đầu, xoa nhẹ đầu Thẩm Úc: "Lần sau sẽ không đau nữa."
Thẩm Úc co người trong lòng anh: "Anh nói không tính, em nói mới tính."
Thịnh Xuyên nhẫn nại đáp: "Ừ, em nói là tính."
Thẩm Úc: "Thật chứ?"
Thịnh Xuyên: "Thật."
Là thật lòng thích.
Chương 93: Thế giới 4: Quốc sư công Khúc Thuần Phong x Người cá thụ Lâm Uyên ( Cổ đại, giao nhân)
《Sưu Thần Ký》 có chép: "Ngoài Nam Hải có giao nhân, sống trong nước như cá, không bỏ nghề dệt. Nước mắt rơi thì hóa thành trân châu."
Tần Thủy Hoàng năm xưa bình định lục quốc, thống nhất thiên hạ, sau đó sai phương sĩ Từ Phúc vượt biển sang Phù Tang, mang theo ba nghìn đồng nam đồng nữ tìm tiên sơn ngoài biển, mục đích chính là cầu trường sinh bất lão. Sau này, đó dường như cũng trở thành ước vọng cuối cùng của các đế vương qua các triều đại.
Khi đã đem cả giang sơn gấm vóc thu vào lòng, nỗi băn khoăn duy nhất của họ chính là làm thế nào để lâu dài hưởng thụ phú quý nhân gian.
Tuy nằm gần biển, Tuyền Châu lại là vùng đất hoang vắng, bởi đường giao thương chưa thông, bách tính nơi đây phần lớn nghèo khổ, sống nhờ nghề đánh cá, chỉ có những phạm nhân mang trọng tội mới bị lưu đày đến đây.
Truyền thuyết kể rằng nhiều năm trước, nơi này từng có tung tích của tộc giao nhân. Thân trên là người, từ thắt lưng trở xuống lại mọc đuôi cá. Họ giỏi dệt giao sa quý giá, vạn vàng khó cầu, nước mắt hóa thành châu, máu thịt của họ ăn vào có thể trường sinh bất lão, dầu mỡ đốt lên có thể làm đèn trường minh, đặt trong nội thất, hương thơm lan tỏa, gió mưa không xâm, vạn năm không tắt.
Nhưng đó rốt cuộc chỉ là truyền thuyết nhiều năm trước, ai cũng không rõ thực hư ra sao, song điều đó không ngăn được Hoàng đế Đại Sở đương triều huy động lượng lớn nhân lực vật lực để tìm kiếm khả năng một phần vạn này.
Bên vách đá gần biển ở Tuyền Châu, chẳng rõ từ lúc nào đã xuất hiện một nhóm người. Tóc búi cao, đội mũ thái cực ngọc, áo dài trắng phủ sa đen, thắt lưng buộc dây tơ đen trắng, đeo lệnh bài hình ngư long, ai nấy mang trường kiếm, cách ăn vận đồng nhất như nhau.
Nếu có người nào từng trải ở đây, ắt sẽ nhận ra đây chính là người của Thiên Nhất Môn. Họ vốn thuộc một mạch đạo giáo, môn hạ nhiều kỳ nhân dị sĩ, sau không rõ vì sao lại quy thuận triều đình, phục vụ hoàng thất họ Sở. Chưởng môn đương nhiệm là Hồng Quan Vi đảm nhiệm chức Quốc sư, chuyên luyện đan chế dược cho hoàng đế, cầu trường sinh.
Tuy nhiên, vài tháng trước, Hồng Quan Vi đột nhiên lâm trọng bệnh. Chiêu Ninh Đế bèn lệnh đại đệ tử của ông, Khúc Thuần Phong, tạm quyền thay chức Quốc sư, dẫn người Thiên Nhất Môn đến bờ biển Tuyền Châu tìm tung tích giao nhân, quan viên địa phương đều phải nghe lệnh điều phối.
Người của Thiên Nhất Môn nếu có thiên phú dị bẩm có thể thông thạo huyền thuật, Minh Tuyên chính là một trong số đó. Hắn dùng mảnh vảy giao nhân từng được cất giữ nhiều năm trong quốc khố Sở cung làm dẫn, kết hợp với tinh bàn truy tìm, nhưng không có kết quả gì, không khỏi nhìn về phía nam tử đã đứng rất lâu bên bờ vách đá, ngập ngừng nói:
"... Đại sư huynh, nơi này thực sự có giao nhân sao?"
Nam tử một thân bạch bào, phong cốt kỳ tuyệt, vạt áo bị gió cuốn tung không ngừng. Anh không dùng huyền thuật để truy tìm, cũng không lùng bắt giao nhân, chỉ nhíu mày nhìn mặt biển cuộn trào phía xa, tựa hồ nhớ lại chuyện xưa nào đó. Ánh mắt anh lộ ra vài phần nghi hoặc, mãi đến khi nghe câu nói của Minh Tuyên, anh mới hoàn hồn.
Khúc Thuần Phong bước xuống từ vách đá, giọng nói nhạt nhòa, không nghe ra cảm xúc: "Sư phụ bảo có thì ắt có, chúng ta chỉ cần nghe lệnh, những chuyện khác không cần nói nhiều."
Khúc Thuần Phong là đại đệ tử thân truyền của Hồng Quan Vi, thiên phú cực cao. Từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, sau được sư phụ đưa về nuôi dưỡng, tình như phụ tử. Trong Thiên Nhất Môn từng có lời đồn rằng huyền thuật của anh đã sánh ngang với Hồng Quan Vi, thực lực hiển nhiên không tầm thường.
Nếu nói giao nhân chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của thế nhân, vậy thì chưởng môn Thiên Nhất Môn Hồng Quan Vi đã phá vỡ lời đồn ấy. Đại Sở lập quốc đến nay chưa đầy một trăm năm mươi năm, đế vị thay đổi, lần lượt trải qua bốn đời vua, thế nhưng ông ta đã sống hơn hai trăm tuổi.
Hai trăm năm là khái niệm gì trong thế giới liên miên đói kém, chiến loạn phân tranh, bách tính sống đến sáu mươi đã xem là thọ này?
Chiêu Ninh Đế từng triệu Hồng Quan Vi vào cung trò chuyện thâu đêm, thảo luận về thuật trường sinh. Nội dung không rõ, nhưng khi ấy liền xuất hiện lời đồn rằng, hồi niên thiếu ông ta từng rơi xuống nước, được một giao nhân tặng thuốc, thay đổi thể chất, từ đó sống lâu hơn người thường vài chục năm.
Thứ sử Tuyền Châu vốn muốn lập công, chưa kịp bẩm báo đã âm thầm chuẩn bị sẵn binh thuyền. Thấy Khúc Thuần Phong và những người khác từ vách đá đi xuống, ông ta vội vã xốc áo quan chạy tới, mặt đầy vẻ nịnh bợ: "Quốc sư đại nhân, hạ quan đã chuẩn bị xong thuyền ra khơi, có thể xuất phát bất cứ lúc nào, xin hỏi chúng ta..."
Lời chưa dứt, đã bị người ngắt lời.
"Không cần." Khúc Thuần Phong nói: "Lệnh cho họ lập tức rời khỏi nơi này, không có lệnh của ta, tuyệt đối không được hành động tùy tiện. Nếu kinh động đến giao nhân, các ngươi vạn lần không thể chuộc tội."
Thứ sử Tuyền Châu nghĩ thầm, ông làm quan nửa đời người ở cái nơi khỉ ho cò gáy này, trước nay chưa từng thấy giao nhân nào, huống chi là kinh động đến chúng. Vị thiếu niên Quốc sư này chỉ e là tay trắng ra về rồi, nghĩ vậy, ông ta đành xấu hổ lui xuống, ra lệnh rút lui.
Khúc Thuần Phong không đến dịch quán nghỉ ngơi, anh bảo người Thiên Nhất Môn ở gần đó canh giữ, còn mình thì đi xuống bãi biển dưới vách đá, cuối cùng tháo trường kiếm sau lưng, ngồi xếp bằng trên một tảng đá.
Các sư đệ thấy vậy, chỉ nghĩ rằng anh đang tu luyện. Dù sao vị đại sư huynh này tính tình cô độc, ít lời, luôn thích một mình.
Sóng biển liên tục đập vào vách đá, âm vang cuồn cuộn, núi rừng cũng lay động theo. Khúc Thuần Phong nhìn khung cảnh quen thuộc trước mắt, tâm trạng mãi chẳng thể bình ổn. Dù anh tu luyện huyền thuật, lại tin trên đời không có quỷ thần, nhưng bản thân rõ ràng đã chết trong lời nguyền kia, vậy cớ sao lại có thể chết đi sống lại?
Khúc Thuần Phong đời trước đã từng đến đây...
Không xa nơi này, có một thôn chài cách biệt thế tục, chỉ hơn trăm hộ dân. Người dân trong thôn sống nhờ nghề chài lưới, thỉnh thoảng ra chợ đổi vải vóc gạo thóc, rất hiếm khi tiếp xúc với người ngoài.
Khi ấy, Khúc Thuần Phong phụng mệnh hoàng đế đến đây tìm kiếm tung tích giao nhân, qua nhiều lần dò hỏi, cuối cùng phát hiện dân trong thôn này có mối quan hệ mật thiết với giao nhân. Tuy nhiên, khi bắt người trong thôn về, họ dù chịu đủ mọi cực hình, vẫn không chịu hé nửa lời.
Sau này, Chiêu Ninh Đế lâm bệnh nặng...
Khúc Thuần Phong đặt ngang trường kiếm trên đầu gối, khép mắt không nói, tựa như đang nhớ lại đêm hôm ấy, lửa cháy ngút trời, cảnh tượng thôn làng bị tàn sát khiến máu chảy thành sông, đến mức đất dưới chân cũng nhuốm đỏ, mùi máu tanh lan tỏa rất xa, cuối cùng dẫn dụ giao nhân xuất hiện từ mặt biển.
Quan binh từ lâu đã phục kích trong bóng tối, còn có hàng trăm cao thủ tinh thông thủy tính giăng thiên la địa võng, cộng thêm trận pháp huyền thuật của Thiên Nhất Môn, cuối cùng bắt được mấy chục giao nhân.
Nhưng thật thê thảm.
Những giao nhân ấy tựa hồ biết rõ kết cục thê thảm khi bị con người bắt giữ, nên liều chết giãy giụa phản kháng, thà tự cắt da róc thịt để thoát khỏi lưỡi câu và lưới cá. Đúng nghĩa "cá chết lưới rách."
Tương truyền rằng giao nhân dung mạo tuyệt trần, là mỹ sắc hiếm có trên đời, nhưng Khúc Thuần Phong không thấy. Anh chỉ nhìn thấy những thi thể đầy máu me, hoặc mất mát hoặc tàn khuyết, xương trắng lộ ra, không thể nhìn ra dung mạo khi còn sống.
Nhưng Chiêu Ninh Đế lâm trọng bệnh, không thể không làm, Khúc Thuần Phong đành mang những thi thể đó hồi kinh lĩnh mệnh, lật giở các loại thư tịch cổ, dùng máu thịt giao nhân luyện thành trường sinh dược, cuối cùng luyện ra được ba viên đan dược.
Chiêu Ninh Đế uống vào, bệnh tật tiêu tan, trong một đêm trở nên trẻ hơn cả chục tuổi, ông vui mừng quá đỗi, trọng thưởng cho các đại thần lập công, lại mở tiệc chúc mừng. Nhưng đến sáng sớm hôm sau, người ta phát hiện ông bạo tử trên giường của sủng phi, xương cốt sụp đổ, da mọc vảy mịn, sắc mặt trắng bệch, trông vô cùng kinh hãi.
Tin tức lan truyền, triều đình lẫn dân gian đều khiếp sợ. Nhưng đó chỉ mới là khởi đầu. Tiếp theo, những ai dính líu đến chuyện sát hại giao nhân đều lần lượt gặp chuyện chẳng lành. Cách chết giống hệt Chiêu Ninh Đế, thậm chí có người mọc ra đuôi cá, trở thành nửa người nửa yêu, không ra hình dạng gì.
Khúc Thuần Phong cũng không ngoại lệ. Anh dùng tu vi cả đời áp chế dị biến cơ thể, không mọc vảy như người khác, nhưng tóc bạc trắng chỉ sau một đêm, thân xác già nua, sống một ngày như mười năm, chỉ bảy ngày sau đã kiệt quệ mà chết.
Bên ngoài có lời đồn rằng họ vì mưu cầu trường sinh, bất chấp tàn hại sinh linh, bị tộc giao nhân hạ lời nguyền. Nếu không, vì sao người khác không sao mà họ lại lần lượt bạo tử?
Mùi máu tanh tựa hồ vẫn chưa tan hết trong không khí. Khúc Thuần Phong chậm rãi vuốt qua vỏ kiếm. Đôi tay anh xương khớp rõ ràng, thon dài hữu lực, không hề có chút dấu hiệu tàn phế, chứng minh sự tái sinh của anh không phải là mộng tưởng.
Nhưng tại sao chứ...
Khi Khúc Thuần Phong còn đang trăm mối tơ vò, sau lưng anh lặng lẽ hiện lên một quả cầu ánh sáng trong suốt màu xanh lam, phía sau mọc một đôi cánh nhỏ béo tròn, không ngừng vỗ phành phạch. Đó chính là hệ thống.
Vị ký chủ trước mặt này không thiếu nợ nhân tình, cũng chẳng phụ lòng ai, nhưng lại là người sát nghiệt nặng nề nhất trong tất cả ký chủ. Cái chết ở kiếp trước của anh là thiên lý báo ứng, cũng là tự làm tự chịu.
Hệ thống đã hình thành thói quen ghi chép, vừa quan sát Khúc Thuần Phong vừa lập kế hoạch cải tạo. Đầu tiên phải ngăn anh vì mưu cầu trường sinh cho hoàng đế mà tùy ý tàn sát dân làng. Sau đó sẽ kiểm tra xem còn vết đen nào không để từ từ uốn nắn.
Khúc Thuần Phong dường như không phát hiện sự tồn tại của hệ thống. Anh lấy từ trong tay áo ra một tấm gấm vàng sáng ngắm nhìn hồi lâu. Đó chính là thánh chỉ của Chiêu Ninh Đế. Hoàng mệnh khó trái, giao nhân là bắt cũng phải bắt, không bắt cũng phải bắt. Nhưng lời nguyền ở kiếp trước khiến anh có chút do dự.
Đến khi trời tối dần, Khúc Thuần Phong mới đứng dậy rời khỏi tảng đá, trở về doanh trại. Thứ sử Tuyền Châu thấy anh không chịu đến dịch quán nghỉ ngơi thì sai người mang rượu ngon thức quý đến, còn có vàng bạc châu báu, tâng bốc nịnh bợ hết mức.
"Ti chức tự biết mình tài hèn chức thấp, chưa có chiến tích gì. Nhưng quốc sư từ kinh thành xa xôi đến, cũng phải để ti chức tận chút lễ mọn. Mấy thứ này chẳng đáng là bao, chỉ là chút lòng thành, mong quốc sư vui lòng nhận cho."
Người hầu phía sau bưng khay chất đầy vàng bạc châu báu, dưới ánh lửa bập bùng sáng lấp lánh. Khúc Thuần Phong thoáng nhìn, thầm nghĩ: Người ta bảo Tuyền Châu là nơi heo hút, đời sống dân khổ, nhưng xem ra khổ chỉ khổ bá tánh, chẳng khổ đến đầu quan lại.
Minh Tuyên khinh thường hành vi hối lộ này, cảm thấy bị xúc phạm, bèn cau mày lạnh giọng nói: "Đại sư huynh của ta thân phận thế nào? Báu vật hiếm có bệ hạ ban thưởng còn nhiều không đếm xuể, làm sao nhìn trúng mấy thứ tầm thường của ngươi..."
Lời chưa dứt, đã nghe Khúc Thuần Phong nói: "Vậy thì đa tạ đại nhân, tại hạ xin cung kính không bằng tuân mệnh."
"Bốp!"
Minh Tuyên có cảm giác như mình vừa bị tát vào mặt. Hắn trợn mắt há mồm nhìn Khúc Thuần Phong, nhưng anh không hề để ý, chỉ lấy từ trong tay áo ra một chiếc túi càn khôn rồi đem toàn bộ số vàng bạc châu báu cho vào đó.
Giao nhân thích sưu tầm những thứ sáng lấp lánh. Chuẩn bị nhiều một chút cũng không phải việc thừa.
Khúc Thuần Phong hoàn toàn không có khái niệm "ăn của người thì ngắn tay." Anh ngồi xuống bên ánh lửa, gương mặt nghiêng nghiêng ánh lên sắc ấm nhạt nhòa, rồi căn dặn thứ sử Tuyền Châu: "Ngày mai mang đến một bộ thường phục của bách tính, ta có việc cần dùng."
Thứ sử Tuyền Châu nghe vậy liền vô thức nhìn sang chúng nhân Thiên Nhất Môn: "Quốc sư, chỉ một bộ thôi sao?"
Khúc Thuần Phong: "Đủ rồi."
Đêm nay họ nghỉ lại ngoài trời. Một số đệ tử canh gác tuần tra, số khác thì ngồi thiền tu luyện. Khi trời khuya, Khúc Thuần Phong hoàn toàn không buồn ngủ, vẫn không sao hiểu được vì sao mình lại tái sinh.
Đúng lúc ấy, một quả cầu ánh sáng màu lam bất ngờ xuất hiện trong bóng đêm, hiện ra trước mắt anh: 【Thân ái, là ta cho ngươi trọng sinh đấy ~】
Ngữ khí có phần tự đắc.
Khúc Thuần Phong rõ ràng không ngờ chốn hoang vu lại xuất hiện một vật kỳ dị như vậy. Thấy thế, mắt anh nheo lại, tay nắm ngay chuôi kiếm đặt trên đầu gối. Nhưng khi nghe rõ lời hệ thống, động tác của anh chợt khựng lại.
Khúc Thuần Phong ngẩn người một thoáng: "...Ngươi là thần sao?"
Hệ thống cũng ngẩn ra, lần đầu tiên có ký chủ tôn vinh nó như vậy.
Tác giả có lời muốn nói: Hệ thống: Ta thật cảm động
Chương 94
Trong tiềm thức của Khúc Thuần Phong, chỉ có quỷ thần mới có thể cai quản chuyện sinh tử, vì vậy mới có câu hỏi này.
Hệ thống cả đời lần đầu tiên nghe được những lời như "cầu vồng ngọt ngào" từ miệng của ký chủ, đắm chìm trong đó, khó mà thoát ra được. Nó rất muốn gật đầu, nhưng với tư cách là một quả cầu trung thực, nó vẫn khó nhọc lắc đầu: 【... Ta không phải.】
Huhu.
Khúc Thuần Phong nghe vậy liền đặt tay lên chuôi kiếm, đầu ngón tay khẽ động, thân kiếm liền lặng lẽ trượt ra nửa tấc. Dưới ánh đêm, hơi lạnh như nước, một tia sáng trắng lóe lên, tay áo màu trắng không gió mà bay: "Đã không phải thần, vậy ắt là yêu quái."
Hả?
Ký chủ này thay đổi sắc mặt nhanh thật, hệ thống vẫn còn chưa kịp phản ứng: 【Yêu quái gì chứ?】
Khúc Thuần Phong mặt không đổi sắc: "Ngươi."
Hệ thống nghe vậy, sững người một chút, sau khi nhận ra ý tứ lập tức tức giận đến mức bay loạn giữa không trung, giận dữ nói: 【Ngươi mới là yêu quái, cả nhà ngươi mới là yêu quái! Ngươi đã từng thấy yêu quái nào lại giúp người khác hồi sinh chưa!】
Ngọn lửa trại dần lụi tàn, thỉnh thoảng b.ắn ra vài tia lửa nhỏ. Các đệ tử Thiên Nhất Môn đều đang ngồi thiền tu luyện, dường như không nghe thấy tiếng ồn ào của quả cầu ánh sáng màu xanh này.
Khúc Thuần Phong lặng lẽ quan sát hình dáng của hệ thống, cuối cùng xác định chưa từng thấy nó trong bất kỳ sách vở ghi chép quỷ quái dị vật nào: "Đã không phải thần, cũng không phải yêu quái, vậy ngươi rốt cuộc là thứ gì?"
Hệ thống tức đến mức muốn bỏ qua hắn, nhưng lại không thể làm ngơ, dù sao cũng là nghề làm dịch vụ, nó bực tức nói: 【Ngươi kiếp trước bắt giết giao nhân, tạo nghiệp quá nhiều, ta đến để canh chừng ngươi, không cho ngươi làm điều xấu.】
Hừ!
Khúc Thuần Phong nghe vậy liền tra kiếm vào vỏ, nhẹ nhàng khép mắt, gương mặt như ngọc, phong thái bất phàm: "Thì ra là vậy. Nhưng lệnh hoàng đế khó trái, xin thứ lỗi tại hạ khó lòng tuân theo."
Hệ thống nghĩ thầm, ngươi không nghe thì thôi, đến lúc phạm sai lầm bị sét đánh thì chỉ có mình ngươi chịu, nó vỗ đôi cánh nhỏ, "vèo" một tiếng tan biến vào không trung.
Khúc Thuần Phong từ đầu đến cuối không hề mở mắt, yên lặng ngồi thiền bên đống lửa trại cho đến khi trời sáng.
Thứ sử Tuyền Châu tuân theo chỉ thị của anh, sáng sớm đã mang đến một bộ quần áo thường dân. Khúc Thuần Phong thay vào, thoạt nhìn chẳng khác gì một thiếu niên bình thường, chỉ là khí chất của anh vẫn khiến người ta khó dời mắt.
Thứ sử Tuyền Châu thực sự không hiểu ý đồ của anh: "Hạ quan cả gan hỏi một câu, quốc sư vì sao phải cải trang như thế, áo vải thô sơ này thực sự khiến ngài chịu thiệt thòi."
Khúc Thuần Phong không muốn nhiều lời: "Ta tự có sắp xếp, ngươi dẫn người rời đi. Không có việc gì thì đừng đến đây. Nơi này hẻo lánh, xuất hiện quan binh chỉ khiến rắn động cỏ, không nên kinh động đến những ngư dân nơi này."
Thứ sử Tuyền Châu nghĩ thầm, đây là chuyện gì vậy? Ông ở nơi khỉ ho cò gáy này đã hơn mười năm, mơ ước ngày đêm được điều đi nơi khác. Khó khăn lắm mới có một quan lớn từ kinh thành đến, muốn tận tâm phục vụ để tranh thủ cơ hội, vậy mà lại chẳng có lấy một lần được thân cận.
Hừ, thật nản chí!
Thứ sử Tuyền Châu chỉ có thể dẫn người lui xuống: "Hạ quan cáo lui. Quốc sư nếu có dặn dò, cứ sai người xuống núi báo tin ở nha môn."
Minh Tuyên thấy họ rời đi, trong lòng không khỏi thắc mắc: "Đại sư huynh, vì sao không giữ họ lại? Biển rộng như thế, nếu chỉ dựa vào chúng ta, chắc chắn không đủ để tìm giao nhân."
Khúc Thuần Phong đáp: "Các ngươi cũng không cần ở lại. Cải trang thành thường dân, hạ sơn lập nghiệp, chờ tin của ta."
Nói xong, anh thu hết y phục và thanh kiếm vào túi Càn Khôn, lấy ra một bình sứ trắng đưa cho Minh Tuyên: "Thuốc đủ dùng trong nửa tháng, uống hết thì đến tìm ta lấy thêm."
Minh Tuyên khựng lại, chần chừ đưa tay nhận lấy: "Đại sư huynh, một mình huynh ở lại đây thật sự ổn chứ?"
Dù là chuyện giao nhân hay lời nguyền, Khúc Thuần Phong đều cần điều tra đến tận cùng. Nhưng vì miệng lưỡi thế gian, anh không muốn quá nhiều người biết đến: "Ta sẽ dò xét trước, khi có tình hình sẽ báo cho các ngươi. Không cần hỏi nhiều."
Anh là đại sư huynh, trong Thiên Nhất Môn luôn có uy danh, Minh Tuyên không dám cãi lời, chỉ đành gật đầu: "Vậy chúng đệ sẽ ở chân núi đợi, chờ huynh báo tin tốt."
Nói xong, hắn cúi người chắp tay hành lễ, dẫn theo các sư huynh đệ rời đi.
Cách đó không xa là ngôi làng chài kiếp trước bị quan binh tàn sát. Kiếp trước Khúc Thuần Phong đã dùng đủ loại cực hình mà vẫn không moi được lời nào từ miệng họ, lần này chỉ có thể âm thầm điều tra. Anh nhìn bộ dáng hiện tại của mình, xác định không có sơ hở gì rồi khoác một cái tay nải, giả làm khách buôn từ nơi khác đến.
Ngư dân mỗi sáng đều ra biển, nhưng Lâm bá thời gian trước bị thương ở chân, chỉ có thể ở nhà nghỉ ngơi. Nhân lúc mặt trời lên cao, ông kéo một cái ghế ra ngồi trước cửa vá lại tấm lưới đánh cá cũ. Nhưng chưa vá được một nửa, đã thấy một thiếu niên mặc áo vải thô lảng vảng bên ngoài sân nhà mình, trong lòng nghi hoặc, bèn chống chân què bước đến: "Ngươi là ai, đứng ngoài sân nhà ta làm gì?"
Người này chính là Khúc Thuần Phong.
Anh cải trang thành thư sinh nghèo, đội nắng đi từ doanh trại đến làng chài suốt đêm, áo lưng đã ướt đẫm, môi trắng bệch khô nứt, gấu áo còn dính bùn. Thấy Lâm bá, anh chắp tay thi lễ: "Lão bá, vãn sinh không cố ý mạo phạm, chẳng qua đi đường suốt đêm, bụng đói khát, muốn xin một bát nước uống."
Lâm bá không vội để anh vào, ánh mắt đầy nghi ngờ: "Ngươi là người từ đâu? Sao ta chưa từng thấy qua, trông rất lạ mặt."
Khúc Thuần Phong đã sớm chuẩn bị: "Thật hổ thẹn, vãn sinh là học trò đi thi kinh thành, chẳng may thi rớt, định trở về quê nhà. Ai ngờ quan đạo gặp phải sơn tặc, đành phải đi đường vòng, lạc đến nơi này. Nay tiền bạc cạn kiệt, hai ngày qua chưa được hạt cơm ngụm nước nào."
Lâm bá nghe vậy, nhìn anh từ trên xuống dưới, thấy lời nói không giống giả dối, bèn mở cửa sân: "Thì ra là một thư sinh, thiếu lang quân xin vào trong, ta đi lấy cho ngươi bát nước."
Khúc Thuần Phong nghe vậy thi lễ cảm ơn, cố ý giả bộ thành dáng vẻ thư sinh, diễn xuất khí chất "cổ hũ" đến cực hạn: "Đa tạ lão bá, đa tạ lão bá."
Lâm bá để anh ngồi xuống, đi vào nhà lấy một bát nước đưa ra. Nghĩ ngợi một lát, ông còn bẻ thêm nửa cái bánh thô, khập khiễng bước đến đưa cho anh: "Thiếu lang quân đừng chê, thời buổi khó khăn, gạo thóc đắt đỏ, tạm dùng cái này lót dạ đi."
Khúc Thuần Phong vội đứng dậy đón lấy: "Đa tạ lão bá, có cái gì lót bụng đã là tốt lắm rồi, đâu dám chê."
Anh nói xong, ngồi trở lại ghế thấp, uống cạn bát nước, cắn một miếng bánh thô trong tay, mặt không biến sắc ăn hết. Đồng thời, anh lặng lẽ quan sát xung quanh, giả như vô tình hỏi: "Xin hỏi lão bá, có phải làm nghề đánh cá hay không?"
Lâm bá ngồi trên ghế tiếp tục vá lưới của mình, nghe vậy lắc đầu đáp: "Đúng thế, nhưng ta già rồi, chẳng còn mấy năm để ra khơi nữa."
Nói xong, ông liếc nhìn Khúc Thuần Phong: "Thiếu lang quân là người ở phương nào?"
Khúc Thuần Phong đáp: "Ta là người Lư Châu, nhà nghèo khó, từ nhỏ phụ mẫu đã mất, toàn nhờ hương thân phụ lão cưu mang cho học hành. Nào ngờ lộ phí đã cạn, e là còn phải lưu lạc thêm ít ngày mới về được."
Lâm bá gật đầu, thấy anh tuy phong trần mệt mỏi nhưng dung mạo đoan chính, đã lâu lắm rồi không gặp một nhân vật xuất chúng đến vậy, huống chi còn từng đọc sách. Nghĩ đến nhà mình có cô con gái đang đến tuổi gả chồng, trong lòng không khỏi động tâm: "Thiếu lang quân dự định tiếp theo sẽ thế nào?"
Khúc Thuần Phong lắc đầu, vẻ như có chút khó xử: "Không giấu gì lão bá, vãn sinh không có sở trường gì, giờ còn đang lo không biết làm sao chuẩn bị lộ phí, càng không có chốn dừng chân."
Lâm bá chợt nhớ đến ngôi nhà nhỏ bỏ không ở đầu làng phía đông. Nhưng vì gần biển quá, ban đêm sóng biển vỗ bờ ồn ào khó ngủ, lâu dần chẳng ai chịu ở: "Nếu thiếu lang quân không chê, ta biết có một chỗ có thể tạm trú, chỉ là hơi kham khổ."
Khúc Thuần Phong dường như vui mừng: "Đa tạ lão bá, vãn sinh phiêu bạt đây đó mấy ngày qua, ngay cả nơi hoang vu hẻo lánh còn ở được, đâu dám chê bai, có mái che đầu là mãn nguyện rồi."
Ngôi làng chài này vốn biệt lập với thế giới bên ngoài, phần lớn dân phong chất phác. Lâm bá xua tay, tỏ ý không cần khách sáo, rồi dẫn anh đi về phía đông làng. Trên đường hầu như không gặp ai, chỉ có phụ nữ và trẻ nhỏ ngồi trong sân đan lưới, phơi cá.
Lâm bá giải thích: "Hôm nay trời đẹp, cánh đàn ông đều ra khơi đánh cá cả rồi. Nhanh thì trưa về, chậm thì tới chiều tối."
Khúc Thuần Phong gật đầu: "Thì ra là vậy."
Anh thấy Lâm bá đi đứng không thuận tiện, liền luôn tay đỡ lấy, dáng vẻ khiêm nhường, điều này khiến lão trong lòng ngầm hài lòng. Đi thêm một đoạn thì đến căn nhà bỏ hoang.
Lâm bá đẩy cửa, thấy bên trong bàn ghế bày biện vẫn tạm ổn, chỉ là hơi ẩm thấp, bụi phủ dày: "Nơi này không có người ở, nếu thiếu lang quân không ngại, có thể tạm trú. Chờ nữ nhi ta từ chợ về, để nó tìm xem có chăn gối dư không rồi mang qua cho cậu."
Khúc Thuần Phong chắp tay cảm tạ: "Quấy rầy lão bá, thật áy náy quá. Vãn sinh họ Khúc, tên Thuần Phong, nếu không chê, cứ gọi ta là Thuần Phong."
Danh tiếng Khúc Thuần Phong của Thiên Nhất Môn ở kinh thành người người đều biết, nhưng chắc chắn chưa lan tới chốn hẻo lánh như Tuyền Châu, càng không tới một làng chài biệt lập.
Lâm bá rõ ràng không biết thân phận anh, nghe vậy liền xua tay đáp: "Thế không được, thiếu lang quân là người đọc sách, ta chỉ là kẻ quê mùa, đâu dám gọi bừa. Cứ gọi là Khúc công tử đi."
Khúc Thuần Phong từ chối không được, đành nhận lời. Thấy Lâm bá đi đứng không dễ dàng, anh chần chừ hỏi: "Xin hỏi lão bá, chân của người..."
Lâm bá kéo ống quần lên cho anh xem, trên đó có hai vết răng: "Không sao, lần trước ra khơi bị rắn biển cắn, qua vài ngày là khỏi."
Khúc Thuần Phong nghe vậy liền mở hành lý mang theo, lấy ra một lọ thuốc, đổ ra một viên thuốc màu nâu rồi đưa cho ông, mỉm cười nói: "Đây là thuốc chữa thương một người bạn tặng ta khi lên kinh dự thi. Nghiền ra rồi đắp lên vết thương, hiệu quả rất tốt. Lão bá cứ thử xem."
Lâm bá không nghĩ nhiều, chỉ cho rằng đó là loại thuốc kim sang bình thường: "Thế thì đa tạ Khúc công tử."
Thấy đã muộn, ông không nán lại lâu, chỉ dặn dò vài câu rồi rời đi.
Khúc Thuần Phong quan sát căn nhà, thấy bụi bặm bám đầy. Anh khẽ vung tay áo, ngầm vận huyền thuật, lập tức quét sạch mọi thứ. Đẩy cửa bước ra ngoài, không xa là vách núi dựng đứng, phía dưới vài thước là bãi biển, sóng lớn vỗ bờ không ngừng nghỉ, quả thật rất ồn ào.
Khúc Thuần Phong bước tới mép vực, tà áo bị gió thổi tung, như thể muốn xuyên qua lớp sóng dữ dội để nhìn thấu điều gì đó. Nhưng ngoài vài con cá đang tung mình khỏi mặt nước, chẳng có gì bất thường.
Hệ thống từ đâu lao ra, cánh vỗ phành phạch, vừa đến đã đi, không quên tranh thủ kéo ký chủ quay về chính đạo:【Ngươi nhìn đi, lão bá đối xử với ngươi tốt thế, ngươi còn nhẫn tâm diệt cả làng sao?】
Khúc Thuần Phong nghe vậy nhìn nó, hờ hững đáp: "Nếu tìm được giao nhân, tự nhiên không cần phải diệt. Nhưng nếu không tìm được..."
Anh không nói hết, nhưng nửa sau ánh mắt hiện lên sát khí nhạt đã thể hiện rất rõ lập trường.
Chương 95
Buổi chiều hôm ấy, tại nhà ngư, xuất hiện một cô nương mặc áo vải xanh, có lẽ là con gái của Lâm bá. Nàng ôm trong tay một chồng chăn nệm, đứng trước cửa khẽ nghiêng người hỏi:
"Xin hỏi Khúc công tử có ở đây không?"
Có lẽ vì sinh trưởng bên bờ biển, làn da nàng không được mịn màng trắng trẻo như các tiểu thư kinh thành, mà ngược lại mang sắc nâu lúa mì khỏe khoắn. Hai bím tóc tết kiểu đuôi sam được quấn gọn trong chiếc khăn xanh hoa nhí, toát lên vẻ đẹp thuần phác.
Thiên Nhất Môn tuy được hoàng ân sủng ái, nhưng cũng chẳng khác gì đạo quán, ngày thường tu hành thanh tịnh kham khổ, Khúc Thuần Phong có nhận hay không nhận số chăn nệm này cũng chẳng đáng bận tâm. Nghe thấy tiếng gọi, anh bước ra khỏi phòng, trông thấy là một cô nương, liền theo bản năng tránh ánh mắt, cúi người thi lễ:
"Có phải là cô nương nhà họ Lâm không?"
A Anh âm thầm quan sát anh, nghĩ thầm rằng quả đúng như lời cha mình nói, công tử này đúng là một thư sinh yếu đuối tay không buộc nổi con gà, nhưng lại có cốt cách ngay thẳng, chỉ là hơi quá mức nghiêm nghị, khiến người ta có cảm giác anh đúng mực đến mức cứng nhắc: "Đúng vậy, cha ta bảo mang chút chăn nệm cùng bát trà, đồ dùng đến cho công tử."
Khúc Thuần Phong gật đầu, tránh tay nàng mà đón lấy đồ: "Đa tạ cô nương."
A Anh cười nói: "Khúc công tử cứ gọi ta là A Oanh Anh rồi. Đây là chốn thôn dã, không cần câu nệ nhiều lễ tiết như vậy."
Lâm bá cảm thấy Khúc Thuần Phong bất luận là dung mạo hay phẩm hạnh đều thuộc hàng xuất sắc. Nhưng A Anh, cô nương lớn lên ở vùng biển, dường như chỉ đơn thuần hiếu kỳ với anh. Nàng thấy Khúc Thuần Phong đẹp trai, nói chuyện cũng dễ nghe, khác hẳn với những người dân vùng nhỏ bé này.
Khúc Thuần Phong đặt đồ lên giường, vô tình nhìn thấy trên tai A Anh đeo một đôi khuyên ngọc trai, dưới ánh nắng, ánh lên sắc xanh nhạt, giống hệt ba viên giao nhân lệ châu trong quốc khố Đại Sở. Tay anh thoáng khựng lại, làm như vô tình hỏi: "Ngư dân nơi đây đều sống bằng nghề đánh cá, vậy đổi lấy bạc ra sao?"
A Anh giải thích: "Cách đây không xa có một khu chợ, bắt được cá thì mang đến tửu quán, khách điếm bán, sẽ có người thu mua. Sao vậy, công tử cũng muốn ra biển đánh cá hay sao?"
Ở kinh thành, lễ giáo quý tộc nghiêm khắc vô cùng. Những tiểu thư nhà danh môn vọng tộc ngày thường không bước chân ra khỏi cửa lớn, cửa nhỏ, đến tên huý cũng không để nam nhân ngoài biết được. Nam tử nếu nhìn thẳng vào cô nương chưa xuất giá sẽ bị coi là thất lễ, huống chi Khúc Thuần Phong còn là một nửa đạo sĩ.
Anh vẫn luôn hơi cúi mắt, nghe vậy liền đáp: "Không giấu gì cô nương, hiện tại ta không một xu dính túi, muốn làm chút việc để lo tiền lộ phí trở về nhà. Nếu có thể kiếm được bạc, ra biển đánh cá cũng là một cách hay."
A Anh nói: "Đánh cá tuy có thể kiếm được ít bạc, nhưng lại là việc khổ nhọc, công tử là người đọc sách, e rằng khó lòng chịu nổi."
Khúc Thuần Phong không để lộ cảm xúc, liếc nhìn lần nữa đôi hoa tai ngọc trai trên tai nàng, rồi lại thu hồi ánh mắt, nở nụ cười nhẹ nhàng như gió thoảng: "Biển cả chứa nhiều kỳ trân dị bảo, nếu có may mắn nhặt được một hai viên minh châu, vậy cũng đủ rồi."
Không biết có phải vì cảm nhận được ánh mắt của anh hay không, A Anh vô thức đưa tay sờ vào vành tai mình, trông có chút căng thẳng, cười giải thích: "Viên châu này... là mấy năm trước cha ta ra biển nhặt được từ trong vỏ sò, thấy màu sắc hiếm lạ nên giữ lại, thật ra chẳng đáng bao nhiêu tiền. Nếu công tử muốn ra biển, cũng không sao, đợi cha ta khỏi vết thương, ta sẽ nói với ông, đưa công tử theo."
Khúc Thuần Phong mỉm cười cảm tạ: "Đa tạ cô nương."
A Anh phẩy tay, tỏ ý không có gì, rồi vì suy nghĩ đến sự bất tiện giữa nam nữ, nên chỉ ở lại một lát rồi rời đi.
Không biết từ lúc nào màn đêm đã buông xuống. Ban ngày còn nóng đến mức khiến người ta đổ mồ hôi ướt áo, giờ đây lại lạnh thấu xương. Khúc Thuần Phong có chân khí bảo vệ, tự nhiên không sợ, anh ngồi tĩnh tọa trong phòng. Đợi đến khi trăng treo trên đỉnh đầu, anh lặng lẽ mở mắt, bước ra ngoài cửa.
Ngôi làng này quả thực rất kỳ quặc.
Cô nương ấy xuất thân bần hàn, nhưng lại đeo trên tai viên giao nhân lệ châu đáng giá vạn lượng vàng. Phải biết rằng, ngay cả trong quốc khố của Đại Sở, nơi thu thập kỳ trân dị bảo khắp thiên hạ, cũng chỉ có thể miễn cưỡng tìm được ba viên. Anh không tin rằng A Anh không biết giá trị của viên châu này.
Bọn họ bằng lòng sống trong cảnh nghèo khó, ở lại nơi này, dường như đang canh giữ thứ gì đó.
Giao nhân thích xuất hiện vào ban đêm, đặc biệt là những đêm trăng tròn. Khúc Thuần Phong bước ra khỏi nhà, thấy nước biển đã rút xuống, không còn cuồn cuộn như ban ngày. Anh bấm quyết, lấy thanh trường kiếm từ trong túi Càn Khôn, rồi từ vách đá nhẹ nhàng phóng xuống, tựa như chuồn chuồn lướt nước, đáp xuống bãi biển mà không phát ra một tiếng động.
Giao nhân không hiền hòa vô hại như lời đồn. Tiếng ca của chúng có thể mê hoặc tâm trí con người, hơn nữa mười ngón tay đều có móng vuốt sắc bén, có thể chém sắt như bùn, cắt vàng ngọc dễ như trở bàn tay. Nếu kiếp trước không phải dân làng đều chết sạch, khiến chúng vì phẫn nộ mà mất đi lý trí, thì triều đình chưa chắc đã dễ dàng bắt được chúng như vậy.
Khúc Thuần Phong chưa bao giờ dám lơ là. Anh đi đến bờ biển, ngồi xuống một tảng đá lớn, đặt trường kiếm ngang trên gối, rồi lấy ra một chuỗi niệm châu tinh xảo từ túi Càn Khôn, vốn là vật do Thứ sử Tuyền Châu dâng lên.
Thứ sử dám dùng để hối lộ tất nhiên không phải vật tầm thường. Chuỗi niệm châu này có tổng cộng hai mươi viên, tròn trịa, trong suốt, được chế tác từ lưu ly, khắc thành hình năm cánh hoa sen Phật. Lá sen được làm từ ngọc phỉ thúy loại băng thượng hạng, tinh xảo đến mức khó tin.
Chuỗi niệm châu quấn trên cổ tay Khúc Thuần Phong, đôi tay gầy gò nhưng ngón tay thon dài, dưới ánh trăng, ánh lên vẻ đẹp rực rỡ lộng lẫy. Thế nhưng, anh lại trực tiếp kéo đứt sợi dây ngọc, nắm lấy một nắm châu lưu ly trong lòng bàn tay, rồi phất tay áo, tung hết chúng xuống biển.
Những viên châu không chìm xuống đáy, mà được anh dùng chân khí nâng đỡ, lơ lửng trên mặt biển, thấp thoáng giữa những đợt sóng, lung linh như tinh tú rơi xuống đại dương.
Giao nhân rất thích nhặt những thứ tinh xảo lấp lánh như vậy về để trang trí hang ổ. Đặc biệt là những giao nhân sắp đến tuổi trưởng thành, sẽ càng điên cuồng tìm kiếm bảo vật để chuẩn bị cho lễ cầu hôn.
Khúc Thuần Phong lặng lẽ ngồi trên tảng đá, lấy lưu ly làm mồi, tóc buộc bằng dải lụa xanh bị gió biển thổi tung, vạt áo bay phấp phới, nhưng thân hình vẫn vững như bàn thạch. Trông anh như đang nhắm mắt tĩnh tọa, nhưng thực chất lại âm thầm cảnh giác từng động tĩnh xung quanh.
Đáng tiếc thay, ngoại trừ tiếng sóng vỗ và âm thanh bầy cá bơi lội, vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy giao nhân xuất hiện.
Năm xưa Khương Thái Công ngồi câu cá nơi ẩn khe suối, năm mươi sáu năm trời chưa từng bắt được con cá nào. Khúc Thuần Phong không thể chờ đợi ở đây mấy chục năm như thế.
Khoảng chừng hai canh giờ sau, đến khi ánh trăng sắp bị mây đen che khuất, anh mới mở mắt, từ từ đứng dậy trên tảng đá.
Giao nhân quả nhiên không dễ bắt như vậy.
Trường sinh cũng không dễ dàng mà có được.
Không chỉ Chiêu Ninh Đế mong cầu trường sinh, ngay cả Khúc Thuần Phong cũng muốn biết trên thế gian này có thật sự tồn tại trường sinh bất tử hay không.
Anh giơ tay lên không trung, những viên châu lưu ly đang trôi nổi liền trở về trong lòng bàn tay anh, vừa đủ hai mươi viên, không nhiều không ít. Anh khẽ cau mày, rồi tiện tay ném hết chúng xuống biển.
Lần này không có chân khí nâng đỡ, những viên châu nhanh chóng chìm xuống lòng biển sâu, chỉ có một viên may mắn lăn vào khe hở giữa các tảng đá.
Hệ thống xuất hiện sau lưng anh, tò mò hỏi: [Trường sinh đối với các ngươi thực sự quan trọng đến vậy sao?]
Khúc Thuần Phong im lặng một lúc rồi đáp: "Quan trọng thì đã sao?"
Hệ thống hừ lạnh một tiếng: [Dù là vì trường sinh, cũng không nên lấy mạng người khác.]
Khúc Thuần Phong khép mắt, lát sau mới nhàn nhạt lên tiếng: "Người chết trên đời này nhiều lắm, ngươi cứu không xuể, ta cũng cứu không nổi. Trong thời loạn thế, chỉ có thể lấy mình làm trọng mà thôi."
Nói xong, anh liếc nhìn mặt biển tối đen cuộn sóng, dường như muốn lặn xuống đó xem xét, nhưng nghĩ lại bản thân không giỏi bơi lội, cuối cùng đành từ bỏ ý định.
...Bị chết đuối thì không hay chút nào.
Anh cầm kiếm, xoay người rời khỏi bờ biển.
Ánh trăng trải dài trên mặt nước, rồi vỡ thành những mảnh sáng lấp lánh.
Không lâu sau khi Khúc Thuần Phong rời đi, trên mặt biển vốn chỉ có sóng nước lặng lẽ bỗng vang lên tiếng động khẽ, như thể có thứ gì đó đang lặng lẽ bơi qua.
Trên tảng đá ven bờ đột nhiên xuất hiện một bàn tay thon dài, trắng bệch, mang sắc xanh nhàn nhạt, móng tay sắc bén, lóe lên ánh sáng lạnh, dường như còn sắc hơn cả thanh kiếm thượng phẩm bằng huyền thiết của Khúc Thuần Phong.
Bàn tay ấy mò mẫm trong khe đá, chạm vào viên châu lưu ly vừa rơi, khéo léo dùng móng vuốt gẩy ra, rồi nắm chặt trong lòng bàn tay, sau đó lặng lẽ rút xuống nước.
Mặt biển lại trở về yên tĩnh.
Sáng hôm sau, trời còn chưa sáng rõ, Lâm bá đã bất ngờ đến trước cửa phòng Khúc Thuần Phong, gõ cửa: "Khúc công tử, Khúc công tử."
Chẳng bao lâu sau, cánh cửa gỗ phát ra tiếng "kẽo kẹt", Khúc Thuần Phong xuất hiện, không có vẻ gì là ngái ngủ, hiển nhiên đã dậy từ sớm: "Thì ra là Lâm lão bá, có chuyện gì sao?"
Lâm bá giải thích: "Ta nghe A Anh nói công tử muốn ra biển đánh cá, nên đến hỏi xem công tử có muốn cùng đi hay không."
Khúc Thuần Phong nghe vậy thoáng sững sờ, sau đó nhìn chân của ông, ngập ngừng nói: "Tất nhiên là đi rồi, chỉ là... vết thương của ông..."
Lâm bá không để tâm, cười ha hả: "Đa tạ công tử hôm qua đã tặng kim sang dược. Ta nghiền ra rồi đắp lên, vết thương ở chân nay đã đỡ hơn phân nửa, hiện tại đi lại không còn vấn đề gì nữa."
Khúc Thuần Phong đưa ra là mật dược trong cung, đương nhiên không phải vật phàm. Nghe ông nói vậy, anh chỉ cười nhẹ: "Không sao là tốt. Loại thuốc đó vốn là do bằng hữu tặng cho ta, để lâu cũng phí, nay có thể giúp được ông thì không gì tốt hơn."
Lâm bá nhìn ra xa, thấy một vầng thái dương đỏ rực đang nhô lên từ mặt biển, liền nói: "Khúc công tử, mặt trời đã lên rồi, nếu muốn ra biển, bây giờ đi là tốt nhất. Ngươi mau chuẩn bị, theo ta xuất phát."
Khúc Thuần Phong cũng chẳng có gì cần thu dọn, chỉ thay một bộ y phục gọn nhẹ, rồi cùng Lâm bá ra biển. Anh nhớ lại đêm qua quan sát tinh tượng, tính toán sơ lược, dường như có điềm báo sắp có mưa gió.
Lâm bá là người sinh ra và lớn lên ở ngôi làng chài này, sống ở đây hơn mấy chục năm, gia tài duy nhất cũng chỉ là một căn nhà tranh và hai, ba chiếc thuyền nhỏ. Ông bước lên một chiếc thuyền, kéo căng cánh buồm, rồi nói với Khúc Thuần Phong đang đứng trên bờ: "Công tử, lên đây đi, lát nữa nhớ cẩn thận, kẻo say sóng."
Khúc Thuần Phong tuy có võ công, nhưng không muốn để lộ, cũng không muốn để Lâm bá nhận ra. Anh khẽ vén tà áo, giả vờ loạng choạng bước lên thuyền, trông như một thư sinh yếu đuối không có sức trói gà.
Lâm bá nhìn thấy, liền đỡ anh ngồi xuống boong thuyền: "Công tử cứ ngồi tạm ở đây, lát nữa kéo lưới, lão sẽ gọi."
Khúc Thuần Phong từ nhỏ lớn lên ở kinh thành, chưa từng quen với nước, giờ đây nhìn ra biển khơi bao la, thực sự cảm thấy đầu óc quay cuồng. Gương mặt anh trở nên tái xanh, tay phải bám chặt vào mạn thuyền để giữ thăng bằng.
Lâm bá liếc nhìn anh: "Công tử là người đọc sách, chắc chưa từng ra biển chịu khổ như thế này phải không?"
Khúc Thuần Phong đáp: "Ta chưa từng ra biển, nhưng từ nhỏ đã đọc Sưu Thần Ký, thấy những chuyện kỳ lạ được ghi chép về hải dương, thần quỷ dị chí, trong lòng liền ngưỡng mộ, mong có ngày được tận mắt nhìn thấy Bồng Lai tiên đảo, nghìn năm thần quy, hay giao nhân dưới nước."
Những lời nói trước đều chỉ để dẫn dắt đến câu cuối cùng.
Nghe đến đó, động tác chèo thuyền của Lâm bá khẽ khựng lại trong thoáng chốc. Ông lắc đầu, dường như không đồng tình với những gì anh vừa nói, nhưng cũng không biểu lộ rõ ràng: "Thần quy giao nhân gì đó đều là chuyện bịa đặt của người đọc sách. Công tử chớ tin những lời ấy. Lão ta ở trên biển này đánh cá mấy chục năm, tính cả đời ông nội, cũng ngót nghét trăm năm, chưa từng thấy giao nhân nào."
Khúc Thuần Phong cười nhạt: "Có lẽ vậy. Ta cũng nghĩ rằng đó là chuyện khó tin."
Anh vốn là người ít khi mỉm cười, nếu có cười, cũng chỉ là những nụ cười nhạt nhẽo, khách sáo mà xa cách.
Không biết từ lúc nào, chiếc thuyền đã tiến ra giữa biển khơi. Mặt trời đỏ rực dần nhô lên, ánh sáng lấp lánh trên mặt nước như những mảnh vụn ánh hồng. Khúc Thuần Phong bỗng nhớ lại cảnh tượng kiếp trước khi làng chài này bị đồ sát, hàng trăm cao thủ bao vây giao nhân, lửa cháy ngút trời, mặt biển cũng đỏ thẫm, nhưng không phải do ánh mặt trời, mà là do máu tươi.
Trong lòng mỗi người đều có ma chướng. Huống chi Khúc Thuần Phong là một kẻ tu luyện huyền thuật, bị kẹt trong bình cảnh đã lâu, mỗi lần tĩnh tọa đều suýt tẩu hỏa nhập ma, nhưng vẫn không tìm ra nguyên nhân.
Rõ ràng trước mắt là biển cả mênh mông, nhưng trong tầm mắt anh, đột nhiên hiện lên một màu đỏ rực, không phải cảnh vật cụ thể, chỉ là sắc đỏ chói mắt. Anh nhắm chặt mắt, lông mày nhíu lại, tâm thần rối loạn, mãi đến khi nghe tiếng gọi của Lâm bá mới dần hồi tỉnh.
Lâm bá đã chuẩn bị xong lưới đánh cá, quay sang nói với anh: "Chúng ta sẽ thả lưới tại đây. Khúc công tử xem cho kỹ, thả lưới cũng là một việc có kỹ thuật. Nếu không đúng cách, sẽ chẳng bắt được con cá nào."
Nói rồi, ông thuần thục vung lưới xuống biển. Lưới cuộn lại thành một bó, khi được thả ra liền mở bung ra, kèm theo tiếng "ào" nhẹ nhàng, chìm sâu xuống mặt nước. Lâm bá chờ đợi trong chốc lát, cảm nhận được bên dưới có động tĩnh, liền bắt đầu kéo lưới lên. Lưới nặng trĩu vì đầy ắp cá.
Khúc Thuần Phong quan sát thấy ông đứng vững, phát lực từ eo, động tác nhìn thì đơn giản nhưng thực ra ẩn chứa nhiều kỹ xảo. Anh bước đến giúp một tay kéo lưới: "Hóa ra thả lưới cũng cần nhiều kỹ thuật như vậy."
Lâm bá là tay lão luyện trong nghề, đôi mắt tinh tường. Mẻ cá đầu tiên nhảy tanh tách, bắn nước tung tóe, làm ướt cả vạt áo của Khúc Thuần Phong.
Trong lúc họ không để ý, con thuyền nhỏ lặng lẽ trôi vào khu vực đầy rẫy đá ngầm, như thể có một thế lực vô hình nào đó đang dẫn dắt.
Lâm bá thở dài: "Việc gì trên đời cũng đều có cách thức riêng."
Ông ngồi trên boong thuyền, bắt đầu gỡ cá ra khỏi lưới. Chỉ giữ lại vài con lớn, còn những con nhỏ đều thả lại xuống biển.
Khúc Thuần Phong ngạc nhiên: "Lão bá, vì sao lại thả chúng đi?"
Lâm bá cười ha hả: "Chừa lại một con đường sống. Đủ ăn là được, không cần tận diệt. Hơn nữa, không có cá nhỏ thì lấy đâu ra cá lớn. Công tử nói có phải không?"
Khúc Thuần Phong khựng lại: "Đúng là như vậy."
Vừa dứt lời, một cơn sóng lớn bất ngờ ập tới, thuyền va mạnh vào đá ngầm, chao đảo dữ dội. Lúc này, họ mới nhận ra mình đã lạc vào bãi đá ngầm từ khi nào không hay.
Phía xa, một vòng xoáy sâu hun hút hiện ra, xoay tròn với phạm vi ngày càng mở rộng, như muốn nuốt chửng mọi thứ xung quanh.
Lâm bá biến sắc, vội vàng kéo buồm, chèo thuyền: "Không hay rồi! Gặp phải xoáy nước rồi! Mau rời khỏi đây!"
Nhưng đã muộn, vòng xoáy ấy như thể mang theo ma lực, chặt chẽ cuốn lấy con thuyền, một đợt sóng lớn ập tới, thuyền lập tức lật nhào, Khúc Thuần Phong cũng theo đó mà rơi xuống nước.
Anh không biết bơi, ở dưới nước không thể hô hấp, đến cả mắt cũng không mở ra được, nước biển dần dần tràn vào miệng mũi.
Chương 96
Khi ở dưới nước, mọi âm thanh dường như bị ngăn cách bởi một lớp gì đó, mơ hồ không rõ ràng. Khúc Thuần Phong lờ mờ nghe thấy tiếng Lâm bá gọi anh, nhưng không thể cất tiếng đáp lại, cũng chẳng tìm được phương hướng, đôi mắt bị nước biển làm cay xè, chỉ có thể cố gắng bơi về phía bờ.
Nước biển trong vắt, nhưng khi nhìn xuống dưới lại là một màu tối tăm sâu thẳm không thấy đáy. Đúng lúc Khúc Thuần Phong sắp nổi lên khỏi mặt nước, cổ chân anh bỗng như bị một thứ gì đó mềm mại, không xương nắm lấy, lặng lẽ kéo anh chìm xuống.
Có lẽ là tảo biển, cũng có thể là hải yêu, hoặc giả là giao nhân.
Khi nghĩ đến khả năng cuối cùng, Khúc Thuần Phong bỗng dưng buông bỏ mọi giãy giụa, lặng lẽ phong bế khí mạch của mình, để mặc cho lực kéo ấy lôi anh chìm xuống nước, định bụng tìm hiểu cho rõ ràng.
Người luyện võ thông thường phong bế khí mạch nhiều nhất chỉ duy trì được nửa nén nhang, nhưng Khúc Thuần Phong từng tu tập huyền thuật, có thể kéo dài tới một nén nhang. Tuy vậy, nếu để quá lâu không giải khai huyệt đạo, e rằng tính mạng vẫn sẽ gặp nguy hiểm.
Anh nhắm mắt, không vùng vẫy nữa, như thể đã ngất đi vì ngạt nước, nhưng có thể cảm nhận rõ ràng mình đang chìm sâu xuống đáy. Lồng ng.ực bị áp lực nước ép chặt, đau đớn tựa như xoắn lại thành một khối.
Khúc Thuần Phong khẽ nhíu mày, nghĩ thầm nếu còn chìm sâu hơn nữa, chỉ sợ khó lòng thoát chết. Đang chuẩn bị lấy thanh trường kiếm từ trong túi Càn Khôn để phá vòng vây, thì một cơ thể lạnh lẽo, trơn trượt bất ngờ dán chặt vào lưng anh, khiến động tác lập tức khựng lại.
Nước biển vốn đã lạnh giá, nhưng giờ đây lại có một bàn tay còn lạnh hơn quấn chặt lấy eo anh, móng tay sắc nhọn khẽ lướt qua bên má, mang theo một cảm giác nhồn nhột rợn người, tựa như cái vu.ốt ve trêu chọc của tình nhân nhưng lại lạnh lẽo như ma quỷ.
Khúc Thuần Phong khẽ động đầu ngón tay, cảm giác mình vừa chạm phải một lọn tóc. Tâm thần anh chấn động, lập tức mở bừng mắt ra——
Là giao nhân!
"Ào——!"
Mặt nước vốn tĩnh lặng bất chợt vang lên một tiếng động lớn, như thể bị một lực mạnh đánh vào, khiến ngay cả bầy cá xung quanh cũng hoảng sợ mà tản ra. Khúc Thuần Phong âm thầm vận khí huyền môn, tung một chưởng về phía sau, đồng thời dùng tay phải chuẩn bị bấm niệm chú thuật trói buộc đối phương.
Nhưng còn chưa kịp hoàn thành, bên tai anh đột ngột vang lên một âm thanh lạnh lùng, đều đều như máy móc:
【Đinh! Phát hiện ký chủ có hành vi vi phạm, lập tức tiến hành trừng phạt bằng điện giật!】
【Ta giật, giật, giật, giật, giật!】
Lời vừa dứt, chỉ nghe thấy một tiếng "Xẹt!" chói tai. Mặt biển tối đen bỗng lóe lên một tia sáng, như thể có sấm sét giáng xuống. Khúc Thuần Phong chỉ cảm thấy toàn thân bị cơn đau nhói như điện giật xuyên thấu, tứ chi lập tức mất hết tri giác, đầu óc trở nên trống rỗng. Khí mạch vốn đã bị phong bế giờ đây tan vỡ, huyền khí phản phệ, anh lập tức mất đi ý thức.
Thân hình của hệ thống dần hiện ra trong làn nước, đôi cánh nhỏ vỗ liên tục. Nó nhìn Khúc Thuần Phong đang chìm sâu xuống đáy, bất động như đã chết, cuối cùng cũng nhận ra vấn đề, vội vàng bay tới túm lấy cổ áo anh.
Hỏng rồi, hỏng thật rồi! Nó suýt quên mất, nước dẫn điện!
Hệ thống vỗ cánh hết sức, kéo Khúc Thuần Phong lên khỏi mặt nước, rồi thả anh xuống một bãi đá ngầm gần đó. Nó bay vòng quanh anh, cố gắng đánh thức:【Ký chủ? Ký chủ?】
009 đã thực hiện không biết bao nhiêu nhiệm vụ, nhưng đây là lần đầu tiên suýt giật chết ký chủ. Nó dùng cánh vỗ vào mặt Khúc Thuần Phong, rồi lại ấn ngực anh, thực hiện hồi sức tim phổi:【Này này, đừng chết nha, cuối năm ta còn phải tranh thành tích nữa, không muốn đứng bét đâu, hu hu hu...】
Nó sốt ruột đến mức bay loạn khắp nơi, lòng vòng không thôi. May thay, không biết là nhờ mạng Khúc Thuần Phong lớn hay do hồi sức tim phổi có tác dụng, khoảng nửa tuần trà sau, anh bất ngờ ho sặc sụa, nôn ra một ngụm nước, rồi ho khan dữ dội, cuối cùng cũng tỉnh lại từ cơn mê vì điện giật.
Khúc Thuần Phong chậm rãi mở mắt, đập vào tầm nhìn là bầu trời âm u, tựa hồ sắp mưa. Anh chỉ cảm thấy khắp người đau đớn, cố gắng chống người ngồi dậy, vẫn còn đôi chút mơ hồ.
Chuyện gì đã xảy ra...?
Anh cùng Lâm bá ra khơi đánh cá, gặp phải sóng dữ lật thuyền, rồi rơi xuống biển, bị một giao nhân quấn lấy...
Giao nhân...?
Khúc Thuần Phong cố gắng nhớ lại mọi chuyện vừa xảy ra, nhưng trong đầu chỉ hiện lên đôi mắt yêu mị đầy tà khí. Còn về việc làm thế nào anh bị mất đi hành động, và bằng cách nào đến được bờ, thì hoàn toàn mù mịt.
Tất cả là tại hệ thống ra tay quá nhanh, khiến anh trở tay không kịp.
Khúc Thuần Phong loạng choạng đứng dậy, lúc này mới phát hiện một quả cầu ánh sáng màu lam không biết từ lúc nào đã xuất hiện trước mắt. Anh nheo mắt nhìn nó, sắc mặt tái nhợt, giọng khàn khàn hỏi: "Chuyện vừa xảy ra dưới nước, có phải là do các hạ ra tay?"
Hệ thống vỗ cánh, giọng có chút chột dạ:【Này, ý ngươi là chuyện nào?】
Ý là chuyện điện giật ngài, hay chuyện cứu ngươi lên khỏi mặt nước?
Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhìn nó: "Dĩ nhiên là chuyện đánh lén ta."
Hệ thống lập tức trả lời:【Thân ái, gây thương tích cho người khác là vi phạm điều lệ cải tạo tinh giới. Nếu ngươi vi phạm, sẽ lập tức bị trừng phạt bằng điện giật, xin đừng thử thách giới hạn sinh tử một cách liều lĩnh~】
Khúc Thuần Phong chỉ cảm thấy nó nói năng mơ hồ, khó hiểu, nhưng đại khái ý tứ cũng nắm được. Đôi mắt đen của anh trầm tĩnh như nước, không vui không buồn: "Ta chỉ phụng mệnh quốc quân hành sự, cớ sao các hạ cứ phải gây khó dễ?"
Hệ thống thầm nghĩ ký chủ này thật là cứng đầu:【Ngươi phụng mệnh quốc quân, ta tuân theo quy tắc cải tạo, đâu có mâu thuẫn~】
Khúc Thuần Phong vẫn không hiểu rõ lời của nó, nên không để tâm nữa. Anh tĩnh tọa điều hòa khí huyết đang cuộn trào trong cơ thể. Vô tình cúi đầu, ánh mắt liền rơi vào cổ tay mình, nơi có một sợi chỉ mỏng manh kết từ huyền khí, yếu ớt như tơ nhện, chỉ cần một cơn gió nhẹ là đứt.
Khúc Thuần Phong chợt nhớ ra, lúc nãy khi thi triển chú thuật trói buộc giao nhân, giữa chừng thì bị hệ thống cắt ngang. Anh men theo sợi huyền khí, nhìn về phía những tảng đá ngầm phía xa, liền thấy một sinh vật hình người đang nằm trên đó.
Khúc Thuần Phong bất giác dừng bước, thầm nghĩ chẳng lẽ đó chính là giao nhân vừa rồi giao đấu với mình dưới biển?
Phản ứng của hệ thống đã xác nhận suy đoán của anh, giọng điệu như nhắc nhở, lại như cảnh báo:
【Này, giết giao nhân mà không lý do là vi phạm điều lệ, sẽ bị sét đánh đấy.】
Khúc Thuần Phong liếc nhìn nó: "Yên tâm, ta sẽ không lấy mạng hắn."
Trước khi tìm ra chân tướng lời nguyền, anh sẽ không dễ dàng làm tổn thương giao nhân. Lúc ở dưới nước ra tay, anh chỉ muốn khiến đối phương mất khả năng di chuyển, chưởng đó cũng chỉ dùng năm phần lực.
Khúc Thuần Phong chỉnh lại vạt áo xanh lam, nhét vào ngang thắt lưng, rồi bước đến gần đám đá ngầm. Đập vào mắt anh là một đoạn đuôi cá màu xanh thẫm lộ ra từ phía sau tảng đá lớn. Đuôi dài chừng một thước, càng về cuối càng chuyển dần sang trong suốt, nằm yên lặng trên phiến đá, dưới làn sóng biển vỗ vào, nhẹ nhàng tựa tơ lụa mềm mại.
Quả nhiên là giao nhân.
Kiếp trước, khi dẫn đệ tử Thiên Nhất Môn săn bắt giao nhân, Khúc Thuần Phong từng khắc sâu ấn tượng với những chiếc đuôi cá của họ. Thoạt nhìn mảnh mai yếu đuối, lại tuyệt đẹp, nhưng chỉ cần vung mạnh một cái là có thể tạo ra sóng lớn dữ dội, đủ sức đánh gãy toàn bộ xương cốt của một người.
Anh tiến đến gần hơn, không một tiếng động, thấy sau tảng đá là một giao nhân đang nằm yên bất động. Từ eo trở xuống là một chiếc đuôi cá màu xanh thẫm, lớp vảy xếp chặt chẽ, toàn thân trong suốt lấp lánh, ánh lên vẻ đẹp như bảo ngọc dưới ánh sáng mặt trời.
Tóc dài đồng màu xõa xuống bờ vai, che khuất đi vóc dáng và dung mạo của người đó.
Khúc Thuần Phong trầm ngâm quan sát. Từ trong túi Càn Khôn, anh rút ra một thanh trường kiếm, không rút kiếm ra khỏi vỏ mà dùng đầu mũi kiếm nhẹ nhàng lật người giao nhân lại.
Trước mắt anh là một giao nhân với đôi mắt khép chặt, lông mi dài cong vút, dung mạo yêu kiều tuyệt sắc, đôi môi đỏ như máu, đẹp đẽ đến mức không phân biệt được nam hay nữ.
Ánh mắt anh hạ xuống dưới, bỗng nhiên nhận ra—giao nhân này hoàn toàn không mặc gì.
Đồng tử Khúc Thuần Phong co lại. Anh vội vàng quay mặt đi, bước chân chao đảo, vì cơ thể vẫn còn yếu nên suýt làm rơi cả thanh kiếm trên tay. Đầu gối anh khụy xuống, thanh kiếm rơi xuống nền cát phát ra một tiếng "choang" vang dội.
Khúc Thuần Phong từ nhỏ đã trưởng thành trong đạo quán, bản tính cô độc, phần lớn thời gian đều dành cho việc tu luyện. Bên cạnh anh chưa từng có bóng dáng nữ nhân. Huống hồ, sư phụ Hồng Quan Vi rất nghiêm khắc với đệ tử, luôn nhắc nhở họ không được để d.ục v.ọng che mờ tâm trí, làm lỡ dở đạo hạnh. Dưới sự giáo dục nghiêm ngặt đó, tất cả đệ tử đều giữ mình trong sạch, mà Khúc Thuần Phong, đại đệ tử, là người tuân thủ nghiêm khắc nhất.
Phụ nữ ở kinh thành thường lập gia đình sớm, từ mười bốn, mười lăm tuổi đã có thể xuất giá, vì vậy thân hình của họ cũng chưa thực sự phát triển rõ rệt. Trong nhận thức của Khúc Thuần Phong, sự khác biệt rõ ràng nhất giữa nam và nữ chỉ nằm ở phần thân d.ưới.
Kiếp trước, dù từng dùng giao nhân để luyện dược, nhưng những giao nhân anh thấy đều là những thi thể đã tan nát, máu thịt lẫn lộn, dung mạo bị hủy hoại hoàn toàn. Vì thế, anh chưa từng sinh ra bất kỳ suy nghĩ nào khác.
Lần này, đối diện với một giao nhân hoàn mỹ như vậy, anh bỗng nhận ra giao nhân trước mắt có thể là một nữ tử.
Thiên Nhất Môn có giáo điều rất nghiêm khắc. Khúc Thuần Phong, với tư cách là đại sư huynh, càng không thể làm trái quy tắc.
Anh nhớ lại hình ảnh thoáng qua lúc nãy, làn da trắng như tuyết, rõ ràng là không một mảnh vải che thân. Khúc Thuần Phong cau mày, bàn tay siết chặt chuôi kiếm.
Hệ thống vốn nghĩ rằng vị ký chủ này sẽ làm điều gì đó, nhưng Khúc Thuần Phong chỉ khẽ nhắm mắt, niệm một câu "Phi lễ chớ nhìn", rồi cởi chiếc áo khoác ngoài, quăng lên người giao nhân, che kín toàn bộ thân thể của y.
Giờ đây, Khúc Thuần Phong có thể chắc chắn rằng giao nhân này đã mất khả năng phản kháng. Anh im lặng một lúc, sau đó mới đứng dậy, bước đến gần giao nhân, nhíu mày rồi cẩn thận bế người ấy lên trong tư thế ngang.
Giao nhân sống trong biển sâu, thân nhiệt thường rất thấp. Khi Khúc Thuần Phong chạm vào, cảm giác lạnh lẽo và nhớp nháp lan ra, giống hệt như những gì anh đã cảm nhận dưới lòng biển.
Ánh mắt anh vô thức hạ xuống phần đuôi cá màu xanh thẫm, nơi có một vết thương dài khoảng một tấc. Máu thịt lộ ra, nhiều vảy cá đã bị đánh rơi. Đây chính là dấu vết mà anh đã để lại khi tung chưởng bằng huyền khí.
Nơi này chính là bờ biển dưới vách đá nơi có căn nhà nhỏ của dân chài. Khúc Thuần Phong nhìn quanh, nhận ra con đường nhỏ quen thuộc dẫn lên vách đá, bèn men theo con đường dốc, trở về căn nhà trên đỉnh vách đá.
Chuyện này vô cùng quan trọng. Khúc Thuần Phong không muốn bất kỳ ai phát hiện ra. Sau khi vào trong nhà, anh đặt giao nhân lên giường, rồi cẩn thận đóng chặt tất cả cửa sổ và cửa ra vào, đảm bảo không ai từ bên ngoài có thể nhìn thấy bất cứ thứ gì. Khi chắc chắn mọi thứ đã an toàn, anh mới dần thả lỏng thần kinh căng thẳng.
Liếc nhìn giao nhân vẫn còn hôn mê trên giường, Khúc Thuần Phong nghĩ rằng đối phương sẽ chưa tỉnh lại ngay được. Anh tìm một chỗ trong nhà, ngồi xuống và bắt đầu điều tức, bình ổn lại luồng huyền khí đang cuộn trào trong cơ thể.
Đòn điện giật của hệ thống rốt cuộc vẫn khiến anh bị thương. Khúc Thuần Phong kiểm tra nội lực, nhận ra huyền khí còn lại rất ít. Có lẽ phải mất nửa tháng tĩnh dưỡng mới có thể khôi phục hoàn toàn. Trong thời gian này, anh gần như không thể vận dụng huyền thuật.
Trong căn phòng tối, không có ánh nến, chỉ có ánh sáng lờ mờ. Khúc Thuần Phong ngồi khoanh chân, khuôn mặt như ngọc, ngay cả khi chìm trong bóng tối cũng không giảm bớt phần nào tiên khí, tựa như không nhiễm chút bụi trần.
Không biết đã trôi qua bao lâu, giao nhân nằm trên giường bỗng từ từ tỉnh lại, lặng lẽ mở mắt ra.
Môi đỏ, răng trắng, yêu khí bừng bừng...
Tác giả có lời muốn nói:
Hệ thống: Ba la la năng lượng, tiểu hệ thống, điện điện điện!
Chương 97
Khúc Thuần Phong ban đầu chưa hề nhận ra điều gì khác thường, mãi đến khi phía sau truyền đến một tiếng động rất nhẹ, anh mới dường như cảm nhận được mà mở mắt. Qua lớp màn mỏng, anh thấy bên mép giường không biết từ lúc nào đã thả xuống một đoạn đuôi cá màu lam đậm. Đuôi ấy mềm mại tựa tơ lụa, đầu đuôi còn khẽ run rẩy.
Giao nhân đã tỉnh.
Dù vết thương của Khúc Thuần Phong mới chỉ hồi phục được ba phần, nhưng giao nhân một khi rời khỏi nước, sức mạnh liền suy giảm nghiêm trọng, không đáng để bận tâm. Anh đứng dậy từ mặt đất, lặng lẽ bước đến bên giường, dùng trường kiếm khẽ nhấc màn lên. Ánh mắt đầu tiên liền dừng lại trên phần thân trên của giao nhân, thấy đối phương vẫn còn khoác ngoại bào của mình, ánh nhìn mới dần dời lên. Không ngờ lại đối diện với một đôi mắt màu lam đậm, phía dưới mắt còn có một nốt lệ chí, quyến rũ mê hồn, khiến anh khựng lại trong giây lát.
Sách cổ ghi chép rằng, giao nhân phần lớn đều có dung mạo tuyệt mỹ, đủ sức khuynh đảo chúng sinh. Khúc Thuần Phong trước đây chỉ cho rằng đó là lời đồn, nay tận mắt chứng kiến mới biết điều ấy không phải hư ngôn. Giao nhân trước mặt này, đôi mắt hẹp dài, môi đỏ như máu, sống mũi cao thẳng tắp, làn da tuy trắng nhưng thoáng một sắc xanh nhàn nhạt, toát lên vẻ yêu dị không lý do, chỉ cần nhìn một lần liền có thể lạc lối.
Mái tóc dài buông xõa, khiến người ta vừa thấy đã xót thương, quả thật xứng đáng với hai chữ tuyệt sắc. Dẫu là phi tần được Sở vương sủng ái nhất cũng phải thua kém y ba phần.
Nhưng Khúc Thuần Phong chỉ liếc qua rồi lập tức thu hồi ánh mắt, trong lòng càng thêm chắc chắn rằng giao nhân này là một nữ tử. Anh giơ tay, dùng chuôi kiếm gõ nhẹ lên cột giường, màn vốn đang che nửa chừng liền buông xuống toàn bộ, chỉ còn lại một dáng hình mờ ảo.
Khúc Thuần Phong ngừng lại một chút, rồi hỏi: "Có hiểu được tiếng người không?"
Có lẽ vì đối phương là nữ tử, đôi mày anh từ đầu đến cuối vẫn luôn nhíu chặt, chưa từng giãn ra.
Tuy nhiên, sau khi lời vừa dứt, không gian chỉ còn lại sự tĩnh lặng. Bên trong màn vẫn im ắng, chỉ có chiếc đuôi cá lộ ra một nửa khẽ động, dường như muốn nâng lên nhưng cuối cùng lại vì vết thương mà mềm nhũn rơi xuống. Máu tươi theo đầu đuôi chảy dài, tí tách rơi xuống mặt đất, như một con thiên nga hấp hối rũ cổ đứt đoạn.
"....."
Nhân loại này thật đáng ghét.
Lâm Uyên lười nhác chống đầu, ngón tay thon dài quấn quanh một lọn tóc màu xanh đen, trong ánh nhìn có thể khiến nhật nguyệt thất sắc. Đến khi nhận ra cảm giác đau đớn nhói lên từ đuôi cá, đôi mày dài khẽ nhíu lại.
Đuôi của giao nhân chưa trưởng thành đều có màu xám xịt, khi đến tuổi trưởng thành, chúng sẽ trải qua một lần thay vảy. Thường thì, chúng sẽ chọn một bãi đá vụn vào ban đêm để mài bỏ lớp vảy cũ, sau khi vảy cũ rơi ra, sẽ lộ ra lớp vảy mới màu sắc đẹp đẽ, rồi sau đó đi tìm bạn tình để giao phối và sinh sản.
Lâm Uyên chính là một giao nhân đực vừa mới trưởng thành. Hôm qua là đêm trăng tròn, cậu bơi đến bãi đá vụn, sau đó mài bỏ lớp vảy cũ trên cơ thể mình. Đang chuẩn bị lặn lại vào nước, ai ngờ lại thấy trên mặt biển xuất hiện mấy chục viên ngọc lưu ly trong suốt.
Những thứ lấp lánh có sức hút chết người đối với giao nhân, Lâm Uyên cũng không ngoại lệ. Nhưng cậu biết biển không thể tự nhiên mà có những thứ này, nên lợi dụng bóng đêm, lén nổi lên mặt nước.
Trăng lên giữa trời, sóng biển dâng trào.
Cậu nhìn thấy một nam tử mặc y phục màu nhạt đang ngồi xếp bằng trên đá, ánh trăng rọi lên vai, như ngọc mỹ nhân, thần tiên cũng không hơn. Chỉ là anh ngồi bất động.
Cậu chưa từng thấy một con người nào đẹp như vậy.
Lâm Uyên nhìn một lúc lâu, rồi lại lặn xuống nước, nhưng không rời đi ngay, mà đợi cho nam tử kia rời đi, mới hiện thân, nhặt từng viên ngọc y ném xuống biển.
Điều kiện để giao nhân tìm bạn đời thực ra rất đơn giản, vừa mắt là được. Lâm Uyên cảm thấy nam tử kia rất vừa mắt. Giao nhân tộc nếu gặp được sinh vật mình thích, sẽ kéo đối phương vào nước, mặc kệ anh vùng vẫy trong cơn ngạt thở, sau đó mang về tổ.
Lâm Uyên cứ lén lút theo dõi nam tử kia.
Cậu nghịch ngợm lật thuyền của đối phương...
Cậu muốn mang đối phương về tổ của mình...
Nhưng sau đó cả hai đều bị hệ thống làm cho bất tỉnh.
#Một câu chuyện buồn#
Lâm Uyên luôn nghĩ rằng con người đều là những sinh vật tay trói gà không chặt, nhưng bây giờ có vẻ không phải vậy. Nghe thấy câu hỏi của đối phương, cậu nheo đôi mắt hẹp dài lại, lười biếng chống đầu, vẫy nhẹ đuôi cá, không đáp lại.
Khúc Thuần Phong lâu không nghe thấy cậu trả lời, lại hỏi: "Chẳng lẽ là câm?"
Vừa dứt lời, anh lại cảm thấy không thể nào, giao nhân tộc sở hữu giọng hát hay nhất thế gian, có thể mê hoặc thần trí con người, làm sao có thể là câm được.
Lâm Uyên nhất quyết không nói, cậu chống đầu, dùng móng tay sắc nhọn không tiếng động gẩy nhẹ mép giường, suy nghĩ xem làm thế nào để mang người trước mặt về tổ làm bạn đời, nhưng hiện tại rời nước rồi, lại bị thương, không thể hành động được.
Khúc Thuần Phong thấy vậy, cho rằng cậu ngầm thừa nhận, nghĩ giao nhân không biết nói là chuyện hiếm thấy, định hỏi chuyện lời nguyền, lại nghĩ đối phương là người câm cũng chẳng hỏi được gì, đành tạm gác lại, định dưỡng thương cho tốt rồi hôm khác bắt một con biết nói về hỏi sau.
Còn con này, cứ để lại đã.
Dù đối phương là giao nhân, Khúc Thuần Phong vẫn có cảm giác ngượng ngùng khi đơn độc cùng một phòng với một người. Anh nhìn qua cái đuôi cá vẫn còn đang chảy máu của đối phương, ngừng một chút rồi lấy ra một lọ thuốc nhỏ bằng sứ trắng từ trong túi càn khôn.
Hệ thống đang quan sát trong tối, nghĩ rằng tên này chưa hoàn toàn mất hết lương tâm, ít ra cũng biết bôi thuốc cho người ta.
Nhưng ý nghĩ này vừa dứt, liền bị đánh bay.
Chỉ thấy Khúc Thuần Phong đặt lọ sứ nhỏ đó dưới đầu đuôi của giao nhân, đợi nhỏ đầy lọ rồi mới ngắm nghía một lúc, rồi lại đặt vào túi càn khôn, tiếp tục ngồi thiền.
Hệ thống ngớ ra, nghĩ rằng nếu lỡ cậu ấy mất máu mà chết thì sao: 【Ngươi... ngươi không bôi thuốc cho cậu ta sao?】
Khúc Thuần Phong hiếm khi tức giận, đối với câu hỏi của hệ thống cũng có hỏi có đáp, mắt vẫn nhắm: "Giao nhân tộc có khả năng tự chữa lành rất mạnh, chút thương nhỏ này, không chết được."
Người xưa nói rất đúng, cẩn thận không thừa, hệ thống do dự hỏi: 【... Lỡ đâu thì sao?】
Khúc Thuần Phong: "..."
Khúc Thuần Phong lần đầu cảm thấy nó hơi ồn ào, nhưng nghe vậy cuối cùng cũng mở mắt, anh nhìn đuôi cá màu xanh đen kia, rồi lấy ra một miếng vải từ trong tay áo, bước đến giường, cúi người lau sạch máu quanh vết thương, rồi lấy ra một lọ thuốc mỡ, đổ lên trên.
Vảy quanh vết thương có vài cái rơi ra, trong suốt màu xanh nhạt, Khúc Thuần Phong thấy vậy nhặt vài mảnh, tiện tay cho vào túi càn khôn.
Đuôi cá lạnh lẽo, trông có vẻ mềm mại, thực ra ẩn chứa sức mạnh, giờ bị một đôi tay ấm áp nâng lên, bỗng khẽ động đậy, tấm vải dài như có sinh mệnh quấn quanh cổ tay Khúc Thuần Phong, lạnh lẽo mang theo sự mềm mại vô hạn, như là trêu chọc.
Khúc Thuần Phong thấy vậy khựng lại, ngước mắt nhìn vào trong màn, bên trong vẫn yên ắng, không có động tĩnh gì. Anh không động thanh sắc gỡ bỏ sự quấn quanh của đuôi cá, luôn cảm thấy như đã chạm vào thứ không nên chạm, vượt qua lễ pháp: "Cô nương xin tự trọng."
Tự trọng?
Tự trọng là gì?
Lâm Uyên tự động bỏ qua hai chữ "cô nương", khẽ thổi một hơi về phía màn, qua khe hở hờ hững nhìn thấy người kia vẫn là dáng vẻ lạnh lùng, cố ý dùng đuôi chạm vào tay y, không ngờ đối phương phản ứng lớn hơn, lập tức lùi một bước tránh sang bên.
Đuôi của giao nhân giống như chân của thiếu nữ, kiếp trước luyện chế thuốc trường sinh là trường hợp đặc biệt, nếu không Khúc Thuần Phong tuyệt đối sẽ không chạm vào. Sư phụ nói rằng tu luyện phải một lòng một dạ, không được có hành vi vượt lễ, nếu không sẽ tổn hại đạo hạnh.
Khúc Thuần Phong rất nghe lời sư phụ.
Giao nhân này đã là người câm, lại bị thương không thể đi lại, vậy thì cũng không cần tốn công canh giữ. Khúc Thuần Phong không biết nghĩ gì, mở cửa bước ra ngoài, rồi khóa cửa gỗ lại, đi đến nhà Lâm bá.
Sáng nay thời tiết vẫn tốt, nháy mắt đã mây đen cuồn cuộn. Khúc Thuần Phong vừa đến ngoài sân hàng rào, liền thấy A Oánh đang thu dọn hải sản phơi ngoài sân, đẩy cửa bước vào nói: "A Anh cô nương."
A Anh nghe thấy thì ngừng tay, theo phản xạ nhìn anh, không khỏi vui mừng nói: "Hóa ra là Khúc công tử, ngươi không sao thì tốt rồi. Vừa rồi cha ta ra biển về, nói là gặp đá ngầm lật thuyền, ngươi vô ý rơi xuống biển, ông tìm mãi không thấy, đành phải tự mình trở về, đang định tìm vài người trong làng cùng ra bờ biển tìm ngươi."
Khúc Thuần Phong cũng không ngờ Lâm bá lại cố ý tìm mình, ngây ra một lúc, rồi phản ứng lại, chắp tay cảm ơn: "Tại hạ quả thật rơi xuống biển, nhưng may mắn bơi được vào bờ, mới nhặt về được một mạng, làm phiền mọi người lo lắng."
A Anh nói: "Công tử nói gì vậy, ái chà, ta quên mất, cha ta còn đang tìm người làng để cứu ngươi, ta phải mau chóng đi báo với ông một tiếng."
A Anh vỗ đầu, không màng đến đống hải sản, dậm chân một cái, vội vàng rời khỏi nhà, chạy thẳng đến đầu làng.
Khúc Thuần Phong thấy nàng rời đi, cúi người nhặt mấy con cá khô rơi trên đất bỏ lại vào rổ, mang đống hải sản còn lại vào trong, đóng cửa hàng rào lại rồi mới quay về căn nhà chài của mình.
Có lẽ do bị thương, giao nhân đó không làm loạn gì, qua màn trướng lờ mờ có thể thấy hình dáng của cậu, Khúc Thuần Phong thấy trời sắp tối, lấy hỏa chiết tử, chuẩn bị thắp nến, lại thấy màn trướng đột nhiên bị một bàn tay trắng xanh nhợt nhạt vén lên.
Khúc Thuần Phong liếc nhìn, không để ý, tiếp tục thắp nến.
Lâm Uyên ngồi thẳng dậy, nhìn thoáng qua bóng lưng anh, rồi thu lại ánh mắt, ôm lấy cái đuôi của mình, phát hiện trên đó không chỉ có một vết thương xấu xí mà còn rụng không ít vảy, cậu nhíu mày, có chút bất mãn.
Giao nhân yêu cái đẹp, đuôi không đẹp thì không tìm được bạn đời.
Lâm Uyên ngồi trên giường, mái tóc dài màu xanh đen như nước đổ xuống vai, che đi thân thể trong suốt, khuôn mặt nghiêng sâu thẳm tinh xảo dưới ánh nến trông cực kỳ hoa lệ, khi cười như không cười, tựa như yêu quái trong cổ thư dụ người sa ngã.
Cậu khẽ thổi một hơi về phía bóng lưng của Khúc Thuần Phong, trong nhà đóng chặt cửa sổ đột nhiên nổi lên một luồng gió lạnh, ngay cả ngọn nến cũng lay động. Khúc Thuần Phong giơ tay áo che cơn gió vô cớ, đợi ngọn nến ổn định lại, mới xoay người, lại thấy giao nhân kia không biết từ khi nào đã ngồi dậy, cái đuôi dài mạnh mẽ rũ xuống, tấm lụa mỏng trên đuôi chạm đất, dính chút bụi bặm.
Bên cạnh là một chiếc áo choàng màu xanh rất quen mắt. Khúc Thuần Phong thấy vậy, đồng tử co lại, theo phản xạ nhìn về phía thân trên của giao nhân, chỉ thấy một mảng trắng ngần, quả nhiên đối phương đã cởi chiếc áo choàng mà anh phủ lên, vội quay đầu sang chỗ khác, cổ tay lật một cái, thanh kiếm rời vỏ, không ngoái đầu lại mà khều chiếc áo choàng trên đất lên.
Khúc Thuần Phong nhíu mày chặt đến mức có thể kẹp chết ruồi, giọng nghiêm nghị, nghe kỹ còn có chút bối rối khó phát hiện: "Mặc vào!"
Nhân loại này không chỉ đáng ghét mà còn rất hung dữ.
Ánh mắt của Lâm Uyên tối sầm lại, lặng lẽ liếm hàm răng sắc nhọn, nếu không thể mang về làm bạn đời, vậy thì ăn anh ta đi.
Tác giả có lời muốn nói: Bạn nghĩ đây là mỹ nhân ngư sao? Không không không, là cá ăn thịt người.
Khúc Thuần Phong: Cho ta thắp cho mình một cây nhang.
Chương 98
Trong giao nhân có những kẻ tính tình hiền lành, cũng có những kẻ tính tình hung tàn, Lâm Uyên thường xuyên dao động giữa hai tính cách này.
Khúc Thuần Phong không biết suy nghĩ của cậu, đưa thanh kiếm tới trước mặt cậu, mũi kiếm khều chiếc áo choàng màu xanh, đứng yên bất động.
Giao nhân không cần mặc quần áo, cho dù có mặc, cũng là tơ lụa mềm mại diễm lệ, chiếc áo choàng màu xanh này chỉ là vải thô bình thường, thật sự quá thô ráp. Lâm Uyên nhìn anh một lúc, ánh mắt lay động, cuối cùng giơ tay, dùng móng tay đen nhọn móc lấy dải áo, miễn cưỡng khoác lên người.
Mảng trắng tinh khiết và hồng nhạt bị che lấp phần lớn.
Khúc Thuần Phong thật ra chưa nhìn rõ cái gì, tóc của giao nhân màu xanh đen rất dài, nhìn qua chỉ như bóng người mờ ảo sau lụa, nhưng trần truồng, đã là quá mức rồi.
Khúc Thuần Phong thấy cậu mặc vào, chỉ nói bốn chữ: "Không được cởi ra."
Nói xong, thu thanh kiếm vào vỏ, động tác dứt khoát, không có bất kỳ động tác thừa nào, hiển nhiên là một kiếm khách cao tay. Sau đó ngồi xếp bằng trên đất, không xa giường, tiếp tục luyện công.
Thanh kiếm Thượng Thiện đặt ngang trên đùi, chuôi kiếm đung đưa nhẹ nhàng, trên đó treo một miếng ngọc âm dương vô cực, dưới ánh nến tỏa ra ánh sáng long lanh.
Ánh mắt của Lâm Uyên luôn dán chặt vào Khúc Thuần Phong, cậu nhớ lại nhiều năm trước, từng tình cờ gặp một chiếc thuyền buôn đến từ phương Tây, vô tình nổi lên mặt nước, những khách buôn đó liền lộ ra ánh mắt thèm thuồng dâm đãng, nhưng người trước mặt này không giống bọn họ.
Không giống cũng tốt, bạn đời của cậu, tất nhiên phải là độc nhất vô nhị.
Khúc Thuần Phong luôn ngồi thiền điều tức, nhưng lại mãi không thể nhập định, mấy chục năm yên tĩnh như một ngày dường như bị thứ gì đó khuấy động mạnh mẽ, ngoài tâm thần bất an vẫn là tâm thần bất an.
Khi ngọn nến cháy được nửa, anh mở mắt ra, cuối cùng từ bỏ, lặng lẽ nắm chặt thanh kiếm trên đầu gối, ngón tay khẽ vu.ốt ve hoa văn và chữ khắc trên đó.
Thanh kiếm này là do Hồng Quan Vi ban tặng, ông yêu thích câu "Thượng thiện nhược thủy, thủy lợi vạn vật nhi bất tranh" trong Đạo Đức Kinh, nên đặt tên cho thanh kiếm là Thượng Thiện, nhưng ông luôn nói, Khúc Thuần Phong chỉ hiểu được chữ "bất tranh", chưa hiểu được chữ "thiện".
Khúc Thuần Phong quả thực không hiểu, anh nhớ đến cảnh ngộ hiện nay của Hồng Quan Vi ở kinh thành, không khỏi nhíu mày, sắc mặt luôn lạnh nhạt bỗng hiếm khi lộ ra vài phần ưu tư, vì có chút mất tập trung, hoàn toàn không phát hiện ra giao nhân đó đã lặng lẽ trườn xuống giường.
Ngọn nến hơi lay động, nổ ra tia lửa nhỏ.
Trên vai Khúc Thuần Phong không biết từ khi nào đã đặt một bàn tay trắng xanh nhợt nhạt, xương ngón tay thon dài, không giống của con người, lúc này móng tay sắc nhọn đã thu lại, lặng lẽ buông xuống, qua lớp áo, nhẹ nhàng vẽ vòng tròn trước ngực anh, cực kỳ mờ ám và khiêu khích.
Khi Khúc Thuần Phong cứng đờ người, hồi thần lại, Lâm Uyên đã dán sát vào lưng anh, cơ thể lạnh lẽo, mang theo chút cảm giác nhầy nhụa, một lọn tóc dài màu xanh đen rơi trên vai anh, mềm mại như lụa.
Lâm Uyên khẽ thổi một hơi vào tai Khúc Thuần Phong, giống như yêu quái dụ người sa ngã, sau đó hài lòng nhìn thấy vành tai đối phương dần đỏ lên như ngọc máu, không nhịn được thè đầu lưỡi đỏ thắm, nhẹ nhàng liếm một cái.
Da nóng hổi, thậm chí có thể cảm nhận được dòng chảy của máu.
Cơ thể Khúc Thuần Phong đã cứng ngắc như tượng đá, trên mặt lần lượt hiện lên vẻ kinh ngạc, không thể tin, bối rối, cuối cùng trở thành xấu hổ và phẫn nộ, tay run lên, ngay cả kiếm cũng cầm không vững.
Không dám quay đầu, sợ nhìn thấy điều không nên thấy, Khúc Thuần Phong xoay tay đưa kiếm chặn cổ Lâm Uyên, lạnh giọng quát: "Không biết xấu hổ, mau lui ra!"
Sư phụ... sư phụ nói quả không sai, mỹ sắc là họa thủy, chỉ làm hại đến đạo hạnh của họ.
Thanh kiếm mỏng như cánh ve lúc này nhìn kỹ, có chút run rẩy không dễ nhận ra, Lâm Uyên nhướng mày nhìn một cái, co ngón tay khẽ bật, móng tay chạm vào lưỡi kiếm phát ra một tiếng vang nhẹ, dễ dàng đẩy lưỡi kiếm ra.
Không phải cậu mạnh, mà là người cầm kiếm đã loạn tâm rồi.
Khúc Thuần Phong thấy lưỡi kiếm của mình bị đẩy ra, không hề nhận ra mình tay run chỉ còn ba phần lực, chỉ cảm thấy sức tấn công của giao nhân này không thể coi thường, cau mày giữ lấy tay không an phận trước ngực mình, một chưởng đẩy cậu ra, rồi nhanh chóng đứng dậy lui về phía cửa.
Lâm Uyên không phòng bị, bị đẩy ngã xuống đất, hiếm thấy có chút giận dữ, đồng tử tròn xoe trực tiếp co lại thành một đường mảnh như đầu kim, mang theo sự lạnh lẽo vô cơ, cái đuôi dài mạnh mẽ quật xuống đất, lập tức làm nứt nẻ nền nhà thành hình mạng nhện, để lộ hai chiếc răng nanh nhọn hoắt, từ cổ họng phát ra âm thanh xì xì của loài rắn.
Đáng chết thật! Con người này!
Khúc Thuần Phong dựa lưng vào cửa, chỉ cảm thấy cảm giác nhầy nhụa sau lưng vẫn còn, cố gắng áp chế nỗi loạn trong lòng, xấu hổ và giận dữ quát: "Quả nhiên là yêu nghiệt!"
Hệ thống trong lòng nghĩ rằng chủ nhân này nhìn ai cũng thấy như yêu nghiệt, sợ rằng cậu ta trong cơn giận dữ sẽ g.iết ch.ết giao nhân, bèn nhỏ giọng nhắc nhở bên tai Khúc Thuần Phong: 【Này, đừng tùy tiện giết người, sẽ bị sét đánh đó】
Khúc Thuần Phong không để ý đến nó, chỉ chăm chú nhìn chằm chằm vào giao nhân đang sẵn sàng tấn công dưới đất, nắm chặt thanh kiếm trong tay, dường như chỉ có vật này mới mang lại cho anh chút cảm giác an toàn.
Hồng Quan Vi năm đó một lòng tu hành, nhưng Thượng Kinh là chốn phồn hoa, ông sợ đệ tử của mình bị mê hoặc bởi quyền lực và d.ục v.ọng, nên không cho phép họ dính vào chuyện ăn chơi trụy lạc, suốt ngày ở trong đạo quán, từ nhỏ đến lớn chẳng thấy mấy phụ nữ. Nào ngờ thái quá bất cập, đại đệ tử mà ông yêu quý nhất bây giờ bị một con cá chạm vào cũng như bị trúng bùa, tay run lòng loạn.
Lâm Uyên vừa rồi quất đuôi mạnh mẽ, vết thương lập tức rách toạc, máu bắt đầu nhỏ giọt xuống đất, dần tụ thành một vệt tối màu, vài mảnh vảy xanh rơi xuống, nhưng rất nhỏ, rơi trên nền nhà xám xịt, giống như những vì sao rơi vào đống cát.
Khúc Thuần Phong không biết có phải kiếp trước luyện đan trường sinh đến ma mị rồi không, nhìn thấy vết máu đó, có chút xuất thần, anh đứng cạnh cửa rất lâu, thấy giao nhân đó bất động, như mất hết khả năng hành động, một lúc sau, thân thể căng thẳng cuối cùng cũng thả lỏng đôi chút.
Khúc Thuần Phong từ từ hạ kiếm, dừng lại một chút, rồi vẫn cảnh cáo: "Ta là người tu hành, mà người và yêu vốn khác biệt, cô nương nên tự trọng, đừng làm loạn tâm pháp của ta, lần sau, ta sẽ không nương tay."
Lâm Uyên chống tay xuống đất, lưng và đuôi cá nối thành một đường, trơn tru và đẹp mắt, cậu không tin trên đời này lại có người không tham tiền không háo sắc, nghe vậy thì cười lạnh một tiếng, như châm biếm như khinh bỉ, không nói lời nào.
Khúc Thuần Phong thấy cậu không có động tĩnh, lấy từ trong tay áo ra một lọ thuốc, rồi tiến đến bên cạnh đuôi cá của cậu, ngón tay khẽ bật, đổ bột thuốc trắng lên vết thương, nghiêm giọng nói, không hiểu phong tình: "Lần sau sẽ không quan tâm nữa."
Nói xong thấy bên cạnh rơi vài mảnh vảy xanh, tiện tay nhặt lên bỏ vào túi càn khôn, chỉ vì đã quen nghiên cứu giao nhân, hoàn toàn không nghĩ đến hành động này có ý nghĩa gì.
Trong thành Thượng Kinh, nếu có nam nữ yêu nhau, họ sẽ tặng nhau kỷ vật như tóc, trâm ngọc, túi thơm ngọc bội để làm tín vật định tình, giao nhân tộc cũng vậy, nhưng họ tặng nhau là giao châu và vảy.
Lâm Uyên thấy Khúc Thuần Phong nhặt vảy của mình một cách lén lút, cơn giận kỳ lạ trong lòng cậu liền tiêu tan, cố tình động đuôi nhẹ nhàng quấn lấy cổ tay của người đó, rồi thấy tai người kia vốn đã bớt đỏ lại nhanh chóng đỏ bừng lên như muốn chảy máu.
Khúc Thuần Phong rút tay về: "Không biết xấu hổ."
Anh ngoài câu này ra, dường như không biết nói gì nữa.
Lâm Uyên cười quyến rũ, cậu đưa tay khẽ kéo tay áo Khúc Thuần Phong, chỉ vào mình, rồi chỉ vào giường, ý rất rõ ràng, muốn anh bế mình lên.
Khúc Thuần Phong đã chứng kiến sự xảo trá của cậu ta, không muốn động đậy, rút tay áo về, mặt vô biểu cảm nói ba chữ: "Tự bò lên."
Lâm Uyên: "......"
Lâm Uyên kiên trì không bỏ cuộc, lại kéo tay áo anh lần nữa, đôi mắt xanh biếc đẹp hơn cả lưu ly, nhẹ nhàng chớp chớp, chỉ vào vết thương trên đuôi mình, biểu thị không bò lên được.
Khúc Thuần Phong kỳ lạ hiểu ý của cậu, nhưng vẫn không động đậy: "Vậy thì ở dưới đất mà nằm."
Giường tốt không nằm, nhất định phải tự mình bò xuống, chẳng trách ai được.
Anh tiên phong đạo cốt, tựa như thần tiên, nhưng lại có một trái tim cứng rắn hơn đá, Lâm Uyên nghĩ bạn lữ lạnh lùng như vậy, đến lúc động tình thì phải làm sao đây? Lại dùng đầu đuôi quấn lấy tay anh, khẽ khàng trêu đùa.
Khúc Thuần Phong có lẽ nghĩ đến vết thương trên đuôi cậu, không mạnh tay hất ra, trong lòng nghĩ giao nhân này hôm nay nếu không đạt được ý nguyện, chỉ sợ không chịu yên, cuối cùng nhịn sự khó chịu, đứng dậy bế Lâm Uyên lên giường.
Có lẽ vì ở đạo quán sâu trong núi, Khúc Thuần Phong trên áo luôn có mùi đàn hương khó phai, ngửi vào làm lòng người thư thái, Lâm Uyên khi được anh bế lên, tự nhiên ngửi thấy.
Cậu dùng móng tay móc vào áo Khúc Thuần Phong, còn chưa nghĩ ra vì sao người này lại thơm như vậy, đã bị đặt lên giường, thấy vậy trong mắt hiện lên một tia gian xảo, mạnh tay quấn lấy cổ Khúc Thuần Phong, kéo anh xuống.
Thủ đoạn trêu ghẹo của nam nữ nhiều vô kể, Khúc Thuần Phong không thể tưởng tượng được, không đề phòng Lâm Uyên sẽ làm vậy, mất thăng bằng liền ngã lên người cậu, trong lúc hoảng loạn, tay chạm vào ngực đối phương, cách qua áo dường như chạm phải gì đó, đồng tử co lại, phản ứng như bị điện giật bật dậy, loạng choạng lui ra khỏi giường, lưng va vào cạnh bàn, suýt chút nữa làm đổ nến.
Khúc Thuần Phong mở to mắt, có chút hoảng loạn giải thích: "Ta không cố ý!"
Trái tim anh như muốn nhảy ra khỏi cổ họng, nghĩ đến chỗ vừa chạm phải, đầu óc trống rỗng, đó là... đó là ngực của cô nương...
Lâm Uyên vì hành động của anh vừa rồi mà từ từ buông xuống, chỉ để gió khẽ thổi lên một góc. Cậu không hiểu tại sao Khúc Thuần Phong lại hoảng loạn như vậy, nhưng cũng cảm thấy thú vị vô cùng, lười biếng nhấc mí mắt, vứt chiếc áo ngoài màu xanh của mình sang một bên, uể oải đáp một tiếng "ừm".
Giọng của cậu vang lên như tiếng chuông, âm cuối lười biếng tan biến trong không khí, ngọt ngào mê người.
Khúc Thuần Phong chỉ nghĩ rằng cậu câm nhưng vẫn có thể phát ra một số âm đơn giản, vì vậy không nghi ngờ gì. Nghe thấy giao nhân đáp lại, anh nghĩ rằng đối phương đã tha thứ cho sự thất lễ của mình lúc nãy, đè nén nhịp tim đang dồn dập, đứng cách xa màn, chắp tay cảm tạ: "Đa tạ cô nương..."
Nói xong dường như vẫn còn sợ hãi, không dám tiến thêm một bước, tìm một chỗ xa xa ngồi xuống điều tức cho đến sáng.
Giao nhân không thể rời nước, huống hồ lại bị thương nặng. Sáng sớm hôm sau, Lâm Uyên cảm thấy cổ họng khô rát, vảy cũng bắt đầu mất đi độ bóng. Cậu nhíu đôi mày dài, vén màn lên, thấy Khúc Thuần Phong vẫn đang ngồi thiền, nhẹ nhàng gõ vào mép giường.
Khúc Thuần Phong lập tức mở mắt: "Có chuyện gì?"
Lâm Uyên lười biếng nằm bò bên mép giường, cánh tay trắng nõn thả lỏng xuống, chỉ vào chén trà trên bàn rồi chỉ ra biển ngoài cửa.
Cậu thiếu nước.
Khúc Thuần Phong hiểu ý, kéo vạt áo đứng dậy ra ngoài, một lát sau, anh quay lại với một chậu gỗ đầy nước biển.
Trước khi tìm được một giao nhân khác thay thế, đương nhiên anh không thể để Lâm Uyên trở về biển. Giao nhân trong nước có sức mạnh khác xa khi ở trên cạn, Khúc Thuần Phong từng bắt họ, hiểu rõ sự khó nhằn của họ như thế nào.
Giao nhân là đế vương của biển cả.
Lâm Uyên liếm liếm đôi môi khô khốc, rồi chạm vào chiếc đuôi cá xinh đẹp của mình, nghĩ rằng dù không thể trở lại biển, uống một chút nước biển cũng tạm được. Cậu nhìn thấy Khúc Thuần Phong đi đến giường, chuẩn bị ngồi dậy, nhưng đột nhiên nghe thấy tiếng nước ào ào, cả chậu nước biển bất ngờ bị đổ thẳng xuống đầu cậu.
Lâm Uyên đờ người: "..."
Điều quan trọng nhất là, Khúc Thuần Phong còn nghiêm túc hỏi: "Cô nương, đủ chưa?"
Tác giả có lời muốn nói: #người là người đứng đắn, nhưng cá lại không phải cá đứng đắn#
Chương 99
Khúc Thuần Phong không ngủ trên giường nên anh không quan tâm giường có ướt hay không. Chỉ nghĩ rằng giao nhân thiếu nước, từ đầu đến đuôi đều phải ngâm vào nước, vì vậy anh trực tiếp dội lên người Lâm Uyên.
Chậu nước này rất nhiều, khi dội xuống, trên giường hình thành một vũng nước lớn, nước chảy ròng ròng xuống đất, khiến mặt đất cũng ướt đẫm.
Lâm Uyên ngẩn ra một lúc, rồi phản ứng lại, vô thức nhìn về phía Khúc Thuần Phong. Anh đang cầm chậu gỗ, đứng bên giường đợi câu trả lời của cậu, rõ ràng là nếu cậu nói không đủ, anh sẽ dội thêm một chậu nữa.
"......"
Lâm Uyên còn có thể nói gì đây, cậu chậm chạp nhúc nhích đầu đuôi, biểu thị rằng đủ rồi.
Khúc Thuần Phong thấy vậy, đặt lại chậu gỗ vào chỗ cũ, chuẩn bị dọn dẹp phòng, nhưng đột nhiên nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài. Đoán được người đến là ai, anh ra hiệu cho Lâm Uyên đừng cử động rồi bước ra ngoài, khóa cửa lại.
Người đến chính là Lâm bá. Ông đã sống nhiều năm ở làng chài, thông thạo việc sông nước, nên sau khi thuyền lật, ông không sao, tự bơi vào bờ. Ông lo lắng cho vết thương của Khúc Thuần Phong nên hôm nay đặc biệt đến thăm.
Lâm bá cầm một cái cần câu, tay kia xách một giỏ cá đen nhảy nhót, thấy Khúc Thuần Phong bước ra từ trong nhà, ông tiến lên quan tâm hỏi: "Khúc công tử, thân thể không sao chứ?"
Khúc Thuần Phong chắp tay hành lễ với ông, cười nói: "Đa tạ Lâm bá quan tâm, chỉ là cảm nhẹ, không có gì đáng ngại."
Nhìn vẻ mặt Lâm bá có chút ngượng ngùng, nghĩ rằng đã lớn tuổi như vậy, mang theo một thanh niên ra khơi, không những không bắt được cá mà còn lật thuyền rơi xuống nước, nói ra thật mất mặt: "Thật xấu hổ, lão phu kỹ nghệ không tinh, liên lụy đến công tử. Canh cá đen bổ dưỡng nhất, giỏ cá đen này để công tử bồi bổ cơ thể, đợi công tử khỏe lại, lão phu sẽ đưa công tử ra biển một lần nữa."
Nói xong, ông đưa cái giỏ trong tay ra, Khúc Thuần Phong theo bản năng nhận lấy, định trả tiền cho ông nhưng nghĩ đến thân phận hiện tại của mình chỉ là một thư sinh nghèo, đành dừng lại, chỉ có thể nói: "Những ngày qua làm phiền Lâm bá, thật sự ngại quá. Sau này khi tích đủ lộ phí, chắc chắn sẽ đền đáp gấp đôi."
Lâm bá lắc đầu nói: "Một giỏ cá không đáng bao nhiêu, công tử khách khí rồi."
Nói xong, ông dặn dò vài câu rồi cáo từ.
Khúc Thuần Phong đứng tại chỗ tiễn ông rời đi, nhìn cái giỏ cá trong tay, chợt nhận ra mình đã mấy ngày không ăn gì. Dù có huyền thuật, thể chất của anh cũng chỉ mạnh hơn người thường một chút, chưa đạt đến cảnh giới bế quan không ăn. Hiện tại trên người còn thương tích, cảm giác đói bắt đầu xuất hiện.
Anh xách giỏ cá trở lại phòng, thấy giao nhân đang nằm bò bên mép giường đợi mình về, người ướt, có vài giọt nước nhỏ xuống, may mà trên người vẫn phủ áo.
Khúc Thuần Phong nhớ lại chuyện hôm qua, ngừng lại một lúc, rồi đặt cái giỏ cá bên cạnh cậu, giọng điệu không có cảm xúc: "Ăn đi."
Nói xong, anh tìm một chỗ khô ráo ngồi xuống, hiếm khi không tu luyện, mà dùng một chiếc khăn lụa màu đen, lau kiếm.
Khúc Thuần Phong không ăn cá.
Kiếp trước anh đã giết quá nhiều.
Để luyện thuốc, anh thậm chí đã tự tay mổ xẻ nội tạng và xương cốt của giao nhân. Anh không thể coi họ là đồng loại của mình, nhưng cũng không thể hoàn toàn coi họ là gia súc như bò, cừu.
Khúc Thuần Phong từng chút một lau quanh lưỡi kiếm, dù nó đã rất sạch nhưng anh vẫn không ngừng tay. Đang suy nghĩ miên man, bên cạnh bỗng có một cái giỏ cá lăn đến, trong giỏ có bốn con cá, giờ chỉ còn lại hai con, đang yếu ớt quẫy đạp.
Cho anh ăn.
Cái giỏ vô thanh vô thức thể hiện ba từ này.
Khúc Thuần Phong vô thức ngẩng đầu, thấy Lâm Uyên đang nhìn mình, đôi mắt dưới vết lệ ngân như chứa ba phần ý cười, không cười mà như cười. Cậu khoác áo ngoài xanh, để lộ nửa bờ vai trắng, phối với cơ thể xanh đậm, ngón tay quấn quanh một lọn tóc, vẻ mặt tràn đầy phong tình.
Là một tuyệt sắc mỹ nhân, cho dù Khúc Thuần Phong đã thanh tâm quả dục từ lâu, đôi khi cũng không khỏi nhìn đến xuất thần. Anh dứt khoát ngừng tay lau kiếm, lần đầu tiên không tránh không né nhìn Lâm Uyên, không biết đang suy nghĩ điều gì, một lúc sau, không hề báo trước mà hỏi: "Ngươi có đồng tộc không?"
Nếu có thể tìm được một giao nhân khác biết nói, Khúc Thuần Phong nghĩ, có lẽ anh sẽ thả cậu ta đi.
Ý nghĩ này xuất hiện một cách âm thầm, không đầu không cuối, ngay cả bản thân hắn cũng không tìm ra lý do.
Lâm Uyên không hiểu tại sao hắn lại hỏi vậy, nhưng vừa mới ăn cá xong, tâm trạng rất tốt, nên khẽ động đuôi, coi như gật đầu. Giao nhân là loài sống bầy đàn, tất nhiên là có đồng tộc.
Khúc Thuần Phong nghe vậy, dừng lại một chút, rồi lại hỏi: "Ngươi biết ở đâu không?"
Những ngón tay xương xẩu bất giác nắm chặt thanh kiếm trong tay.
Lâm Uyên lần này không có động tĩnh gì, chỉ chống cằm, dùng đôi mắt màu xanh đậm nhìn anh, sau đó cười đến mê hồn, ra hiệu cho anh lại gần.
Khúc Thuần Phong không động đậy, đã bị trêu chọc đến có bóng ma trong lòng, ánh mắt từ từ hạ xuống, rơi vào cái đuôi cá màu xanh đậm bóng loáng như ngọc của Lâm Uyên.
Kiếp trước anh chế luyện trường sinh dược cho quốc quân, dùng toàn là thi thể, giao nhân một khi chết, vảy của họ sẽ trở nên xám xịt, không nhìn rõ màu sắc, nên Khúc Thuần Phong cũng không nhớ rõ kiếp trước mình có bắt qua giao nhân này hay không.
Anh chậm rãi đưa kiếm vào vỏ, giọng trầm thấp nói một câu: "Nếu ngươi chịu dẫn ta đến hang ổ của đồng tộc, ta sẽ thả ngươi."
Thả?
Lâm Uyên nghĩ tại sao phải thả, cậu còn muốn dẫn nhân loại này về làm bạn lữ của mình, không vui mà lật người trên giường, đuôi cá khẽ vẫy, rồi lại cọ cọ vào chăn.
Thật phiền, kỳ đ.ộng d.ục của cậu sắp đến rồi.
.
Đệ tử của Thiên Nhất Môn giả làm dân thường, luôn đóng giữ ở chân núi, lặng lẽ chờ đợi chỉ thị của Khúc Thuần Phong. Minh Tuyên cải trang thành một người phu xe chân đất, đầu đội nón lá, vai mang một cái bọc lớn, tránh ánh mắt của mọi người, sau đó lén lút lên núi.
Hắn đi đường nhỏ, không bị dân làng phát hiện, khi tìm đến trước căn nhà chài, nhìn căn nhà tồi tàn này, một lúc hoài nghi mình đi nhầm đường, nhưng buổi sáng Khúc Thuần Phong dùng chim bồ câu của Thiên Nhất Môn đưa tin, rõ ràng ghi là ở đây.
Minh Tuyên nhìn qua cửa sổ, nhưng cửa sổ đóng kín mít, không thấy được gì, chỉ có thể thử gõ cửa: "Đại sư huynh?"
Không lâu sau, bên trong vang lên tiếng bước chân nhẹ nhàng, sau đó cửa gỗ kêu một tiếng cọt kẹt, mở ra, Khúc Thuần Phong thấy người đến là Minh Tuyên, liền xoay người đóng cửa lại, hỏi: "Đồ ta bảo ngươi mang đến đâu rồi?"
Minh Tuyên thấy anh ăn mặc như dân thường, có chút không quen, nghe vậy liền gật đầu, lấy cái bọc trên vai đưa cho Khúc Thuần Phong: "Đại sư huynh, những thứ huynh cần đều ở đây."
Khúc Thuần Phong nhận lấy, ước lượng trọng lượng, chỉ thấy chạm vào liền ấm áp, mở ra xem, thì thấy bên trong là từng gói giấy dầu to nhỏ khác nhau, gói từng cái bánh bao trắng toả hơi nóng, nhíu mày: "Sao toàn là bánh bao."
Sáng nay anh dùng chim bồ câu truyền tin cho Minh Tuyên, bảo anh mang chút lương thực nước uống lên núi, ý là gạo và bột mì, chứ không phải bánh bao.
Minh Tuyên gãi đầu, có chút mờ mịt, giải thích: "Đại sư huynh, không phải toàn là bánh bao, phía dưới còn có bánh bao thịt nữa."
Khúc Thuần Phong: "......"
Thôi kệ, có còn hơn không.
Khúc Thuần Phong cầm lấy bánh bao, luôn đứng chắn cửa: "Ngày mai mang thêm gạo lên."
Minh Tuyên vẫn mơ màng: "Đại sư huynh, số bánh bao này đủ cho huynh ăn bảy ngày rồi."
Hệ thống âm thầm quan sát, nghĩ bụng tiểu sư đệ này sao ngốc thế, bánh bao để bảy ngày chẳng phải đều thiu cả sao, để sư huynh ăn bánh bao thiu, đúng là có tài.
Khúc Thuần Phong nhíu mày: "Bảo ngươi mang thì mang, không cần nhiều lời."
Minh Tuyên đành phải tuân lệnh, nhìn căn nhà chài trước mắt, do dự hỏi: "Sư huynh, huynh ở đây là...?"
Khúc Thuần Phong vẫn là câu nói đó: "Không cần hỏi nhiều, ta tự có chủ trương. Ngươi xuống núi xong, phái một số đệ tử vào kinh dò hỏi tin tức sư phụ, không được kinh động bất kỳ ai."
Minh Tuyên không biết nghĩ tới gì, dừng lại một chút: "Sư phụ nhất định bình an vô sự, sư huynh không cần lo lắng, vậy đệ đi trước, ngày mai mang gạo lên núi."
Khúc Thuần Phong dặn dò: "Đừng để dân làng phát hiện."
Minh Tuyên gật đầu, rồi xuống núi, hắn có võ công, tự nhiên không bị dân làng phát hiện.
Thấy Minh Tuyên rời đi, Khúc Thuần Phong mới xoay người vào nhà, cuối cùng cũng không ngồi trên đất nữa, đặt cái bọc lên bàn, bóc từng gói giấy dầu, lấy ra một cái bánh bao to, nhẩm tính thời gian, còn một khoảng nữa là đến lúc Chiêu Ninh Đế bệnh nặng.
Lâm Uyên nghe tiếng Khúc Thuần Phong vào nhà, ngẩng đầu nhìn, thấy anh ngồi bên bàn ăn bánh bao, nhân bánh còn khác nhau, toả ra mùi thịt thoang thoảng, không khỏi khẽ động mũi.
Khúc Thuần Phong lờ mờ nhận ra điều gì, ngẩng đầu nhìn lại, giao nhân kia cuối cùng cũng không làm mấy động tác quyến rũ người khác, chỉ là nằm bò bên giường nhìn anh ăn, đuôi cá vẫy vẫy, vết thương đã lành được bảy tám phần rồi.
Khúc Thuần Phong mặt không biểu cảm ném một cái bánh bao qua, không lệch không trật rơi đúng vào lòng Lâm Uyên. Cậu đưa tay đón lấy, cười như không cười, sau đó chớp chớp đôi mắt dài hẹp, người kia lập tức thu hồi ánh mắt, không thèm nhìn.
Lâm Uyên đã quen với tính cách khô khan của anh rồi, cậu nắm cái bánh bao nóng hổi, tò mò cắn một miếng, chỉ cảm thấy khô khốc không có vị gì, nhưng bên trong thịt lại thơm thơm, nhưng nhìn ở góc độ là Khúc Thuần Phong cho mình, vẫn là ngấu nghiến ăn hết.
Không biết từ khi nào đã đến tối, bên ngoài sóng biển cuồn cuộn, từng đợt từng đợt vỗ vào bờ, đêm qua vừa mới mưa, đêm nay trời quang đãng, không có sao, chỉ có một vầng trăng tròn sáng tỏ.
Khúc Thuần Phong như thường lệ đốt một ngọn nến, ánh nến màu cam nhẹ nhàng lay động, chiếu sáng cả căn phòng nhỏ, trong đêm lạnh lẽo tăng thêm vài phần ấm áp.
Lâm Uyên không biết có phải cảm nhận được hôm nay là đêm trăng tròn, hiếm khi từ bỏ tư thế lười biếng như không xương thường ngày, ngồi dậy nhìn xung quanh, cái đuôi cá dài buông xuống, không hiểu sao lại trở nên diễm lệ quyến rũ.
Khúc Thuần Phong mỗi ngày đều kiên định tu luyện, dường như anh rất kiêng dè việc giao nhân nhiều lần từ sau lưng tấn công mình, đêm nay chọn một nơi có thể nhìn thấy cậu để tọa thiền.
Lâm Uyên trông có vẻ bồn chồn, đôi mắt màu xanh đen chuyển đỏ trong chốc lát, như đang kìm nén điều gì, cuối cùng nhìn về phía Khúc Thuần Phong không xa, đuôi cá khẽ động, cậu đưa tay cởi bỏ áo khoác màu xanh của mình.
Y phục lặng lẽ trượt xuống.
Ngọn nến chập chờn...
Tác giả có lời muốn nói: Minh Tuyên: QAQ bánh bao thịt lớn.
Chương 100
Khúc Thuần Phong không cần mở mắt, chỉ cần nghe tiếng xì xào của vải vóc cọ xát bên tai, liền biết giao nhân đó lại không yên phận, anh quay tay đâm thanh kiếm vào mặt đất ba tấc, thân kiếm lạnh lẽo phản chiếu hình ảnh anh đang nhắm mắt, trông lạnh lùng, xa cách.
"Mặc vào!"
Lâm Uyên không chịu mặc, đuôi cá dài nhẹ nhàng cọ sát trên giường, vì kỳ phát tình đến gần mà có chút khó chịu, mái tóc dài màu xanh đen nhẹ nhàng đổ xuống như nước, ngũ quan sâu sắc, đẹp đến mức khó phân biệt nam nữ.
Cậu nhìn Khúc Thuần Phong, cong ngón tay gọi anh, giọng khàn khàn: "Lại đây..."
Giọng nói khàn khàn, nhưng mang theo sự mê hoặc không thể tả, âm cuối vang vọng trong không khí, âm u xa xăm, như yêu tinh lôi kéo người vào một thế giới cực lạc khác.
Khúc Thuần Phong nghe vậy lập tức mở mắt, ánh nhìn sắc bén hướng về phía cậu, khó giấu nổi sự ngạc nhiên: "Ngươi không phải là người câm..."
Chưa kịp nói hết câu, anh bất ngờ đối diện với đôi mắt đầy yêu khí của Lâm Uyên, trong đầu bất ngờ xuất hiện một cảm giác choáng váng, Khúc Thuần Phong kinh hãi, nhanh chóng rời mắt đi, cố gắng vận nội lực để chống đỡ, nhưng vì thương thế chưa lành, không thể tụ được nội lực.
Linh hồn anh dường như đã bị chia làm hai nửa, một nửa thúc giục anh nghe theo lời giao nhân, nửa còn lại khiến anh kiên định bản tâm, hai bên giao đấu, Khúc Thuần Phong không khỏi mồ hôi lạnh đầm đìa, anh nghiến răng, hận hận thốt ra hai chữ: "Yêu quái..."
Lâm Uyên nghĩ con người này thật ngốc, cậu chưa bao giờ nói mình là người câm, lười biếng cúi mắt xuống, kiên nhẫn tiếp tục cong ngón tay gọi: "Lại đây..."
Tiếng của giao nhân có thể mê hoặc lòng người, lúc này nếu đổi lại là người khác, đã sớm lao đến, nhưng Khúc Thuần Phong vẫn đang cố chống cự, vì nội lực hỗn loạn, sắc mặt lúc đỏ lúc trắng, gân xanh trên cổ nổi lên: "Ngươi rốt cuộc muốn làm gì..."
Lâm Uyên cười khẽ: "Ngươi lại đây không phải sẽ biết sao?"
Cậu dùng thuật huyễn hoặc tăng cường điều khiển Khúc Thuần Phong tiến tới, đuôi cá dài quét một cái, trực tiếp kéo người đang mơ hồ đến mức không biết gì nữa vào giường, trong lòng cậu đột nhiên dâng lên một cảm giác chiếm hữu mãnh liệt.
Đây là bạn lữ của cậu.
Là của cậu.
Của cậu.
Phải ăn thịt.
Lý trí của Khúc Thuần Phong đang từng chút đứt đoạn, cơ thể hoàn toàn không thể kiểm soát, chỉ còn một sợi dây mong manh giữ lại, người bình thường phong thái tiên phong đạo cốt giờ đây như rơi vào trần tục, mồ hôi lạnh rơi đầy, dường như nhận ra điều gì đó, cố gắng thốt ra: "Đừng phá... tu vi của ta..."
Sư phụ đã nói, không thể gần nữ sắc.
Tu vi là gì, có thể ăn hay có thể uống?
Lâm Uyên cười lạnh, nắm lấy cổ áo của Khúc Thuần Phong, khiến anh không thể chống đỡ, ngã xuống thân mình cậu. Thân trên của giao nhân tr.ần tr.ụi, làn da lạnh như băng, trơn mịn, lấp lánh như ngọc thạch, nhưng còn mềm mại hơn ngọc thạch.
Khúc Thuần Phong nhắm mắt không dám nhìn nữa, đột nhiên cảm thấy toàn thân nóng rực, cảm giác lạ lẫm khiến anh mơ hồ, ranh giới càng ngày càng lùi, ngay cả nói cũng đứt quãng: "Tại hạ... nguyện thả cô nương... rời đi... đừng như vậy..."
Lâm Uyên không để ý, thấy Khúc Thuần Phong không nhìn mình, hai tay cậu quấn chặt cổ anh như rắn, sau đó thè ra đầu lưỡi mềm mại đỏ tươi, liếm vào tai anh, giọng khàn khàn mê hoặc, khó phân biệt nam nữ: "Mở mắt, nhìn ta..."
Khi cảm giác ngứa ngáy lạ lẫm truyền đến tai, lý trí của Khúc Thuần Phong trong đầu "bùng" một tiếng đứt đoạn, ánh mắt lạnh lùng nghiêm nghị giờ đầy hỗn loạn, bị giao nhân mê hoặc mà nhìn sang.
Lâm Uyên nửa khép dài mi, bên dưới đổ bóng mờ, nốt lệ chí quyến rũ, đôi mắt xanh đen như lưu ly trong suốt, mỗi cái liếc mắt đều đầy phong tình, màu môi đỏ hơn chu sa, giọng nói trầm bổng xa xăm, cuộn một lọn tóc, cọ vào cằm Khúc Thuần Phong: "Ta có đẹp không?"
Khúc Thuần Phong thần trí hỗn loạn, đôi tay xương xẩu đặt hai bên người cậu, gân xanh nổi lên, nghe câu hỏi thì mắt có chút sáng lên trong chốc lát, nhưng rồi lại tan biến.
Anh dường như rất không muốn nói những lời gần như trêu chọc này, nhíu mày, sau nhiều lần đấu tranh, cuối cùng khó khăn nói ra: "Cô nương tuyệt sắc..."
Lâm Uyên hài lòng, cậu thật sự nghĩ rằng con người này đối với vẻ đẹp của mình vô cảm, tiếp tục liếm vành tai anh, giọng nói mê hoặc: "Ngươi tên gì?"
Khúc Thuần Phong: "Tại hạ... Khúc Thuần Phong... là đệ tử của Thiên Nhất Môn..."
Lâm Uyên cười cười: "Ta tên là Lâm Uyên, sau này là bạn lữ của ngươi, biết chưa?"
Khúc Thuần Phong kiềm chế bản thân đã quá nhiều năm, ngay cả lúc này cũng không quên lời dặn dò của Hồng Quan Vi: "Tại hạ là... người tu hành..."
Lắm lời.
Lâm Uyên nghĩ tu hành thì sao, không bằng song tu với mình cho thoải mái, cậu thu lại móng vuốt sắc bén, nhẹ nhàng lướt qua mặt Khúc Thuần Phong, ngửi thấy mùi hương trầm lưu lại trên y phục của anh, sau đó hôn lên đôi môi nóng hổi.
Lưỡi của giao nhân linh hoạt, dễ dàng thăm dò vào trong, Lâm Uyên trêu đùa lưỡi của Khúc Thuần Phong, cảm nhận nhiệt độ cơ thể đối phương ngày càng cao, mắt lóe lên một tia đắc ý, sau đó dùng đuôi cá từ từ quấn lấy anh.
Vảy trên đuôi cá xếp chặt, cứng như ngọc, nhưng phần dưới vài tấc lại có một nơi vảy mềm mại vô cùng, mỏng như cánh ve, chạm vào thấy ấm áp, mềm mại như da trẻ con.
Khúc Thuần Phong đã không còn nhớ mình là ai, chỉ cảm thấy mình như đang ở trong lò lửa, đốt cháy ngũ tạng lục phủ đau đớn, một luồng khí lực tụ lại ở đan điền, bản năng đuổi theo thân mình lạnh lẽo của giao nhân.
Có một số việc, là khắc vào bản tính, không cần thầy dạy cũng biết.
Khúc Thuần Phong tâm thần rối bời, mơ màng nhưng lại như thông suốt một số huyệt đạo, bàn tay xương xẩu nắm lấy sau gáy của Lâm Uyên, trong mái tóc mềm mại lạnh buốt như lụa của đối phương, điên cuồng hôn lên đôi môi tuyệt mỹ của giao nhân, trông có vài phần dữ dội.
Anh khó chịu, nhưng không được giải tỏa, người thanh tao như thần tiên khi nhiễm dục tình, hóa ra cũng chẳng khác gì phàm nhân, mãi đến khi Lâm Uyên đột ngột dùng đuôi cá siết chặt lấy anh, chặt đến mức khiến người ta nghẹt thở, Khúc Thuần Phong mới rốt cuộc dừng lại.
Lâm Uyên nhíu đôi mày dài, dường như cũng có chút khó chịu, nhưng chỉ một lúc sau là ổn, đuôi cá màu xanh đậm khẽ động đậy, vẽ nên một đường cong mị hoặc trong không trung, sau đó hôn lên yết hầu của Khúc Thuần Phong, khóe mắt cong lên: "Hôn ta..."
Khúc Thuần Phong nhìn đuôi cá dưới thân, mơ hồ cảm thấy có gì đó không đúng, nhưng lại không nói ra được, song không còn khó chịu như vừa rồi, thậm chí còn có chút thoải mái, nghe thấy giọng nói như có ma lực của Lâm Uyên, bản năng liền làm theo.
Rèm trướng từ từ buông xuống, nhẹ nhàng lay động hai lần, cây nến trên bàn đã gần cháy hết, chỉ còn chút ánh lửa leo lét đang cố gắng chống cự, nhưng chẳng bao lâu cũng lụi tàn.
Nửa sau của đêm đó, Lâm Uyên không nói thêm lời nào, ngoài tiếng thở dốc thì chỉ còn tiếng rên khẽ, như làm nũng, có thể làm tan chảy xương cốt của bất kỳ ai.
Khúc Thuần Phong sống hai đời, ký ức nhiều hơn người thường, tâm trí cũng kiên định hơn, khoảng nửa canh giờ sau, anh dường như cuối cùng cũng hồi phục một chút thần trí, nhưng chỉ là một chút, trong đầu chỉ hiện lên hình ảnh biển cả nhuốm máu và một nhóm giao nhân không rõ dung mạo.
Một giọt mồ hôi lăn từ mặt xuống cằm, Khúc Thuần Phong mơ màng cúi đầu, chạm vào người dưới thân, nhưng chỉ thấy một mảnh vảy lạnh lẽo, dường như là đuôi cá, quấn chặt lấy cơ thể anh như rắn.
Anh đầu óc hỗn loạn, lẩm bẩm: "Đuôi cá...?"
Tại sao lại là đuôi cá?
Lâm Uyên không hài lòng với việc anh ngừng lại, nghe vậy thì lười biếng vẫy vẫy đuôi, nghĩ rằng con người thật phiền phức, nhưng thấy Khúc Thuần Phong ngơ ngác cứng đầu như vậy, cậu đành hơi rời khỏi thân thể, chiếc đuôi cá màu xanh đậm trong đêm tối chợt thu lại, sau đó chậm rãi phân hóa thành một đôi chân dài, trắng như ngọc, không tì vết.
Giao nhân có thể phân hóa thành đôi chân, nhưng không duy trì được lâu, hơn nữa cũng không đi lại như con người.
Lâm Uyên chống đầu nhìn anh một cách lười biếng, ôm lấy cổ Khúc Thuần Phong: "Này, bây giờ là chân rồi."
Khúc Thuần Phong vô thức lặp lại: "Chân?"
Lâm Uyên dụi vào anh, hôn lên môi anh một cách thân mật, giọng nói thấp khàn đầy mập mờ: "Ngươi muốn chơi thế nào, thì chơi thế đó..."
Mặc dù cậu vẫn cảm thấy đuôi của mình đẹp hơn, chơi vui hơn.
Lâm Uyên vừa nói, giọng nói mê hoặc khiến Khúc Thuần Phong lại một lần nữa trở nên hỗn loạn, anh vô thức đáp lại nụ hôn của đối phương, cuối cùng không còn suy nghĩ xem là đuôi hay là chân nữa, hôn giao nhân đến mức nước mắt lưng tròng.
Một đêm quấn quýt không rời.
Sáng sớm hôm sau, mặt trời lờ mờ lên, dù cửa sổ đóng chặt, nhưng khe hở cửa sổ vẫn lọt vào chút ánh sáng, chiếu thẳng vào mí mắt của Khúc Thuần Phong, anh cau mày, bản năng tỉnh dậy từ trong mộng, nhưng cảm thấy cơ thể khác thường, trong lòng có gì đó nặng nề, toàn thân có cảm giác bị trói buộc, mơ màng mở mắt, nhưng cảnh tượng trước mắt khiến anh sợ hãi đến tái mặt, cả người như bị sét đánh.
Trong lòng Khúc Thuần Phong nằm một giao nhân, đối phương dường như rất ỷ lại vào anh, tựa vào ngực anh ngủ rất say, nhìn xuống dưới, một chiếc đuôi cá màu xanh đậm quấn chặt lấy chân anh, mang theo một cảm giác nhơn nhớt khó nói, bên cạnh còn rơi rụng hai mảnh vảy cá nhỏ.
Dù là kẻ ngốc, nhìn thấy cảnh này cũng biết đã xảy ra chuyện gì.
Hỏng rồi...
Lúc này trong đầu Khúc Thuần Phong chỉ có suy nghĩ này, anh cứng đờ người, mặt mày khó coi, nghĩ mãi cũng không hiểu được tại sao mình rõ ràng ngồi thiền ở cửa, lại mơ mơ hồ hồ lên giường, còn là với một con cá.
Một con cá...
Ký ức đêm qua cuối cùng cũng quay về, nhưng càng như vậy, Khúc Thuần Phong lại càng không thể chấp nhận được, anh lập tức ngồi bật dậy khỏi giường, vội vàng mặc áo ngủ, gần như loạng choạng lui về phía cửa, rồi keng một tiếng rút thanh trường kiếm khỏi mặt đất, thẳng tay chỉ vào Lâm Uyên, giọng nói tức giận lạnh lùng: "Yêu quái!"
Anh vừa động, Lâm Uyên cũng tỉnh, cậu chầm chậm mở mắt, trước tiên là vì một chỗ nào đó trên đuôi cá đau đớn như bị xé rách mà nhíu mày, sau đó theo phản xạ nhìn về phía Khúc Thuần Phong, chỉ thấy đối phương đứng ở cửa, tay cầm thanh trường kiếm ba thước, thẳng tay chỉ vào mình, mang theo sát khí nhè nhẹ.
Hệ thống sợ Khúc Thuần Phong bị cơn giận làm mất lý trí, đã chuẩn bị sẵn sàng điện anh, ẩn nấp trong bóng tối, sẵn sàng hành động.
Lâm Uyên thấy vậy nheo mắt lại, đôi mắt thường ngày hay mỉm cười quyến rũ lúc này hiếm khi nhuốm một tầng tức giận mỏng manh, cậu chầm chậm ngồi dậy khỏi giường, đôi môi đỏ thắm, dưới mái tóc dài che khuất, không khó để nhìn thấy những dấu vết mờ ám mơ hồ trên vai.
Cậu cười mà như không nhìn Khúc Thuần Phong, ánh mắt lại có chút băng lãnh: "Ngươi muốn giết ta?"
Tác giả có lời muốn nói:
Minh Tuyên: Ủa mom ơi ảnh bị sao zậy?
Tác giả Kun (hút thuốc): Anh ấy không thể chấp nhận việc mình đã ngủ với một con cá.
Chương 101
Chuyện tối qua dù gì cũng đã thế này thế nọ, nhưng nếu suy xét kỹ lưỡng, Khúc Thuần Phong kỳ thực cũng có phần hưởng thụ, nhìn kỹ lại, tay anh cầm kiếm có chút run rẩy, lòng bàn tay đã toát một lớp mồ hôi mỏng, đến cả mũi kiếm cũng không vững chắc.
Trong thế giới loài người, nam nhân trên giường là bên nắm quyền chủ động, tộc giao nhân cũng vậy, nam nhân ở trên. Nhưng Lâm Uyên nghĩ rằng Khúc Thuần Phong chắc chắn không thích bị ai đè, nên tối qua sau nhiều lần do dự, vẫn là ở phía dưới.
Tư duy của giao nhân phần lớn đều thẳng thắn mà đơn giản, Lâm Uyên không hiểu, không hiểu tại sao Khúc Thuần Phong lại tức giận.
Đuôi cá màu xanh đậm của cậu yên lặng buông thõng dưới giường, trông có chút yếu ớt, không còn linh hoạt như mọi khi, cách chỗ vài tấc có một chỗ giữa kẽ vảy có vết máu nhàn nhạt, rất mỏng rất nhạt, đã khô rồi.
Giao nhân yêu cái đẹp, càng yêu đuôi của mình, Lâm Uyên cúi đầu nhìn vết thương gần chỗ đó, thấy mấy cái vảy đều rụng rơi, có chút không vui, còn có chút buồn không nói ra được.
Tên nhân loại đáng ghét này...
Khúc Thuần Phong thấy vậy, tay nắm kiếm lúc chặt lúc lỏng, lỏng rồi lại chặt, không biết có phải nhớ lại cảnh tượng đêm qua hôn môi triền miên hay không, sắc mặt xanh trắng đan xen, lưỡi kiếm lóe lên một tia hàn quang, liền trực tiếp đâm tới Lâm Uyên—
【Đừng mà!】
Động tác của anh không hề báo trước, hệ thống sợ hãi bay vút ra, thậm chí còn quên mất việc phóng điện, đang chuẩn bị ngăn cản, lại thấy lưỡi kiếm kia khi cách mi tâm Lâm Uyên nửa tấc thì bất ngờ dừng lại, luồng khí mạnh mẽ cuốn lên mái tóc dài màu xanh đậm của cậu.
Lâm Uyên thấy vậy, móng tay sắc nhọn bấu chặt vào mép giường, đâm sâu vào nửa tấc. Cậu vốn nên tránh né, nhưng không biết tại sao, chỉ hơi nheo đôi mắt dài hẹp lại, không hề động đậy.
Dường như họ đang im lặng giằng co điều gì đó, ngay cả không khí cũng rơi vào tĩnh lặng.
Tay nắm kiếm của Khúc Thuần Phong hơi run, nhưng rồi lại bị anh cưỡng ép áp chế xuống, sắc mặt lạnh như băng, chăm chú nhìn Lâm Uyên, từng chữ từng chữ nặng nề nói: "Ngươi hại ta mất hết tu vi..."
Năm xưa Hồng Quan Vi rất thích lừa gạt đệ tử, nói rằng không được gần nữ sắc, không được gần mỹ nhân, không được phá thân, nếu không tu vi sẽ mất hết. Các đệ tử khác của Thiên Nhất Môn đều biết Hồng Quan Vi đang lừa họ, chỉ có Khúc Thuần Phong là tin tưởng tuyệt đối, hơn nữa còn tin đến mức mù quáng.
Thực ra chỉ cần anh dám trái lời một chút, hơi nghi ngờ lời của Hồng Quan Vi một chút, thì sẽ phát hiện việc tu luyện huyền thuật dựa vào thực lực, chứ không phải là đồng nam đồng nữ gì cả.
Lâm Uyên không hiểu tu vi là gì, chỉ cảm thấy Khúc Thuần Phong muốn giết mình, đuôi cá khẽ động, theo bản năng muốn quét bay thanh kiếm trước mặt, nhưng rồi lại nhịn xuống.
Đôi mắt xanh đậm của cậu nhìn Khúc Thuần Phong, đôi tai nhọn, không giống mấy ngày trước, luôn nở nụ cười làm mê đắm lòng người, môi hơi mím lại, đôi mày diễm lệ có phần mất sắc, trông thật cô độc và bướng bỉnh.
Khúc Thuần Phong ký ức về đêm qua mơ hồ không rõ, đã quên mất giao nhân trước mặt khi biến hóa thành đôi chân thì giống như nam tử bình thường, vẫn nghĩ cậu là nữ tử, giằng co hồi lâu, cuối cùng không thể đâm ra lưỡi kiếm, chợt thu kiếm vào vỏ, xoay người rời khỏi phòng, cánh cửa gỗ đóng lại phát ra một tiếng cạch.
Tâm trí của Khúc Thuần Phong rối bời, ngay cả áo khoác cũng chưa mặc, chỉ mặc một chiếc áo lót trắng, khi bước ra ngoài bị gió thổi lạnh thấu xương, lúc này mới phát hiện mình áo quần xộc xệch.
Nhưng anh không muốn quay trở lại, liền tìm một chỗ trên vách đá ngồi xuống, cố gắng tĩnh tâm ngồi thiền điều tức, nhưng trong đầu luôn hiện lên đôi mắt đầy yêu khí, không sao xua tan được.
Yêu nghiệt.
Khúc Thuần Phong lúc này chỉ có thể nghĩ đến hai từ này, lòng rối như tơ vò.
Minh Tuyên khiêng một túi gạo lên núi, liền thấy đại sư huynh của mình ngồi trên vách đá không xa trước căn nhà chài, phía dưới tiếng sóng biển rì rào, không ngừng vỗ vào vách đá dưới chân, đến gần mới thấy có gì đó không ổn.
Khúc Thuần Phong vốn luôn nghiêm cẩn tự giữ, không chút cẩu thả, ngày thường ăn mặc ngay ngắn, không có nếp nhăn, nay lại chỉ mặc một chiếc áo lót, tâm trạng u ám ngồi trong gió lạnh, thực sự là nhìn sao cũng thấy không ổn.
Dù nói vậy không hay, nhưng Minh Tuyên luôn cảm thấy đại sư huynh của mình như một cô nương khuê các bị bọn cướp cưỡng đoạt, trông thật đáng thương. Đặt túi gạo nặng trĩu xuống đất, thử lên tiếng hỏi: "Đại sư huynh, huynh sao vậy?"
Khúc Thuần Phong không nói gì, một mình đắm chìm trong suy nghĩ, như không nghe thấy lời cậu nói.
Hệ thống bay lơ lửng trên không, nhẹ nhàng vỗ cánh, nghĩ bụng đại sư huynh của cậu có thể thế nào chứ, đại sư huynh của cậu mất thân đồng nam, lòng đang buồn bực đấy.
Minh Tuyên nghĩ mãi không ra, chớp chớp mắt, không biết có phải ảo giác hay không, phát hiện trên cổ Khúc Thuần Phong có những vết đỏ, tưởng anh bị thương, theo bản năng định đưa tay kéo áo anh ra xem vết thương, ai ngờ chưa kịp chạm vào đã bị Khúc Thuần Phong nắm chặt cổ tay.
Minh Tuyên đau đến kêu lên, vội vàng nói: "Đại sư huynh, là đệ là đệ, mau thả tay."
Khúc Thuần Phong vừa rồi tâm trí lơ đãng, không phát hiện cậu đến, cơ thể bị chạm vào, phản xạ có điều kiện nắm lấy mạch môn của người đến, nghe thấy tiếng kêu mới phát hiện là Minh Tuyên, theo phản xạ buông tay: "Sao đệ lại đến đây?"
Sao đệ lại đến đây?
Câu hỏi này hỏi thật hay.
Minh Tuyên xoa xoa cổ tay, rồi vỗ vỗ túi gạo bên cạnh, giọng đầy nghi hoặc: "Đại sư huynh, huynh quên rồi, hôm qua huynh bảo đệ lên núi đưa gạo cho huynh, sao nhanh vậy đã quên rồi."
Khúc Thuần Phong ngừng lại: "... Biết rồi, đệ xuống núi đi."
Minh Tuyên không động đậy, cậu nhìn từ trên xuống dưới bộ y phục lộn xộn của Khúc Thuần Phong, luôn cảm thấy những vết đỏ trên người anh có gì đó không đúng, nghĩ nghĩ một hồi, đột nhiên bất ngờ hỏi: "Sư huynh, huynh ngủ với cô nương rồi?"
Khúc Thuần Phong nghe vậy, ánh mắt như đuốc nhìn cậu, giọng lạnh lùng: "Đệ nói gì?"
Minh Tuyên bị ánh mắt của anh dọa cho hoảng sợ, vội vàng xua tay: "Không không không, đệ nói bậy thôi, đại sư huynh, huynh đừng để trong lòng."
Khúc Thuần Phong ngày thường không ra khỏi cửa, đối với ai cũng nghiêm nghị, sợ rằng đời này cũng không khai thông tình ái được, chuyện ngủ với cô nương đặt lên người những kẻ láu cá khác còn có thể, đặt lên Khúc Thuần Phong thì thật là không hợp lý.
Nhưng, lỡ đâu chứ?
Khi cậu đến, rõ ràng thấy trong làng có không ít cô nương xinh đẹp bên bờ biển, biết đâu Khúc Thuần Phong lại nhìn trúng ai đó, đến một giấc mộng uyên ương cũng không phải không thể.
Minh Tuyên không dám nói chuyện bát quái về Khúc Thuần Phong, cho dù có, cũng chỉ dám lén lút đoán trong lòng, đang định đứng dậy xuống núi, không ngờ vai bị thanh kiếm của Khúc Thuần Phong đè nặng xuống.
Minh Tuyên ngơ ngác: "Đại sư huynh?"
Khúc Thuần Phong không nhìn cậu, mặt không biểu cảm hỏi: "Vì sao đệ lại nói vậy?"
Minh Tuyên mơ hồ: "Nói gì cơ?"
Khúc Thuần Phong nhíu mày: "Ngủ với cô nương."
Minh Tuyên nghe vậy ồ lên một tiếng, có phần ngượng ngùng gãi gãi đầu, do dự mãi, cuối cùng vẫn đưa tay chỉ những vết đỏ lộ ra trên người anh: "Đại sư huynh, đây là bị cô nương hôn đúng không?"
Khúc Thuần Phong theo ánh mắt cậu nhìn lại, lúc này mới phát hiện trên cổ ngực mình bị giao nhân hôn đến đỏ tấy, đầy vẻ diễm tình, không khỏi nhíu mày: "Sao đệ biết là cô nương hôn?"
Ồ, hóa ra đúng thật là cô nương hôn.
Minh Tuyên tự cảm thấy mình thông minh, tưởng chừng đã đoán trúng chân tướng, liền quên cả sợ hãi, mặt mày hớn hở, len lén ghé sát lại gần anh, hạ giọng nói: "Sư huynh, trước đây đệ bị Lục Ất sư đệ kéo đến Tuyết Nguyệt Lâu một lần, những dấu vết mà mấy cô nương để lại đều là như thế này."
Thiên Nhất Môn bề ngoài là đạo sĩ thanh cao không gần nữ sắc, nhưng các đệ tử ở độ tuổi máu nóng, lại sinh ra giữa kinh thành phồn hoa, muốn giữ mình trong sạch thanh tịnh cũng chẳng dễ. Tóm lại, đám nhỏ phía dưới thường xuyên lén lút chạy đến chốn phong hoa tuyết nguyệt, chỉ riêng Khúc Thuần Phong là kẻ ngốc nghếch, chỉ biết cắm đầu tu luyện.
Khúc Thuần Phong rõ ràng không ngờ bọn họ lại dám lớn gan đến vậy, vỏ kiếm trong tay ấn xuống, trực tiếp ép Minh Tuyên kêu lên một tiếng "ai da", ngã nhào xuống đất, giọng nghiêm khắc quát: "Hỗn xược! Các ngươi đã quên lời dạy của sư phụ hết rồi sao? Làm sao có thể đến nơi ô uế như thế, nếu làm hỏng tu vi thì biết làm thế nào?!"
Minh Tuyên oan ức đến mức suýt bật khóc: "Đại sư huynh, chúng ta đâu có luyện đồng tử công gì giữ mình trong sạch đâu, làm sao mà hỏng tu vi được. Sư phụ người già cả rồi, nói vậy là để lừa huynh thôi, huynh sao lại còn tin chứ!"
Khúc Thuần Phong nghe vậy, sửng sốt không thôi, ngay cả vỏ kiếm trong tay cũng buông lỏng. Minh Tuyên thấy thế liền thừa cơ thoát thân, linh hoạt lùi lại mấy bước, cách xa anh: "Đại sư huynh, Lục Ất mấy năm trước đã đi uống hoa tửu rồi, giờ chẳng phải vẫn tu luyện tốt đó sao? Còn đệ chỉ theo hắn đi xem một chút thôi, đệ không có uống, muốn dạy dỗ thì dạy dỗ hắn, việc này chẳng liên quan đến đệ."
Nói xong liền vội vàng co giò bỏ chạy.
Khúc Thuần Phong nhìn bóng lưng y rời đi, theo phản xạ đứng dậy, cả người như chìm trong trạng thái kinh ngạc. Từ nhỏ đến lớn, anh luôn nghiêm chỉnh, ngay thẳng, Hồng Quan Vi nói gì anh cũng tin, nhưng không ngờ sư phụ lại có thể lừa dối mình.
Khúc Thuần Phong không muốn tin lời Minh Tuyên, nhưng trên thực tế, anh đã kiểm tra qua chân khí trong cơ thể, mọi thứ vẫn bình thường như trước, hoàn toàn không có bất kỳ biến hóa nào.
Hệ thống thầm nghĩ: Người ta thì sống chết giữa lằn ranh, còn vị ký chủ này lại coi trọng sự trong sạch hơn cả tính mạng. Cuối cùng vẫn không nhịn được, bay ra dùng đôi cánh nhẹ nhàng vỗ vào đầu anh: 【Nhìn đi, ngươi cứ nhất quyết bắt giao nhân, bắt đi bắt lại, cuối cùng lại rước họa vào thân rồi.】
Đúng là muốn bắt gà, lại mất nắm gạo.
Hệ thống nói xong, thấy sắc mặt Khúc Thuần Phong càng lúc càng khó coi, liền tốt bụng giảng giải cho anh: 【Chuyện này không ảnh hưởng đến tu vi đâu, đừng tin sư phụ ngươi nữa, cũng đừng giết người.】
Khúc Thuần Phong nhắm mắt lại, anh không hoàn toàn để tâm đến tu vi. Xưa nay anh luôn giữ mình theo lễ đạo, chưa từng nghĩ rằng chuyện như vậy sẽ xảy ra với mình. Nếu đối phương chỉ là một cô nương bình thường thì tốt, anh đã làm tổn hại đến sự trong sạch của nàng, đến lúc đó cầu xin bệ hạ ban hôn, cưới nàng về phủ là xong. Nhưng...
Nhưng đối phương lại là một giao nhân...
Con người, làm sao có thể cùng giao nhân bên nhau?
Trong lòng Khúc Thuần Phong, giao nhân chỉ là vật để quốc quân dùng luyện thuốc trường sinh, chỉ có thể giết, không thể thả. Cuối cùng cũng không thoát khỏi tai họa diệt tộc, bản thân anh làm sao có thể nảy sinh tình cảm, thậm chí còn có... quan hệ thân mật với họ?
Anh không thiện cũng chẳng ác, trong lòng bị bó buộc bởi vô số quy củ, lúc này vừa vì đã phá hủy sự trong sạch của giao nhân mà thấy khó xử, lại vừa không biết nên xử lý cậu ra sao.
Làm tổn hại người khác thì phải chịu trách nhiệm, đó là đạo nghĩa của người quân tử, nhưng Khúc Thuần Phong hiện tại không thể thực hiện được điều này. Đối với một người tuân thủ quy củ nghiêm ngặt như anh, điều này không khác nào một cực hình.
Khúc Thuần Phong không nói lời nào, đứng ngoài hồi lâu, mãi đến khi hệ thống cảm thấy không thể chịu được nữa, chuẩn bị ẩn thân, thì thấy anh cuối cùng cũng đứng dậy, đẩy cửa bước vào phòng.
Lâm Uyên vẫn duy trì tư thế cũ, ngồi ở mép giường, đuôi cá rơi xuống đất dính đầy bụi cũng chẳng buồn quan tâm, ánh mắt mang theo ý cười vừa như châm biếm vừa như chế nhạo. Nhưng khi nghe thấy tiếng cửa mở, cậu vẫn ngẩng đầu nhìn qua.
Khúc Thuần Phong không biết đã hạ quyết tâm điều gì, im lặng đi tới, nhặt lấy chiếc áo xanh rơi dưới đất, dừng lại một chút, không liếc mắt sang bên, khoác lên cho Lâm Uyên, rồi thắt lại đai áo cho cậu.
Lâm Uyên nhìn anh, không nói lời nào, nhưng chóp đuôi cá khẽ động. Đang định mở miệng, thân thể lại đột nhiên bị nhấc bổng lên không trung, bị Khúc Thuần Phong bế lên.
"???"
Lâm Uyên không hiểu ra sao, nhưng việc Khúc Thuần Phong chủ động bế cậu, hiển nhiên là một chuyện khiến cậu rất vui, những bực tức trong lòng lập tức tan biến, cậu chủ động đưa tay ôm lấy cổ anh, nhẹ nhàng dụi đầu lên vai anh.
Cả người Khúc Thuần Phong cứng đờ, nhưng không hề né tránh, ôm cậu bước ra ngoài, đi đến bên vách đá, đứng trước gió biển thổi qua, dừng lại một chút, giọng nói trầm thấp vang lên: "...Cô nương, chuyện hôm qua là do Thuần Phong sai trước, nhưng chúng ta không cùng tộc, khó lòng kết thành phu thê, ta thả cô trở lại biển, từ nay về sau không được quay lại nữa."
Lâm Uyên nghe vậy còn chưa kịp phản ứng, chỉ cảm thấy thân thể đột nhiên mất trọng lực, bị anh ném xuống biển. Chỉ nghe một tiếng "tõm", nước bắn tung tóe, cậu trở lại với đại dương mà mình đã rời xa bấy lâu.
Lâm Uyên theo bản năng nổi lên mặt nước, nhìn thấy Khúc Thuần Phong đứng trên vách đá cao, chỉ liếc mắt một cái rồi quay người rời đi. Cậu ngơ ngẩn nhìn bóng dáng anh khuất dần, cả người hóa đá: "..."
Tác giả có lời muốn nói: Lâm Uyên: Đột ngột quá...
Chương 102
Dùng xong liền bỏ, không khác gì cả.
Lâm Uyên ngâm mình trong nước, nhìn vách đá giờ đã trống không, thấy Khúc Thuần Phong không ngoảnh đầu lại mà đi thẳng, trong khoảnh khắc dường như hiểu ra điều gì đó. Ánh mắt cậu trống rỗng, sắc mặt tái nhợt, đuôi cá giận dữ quẫy mạnh, mặt biển lập tức cuộn lên những đợt sóng lớn.
Dẫu rằng cậu và người này chỉ vừa mới quen biết, nhưng giao nhân một khi đã nhận định bạn lữ thì sẽ là trọn đời trọn kiếp. Hơn nữa, bọn họ đã hoàn thành nghi thức bạn lữ, thế mà con người này làm sao có thể... làm sao có thể...
Lâm Uyên vẫn luôn tự hào về nhan sắc của mình, trong tộc giao nhân chẳng một ai có thể sánh ngang. Ngay cả tộc trưởng khi trông thấy cậu cũng chỉ thiếu điều không quỳ xuống cầu xin. Nhưng Khúc Thuần Phong lại có thể thẳng thừng ném cậu xuống biển, dường như ngoài chán ghét ra thì chẳng còn chút lưu luyến nào, điều ấy quả thực khiến cậu đau lòng khôn xiết.
Tộc giao nhân không thể để lộ thân phận trên mặt biển. Nếu bị con người phát hiện, sẽ dẫn tới tai họa không hồi kết, không chỉ gây hại cho bản thân mà còn liên lụy đến cả tộc nhân. Vì thế họ chỉ có thể lộ diện vào ban đêm, mà cũng là trong những hoàn cảnh đặc biệt.
Lâm Uyên bướng bỉnh nhìn chăm chăm lên đỉnh vách đá, nhưng đợi mãi vẫn chẳng thấy bóng dáng màu trắng quen thuộc ấy xuất hiện. Cậu cắn môi không nói lời nào, cuối cùng xoay người lặn sâu xuống đáy biển, chiếc đuôi cá màu xanh thẫm tựa như dải lụa mỏng lan tỏa trong làn nước, rất nhanh đã biến mất không còn dấu vết.
Khúc Thuần Phong nghe thấy tiếng nước bắn tung tóe, nhưng anh không quay đầu lại, cũng chẳng dừng chân. Bước thẳng về phía căn nhà, anh đi đến trước giường, chỉ thấy trên đó trống trải vô cùng, chỉ còn vương lại hai mảnh vảy cá màu xanh biếc, ánh lên sắc màu rực rỡ tựa như bảo ngọc.
Khúc Thuần Phong thấy vậy thì khựng lại, đoạn thu hai mảnh vảy cá vào lòng bàn tay, ngồi xuống bên mép giường, chẳng rõ đang suy nghĩ điều gì.
Thân phận quốc sư của anh cũng được coi là tôn quý, anh là đệ tử thân truyền của Hồng Quan Vi, sau này vị trí quốc sư ắt cũng do anh kế nhiệm. Năm ấy, quốc quân từng có ý kết dây tơ hồng, muốn gả con gái quý tộc hoàng tộc cho anh. Nhưng Khúc Thuần Phong lo ảnh hưởng đến tu vi, hơn nữa cũng chẳng có lòng lập gia đình, liền từ chối.
Thật không ngờ, tại một ngôi làng chài nhỏ bé này, anh lại trúng một đạo số...
Khúc Thuần Phong chầm chậm v.uốt ve mảnh vảy cá nơi đầu ngón tay, nghĩ rằng tuy giao nhân ấy hành xử vô lễ, chẳng được hiền thục như những nữ tử trong kinh thành, nhưng cũng không có gì quá đáng. Chuyện nam nữ đã không ảnh hưởng tới tu vi, nếu đối phương chỉ là một cô gái bình thường nơi dân gian, anh lấy nàng cũng không phải chuyện lớn.
Nhưng rốt cuộc vẫn là dị tộc.
Khúc Thuần Phong nhíu mày, chợt nhận ra bản thân đã phí quá nhiều thời gian cho giao nhân này, quả là không đáng. Đang định suy nghĩ bước tiếp theo nên làm gì, khóe mắt anh thoáng thấy trên giường có vài viên châu rơi vãi, chính là chuỗi niệm châu lưu ly mà trước đây anh từng ném xuống nước để dụ giao nhân.
Khúc Thuần Phong nhớ rất rõ, anh đã ném những viên châu đó xuống biển, sao chúng có thể vô cớ xuất hiện ở đây?
Anh không ngủ trên giường, mấy ngày qua, người duy nhất từng nằm trên giường này chính là giao nhân kia, vậy thì thứ này là ai để lại, cũng đã rõ ràng. Khúc Thuần Phong cầm lấy một viên lưu ly châu, trong lòng nghĩ, có khi nào bảo vật hiếm quý thật sự có thể hấp dẫn giao nhân?
Những ngày sau, Khúc Thuần Phong vừa điều tức thương thế, vừa âm thầm quan sát động tĩnh của dân làng, nhưng chẳng phát hiện điều gì khác thường. Chỉ là bên ngoài bắt đầu rộ lên tin tức, nói rằng phía bắc lại xảy ra chiến sự, tình hình vô cùng căng thẳng. Quan phủ bắt đầu đi khắp nơi chiêu binh, thu lương. Nhà giàu có lẽ còn đỡ, nhưng dân nghèo thì như thêm dầu vào lửa, oán than dậy đất.
Vài ngày trước, Lâm bá đánh được một mẻ cá, mang ra chợ bán, giá chỉ bằng một nửa ngày thường, đổi được chút lương thực đủ ăn mười mấy ngày, sự khó khăn có thể thấy rõ.
Đêm đó, Khúc Thuần Phong đang tĩnh tọa trong phòng điều tức, thương thế rốt cuộc đã hồi phục gần như hoàn toàn. Anh nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy ánh trăng tròn vằng vặc trên cao, sáng trong như đĩa ngọc, đêm nay chính là đêm trăng tròn, nghĩ đến giao nhân rất thích xuất hiện trong những đêm như thế này, bèn đẩy cửa bước ra ngoài.
Liên tục nhiều ngày, trừ khi cần thiết, anh chưa từng bước chân ra khỏi phòng, cũng không hề nhìn về phía vách đá cạnh biển, tựa như cố ý tránh né điều gì đó. Chuyện xảy ra đêm đó dường như chỉ là một giấc mơ vượt khỏi chuẩn mực nghiêm cẩn, trắng đen rõ ràng trong cuộc đời anh.
Khúc Thuần Phong đứng bên bờ vách đá, nhìn thoáng qua mặt biển đen thẳm, ngoài sóng nước nhấp nhô, chẳng thấy gì khác. Một lúc không biết là thất vọng hay nhẹ nhõm, anh đứng yên hồi lâu, rồi hướng về phía cổng làng, định âm thầm theo dõi tình hình nhà Lâm bá.
Anh vẫn luôn nghi ngờ về đôi giao nhân châu trên tai của A Anh.
Khúc Thuần Phong vừa rời khỏi vách đá chưa lâu, mặt biển vốn yên ả bỗng vang lên một tiếng nước khẽ xao động, như thể có thứ gì đó đang bơi lội dưới làn nước.
Về đêm, dân làng đã yên giấc. Khúc Thuần Phong ẩn mình trên một gốc cây cổ thụ cách cổng làng không xa, liên tục theo dõi mấy ngày vẫn chưa phát hiện điều gì khác thường. Đêm nay cũng vậy, nhưng đến nửa đêm, cửa nhà Lâm bá bỗng khẽ mở ra, một cô gái dáng người nhỏ nhắn bước ra từ trong.
Chính là A Anh.
Một cô gái, nửa đêm ra ngoài đã đủ khiến người ta nghi ngờ, huống chi, dưới ánh trăng, Khúc Thuần Phong nhận ra rõ ràng, A Anh đã trang điểm kỹ lưỡng, giống như muốn đi gặp tình nhân. Anh nhíu mày, thu ánh mắt lại, lặng lẽ theo sau.
A Anh không hề phát hiện có người theo dõi, đi thẳng tới bờ biển, ngồi xuống trên một tảng đá ngầm, từ trong ngực lấy ra một chiếc ốc biển nhỏ nhắn không rõ màu sắc, áp lên môi thổi khẽ. Âm thanh không vang, nhưng Khúc Thuần Phong lại nhạy bén cảm nhận được sự biến đổi tinh vi trong không khí.
Không lâu sau, trên mặt biển phía xa xuất hiện một bóng đen mờ mờ, dần dần tiến lại gần. Cùng tiếng nước khẽ vang, một nam tử từ trong nước nổi lên, thân hình rắn rỏi dưới ánh trăng, cơ bắp rõ ràng, hai tai nhọn, đuôi cá hé lộ, rõ ràng là một giao nhân nam.
Khúc Thuần Phong thấy vậy, im lặng nắm chặt thanh kiếm trong tay, như muốn xuất thủ, nhưng rồi lại nhẫn nhịn, quyết định xem xét tình hình trước.
A Anh trông thấy giao nhân nam ấy, dường như rất vui, nằm rạp xuống mép đá nhìn hắn, đưa tay xoa đầu phắn, giọng nói thân thiết: "A Tẫn."
Giao nhân nam chủ động nổi hẳn thân mình lên để cô tiện chạm vào. Tuy không nhìn rõ diện mạo, nhưng giọng hắn trong trẻo thanh thoát, không cố ý nhưng lại mang chút mê hoặc: "Đêm nay lạnh lắm, em không nên ra đây."
Khúc Thuần Phong nghe thấy giọng hắn, không biết nghĩ đến điều gì, ngẩn người trong thoáng chốc, hai tay ôm kiếm, tựa lưng vào một mỏm đá ngầm, tiếp tục ẩn nấp.
A Anh dường như không vui, nhỏ giọng nói với cậu: "Mấy ngày trước quan phủ tới đây, nói muốn chiêu binh đánh trận, ngay cả gạo cũng tăng giá nhiều lắm, cha muội suốt ngày cau mày, mấy hôm nay chẳng lúc nào tươi cười."
Giao nhân kia hỏi: "Lại đánh trận sao?"
A Anh gật đầu, đầy oán trách: "Đều tại tên hoàng đế hôn quân ấy, bòn rút mồ hôi nước mắt của dân, làm cho quốc khố trống rỗng, giờ đánh trận chẳng còn tiền lương, lại phải bóc lột từ dân chúng."
Khúc Thuần Phong nghe A Anh nói hoàng đế là hôn quân, lặng lẽ mở mắt, khẽ mím môi, chẳng rõ nghĩ gì. Vô tình quay đầu lại, thấy giao nhân kia đưa một chiếc vỏ sò đầy ngọc trai cho A Oánh: "Cầm lấy, đổi chút gạo cho dân làng."
A Anh hơi do dự, rồi chầm chậm lắc đầu: "Cha muội không cho nhận, nói rằng nước mắt giao nhân rất quý giá, nếu bị kẻ có lòng nhắm trúng sẽ không hay. Lần trước chàng tặng muội đôi ngọc tai, bị ông nhìn thấy, muội còn bị mắng cho một trận."
A Tẫn nói: "Không sao, đây chỉ là ngọc trai bình thường."
A Anh vẫn không muốn nhận, nhưng bị thuyết phục vài lần, đành cầm lấy. Sau đó, giao nhân cũng ngồi trên đá ngầm, nói chuyện nhỏ nhẹ với cô rất lâu mới bịn rịn rời đi.
Khúc Thuần Phong thấy A Anh vừa xoay người rời đi, giao nhân kia cũng định lặn xuống biển. Lo sợ sau khi vào nước sẽ khó mà bắt được, anh buộc phải từ trong bóng tối xuất hiện, nhặt một viên đá nhỏ đánh vào huyệt tê ở sau gáy A Anh, đồng thời thanh kiếm dài lao thẳng về phía giao nhân.
A Tẫn thấy vậy thì kinh hãi thốt lên: "A Anh!"
Khúc Thuần Phong thanh kiếm nhắm thẳng vào vị trí ba tấc dưới sườn y, mang theo kình phong, thế như chẻ tre. Hệ thống vốn đang trong trạng thái ngủ đông, thấy cảnh này liền giật mình tỉnh dậy, "bùm" một tiếng hiện thân, vội vàng ôm chặt lấy kiếm của anh: 【Ngừng, ngừng, ngừng... ngừng tay ngay!】
Khúc Thuần Phong chỉ cảm thấy mũi kiếm bị một luồng lực vô hình ngăn cản, không thể tiến thêm chút nào. Biết là trò của hệ thống, anh lật cổ tay, đổi hướng kiếm, dứt khoát bỏ kiếm, tụ khí huyền trong lòng bàn tay, thẳng tay giáng một chưởng về phía giao nhân kia.
Hệ thống cuống cuồng: 【Ngươi còn đánh nữa, ta sẽ giật điện ngươi đó!】
Khúc Thuần Phong chẳng buồn để ý, dường như đã quyết tâm phải bắt bằng được giao nhân kia trở về. A Tẫn không ngờ tại thôn chài lại đột nhiên xuất hiện một nam nhân xa lạ, thêm nữa hắn lại lo lắng cho A Anh đang bất tỉnh trên mặt đất, không kịp né tránh, đành gắng gượng chịu trọn một chưởng.
Chưởng lực chỉ dùng năm phần sức, nhưng A Tẫn ở trên đất liền không cách nào hành động, bị đánh lăn một vòng trên mặt đất, khóe môi rỉ ra một tia máu. Đến khi định thần muốn phản kích, nơi cổ đã bị kề một thanh kiếm lạnh như băng.
A Tẫn ngẩng đầu, chỉ thấy trước mặt là một nam nhân nhân loại mặc bạch y, thần sắc lạnh lùng, là gương mặt xa lạ, chưa từng gặp qua tại thôn. Trong lòng y chấn kinh, hoảng hốt bật thốt: "Ngươi là ai?"
Khúc Thuần Phong cúi mắt nhìn y, mũi kiếm áp sát vào cổ, giọng điệu thờ ơ: "Ngươi không cần biết."
A Tẫn liếc mắt nhìn A Anh đang nằm bất tỉnh bên cạnh, không nói một lời, siết chặt tảng đá ngầm dưới thân: "Ngươi muốn làm gì?"
Khúc Thuần Phong im lặng quan sát nét mặt y, thấy dung mạo tuy xuất chúng nhưng không bằng Lâm Uyên tuyệt sắc, thanh âm cũng chẳng có sức mê hoặc lòng người như vậy, lòng mới buông lỏng được chút cảnh giác. Anh bất giác nhớ lại lời đồn về nguyền rủa kiếp trước: "Các ngươi giao nhân, ngoài giọng hát có thể mê hoặc lòng người, còn biết thuật vu cổ sao?"
A Tẫn không hiểu anh đang nói gì, nhíu mày đáp: "Tự nhiên là không."
Khúc Thuần Phong đưa mắt đầy ẩn ý nhìn sang A Oanh: "Lời ngươi nói không phải là giả chứ?"
A Tẫn sợ anh làm hại A Anh, vẻ mặt hiếm khi lộ ra chút lo lắng: "Nếu ta biết thuật vu cổ, sao có thể bị ngươi khống chế ở đây?"
Khúc Thuần Phong cũng cảm thấy thuật nguyền rủa thực sự hư vô mờ mịt, nhưng kiếp trước lại có không ít người gặp họa sát thân. Chẳng lẽ thực sự là do sát sinh quá nặng, trái nghịch thiên đạo, nên mới bị thần Phật giáng tội?
Hệ thống ở bên cạnh, lo lắng dõi theo thanh kiếm trong tay anh, chỉ sợ anh đâm xuyên người giao nhân: 【Ngươi... Ngươi nếu còn động thủ, ta thực sự sẽ giật điện ngươi đó.】
Khúc Thuần Phong đã chọn cách phớt lờ lời hệ thống, tự mình suy tư chuyện riêng.
Anh nghĩ kiếp trước diệt cả thôn, quả thật có liên lụy đến người vô tội, trái với thiên đạo, không nên đi vào vết xe đổ. Nhưng chung quy vẫn cần có thứ để giao nộp cho quốc quân. Chỉ cần bắt một giao nhân là được. Anh vừa định kết ấn thi pháp, không ngờ đúng lúc này, móng tay của A Tẫn đột nhiên dài ra, không màng nguy hiểm bản thân, vang lên một tiếng choang, hất văng thanh kiếm trong tay anh. Nhân lúc hỗn loạn, hắn lao thẳng tới, kéo anh xuống nước.
Chỉ nghe "ầm" một tiếng lớn, cả hai cùng rơi xuống nước. Giao nhân khi đã xuống nước thì sức mạnh bùng nổ, huống hồ Khúc Thuần Phong lại không giỏi bơi, lập tức rơi vào thế bất lợi.
Hệ thống nghĩ bụng, sao ký chủ của mình lại rơi xuống nước nữa rồi. Lát nữa nếu anh ta giết người, mình nên giật hay không đây?
Chương 103
Nước có thể dẫn điện, thương thế của Khúc Thuần Phong vừa mới hồi phục, hệ thống thực sự lo lắng sẽ giật chết anh mất. Thân hình màu xanh của nó vì cảnh báo mà chuyển đỏ, âm thanh bíp bíp vang lên không ngừng trong đầu anh.
Nhưng giờ phút này, Khúc Thuần Phong có muốn thu tay cũng đã muộn. Anh ở dưới nước, bị A Tẫn quấn lấy không thể thoát thân. Móng vuốt của giao nhân sắc bén vô cùng, hung hãn cào mạnh một đường trên lưng anh, để lại năm vết thương sâu đến tận xương. Máu tươi lập tức hòa tan trong nước.
Hệ thống không thể điều khiển sinh vật nào không được ràng buộc, nó vỗ cánh bay vòng quanh A Tẫn, gấp gáp kêu: 【Đừng đánh nữa, đừng đánh nữa, ngươi đánh chết ký chủ của ta thì làm sao bây giờ!】
#Chết tiệt, cuối năm còn phải chạy chỉ tiêu nữa chứ!#
A Tẫn rõ ràng không nghe thấy lời nó nói, từng chiêu đều là đòn sát thủ. Dưới lòng biển, sóng ngầm cuộn trào, bầy cá xung quanh kinh hãi tản đi. Khúc Thuần Phong toàn thân trọng thương, động tác bị hạn chế, lại thêm không quen nước, tình thế cực kỳ nguy cấp. Anh vốn không định giết giao nhân trước mặt, ít nhất là trước khi hồi kinh báo cáo. Một chưởng tụ khí đánh trúng ngực đối phương, lập tức bơi nhanh về phía bờ. Ai ngờ bị A Tẫn kéo ngược vào vùng nước sâu hơn.
A Tẫn rõ ràng e ngại anh lên bờ sẽ làm hại A Anh, từng chiêu thức đều là lối đánh liều mạng.
Vết thương trên lưng Khúc Thuần Phong vỡ ra, mất máu quá nhiều, sắc mặt tái nhợt, không còn sức phản kháng. Anh bị nước biển mặn xót làm không thể mở mắt, từng cơn ngột ngạt ép đến khiến lục phủ ngũ tạng dường như sắp nổ tung, chỉ còn chờ chết.
Từ xưa đến nay, vương hầu tướng lĩnh hay mỹ nhân khuynh quốc khuynh thành, dường như không ai thoát khỏi chữ "tử". Nhưng quốc quân nước Sở lại cố ý nghịch thiên, vọng cầu trường sinh. Khúc Thuần Phong không biết điều này là đúng hay sai, chỉ có thể tuân mệnh mà làm.
Dù là vì sư huynh đệ khắp Thiên Nhất Môn, hay vì Hồng Quan Vi, người đang ở kinh thành mà tình thế nguy nan.
Một người nếu sinh ra mang theo quá nhiều ràng buộc, nhất định sẽ chẳng thể tự do. Khúc Thuần Phong tự cho mình là ngay thẳng, nào ngờ trong lòng đã sớm có xiềng xích, dẫn dắt bản thân rẽ lối khỏi chính đạo.
Thân thể anh dần chìm xuống, ban đầu là đau đớn khắp nơi, nhưng về sau chẳng còn cảm giác gì nữa. Trước mắt chỉ thấy một vùng biển đen u ám. Ngay khi hệ thống chuẩn bị dồn toàn lực, liều mình cướp người từ tay A Tẫn, thì một bóng dáng khác đột nhiên lao nhanh tới, mạnh mẽ đẩy A Tẫn ra, cứu lấy Khúc Thuần Phong.
A Tẫn thấy vậy thì kinh hãi, đến khi nhìn rõ người đến là ai, giọng nói càng không che giấu nổi sự kinh ngạc: "Vương!"
Đối phương cũng là một giao nhân, thân dưới từ phần eo trở xuống là đuôi cá màu xanh thẫm như mực, dài mà mạnh mẽ, lớp vảy mỏng nửa trong suốt tựa lụa là mềm mại. Đôi mày mắt hẹp dài mang nét yêu mị, dung mạo kiều diễm vô song, nơi dưới mắt lại có một nốt lệ chí, càng tăng thêm ba phần phong tình. Nếu là nữ nhân, ắt sẽ sánh ngang với những mỹ nhân như Đát Kỷ, chỉ tiếc thần sắc cậu lạnh lùng, lại thêm vài phần sắc bén.
Hiển nhiên chính là Lâm Uyên đã rời đi từ lâu.
Cậu đối với câu hỏi của A Tẫn chẳng buồn đáp lại, chỉ mang theo Khúc Thuần Phong nhanh chóng bơi về phía bờ gần nhất.
Loài người không thể ở lâu dưới nước, bằng không sẽ chết đuối mà bỏ mạng.
A Tẫn thấy vậy liền đuổi theo cậu, đưa tay ngăn lại, sắc mặt khó coi: "Vương, con người này đã phát hiện ra sự tồn tại của chúng ta, không thể giữ lại, nếu thả về sẽ để lại hậu họa khôn lường!"
Lâm Uyên: "Ta tự có cách xử lý."
A Tẫn muốn nói lại thôi: "Nhưng mà..."
Lâm Uyên cười lạnh: "Sao hả? Không quan tâm đến bạn lữ của ngươi nữa sao?"
Nghe cậu nhắc đến A Anh, sắc mặt A Tẫn khẽ biến đổi, quả nhiên không thể để ý đến Khúc Thuần Phong, vội quay đầu bơi về phía rặng đá ngầm, lo sợ nàng xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn.
Lâm Uyên đưa Khúc Thuần Phong bơi về phía bờ, cuối cùng đặt anh lên một hòn đảo nhỏ. Trên vai Khúc Thuần Phong có vài vết cào sâu đến tận xương, máu tươi nhuộm đỏ cả chiếc áo trắng của hắn, từ đỏ thẫm biến thành đỏ nhạt khi ngâm trong nước biển. Sắc mặt tái nhợt, anh đã hôn mê bất tỉnh.
Lâm Uyên lặng lẽ nhìn hắn, sắc mặt hiếm khi mang theo chút phức tạp. Tộc giao nhân sinh sống nơi biển sâu, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, bởi lẽ con người quá mức tham lam. Dù là giao châu hay những truyền thuyết hư ảo, tất cả đều đủ để đẩy họ vào cảnh nguy hiểm.
Trước đây, Lâm Uyên không biết, nhưng giờ đây cậu mơ hồ nhận ra một điều, Khúc Thuần Phong không phải là một ngư dân bình thường. Anh dường như cũng giống những con người tham lam kia, mang theo ý đồ khác đối với Giao nhân.
Cậu không nên cứu Khúc Thuần Phong, nhưng vẫn làm vậy...
Không vì lý do nào khác, chỉ là trong lòng có chút không nỡ. Cậu nằm phục trên bờ cát, lặng lẽ nhìn khuôn mặt tái nhợt của người đàn ông. Trong lòng tự nhủ con người này thật đáng ghét, vừa cổ hủ vừa lạnh lùng, khó chịu cực kỳ. Tại sao mình lại chọn anh làm bạn lữ chứ?
Lâm Uyên suy nghĩ rất nhiều, nhớ đến việc Khúc Thuần Phong cho cậu ăn cá, ăn bánh bao nhân thịt, cuối cùng còn thả cậu trở lại biển. Cậu nằm trên bãi cát mềm ẩm, hơi nhấc nửa thân trên, dùng móng tay nhẹ nhàng gạt lớp vải bị rách trên vai Khúc Thuần Phong, không ngoài dự đoán mà nhìn thấy vết thương máu thịt lộ ra.
Vết thương quá nặng.
Lâm Uyên nhíu mày, dường như đang do dự điều gì đó. Nhưng chưa kịp hành động, cổ tay đã bị ai đó nắm chặt. Theo bản năng ngước mắt nhìn, chỉ thấy Khúc Thuần Phong không biết từ lúc nào đã tỉnh lại.
Người luyện võ luôn có tính cảnh giác cao. Trong cơn mơ hồ, Khúc Thuần Phong chỉ cảm thấy có ai đó đưa mình lên bờ, nhưng anh không nhìn rõ là ai. Đau đớn từ vết thương k.ích th.ích thần trí anh tỉnh táo hơn một chút, bản năng nắm lấy bàn tay đang đặt trên vai mình, dùng sức khóa chặt mạch môn đối phương. Đôi mắt mờ mịt khó khăn tập trung, cuối cùng cũng nhìn rõ khuôn mặt của người trước mặt.
Là giao nhân đó...
Đồng tử Khúc Thuần Phong co rụt lại, vô thức siết chặt lực đạo. Có lẽ không ngờ rằng mình sẽ gặp lại Lâm Uyên, anh sững sờ nhìn cậu, đến mức quên cả phản ứng.
Lâm Uyên nhìn vào cổ tay bị nắm chặt, con ngươi xanh thẫm thu nhỏ thành một đường, lấp lánh ánh sáng vô cơ thuộc về động vật. Cậu liếm nhẹ hàm răng sắc nhọn của mình, như thể muốn ăn thịt người, phát ra âm thanh "xì xì" của loài rắn từ trong cổ họng, khiến người ta lạnh sống lưng.
Nửa thân trên của cậu mắc cạn trên bãi biển, vương vài hạt cát ẩm, làn da trắng bệch, không mảnh vải che thân. Khúc Thuần Phong thấy vậy hoảng hốt buông tay, bản năng quay đầu đi, che lấy vết thương trên vai, khó nhọc đứng dậy. Anh muốn rời đi ngay lập tức, nhưng vết thương quá nặng, chưa đi được hai bước đã ngã xuống đất, trông vô cùng thê thảm.
Khúc Thuần Phong không biết mình đã mất bao nhiêu máu dưới biển, sắc mặt tái nhợt đến đáng sợ. Chỉ cần cử động một chút cũng sẽ kéo theo vết thương dữ tợn trên vai, tay chân lạnh ngắt run rẩy, hoàn toàn không kiểm soát được. Một lúc sau, huyết khí dâng lên, anh ho ra một ngụm máu, rồi ngất đi ngay tại chỗ.
Lâm Uyên nhíu mày càng sâu, đuôi cá khẽ vẫy, từng chút một bò đến bên cạnh Khúc Thuần Phong. Thấy anh đã thoi thóp sắp chết, cậu do dự một chút, dùng móng vuốt sắc nhọn rạch một đường dài trên cổ tay mình. Khi máu nhỏ từng giọt xuống, cậu đưa đến bên môi Khúc Thuần Phong.
Lâm Uyên là hậu duệ của Giao hoàng, máu của cậu đối với con người mà nói chẳng khác gì linh dược. Lúc này, cậu đã không còn quá bận tâm việc có thể mang lại tai họa cho bản thân, chỉ sợ Khúc Thuần Phong chết tại đây.
Giao nhân có khả năng tự lành rất mạnh. Vết thương trên cổ tay Lâm Uyên ban đầu vẫn còn rỉ máu, nhưng chẳng bao lâu đã đông lại. Cậu chỉ có thể dùng móng tay rạch vết thương lần nữa, tiếp tục ép máu chảy ra.
Đêm đen thăm thẳm, nơi hòn đảo nhỏ hoang vắng này, sóng biển thỉnh thoảng vỗ vào bờ rồi lại từ từ rút đi.
Ý thức của Khúc Thuần Phong mơ hồ, đầu lưỡi nếm được vị tanh ngọt lạ lẫm, làm dịu đi cổ họng khô khốc. Anh thở dốc, chỉ cảm thấy bản thân đang chìm trong biển máu, trước mắt là một màu đỏ ngập trời, tràn về từ bốn phương tám hướng, nhấn chìm anh.
Mơ hồ mở mắt, nhưng mí mắt nặng trĩu lại khép xuống. Anh chỉ thấy một bàn tay trắng bệch pha chút xanh xao lơ lửng trên đỉnh đầu mình, máu nhỏ từng giọt xuống.
Trăng tàn sao mờ. Đến khi Khúc Thuần Phong tỉnh lại lần nữa, trời đã gần sáng. Anh từ từ mở mắt, chỉ thấy một bầu trời chưa sáng hẳn, khó nhọc cử động cơ thể, nhưng lại vì vết thương trên vai mà ngã xuống cát.
Hệ thống vẫn luôn ở bên cạnh, thấy anh tỉnh lại liền vui mừng vỗ cánh hai cái: [Ký chủ, cuối cùng ngươi tỉnh rồi!"
Khúc Thuần Phong không để ý đến nó, một tay mò mẫm trên cát, nhặt lên thanh kiếm dài rơi cách đó không xa, rồi dùng kiếm làm trụ chống đỡ cơ thể, loạng choạng đứng dậy. Anh nhìn quanh một vòng, ánh mắt dừng lại khi thấy một bóng dáng trên mỏm đá phía xa.
"..."
Lâm Uyên quay lưng về phía anh, ngồi bên bờ biển, cúi đầu liếm nhẹ vết thương trên cổ tay mình. Chiếc đuôi cá xanh thẫm buông thõng xuống, khẽ đong đưa. Đầu cậu hơi nghiêng, như thể đã nhận ra tiếng động nhẹ sau lưng, ánh mắt ngoảnh lại, đôi mắt xanh thẫm yêu mị đến rợn người.
Khúc Thuần Phong không kịp chuẩn bị đã đối diện với ánh mắt cậu, trong lòng nảy lên cảm giác khó tả, ngoài hoảng loạn vẫn là hoảng loạn. Anh quay đầu đi, không dám nhìn thân trên tr.ần tr.ụi của Lâm Uyên, im lặng một lúc, giọng nói khẽ vang lên:
"Đa tạ cô nương đã cứu mạng..."
Cô nương?
Nghe thấy từ này, vốn thường xuyên được hắn dùng, Lâm Uyên nhướng mày, không phản bác. Cậu lại nghĩ đến chuyện vừa rồi Khúc Thuần Phong và A Tẫn giao đấu, chỉ lặng lẽ vẫy đuôi, không nói gì.
Khúc Thuần Phong thương thế chưa lành, khí lực không đủ, cuối cùng không chống đỡ nổi mà ngồi lại xuống cát. Bộ áo trắng trên người đã rách nát, vết thương dữ tợn được ai đó băng bó lại, bên trên đắp một ít thảo dược không rõ tên, dùng vải xé từ quần áo cột chặt.
Cổ họng anh khô khát đến tanh ngọt, đưa tay lau nơi khóe miệng, đầu ngón tay trắng nõn lập tức dính một vệt máu tươi chưa kịp đông lại, màu sắc nhạt hơn máu người, giống như...
Máu của giao nhân...
Khúc Thuần Phong theo bản năng nhìn về phía Lâm Uyên, giọng nói không giấu nổi vẻ kinh ngạc: "Ngươi..."
Lời còn chưa dứt, Lâm Uyên đột nhiên không hề báo trước mà nhảy thẳng xuống biển. Chỉ nghe một tiếng nước nhỏ đến mức có thể bỏ qua, thân ảnh cậu lập tức biến mất, bãi đá ngầm lúc trước giờ đã trống không.
Khúc Thuần Phong thấy vậy liền hơi gượng người dậy, dường như muốn đi xem rõ ràng, nhưng lại vì vết thương bị kéo giãn mà ngã ngồi trở lại, mồ hôi lạnh tuôn ra như mưa. Trên dưới toàn thân, ngoài mái tóc đen và đôi đồng tử thẫm màu, chỉ còn lại sắc mặt trắng bệch gần như trong suốt.
Hệ thống không chịu nổi cảnh này, lên tiếng khuyên nhủ: [Đừng cử động nữa, vết thương của ngươi lại nứt ra rồi!]
Khúc Thuần Phong nhìn chằm chằm vào nó, không nói một lời, nhớ lại khi còn ở dưới biển giao đấu với A Tẫn, hệ thống đã liên tục ngăn cản anh. Anh nhắm mắt lại, trầm giọng nói: "Các hạ cớ gì phải ngăn cản ta hết lần này đến lần khác..."
Hệ thống nghe vậy, rơi xuống bên cạnh anh: [Đây là quy định của các Chấp hành viên liên hành tinh. Chúng ta không được phép để ký chủ làm điều xấu.]
Khúc Thuần Phong một tay ôm lấy vết thương, máu tươi rỉ ra từ kẽ ngón tay. Anh hít một hơi, đáp: "Các hạ là phụng mệnh hành sự, ta cũng là phụng mệnh hành sự. Đã mỗi người một chủ, cớ gì phải làm khó lẫn nhau."
Hệ thống thầm nghĩ, điều này không giống nhau: [Làm người không nên quá tham lam, ngươi quá tham rồi.]
Khúc Thuần Phong nghe vậy, khẽ nhếch môi, dường như cảm thấy lời này có chút mỉa mai: "Khúc mỗ không tham danh lợi, cũng chẳng tham bạc vàng."
Hệ thống đáp lại: [Nhưng ngươi thèm khát thân thể của Giao nhân.]
Khúc Thuần Phong: "..."
Chương 104
Hệ thống cho rằng việc Khúc Thuần Phong h.am m.uốn thân thể của Giao nhân là sự thật không thể chối cãi. Anh không chỉ thu thập máu của Giao nhân, mà còn thu thập cả vảy của họ. Thậm chí còn thân mật đến mức... ngủ cùng. Bằng chứng rõ ràng, không thể tẩy sạch.
Còn phủ nhận gì nữa, ngươi đúng là thèm khát thân thể của người ta, ngươi đúng là ti tiện.
"Ngươi!"
Khúc Thuần Phong nghe vậy, ánh mắt bỗng lạnh đi, hiếm khi để lộ sự tức giận. Đây là lần đầu tiên trong đời anh bị người khác chặn họng đến mức không nói nên lời. Anh không muốn thừa nhận, nhưng lại chẳng tìm được lời nào để phản bác, cơn nghẹn tức dâng lên, mặt mày tái xanh.
Hệ thống cảm thấy anh sắp phun máu đến nơi, liền vô thức bay lùi ra xa: [Chuyện trường sinh là hư vô mờ mịt, nếu ngươi thật sự muốn làm một vị thần tử trung thành, thì nên khuyên can hoàng đế, chứ không phải giúp kẻ ác lộng hành.]
Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, công lao to lớn, có thể nói là chưa từng có ai sánh bằng. Ngay cả ông cũng không thể cầu được trường sinh bất lão, thì Chiêu Ninh Đế lại càng không có khả năng.
Khúc Thuần Phong nghe vậy, theo bản năng nhìn về phía nó. Một lúc sau, anh mới chậm rãi nói: "... Vì sao các hạ lại nói trường sinh là hư vô mờ mịt?"
Hệ thống bỗng dưng thích đùa: [Bởi vì ta là thần.]
Khúc Thuần Phong: "..."
Đôi mắt vốn không chút cảm xúc của Khúc Thuần Phong thoáng lộ ra một tia chế giễu nhàn nhạt:
"Các hạ đã là thần, vậy có trường sinh bất tử không?"
Hệ thống vận hành dựa vào năng lượng duy trì, chỉ cần năng lượng không cạn kiệt, nó sẽ không chết. Nhưng cũng không tránh khỏi việc có những hệ thống làm sai, bị ném vào trạm tái chế để tiêu hủy triệt để: [... Coi như là vậy.]
Khúc Thuần Phong nghe vậy, lập tức nắm chặt đầu ngón tay: "Nếu đúng là như thế, sao các hạ lại nói trường sinh là hư vô mờ mịt?"
Hệ thống vỗ cánh, suy nghĩ một lúc rồi đáp: [Ngươi nằm trong lục giới, còn ta ở ngoài lục giới.]
Họ không thuộc cùng một thế giới.
Hệ thống cũng không biết phải giải thích thế nào với một người cổ đại như Khúc Thuần Phong rằng bản thân nó chỉ là một đống dữ liệu. Trường sinh đối với bất kỳ sinh vật nào có máu thịt đều là điều không thể. Trừ khi biến thành một hòn đá, một cái cây, hoặc một đống sắt vụn, mới có khả năng sống mãi mãi. Nhưng không tri giác, không cảm xúc, không h.am mu.ốn, sống lâu đến mấy thì có ý nghĩa gì đâu.
Nghĩ đến đây, hệ thống bỗng liên tưởng đến chính sự tồn tại của mình. Đôi cánh nhỏ sau lưng khẽ dừng lại, nói với Khúc Thuần Phong: [Thế nhân sinh sinh tử tử, triều đại hưng suy, tất cả đều là mệnh trời. Không thể cưỡng cầu. Nếu quân vương của ngươi muốn trường sinh, đó là nghịch thiên mà làm, ắt sẽ gặp báo ứng. Ngươi một mực bắt giữ Giao nhân, khi thiên phạt giáng xuống, bản thân ngươi cũng sẽ bị liên lụy.]
Kiếp trước chính là một ví dụ rõ ràng.
Khúc Thuần Phong không nói thêm lời nào, tựa lưng vào một gốc cây, nhắm mắt nghỉ ngơi. Chỉ lạnh nhạt buông ba chữ: "Ngươi không hiểu."
Nếu thật sự như lời nó nói, mọi sự đều tùy tâm, vậy sao lại có nhiều chuyện thân bất do kỷ đến thế.
Hệ thống quả thực không hiểu. Tuy nó đã mở ra linh trí, nhưng vẫn không thể so sánh với con người.
Hiện tại Khúc Thuần Phong không thể đi lại, chỉ có thể đợi thương thế hồi phục rồi mới quay về đất liền. Anh dùng trường kiếm gom một ít nhánh cây khô lại, lấy hỏa chiết tử từ túi Càn Khôn ra, nhóm lên một đống lửa nhỏ. Làm xong tất cả, anh mới tựa vào gốc cây nghỉ ngơi một lát.
Bầu trời đã dần sáng lên, nhưng vẫn còn chút âm u. Khúc Thuần Phong nhóm lửa không phải để soi sáng, mà vì quá lạnh. Trên người anh không có chỗ nào là ấm áp, ngay cả máu trong cơ thể cũng như đang dần đông lại, tựa hồ sắp đóng băng.
Anh rất cần chút hơi ấm...
Hoặc không phải hơi ấm, chỉ một chút hơi người cũng được.
Dưới ánh sáng của đống lửa, sắc mặt tái nhợt vì mất máu của Khúc Thuần Phong cuối cùng cũng được ánh lên một chút sắc ấm. Gương mặt như ngọc, phong thái như trăng thanh gió mát. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, không ai có thể biết được anh đã nhuốm đầy tội nghiệt.
Khi anh nhắm mắt điều tức, bên cạnh đột nhiên vang lên một tiếng động nhẹ. Khúc Thuần Phong mở mắt nhìn, liền thấy vài con cá đen đã được mổ bụng làm sạch, được bọc trong lá cây lớn, bị ai đó ném tới.
Lâm Uyên vừa nãy đi săn mồi, lúc bơi trở về bờ, thấy Khúc Thuần Phong không biết lúc nào đã nhóm lửa, liền ném chỗ cá mình bắt tới. Trong lòng nghĩ, con người dường như không giống họ, chỉ ăn đồ chín.
Cậu ngồi trên mỏm đá, đuôi cá khẽ vẫy, mái tóc dài màu xanh thẫm che khuất phần lớn thân thể. Giọng điệu lười nhác:
"Ăn đi."
Khúc Thuần Phong khựng lại, nhìn đống cá bên cạnh đã được làm sạch tỉ mỉ, chỉ cảm thấy lại nợ thêm ân tình của giao nhân trước mặt. Trong lòng không nói rõ là cảm giác gì, môi mím lại, đáp: "Đa tạ cô nương đã ưu ái..."
Nhưng vẫn không động đũa.
Lâm Uyên dứt khoát từ trên mỏm đá trèo xuống, bò đến gần anh. Đuôi cá sạch sẽ dính chút cát ẩm, đôi mắt dài hẹp mang theo vài phần phong tình khẽ nhướng lên, trông có chút không vui: "Tại sao không ăn?"
Chê bai cậu sao?
Lâm Uyên nhớ lại chuyện trước đây Khúc Thuần Phong từng ném mình xuống biển, càng nghĩ càng cảm thấy suy đoán của mình là đúng, không vui mà quẫy mạnh đuôi cá, làm cát bay tứ tung, thẳng thừng hất vào đống lửa, khiến ngọn lửa cũng yếu đi vài phần.
Khúc Thuần Phong không biết phải giải thích thế nào về việc mình không ăn cá, thêm vào đó tính tình vốn đã trầm lặng quen thuộc, lúc này chỉ có thể im lặng đối diện:
"..."
Lâm Uyên vẫn chưa kịp ăn gì, thấy Khúc Thuần Phong không trả lời, tâm trạng cậu cũng bị ảnh hưởng, chẳng buồn ăn nữa, hừ lạnh một tiếng, xoay người nằm nghiêng, quay lưng về phía anh, rõ ràng là rất không hài lòng.
"..."
Khúc Thuần Phong cúi mắt, không hề phản ứng, vẫn giữ nguyên tư thế ngồi thiền, rất lâu cũng không nhúc nhích. Một lúc sau, anh mới khẽ nghiêng đầu nhìn về phía giao nhân kia, nhưng lại giống như vừa thấy thứ không nên nhìn, vội vàng thu ánh mắt về, như bị điện giật.
Năm xưa Đường Tam Tạng khi đi Tây Trúc thỉnh kinh, gặp phải nữ vương của Nữ Nhi Quốc mà còn rơi vào cảnh ngộ bối rối, e rằng cũng chẳng thảm đến mức này. Khúc Thuần Phong lại cảm thấy mình còn nghiêm trọng hơn cả ông, bởi vì Giao nhân còn nguy hiểm hơn yêu tinh.
Khúc Thuần Phong mím môi, vô thức siết chặt tay trên đầu gối: "Cô nương, tại hạ không phải muốn phụ lòng ý tốt của cô..."
Lâm Uyên quay lưng về phía anh, không lên tiếng.
Khúc Thuần Phong ngập ngừng một lát, chỉ đành tiếp tục nói: "Tại hạ không ăn cá, xin cô nương chớ trách..."
Lâm Uyên cuối cùng cũng có động tĩnh, nhưng chỉ là lật mình lại, gương mặt nghiêng sâu hút vùi trong khuỷu tay, khép mắt lại, dường như đã thiếp đi.
Khúc Thuần Phong: "..."
Không hiểu vì sao, khi thấy cảnh này, anh bỗng dưng thở phào một hơi, bàn tay siết chặt trên đầu gối cũng dần thả lỏng. Anh cố gắng không để động đến vết thương, gom thêm ít cành cây khô lại, rồi khơi ngọn lửa vừa bị dập kia cháy sáng trở lại.
Hai người cứ thế lặng lẽ ở bên nhau, ngoài âm thanh của gió biển, sóng vỗ, chỉ còn lại tiếng lửa cháy lách tách vang lên.
Lâm Uyên vẫn không thích mặc y phục, phần thân trên trắng nõn cứ thế lộ ra trong không khí, vừa cân đối vừa đẹp mắt. Đuôi cá thỉnh thoảng lại khẽ vẫy, dính đầy cát ướt.
Khúc Thuần Phong tự nhủ mình không nên nhìn, nhưng lại chẳng thể nào làm ngơ như không thấy. Anh cúi đầu nhìn chiếc áo trắng rách nát trên người mình, rồi lấy từ túi Càn Khôn ra chiếc trường bào của quốc sư. Tấm áo này được may từ loại lụa thượng hạng, trên đó có hoa văn chìm tinh xảo, chỉ khi ánh sáng chiếu lên mới thấy được sự bóng bẩy lấp lánh.
Ở Đại Sở, quốc sư là một chức thần quan, tuy không thể nói là quyền cao chức trọng một người dưới vạn người trên, nhưng cũng không cách biệt bao xa. Trăm quan triều đình thấy anh đều phải hành lễ, ngay cả quốc quân cũng phải nể anh ba phần.
Nhưng giờ phút này, Khúc Thuần Phong lại chỉ coi chiếc áo tượng trưng cho quyền lực và địa vị đó như một món y phục bình thường, nhẹ nhàng khoác lên người Lâm Uyên, che kín lớp da thịt lộ ra ngoài của cậu.
Làn da của Lâm Uyên tuy trắng, nhưng lúc nào cũng phảng phất ánh xanh nhạt, đôi môi đỏ thẫm như được nhuộm máu tươi, không chút nào không toát lên vẻ yêu khí. Nhưng hôm nay lại có gì đó khác thường, sắc mặt trắng bệch đến mức nhợt nhạt, hàng chân mày dài mảnh hơi chau lại, mang theo vài phần mệt mỏi yếu ớt.
Khúc Thuần Phong nhận ra có gì đó không đúng, nhíu mày. Ánh mắt anh vô tình liếc qua, liền thấy cổ tay phải của Lâm Uyên chi chít hơn chục vết thương, kéo dài đến tận bàn tay. Máu đã đông lại, nhưng những vết thương đó vẫn lộ rõ vẻ đáng sợ.
"..."
Khúc Thuần Phong nhìn thấy, cả người cứng lại. Anh nhớ đến lúc bản thân mê man lơ mơ, từng thấy một bàn tay nhỏ máu ròng ròng lơ lửng trên đầu, đầu lưỡi dường như vẫn còn đọng lại chút vị tanh nồng.
Anh do dự một hồi, quên luôn cả những lễ nghi vốn ăn sâu vào cốt tủy, chậm rãi đưa tay ra, nhẹ nhàng nắm lấy cổ tay lạnh lẽo của Lâm Uyên, âm thầm quan sát những vết thương đáng sợ kia, hơi thở không khỏi nghẹn lại.
Tại sao...
Khúc Thuần Phong phụng mệnh quốc quân tới vây bắt giao nhân, vì thế không cảm thấy bản thân làm sai. Hoặc có lẽ anh biết rõ hành động này là không đúng, nhưng vẫn chọn cách phớt lờ, chọn cách làm một vị thần tử trung thành.
Không thể phủ nhận, Khúc Thuần Phong từng có ý định g.iết ch.ết Lâm Uyên. Dù cuối cùng vì nhiều lý do mà buông tha cho cậu, nhưng tâm ý ban đầu vẫn không hề thay đổi.
Lâm Uyên không cần thiết phải cứu anh, thậm chí cậu vốn dĩ không nên cứu anh...
Khúc Thuần Phong từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, được sư phụ nuôi dưỡng trưởng thành. Người đối tốt với anh nhất cũng chỉ có vị sư phụ kia. Hai mươi mấy năm cuộc đời, ngoài tu luyện ra thì vẫn là tu luyện, dần hình thành một kiểu sống khuôn mẫu. Nhưng trái tim thanh tịnh không d.ục v.ọng ấy dường như đã bắt đầu dao động từ khoảnh khắc anh bắt được giao nhân này, chẳng thể nào khôi phục lại bình yên.
Bàn tay anh vô thức dùng ngón cái vuốt nhẹ lên cổ tay của Lâm Uyên, hành động này đối với bản thân anh mà nói có phần vượt quá khuôn phép. Một lát sau, anh lấy từ túi Càn Khôn ra một bình kim sang dược, rắc thuốc lên vết thương, rồi xé vạt áo dưới để làm băng vải, từng vòng từng vòng băng kín lại.
Lâm Uyên dường như ngủ rất say, không hề giật mình tỉnh giấc. Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhìn cậu, lần đầu tiên bị vẻ đẹp khuynh đảo chúng sinh của giao nhân mê hoặc mà trong lòng không thể giữ vững bình tĩnh, dù lúc này cậu không hề cố tình quyến rũ anh.
Anh nhẹ nhàng đặt tay Lâm Uyên trở lại, sau đó dùng áo phủ kín, rồi quay đầu nhìn về phía đống lửa, nhặt một cành cây sạch sẽ. Anh hơi ngừng lại hai giây, rồi cầm lấy con cá đen Lâm Uyên bắt về, dùng cành cây xuyên qua, đặt lên lửa nướng.
Thịt cá đỏ tươi dần co lại, chuyển thành màu trắng dưới sức nóng, trong suốt như ngọc. Không cần thêm gia vị, hương thơm tự nhiên cũng đã lan tỏa khắp nơi. Khúc Thuần Phong trông có vẻ đang chuyên chú nướng cá, nhưng thực chất lại hơi thất thần. Đến khi trên đầu gối bất ngờ có cảm giác nặng trĩu, anh mới giật mình, bất giác cứng người lại.
Không biết Lâm Uyên tỉnh lại từ lúc nào, hoặc cũng có thể cậu vốn chưa hề ngủ. Là cá nhưng lại giống một con rắn không xương, yên lặng nằm trên chân Khúc Thuần Phong, dùng móng tay sắc nhọn chậm rãi chạm vào vết thương vừa được băng bó trên cổ tay. Trên người cậu khoác chiếc trường bào trắng của quốc sư.
Lâm Uyên thấy Khúc Thuần Phong đang nướng cá, đôi mắt dài hẹp hơi nheo lại, khẽ hít hà, đầu lưỡi đỏ tươi liếm qua môi: "Thơm quá..."
Khúc Thuần Phong run tay, suýt chút nữa làm rơi con cá vào đống lửa. Anh đặt con cá nướng chín lên một chiếc lá sạch sẽ, nửa bên chân đã cứng đờ không còn cảm giác. Theo bản năng, anh muốn nói "Cô nương xin hãy tự trọng", nhưng do dự một chút lại nuốt xuống, thay bằng một câu nói nhẹ nhàng hơn: "Cô nương... nam nữ thụ thụ bất thân..."
Lâm Uyên thấy anh căng thẳng đến mức không dám nhìn mình, đuôi cá vẫy nhẹ, bật cười thành tiếng: "Nam nữ thụ thụ bất thân? Là ý gì? Ta nghe không hiểu."
Chương 105
Lâm Uyên cười lên vô cùng quyến rũ, lại thêm giọng nói của giao nhân tựa như thiên âm, lúc cậu khẽ cười thành tiếng thì chẳng khác nào yêu quái câu hồn đoạt phách.
Khúc Thuần Phong không hiểu tại sao, nhưng anh đã bắt đầu không thể duy trì dáng vẻ lạnh lùng thường ngày, chỉ đành lúng túng thu hồi ánh mắt, nghiêng người tránh khỏi Lâm Uyên, sau đó đặt con cá nướng chín xuống trước mặt đối phương. Dù không nói lời nào, nhưng ý tứ đã rất rõ ràng: là đưa cho cậu ăn.
Lâm Uyên thấy anh né mình như tránh hồng thủy mãnh thú, nhướng mày nhàn nhạt, liếc nhìn con cá nướng bốc hơi nghi ngút trước mặt, nhưng không ăn ngay mà nói: "Ngươi đút ta ăn đi."
Cậu dường như cố ý, bàn tay bị thương khẽ vẽ những vòng tròn lên đầu gối Khúc Thuần Phong, cách một lớp vải mỏng, tạo nên cảm giác ngưa ngứa, hơi run, vô tình khiến người khác phải chú ý.
Giao nhân này dường như cuối cùng cũng phát hiện ra nhược điểm chí mạng của Khúc Thuần Phong.
Khúc Thuần Phong vốn định từ chối, nhưng khi nhìn thấy bàn tay bị thương của cậu, lời muốn nói lại nuốt xuống. Anh ngập ngừng một lúc, không nói thêm gì, chỉ cầm lấy con cá lên. Vì không có đũa nên đành phải dùng khăn lau sạch tay, rồi bẻ một miếng cá, đưa đến miệng Lâm Uyên.
Chộp!
Lâm Uyên há miệng cắn luôn miếng cá, ngay cả ngón tay của Khúc Thuần Phong cũng bị cậu mút vào. Đầu lưỡi linh hoạt lướt qua, cuốn sạch lớp thịt cá còn sót lại, nhưng không chịu nhả ngón tay anh ra, chỉ ngoan ngoãn nằm bò trên đùi anh, mái tóc xanh thẫm như nước biển đổ dài xuống.
Khúc Thuần Phong đối với hành động vượt quá khuôn phép của cậu, phản ứng đã không còn mãnh liệt như ban đầu. Anh chỉ nhanh chóng rút tay về, tiếp tục đút cá cho cậu. Dù có nói gì về "nam nữ thụ thụ bất thân" hay những đạo lý khác, giao nhân trước mặt cũng không hiểu.
Lâm Uyên không tiếp tục bày trò, Khúc Thuần Phong đút gì cậu ăn nấy. Tuy đã quen ăn cá sống, nhưng thức ăn chín dường như hợp khẩu vị hơn. Chẳng mấy chốc, hai ba con cá đen đã vào hết bụng cậu.
Lâm Uyên liếm liếm khóe miệng đầy hài lòng, lúc này mới phát hiện Khúc Thuần Phong không ăn gì cả. Đuôi cá quẫy nhẹ, giọng nói hiếm khi mang theo vài phần đơn thuần: "Ta đi bắt cá cho ngươi."
Khúc Thuần Phong vốn không định ăn, anh lắc đầu, chuẩn bị nói không cần. Nhưng Lâm Uyên đã hành động trước, lập tức lao xuống biển, trong chớp mắt đã không còn thấy bóng dáng.
"..."
Hỏi Khúc Thuần Phong có đói không, anh thật sự đói, nhưng quả thực không thể ăn nổi cá. Nghĩ đến vết thương trên cổ tay Lâm Uyên, anh không muốn cậu phải xuống nước, nhưng bản thân bị thương không thể động đậy, chỉ đành ngồi tại chỗ, giữa hoang đảo mênh mông này, chỉ mong mau chóng hồi phục để rời đi.
Khúc Thuần Phong tính toán ngày tháng, phát hiện chỉ còn vài ngày nữa là đến kỳ hạn nửa tháng. Nghĩ tới đám người Thiên Nhất Môn dưới chân núi, anh khẽ nhíu mày, hiếm khi lộ ra vẻ lo âu trầm ngâm.
Không lâu sau, Lâm Uyên trở lại. Nhưng cậu không bắt cá, mà mang về một ít hoa quả và các loại vỏ sò không biết lấy từ đâu, gói trong một chiếc lá lớn, tất cả đều rất tươi mới.
Lâm Uyên dường như rất trân trọng chiếc áo Khúc Thuần Phong cho mình. Khi lên bờ, thấy áo dính vài hạt cát, cậu cẩn thận phủi sạch. Sau đó nhìn về phía đống quả đỏ rực và nói: "Lần này ngươi chắc chắn sẽ chịu ăn chứ?"
Hoa quả mọc trên cây, mà Lâm Uyên lại không có chân, không biết cậu đã làm cách nào hái được. Nhưng dù thế nào đi nữa, cũng không dễ dàng. Khúc Thuần Phong thấy Lâm Uyên ngồi cạnh đống lửa, cúi đầu chỉnh lại áo, trên cổ tay bị băng bó đã thấm ra chút sắc đỏ nhàn nhạt, rõ ràng vết thương đã rách ra, trong lòng lần đầu tiên xuất hiện một cảm giác khó nói nên lời.
Khúc Thuần Phong nhìn đống lửa, bỗng nhiên nói: "Cô nương không cần phải như vậy..."
Anh tự giữ mình đoan chính, cũng quả quyết sát phạt, cả đời ghét nhất hai chữ "do dự". Nhưng từ khi gặp Lâm Uyên, hết lần này đến lần khác đều thất thố, hoàn toàn không giống với phong cách trước giờ, điều này khiến anh cảm thấy có chút hoang mang.
Anh không muốn Lâm Uyên giúp mình thêm nữa, cũng không muốn nợ ân tình cậu.
Lâm Uyên không hiểu ý tứ mơ hồ trong lời nói của anh, chỉ đẩy đống quả sang phía anh, mệt mỏi đến mức đôi mắt cũng không mở nổi, nằm xuống bên cạnh anh ngủ thiếp đi. Đuôi cá nhẹ nhàng quẫy hai cái rồi không động đậy nữa.
Máu của giao nhân không thể tái sinh, cậu đã mất quá nhiều máu, khiến cơ thể chịu tổn hại nặng nề.
Khúc Thuần Phong liếc nhìn sắc mặt tái nhợt của Lâm Uyên, do dự đưa tay ra, dường như muốn kiểm tra tình trạng của cậu. Nhưng sau một thoáng dừng lại, anh lại lặng lẽ thu tay về, để cơ thể lạnh lẽo kia được ngọn lửa sưởi ấm thêm chút hơi ấm.
Anh nhặt lên một quả rơi bên cạnh, đỏ tươi, to bằng nửa nắm tay, như được chọn lựa kỹ càng. Cắn vào chỉ thấy ngọt, không có chút đắng chát nào, một túi đầy quả, chẳng mấy chốc đã ăn hết.
Lâm Uyên ngủ rất say. Bỗng nhiên, cậu trở mình, như có cảm ứng mà tự động trườn sát lại gần Khúc Thuần Phong, gối đầu lên đùi anh ngủ tiếp, ôm lấy đuôi cá của mình, thân mình cuộn tròn lại.
Giao nhân trước mặt này hoàn toàn khác biệt với tính cách trầm lặng của Khúc Thuần Phong. Ngay cả trong giấc ngủ cũng rất không yên phận, chóp đuôi thỉnh thoảng lại khẽ vẫy, suýt chút nữa chạm vào đống lửa.
Khúc Thuần Phong không muốn đánh thức Lâm Uyên, nên không né tránh, hiếm thấy để cậu gối lên đùi mình. Anh dùng vỏ kiếm khều nhẹ đống lửa, dập tắt ngọn lửa, sau đó gạt than nóng sang một bên, rồi mới thu kiếm lại, lấy khăn lau phần hoa văn chạm khắc trên vỏ kiếm.
Xung quanh chỉ có tiếng sóng biển rì rào, nhưng lại mang đến một cảm giác yên tĩnh lạ thường. Một tia sáng mặt trời xuyên qua tầng mây, chầm chậm chiếu lên mặt biển, như rắc một lớp bụi vàng, trải dài những ánh kim lấp lánh trên mặt nước.
Khi ngủ, Lâm Uyên rất ngoan, hàng mi dài đến mức khiến người ta ghen tị, in bóng xuống đôi mắt khép hờ, làn da tái nhợt khiến cậu trông sạch sẽ, thuần khiết. Ngay cả yêu khí quanh người lúc nào cũng tỏa ra cũng phai nhạt đi vài phần.
Khúc Thuần Phong là đạo sĩ, tuy không có ý định lập gia đình, nhưng khi còn trẻ, tâm tư không ổn định, bị sư đệ trêu ghẹo, anh cũng từng nghĩ nếu mình lấy vợ, sẽ chọn một người thế nào.
Nàng không cần phải quá xinh đẹp, nhưng nhất định phải có nét thanh tú dễ chịu. Không cần xuất thân cao quý, chỉ cần đọc sách, biết chữ, dịu dàng, hiền thục, khoan thai như nước. Hai người cùng tôn trọng, hòa thuận là đủ.
Nhưng sư đệ Minh Tuyên khi biết suy nghĩ của anh, đã cười đến mức không thẳng nổi lưng, nói rằng Khúc Thuần Phong vốn đã là người trầm lặng, nếu lại cưới một tiểu thư khuê các nề nếp, những ngày tháng của hai người chỉ sợ nhàm chán đến cực điểm, một ngày nói chẳng quá ba câu, thì còn gì là sức sống nữa.
Khúc Thuần Phong nghĩ đến đây, động tác lau vỏ kiếm chợt khựng lại, vô thức liếc nhìn gương mặt say ngủ của Lâm Uyên. Trong lòng nghĩ rằng giao nhân này tuy tuyệt sắc, nhưng chẳng chút dịu dàng, càng không hiền thục, đã không cần bàn đến chuyện đọc sách viết chữ, chắc chắn là mù tịt.
Điều quan trọng hơn là, cậu ngay cả chân cũng không có...
Khúc Thuần Phong bỗng cảm thấy có chút đáng tiếc, một loại cảm giác không rõ nguyên do. Anh đặt nhẹ vỏ kiếm xuống bên cạnh, ngừng lại một lát, rồi bàn tay dừng trên chiếc đuôi cá màu xanh thẫm của Lâm Uyên, chậm rãi v.uốt ve.
Vảy cá lạnh lẽo, cứng rắn, trong suốt như pha lê, phản chiếu ánh sáng tựa như ngọc thạch, dễ dàng cảm nhận được sức mạnh kinh người ẩn chứa trong chiếc đuôi này. Nhưng lúc này, nó chỉ ngoan ngoãn cuộn lại, vô hại. Thỉnh thoảng, một cơn gió biển thổi qua khiến lớp vải lụa mỏng nửa trong suốt khẽ phập phồng, trông mềm mại vô cùng.
Kiếp trước, Khúc Thuần Phong từng giải phẫu qua rất nhiều giao nhân, nhưng đây là lần đầu anh chân thật cảm nhận được sức sống của họ. Anh lặng lẽ cúi mắt, nghĩ rằng nếu đối phương là một cô nương bình thường, cưới về nhà hẳn cũng là một lựa chọn không tồi...
Giao nhân vốn nhạy cảm với cơ thể của mình. Lâm Uyên trong cơn mơ màng cảm thấy có một bàn tay đang chạm vào đuôi cá của mình, bèn không một tiếng động mở mắt. Lại thấy Khúc Thuần Phong đang nhìn chiếc đuôi của cậu đến xuất thần, không khỏi cắn nhẹ đầu ngón tay của mình.
Giao nhân có hai cách để cầu bạn đời: một là dùng tiếng hát, hai là dựa vào chiếc đuôi cá xinh đẹp. Nếu có người khác phái chạm vào đuôi cá của mình, điều đó chứng tỏ người ấy thích mình.
Lâm Uyên không rõ hành động này của Khúc Thuần Phong có ý nghĩa gì, nhưng đây là lần đầu tiên đối phương chủ động chạm vào đuôi của cậu. Điều này khiến cậu hiếm hoi cảm thấy một chút ngượng ngùng, đôi mắt xanh thẫm chớp chớp, mờ mịt và khó hiểu nhìn vào đường nét cằm của anh.
Chỉ một lát sau, Khúc Thuần Phong đã thu tay lại. Ánh mắt vô tình lướt qua, liền phát hiện Lâm Uyên chẳng biết tỉnh dậy từ lúc nào, đang mở to đôi mắt xanh biếc nhìn mình. Thân hình anh lập tức cứng ngắc, như thể bị bắt tại trận khi làm chuyện khuất tất. Đầu óc trống rỗng, anh phản ứng lại bằng cách vội vàng muốn đứng dậy, nhưng do động đến vết thương nên ngã phịch xuống đất, đau đến mức sắc mặt trắng bệch.
Lâm Uyên giật nảy mình, vội vàng đỡ lấy anh: "Ngươi làm sao vậy?"
Cậu có vẻ rất lo lắng, chiếc đuôi cá vì khẩn trương mà không ngừng đong đưa, hất lên một mảng cát.
Khúc Thuần Phong đời này chưa từng cảm thấy mất mặt đến vậy. Trước đây, hai người thân thiết là vì Lâm Uyên cố tình trêu chọc, nhưng lần này chính anh chủ động đưa tay, không thể nào lại đổ lỗi lên Lâm Uyên được. Huống hồ chuyện còn bị bắt quả tang tại chỗ, quả thực thất lễ vô cùng.
Khúc Thuần Phong không dám nhìn thẳng vào mắt Lâm Uyên nữa. Anh siết chặt lấy vết thương của mình, quay đầu né tránh ánh mắt của cậu. Anh nghẹn lời, cổ họng như bị chặn lại, những câu muốn giải thích đều không thể nói ra. Vì quá căng thẳng, mồ hôi lạnh đã túa ra khắp lưng: "Cô nương... tại hạ... tại hạ không có ý mạo phạm..."
Nhịp tim đập càng lúc càng nhanh, âm thanh tựa như sắp xuyên thủng màng tai.
Khúc Thuần Phong chỉ cảm thấy cổ họng khô khốc. Tấm lòng ngay thẳng trước kia đã chẳng còn sót lại chút gì. Giờ đây trong lòng anh đầy áy náy, đầy tội lỗi, đầy bất an. Thân hình cứng đờ, mãi cũng không dám xoay người lại. Tay vô thức siết chặt lấy vết thương trên vai, nhờ nỗi đau đó mà tỉnh táo hơn đôi chút.
Lâm Uyên không hiểu chuyện gì, toàn bộ sự chú ý của cậu đều dồn vào bàn tay đang che vết thương của Khúc Thuần Phong. Chỉ thấy giữa các ngón tay đối phương rỉ ra chút máu tươi, sắc mặt cậu lập tức trầm xuống. Cậu mạnh tay kéo bàn tay của anh ra, quả nhiên phát hiện vết thương đã nứt toạc, trên lớp áo còn thấm một mảng máu đỏ, đỏ rực đến mức chói mắt.
Lâm Uyên có chút tức giận, nhưng lại không thể phát ra cơn giận này. Chỉ có cái đuôi cá đang vung vẩy là tiết lộ cảm xúc của cậu. Cậu nắm lấy bàn tay thon dài của Khúc Thuần Phong, thấy trên đầu ngón tay còn vương chút máu, liền dùng đầu lưỡi đỏ tươi mà liếm sạch vết máu ấy.
Ướt át mềm mại, lại mang theo chút lành lạnh, như đầu lưỡi của một con rắn.
Lâm Uyên quay lưng về phía ánh mặt trời, sống mũi cao thẳng và ngũ quan sâu sắc của cậu được ánh sáng hắt lên, vừa sáng vừa tối, không rõ cảm xúc. Đôi mắt phượng phong tình lộ rõ, một giọt lệ chí nơi khóe mắt sáng ngời, đẹp đến yêu tà, chẳng phân biệt nam nữ.
Cậu lại gần Khúc Thuần Phong, nhìn chằm chằm hắn, giọng khàn khàn mà mê hoặc: "Ngươi sợ ta?"
Như yêu quái đang dụ dỗ thần tiên sa đọa.
Khúc Thuần Phong tim chợt lỡ một nhịp. Anh nhắm mắt lại, không dám nhìn vào đôi mắt xanh thẫm của cậu, chân mày nhíu chặt, lời nói trở nên yếu ớt và vô lực: "Cô nương hiểu lầm rồi..."
Lâm Uyên hừ lạnh một tiếng, nghĩ bụng chính nhân quân tử thật khiến người ta chán ghét. Cậu liếc qua bờ vai của Khúc Thuần Phong, thấy máu không tiếp tục chảy nữa, lúc này mới yên tâm đôi chút. Cậu nghĩ, chẳng qua chỉ là chạm vào đuôi cá thôi mà, đâu đến mức phải hoảng hốt như vậy?
Lâm Uyên ôm lấy đuôi cá của mình, sau đó nâng niu v.uốt ve, càng nhìn càng thấy đẹp. Cuối cùng, cậu đặt đuôi cá lên đùi của Khúc Thuần Phong, vừa tự nhiên vừa đơn thuần: "Cho ngươi chạm."
Khúc Thuần Phong: "..."
Lâm Uyên không biết, Khúc Thuần Phong không có thói quen chạm vào đuôi cá. Kiếp trước, anh chỉ quen nhổ từng mảnh vảy giao nhân xuống để nghiên cứu thuốc trường sinh.
Chương 106
Chiếc đuôi cá màu xanh thẫm ấy lặng lẽ đặt trên đùi Khúc Thuần Phong, còn mang theo chút hơi nước ẩm ướt lẫn cát bụi. Lâm Uyên cảm thấy như vậy không đẹp, bèn khẽ vẫy vẫy đuôi, đến khi cát rơi sạch mới chịu thôi.
Đuôi của cậu là đẹp nhất!
Khúc Thuần Phong: "..."
Lâm Uyên chờ mãi không thấy Khúc Thuần Phong có động tĩnh gì, tò mò ngẩng đầu nhìn anh: "Tại sao ngươi không chạm nữa?"
Giọng nói có chút thất vọng không dễ nhận ra.
Khúc Thuần Phong nghe vậy, bất giác quay mặt đi để che giấu sự lúng túng. Trên mặt anh thoạt nhìn có vẻ bình tĩnh, nhưng đôi tai trắng trẻo đã đỏ bừng. Anh hình như muốn đẩy đuôi cá của Lâm Uyên xuống, nhưng nhớ lại chuyện vừa rồi, dù sao cũng không dám chạm nữa. Hai tay giấu trong tay áo, nắm chặt rồi buông, buông rồi nắm, mồ hôi lạnh đã thấm qua lớp áo mỏng.
Giọng anh trở nên khô khan và khó nhọc: "Cô nương, ngươi và ta không thân không thích, hành động này không hợp lễ."
Ai vừa rồi chạm đuôi đến vui vẻ thế kia?
Lâm Uyên nghe anh cứ gọi mình là cô nương, chiếc đuôi cá không vui mà khẽ động, vỗ nhẹ lên đùi Khúc Thuần Phong. Qua lớp vải, cảm giác lành lạnh truyền tới: "Ta tên là Lâm Uyên."
Lâm Uyên?
Khúc Thuần Phong ý thức được đây là tên của giao nhân, trong lòng lặp lại một lần. Anh nghĩ, rõ ràng là một cô nương, tại sao lại đặt cái tên cứng nhắc như thế? Đang định mở miệng, lại nghe Lâm Uyên bổ sung: "Ngươi là bạn lữ của ta."
"Dù hiện tại không phải, tương lai nhất định sẽ là vậy."
Khúc Thuần Phong đại khái hiểu được ý của bạn lữ, cũng giống như phu thê trong thế giới loài người. Nghe vậy, anh kinh ngạc nhìn cậu, lại chạm phải ánh mắt yêu thương không hề che giấu và thái độ thẳng thắn của giao nhân, không khỏi khựng lại, mở lời: "Cô nương, ngươi và ta không cùng một tộc, không thể kết hôn. Ngươi nên tìm một người khác thì hơn..."
Lời chưa nói hết, Khúc Thuần Phong chợt nhớ ra rằng hai người đã từng giao hoan, bản thân anh chẳng khác nào đã chiếm đoạt sự trong sạch của Lâm Uyên. Sau này, đối phương biết tìm bạn lữ ở đâu?
Đại Sở lễ giáo nghiêm ngặt, đối với hành vi của nữ tử càng có những quy định khắt khe. Huống hồ, chuyện mất đi sự trong sạch lại là đại sự. Bất cứ nam tử nào có gia thế trong sạch cũng sẽ không cưới một cô nương thất trinh trước hôn nhân.
Khúc Thuần Phong theo bản năng nghĩ rằng giao nhân tộc cũng giống như vậy. Bởi thế, lời vừa nói được nửa chừng liền im bặt, một mình đứng sững sờ xuất thần.
Lâm Uyên thấy anh hồi lâu không nói lời nào, trong lòng thầm nghĩ người nhân loại này vì sao lại không thích cậu. Giọng cậu rất êm tai, đuôi cá cũng rất đẹp, nhưng đối phương dường như chẳng chút động lòng, trái lại còn tránh né như thể gặp phải ôn dịch.
Trên chiếc áo khoác của quốc sư có đính một miếng ngọc bài hình ngư long, được chạm khắc từ mực ngọc. Dưới ánh mặt trời, màu sắc ngọc bài trong suốt, dịu nhẹ vô cùng. Lâm Uyên vốn thích những vật lấp lánh, nhưng không hiểu sao chơi cả nửa ngày mà không thấy vui, dứt khoát trốn ra sau một tảng đá ngầm.
Có buồn không?
Chắc chắn là có.
Lâm Uyên cúi đầu, ngắm nghía miếng ngọc bài trong tay, thầm nghĩ người và cá thực sự không thể ở bên nhau sao? Nhưng cậu thật lòng thích người nhân loại ấy, dù đối phương có khô khan và tẻ nhạt, nhưng đôi khi lại đối xử với cậu rất tốt.
Lâm Uyên khẽ chạm vào băng vải quấn nơi cổ tay, lại đưa tay chạm vào y phục mình đang mặc, trong lòng dâng lên chút luyến tiếc khó tả. Đuôi cá yên lặng nằm trên mép bờ biển, từng đợt sóng vỗ qua, cuốn đi những hạt cát bám trên đó.
Cậu đang suy nghĩ. Khúc Thuần Phong cũng đang suy nghĩ.
Lâm Uyên tuy hoàn toàn khác xa với hình tượng thê tử mà Khúc Thuần Phong từng tưởng tượng: chẳng dịu dàng, cũng chẳng đoan trang. Nhưng anh nghĩ, bản thân hình như không ghét giao nhân này. Đối phương thậm chí còn nhiều lần cứu mạng anh. Nói cho cùng, anh hiện tại đã không biết nên làm thế nào.
Không cưới, đối phương sau này phải làm sao tìm được bạn lữ?
Nhưng nếu cưới, thân phận giao nhân của Lâm Uyên lại chắc chắn là một rắc rối lớn.
Cả hai đều không ai lên tiếng trước. Đến tối, Lâm Uyên không biết đã bơi đi đâu, hái được một đống trái cây mang về cho Khúc Thuần Phong. Bản thân thì núp sau tảng đá ngầm, ăn qua loa hai con cá, tiếp tục suy nghĩ về thứ tình cảm giữa nhân loại và giao nhân, thứ vốn dĩ quá đỗi phức tạp.
Khúc Thuần Phong nhóm lại một đống lửa, ngồi bên ánh lửa, cầm quả đỏ au trong tay, bỗng nhiên không còn cảm giác muốn ăn. Anh ngẩng đầu nhìn về phía tảng đá, không thấy bóng dáng Lâm Uyên, chỉ thấy một đoạn đuôi cá lộ ra.
Máu giao nhân có lẽ đã phát huy tác dụng, thương thế của Khúc Thuần Phong đang dần hồi phục. Anh thử vận khí, miễn cưỡng tập hợp được một chút sức lực, sau đó chống kiếm đứng dậy, tay trái đè lên vết thương nơi bả vai, bước về phía tảng đá.
Lâm Uyên đang ngẩn ngơ, lại chẳng hẳn là ngẩn ngơ, đôi tay hết lần này đến lần khác nghịch ngọc bài trong tay. Trông có vẻ chăm chú, nhưng thực chất là không chút hứng thú. Đến khi nghe thấy tiếng bước chân phía sau, vành tai hơi giật giật, nhưng cậu không ngẩng đầu, cũng không lên tiếng, chỉ lặng lẽ chạm vào lớp vảy trên đuôi mình.
Giọng nói đầy lưỡng lự của Khúc Thuần Phong vang lên bên tai cậu: "Cô nương..."
Lâm Uyên mím môi, dùng móng tay sắc nhọn khẽ gõ lên miếng ngọc trong tay, phát ra một tiếng vang nhẹ, không biết phải nói gì, vẻ mặt trông có chút bực dọc.
Thấy vậy, Khúc Thuần Phong từ từ ngồi xuống bên cạnh cậu. Nhìn Lâm Uyên cứ mãi nghịch miếng mực ngọc do Hoàng thượng ban tặng, không biết nghĩ đến điều gì, anh do dự một chút, từ túi Càn Khôn lấy ra một món vật, sau đó đưa tới trước mặt cậu.
Khúc Thuần Phong chậm rãi xòe tay ra, chỉ thấy trên lòng bàn tay anh là một chiếc ngọc bội hình tỳ hưu xâu chuỗi bằng pha lê, tinh xảo đáng yêu, quan trọng là lấp lánh rực rỡ.
"..."
Anh không nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn Lâm Uyên, vẫn duy trì tư thế đó.
Lâm Uyên thấy thế, đuôi cá khẽ động, muốn kìm lại nhưng không kìm được, dùng móng tay sắc nhọn nhẹ nhàng chạm vào lòng bàn tay Khúc Thuần Phong, nghiêng đầu hỏi: "Cho ta sao?"
Lúc này, gương mặt chẳng còn chút dáng vẻ yêu mị trước đó, đơn thuần tựa như một đứa trẻ.
Khúc Thuần Phong nói: "Cô nương nếu thích, vậy tặng cô nương."
Có vẻ đây là lần đầu tiên anh làm chuyện như vậy, thoạt nhìn có chút căng thẳng khó nhận ra. Mãi đến khi Lâm Uyên cầm lấy miếng ngọc tỳ hưu từ tay anh, anh mới khẽ thở phào nhẹ nhõm.
Lâm Uyên cầm trong tay miếng ngọc tỳ hưu lấp lánh, tâm trạng tốt hơn đôi chút, nhưng nguyên nhân lại không phải vì ngọc tỳ hưu. Về chính xác tại sao, cậu cũng chẳng nói rõ được.
Khúc Thuần Phong thấy cậu chơi đùa vui vẻ, khựng lại một chút, lên tiếng hỏi: "Cô nương sau này liệu có tìm bạn lữ khác không?"
Lâm Uyên nghe vậy, động tác khựng lại, đôi mắt dài hẹp từ từ nhìn về phía anh, đuôi mắt hơi nhướng lên, mang theo vài phần yêu mị. Một lát sau, cậu thu hồi ánh mắt, lạnh lùng đáp hai chữ: "Không tìm!"
Cậu nắm chặt ngọc tỳ hưu trong tay, tựa như đang nắm lấy chính Khúc Thuần Phong, lực mạnh đến mức đầu ngón tay hơi tái đi. Bản tính Lâm Uyên vốn kiêu ngạo, dù có không chiếm được, cậu cũng không thể tùy tiện chấp nhận một người nào khác để tạm bợ.
Những lời này rơi vào tai Khúc Thuần Phong, lại mang theo một tầng ý nghĩa khác: Trong sạch đã bị hủy hoại, đương nhiên không thể gả cho người khác.
Khúc Thuần Phong nói: "Cô nương, không phải tại hạ không muốn cưới cô nương, mà là người và cá khác biệt, cô nương là giao nhân, cả đời không rời khỏi biển. Tại hạ thân ở chốn triều đình, cũng khó lòng rời xa..."
Anh nói đến đây, khựng lại một chút: "Cô nương nếu chỉ là một nữ tử nhân tộc bình thường, tại hạ nguyện tám kiệu lớn, ba thư sáu lễ, rước cô nương vào phủ."
Nghe ra được, câu nói này mang theo vài phần chân thành.
Lâm Uyên không hiểu gì về triều đình, cũng chẳng rõ tám kiệu lớn hay ba thư sáu lễ là gì. Cậu chỉ nghe thấy Khúc Thuần Phong nói muốn cưới mình, khuôn mặt lạnh lùng vừa rồi lập tức đổi sắc, quay đầu nhìn anh, hỏi đầy ẩn ý: "Ngươi thực sự muốn cưới ta?"
Trong thế giới nhân loại, thành thân và kết bạn lữ mang ý nghĩa như nhau.
Khúc Thuần Phong ngạc nhiên trước cách cậu bỏ đầu cắt đuôi, nắm bắt trọng tâm theo cách riêng, ngây người một thoáng, không biết nên gật đầu hay lắc đầu. Lâm Uyên dù là giao nhân, nhưng rất hiểu đạo lý "đánh rắn phải đánh vào chỗ yếu". Thân thể lạnh lẽo của cậu áp sát về phía anh, đôi mắt cụp xuống, vừa như cười vừa như không, lặp lại câu hỏi: "Ngươi vừa nói gì? Lặp lại lần nữa xem."
Giọng nói của Lâm Uyên trong trẻo, tựa như có thể mê hoặc lòng người.
Khúc Thuần Phong trong chớp mắt ánh mắt mất đi tiêu cự, bị giọng nói ảnh hưởng, vô thức trả lời câu hỏi của cậu: "Cô nương nếu là một nữ tử nhân tộc bình thường... tại hạ nguyện tám kiệu lớn... ba thư sáu lễ... rước cô nương vào phủ..."
Lâm Uyên rất hài lòng, cậu ghé sát mặt Khúc Thuần Phong, đầu lưỡi nhẹ liếm lên vành tai đối phương, rồi khẽ cắn một cái: "Nhớ kỹ lời của ngươi."
Cơn đau thoáng qua trên vành tai khiến Khúc Thuần Phong lập tức tỉnh táo lại. Nhưng khi anh nhìn sang, Lâm Uyên đã không biết từ khi nào lại áp sát vào người mình. Khúc Thuần Phong kinh hãi, theo phản xạ lùi về sau tránh né: "Cô nương..."
Lâm Uyên lại thích nhìn dáng vẻ luống cuống, bối rối của Khúc Thuần Phong. Đuôi cá khẽ vung, chặn đường anh, trong lòng không khỏi nghĩ: Người này tại sao cứ trốn tránh mình mãi như vậy? Cậu lạnh nhạt nói: "Nếu vết thương của ngươi lại nứt ra, ta sẽ không còn máu để cứu ngươi nữa đâu."
Máu của giao nhân rất ít, nếu trong thời gian ngắn mất máu quá nhiều, dù có cắt thêm bao nhiêu vết cũng sẽ không chảy được nữa.
Khúc Thuần Phong nghe vậy liền khựng lại, nghĩ đến vết thương trên người mình, rốt cuộc không nhúc nhích nữa. Anh vô thức sờ lên vai mình, chậm một nhịp lại nhìn đến vết thương trên cổ tay Lâm Uyên, thấp giọng nói: "... Đa tạ cô nương đã cứu mạng."
Lâm Uyên nghe vậy, nhướng mắt lên, nửa cười nửa không hỏi: "Vậy ngươi định cảm tạ ta thế nào?"
Khúc Thuần Phong: "..."
Giao nhân rốt cuộc vẫn là giao nhân, không hiểu lời khách sáo của nhân loại. Khúc Thuần Phong nghĩ đến việc giao nhân thích thu thập bảo vật châu ngọc, khựng lại một chút, rồi lấy ra toàn bộ những thứ mà Thứ sử Tuyền Châu đã tặng từ trong túi càn khôn: chén vàng, tượng ngọc, châu báu lưu ly, xếp thành một ngọn núi nhỏ sáng lấp lánh trên bãi biển ẩm ướt.
Trong đó còn xen lẫn vài thỏi vàng, nặng nề đến mức tay cầm cũng khó vững.
Khúc Thuần Phong nói: "Tất cả đều thuộc về cô nương."
Lâm Uyên có vẻ hứng thú, móng tay sắc nhọn khẽ gẩy đống châu báu một hồi, rồi tiện tay ném một ít trân châu sang bên cạnh — trong biển, trân châu là thứ không thiếu nhất, tùy tiện cũng có thể tìm được cả đống, chẳng đáng giá gì.
Lâm Uyên vẫn thích lưu ly hơn, lấp lánh, trong suốt lại đẹp đẽ. Nhưng sau khi chơi đùa một lúc, cậu lại có vẻ chẳng còn hứng thú, đẩy hết sang một bên, đầu ngón tay quấn lấy một lọn tóc dài màu xanh đậm, giả vờ không hiểu mà hỏi Khúc Thuần Phong: "Nhưng nhân loại các ngươi chẳng phải thường nói, ân cứu mạng, nên lấy thân báo đáp sao?"
Khúc Thuần Phong: "..."
Nếu nói với Lâm Uyên rằng cậu không biết xấu hổ, cậu không hiểu; nói cần giữ lễ, cậu cũng chẳng hiểu; bảo rằng nam nữ thụ thụ bất thân, càng là vô nghĩa. Nhưng hết lần này đến lần khác, cậu lại tinh thông những đạo lý như thế.
Khúc Thuần Phong nhất thời không biết nên giải thích thế nào, chỉ lặng lẽ siết chặt chuôi kiếm trong tay để che giấu sự bối rối: "Chẳng qua là người đời tùy tiện nói đùa, không thể tin thật, cô nương cũng không nên nghe theo."
Lâm Uyên dù có chút hứng thú với vàng bạc châu báu, nhưng so với những thứ lấp lánh kia, vẫn kém xa con người trước mặt. Cậu vung nhẹ đuôi cá, gạt hết những thứ sáng chói sang một bên, rồi lại tiến gần Khúc Thuần Phong, cằm nhẹ tựa lên bờ vai không bị thương của anh, hơi thở lạnh lẽo nhưng lại mang vẻ mờ ám: "Ta không cần mấy thứ đó, ngươi hãy dùng cách khác để báo đáp ta đi."
Luồng khí lạnh từ hơi thở của Lâm Uyên làm Khúc Thuần Phong thấy ngứa ngáy bên tai, anh nghiêng đầu né tránh: "Cô nương muốn gì?"
Chương 107
Đêm tối mịt mờ, ánh lửa bên cạnh chiếu lên đường viền khuôn mặt Khúc Thuần Phong, phủ thêm một tầng sắc ấm mơ hồ. Nhớ đến dáng vẻ nhếch nhác của mình mỗi lần bị Lâm Uyên trêu chọc, anh hiếm khi có chút do dự, đồng thời âm thầm cảm thấy hối hận khi nói ra câu này.
Anh linh cảm rằng cậu nhất định sẽ đưa ra một yêu cầu khó xử.
Lâm Uyên mềm nhũn tựa như không xương, luôn thích dựa vào Khúc Thuần Phong, dù đẩy thế nào cũng không chịu rời. Nghe vậy, cậu không lập tức trả lời, như thể đang suy nghĩ điều gì. Những ngày qua, cậu ít nhiều cũng hiểu được vài phần tính cách của Khúc Thuần Phong, biết rằng nếu bây giờ đề nghị đối phương làm bạn lữ, anh nhất định sẽ không đồng ý.
Thay vì vậy, chi bằng lùi một bước, từ từ tiến tới.
Giọng nói của Lâm Uyên luôn biến hóa khó lường, khi thì trong trẻo, khi lại trầm thấp khàn đục, như ly rượu nồng ấm, khiến người nghe chẳng thể phân biệt nam nữ. Cậu ghé sát bên tai Khúc Thuần Phong, thì thầm: "Ngươi hôn ta một cái."
Khúc Thuần Phong sớm đã biết cậu sẽ chẳng đưa ra yêu cầu nào tốt đẹp, nghe vậy cũng không quá kinh ngạc, chỉ nhíu mày đáp: "Không thể."
Tựa như yêu cầu này còn khó khăn hơn cả việc lên núi đao xuống biển lửa.
Lâm Uyên biết chắc anh sẽ không đồng ý, đuôi cá khẽ vung: "Vậy để ta hôn ngươi một cái."
Khúc Thuần Phong nghĩ thầm, vậy có gì khác biệt? Anh đang định từ chối, nhưng lời còn chưa kịp nói ra, đã bị Lâm Uyên bất ngờ áp lên tảng đá ngầm. Ngay sau đó, một cảm giác mềm mại, lạnh lẽo phủ lên môi anh, một thứ gì đó linh hoạt xâm nhập vào khoang miệng, ánh mắt anh tức khắc trợn to.
Lâm Uyên bị làm phiền bởi thái độ dây dưa, do dự của anh, liền nắm lấy bờ vai không bị thương, mạnh mẽ áp anh lên tảng đá. Tộc giao nhân vốn trời sinh đã giỏi về mê hoặc, cậu hôn anh, đầu lưỡi linh hoạt quét qua, dễ dàng mở toang hàm răng của đối phương, móng tay thu lại không còn sắc nhọn, chậm rãi trêu đùa bên má và cổ anh, nơi đi qua đều khơi dậy từng đợt ngứa ngáy.
Khúc Thuần Phong hoàn toàn không ngờ tới, đầu óc trống rỗng. Đây là lần đầu tiên trong trạng thái tỉnh táo bị Lâm Uyên đối xử như vậy, cảm giác lạ lẫm này khiến anh bối rối, lý trí tan vỡ từng mảnh. Đến khi phản ứng lại, bản năng muốn đẩy cậu ra, nhưng Lâm Uyên dường như cảm nhận được sự cứng ngắc trong cơ thể anh, âm thầm giữ chặt lấy tay anh.
Giọng nói của giao nhân khàn khàn, mang đầy vẻ mê hoặc: "Chỉ là một cái hôn thôi..."
Lâm Uyên nói xong, lại cúi đầu hôn lên Khúc Thuần Phong. Bởi vì khoảng cách quá gần, mái tóc dài của cậu thậm chí còn rủ xuống, chạm vào bờ vai của anh. Nụ hôn mềm mại tựa liếm vào xương tủy, nhưng lại giống như một con rắn độc đang chậm rãi leo lên, quấn lấy trái tim. Trong lúc không hề hay biết, nó siết chặt lấy, ép cạn hơi thở cuối cùng.
Khúc Thuần Phong cả người ngây dại trong thoáng chốc, lý trí bị cảm giác xa lạ mà run rẩy này đánh tan thành từng mảnh vụn. Tay anh run lên đến mức không thể cầm nổi kiếm, chỉ đành nắm lấy bờ vai của Lâm Uyên để đẩy cậu ra. Nhưng toàn thân anh tựa như đã bị rút hết sức lực, hoàn toàn không nghe theo sai khiến.
"Cô nương xin hãy tự trọng!"
Khúc Thuần Phong rốt cuộc cũng cứng rắn hạ quyết tâm, một phen đẩy mạnh Lâm Uyên ra. Anh lảo đảo lần mò trên bãi cát mềm ướt, tìm được thanh kiếm của mình. Chống đỡ đứng lên, sau đó bước từng bước xiêu vẹo trở lại bên đống lửa, trông như đang vội vã tháo chạy khỏi chiến trường.
Lâm Uyên cũng chẳng dễ chịu gì hơn. Kỳ đ.ộng d.ục của cậu vẫn chưa qua, thân thể lại khắc sâu khí tức của Khúc Thuần Phong, không sao giải tỏa được. Cảm xúc vẫn luôn ở trong trạng thái lo âu, chỉ là cậu không biểu lộ ra ngoài mà thôi.
Lâm Uyên lắc lắc cái đuôi, cậu lười biếng không muốn ngồi dậy, nhưng thấy Khúc Thuần Phong mặt đỏ tai hồng, vừa thẹn vừa bực như vậy, cậu lại cảm thấy trong lòng có chút ngứa ngáy, không nhịn được dán tới người anh: "Ngươi giận à?"
Khúc Thuần Phong không nói chuyện, chỉ ngồi dịch ra khỏi cậu, tự biến bản thân thành người mù câm điếc, hạ quyết tâm tuyệt đối không thể trúng kế giao nhân nữa.
Chậc, đúng là giận thật rồi.
Lâm Uyên cảm thấy hơi mệt, cậu khẽ ngáp, phủi phủi sỏi đá trên đuôi, ôm chiếc đuôi yêu quý lên sờ một hồi, cuối cùng mới buông ra, hào phóng nói: "Ngươi mệt không, cho ngươi mượn gối đó."
Những con cá khác làm gì xứng có được hậu đãi như vậy, Lâm Uyên là đời sau của Giao hoàng, huyết thống tôn quý, cái đuôi cũng vô cùng quý giá, ngoại trừ bạn lữ mà cậu nhận định ra, không một ai được phép chạm vào, nếu không sẽ bị coi là mạo phạm.
Khúc Thuần Phong nhắm chặt mắt, không để ý tới cậu, nào đâu hay biết vành tai nhạy cảm lại để lộ tâm tình, đỏ rực như sắp nhỏ máu.
Lâm Uyên khẽ liếm môi, vô thức cảm thấy thèm nó, muốn cắn nó, liếm nó, nhưng rồi cuối cùng cậu vẫn nhịn xuống. Cậu lại ôm đuôi, cuộn người nằm xuống mặt cát, thừa dịp Khúc Thuần Phong không để ý bèn từng chút từng chút lặng lẽ cọ vào đùi anh.
Ống tay áo nam nhân vẫn vấn vương mùi đàn hương, nhưng đã phai nhạt đi rất nhiều, ngửi kĩ mới có thể cảm nhận được.
Lâm Uyên giật giật chóp mũi, tìm một nơi thoải mái trên đùi Khúc Thuần Phong, chẳng mấy chốc đã thiếp đi, chỉ để lại một người tâm loạn như ma.
Khúc Thuần Phong hơi giật giật chân, định đẩy Lâm Uyên ra, nhưng rồi anh lại nghĩ cứ để cậu ngủ như vậy cũng tốt, sợ cậu tỉnh sợ sẽ gây ra chuyện gì đó nữa. Anh chẳng hề nhận ra giới hạn của mình cứ lùi lại từng chút, vốn đã chẳng còn điểm cuối.
Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhắm mắt, đả tọa điều tức, thế nhưng trái tim mãi vẫn chẳng chịu nằm yên, xúc cảm ướt át mềm mại vẫn còn tàn lưu trên môi, không cách nào quên đi được. Anh nhíu mày, giơ tay áo cọ mạnh hai cái, dùng cảm giác đau đớn mài đi rung động, cuối cùng mới cảm thấy đỡ hơn.
Cớ sao anh cứ gặp phải yêu nghiệt trên thế gian này, đầu tiên là một quả cầu màu xanh kỳ lạ, sau lại đến lượt giao nhân này. Lẽ nào ông trời đang trừng phạt anh ư?
Mấy ngày sau đó, Khúc Thuần Phong dưỡng thương trên hải đảo, Lâm Uyên cũng luôn bám riết lấy anh, dụ dỗ anh phạm giới. Nhưng Khúc Thuần Phong đã dựng bốn chữ lớn "cảnh giác đề phòng" nên không bị dính chiêu lần nào, hoàn toàn hóa thành một tảng đá sống.
Từng ngày trôi qua, thương thế của anh đã dần khép lại, nếu Lâm Uyên không dùng đến mị thuật sẽ không thể đánh thắng được anh, chuyện bị cậu ấn lên đá ngầm cưỡng hôn cũng không thể lặp lại nữa.
Phải nói sao đây, nghe nhầm tưởng thật thất bại.
Thời tiết dần chuyển lạnh, lá cây khô héo lả tả rơi rụng. Hôm đó Lâm Uyên ra biển nhặt trái cây như thường lệ, cậu mới thấy đám cây kia đã trụi lủi, cậu chỉ đành tìm một ít sò hến dưới biển.
Cậu biết Khúc Thuần Phong không thích ăn cá, không hái được trái cây khiến cậu bực bội, chỉ có thể dùng miếng tảo biển lớn rửa sạch ốc hến, cuối cùng đặt trong một mảnh vỏ sò nhìn rất đẹp, cuối cùng mới cầm trở về.
Khúc Thuần Phong đang nhóm lửa. Trong lòng anh từng ngày từng ngày đếm ngược, muốn rời khỏi tiểu đảo này. Thương thế đã gần như lành hẳn, nhưng lại không biết phải nói với giao nhân kia như thế nào. Hiếm khi anh cảm thấy bất an như vậy.
Đêm càng lúc càng thâm trầm. Thời gian Lâm Uyên trở về hôm nay muộn hơn mọi ngày. Cậu sợ lửa, nên không thích lại gần đống lửa, nhưng mỗi lần Khúc Thuần Phong ngồi gần lửa, cậu lại cố tình rúc tới. Cậu cẩn thận đặt những miếng thịt sò lên lá cây, khẽ vẫy vẫy chóp đuôi, nhỏ giọng nói: "Hôm nay không có trái cây nữa rồi."
Không còn trái cây ngọt ngào nữa.
Khúc Thuần Phong nghe vậy, theo bản năng nhìn về phía cậu. Thấy Lâm Uyên có vẻ ủ rũ, đôi mắt xanh thẳm cũng không sáng lên được dưới ánh lửa, trông như đã chịu đả kích gì đó. Anh chợt hiểu ra nguyên nhân khiến cậu không vui, bèn trầm giọng nói: "Thịt sò cũng ngon mà."
Anh dùng kiếm vót một nhánh cây thật sạch, xiên thịt sò lên, đặt trên lửa nướng. Trong lòng có chút không yên.
Anh là một nam nhân, nhưng mấy ngày qua lại dựa vào giao nhân chăm sóc, đến cả đồ ăn cũng phải nhờ đối phương tìm kiếm. Vì không giỏi bơi lội, mỗi ngày anh chỉ có thể nhóm lửa, lau kiếm. Điều này khiến anh không khỏi cảm thấy áy náy.
Lâm Uyên nghe anh nói thịt sò ngon, đôi mắt liền sáng lên: "Thật không?"
Khúc Thuần Phong ừ một tiếng, vẫn không dám nhìn thẳng vào đôi mắt ấy, chỉ lẳng lặng tiếp tục nướng thịt sò trong tay. Tiếng tí tách của ngọn lửa bỗng trở thành âm thanh duy nhất trong không gian. Đột nhiên, anh hỏi một câu không đầu không đuôi: "Tộc giao nhân có tuổi thọ bao nhiêu?"
Lâm Uyên không nghĩ nhiều, đếm trên tay rồi trả lời: "Một trăm tuổi."
Khúc Thuần Phong hơi khựng lại: "Chỉ một trăm tuổi thôi sao?"
Lâm Uyên vẫy vẫy đuôi: "Tộc trưởng gia gia sống được một trăm năm mươi tuổi."
Có lẽ trong đêm khuya tĩnh lặng, người ta dễ dàng nói ra những điều giấu trong lòng. Khúc Thuần Phong không quá che giấu mục đích của mình, vô thức nói: "Nhưng thế nhân đều bảo, giao nhân trường sinh bất lão."
Lâm Uyên nghe vậy, nhìn về phía anh, có lẽ thấy điều đó quá hoang đường, trên mặt hiện lên một nét châm biếm nhàn nhạt: "Đó là do bọn họ tự tưởng tượng ra. Thế gian này không có chủng tộc nào bất tử cả. Nếu giao nhân thực sự trường sinh bất lão, đời đời sinh sôi, biển cả làm sao chứa nổi?"
Thiên đạo cân bằng, sinh tử luân hồi, đây là đạo lý nông cạn dễ hiểu nhất. Thế nhưng nhân loại lại bị hai chữ "trường sinh" che mờ mắt. Hệ thống nói không có, Lâm Uyên cũng nói không có, nội tâm vốn kiên định của Khúc Thuần Phong chợt dao động. Chẳng lẽ thế gian thực sự không có trường sinh?
Thịt sò được nướng chín, thể tích thu nhỏ đi không ít, phát ra tiếng xèo xèo. Khúc Thuần Phong thấy vậy, liền lấy thịt xuống, nướng thêm sẽ bị cháy. Anh không đói lắm, tiện tay đưa miếng thịt cho Lâm Uyên. Cậu thấy vậy, liền há miệng ăn ngay, vui đến mức đuôi cũng vểnh lên.
Dẫu nói ra điều này có chút phá không khí, nhưng Khúc Thuần Phong cân nhắc mãi, cuối cùng vẫn mở miệng: "Cô nương, ngày mai tại hạ sẽ rời đi."
Lâm Uyên chống cằm nhìn anh: "Đi đâu?"
Khúc Thuần Phong: "Nhà chài."
Ồ, không phải chuyện lớn, bơi qua là gần ngay thôi.
Lâm Uyên rất dễ thương lượng: "Được rồi, ngày mai ta đưa ngươi trở về."
Khúc Thuần Phong vốn nghĩ bản thân còn phải tốn thêm đôi ba câu, nhưng không ngờ Lâm Uyên lại dễ dàng đồng ý như vậy, trong lòng thoáng chút kinh ngạc, muốn nói gì đó, nhưng rồi lại cảm thấy chẳng có gì đáng để nói, chỉ đành đáp: "...Đa tạ cô nương."
Việc mà Lâm Uyên mỗi ngày nhất định phải làm là thưởng thức cái đuôi của mình, cậu vừa sờ sờ vuốt vuốt, vừa hỏi: "Ngươi vì sao muốn trở về nhà chài?"
Cái căn nhà rách nát đó, có đẹp bằng tiểu hải đảo này đâu.
Khúc Thuần Phong ngừng lại một chút, thuận miệng đáp: "Nhớ người thân ở nhà."
Từ nhỏ đã không cha không mẹ, nhưng Hồng Quan Vi coi anh như con ruột, các sư huynh đệ cũng cùng nhau lớn lên từ bé, nói là người thân cũng không quá.
Lâm Uyên đột nhiên có chút ghen tị, cậu cũng muốn làm người thân của Khúc Thuần Phong, vậy thì đối phương liệu có nhớ cậu không? Nhưng những lời đó không nói ra được, chỉ lười biếng khẽ nâng mí mắt lên, sau đó duỗi người một cái, lại cảm thấy thân thể có phần nóng lên, vô thức cọ cọ đuôi cá trên mặt cát.
Trên bầu trời, trăng tròn treo lơ lửng nơi đầu cành, mây đen tan đi, trăng sáng tựa ngọc đĩa, tĩnh lặng tỏa ánh sáng lạnh lẽo.
Lâm Uyên hơi thở có chút hỗn loạn, cậu quay lưng về phía Khúc Thuần Phong, đôi mắt dài hẹp thoáng vẻ mơ màng, lệ chí như mực, mái tóc dài xanh thẫm rơi trên bờ vai, che khuất hơn nửa thân mình, tựa như yêu vật dụ hoặc, chiếc đuôi giao nhân thon dài nhẹ nhàng cọ qua mặt đất, ánh trăng chiếu rọi, một tia sáng lấp lánh thoáng hiện.
Phiền thật, cậu đã không thể kiềm chế kỳ đ.ộng d.ục của mình nữa.
Chương 108
Có lẽ hôm nay Lâm Uyên im lặng hơi khác thường, Khúc Thuần Phong mơ hồ cảm thấy gì đó, nhìn cậu vài lần, bỏ qua chiếc đuôi cá màu xanh thẫm hầu như ngày nào cũng ngoe nguẩy đôi chút, đối phương có vẻ như không được khỏe, làn da lộ ra bên ngoài không còn xanh xao tái nhợt, mà dần dần xuất hiện một tầng hồng nhàn nhạt.
Lâm Uyên cảm thấy bản thân rất nóng, nóng đến mức sắp nướng chín thành cá khô, cậu bất giác rời xa đống lửa, chiếc đuôi cọ qua cát ẩm, cố tìm chút cảm giác mát lạnh.
Khúc Thuần Phong buông đồ vật trong tay xuống, muốn đi xem tình trạng của cậu, nhưng lại sợ rằng Lâm Uyên cố ý trêu ghẹo mình, nên mãi không động đậy, cuối cùng không yên lòng, bước đến bên cạnh cậu: "Cô nương?"
Lâm Uyên nghe vậy chậm rãi mở mắt, nhưng đồng tử không phải màu xanh thẫm, mà là một sắc đỏ gần như yêu mị, cậu dường như muốn nói gì đó, nhưng lại yếu ớt không có sức, chỉ có thể vô lực khẽ động đuôi cá để đáp lại.
Trông đúng là có vẻ bệnh rồi.
Khúc Thuần Phong thấy thế nhíu mày, đưa tay lên trán cậu, lập tức bị nhiệt độ cơ thể nóng bỏng làm giật mình rụt lại, sau đó nắm cổ tay cậu bắt mạch, nhưng thể chất giao nhân khác người thường, nhìn mạch tượng cũng không thấy gì.
Khúc Thuần Phong trong lòng bỗng nhiên căng thẳng: "Cô nương, ngươi không sao chứ?"
Lâm Uyên yếu ớt nhắm mắt, giọng nói trầm khàn, thấp thoáng: "Nóng..."
Cậu dường như cảm thấy bàn tay Khúc Thuần Phong mát lạnh rất dễ chịu, nắm lấy cổ tay hắn, nhẹ nhàng cọ cọ, còn vô thức dựa sát vào lòng hắn, tấm áo choàng trên người cũng trượt xuống hơn nửa.
Khúc Thuần Phong bị mảng da trắng ngần nơi vai cậu làm hoa mắt, vội quay đầu kéo lại áo cho cậu, nhưng vì lo lắng cho bệnh tình, nhịn không được lại liếc nhìn: "Ngươi bệnh rồi sao?"
Lâm Uyên lắc đầu, lại gật đầu, cậu ôm chặt lấy chân Khúc Thuần Phong, cơ thể đã khắc sâu hơi thở của nhân loại trước mặt, giọng nói tựa tơ mật dính dấp, dụ hoặc mê người, nhưng thần sắc lại lo lắng khổ sở: "Kỳ đ.ộng d.ục của ta đến rồi..."
Khúc Thuần Phong sửng sốt.
Động..... đ.ộng d.ục?
Là ý mà anh đang nghĩ đến sao?
Khúc Thuần Phong phản ứng lại, vành tai nóng bừng, anh lúng túng đẩy Lâm Uyên ra, muốn tránh cậu càng xa càng tốt, nhưng chạm vào thân thể đối phương nóng hầm hập như lò lửa, lại cảm thấy không ổn, cắn răng, dứt khoát bế Lâm Uyên ra mép biển.
Đêm khuya khí trời lành lạnh, nước biển dập dờn nơi bờ cát càng thêm giá buốt, Khúc Thuần Phong quay lưng về phía Lâm Uyên, giọng nói dù bình thản, nhưng tâm đã loạn như ma, thấp giọng bảo: "Cô nương... ngâm trong nước lạnh sẽ tốt hơn..."
Tiếc thay, cách này chỉ hữu dụng với người, không có tác dụng với giao nhân.
Lâm Uyên đã nén qua ba kỳ đ.ộng d.ục, cậu cảm thấy mình sắp phát điên, nghe Khúc Thuần Phong nói vậy, trong lòng thật sự muốn chết vì tức, nhưng bị cảm giác nóng rực khó nhịn trong cơ thể hành hạ, chẳng còn sức mà mắng.
Lâm Uyên mắt đỏ hoe, túm lấy vạt áo Khúc Thuần Phong, móng tay sắc bén vì quá dùng sức mà ghim sâu vào: "Giúp ta..."
Đuôi cá cọ nhẹ trên mặt cát, hiển nhiên đã nhịn đến cực hạn, hàng mi dài thoáng hơi ẩm, đôi mắt tràn ngập ánh nước, hơi thở dồn dập.
Khúc Thuần Phong nghĩ chuyện này thì giúp kiểu gì, anh cuống quýt lục tìm thuốc trong túi càn khôn, nhưng chẳng tìm được gì, lúc này cũng chẳng quan tâm lễ nghi nam nữ, đè chặt thân hình đang loạn động của Lâm Uyên, để cậu hoàn toàn chìm trong nước biển, trên lưng đã rịn một tầng mồ hôi: "Cô nương, ngâm thêm chút nữa sẽ ổn thôi..."
Từng cơn sóng biển dâng lên, ướt đẫm đuôi cá của Lâm Uyên, cũng làm ướt vạt áo của Khúc Thuần Phong, nhưng thân thể giao nhân vẫn không thấy hạ nhiệt, ngược lại càng ngày càng nóng.
Lâm Uyên cảm thấy đầu óc Khúc Thuần Phong đúng là ngâm nước đến hỏng, nhưng bản thân đã chẳng còn sức mà chế nhạo, chỉ bản năng áp sát vào hắn, trong bóng tối quờ quạng tìm đến đôi môi anh, ôm lấy cổ, hôn xuống.
Môi giao nhân đỏ thẫm hơn bất kỳ loại son nào trên đời, mềm mại mà lạnh lẽo, cậu hôn lấy đôi môi ấm áp của Khúc Thuần Phong, rồi đưa lưỡi vào dây dưa khuấy động, không giống như sự dịu dàng trước đây, mang theo ý định muốn nuốt trọn đối phương, đẩy cũng không ra.
"Ưm... cô nương... không được..."
Khúc Thuần Phong đã thở không nổi, bất đắc dĩ tụ huyền khí vào lòng bàn tay, niệm một câu chú trói buộc, xoay người đè Lâm Uyên xuống phía dưới, lồng ng.ực phập phồng không ngừng, đầu óc trống rỗng, chẳng biết nên làm gì, chỉ là theo bản năng chế trụ hành động của cậu.
"Cô nương, cố nhịn thêm chút nữa."
Lâm Uyên thở dốc rối loạn, áo đã bung ra, tùy ý liếc nhìn gì cũng thấy hết, mái tóc dài xanh thẫm có chút rối bời, vòng eo mềm dẻo khẽ uốn, đuôi cá quẫy mạnh, ánh mắt đỏ rực, hiển nhiên đã bị dồn ép đến đường cùng: "Thả ta ra!"
Cậu giọng khàn khàn, khó chịu đến mức trông như sắp khóc, chiếc đuôi không ngừng cọ xát vào chân Khúc Thuần Phong, mang theo chút âm mũi ủy khuất:
"Ngươi giúp ta đi..."
Cậu không muốn tìm những giao nhân khác.
Khúc Thuần Phong thấy sắc mặt Lâm Uyên đầy đau khổ, vô thức thả tay cậu ra, cả người như rơi vào trạng thái mơ hồ, hoàn toàn không biết phải làm gì. Lâm Uyên lập tức bám lấy anh, tháo dây lưng của anh rồi ném sang một bên, để lại trên cổ hắn một đường vết đỏ.
Khúc Thuần Phong cảm thấy mình đang làm một chuyện sai trái, nhưng lại không thể ngăn bản thân, anh nắm chặt tay Lâm Uyên, gương mặt lạnh lùng lúc này tràn đầy vẻ giằng xé và bối rối, giọng nói mang theo một chút hoảng loạn:
"Cô nương..."
Đến bước cuối cùng, Lâm Uyên cuối cùng dừng lại. Hàng mi dài của cậu khẽ rung, thần trí đã hỗn loạn, chỉ còn chút lý trí yếu ớt níu giữ. Những chiếc vảy lạnh lẽo áp sát vào chân Khúc Thuần Phong, cảm giác vô cùng khác lạ.
Giao nhân khó chịu đến mức sắp khóc, đuôi cá quất mạnh một cái như thể đang giận dỗi: "Nếu ngưoi không chịu, ta sẽ đi tìm giao nhân khác!"
Tìm giao nhân khác?
Tìm giao nhân khác làm gì?
Cùng nhau vượt qua kỳ đ.ộng d.ục?
Cùng nhau kết giao như đôi lứa trong biển cả, làm những chuyện mà họ từng làm trước đây?
Trong đầu Khúc Thuần Phong không ngừng hiện lên vô số câu hỏi. Điều kỳ lạ là, anh rõ ràng luôn hy vọng Lâm Uyên có thể tìm một bạn lữ khác, nhưng khi nghe thấy những lời này, lòng anh lại cảm thấy khó chịu không sao hiểu nổi, thậm chí vô thức nắm chặt lấy tay Lâm Uyên, như thể sợ cậu chạy mất.
Khúc Thuần Phong ngẩn người nhìn Lâm Uyên, không nói cũng không động, rõ ràng không làm gì, nhưng vẫn toát lên vẻ khó xử. Tựa như có một sức mạnh vô hình xé anh ra làm đôi, bước đi trên dây mỏng ở vực thẳm, bất kể đi hướng nào cũng sai, động một chút là tan xương nát thịt.
Anh không động, Lâm Uyên chỉ có thể tự mình động. Chiếc đuôi cá bất ngờ quấn chặt lấy cơ thể Khúc Thuần Phong, cả hai đồng thời phát ra tiếng rên nghẹn ngào.
Thân thể giao nhân mềm mại.
Thắt lưng giao nhân uyển chuyển.
Hơi thở của giao nhân đầy mê hoặc...
Từ đầu đến đuôi, chẳng có gì không tốt, chẳng có gì không tinh tế, chẳng có gì không thoải mái. Hai chữ "vưu vật" dường như sinh ra là để dành cho họ.
Hàng lông mày dài mảnh của Lâm Uyên khẽ nhíu lại, như thể cảm thấy chút đau đớn, nhưng chẳng bao lâu lại từ từ giãn ra. Khúc Thuần Phong đã không biết mình đang làm gì nữa, đầu óc trống rỗng, chỉ dựa vào bản năng, để mặc thứ cảm giác xa lạ ấy điều khiển.
Mái tóc dài màu xanh đen của giao nhân quấn lấy ngón tay anh, mềm mượt như lụa, lưu lại thật lâu không chịu rời. Ban đầu Lâm Uyên còn dẫn dắt Khúc Thuần Phong, nhưng về sau thì chẳng còn sức mà phản kháng, giọng khàn khàn quyến rũ dần vỡ vụn, không thành lời cũng chẳng thành điệu.
Mỗi người trong lòng đều có một chiếc khóa, giam giữ tâm ma của bản thân. Một khi cánh cổng ấy mở ra, nó sẽ như thú dữ tràn ra ào ạt, khó lòng thu lại.
Khúc Thuần Phong nhìn gương mặt tuyệt mỹ của giao nhân dưới thân, chỉ cảm thấy mỗi lần nhìn thêm một chút, lòng mình lại buông lỏng một chiếc khóa, từ bỏ thêm một điều gì đó. Những lễ nghi quân tử, sự không gần nữ sắc, lòng trung với quân thượng, cả khát vọng trường sinh bất lão, từng chữ từng chữ đều tan biến.
Sóng biển từng đợt ập tới, nhưng không thể dập tắt nhiệt độ nóng bỏng của họ. Bàn tay dài đầy gân guốc của Khúc Thuần Phong siết chặt sau gáy Lâm Uyên, nhìn biểu cảm vừa đau đớn vừa khoái lạc trên gương mặt cậu, anh bất giác hận cái vưu vật này, một lần lại một lần khiến mình phá giới.
Anh cúi người xuống, cắn mạnh vào đôi môi Lâm Uyên. Đôi môi ấy lạnh lẽo, tinh xảo, đỏ thắm đến mức không nỡ để lại bất kỳ dấu vết nào. Sự hung ác ban đầu cuối cùng cũng tan đi, chỉ còn lại một chút dịu dàng.
Một kẻ ăn chay lâu ngày, bỗng dưng được ăn mặn, hung hăng hơn ai hết.
Lâm Uyên cảm thấy phía dưới đuôi hơi đau, đưa tay sờ thử thì phát hiện rơi mất vài chiếc vảy. Cậu đau lòng đến sắp khóc, ôm lấy cổ Khúc Thuần Phong, vừa hít mũi vừa thút thít, đôi mắt đỏ hoe, đứt quãng nói: "Dùng... dùng chân được không..."
Chân?
Chân gì?
Khúc Thuần Phong chưa hiểu cậu nói gì, nhưng ngay sau đó đã phát hiện ra điều khác lạ. Lâm Uyên khẽ tách cơ thể ra, chiếc đuôi cá màu xanh đen chợt lóe lên ánh sáng nhạt, hóa thành hai đôi chân thon dài như con người.
Lâm Uyên lại quấn lấy cơ thể Khúc Thuần Phong, khẽ hôn vào yết hầu của hắn, đầu lưỡi đỏ tươi liếm cắn vành tai hắn, thì thầm dụ dỗ: "Lần sau ta lại để ngươi dùng đuôi..."
Cậu hoàn toàn không nhận ra cơ thể Khúc Thuần Phong đã cứng đờ như đá.
Khúc Thuần Phong không biết phụ nữ có ngực hay không, nhưng phía dưới khác nhau thì vẫn rõ. Anh cúi đầu, bỏ qua hai đôi chân hoàn mỹ của Lâm Uyên, ánh mắt rơi xuống bộ phận giống hệt mình, cả người như bị sét đánh trúng.
Anh kinh hãi nói: "Ngươi là nam nhân?!"
Lâm Uyên đã thỏa mãn, không còn khó chịu như lúc đầu, còn có tâm tư trêu chọc anh. Cậu xoắn lấy một lọn tóc, khẽ vuốt qua cằm Khúc Thuần Phong, hờ hững cúi mắt, đôi mắt phượng đầy yêu mị, lệ chí nơi khóe mắt càng thêm quyến rũ:
"Cũng coi là vậy."
Cậu là giống đực, trong thế giới nhân loại cũng xem như nam nhân.
Sắc mặt Khúc Thuần Phong lúc xanh lúc trắng, mất một lúc mới tiêu hóa hết tin tức này, lòng đầy khó tin: "Ngươi gạt ta?!"
Lâm Uyên đáp: "Ta chưa từng nói ta là nữ, là ngươi cứ gọi ta là cô nương thôi."
Hay lắm, lại là lỗi của Khúc Thuần Phong.
Khúc Thuần Phong lập tức muốn rút lui, nhưng bị Lâm Uyên quấn lấy không thể động đậy. Anh mặt mày tối sầm, trầm giọng quát: "Ngươi đã là nam nhân, sao có thể cùng ta... cùng ta..."
Mấy chữ cuối anh nói dở thì nghẹn lại.
Lâm Uyên bị anh quát thì thấy ủy khuất, bất chấp ôm chặt lấy anh: "Ta không quan tâm, ta chỉ muốn ngươi làm bạn đời của ta."
Cậu không giống con người có những suy nghĩ phức tạp vòng vo, thích chính là thích, không thích chính là không thích, đơn thuần trong sáng như một tờ giấy trắng.
Lâm Uyên không hiểu vì sao Khúc Thuần Phong lại có nhiều băn khoăn như vậy, lúc thì ghét cậu là giao nhân, lúc lại ghét cậu là nam nhân, mà cả hai điều này cậu đều không thể thay đổi.
Khúc Thuần Phong bị cậu ôm chặt lấy, không hiểu sao lại không thể thốt nên lời. Trong cơn mơ hồ, chỉ cảm thấy có thứ gì đó lạnh buốt từ bờ vai trượt xuống. Theo bản năng, anh nhìn về phía Lâm Uyên, liền thấy một giọt nước mắt từ khóe mắt cậu rơi xuống, tách một tiếng, đọng lại trên lòng bàn tay anh, dần dần kết thành một viên giao châu màu xanh lam lấp lánh như pha lê.
Cậu khóc rồi...
Hệ thống trong đầu Khúc Thuần Phong lại không hiểu nổi vì sao anh lại bận tâm chuyện giới tính đến vậy, đến giao nhân mà anh cũng đã làm rồi, thì việc đó với một nam nhân còn có gì quan trọng nữa đâu?
Chương 109
Viên lệ châu giao nhân vừa kết thành, còn mềm mại, qua một lát mới hoàn toàn cứng lại thành châu. Nó có màu lam nhạt, trong suốt, dưới ánh trăng phản chiếu ánh sáng rực rỡ, so với những viên giao châu quý giá trong quốc khố của Sở quốc, còn đẹp hơn gấp mười lần.
Khúc Thuần Phong vô thức siết chặt lòng bàn tay, cảm giác mát lạnh từ viên giao châu thấm vào tận đáy lòng. Anh như muốn nói gì đó với Lâm Uyên, nhưng lại không biết phải giải thích ra sao. Đôi mày chau lại, anh khẽ thốt lên: "Cô nương..."
Lời vừa dứt, anh bỗng nhận ra giao nhân trước mặt là một nam nhân, liền ngượng ngùng ngậm miệng lại.
Lâm Uyên mím môi nhìn anh, trên hàng mi vẫn còn đọng lại một giọt nước mắt, gương mặt cậu dưới ánh trăng mờ ảo hiện lên vẻ ấm ức. Cậu khẽ nói, giọng mang chút bất lực: "Ta vốn là giống đực, ta có thể làm được gì đây..."
Giới tính đâu phải muốn đổi là đổi được.
Khúc Thuần Phong nhắm mắt lại, trong đầu rối như tơ vò. Anh vừa hận bản thân thiếu ý chí, vừa giận chính mình lo lắng quá nhiều. Nhìn thấy cơ thể Lâm Uyên đã hồi phục nhiệt độ, đoán rằng cậu đã qua kỳ đ.ộng d.ục, anh nhẹ nhàng gỡ tay cậu ra, sau đó vội vàng rời khỏi, nhặt quần áo bị rơi vãi mặc lên.
Lâm Uyên không biết đi bộ, cậu nhìn đôi chân mình, cuối cùng lại hóa thành chiếc đuôi cá. Trên đuôi mất đi ba chiếc vảy, tuy không quá rõ ràng, nhưng đối với một giao nhân yêu cái đẹp như cậu, đây là chuyện lớn. Cậu ngồi trên bờ, ôm lấy đuôi mình, đầy vẻ xót xa v.uốt ve.
Khúc Thuần Phong quay đầu lại, liền thấy cậu ngồi cô độc trên bờ cát. Anh bước chân chậm lại, đứng sững một hồi.
Có lẽ đúng như hệ thống đã nói, anh ngay cả giao nhân cũng đã làm, thì làm một nam nhân còn có gì đáng bận tâm? Nghĩ thông suốt, Khúc Thuần Phong trầm mặc hồi lâu, rồi quay lại.
Anh cúi xuống nhặt chiếc áo choàng của Lâm Uyên rơi trên đất, giũ sạch cát bụi bám trên đó, sau đó có phần lúng túng mà khoác lên người cậu.
Lâm Uyên thấy anh quay lại, ngẩng đầu nhìn anh, đôi mắt xanh biếc trong suốt, đẹp đến ngỡ ngàng. Chiếc đuôi cá khẽ động một chút rồi ngoan ngoãn nằm yên, hiếm khi cậu tỏ ra nghe lời như vậy.
Một đợt sóng biển tràn tới, làm ướt vạt áo dưới của cả hai, mang theo hơi lạnh thấm vào da.
Khúc Thuần Phong nhìn đống lửa vẫn chưa tắt hẳn, ánh mắt lại lướt qua chiếc đuôi cá mất vảy của Lâm Uyên, rồi vội vàng dời đi như thể không tự nhiên. Ngón tay anh siết chặt một lúc, cuối cùng cúi người bế cậu lên, bước đến chỗ bọn họ từng nghỉ ngơi trước đó.
Ánh lửa cam vàng soi lên người, xua đi chút hơi lạnh nơi tứ chi. Khúc Thuần Phong đặt cậu xuống đất, bản thân cũng khoanh chân ngồi xuống bên cạnh. Anh nhìn về phía xa, không biết đang nghĩ gì, một lúc lâu sau mới lên tiếng, nhưng chỉ nói hai chữ:
"Ngủ đi."
Lâm Uyên không hiểu sao lại thấy mình như vừa làm sai điều gì. Cậu không dám trêu chọc hay dụ dỗ anh như trước nữa, mà ngoan ngoãn đến lạ. Cắn đầu ngón tay, cậu khẽ nói:
"Ngày mai ta sẽ đưa ngươi về."
Khúc Thuần Phong đáp một tiếng:
"Ừm."
Lâm Uyên nhắm mắt chuẩn bị ngủ, nhưng không biết nghĩ gì lại mở mắt ra. Cậu khẽ dịch người lại gần anh, do dự một chút, rồi dè dặt hỏi:
"Ta có thể gối đầu lên ngươi không?"
Khúc Thuần Phong: "..."
Ngày thường, Lâm Uyên muốn gì làm nấy, muốn dựa thì dựa, muốn hôn thì hôn, muốn làm gì thì làm, chẳng ai cản được cậu. Giờ đây lại bày ra dáng vẻ rụt rè, thực sự hiếm thấy.
Khúc Thuần Phong đáp ứng cũng không đúng, không đáp ứng cũng chẳng đúng, chỉ có thể nhắm mắt làm ngơ, coi như không nghe thấy.
Lâm Uyên tưởng anh đã ngủ, liền rón rén nhích từng chút một, cuối cùng tựa đầu lên đầu gối anh, ôm lấy chiếc đuôi cá của mình, thỏa mãn mà ngủ thiếp đi.
"..."
Trong bóng tối, Khúc Thuần Phong khẽ mở mắt ra, rồi lại nhắm lại.
Lửa không được thêm củi, chẳng mấy chốc mà tàn lụi, chỉ còn những cành khô cháy đỏ bập bùng trong đêm. Đến khi trời sáng, khói nhẹ bốc lên, than tro một mảnh đen.
Sáng sớm, Lâm Uyên tỉnh dậy, duỗi mình một cách lười biếng, chiếc đuôi dài từ từ vươn ra. Cậu còn thuận tiện dụi đầu lên chân Khúc Thuần Phong, nhưng anh đã sớm thức dậy từ lâu, bị cậu cọ vào khiến khó chịu, liền rụt chân về.
Dẫu vậy, điều này chẳng ảnh hưởng đến tâm trạng vui vẻ của Lâm Uyên. Cậu vẫy đuôi một chút, mài nhẹ móng vuốt sắc bén của mình, rồi ngẩng đầu nhìn anh: "Để ta bắt cá cho ngươi ăn."
Khúc Thuần Phong không biết nên gọi cậu là gì nữa, nhưng hiển nhiên không thể gọi là "cô nương" được. Anh cầm kiếm đứng dậy, nhìn về phía biển khơi mênh mông, không đoán được phương hướng của ngôi nhà nhỏ, liền nói: "Xin hãy đưa tại hạ về."
Lâm Uyên không nghĩ nhiều, ngôi nhà nhỏ không xa, cậu vẫn có thể ngày ngày đến tìm Khúc Thuần Phong chơi. Cậu gật đầu đáp: "Được."
Cậu bơi vào trong biển, hoạt động thân mình một chút rồi trồi lên. Nhìn thấy Khúc Thuần Phong đứng mãi trên bờ không động đậy, cậu giơ tay ngoắc: "Qua đây."
Khúc Thuần Phong không biết bơi: "..."
Mái tóc dài màu xanh đậm của Lâm Uyên bị nước biển làm ướt, giọt nước nhỏ tong tong, từng lọn tóc xõa ra trên mặt biển. Đôi mắt dài đầy mê hoặc của cậu dõi theo anh, như một yêu quái đang dụ dỗ con người, cười mỉm đầy ẩn ý: "Nếu ngươi không xuống đây, ta làm sao đưa ngươi về?"
Quả nhiên, sự thuần khiết và lễ độ của cậu tối qua chỉ là diễn kịch.
Khúc Thuần Phong nghe vậy chỉ có thể vén gấu áo lên, từng bước từng bước lội xuống nước. Càng vào sâu, nước càng ngập cao, đến khi lên tới vai, anh bắt đầu cảm thấy ngạt thở, không thể bước thêm bước nào nữa.
Lâm Uyên liền bơi tới, kéo anh vào nước. Chiếc đuôi cá mềm mại uyển chuyển vẫy một cái, lập tức đưa anh rời khỏi vùng nước nông, lao nhanh ra xa, trông vô cùng thuận lợi như cá gặp nước.
Khúc Thuần Phong không biết bơi, mắt bị nước biển làm cay xè, không tài nào mở ra được. Chỉ trong chốc lát, anh đã thở không nổi, đành nắm chặt lấy vai Lâm Uyên, ra hiệu rằng mình không thể ở dưới nước được.
Có lẽ biển cả chính là nơi thuộc về giao nhân. Mái tóc xanh dài của Lâm Uyên tỏa ra trong nước, ngũ quan sâu sắc, vẻ đẹp yêu mị ma quái. Những ánh sáng lấp lánh dao động trên cơ thể cậu, đôi mắt đẹp đến động lòng người. Cậu nâng mặt Khúc Thuần Phong lên, truyền cho anh một hơi thở, rồi tiếp tục dẫn anh bơi vào nơi sâu hơn.
Khúc Thuần Phong mặt không biểu cảm, chỉ có vành tai hơi hơi nóng lên, nhưng cũng không còn kinh ngạc hay phẫn nộ như trước nữa. Có lẽ, hôn nhiều rồi cũng thành quen... chăng?
Biển cả tuy hiểm nguy, nhưng khi trời quang mây tạnh lại cực kỳ đẹp đẽ, dưới nước đầy những đàn cá bơi lội thành từng nhóm, có những loài Khúc Thuần Phong trước giờ chưa từng thấy. Lâm Uyên như cố ý làm anh vui vẻ, bắt một con cua ẩn sĩ đặt vào tay anh, rồi lại bắt một con sao biển, cuối cùng thậm chí tìm được một vỏ sò, khẽ nạy ra một viên ngọc trai tím óng ánh.
Tay của Khúc Thuần Phong không thể cầm hết, đành phải cho vào túi Càn Khôn. Theo sự dẫn dắt của Lâm Uyên, họ tiếp tục ngắm nhìn khắp nơi dưới nước, lúc này anh mới nhận ra, so với sự rộng lớn của biển cả, hoàng thành trong cung chỉ là một góc nhỏ bé của thế gian.
Cuối cùng, Lâm Uyên dừng lại ở một nơi, kéo Khúc Thuần Phong nổi lên khỏi mặt nước, chiếc đuôi cá vui vẻ quẫy một cái: "Tới rồi."
Nơi họ đang ở chính là dưới chân vách đá gần căn nhà bên bờ biển, chỉ cần bơi thêm chút nữa là đến bờ. Khúc Thuần Phong không ngờ nhanh như vậy đã đến nơi, ngây ra một lúc, theo bản năng nhìn về phía Lâm Uyên. Thực ra, trong lòng có rất nhiều điều muốn nói, nhưng sau một hồi đắn đo, cuối cùng chỉ nói ra được hai chữ: "Đa tạ."
Lâm Uyên đáp lễ: "Không cần cảm ơn."
Khúc Thuần Phong cảm thấy giao nhân này đôi lúc ngốc nghếch, không nhịn được nhìn cậu thêm vài lần, sau đó mới lên bờ, vắt khô nước trên áo. Lâm Uyên nổi trên mặt nước, ngửa đầu nhìn anh, đôi mắt xanh thẫm như mực thuần khiết và trong sáng: "Ta lần sau lại đến tìm ngươi chơi."
Khúc Thuần Phong muốn nói rằng bản thân không thể ở mãi trong ngôi làng chài này, huống hồ lần trước anh ra tay đánh bị thương A Oanh, thân phận có lẽ đã bị bại lộ. Anh từ từ ngồi xuống, ngập ngừng một lúc rồi nói: "Tại hạ có chút việc riêng cần giải quyết, phải mấy ngày nữa mới quay lại."
Lâm Uyên hơi buồn bã, chiếc đuôi khẽ đập trên mặt nước vài cái, nhưng lại ngẩng đầu nhìn Khúc Thuần Phong, hỏi bằng giọng điệu đơn thuần: "Ngươi sẽ cưới ta chứ?"
Khúc Thuần Phong nhìn cậu, không đáp lời, trong lòng nghĩ giao nhân này sao lại ngốc thế, mình phụng lệnh quốc quân đến đây để bắt giết họ, làm sao có thể cưới cậu được. Nhưng không hiểu sao, anh không nói ra lời đó, chỉ模棱两可 mà đáp: "Có lẽ... sẽ."
Lâm Uyên cuối cùng cũng vui lên chút ít: "Vậy ta đợi ngươi nhé."
Khúc Thuần Phong gật đầu, một cơn gió biển thổi qua, khiến vạt áo trắng còn hơi ẩm của anh tung bay, toàn thân lạnh buốt. Anh ngồi xổm bên bờ, không biết nhớ tới điều gì, lấy ra một vật từ túi Càn Khôn, đưa đến trước mặt Lâm Uyên, rồi chậm rãi mở tay ra. Trên lòng bàn tay là một giọt nước mắt giao nhân màu xanh trong suốt, dưới ánh mặt trời lấp lánh rực rỡ.
Khúc Thuần Phong mím môi, cất giọng hỏi: "Vật này, có thể tặng cho tại hạ chăng?"
Nước mắt của giao nhân có thể hóa thành ngọc, nhưng từ khi Lâm Uyên sinh ra tới nay chưa từng khóc, cho nên cũng chưa từng thấy nước mắt của mình trông thế nào. Thấy vậy, cậu bơi tới gần, dùng móng tay khẽ gảy hai cái, nghĩ thầm nước mắt của mình hóa ra lại đẹp như thế, hào phóng nói: "Tặng cho ngươi, sau này ta khóc thêm mấy giọt nữa là được."
Khúc Thuần Phong nghe vậy khẽ cười, như băng sương tan chảy, lúc này mới thực sự toát lên vẻ thanh tao như gió mát trăng trong, ôn nhuận như ngọc: "Không cần khóc, ngày ngày cười mới là tốt."
Lâm Uyên nghe mà có vẻ chưa hiểu: "Vì sao?"
Khúc Thuần Phong nói: "Vì chỉ khi buồn mới khóc."
Mặc dù có từ "vui quá mà khóc", nhưng thế nào cũng chẳng liên quan gì đến giao nhân trước mặt.
Lâm Uyên gật đầu: "Được thôi."
Cậu vẫn trông ngóng nhìn Khúc Thuần Phong, không chịu rời đi.
Khúc Thuần Phong thấy vậy, bước chân vốn định rời đi lại bỗng trở nên nặng nề. Anh lặng lẽ nhìn Lâm Uyên, đột nhiên lên tiếng: "Ngày sau chớ dễ dàng hiện thân, rất nguy hiểm."
Lâm Uyên dĩ nhiên biết nguy hiểm, nhưng cậu không hiện thân thì làm sao tìm được Khúc Thuần Phong, anh lại chẳng thể sống dưới đáy biển. Nghĩ đến đây, không biết nghĩ tới điều gì, cậu bỗng cong ngón tay ngoắc Khúc Thuần Phong.
Khúc Thuần Phong biết rõ có gì đó không ổn, nhưng vẫn cúi người tới gần. Quả nhiên, một đôi tay lạnh buốt quấn lấy cổ anh, môi cũng bị một mảng mềm mại, lạnh lẽo phủ lên.
Lâm Uyên đang hôn anh.
Lần này Khúc Thuần Phong lại không muốn né tránh, thậm chí vô thức đáp lại.
Trong lúc môi lưỡi quấn quýt, dường như có thứ gì đó mát lạnh, tròn trịa trượt xuống cổ họng. Khúc Thuần Phong nhận thấy không ổn, lập tức mở mắt, nhưng Lâm Uyên đã buông anh ra, lùi lại một chút.
Lâm Uyên quẫy quẫy đuôi, nụ cười đơn thuần mang theo vài phần đắc ý: "Ta đã tặng cho ngươi giao châu, sau này ngươi sẽ không còn sợ nước nữa."
Người này ngốc như vậy, vạn nhất lần sau lại rơi xuống biển, chết đuối thì sao.
Khúc Thuần Phong mơ hồ từng nghe nói về giao châu, nghe đồn đó là viên châu được luyện ra từ cơ thể giao nhân, cụ thể có tác dụng gì thì không rõ, chỉ biết rằng nó là bảo vật vô giá, giao nhân chỉ trao tặng cho bạn đời. Kiếp trước anh bắt được nhiều giao nhân như vậy, sau khi mổ xác cũng không thấy giao châu nào, cứ ngỡ chỉ là truyền thuyết, không ngờ nó thực sự tồn tại.
Khúc Thuần Phong mím môi: "Giao châu chẳng phải... chỉ tặng cho bạn đời thôi sao?"
Lâm Uyên đương nhiên đáp: "Ngươi chính là bạn đời của ta."
Bây giờ không phải, sau này cũng sẽ là.
Khúc Thuần Phong ngừng lại một chút: "Nhưng tại hạ không có giao châu để tặng ngươi."
Lâm Uyên quẫy đuôi: "Không có thì thôi."
Khúc Thuần Phong lại cảm thấy cậu ngốc, lặng yên một lúc, giơ tay tháo xuống một miếng ngọc đeo trên cổ mình, được xâu bằng sợi chỉ đỏ, trông có vẻ đã lâu năm. Anh khẽ v.uốt ve nó giữa đầu ngón tay, sau đó ra hiệu Lâm Uyên lại gần, đeo lên cổ cậu, thấp giọng nói.
"Đây là vật cũ bên mình của tại hạ, không đáng giá."
Lâm Uyên chẳng bận tâm đáng giá hay không, chỉ cần là Khúc Thuần Phong tặng, cậu đều thích, hân hoan sờ vào, nói: "Ta sẽ giữ gìn cẩn thận."
Khúc Thuần Phong nhìn cậu một cái: "Về đi."
Lâm Uyên không muốn rời đi.
Khúc Thuần Phong nói: "Nếu tùy tiện hiện thân, bị người khác bắt mất, ngươi sẽ không gặp lại ta nữa đâu."
Lâm Uyên đành phải không tình nguyện bơi ra xa, nhưng vẫn nói với Khúc Thuần Phong: "Ngươi phải nhớ đến tìm ta nhé."
Người trên bờ không rõ là đáp ứng hay không, đến khi giao nhân hoàn toàn biến mất trên mặt biển, Khúc Thuần Phong mới đứng yên một lúc, sau đó quay lưng rời đi.
Chương 110
Khúc Thuần Phong đã một thời gian không trở lại căn nhà bên bờ biển. Bên trong, bàn ghế đều phủ đầy một lớp bụi dày. Anh đưa mắt nhìn quanh, nhận thấy có dấu hiệu từng bị lục lọi qua, trên tường còn có một phù văn được ai đó khắc bằng dao—
Là ám hiệu liên lạc của Thiên Nhất Môn.
Khúc Thuần Phong trong lòng đoán rằng Minh Tuyên cùng các sư đệ đã tới tìm mình. Tính toán lại ngày tháng, mày anh bất giác nhíu chặt, rời khỏi căn nhà, đi dọc theo con đường nhỏ xuống núi, thẳng tới chợ phiên nơi trấn nhỏ.
Tuyền Châu nằm nơi hẻo lánh, chợ phiên là nơi duy nhất có chút nhộn nhịp. Người buôn bán tập trung hai bên đường, tiếng rao hàng không ngớt. Vì chiến tranh, giá lương thực đã tăng hơn gấp đôi, dân sinh lầm than.
Khúc Thuần Phong khi ấy chỉ dặn Minh Tuyên cùng các sư đệ cải trang thành dân thường ở chân núi, nhưng lại không rõ làm sao tìm họ. Đang định tới phủ nha của quan Thứ sử Tuyền Châu để dò hỏi tình hình, đi ngang qua khu chợ phía Tây, chợt thấy trước một quầy bói toán có đông người vây quanh, anh dừng chân, tiến lại gần xem thử.
Người lập quầy bói toán ăn mặc kiểu đạo sĩ, khoảng hai mươi tuổi, nhưng lại để một đoạn râu dài, trên má trái dán miếng cao dán thuốc, lắc lư đầu nhìn một cô nương đối diện mà phán:
"Xem qua bát tự của cô nương, thuở nhỏ gặp đại nạn nguy hiểm tính mạng. Nhưng nếu vượt qua được, ắt tai qua nạn khỏi. Cô là mệnh Thủy, mà công tử nhà họ Kim kia lại thuộc mệnh Hỏa. Nếu kết duyên, ắt là mệnh Thủy Hỏa khó dung hòa, vô cùng bất ổn."
Cô nương đối diện ngồi nghe, vừa mừng vừa lo: "Ngài nói quả thật không sai. Hồi nhỏ, nô gia quả nhiên bị ngã từ trên núi, suýt chút nữa mất mạng. May nhờ một thầy lang chân đất cứu chữa mới qua khỏi. Họ đều nói ngài là thần toán, nô gia không tin, nay thì đã tỏ tường."
Trấn nhỏ thời gian gần đây bỗng xuất hiện một nhóm đạo sĩ bày quầy bói toán. Chuyên xem âm dương ngũ hành, đo phong thủy, cẩn đoán không sai mảy may. Chẳng có quẻ nào không ứng nghiệm, danh tiếng chẳng khác nào thần tiên sống. Người tới xem bói đông như hội, hàng dài từ đầu phố Đông tới tận cuối phố Tây.
Khúc Thuần Phong đứng bên quan sát, chờ đến khi người thưa dần, mới mang theo thanh Huyền Thiết Kiếm nặng trĩu tới gần, ngồi xuống đối diện người bói toán kia. Kiếm đập mạnh lên bàn, chỉ thốt hai chữ: "Xem mệnh."
Người bói toán kia đang cúi đầu đếm bạc, nghe vậy không ngẩng lên, chỉ hỏi: "Xem gì?"
Giọng Khúc Thuần Phong không chút cảm xúc: "Xem thử đám sư đệ không ra gì của ta đang làm những chuyện gì."
Người bói toán nghe vậy ngừng tay, nhận thấy điều chẳng lành, theo bản năng ngẩng lên nhìn. Chợt thấy rõ người ngồi đối diện là ai, sắc mặt lập tức tái nhợt như gặp quỷ, bật khỏi ghế:
"Sư... sư... sư... sư... Sư huynh!!!"
Người đó không ai khác chính là Minh Tuyên.
Khúc Thuần Phong híp mắt nhìn anh ta, không nói không rằng: "Ta bảo ngươi dẫn theo sư đệ trú đóng dưới núi, giờ đây ngươi đang làm gì?"
Thân là Đại sư huynh, uy nghiêm của anh không cần phải nói. Minh Tuyên chỉ nhìn sắc mặt lạnh lẽo của anh cũng đủ biết không ổn, do dự hồi lâu, cũng không dám ngồi lại ghế, nhút nhát đứng qua một bên, lắp bắp giải thích: "Đại... Đại sư huynh, là huynh bảo chúng đệ cải trang thành dân thường, tránh bị phát hiện mà."
"Ngươi hồ đồ!" Khúc Thuần Phong vỗ bàn, làm nó rung lên mấy lần: "Sư phụ dạy ngươi thuật phong thủy âm dương, là để ngươi tới đây bày quầy xem bói à?!"
Minh Tuyên sợ tới mức run rẩy, lùi lại mấy bước, liều mình cãi nhỏ: "Đại sư huynh, là huynh bảo chúng đệ giả làm dân thường mà. Chúng đệ chẳng biết làm gì khác, chẳng lẽ phải ra bến cảng vác hàng, vậy còn mất mặt hơn."
Làm đạo sĩ, chỉ biết mấy trò thần thần quỷ quỷ này. Chẳng lẽ còn đi bắt cá?
Khúc Thuần Phong tức nghẹn: "Ngươi!"
Lý thì cũng là lý, nhưng đường đường đệ tử Thiên Nhất Môn lại đi lập quầy xem bói giữa chợ, nếu lan ra ngoài thì thật sự làm nhục danh môn. Sắc mặt anh khó coi, nhưng thấy Minh Tuyên ở bên len lén nhìn mình, như chuột trộm mèo vờn, cơn giận cũng bớt đi đôi phần.
Chốn này là chợ, Khúc Thuần Phong không muốn gây chú ý, thu kiếm lại, đứng dậy khỏi quầy:
"Minh Nghĩa và Minh Trù đâu?"
Minh Tuyên thấy anh không tức giận nữa, rón rén tiến lại gần, bấm tay đếm từng người:
"Bọn họ đều ở khắp nơi cả rồi. Tam sư đệ đang bày quầy ở phố Đông, Tứ sư đệ thì ở phố Nam, Ngũ sư đệ ở phố Bắc, nhân tiện còn tới nhà viên ngoại trong trấn xem phong thủy rồi. Lục... Lục lục lục! A a, sư huynh! Buông tay! Đau! Đau đau đau!!!"
Minh Tuyên kêu thảm, gần như nhảy lên vì đau. Tai hắn suýt bị Khúc Thuần Phong vặn gãy, nước mắt giàn giụa: "Sư huynh! Sư huynh! Đệ sai rồi! Đệ sai rồi!"
Khúc Thuần Phong mặt không cảm xúc, buông tay, giọng lạnh lùng: "Thời hạn nửa tháng đã qua ba ngày. Ta thấy các ngươi không muốn giữ mạng nữa, còn tâm trí đâu mà bày quầy bói toán?"
Minh Tuyên ôm tai, giọng lí nhí: "Đại sư huynh, đệ đã lên núi tìm huynh nhưng không gặp. Với lại, mạng này có giữ hay không cũng phải xem Hoàng đế có muốn cho giữ không đã. Cách nào vui thì cứ làm thôi."
Khúc Thuần Phong nghe vậy, nhìn hắn chằm chằm, dường như muốn nói gì đó, nhưng lại không thốt thành lời. Tay lặng lẽ siết chặt chuôi kiếm, sắc mặt hiện lên hiếm thấy chút do dự. Cuối cùng, anh lấy từ túi Càn Khôn ra một chiếc lọ trắng đặt lên bàn, phát ra tiếng va chạm trầm thấp: "Đây là thuốc dùng trong một tháng. Ta cần gặp Thứ sử Tuyền Châu để bàn bạc việc lớn, các ngươi không được hành động thiếu suy nghĩ, chờ tin."
Thiên Nhất Môn không thuộc bất cứ quan phủ nào, chỉ nghe lệnh duy nhất từ Hoàng đế. Nhưng các đệ tử đều bị đầu độc bằng cổ trùng, phải uống giải dược nửa tháng một lần, nếu không công lực tiêu tán, xương cốt vỡ nát mà chết.
Từ môn chủ Hồng Quan Vi, tới những đệ tử ngoại môn thấp kém nhất, tất thảy đều mang trong mình chất độc.
Lần này tìm kiếm dấu vết của giao nhân, truy cầu thuật trường sinh, dự liệu kéo dài, Hoàng đế ban cho nửa năm thuốc giải, tất cả giao lại cho Khúc Thuần Phong bảo quản. Nay hạn nửa tháng đã gần tới, mà Minh Tuyên cùng các sư đệ chưa dùng thuốc, nên anh mới vội quay lại đất liền.
Minh Tuyên cầm lấy lọ thuốc, tự mình bốc ra một viên, nhai như nhai kẹo: "Sư huynh, huynh tìm Thứ sử Tuyền Châu làm gì, đệ đi với huynh nhé. Phải rồi, dạo này huynh đi đâu vậy? Có tìm được tung tích giao nhân chưa?"
Khúc Thuần Phong nghe vậy, bước chân chậm lại trong giây lát, sau đó vẫn bước đều như cũ. Giữa dòng người đông đúc, anh không ngoảnh đầu, chỉ đáp một chữ: "Chưa."
Minh Tuyên không nghi ngờ gì, vội vã bỏ quầy đi theo, miệng líu lo hỏi: "Vậy sư huynh, chúng ta làm sao báo cáo lại với kinh thành đây?"
Khúc Thuần Phong nói không có giao nhân, anh là tin, nhưng phải để hoàng đế tin mới được. Thân thể Chiêu Ninh Đế gần đây ngày càng suy yếu, muốn cầu trường sinh đã đến mức điên cuồng, tám phần sẽ chỉ cho rằng Thiên Nhất Môn làm việc không hiệu quả, chưa biết chừng đến lúc chết còn kéo bọn họ chôn cùng.
Minh Tuyên thầm lẩm bẩm trong lòng, nếu không phải trên người trúng độc, hắn đã sớm không muốn phục vụ hoàng đế nữa, chẳng bằng ở chốn này bói toán kiếm ăn còn hơn.
Khúc Thuần Phong lòng rối như tơ vò, nhanh chóng suy nghĩ đối sách. Thấy Minh Tuyên đi theo mình, anh nhíu mày nói: "Ngươi đưa thuốc giải cho bọn họ, đừng đi theo ta."
Minh Tuyên đáp: "Sư huynh, đệ không theo huynh, tam sư đệ đang bày quầy trên con phố phía trước, đệ đưa thuốc cho hắn."
Khúc Thuần Phong: "..."
Việc tìm kiếm thuốc trường sinh cho hoàng đế được tiến hành vô cùng bí mật, không hề để lộ ra ngoài chút nào. Thứ sử Tuyền Châu, Ngô Hiển Vinh, ngày ngày như kiến bò trên chảo nóng, nếu tìm được giao nhân thì tốt, nếu không, chẳng may liên lụy đến ông thì làm sao bây giờ?
Đặc biệt là triều đình hàng ngày đều phái đặc sứ truyền thư hỏi han tình hình, Ngô Hiển Vinh càng cảm thấy khó xử. Nếu ông biết tình hình thì tốt rồi, vấn đề là ông chẳng biết gì cả, quốc sư và những người khác cũng không có động tĩnh gì, mấy lần phái người dò hỏi đều không thu hoạch được gì.
Hôm ấy, Ngô Hiển Vinh đang vò đầu bứt tai với mật thư từ kinh thành, chấm bút mực mà không biết phải hồi đáp thế nào. Đám nha dịch ngoài kia bất ngờ hớt hải chạy vào bẩm báo: "Đại nhân! Đại nhân!"
Ngô Hiển Vinh đang bực mình, nghe thế liền ném thẳng bút lông xuống, bút rơi xuống nền gạch bắn mực tung tóe: "Láo xược, có chuyện gì mà la lối om sòm thế?!"
Nha dịch chạy đến thở không ra hơi, chỉ tay ra ngoài nói: "Đại... đại nhân... quốc sư đến rồi, đang chờ ở ngoài, xin ngài mau cùng thuộc hạ đi tiếp đón!"
Ngô Hiển Vinh nghe vậy liền bật dậy khỏi chỗ ngồi: "Ngươi nói ai đến?!"
Nha dịch thở hổn hển đáp: "Quốc sư, thưa đại nhân, ngài ấy đang chờ trong nội sảnh."
Ngô Hiển Vinh vui mừng ra mặt, vội vàng bước ra khỏi bàn làm việc, túm lấy vạt áo quan mà chạy ra ngoài: "Nhanh, nhanh, mau cùng bản quan đi tiếp đón quốc sư!"
Khúc Thuần Phong đang ngồi đợi trong nội sảnh, nha hoàn bưng lên một ít trà bánh điểm tâm rồi cung kính đứng chờ sai bảo. Ở giữa có một lư đồng hình thú phun ra một làn khói xanh nhàn nhạt, hương thơm khiến người ta thư thái dễ chịu.
Khúc Thuần Phong liếc nhìn chén trà, thấy lớp men bóng bẩy, sắc men trắng mịn, chắc chắn là đồ đắt tiền. Trà bên trong cũng là loại thượng hạng, không khác gì cống phẩm trong cung. Anh thầm nghĩ, ngày tháng của Ngô Hiển Vinh còn sung túc hơn cả hoàng đế.
Không bao lâu sau, Ngô Hiển Vinh vội vã chạy đến, trước tiên đứng ở cửa chỉnh lại y quan, đợi hít thở đều đặn rồi mới bước vào, cúi người hành lễ với Khúc Thuần Phong: "Hạ quan là Ngô Hiển Vinh, không biết quốc sư giá lâm, đón tiếp chậm trễ, mong ngài thứ lỗi. Không biết quốc sư hạ cố đến đây có điều gì muốn chỉ bảo?"
Thực ra ông muốn hỏi xem giao nhân đã tìm được chưa, nhưng không dám mở miệng. Biết quá nhiều cũng không phải chuyện tốt.
Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhìn ông, thấy ánh mắt Ngô Hiển Vinh đảo qua đảo lại, dáng vẻ vô cùng bất an, không nói nhiều mà chỉ hỏi: "Những ngày này kinh thành có gửi thư đến không?"
Anh toát ra khí lạnh lẽo, thêm vào đó là địa vị cao quý, khiến Ngô Hiển Vinh không khỏi sinh lòng kính sợ. Ông nghe vậy liền thành thật trả lời: "Bệ hạ phái đặc sứ hàng ngày gửi mật thư, rất xem trọng chuyện giao nhân. Hạ quan ngu muội, không biết phải trả lời thế nào, mong quốc sư chỉ điểm."
Nói xong, ông ra hiệu cho thị tòng ngoài cửa: "Mau đi lấy mật thư trên bàn của bản quan mang đến đây."
Thị tòng gật đầu, lập tức đi lấy. Chỉ một lúc sau quay lại, trong tay là một chồng mật thư dày cộm. Ngô Hiển Vinh đón lấy, cung kính đặt lên bàn cạnh Khúc Thuần Phong: "Mời đại nhân xem qua."
Chiêu Ninh Đế nôn nóng hơn Khúc Thuần Phong tưởng rất nhiều. Chỉ trong thời gian ngắn mà đã liên tiếp gửi mười ba bức mật thư, nội dung đều na ná nhau, chỉ hỏi về tình hình thuốc trường sinh. Ngô Hiển Vinh tuy là kẻ nịnh bợ nhưng làm quan nhiều năm, cũng có chút khôn khéo, hồi đáp đều hàm hồ không rõ ràng, không để lộ thông tin thực chất nào.
Khúc Thuần Phong lật xem từng bức thư, thấy mấy bức đầu chữ viết quen thuộc, chắc hẳn là tự tay Chiêu Ninh Đế viết. Nhưng đến mấy bức sau lại là người khác viết thay, anh cảm thấy khác lạ, liền trở lại xem kỹ mấy bức đầu, mơ hồ nhận ra điều gì.
Chiêu Ninh Đế thân là vua một nước, nét chữ dĩ nhiên cứng cỏi, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ thấy nét chữ này hư nhược vô lực, thậm chí nhiều chỗ run rẩy, rõ ràng là dáng vẻ bệnh tình nguy kịch.
Khúc Thuần Phong khẽ lắc lắc tờ thư, thoáng ngửi được một mùi thuốc rất nhẹ, ánh mắt lập tức trầm xuống.
Chương 111
Kiếp trước, Chiêu Ninh Đế bệnh nặng vào khoảng đầu xuân, nhưng không biết có phải do anh sống lại làm thay đổi điều gì hay không, giờ đây lại có dấu hiệu sớm hơn. Mùi thuốc bám trên giấy thư rõ ràng không cách nào tan hết.
Khúc Thuần Phong chậm rãi gấp lá thư lại, đặt trở về chỗ cũ. Đón lấy ánh mắt của Ngô Hiển Vinh, anh không tiết lộ một lời, chỉ nói: "Không phải chuyện gì to tát. Ta sẽ viết một bức thư, ngươi sai người nhanh chóng mang đến kinh thành."
Có người đứng mũi chịu sào đương nhiên là chuyện tốt, khỏi phải mất công nghĩ lời hồi đáp. Ngô Hiển Vinh sao dám không đồng ý, lập tức dẫn Khúc Thuần Phong đến thư phòng, tự mình mài mực, dâng giấy hầu bên cạnh: "Xin hỏi quốc sư trong những ngày này việc tìm kiếm giao nhân có thu hoạch được gì không? Hạ quan đã sớm chuẩn bị đội quân tinh thông thủy tính, thêm vào đó là mấy chục chiếc chiến thuyền, đến lúc đó thủy bộ phối hợp, nhất định khiến chúng không thể chạy thoát."
Ngô Hiển Vinh tuy rằng vẫn không tin có giao nhân, nhưng lời nói đẹp vẫn phải nói cho thật hoa mỹ. Huống hồ nhỡ đâu tìm được thì sao? Tìm được thuốc trường sinh cho hoàng đế, đó là công lao to lớn, hắn cũng phải góp phần nào đó.
Khúc Thuần Phong đặt bút chấm mực, mới viết được một dòng đầu thì nghe thấy lời ông, nét bút khựng lại, trên giấy lập tức loang ra một vệt mực lớn. Anh không đổi sắc mặt, thong thả thay một tờ giấy khác, lạnh nhạt nói: "Ngô đại nhân lui ra trước đi."
Đây là chê ông lắm lời.
Ngô Hiển Vinh mặt mày ngượng ngùng, trong lòng không khỏi oán thầm. Quốc sư đại nhân này đúng là không biết điều, nhìn thì ngay thẳng cương trực, vậy mà lại nhận một đống vàng bạc của mình. Người ta nói ăn của ai thì phải nể mặt người đó, nhưng đối phương lại chẳng lưu chút tình nào.
Ngô Hiển Vinh nói: "Vậy... hạ quan xin lui trước, quốc sư viết xong thư chỉ cần dặn người bên ngoài là được."
Ngô Hiển Vinh nghe vậy liền cúi mình hành lễ, đoạn lui ra khỏi thư phòng, khép cửa lại sau lưng.
Khúc Thuần Phong thực sự không biết nên viết thế nào cho bức thư này. Chiêu Ninh Đế tuy là một hôn quân già yếu, nhưng cũng không dễ bị lừa. Vì h.am m.uốn trường sinh mà hoàng đế đã thử đủ mọi phương pháp, đọc hết cổ thư, thấu tỏ sách vở, hiểu biết về giao nhân cũng chẳng hề kém hơn anh.
Nếu nói không tìm được tung tích giao nhân, Chiêu Ninh Đế chắc chắn sẽ không tin, thậm chí có thể giận chó đánh mèo lên toàn bộ Thiên Nhất Môn. Nhưng nếu nói đã tìm thấy... nếu nói đã tìm thấy...
Vậy Lâm Uyên thì phải làm thế nào?
Trong lòng Khúc Thuần Phong bất chợt bật lên cái tên ấy, đến mức chính anh cũng giật mình. Bàn tay đang cầm bút vô thức siết chặt, chỉ nghe "rắc" một tiếng, cây bút trúc đã bị bẻ gãy. Khúc Thuần Phong hoàn hồn, vội ném mảnh bút gãy sang một bên, như thể vứt đi một món đồ bỏng rát, trên mặt thoáng hiện vẻ bối rối mà khó ai nhận ra.
Anh cảm giác có thứ gì đó trong cõi u minh đã đổi khác, nhưng lại không sao gọi tên được. Chỉ biết rằng anh cực kỳ chán ghét cảm giác do dự, cân nhắc trước sau này. Hiện tại, bất luận thế nào cũng phải có thứ gì đó để báo cáo với hoàng đế, mà giao nhân, tuyệt nhiên là không thể không bắt. Nếu chẳng may bắt trúng Lâm Uyên, vậy thì thả đi là được.
Nếu bắt được Lâm Uyên, thả đi là được...
Đây là quyết định tốt nhất mà Khúc Thuần Phong có thể đưa ra sau khi cân nhắc toàn bộ Thiên Nhất Môn. Anh thay một cây bút mới, vừa định viết, thì hệ thống bất ngờ hiện ra, thân hình tròn trịa chắn ngay trước tờ giấy, đôi cánh nhỏ trên lưng vỗ liên tục: [Không được bắt giao nhân đâu!]
Khúc Thuần Phong thoáng dừng tay, rồi lập tức phất tay áo hất hệ thống ra xa. Tuy không nói lời nào, nhưng trên gương mặt anh rõ ràng hiện lên mấy chữ: Ngươi quản quá nhiều rồi.
Hệ thống ôm chặt lấy cây bút trong tay anh: [Thân ái, nếu nói thật với hoàng đế, tộc giao nhân sẽ tuyệt diệt mất!]
Khúc Thuần Phong thầm nghĩ, nếu không nói thật, vậy Thiên Nhất Môn từ trên xuống dưới, còn có cả Hồng Quan Vi xa xôi ở kinh thành, sẽ thế nào? Anh lặng lẽ liếc nhìn hệ thống, rồi chậm rãi hỏi: "Vậy ngươi nghĩ ta nên làm thế nào?"
Khúc Thuần Phong tự cho rằng bản thân là người công chính, nhưng thực chất lòng anh rất hẹp hòi. Hẹp đến mức chỉ có thể lo cho người trước mắt mình, còn những kẻ xa hơn, anh lực bất tòng tâm.
Hệ thống im lặng một lát, sau đó hỏi: [Không có cách nào giải độc thật sao?]
Khúc Thuần Phong nhắm mắt, khẽ lắc đầu.
Hồng Quan Vi là một đại sư huyền thuật, sống thọ hơn hai trăm năm, trải qua hai triều đại, từng thấy nhiều hiểu rộng. Năm xưa ông chịu ơn hoàng tộc, sau đó phụng sự triều đình, trung thành với quốc quân. Nào ngờ lại bị hạ độc, liên lụy đến toàn bộ sư môn. Khi ấy đã từng thử giải độc nhưng vô dụng.
Bọn họ chỉ có thể nghe lệnh hoàng đế, không còn cách nào khác.
Hệ thống liến thoắng: [Trộm giải dược được không?]
Khúc Thuần Phong đáp: "Trộm không được."
Chiêu Ninh Đế không ngu ngốc, làm sao để giải dược cho người khác dễ dàng trộm được.
Hệ thống lại nói: [Nhưng nếu ngươi bắt giao nhân về, hoàng đế sẽ tiếp tục ép ngươi luyện thuốc trường sinh. Đến khi không luyện ra được, ngươi vẫn sẽ chết.]
Khúc Thuần Phong cảm giác như mình đang đứng trong một ngõ hẹp, trước sau đều là đường chết, không có lấy một lối thoát. Anh chỉ có thể đi từng bước mà tính. Hồng Quan Vi hiện giờ vẫn bị giam lỏng ở kinh thành, chỉ cần Thiên Nhất Môn có chút dị tâm, tính mạng của y liền khó giữ.
Khúc Thuần Phong chỉ nói một câu: "Sư phụ ta còn ở kinh thành."
Đó là người đã nuôi dạy anh từ nhỏ, là vị sư phụ coi anh như con ruột.
Anh không thể không cứu.
Ngòi bút lông chấm mực, chậm rãi viết xuống bốn chữ "Hoàng thượng thân khải". Hệ thống bất chợt lên tiếng: [Ngươi giết tộc nhân của cậu ấy, cậu ấy sẽ hận ngươi đến chết đấy.]
Một tờ giấy nữa bị bỏ đi.
Khúc Thuần Phong nhớ đến giao nhân ấy, bàn tay sạch sẽ vô tình chạm phải vết mực đen. Anh theo phản xạ muốn lau, càng lau càng bẩn, cuối cùng chỉ thấy một vết mực loang lổ, đành mím môi đứng lặng.
Hệ thống nói: [Trời không tuyệt đường người. Trước hết hãy nghĩ cách lừa hoàng đế qua mắt, sau đó tìm giải dược, cứu sư phụ ra ngoài. Hiền thần cần tìm minh chủ để phò tá, hoàng đế hôn quân này vốn không đáng để các ngươi trung thành.]
Hệ thống chỉ là một đoạn dữ liệu, không thể nghĩ ra cách giải quyết giúp Khúc Thuần Phong. Nhưng nó tin rằng, người thi hành sứ mệnh liên hành tinh khi để anh sống lại, chắc chắn không phải muốn anh tiếp tục đi vào vết xe đổ, mà là để từ bỏ bóng tối, hướng về ánh sáng.
Nội tâm Khúc Thuần Phong cũng đang giằng xé. Anh biết rõ trung thành với hoàng đế không phải kế lâu dài. Thiên Nhất Môn ngày ngày chịu sự khống chế của độc cổ, chẳng khác nào con rối. Biết đâu sau này còn hại đến cả thê tử, con cái. Sớm muộn gì cũng phải tìm cách giải quyết.
Hiện tại, anh chỉ có thể kéo dài thời gian, đợi đến lúc Chiêu Ninh Đế bệnh tình nguy cấp, có lẽ sẽ xuất hiện một đường sống. Đồng thời phái người vào kinh thành dò la tin tức của Hồng Quan Vi, tìm cách cứu người ra.
Thời gian từng chút một trôi qua, tâm trạng anh cũng không ngừng giằng co. Đến khi qua một nén nhang, anh mới như hạ quyết tâm, chậm rãi cầm bút lên.
Khúc Thuần Phong bình ổn tinh thần, viết lại một tấu chương khác, không hề viết gì cụ thể. Chỉ nói biển cả mênh mông, Thiên Nhất Môn vẫn đang tìm kiếm, mong hoàng đế yên tâm chờ đợi. Viết xong thì dùng lửa niêm phong thư, giao cho nha dịch, lệnh họ phi ngựa hỏa tốc mang về kinh thành.
Xong xuôi, Khúc Thuần Phong lập tức rời phủ nha, triệu tập toàn bộ đệ tử Thiên Nhất Môn. Anh chọn ra vài người tin cậy, sai họ cải trang trà trộn vào kinh thành, nhất định phải tìm cách cứu Hồng Quan Vi.
Minh Tuyên không hiểu dụng ý, do dự một lúc rồi nói: "Sư huynh, nếu cứu được sư phụ, chẳng phải sẽ khiến hoàng đế nghi ngờ sao..."
Đến lúc ấy, toàn bộ Thiên Nhất Môn chỉ e không thoát khỏi sự truy sát của triều đình, huống chi bọn họ còn đang mang độc trong người.
Khúc Thuần Phong cau mày đáp: "Trên đời này vốn không có trường sinh thuật. Cho dù bắt giao nhân về, cũng không thể luyện ra trường sinh dược. Cuối cùng vẫn là một con đường chết. Chi bằng liều một phen."
Minh Tuyên không ngờ có ngày sẽ nghe thấy những lời này từ miệng Khúc Thuần Phong. Không khỏi kinh ngạc nhìn anh, bởi trong lòng y, Khúc Thuần Phong luôn là người cứng nhắc, quy củ, trung thành với vua, chưa từng có hành động nào nghịch thượng mệnh lệnh. Sao giờ lại dám làm chuyện đại nghịch bất đạo, có thể mất đầu như vậy?
Minh Tuyên khẽ giọng nói: "Sư huynh, không sợ huynh mắng, thật ra từ lâu đệ đã không muốn chịu sự sai khiến của quốc quân. Thiên Nhất Môn toàn là những trang nam nhi đầu đội trời chân đạp đất, tài nghệ đầy mình. Ở đâu chẳng thể lập nghiệp, sao lại phải nghe lời hôn quân, sống thật sự là nhục nhã. Nay huynh đã nghĩ thông, các sư đệ tất nhiên sẽ cùng theo. Dẫu có chết, cũng chết được thoải mái!"
Hắn nói xong, cẩn thận quan sát sắc mặt Khúc Thuần Phong, như sợ bị đánh, vô thức lùi lại vài bước.
"......"
Khúc Thuần Phong chưa từng biết Minh Tuyên lại suy nghĩ như vậy. Trong lòng anh, có thể bảo toàn tính mạng của toàn bộ Thiên Nhất Môn đã là một điều tốt đẹp, nhưng hóa ra, tự do mới là điều vượt lên trên cả sống chết.
Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhìn Minh Tuyên, muốn nói điều gì đó, nhưng những lời ấy khi đến miệng lại chẳng thể thốt ra được. Anh đã quen nghiêm khắc với các sư đệ, nên chẳng thể nói lời mềm mỏng, chỉ đành vỗ nhẹ lên vai Minh Tuyên: "Sư huynh sẽ không để các đệ chết đâu..."
Lá thư anh gửi đi, dù có dùng tám trăm dặm hỏa tốc, đến được kinh thành cũng phải mất ít nhất một tháng. Vậy mà đến ngày thứ mười, Chiêu Ninh Đế bất ngờ phái một đội đặc sứ đến, dẫn đầu là Tổng quản đại nội, Vương Sùng Hỉ.
Vương Sùng Hỉ từ nhỏ đã hầu hạ Chiêu Ninh Đế, tuy là thân phận thái giám nhưng cực kỳ giỏi đoán ý người. Nói ông ta là người gần gũi bậc nhất bên cạnh hoàng đế cũng chẳng quá lời. Văn võ bá quan, hậu cung phi tần đều phải nịnh bợ ông. Khúc Thuần Phong từng giao thiệp với ông vài lần, nhưng chưa từng thân thiết.
Đội ngự lâm quân phi ngựa nhanh chóng đến phủ nha của Thứ sử Tuyền Châu, bụi tung mù mịt, khí thế dũng mãnh. Bách tính trên đường thấy vậy đều tưởng có biến, sợ hãi chạy trốn, không ai dám ra ngoài. Người nào gan to trộm nhìn thì thấy trong đội có một cỗ xe ngựa xa hoa, từ đó bước xuống một lão thái giám.
Đội đặc sứ đã đến từ ba ngày trước, nghỉ ngơi tại dịch quán. Ngô Hiển Vinh, làm Thứ sử Tuyền Châu mười mấy năm, chưa từng gặp qua nhân vật quan trọng trong triều, nay nhận được tin, từ sớm đã đứng chờ trước cửa phủ nha, mặt mày rạng rỡ, nịnh nọt hết mực.
Thấy Vương Sùng Hỉ bước xuống xe, Ngô Hiển Vinh bất chấp thân phận Thứ sử của mình, lập tức bước tới đón tiếp, cúi lưng tới mức gần như gập người: "Tại hạ là Thứ sử Tuyền Châu, Ngô Hiển Vinh, tham kiến Vương đại nhân. Đại nhân đường xa đến đây vất vả, tiểu nhân đã chuẩn bị sẵn yến tiệc, mong đại nhân vào phủ."
Vương Sùng Hỉ đã hơn năm mươi tuổi, mặt đầy nếp nhăn, nhưng đôi mắt lại tinh tường sắc sảo. Ông ta cầm phất trần trong tay, đối mặt với sự nịnh nọt của Ngô Hiển Vinh, chỉ mỉm cười, thoạt nhìn có vẻ từ ái, giọng khàn khàn: "Gia đây phụng chỉ của bệ hạ đến tuyên mật chỉ, yến tiệc để sau. Xin hỏi quốc sư hiện đang ở đâu?"
Lời vừa dứt, Khúc Thuần Phong đã từ trong bước ra. Anh mặc đạo bào trắng của quốc sư, bên ngoài khoác lụa đen, tóc búi cao, đội mũ thái cực, toát lên vẻ tiên phong đạo cốt. Phía sau là các đệ tử của Thiên Nhất Môn, trang phục đều giống nhau, chỉ khác mỗi anh có thắt đai mang dấu ấn của quan viên.
Vương Sùng Hỉ tuy là tổng quản đại nội, nhưng cũng chỉ là quan ngũ phẩm, Khúc Thuần Phong không thể như Ngô Hiển Vinh mà tự mình ra ngoài đón tiếp.
Vương Sùng Hỉ vốn là kẻ lão luyện, hiển nhiên biết tính cách của Khúc Thuần Phong, cũng không làm ra vẻ gì, lập tức cúi chào, nở nụ cười đầy ý tứ: "Lão nô bái kiến quốc sư, đã mấy tháng không gặp, quốc sư càng thêm phong độ."
Khúc Thuần Phong không để tâm đến những lời tâng bốc mơ hồ ấy, chỉ muốn biết tại sao hoàng đế đột nhiên phái nhiều người như vậy đến đây, liền đưa tay ra hiệu: "Vương công công lần này đến đây là có việc gì quan trọng?"
Vương Sùng Hỉ đáp: "Tự nhiên là có việc trọng đại. Nhưng đây là mật chỉ, chỉ có thể nói riêng với quốc sư."
Chương 112
Vương Sùng Hỉ là thái giám thân tín của Chiêu Ninh Đế, lần này vượt ngàn dặm đến Tuyền Châu đã là chuyện bất thường, huống chi còn mang theo mật chỉ. Khúc Thuần Phong liếc nhìn ông, rồi nói: "Nếu vậy, mời Vương công công vào nội đường tuyên chỉ."
Ngự lâm quân nhanh chóng đóng chặt phủ nha, cùng đệ tử Thiên Nhất Môn canh giữ, phòng thủ nghiêm ngặt đến mức ngay cả ruồi cũng khó lọt. Khúc Thuần Phong và Vương Sùng Hỉ bước vào nội thất, định quỳ xuống nhận chỉ thì bị Vương Sùng Hỉ lập tức đỡ dậy: "Quốc sư không cần đa lễ. Bệ hạ đã dặn, ngài chỉ cần đứng nghe là được."
Nghe vậy, Khúc Thuần Phong liền đứng thẳng người, không tỏ ra chút gì bất ngờ, chỉ cúi mắt, trầm giọng: "Không biết bệ hạ có mật chỉ gì, mời Vương công công tuyên đọc."
Không ngờ Vương Sùng Hỉ nghe vậy, vẻ mặt lại thoáng hiện nét lo lắng, lông mày nhíu chặt, tiến lên vài bước, hạ giọng nói: "Quốc sư chắc cũng đoán được mật chỉ này liên quan đến chuyện gì. Chính là tung tích của giao nhân. Thực không giấu gì, mấy ngày trước bệ hạ long thể bất an, ngày ngày phải dựa vào kỳ trân dị bảo để kéo dài hơi tàn, hiện giờ bệnh tình đã nguy kịch, thật sự không chờ được nữa. Vì vậy, ngài mới phái lão nô đến đây hỗ trợ quốc sư."
Nói xong, ông thi lễ, lấy từ trong tay áo ra một bức mật thư. Chiêu Ninh Đế hiện giờ bệnh đến mức cầm bút cũng không nổi, nội dung mật thư đương nhiên do người khác viết thay, chỉ đóng thêm ngự ấn.
Quốc quân bệnh nặng là đại sự. Huống hồ thái tử còn nhỏ, trong khi Nam Man, Bắc Địch đang rình rập. Nếu tin quốc tang truyền ra, thiên hạ chắc chắn sẽ rung chuyển. Vì vậy, bệnh tình của Chiêu Ninh Đế chỉ có số ít người biết. Lần này phái Vương Sùng Hỉ đến, rõ ràng là hoài nghi Thiên Nhất Môn. Bề ngoài nói là hỗ trợ, thực chất là giám sát.
Khúc Thuần Phong đọc lướt qua mật thư, nghĩ đến đội ngự lâm quân ngoài cửa, đầu ngón tay bất giác siết chặt, nhưng trên mặt lại không lộ chút sơ hở nào: "Bệ hạ đã có chỉ, thần tất nhiên tuân lệnh. Chỉ là biển rộng gió lớn, e rằng công công không chịu nổi, chi bằng ở lại dịch quán nghỉ ngơi, những việc còn lại giao cho thần xử lý."
Không ngờ Vương Sùng Hỉ liền từ chối: "Mạng này của lão nô vốn là của bệ hạ. Sóng gió nhỏ bé chẳng đáng gì. Mong quốc sư sớm tìm được giao nhân, luyện thuốc trường sinh hồi kinh phục mệnh. Nếu không, Hồng đại nhân ở kinh thành lâu ngày không thấy tin tức của các vị, chẳng phải sẽ rất lo lắng sao?"
Câu cuối cùng rõ ràng là lời đe dọa ngầm.
Khúc Thuần Phong nghe vậy, ánh mắt thoáng lạnh, nhìn chằm chằm vào Vương Sùng Hỉ, đến mức nụ cười trên mặt ông cũng trở nên cứng ngắc. Lúc này anh mới thu lại ánh mắt, hỏi: "Vương công công muốn khởi hành khi nào?"
Vương Sùng Hỉ cúi người đáp: "Đương nhiên càng sớm càng tốt. Hôm nay là tốt nhất, không thì ngày mai cũng được."
Khúc Thuần Phong không chút cảm xúc nói: "Vậy thì ngày mai khởi hành."
Nói xong, anh quay người rời khỏi phòng, không hề để lại chút thể diện nào cho Vương Sùng Hỉ.
Minh Tuyên cùng các đệ tử Thiên Nhất Môn đứng đợi bên ngoài. Thấy Khúc Thuần Phong bước ra, cậu vội tiến lên, muốn hỏi gì đó, nhưng lại sợ người đông tai vách mạch rừng, chỉ dám thấp giọng lo lắng: "Sư huynh, không có chuyện gì chứ?"
Khúc Thuần Phong lắc đầu, không nói gì, chỉ liếc mắt nhìn đám ngự lâm quân đang âm thầm theo dõi bọn họ: "Vương Sùng Hỉ mang theo bao nhiêu người đến đây?"
Minh Tuyên đáp: "Rất nhiều, đếm không hết."
Khúc Thuần Phong: "......"
Thiên Nhất Môn dù có được phù trợ bởi huyền thuật, nhưng xét cho cùng vẫn là người phàm xác thịt. Một chọi mười còn được, chứ một chọi trăm thì khó khăn. Đến lúc đó, nếu hai bên xảy ra xung đột, ai thắng ai bại thực khó mà nói trước. Khúc Thuần Phong chỉ có thể tạm thời quan sát, chờ đợi cơ hội.
Sáng sớm hôm sau, dưới sự chỉ đạo của Vương Sùng Hỉ, Ngô Hiển Vinh đã điểm đủ người ngựa, mang theo mấy trăm thuộc hạ tinh thông thủy tính, cùng một đội cao thủ trong cung, rầm rộ kéo ra bờ biển. Ông ta lại mượn thêm mấy chục chiếc chiến thuyền từ thủy sư đề đốc, đậu sẵn trên mặt nước chờ lệnh. Đối ngoại thì chỉ nói rằng hoàng đế muốn tế trời cầu phúc, cấm tiệt người ngoài bén mảng đến gần.
Vương Sùng Hỉ dưới sự đỡ đần của thị vệ bước xuống xe ngựa, vừa đặt chân lên bãi cát ẩm mềm liền loạng choạng một cái. Tấm áo lụa đỏ thẫm của thái giám bị gió biển thổi phần phật, cơ thể gầy gò như một nhành cỏ khô lay lắt giữa mưa gió, tựa hồ bất cứ lúc nào cũng có thể bị cuốn đi.
Ông ta vội vàng chỉnh lại chiếc mũ sa trên đầu, ngẩng nhìn về phía Khúc Thuần Phong đang ngồi trên ngựa, cao giọng hỏi: "Quốc sư, thời tiết khắc nghiệt thế này, chúng ta phải tìm kiếm bằng cách nào đây?"
Minh Tuyên trong lòng nghĩ, cái lão già này chẳng biết bắt giao nhân thì đến đây làm gì, cứ tưởng bản lĩnh ghê gớm, hóa ra chỉ được cái dáng vẻ oai phong bề ngoài. Hắn nhỏ giọng nói với Khúc Thuần Phong: "Sư huynh, mặc kệ lão đi."
Khúc Thuần Phong xoay người xuống ngựa, tà áo tung bay trong gió, anh nhìn Vương Sùng Hỉ, bình thản đáp: "Nếu tìm giao nhân, đương nhiên phải tìm trên biển. Công công nếu thân thể bất tiện, có thể chờ ở bờ."
Vương Sùng Hỉ dĩ nhiên không chịu, dưới sự dìu đỡ của thị vệ, bước tới gần hơn, tựa như chẳng nhận ra thái độ lãnh đạm của Khúc Thuần Phong, mặt mày tươi cười: "Lão nô không sao. Một lát nữa lên thuyền, lão nô xin đi cùng quốc sư, nhất định phải sớm hoàn thành thánh chỉ của bệ hạ."
Đang nói dở, đột nhiên từ xa truyền đến tiếng khóc la ồn ào. Khúc Thuần Phong quay đầu nhìn, chỉ thấy một nhóm quan binh đang tranh cãi với một đám dân làng, hai bên xô đẩy, cãi cọ không ngớt. Anh nhíu mày, nhìn về phía Ngô Hiển Vinh, lạnh giọng hỏi: "Có chuyện gì vậy?"
Ngô Hiển Vinh đối diện với ánh mắt gần như sắc bén của anh, lắp bắp không nói nên lời, giữa trời lạnh mà đầu đã ướt đẫm mồ hôi. Hắn vừa dùng tay áo lau, vừa lúng túng đáp: "Hồi... hồi bẩm quốc sư... hạ quan... hạ quan..."
Vương Sùng Hỉ thấy thế liền lên tiếng thay: "Là lão nô bảo Ngô đại nhân làm vậy. Việc tìm kiếm tung tích giao nhân không phải chuyện nhỏ, không thể để người không liên quan cản trở. Những ngư dân này sống ở ven biển, không chịu rời đi, nên đành phải mạnh tay đuổi đi. Đây là bất đắc dĩ, mong quốc sư lượng thứ."
Đám quan binh vốn quen thói càn quấy, nói là đuổi dân, nhưng chẳng khác nào đám cướp, xông vào nhà dân đập phá lung tung, thấy thứ gì đáng giá liền chiếm làm của riêng. Có kẻ còn động tay động chân với các cô gái, khiến người nhà các cô liều chết ngăn cản, dẫn đến xung đột lớn.
"Trời đất nào còn công lý! Chúng tôi đang sống yên ổn ở đây, các người lại xông vào như thế, khác nào bọn cướp đốt giết cướp bóc?!"
Một lão nhân lên tiếng phẫn nộ, liền bị tên đội trưởng dẫn đầu đá ngã xuống đất, hắn cười lạnh nói: "Thiên hạ này là thiên hạ của hoàng đế! Hiện nay triều đình có lệnh, bệ hạ muốn tế trời, kẻ nào cản trở, lập tức trảm tại chỗ!"
Nói xong, hắn "xoạch" một tiếng rút ra thanh đao bên hông, thẳng tay chỉ vào lão nhân đang nằm trên đất. Đúng lúc đó, một thiếu nữ bật khóc, nhào tới chắn trước mũi đao: "Đừng giết cha tôi!"
Người đó chính là A Anh.
Đội trưởng thấy nàng dung mạo thanh tú, chẳng những không giận mà còn cười ha hả: "Không ngờ trong ngôi làng nhỏ bé này lại có một mỹ nhân như ngươi. Muốn giữ mạng sống cho cha ngươi cũng được, theo lão gia ta về làm vợ đi!"
Vừa nói, hắn vừa túm lấy nàng kéo lên, định giở trò sàm sỡ. A Anh hoảng sợ, khóc lóc giãy giụa, đến mức trang sức trên tóc rơi lả tả. Lâm bá sốt ruột muốn ngăn cản, nhưng lại bị mấy tên lính khác đá lăn lông lốc.
Tên đội trưởng giữ chặt A Anh, mắt lộ vẻ dâm ô: "Đúng là cô nương gan dạ, ta rất thích. Nếu còn không biết điều, đừng trách ta thô bạo, ngay tại đây xé toang áo ngươi!"
Vừa dứt lời, hắn định vươn tay, nào ngờ một ánh sáng trắng lóe lên trước mắt, một thanh trường kiếm xé gió đâm tới. Lưỡi kiếm lạnh buốt, chỉ trong nháy mắt đã cắt phăng bốn ngón tay của hắn.
Đội trưởng không kịp tránh, bị máu bắn đầy mặt. Hắn cúi đầu nhìn, thấy mấy ngón tay bị chém đứt lìa, sợ hãi hét lên một tiếng thảm thiết, đau đớn lăn lộn trên đất.
Thanh kiếm kia vút một tiếng cắm sâu vào đất, máu tươi theo lưỡi kiếm nhỏ xuống, nhuộm đỏ lớp cát dưới chân.
Đám lính bên cạnh sững sờ, chưa kịp hoàn hồn đã đồng loạt rút đao, tìm xem ai lớn gan dám động vào mệnh quan triều đình. Khi nhìn rõ người tới, bọn chúng lập tức quỳ rạp xuống hành lễ: "Tham kiến quốc sư! Tham kiến thứ sử đại nhân!"
Khúc Thuần Phong bước tới, từ từ rút thanh kiếm khỏi đất, tiện tay hất một cái, máu trên kiếm bắn ra, anh thu kiếm vào vỏ, ánh mắt lạnh băng, giọng nói nặng nề: "Các người gọi đây là đuổi dân làng sao?"
Đội trưởng ôm lấy bàn tay bị thương, ngã xuống đất cong như con tôm, đã đau đến sắp ngất, làm gì còn sức mà nói chuyện. Nhưng thủ hạ của hắn lại lanh trí, ánh mắt vô tình liếc qua, chợt thấy dưới đất có một viên giao châu không cẩn thận rơi ra từ người A Anh. Hắn vội bò đến nhặt lên, nhìn thấy viên châu chất lượng tuyệt hảo, liền nghĩ kế thoát tội, bèn bịa chuyện nói: "Quốc sư minh giám, quốc sư minh giám! Thuộc hạ phát hiện nữ tử này thân phận đáng nghi, vì vậy mới phải kiểm tra kỹ càng. Viên châu này giá trị liên thành, một cô gái nghèo như nàng sao có được? Nhất định là trộm từ nhà hào phú nào đó!"
Nói rồi, hắn quỳ rạp xuống đất, giơ cao viên châu màu xanh nhạt dâng lên trước mặt Khúc Thuần Phong. A Anh thấy thế sắc mặt tái nhợt, trong người như có luồng khí lạnh xộc lên, toàn thân máu đều dồn ngược. Nàng mềm nhũn cả chân, "phịch" một tiếng ngã ngồi xuống đất, chợt phản ứng lại, vừa bò vừa lăn tới muốn giật lại viên châu: "Không! Đó là do cha ta ra biển nhặt được từ vỏ sò, không phải trộm!"
Một tên lính đứng cạnh lập tức rút đao kề sát cổ nàng, quát lớn: "Trước mặt quốc sư, không được vô lễ!"
Khúc Thuần Phong nhíu chặt đôi mày, sợ rằng hành tung của giao nhân sẽ bị lộ. Anh định hủy đi viên giao châu kia ngay lập tức, nhưng không ngờ còn chưa kịp ra tay, đã thấy một bàn tay già nua từ bên cạnh vươn tới, cầm lấy viên châu ấy.
Vương Sùng Hỉ từ nhỏ đã hầu hạ bên cạnh Chiêu Ninh Đế, quốc khố cất giữ những bảo vật gì lão cũng biết rõ như lòng bàn tay. Thấy lão cầm viên lệ châu của giao nhân kia cẩn thận ngắm nghía hồi lâu, bỗng nhiên lên tiếng: "Lão nô thấy viên châu này không giống loại ngọc trai tầm thường."
Khúc Thuần Phong khẽ nhắm mắt, giọng nói lãnh đạm: "Độ trong suốt và sắc màu đúng là vượt trội hơn ngọc trai thông thường, nhưng cũng không đáng ngạc nhiên. Ta đến đây đã lâu, từng thấy không dưới mười viên tương tự."
Vương Sùng Hỉ lại không dễ dàng bị gạt, vừa cười vừa lắc đầu: "Quốc sư chưa biết, lệ châu của giao nhân và minh châu bình thường khác biệt rất lớn. Lệ châu phát ra sắc trắng ngà ánh nguyệt, hình dạng như giọt lệ. Nếu lão này nhớ không lầm, viên châu này giống hệt với lệ châu của giao nhân được cất giữ trong quốc khố ở Sở cung."
Lão vừa nói vừa nhìn về phía A Anh đang mặt mày tái nhợt, giọng điệu hòa ái: "Cô nương, viên châu này chắc chắn không phải lấy được từ vỏ sò, mà là lệ châu do giao nhân khóc thành."
Vương Sùng Hỉ nhấn từng chữ: "Cô nhất định đã gặp qua giao nhân."
A Anh hoảng sợ lắc đầu: "Không, tôi không biết các ngài đang nói gì cả. Giao nhân gì chứ? Viên châu này là do cha tôi ra khơi nhặt được."
Kally: Vừa edit vừa niệm phật để bản thân không nhào lên cào mặt nhỏ A Anh, đồng đội ngu như heo là ngay ở đây, ghét mấy con nhỏ ngu ngốc như vậy ghê, nói rồi không nghe đâu.
Chương 113
Lâm Bá cũng hồi phục tinh thần, vội vàng từ dưới đất đứng lên, chắn trước mặt A Anh:
"Quan gia, viên châu này thật sự là dân nghèo chúng tôi ra biển mà có được. Tổ tiên chúng tôi bao đời nay đều sống ở đây, chưa từng gặp qua giao nhân gì cả!"
Vương Sùng Hỉ vừa định nói tiếp, Khúc Thuần Phong đã ngắt lời lão, giọng nói nhàn nhạt, tựa như có chút bất mãn: "Chỉ là một viên châu tầm thường mà thôi. Nếu Vương công công còn tiếp tục dây dưa không dứt, chỉ e trời đã về chiều, chúng ta có thể chờ, nhưng bệ hạ liệu có chờ nổi không?"
A Anh và Lâm Bá đã nhận ra anh, đều hiện vẻ kinh ngạc nhưng không dám lên tiếng. Hiển nhiên họ không ngờ vị thư sinh nghèo khổ từng xin đường xin nước kia lại chính là quốc sư đương triều.
Vương Sùng Hỉ nghe anh nhắc đến bệ hạ, cũng không tiện làm gì thêm, cầm viên lệ châu giao nhân trong tay lắc lắc: "Quốc sư chưa biết, người khác có thể tạm không bắt, nhưng đôi cha con này nhất định phải giữ lại, chờ điều tra rõ ràng rồi mới xử lý sau."
Dứt lời, lão vung tay ra hiệu. Đám cấm quân được đưa từ trong cung ra lập tức tiến lên trói A Anh và Lâm Bá, ép họ lên thuyền. Vương Sùng Hỉ đã nói đến mức này, nếu Khúc Thuần Phong còn ngăn cản thì e rằng sẽ khiến người khác nghi ngờ dụng ý của anh, nên đành thuận theo.
Bọn họ làm lớn chuyện tìm kiếm trên mặt biển như thế này, ngay cả cá bình thường còn sợ đến mức không dám ngoi lên, huống hồ là giao nhân. Vì vậy Khúc Thuần Phong cũng không lo lắng, cứ để Vương Sùng Hỉ làm ầm ĩ càng lớn càng tốt.
Anh chỉ hy vọng giao nhân đó không ngốc đến mức tự mình xuất hiện...
Khúc Thuần Phong và Vương Sùng Hỉ lên cùng một chiếc thuyền, còn mười mấy chiếc khác chia ra đi tìm theo ba hướng đông, nam, tây. Ngoài ra, hàng trăm thợ lặn giỏi cũng xuống nước giăng lưới kín kẽ. Biết thì là tìm giao nhân, không biết còn tưởng đang truy bắt trọng phạm triều đình quan trọng lắm.
Cách này vừa ngu ngốc lại vừa tốn thời gian. Nếu giao nhân không hiện thân, chẳng khác nào mò kim đáy biển, dù mười năm cũng chưa chắc tìm được. Khúc Thuần Phong lại cố tình không nói, chỉ chọn một vị trí ngồi xuống, ánh mắt yên tĩnh nhìn mặt biển gợn sóng lên xuống.
Vương Sùng Hỉ đã có tuổi, lại lần đầu ngồi thuyền, không tránh khỏi bị say sóng, chưa đầy hai canh giờ đã gục bên lan can nôn không ngừng. Khúc Thuần Phong liếc nhìn một cái, sau đó thu hồi ánh mắt: "Vương công công không bằng lên bờ nghỉ ngơi đi. Nếu ngài xảy ra chuyện gì, ta cũng không biết phải ăn nói thế nào với bệ hạ."
Vương Sùng Hỉ uống liền mấy ngụm trà nóng mới khá hơn, mặt mày tái mét, được người hầu đỡ ngồi xuống. Lão thấy đám người Thiên Nhất Môn đứng một bên thờ ơ, còn Khúc Thuần Phong chẳng hề động tĩnh, dường như đang chế giễu lão, trong lòng không khỏi sinh tức giận, hướng về phía hoàng thành chắp tay nói lớn: "Bệ hạ tin tưởng quốc sư, coi ngài như cánh tay đắc lực, giao phó trọng trách. Nhưng hôm nay lão nô nhìn xem, hóa ra cũng chỉ đến vậy mà thôi. Thiên Nhất Môn có nhiều cao nhân dị sĩ, quốc sư chỉ ngồi trên thuyền tìm giao nhân như thế này sao?"
Minh Tuyên đứng bên cạnh nghe vậy, nghĩ thầm: Cái tên thái giám chết tiệt này, không ngồi trên thuyền tìm thì bọn họ còn biết làm gì? Nhảy xuống nước để chết chìm chắc?
Khúc Thuần Phong dường như không nghe ra lời châm chọc trong giọng nói của lão, vẫn ngồi yên không nhúc nhích, tựa như núi: "Nói ra thì hổ thẹn, ta và sư đệ đều không quen nước, thật sự là lực bất tòng tâm, khiến công công chê cười rồi."
Nghe vậy, mặt Vương Sùng Hỉ xanh đi rồi lại trắng, trắng rồi lại xanh, cuối cùng vì có phần e dè anh nên cố nén một hơi. Nhưng chưa được bao lâu, nhóm thợ lặn được phái đi đều lục tục quay về trong dáng vẻ thảm hại. Vì thời tiết lạnh, ai nấy đều rét run lập cập.
Vương Sùng Hỉ thấy vậy bước nhanh tới hỏi: "Có phát hiện tung tích của giao nhân không?"
Người đàn ông dẫn đầu quỳ trên sàn thuyền, đôi môi tái xanh vì lạnh, run rẩy nói: "Bẩm... bẩm đại nhân... Biển cả mênh mông... thuộc hạ thực sự khó mà tìm kiếm được..."
"Vô dụng!"
Vương Sùng Hỉ giận đến mức giọng cao vút, âm sắc chói tai như muốn vỡ ra. Lão gấp gáp đi tới đi lui trên boong thuyền, chẳng khác gì kiến bò trên chảo nóng. Cuối cùng, không biết nghĩ ra cách gì, lão bất ngờ đứng khựng lại: "Người đâu! Đưa hai cha con ngư dân kia lên đây!"
Khúc Thuần Phong nghe vậy liền mở bừng mắt, vẻ mặt không cảm xúc nhìn qua: "Công công định làm gì?"
Vương Sùng Hỉ cũng chẳng buồn giả vờ, hai tay chắp sau lưng, giọng nói châm biếm:
"Quốc sư đã không chịu ra sức, già này chỉ còn cách tự nghĩ cách thôi. Đôi cha con ngư dân này đã có lệ châu giao nhân, chắc chắn có liên quan đến giao nhân. Miệng bọn họ dù có làm bằng sắt, già này cũng phải bẻ ra."
Trong cung có không ít thủ đoạn tra tấn, mà Vương Sùng Hỉ lại là người từng lăn lộn để leo lên vị trí cao, quản lý toàn bộ nội đình gồm thái giám và cung nữ. Việc thẩm vấn vốn là sở trường của lão, đến mức người ta ngầm đặt cho lão biệt danh "Rắn cười" – miệng Phật tâm rắn, thủ đoạn độc ác.
A Anh và Lâm Bá rất nhanh bị binh lính áp giải lên boong thuyền, trói chặt vào cột. Vương Sùng Hỉ bước đến gần, cuối cùng dừng lại trước mặt A Anh: "Đúng là một cô nương xinh đẹp. Nếu bị ném xuống biển cho cá ăn, chẳng phải lãng phí tuổi xuân hay sao."
Lâm Bá sợ đến mức mặt mày tái nhợt: "Quan gia, tiểu nữ vô can, chúng tôi chỉ là những ngư dân an phận, chưa từng vi phạm pháp luật. Cầu xin ngài giơ cao đánh khẽ, cầu xin ngài!"
Vừa nói ông ta vừa nước mắt chảy dài, nếu không bị trói chặt, chỉ e đã quỳ xuống dập đầu rồi.
Vương Sùng Hỉ không hề động lòng, xoay cây phất trần trong tay: "Già này cũng không phải kẻ sắt đá. Chỉ cần các ngươi thành thật khai báo, lệ châu này từ đâu mà có, giao nhân phải tìm thế nào, ta nhất định sẽ tha cho các ngươi, còn cho hưởng vinh hoa phú quý, vô tận vô biên."
A Anh cắn chặt một câu không chịu sửa, lạnh lùng quay đầu đi: "Ta không biết cái gì là giao nhân lệ, lại càng không biết giao nhân là thứ gì. Chuỗi hạt này là A cha ta nhặt được ngoài biển."
Vương Sùng Hỉ nhìn ra nàng là người cứng đầu, không nếm khổ một phen thì e rằng không chịu mở miệng, liền vung tay phất tay áo, cười lạnh nói: "Người đâu, đem nàng ném xuống biển! Ta muốn xem thử cha nàng làm thế nào nhặt được giao nhân lệ này. Nếu cô nương có thể nhặt thêm một chuỗi giống hệt, bản gia sẽ kéo ngươi lên."
Vào thời tiết này, nước biển lạnh buốt đến thấu xương, ngay cả một đại hán rắn như sắt cũng khó mà chịu đựng, huống hồ là một nữ tử yếu đuối.
Tóc A Anh bị gió biển thổi tung, sắc mặt trắng bệch gần như trong suốt, không chút huyết sắc. Nghe vậy, nàng lập tức nhổ một bãi nước bọt, giọng đầy cứng cỏi: "Cẩu quan, có bản lĩnh thì giết ta đi!"
Khúc Thuần Phong nhớ đến lần trước khi mình giao đấu dưới nước với giao nhân tên A Tẫn kia, đối phương vì cứu A Anh mà thậm chí không tiếc mạng sống. Nếu thực sự trông thấy A Anh rơi xuống nước, e rằng hắn nhất định sẽ xuất hiện trên mặt biển. Anh khẽ vuốt đầu ngón tay, đang cân nhắc phải làm thế nào, thì hệ thống bỗng nhiên nhảy ra.
Hệ thống bay đến đáp xuống vai Khúc Thuần Phong, dùng đôi cánh gấp gáp vỗ nhẹ sau gáy anh: [Thân ái, cứu cô ấy đi mà!]
Khúc Thuần Phong nghĩ thầm rằng con yêu quái này thật ra cũng có lòng tốt. Thấy hai tên lính áp giải A Anh đang tiến về phía lan can, anh liếc nhìn Minh Tuyên. Người sau lập tức hiểu ý, dẫn theo người tiến lên chặn đường bọn chúng: "Dừng lại!"
Vương Sùng Hỉ thấy vậy thì trừng mắt: "Các ngươi to gan, còn không mau lui xuống!"
Người của Thiên Nhất Môn vẫn đứng sừng sững, cầm kiếm đối chọi. Ý định chống đối rõ ràng đến mức không thể rõ hơn. Cấm quân lập tức rút kiếm chĩa về phía họ, cả hai phe mơ hồ hình thành thế giằng co.
Vương Sùng Hỉ theo bản năng nhìn Khúc Thuần Phong, ngón tay run rẩy chỉ vào Minh Tuyên, giọng vừa giận vừa run: "Xin hỏi Quốc sư, Thiên Nhất Môn đây là muốn tạo phản sao?!"
Thiên Nhất Môn được hoàng quyền đặc ân, gặp quan không cần bái, chỉ cần nghe lệnh duy nhất từ một người, đó chính là hoàng đế đương triều. Nay hoàng đế không ở đây, sư phụ bị giam lỏng, bọn họ đương nhiên chỉ tuân lệnh một mình Khúc Thuần Phong.
Vương Sùng Hỉ thực sự không ngờ gan bọn họ lại lớn đến mức này. Nhìn quanh một lượt, thấy trên thuyền chỉ có hơn trăm cấm quân, không khỏi có chút hoảng:
"Trái lệnh hoàng thượng, đây chính là tội chết!"
Thiên Nhất Môn từ trước đến nay vốn là sư đệ nghe sư huynh, sư huynh nghe sư phụ, mà sư phụ lại nghe hoàng đế. Hiện giờ hoàng đế không có mặt, sư phụ bị giam cầm, bọn họ dĩ nhiên chỉ nghe lệnh một mình Khúc Thuần Phong.
Khúc Thuần Phong tạm thời không muốn xé rách mặt, nhìn ông ta một cái, dường như là cười, nhưng lại không thấy chút ý cười nào: "Vương công công không cần hoảng hốt. Chúng ta không hề có ý trái lệnh, chỉ là bệ hạ yêu dân như con. Cô nương này lại thân thể yếu ớt, ném xuống biển chỉ có đường chết. Truyền ra ngoài chẳng phải làm hoen ố thánh danh bệ hạ sao?"
Vương Sùng Hỉ luôn trung thành với Chiêu Ninh Đế. Nay Chiêu Ninh Đế bệnh nặng, cần gấp giao nhân để luyện dược trường sinh, một khắc cũng không thể chậm trễ. Trong lòng lão chỉ cảm thấy Khúc Thuần Phong cố ý ngáng đường, giận đến nghiến răng: "Chỉ là hai kẻ tiện dân mà thôi. Hôm nay dù chết ở đây, cũng là phúc phận của chúng. Quốc sư một mực ngăn cản, không phân tôn ti trên dưới, chẳng lẽ là mong muốn bệ hạ sớm ngày băng hà, đừng để phụ lòng Hồng đại nhân một phen dày công bồi dưỡng ngươi!"
Nghe ông ta hết lần này đến lần khác nhắc đến Hồng Quan Vi, ánh mắt Khúc Thuần Phong cũng lạnh đi: "Bệ hạ đã giao trọng trách cho ta, thì không dung kẻ khác chỉ tay năm ngón. Nói đến tôn ti, công công ngươi chỉ là một nội giám ngũ phẩm, lấy đâu ra cái gan dám lên mặt trước mặt ta?"
Lời vừa dứt, lòng bàn tay anh tụ khí huyền, tay áo khẽ phất liền giáng thẳng xuống chiếc ghế bên cạnh. Chỉ nghe một tiếng "ầm" vang lên, chiếc ghế gỗ lập tức vỡ vụn. Vương Sùng Hỉ sợ đến mức lảo đảo lùi lại, trong lòng kinh hoàng không dám hé răng nửa lời.
Khúc Thuần Phong lạnh lùng quét mắt nhìn quanh: "Còn kẻ nào dám làm trái, sẽ có kết cục như vậy."
Vương Sùng Hỉ ôm ngực, một hơi không thở nổi, chỉ khiến người ta cảm thấy hắn ngay sau đó sẽ ngất xỉu. Thị vệ vội đỡ ông ta gồi sang một bên, mời ngự y cùng đi theo bắt mạch châm cứu.
Minh Tuyên nhìn tình hình, lại nhìn sang A Anh: "Đại sư huynh, cô nương này phải xử trí thế nào?"
Khúc Thuần Phong: "Thả đi."
Vương Sùng Hỉ nghe vậy lập tức bật dậy khỏi ghế: "Không thể thả!"
Khúc Thuần Phong liếc nhìn ông ta một cái, Vương Sùng Hỉ lại rụt cổ, theo bản năng co người vào ghế, giọng không tự chủ mà hạ thấp xuống vài phần, nhưng vẫn cố nghênh cổ nói: "Không thể thả! Hai người này không thể thả. Chỉ cần dính líu đến tung tích của giao nhân đều không thể thả. Không làm tổn thương tính mạng cũng được, lên bờ rồi trực tiếp áp giải đến hình ngục, dọa chúng một chút, chúng tất sẽ khai!"
Nếu không phải trên thuyền không có dụng cụ tra khảo, Vương Sùng Hỉ đã sớm ra tay rồi.
A Anh nhìn thấu ý đồ của bọn họ là tìm kiếm giao nhân, bản thân dù sao cũng là đường chết, không khỏi tuyệt vọng đến cực điểm, đau khổ nhắm mắt lại.
Khúc Thuần Phong nghe vậy đang định mở lời, thì phía sau bỗng truyền đến một trận kinh hô, ngay sau đó là âm thanh nặng nề của vật thể rơi xuống nước. Theo bản năng quay đầu lại, chỉ thấy A Anh vậy mà xông qua sự ngăn cản của thị vệ, trực tiếp nhảy xuống biển. Vài cơn sóng ập đến, trong chớp mắt đã không còn thấy bóng dáng nàng.
Lâm Bá mày mắt đỏ ngầu hét lớn: "A Anh!"
Minh Tuyên cũng hoảng hốt: "Đại sư huynh, chúng ta phải làm gì đây? Trên người nàng còn buộc dây thừng!"
Khúc Thuần Phong bước đến bên lan can nhìn xuống, không phát hiện được tung tích của A Anh, trầm giọng ra lệnh: "Những ai biết bơi, lập tức xuống biển, đưa nàng trở lại cho ta!"
Những binh lính trên thuyền không ít người xuất thân từ thủy quân, nghe vậy lập tức cởi bỏ áo giáp, nhảy xuống biển như bánh chẻo. Vương Sùng Hỉ cũng chen chúc lại gần: "Mau mau mau, kéo người lên, tuyệt đối không để nàng chạy thoát!"
Quan phủ phái đi hàng chục chiến thuyền, lại còn ra sức xua đuổi ngư dân. Động tĩnh lớn như vậy, giao nhân làm sao có thể không hay biết? A Tẫn lo lắng cho gia đình Lâm Bá, vẫn luôn ẩn mình trong bóng tối. Vốn định mấy lần cứu người, nhưng lại bị đồng bạn ngăn cản, khó lòng thoát thân. Nay thấy A Anh nhảy xuống biển, cuối cùng không nhịn được nữa, liều mạng vùng vẫy bơi về phía chiến thuyền.
Vương Sùng Hỉ tuy mắt đã mờ, nhưng cũng không đến mức mù hẳn. Ông vốn đang đứng bên lan can quan sát tình hình, bỗng dưng thấy trên mặt biển xuất hiện một bóng dáng nửa trên là người, nửa dưới là cá lao đi rất nhanh. Tim hắn nhảy dựng lên, trợn trừng mắt, chỉ tay xuống mặt biển, hô lớn với binh sĩ: "Mau mau mau, giao... giao... giao nhân!"
Những binh sĩ kia vốn đang tìm kiếm tung tích của A Anh, bất chợt nghe tiếng hô của Vương Sùng Hỉ, không khỏi đồng loạt ngẩng đầu nhìn về phía thuyền. Chỉ thấy ông ta đang chỉ tay xuống mặt biển, vẻ mặt phấn khích như điên nói gì đó, nhưng sóng biển quá lớn, khoảng cách lại xa, nghe không rõ.
Khúc Thuần Phong nhấc mắt nhàn nhạt, nhìn về phía đám quan binh, nói: "Vương công công bảo các ngươi mau chóng cứu người, nghe không rõ sao?"
Lời vừa dứt, anh búng tay một viên đá nhỏ, âm thầm đánh trúng cổ chân Vương Sùng Hỉ. Ông ta đứng không vững, "bịch" một tiếng ngã thẳng từ lan can xuống, nặng nề đập xuống sàn thuyền.
Kally: Hai đứa này đúng là trời sinh một cặp, đi đâu cút luôn đi đừng liên luỵ tới nta coi, để hai đứa nó biến đi đi, thứ vô dụng, phải tôi tôi đấm cho mấy phát chứ ở đó mà cứu
Chương 114
Những quan binh đã xuống nước đương nhiên không thể tìm thấy A Anh, bởi nước biển lạnh buốt, lại thêm sóng lớn cuồn cuộn, bọn họ chỉ dám lặn lội ở vùng nước nông. Cuối cùng, không tìm được gì, họ lần lượt trồi lên mặt nước, bẩm báo:
"Đại nhân, chúng tôi không thấy tung tích cô gái ấy đâu cả!"
Khúc Thuần Phong đoán A Anh đã được A Tẫn cứu đi, đang định mở miệng ra lệnh cho họ quay lại, thì Vương Sùng Hỉ, vừa rồi ngã xuống, giờ lại tập tễnh chen lên lan can, chỉ xuống mặt biển, quát lớn: "Lũ ngu ngốc, vừa rồi giao nhân đã xuất hiện, các ngươi không nhìn thấy sao? Còn không mau đi bắt!"
Vương Sùng Hỉ vừa trông thấy giao nhân, lập tức quẳng mọi thứ khác qua một bên, liên tục ra lệnh cho thị vệ bên cạnh: "Mau triệu tập các thuyền khác lại đây! Còn nữa, truyền lệnh cho Thủy sư Đề đốc Vương Càn Minh, bảo hắn điều động toàn bộ hỏa pháo trợ chiến, nhất định phải bắt sạch giao nhân!"
Hỏa pháo này là thứ được truyền từ Tây Dương vào mấy năm trước, uy lực vô cùng lớn. Nhưng vì chế tạo tốn kém, không dễ vận chuyển, nên trừ khi đại chiến, không thể tùy tiện sử dụng. Lần này, Vương Sùng Hỉ đã hạ quyết tâm chơi bài sát ván.
Khúc Thuần Phong thu tầm mắt từ mặt biển về, lạnh nhạt nói: "Công công chẳng phải đã mờ mắt, nhìn lầm rồi sao? Chẳng phải trần thế làm gì có giao nhân, vừa rồi ta không thấy gì cả."
Vương Sùng Hỉ trong lòng đã quyết, đợi về kinh sẽ dâng tấu sớ tố cáo Khúc Thuần Phong trước mặt hoàng đế một phen, tạm thời nén lại không tranh chấp với anh, nhưng vẫn không chịu nhịn được mấy câu châm chọc mỉa mai: "Quốc sư đang độ xuân xanh, làm sao còn không bằng lão nhân mắt mờ này? Ta nói trước lời khó nghe, nếu không tìm được giao nhân, không chỉ Quốc sư, không chỉ toàn bộ Thiên Nhất Môn, mà ngay cả ta đây cũng sẽ rơi đầu!"
Thiên tử nổi giận, xác phơi trăm vạn, tuyệt không phải lời nói suông.
Các chiến thuyền vốn đã tản ra tìm kiếm, nay nhận được chỉ lệnh, liền lần lượt quay trở lại. Khúc Thuần Phong đứng trên boong thuyền, vuốt lại tay áo bị gió thổi loạn, nhàn nhạt nói: "Công công muốn nổ chết giao nhân, chẳng lẽ định để ta dùng xác chết luyện thuốc trường sinh cho bệ hạ?"
Vương Sùng Hỉ liếc nhìn anh, cười mà như không cười: "Nếu bắt sống được, đương nhiên là tốt nhất. Bắt không được, thì xác chết cũng là tốt rồi. Quốc sư đại nhân, ngài đừng kén chọn quá."
Nói xong, ông ta ra lệnh kéo Lâm Bá tới: "Lão già này cũng không còn giá trị nữa, chi bằng ném xuống biển luôn đi. Con gái lão đã có thể dẫn dụ giao nhân, nói không chừng chính lão cũng làm được!"
Ngự lâm quân nghe lệnh, đang định động thủ, thì một thanh kiếm dài bất ngờ chắn ngang, trực tiếp đánh trúng bả vai bọn họ. Khúc Thuần Phong ra tay nhanh như chớp, dù binh sĩ có áo giáp dày bảo vệ, vẫn bị đánh lảo đảo lùi về mấy bước.
Nếu nói ban đầu Vương Sùng Hỉ còn nghi ngờ Khúc Thuần Phong muốn tạo phản, thì giờ đây đã hoàn toàn chắc chắn. Ông ta kinh hãi, giọng nói run rẩy: "Khúc... Khúc Thuần Phong... Ngươi rốt cuộc muốn làm gì?"
Khúc Thuần Phong dù ban đầu cố ý ẩn mình vào làng chài, nhưng chung quy vẫn được Lâm Bá quan tâm chăm sóc không ít. Nay A Anh đã không rõ sống chết, anh tuyệt đối không thể để mặc Vương Sùng Hỉ đẩy người xuống biển nữa. Ánh mắt anh lạnh lẽo, nghiêm nghị nói: "Ta đã nói rồi, việc này bệ hạ đã giao cho ta, thì không để kẻ khác tự ý qua mặt."
Câu nói này không khác nào xé rách mặt nhau. Hiện tại, các chiến thuyền xung quanh đều đã tập hợp lại, ngự lâm quân cũng tập trung đông đủ. Vương Sùng Hỉ tự thấy có chỗ dựa vững chắc sau lưng, giọng nói cũng trở nên cứng rắn hơn vài phần, cười lạnh nói: "Đợi Quốc sư bắt được giao nhân rồi hẵng nói lời này cũng không muộn. Ta là phụng chỉ hành sự, kẻ trái lệnh sẽ bị chém! Ngươi nếu còn ngăn cản, đừng trách ta không nể tình! Người đâu, đem lão chài này ném xuống biển. Thiên Nhất Môn nếu có ai dám cản đường, giết không tha!"
Lúc hắn nói chuyện, không ai nhận ra rằng chiến thuyền đã dần dần lệch khỏi hướng đi ban đầu, lại còn đang tiến sâu vào lòng đại dương. Không biết có phải vì trời tối hay không, mà chân trời bắt đầu nổi lên những tầng mây đen cuồn cuộn, mặt biển tuy yên tĩnh nhưng lại mang theo cảm giác bão tố sắp ập đến.
Đúng lúc này, từ xa xa trên mặt biển bỗng vang lên một khúc ca mơ hồ, xa xăm. Tiếng ca theo gió biển truyền đến, không nghe rõ lời, cũng chẳng rõ giai điệu, nhưng lại khiến người nghe như bị mê hoặc, đầu óc choáng váng.
Vương Sùng Hỉ ban đầu đang ngập tràn lửa giận, nghe thấy tiếng ca thì ánh mắt đờ đẫn trong giây lát, lập tức trở nên quỷ dị im lặng. Không biết lão đã nhìn thấy gì, cả người dường như bị cuốn vào một giấc mơ đẹp đẽ, không thể thoát ra, ánh mắt tràn đầy ánh sáng kỳ vọng, từ từ ngồi bệt xuống lan can, hoàn toàn mất đi khả năng hành động.
Nhìn sang những người khác, ai nấy cũng đều không khác gì Vương Sùng Hỉ, binh sĩ đến vũ khí trong tay cũng không giữ nổi, đao kiếm rơi lả tả trên boong thuyền, tiếng leng keng không ngớt.
Khúc Thuần Phong cũng bị thần trí mơ hồ trong chốc lát, nhưng rất nhanh đã miễn cưỡng khôi phục được vài phần tỉnh táo. Anh vịn lấy lan can, khó khăn đứng vững, không biết có phải là ảo giác hay không, mà từ xa xa trên mặt biển dường như có không ít giao nhân hiện thân. Bài ca mê hoặc lòng người kia chính là từ miệng bọn họ phát ra.
Minh Tuyên lảo đảo bước đi, dáng vẻ như chìm trong cơn say sưa mộng mị: "Sư... sư huynh... đầu ta choáng quá... dưới chân cứ như có bông vậy..."
Không lâu sau, bầu trời bỗng nhiên mây đen dày đặc, kèm theo tiếng sấm rền vang dữ dội, lập tức đổ cơn mưa như trút nước. Những ngư dân có kinh nghiệm đều biết, ra khơi vào ngày bão là nguy hiểm nhất, chỉ cần sơ sẩy, sóng biển dâng lên có thể lật úp cả người lẫn thuyền.
Đại dương như một con mãnh thú đang ngủ say, tiếng sấm chớp tựa hồ đánh thức nó. Mặt biển xa xa lập tức nổi lên những cơn sóng dữ ngút trời, cao hơn cả thân thuyền, khi đánh tới khiến chiến thuyền kiên cố cũng chao đảo không ngừng, làm không ít người rơi "bõm" xuống nước.
Khúc Thuần Phong chật vật giữ vững thân mình trên boong thuyền. Mưa lớn trút xuống làm tầm nhìn của anh cũng trở nên mơ hồ. Anh nắm lấy vai một thủy sư, lực tay mạnh đến mức như muốn bóp nát xương vai đối phương, quát lớn: "Mau xoay thuyền đổi hướng, lập tức quay về bờ!"
Thủy sư kia vì đau đớn mà tỉnh khỏi ảo giác, nhìn thấy cảnh tượng gió mưa bão tố trước mắt, sợ đến hồn bay phách tán, vội vàng bò lăn bò càng về phía bánh lái. Nhưng chiến thuyền này quá lớn, chỉ dựa vào sức một người, căn bản không thể xoay được bánh lái. Hắn gào lên trong tuyệt vọng:
"Đại nhân! Gió lớn thế này, nếu đổi hướng thuyền chắc chắn sẽ va vào các thuyền khác. Chúng ta nên mau chóng bỏ thuyền thoát thân thì hơn!"
Lời vừa dứt, một con sóng lớn nữa lại ập tới, lần này thân thuyền nghiêng mạnh hơn, trực tiếp va vào một chiến thuyền gần đó. Chỉ nghe "rầm" một tiếng, cột buồm gãy đôi, đổ sập xuống boong thuyền, khiến sàn tàu thủng một lỗ lớn. Nước biển tràn vào không ngừng, thân thuyền đã ngập đến hai phần ba.
Khúc Thuần Phong thấy tình hình không ổn, lập tức dùng kiếm chém đứt dây trói trên người Lâm Bá: "Ông thông thạo sông nước, dưới kia có thuyền nhỏ, mau chóng thoát thân đi!"
Minh Tuyên vừa rồi không cẩn thận đập đầu vào cột buồm, nhờ cơn đau k.ích th.ích mà thoát khỏi ảo giác. Hắn nhìn thấy cảnh tượng trước mắt thì sững sờ, vừa đỡ lấy các sư huynh bên cạnh, vừa hoảng loạn nói: "Sư huynh! Thuyền sắp lật rồi, chúng ta phải làm sao bây giờ?!"
Lần này ra khơi, đám quan binh đều là những người tinh thông bơi lội, ngược lại đám người Thiên Nhất Môn, ai nấy đều là "cá trên cạn", không một ai biết bơi. Khúc Thuần Phong nhìn thấy trên mặt biển không xa có mấy chiếc thuyền nhỏ dùng để dò đường, nghiêm giọng nói: "Mau nhảy xuống tìm thuyền!"
Nếu chậm trễ, thuyền mà lật sẽ bị đồ nặng đè lên, khó mà thoát thân.
Minh Tuyên nghe vậy trợn tròn mắt, vì quá hoảng sợ mà giọng nói cũng biến dạng, lắp bắp: "Nhảy... nhảy... nhảy xuống?!"
Hắn không biết bơi, làm gì có gan nhảy xuống nước, sắc mặt trắng bệch.
Khúc Thuần Phong không có thời gian đôi co với họ, trực tiếp túm lấy cổ áo Minh Tuyên, một chưởng đẩy xuống nước. Các đệ tử khác đứng bên cạnh, nếu có người nào, liền bị anh vứt hết xuống biển, chỉ còn lại một sư đệ nhỏ tuổi nhất, khi thấy Khúc Thuần Phong nhìn sang, cậu ta run rẩy đứng bên lan can, líu lưỡi nói: "Sư... sư... sư huynh, huynh đừng qua đây, đệ... đệ tự nhảy."
Nói xong, cắn răng nhắm mắt, lấy hết can đảm "bõm" một tiếng nhảy xuống.
Khúc Thuần Phong thấy trên thuyền không còn người của Thiên Nhất Môn nữa, cũng nhảy xuống biển. Không bao lâu sau, chiến thuyền chìm dần xuống nước, "ầm" một tiếng đổ sụp, bắn tung lên sóng nước ngút trời, những mảnh ván gỗ trôi nổi xung quanh bị sóng đánh văng xa mấy chục mét.
Khoảnh khắc Khúc Thuần Phong rơi xuống nước, anh bản năng nhắm mắt nín thở. Nước biển lạnh lẽo bao phủ lấy anh, âm thanh quanh tai cũng trở nên mơ hồ không rõ. Anh còn chưa kịp tìm kiếm các sư đệ của mình, thì từ dưới đáy nước đột nhiên có một bàn tay lạnh buốt nắm lấy anh, sau đó vòng qua thắt lưng anh, đẩy anh nổi lên khỏi mặt nước.
Khúc Thuần Phong giật mình, theo phản xạ mở mắt ra, liền đối diện một gương mặt yêu mị, đôi mắt dài hẹp hơi nhếch lên. Không phải Lâm Uyên thì còn ai vào đây?
Tim Khúc Thuần Phong bỗng dưng lỡ mất một nhịp: "Sao ngươi lại ở đây?!"
Lâm Uyên lặng lẽ nhìn anh, đôi mắt xanh thẳm như mực không để lộ chút cảm xúc nào. Nghe xong lời anh nói, đôi mày dài khẽ nhướng lên, nheo mắt lại: "Câu này chẳng phải nên để ta hỏi ngươi mới đúng sao?"
Cậu vẫn đỡ lấy thân thể Khúc Thuần Phong, dường như đã quên mất rằng mình từng đưa giao châu cho người này. Anh căn bản không sợ nước.
Khúc Thuần Phong định lên tiếng giải thích, nhưng tình hình cấp bách, anh không có thời gian để nói nhiều, liền muốn thoát khỏi sự khống chế của Lâm Uyên. Nhưng móng tay sắc nhọn của đối phương tựa như được đúc bằng sắt thép, không hề nhúc nhích. Lông mày anh nhíu chặt, hiếm khi để lộ vẻ sốt ruột, trầm giọng nói: "Các sư đệ của ta không biết bơi, nếu ở dưới nước quá lâu sẽ nguy hiểm đến tính mạng!"
Dường như để chứng minh lời anh nói, Minh Tuyên ở phía xa trên mặt biển đang vùng vẫy loạn xạ, nước bắn tung tóe, liên tục sặc nước, gào to: "Sư huynh cứu mạng! Khụ khụ... Ta không biết bơi! Cứu mạng!"
Lâm Uyên liếc mắt nhìn qua, sau đó lạnh lùng thu tầm mắt lại: "Bọn họ đều là kẻ xấu."
Khúc Thuần Phong dùng hết sức bẻ tay cậu ra:"Họ và ta đều là người giống nhau."
Nghe vậy, Lâm Uyên có chút tức giận: "Ngươi!"
Đám quan binh kia săn giết giao nhân, tàn hại dân lành, chẳng lẽ Khúc Thuần Phong cũng muốn giống bọn chúng sao?
Trong lúc Lâm Uyên còn đang phân tâm, Khúc Thuần Phong liền thoát khỏi cậu, bơi về phía xa, kéo Minh Tuyên đang sắp chìm lên một mảnh gỗ trôi nổi. Nhưng sóng gió ngày càng dữ dội, chỉ trong chốc lát, các đệ tử Thiên Nhất Môn vốn đã phân tán khắp nơi liền bị sóng đánh tan tác. Đợi đến khi Khúc Thuần Phong cứu được người, thì đã muộn mất rồi.
Thấy Lâm Uyên vẫn đứng yên tại chỗ không nhúc nhích, một giao nhân bơi đến bên cạnh cậu, giọng nói lo lắng: "Vương, Lâm Bá đã được cứu rồi, chúng ta mau rút lui thôi."
Lâm Uyên nhíu chặt đôi mày dài, nhưng không lập tức rời đi, chỉ nói: "Đưa đám người mặc áo trắng kia theo."
Dứt lời, cậu lại lặn xuống nước, chiếc đuôi cá màu xanh thẫm vẫy lên một làn sóng.
Khúc Thuần Phong đang chuẩn bị đi cứu một sư đệ khác, thì thấy xung quanh đột nhiên xuất hiện rất nhiều giao nhân. Bọn họ cứu lấy những đệ tử Thiên Nhất Môn bị phân tán, rồi bơi về phía đông của đại dương. Anh ngẩn người ra, đúng lúc này, Lâm Uyên bất ngờ bơi đến, nắm chặt cổ tay anh, vừa giận vừa hận nói: "Còn không mau đi, lát nữa sóng lớn nổi lên thì không thoát được đâu."
Nói xong, không đợi anh trả lời, cậu liền kéo anh bơi nhanh về phía đông. Phía sau, hơn chục chiến thuyền vì bị sóng đánh trúng mà lần lượt va vào nhau, từng chiếc một chìm xuống.
Chương 115
Minh Tuyên trong nước vùng vẫy điên cuồng, gần như chỉ còn nửa cái mạng. Trong cơn mơ hồ, hắn chỉ cảm thấy có một bàn tay lạnh buốt vòng qua eo mình, kéo hắn bơi về phía xa.
Mắt của Minh Tuyên bị nước biển làm cho cay xè không mở ra được, đôi tay quơ quào loạn xạ: "Sư huynh, là huynh sao sư huynh?!"
Đầu ngón tay hắn vô tình chạm phải thân thể tr.ần tr.ụi của giao nhân, liền lập tức rụt về như bị điện giật. Trong lòng kinh hãi vô cùng, đây chắc chắn không phải Khúc Thuần Phong. Khúc Thuần Phong làm sao mà không mặc y phục chứ!
Minh Tuyên hoảng loạn: "Ngươi... ngươi là ai?!"
Giao nhân kia liếc nhìn hắn một cái, có lẽ cảm thấy hắn quá ồn ào, liền trực tiếp ấn đầu Minh Tuyên xuống nước. Đợi đến khi hắn uống nước đến không nói được nữa, mới tiếp tục bơi về phía một hòn đảo nhỏ ở phương đông.
Lúc này, đám quan binh đã phát hiện tung tích của họ, đương nhiên không dừng lại gần đó. Minh Tuyên chỉ cảm thấy mình bị ngâm trong nước rất lâu, người kia cũng kéo hắn bơi rất lâu. Cuối cùng, hắn bị quăng lên một hòn đảo hoang vu—
Cùng với một nhóm sư huynh đệ Thiên Nhất Môn.
Lâm Uyên vẫn ôm chặt eo Khúc Thuần Phong, tuy đã bơi đến gần bờ, nhưng lại không chịu để anh lên. Mái tóc dài màu xanh thẫm của cậu xõa tung trên mặt nước, nơi cổ đeo một miếng ngọc cổ được xâu bằng dây tơ đỏ, nổi bật trên làn da trắng nhợt pha xanh, trông đặc biệt chói mắt.
Lâm Uyên lặng lẽ nhìn anh, giọng nói lạnh lùng, mang theo vài phần tức giận kìm nén: "Ngươi và đám quan binh đó là một phe sao?"
Cậu khẩn thiết hy vọng đối phương sẽ phủ nhận.
Khúc Thuần Phong vốn không phải người giỏi giải thích, hoặc có lẽ lời của Lâm Uyên cũng không hẳn sai. Anh ngâm mình trong làn nước lạnh lẽo, người không còn chút hơi ấm, ngay cả sắc mặt cũng nhợt nhạt. Nghe vậy, anh trầm mặc một lúc, rồi mới mở miệng:"... Ta là quốc sư Đại Sở, phụng mệnh bệ hạ, bắt giao nhân luyện thuốc trường sinh."
Anh gần như thản nhiên nói ra những lời này, dường như hoàn toàn không để tâm đến việc móng tay sắc nhọn của giao nhân có thể dễ dàng xé nát máu thịt trên thân thể anh thành từng mảnh.
Lâm Uyên hoàn toàn không ngờ Khúc Thuần Phong còn có thân phận như vậy. Đồng tử màu xanh thẫm của cậu co rút lại thành một đường thẳng, giống ánh mắt của loài rắn, phát ra thứ ánh sáng vô cơ khiến người ta không khỏi rùng mình: "Ngươi muốn bắt chúng ta để luyện thuốc?"
Khúc Thuần Phong khẽ nhắm mắt lại, có chút không biết phải trả lời thế nào. Anh chỉ có thể gỡ tay Lâm Uyên ra, loạng choạng quay người trèo lên bờ, từng bước đi kiểm tra tình trạng của các sư đệ. Tuy rằng phần lớn đều đã hôn mê, nhưng may mắn là không ai mất mạng.
Lâm Uyên thấy anh không để ý đến mình, định tiến lên, nhưng một giao nhân bên cạnh đã đưa tay kéo lại, thấp giọng cảnh báo: "Vương, đám người này rất nguy hiểm, không nên đến gần bọn chúng!"
Lâm Uyên không để tâm, cậu chăm chú nhìn bóng lưng Khúc Thuần Phong, hiếm khi thể hiện sự cố chấp, hy vọng đối phương có thể quay lại giải thích điều gì đó. Nhưng Khúc Thuần Phong không làm gì cả, chỉ đưa lưng về phía cậu, rất lâu vẫn không quay đầu lại, dường như không biết phải đối mặt với cậu thế nào.
Rốt cuộc vẫn đi đến bước đường này.
Khúc Thuần Phong nhắm mắt, chậm rãi siết chặt thanh kiếm trong tay, trong lòng mơ hồ cảm thấy hối hận. Có lẽ việc anh lẻn vào ngôi làng chài từ đầu đã là một sai lầm. Hiện tại, tiến thoái lưỡng nan, chẳng làm được gì, thậm chí kết cục còn tồi tệ hơn cả kiếp trước khi trực tiếp đồ sát cả làng.
Không biết từ khi nào, mưa gió dần dần ngớt đi, nhưng màn đêm càng thêm dày đặc. Gió lạnh rít qua, thổi khô quần áo trên người anh, nhưng lại khiến cơ thể lạnh buốt từ trong ra ngoài.
Khúc Thuần Phong ngồi khoanh chân trên mặt đất, quen dùng vẻ mặt bình thản để che giấu sự hỗn loạn trong lòng. Đôi tai anh khẽ động, nghe thấy bên kia truyền đến tiếng khóc khe khẽ, tựa như của Lâm Bá và A Anh.
A Anh đã được cứu lên. Nàng nằm ngã trên đất, mái tóc tán loạn, môi tím tái, đã lạnh đến mức không thốt nên lời. Lâm Bá nhìn thấy dáng vẻ này của con gái, không khỏi rơi nước mắt, vừa đỡ nàng dậy, vừa đau lòng trách mắng: "Đứa nhỏ ngốc, cha cực khổ nuôi con lớn đến chừng này, sao con lại nghĩ quẩn như vậy? Nếu con chết rồi, để cha lại một mình, sau này cha biết làm sao đi gặp mẹ con dưới cửu tuyền?!"
A Anh chỉ biết khóc, gục trong lòng ông nức nở không thành tiếng. Nàng suy cho cùng chỉ là một nữ tử yếu ớt, sợ mình bị quan binh bắt lại giam cầm, chịu nhục hình không chịu nổi mà tiết lộ tung tích của A Tẫn và những người khác. Nàng cũng không biết Khúc Thuần Phong là bạn hay thù, đầu óc rối bời nên mới nghĩ đến việc nhảy xuống nước tự vẫn. Giờ đây được cứu lên, nàng mới cảm thấy sợ hãi, nước mắt cứ thế tuôn rơi: "Cha ơi... con... con sai rồi..."
Những năm trước, thiên hạ chiến loạn không ngừng, bốn phương phân tranh, triều đình khắp nơi bắt lính đi đánh trận, khiến các gia đình mất hết lao động chính. Lại thêm hạn hán kéo dài nhiều năm, lương thực chẳng thu hoạch được gì, phần lớn dân chúng phải rời bỏ quê hương, tìm nơi nương thân.
Tổ tiên của Lâm Bá vốn là một nhánh quân đội dưới trướng của tiền triều Vị Viễn Tướng Quân Vương Lăng Tùng. Vì không muốn bị hôn quân áp bức, họ đã nhân lúc hỗn loạn trên chiến trường mà mang theo gia quyến chạy trốn, đi đường thủy để tránh sự truy đuổi của triều đình. Nào ngờ giữa đường gặp gió bão, thuyền lật. May thay được giao nhân cứu giúp, họ mới giữ được tính mạng.
Vì cảm kích ân đức của giao nhân, họ đã thề không tiết lộ sự tồn tại của giao nhân ra thế giới bên ngoài, từ đó định cư nơi đây, sinh sống và bảo vệ ngôi làng nhỏ suốt hơn hai trăm năm.
Thế nhưng thiên hạ rốt cuộc vẫn không có bức tường nào kín gió. Chiêu Ninh Đế hoang đường vô đạo, mộng tưởng trường sinh bất tử, trực tiếp nhắm đến tộc giao nhân. Cuộc sống yên bình của dân làng cứ thế bị phá vỡ.
Dường như nhận ra nội tâm của Khúc Thuần Phong không yên ổn, hệ thống lặng lẽ bay ra, thấp giọng an ủi anh: [Có đôi khi, cuộc đời là như vậy, không thể vẹn toàn đôi đường.]
Thật ra, Khúc Thuần Phong không phải người xấu. So với những người ký chủ trước, anh thậm chí chẳng có ác ý gì. Cùng lắm anh chỉ là một thần tử bị tư tưởng phong kiến tẩy não quá mức, tận trung đến ngu muội.
Hoặc cũng có thể không phải ngu trung. Anh chỉ đơn thuần muốn bảo vệ một dòng dõi của sư môn dưới áp lực của hoàng quyền. Hồng Quan Vi bệnh nặng, bị cầm cố, các sư đệ bên dưới lại chẳng ra gì, chỉ có anh gánh vác trách nhiệm này.
Khúc Thuần Phong vừa xem sư huynh đệ như tay chân, lại vừa kính sư trọng đạo, làm sao có thể là một kẻ máu lạnh? Ngay từ ngày anh thả Lâm Uyên về biển, tâm cảnh của anh đã thay đổi, không còn thờ ơ trước sinh mạng vô tội như trước kia.
Nghe hệ thống nói, thân hình anh khựng lại, giọng nói khàn khàn: "Các hạ đã là thần, có thể chỉ dạy tại hạ phải làm thế nào được không?"
Anh không thể giết giao nhân, nhưng cũng không thể trơ mắt nhìn sư đệ mình độc phát mà chết, hoàn toàn tiến thoái lưỡng nan.
Hệ thống hừ hừ không đáp, trong lòng nghĩ vị ký chủ này thật thay đổi xoành xoạch. Trước kia còn mắng mình là yêu nghiệt, giờ lại gọi là thần. Nó khẽ vỗ cánh, nói: [Thần chỉ có thể cứu các ngươi, nhưng đường là do các ngươi tự chọn.]
[Ngươi cứ việc thiện lương, trời xanh tự sẽ có an bài...]
Thế gian này đã phân rõ thiện ác, cũng có báo ứng và ân huệ. Khúc Thuần Phong kiếp trước gặp báo ứng, kiếp này liệu có nên hành thiện để nhận một lần ân huệ?
Hệ thống dùng cánh vỗ nhẹ lên vai anh: [ Ngươi biết không, cơ hội làm lại một lần thật ra rất khó có được, còn quý giá hơn cả trường sinh bất lão. Đừng lãng phí, cũng đừng phụ lòng.]
Khúc Thuần Phong không rõ là đã nghĩ thông suốt hay chưa, chỉ trầm mặc không nói, rất lâu chẳng thốt một lời. Cho đến khi Lâm Uyên bất thình lình bơi đến trước mặt anh, từ dưới nước trồi lên, anh mới ngơ ngác ngẩng đầu.
Lồng ng.ực Lâm Uyên phập phồng kịch liệt, rõ ràng vẫn còn chưa nguôi giận. Cậu liếc nhìn anh, lạnh giọng nói: "Ta không nên cứu ngươi."
Khi thốt ra câu này, môi cậu mím chặt, mang theo vài phần tức giận trẻ con. Không biết có phải vừa khóc hay không, mà vành mắt hơi đỏ lên.
Khúc Thuần Phong cũng cảm thấy cậu không nên cứu mình. Nhưng hết lần này đến lần khác, Lâm Uyên vẫn cứu. Trên mái tóc của anh, chiếc ngọc quan khắc thái cực dưới ánh trăng lóe lên một tia sáng dịu nhẹ. Anh thấp giọng đáp:"Ngươi quả thật không nên cứu ta..."
Câu nói này còn khiến người ta tức giận hơn cả cãi nhau. Lâm Uyên nghe vậy, lập tức kéo Khúc Thuần Phong từ bờ xuống, nắm chặt cổ tay anh, không thốt một lời, bơi thẳng ra xa. Khúc Thuần Phong không biết cậu muốn làm gì, nhưng cũng không giãy dụa, để mặc cậu đưa mình rời khỏi nơi đó.
Biển cả mênh mông không biết rộng bao nhiêu nghìn dặm, đảo nhỏ tự nhiên nhiều như sao trời. Lâm Uyên cũng không bơi xa lắm, chỉ dừng lại ở một hòn đảo nhỏ thanh tịnh gần đó, sau đó kéo Khúc Thuần Phong lên bờ, áp anh xuống dưới thân. Mái tóc dài màu xanh thẫm của giao nhân rũ xuống, dưới gió đêm phất qua gương mặt anh, gợi lên một cảm giác nhột nhạt.
Phần thân dưới của cả hai vẫn ngâm trong nước, móng tay sắc nhọn của Lâm Uyên dí sát vào yết hầu của Khúc Thuần Phong, đôi mắt xanh thẳm ngoài yêu khí ra còn mang theo sự nguy hiểm không lời:
"Ngươi tin không, ta có thể giết ngươi ngay bây giờ!"
Đáp lại của Khúc Thuần Phong là nhắm mắt, mặc kệ cậu muốn xử trí thế nào. Thế nhưng, đợi mãi vẫn chẳng thấy đau đớn như dự liệu, chỉ cảm nhận được môi dưới bất chợt bị cắn, một cơn đau tựa như kim châm truyền đến.
Khúc Thuần Phong kinh ngạc mở mắt, lại không kịp đề phòng mà đối diện với đôi đồng tử xanh thẳm như mực của Lâm Uyên. Anh nắm lấy bờ vai của đối phương, tựa hồ muốn đẩy ra, nhưng chẳng rõ vì sao do dự mãi, cuối cùng lại càng siết chặt hơn, lật người đặt cậu xuống dưới thân, cúi đầu hôn lên môi cậu.
Cả hai đều cần một cách để phát tiết.
Khúc Thuần Phong hiếm khi chủ động hôn Lâm Uyên, nhưng đêm nay trong lồng ng.ực tựa hồ có một ngọn lửa đang bừng cháy, thiêu đốt đến mức phế phủ cũng đau nhức. Anh nâng gương mặt trơn nhẵn, mịn màng của giao nhân mà v.uốt ve, chỉ cảm thấy xúc cảm lạnh lẽo như ngọc, đôi môi mềm mại đỏ thắm bị anh ngậm lấy, chiếm đoạt không chút do dự. Những ngón tay thon dài len lỏi qua mái tóc xanh đậm như mực, đối lập sắc màu rõ rệt.
Bàn tay anh dần trượt xuống dưới, lại chạm phải lớp vảy lạnh lẽo trên chiếc đuôi cá của Lâm Uyên, tựa như đang chạm vào một tác phẩm nghệ thuật tinh xảo. Đây là lần đầu tiên trong đời anh cảm nhận kỹ càng đến thế, cuối cùng mới dừng nụ hôn lại, thở dồn dập mà nói: "Chân."
Dưới sự mê hoặc của giao nhân tuyệt sắc trước mặt, Khúc Thuần Phong sớm đã không còn là chàng trai ngây ngô đến mức xấu hổ chỉ vì nhìn trộm cô nương ngày trước nữa. Anh khẽ đè lên chiếc đuôi của Lâm Uyên, dùng chút lực, lặp lại một lần nữa: "Chân."
Lâm Uyên nằm trên bãi cát mềm ẩm, mở mắt lặng lẽ nhìn anh. Một lúc lâu sau, chiếc đuôi cá khẽ động, dần hóa thành một đôi chân thon dài mạnh mẽ, không chút tì vết, đẹp đến mức hoàn mỹ.
Khúc Thuần Phong nắm lấy cổ chân của cậu, v.uốt ve phần mắt cá tinh tế, lại cúi xuống hôn cậu lần nữa.
Lâm Uyên ngửa đầu bất lực, tuy không đau nhưng khi đôi chân bị tách ra, vẫn luôn có cảm giác như chiếc đuôi cá bị xẻ đôi, trong lòng không khỏi sinh ra một nỗi bất an mơ hồ. Bản năng muốn khép lại, nhưng kết quả cuối cùng vẫn là bị Khúc Thuần Phong mạnh mẽ tách ra.
.
Minh Tuyên cùng những người khác ngất lịm vì sặc nước suốt cả đêm, đến sáng sớm khi mặt trời vừa lên mới lần lượt tỉnh lại. Minh Tuyên chỉ cảm thấy cổ họng khô khốc, ôm đầu loạng choạng đứng dậy, nhìn thấy cảnh tượng trước mắt thì sững sờ.
Chỉ thấy bọn họ đang ở trên một hòn đảo giữa biển, xung quanh thỉnh thoảng lại có vài giao nhân nửa thân trên là người, nửa thân dưới là cá bơi qua. Có lẽ họ không thường xuyên thấy con người, nên thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn sang, âm thầm quan sát Minh Tuyên và những người khác.
Minh Tuyên thoạt đầu giật mình, sau đó hoàn hồn, ngó quanh một vòng, vui mừng hét lớn: "Đại sư huynh! Mau đến bắt giao nhân này!!!"
Lời vừa dứt, những giao nhân đang bơi lội ở trong nước lập tức đồng loạt quay đầu lại. Hàng chục đôi mắt lạnh lùng nhìn chằm chằm hắn.
Minh Tuyên: "..."
Tình huống hiện tại là, số lượng giao nhân > số lượng đệ tử Thiên Nhất Môn.
Tác giả có lời muốn nói: Tác giả kun: Ngươi nghĩ kỹ xem rốt cuộc là ai bắt ai
Chương 116
Ý nghĩ của Minh Tuyên rất đơn giản: Nếu trên đời thực sự có giao nhân, vậy thì bắt về giao nộp là xong chuyện. Nhưng vừa mở lời, hắn mới phát hiện ra có gì đó không ổn. Bị ánh mắt của những giao nhân kia nhìn chằm chằm lạnh buốt cả sống lưng, cơ thể hắn cũng cứng đờ.
Đại sư huynh của hắn đâu rồi? Đại sư huynh đâu rồi?!
Minh Nghĩa thấy tình thế không ổn, lén kéo tay áo Minh Tuyên, mặt đầy ngượng ngùng, hạ giọng thúc giục: "Nhị sư huynh, huynh đừng hét nữa!"
Nơi này rõ ràng là địa bàn của người ta, còn la hét gì mà bắt giao nhân, chẳng phải tự tìm đường chết sao? Đến Trư Bát Giới cũng không ngốc đến mức này!
Minh Tuyên ở dưới tay Khúc Thuần Phong – một người tựa Diêm Vương sống – khổ sở cầu sinh bao nhiêu năm, đừng nói gì khác, bản lĩnh nhìn mặt đoán ý đã đạt đến trình độ cao siêu. Phản ứng ngay lập tức, hắn lui lại một bước, cảm thấy chưa đủ an toàn lại lui thêm một bước, lắp bắp nói với những giao nhân kia: "Tại hạ chỉ đùa... chỉ đùa thôi..."
Một giao nhân đuôi vàng nghe vậy thì bật cười khinh khỉnh, chiếc đuôi dài duyên dáng quẫy nhẹ một cái, nước bắn tung tóe lên người Minh Tuyên:
"Đồ ngốc."
"?!"
Minh Tuyên không kịp đề phòng, bị nước hất đầy người, nghe thế thì giận đến mức suýt nhảy dựng lên. Trong lòng thầm nghĩ giao nhân này trông chẳng khác gì con cá vàng nhỏ trong ao hoàng cung, dựa vào đâu mà mắng hắn ngốc? Hắn liền xắn tay áo, muốn lao lên lý luận, nhưng bị Minh Nghĩa kéo lại, giữ chặt không cho tiến lên. Chỉ nghe Minh Nghĩa thấp giọng khuyên nhủ:
"Nhị sư huynh, hiện tại đại sư huynh không có ở đây, chúng ta đừng gây xung đột với bọn họ, kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt."
Minh Tuyên nghe xong cảm thấy rất có lý, lập tức rụt chân lại: "Đệ nói phải, kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt."
Minh Nghĩa: "..."
Đệ tử Thiên Nhất Môn lần lượt tỉnh lại, đều cảm thấy có điều bất thường, theo bản năng tụ tập thành nhóm. Rõ ràng cũng phát hiện tình huống không đúng, nhìn quanh một vòng nhưng không thấy bóng dáng Khúc Thuần Phong, không khỏi lo lắng hỏi:
"Đại sư huynh đâu rồi?"
"Đúng vậy, sao không thấy đại sư huynh?"
"Chẳng lẽ bị bọn giao nhân này bắt đi rồi?"
Đệ tử Thiên Nhất Môn hoàn toàn không hay biết, vị đại sư huynh mà họ ngày đêm mong nhớ, kỳ thực chẳng phải ở đâu xa, mà ngay trên một hòn đảo nhỏ không cách đó bao xa.
---
Trải qua một đêm triền miên, Lâm Uyên đã kiệt sức. Cậu nằm trên chiếc áo ngoài của Khúc Thuần Phong, mái tóc dài xanh thẫm che đi phần lớn cơ thể, đôi chân vì giữ một tư thế quá lâu mà đã không khép lại được nữa. Sau khi chậm rãi điều chỉnh, cậu mới khôi phục hình dạng đuôi cá, chỉ là thoạt nhìn có chút ủ rũ.
Khúc Thuần Phong ngồi bên cạnh, nghĩ lại chuyện xảy ra tối qua, nhắm mắt xoa xoa huyệt thái dương. Anh đã không còn nhớ lần cuối cùng mình thất thố đến mức này là khi nào. Đuôi mắt vô tình liếc sang Lâm Uyên, thấy đối phương dường như sắp tỉnh lại, liền bất giác cứng đờ thân mình.
Lâm Uyên tỉnh lại, cảm giác đầu tiên là đuôi cá đau nhức, tựa như bị ai đó xé toạc. Cảm giác thế nào cũng không đúng, cậu không khỏi nhíu đôi mày thanh tú, theo bản năng muốn ngồi dậy, lại vì toàn thân đau nhức mà ngã xuống lần nữa.
Khúc Thuần Phong tay mắt lanh lẹ, đỡ lấy cậu, nhíu chặt mày, thấp giọng hỏi: "Ngươi sao rồi?"
Người này lúc nào cũng giống khúc gỗ, vậy mà trong giọng điệu hiếm hoi lộ ra vài phần lo lắng.
Lâm Uyên không biết nên tức giận hay nên vui mừng, đôi mắt dài hẹp nheo lại, bất ngờ túm lấy cổ áo Khúc Thuần Phong, ép anh lại gần mình: "Ngươi chẳng phải muốn bắt giao nhân luyện thuốc sao? Sao không bắt ta về?"
Khúc Thuần Phong không nói lời nào.
Lâm Uyên ghét nhất là lúc anh im lặng. Tâm tư con người quanh co khúc khuỷu, cậu làm sao đoán được Khúc Thuần Phong đang nghĩ gì. Ngón tay siết chặt đến mức xanh xao: "Ngươi sao không mang ta về luyện thuốc?"
Khúc Thuần Phong nhíu mày, đôi mắt lạnh lẽo nghiêm nghị trước sau như một: "Ta sẽ không giết ngươi."
Nếu Khúc Thuần Phong thực sự muốn giết cậu, cả tộc giao nhân đã chẳng còn tồn tại đến hôm nay.
Khi quan binh ra biển tìm bắt giao nhân, Lâm Uyên đã lặn dưới đáy biển, nhìn thấy hết thảy. Cậu đã thấy Khúc Thuần Phong mấy lần cứu A Anh và Lâm Bá, cũng thấy anh xảy ra xung đột với một thái giám già mặc quan phục.
Cậu biết... cậu biết Khúc Thuần Phong không phải người xấu...
Nhưng anh lại chẳng buồn giải thích một lời, khiến cậu tức đến nghiến răng nghiến lợi.
Lâm Uyên nhìn chăm chăm vào mắt Khúc Thuần Phong, một lát sau, cuối cùng cũng buông lỏng đầu ngón tay. Khúc Thuần Phong cúi mắt nhìn tay mình, ngón tay khẽ động, dường như muốn làm gì đó, nhưng lại chần chừ không nhúc nhích.
Lâm Uyên nghĩ, tại sao mình lại chọn một khúc gỗ làm bạn lữ chứ? Thật khiến cá tức chết mà! Đuôi cá vung mạnh, cậu lập tức bơi xuống nước, bỏ lại một chiếc áo ngoài nằm trơ trọi trên đất. Từ mặt nước, cậu nổi lên, thấy Khúc Thuần Phong vẫn không nhúc nhích ngồi nguyên tại chỗ, bèn ngước mắt nhìn anh:"Không đi sao? Muốn ở đây cả đời à?"
Khúc Thuần Phong nghe vậy mới hoàn hồn, đứng dậy khỏi mặt đất, nhặt chiếc áo ngoài lên, giũ sạch cát, rồi mới bước xuống nước. Lâm Uyên thấy anh chậm chạp thì trực tiếp kéo anh xuống, mang theo Khúc Thuần Phong bơi về phía hòn đảo nhỏ trước đó.
Dù là trúng độc nặng hay Hồng Quan Vi bị giam lỏng, Khúc Thuần Phong đều không muốn nói ra. Anh nhạy bén nhận ra Lâm Uyên đang tức giận, nhưng điều anh có thể làm chỉ là im lặng đối mặt: "... Tại hạ có nỗi khổ tâm, không phải cố ý sát sinh."
Tuy vẫn chẳng tiết lộ thông tin gì, nhưng câu nói như không phải lời giải thích này, đối với tính cách của Khúc Thuần Phong mà nói đã là rất hiếm thấy. Cơn giận của Lâm Uyên lập tức giống như quả bóng bị kim châm, nhanh chóng xì hơi. Cậu dứt khoát dừng lại, quay người nhìn Khúc Thuần Phong: "Ngươi có nỗi khổ tâm gì, ta giúp ngươi."
Khúc Thuần Phong lại nói: "Ngươi không giúp được."
Anh vừa dứt lời, ánh mắt đã nhìn thấy Lâm Uyên để trần nửa thân trên, vai và cổ đầy những dấu vết ám muội, trông vô cùng bắt mắt. Ký ức đêm qua dần quay trở lại, anh không khỏi có chút mất tự nhiên. Khúc Thuần Phong cởi áo ngoài khoác lên người Lâm Uyên, nhíu mày, trầm giọng bảo:
"Không được cởi ra."
Thiên Nhất Môn vẫn còn nhiều sư đệ, lỡ bọn họ nhìn thấy thì sao...
Lâm Uyên khẽ cười khảy, nốt lệ nơi khóe mắt đầy vẻ quyến rũ:"Ta đâu phải cô nương."
Cậu vẫn còn nhớ chuyện Khúc Thuần Phong ngày nào cũng gọi mình là cô nương.
Khúc Thuần Phong trong chuyện này hiếm khi tỏ ra cứng rắn, nghiêm nghị bảo thủ như một lão học giả, mím môi nói: "Nhưng cũng không được. Dù thế nào cũng không được cởi."
Lâm Uyên cong môi cười đầy ý tứ, ánh mắt lười biếng mà mê hoặc còn hơn hồ ly ba phần: "Ta dựa vào cái gì mà phải nghe lời ngươi?"
Dứt lời, cậu vòng tay ôm lấy eo Khúc Thuần Phong, thân thể dán sát vào anh. Đôi môi mềm mại đỏ mọng khẽ cắn lên vành tai anh, hơi thở phả nhẹ: "Nếu ngươi đồng ý cưới ta, ta sẽ nghe lời ngươi..."
Nhắc đến từ "cưới", Lâm Uyên dường như đặc biệt vui vẻ, đuôi cá trong nước cũng vẫy lượn đầy hứng khởi.
Khúc Thuần Phong nghe vậy cúi đầu nhìn, thấy trên cổ cậu vẫn còn đeo miếng ngọc cổ mà anh đã tặng, ẩn hiện dưới lớp áo ngoài. Trong lòng bỗng dâng lên cảm xúc khó nói thành lời. Anh nghĩ, bản thân nay sống chết chưa rõ, ngay cả mạng mình còn không biết giữ được bao lâu, thì sao có thể hứa hẹn với Lâm Uyên điều gì?
Ngón tay anh khẽ động, không kiềm chế được mà từ từ ôm lấy giao nhân trước mặt. Cảm nhận cơ thể lạnh lẽo của cậu, anh chỉ thấy cảm giác này đã quen thuộc đến tận xương tủy. Vì hành động của anh, chiếc đuôi cá đang ngọ nguậy của Lâm Uyên cũng hiếm khi ngoan ngoãn nằm im, trở nên vô cùng nghe lời.
Khúc Thuần Phong luôn cảm thấy hành động này có chút vượt lễ, nhưng rồi nghĩ lại, những chuyện thân mật hơn giữa họ cũng đã làm rồi, vậy thì cũng chẳng sao. Anh không nói gì, chỉ lặng lẽ ôm lấy Lâm Uyên một lát, sau đó buông tay: "Chúng ta trở về thôi."
Lâm Uyên rất dễ dỗ, suy nghĩ đơn giản, chẳng nghĩ nhiều. Chỉ cảm thấy Khúc Thuần Phong đã ôm mình, vậy tức là đồng ý. Tâm trạng cậu lập tức tốt hơn, đuôi cá khẽ vẫy, mang theo Khúc Thuần Phong bơi về phía hòn đảo.
Từ xa, các đệ tử Thiên Nhất Môn nhìn thấy bóng dáng anh, ai nấy đều vui mừng, vội vàng chạy ra bờ biển: "Đại sư huynh! Đại sư huynh!"
Khúc Thuần Phong lên bờ, thấy mọi người bình an vô sự, tảng đá trong lòng cuối cùng cũng rơi xuống. Anh vắt khô nước ở gấu áo, thấy xung quanh đầy giao nhân, sợ bọn họ làm chuyện gì không nên, liền lên tiếng nhắc nhở: "Chúng ta tạm thời nghỉ ngơi ở đây, không được ra tay với những giao nhân kia."
Lời vừa nói ra, mọi người đồng loạt nhìn về phía Minh Tuyên, ánh mắt tràn đầy ý vị sâu xa.
Minh Tuyên mặt không đỏ, tim không đập nhanh, nói: "Đại sư huynh, huynh yên tâm, đệ nhất định sẽ quản lý đám sư đệ, không để bọn họ làm bậy."
Khúc Thuần Phong gật đầu, không nghi ngờ gì, đang định nói thêm, lại thấy ánh mắt các sư đệ xuyên qua vai mình, đồng loạt nhìn về một nơi khác. Anh hơi khựng lại, theo bản năng quay đầu.
Giao nhân vốn đã có dung mạo xuất chúng, mà Lâm Uyên lại là người nổi bật trong số đó. Khuôn mặt cậu đẹp đến mức khuynh đảo chúng sinh, ngay cả Khúc Thuần Phong lần đầu gặp cũng ngẩn ngơ một lúc, huống chi là những sư đệ tu vi non kém này. Lâm Uyên không giống những giao nhân khác tránh xa bờ, mà ngồi thẳng trên một tảng đá gần bờ. Chiếc đuôi cá dài màu xanh thẫm lười biếng ngâm trong nước, lớp vảy trong suốt như pha lê, dưới ánh mặt trời lấp lánh rực rỡ.
Đây là lần đầu tiên đệ tử Thiên Nhất Môn nhìn thấy giao nhân sống, bất kể là hiếu kỳ hay kinh diễm, đều không nhịn được mà quan sát. Có sư đệ tinh mắt phát hiện, trên người Lâm Uyên còn khoác chiếc áo ngoài của Khúc Thuần Phong.
Nhận ra điều này, họ như phát hiện ra chuyện gì kinh thiên động địa, ánh mắt sáng rỡ hơn vài phần. Nhưng vì e ngại uy nghiêm của Khúc Thuần Phong, không ai dám mở miệng hỏi. Chỉ có Minh Tuyên, người nói năng không kiêng nể, cất tiếng hỏi: "Đại sư huynh, huynh và vị giao nhân kia..."
Lời còn chưa dứt, hắn đã bất ngờ chạm phải ánh mắt lạnh lẽo của Khúc Thuần Phong, giật nảy mình, mấy chữ còn lại lập tức nuốt trở xuống, nghẹn đến khó chịu.
Khúc Thuần Phong thấy vậy mới thu lại ánh mắt, đi đến dưới một gốc cây không xa ngồi xuống.
Minh Nghĩa đẩy Minh Tuyên một cái:
"Đệ đã bảo huynh đừng nói bừa, chọc giận đại sư huynh rồi đấy."
Minh Tuyên nói:
"Ta nào có chọc giận đại sư huynh, ta chỉ muốn hỏi quan hệ giữa huynh ấy và giao nhân kia là gì thôi, chẳng lẽ các ngươi không tò mò sao?"
Minh Nghĩa nghĩ bụng, tò mò thì tò mò, nhưng có câu nói rất đúng, tò mò hại chết mèo, có những chuyện chỉ cần hiểu ngầm là được rồi, hà tất phải đem ra giữa ánh mặt trời hỏi trắng ra như thế.
Đáng tiếc là hắn hiểu được đạo lý này, nhưng Minh Tuyên chưa chắc đã hiểu. Minh Tuyên vẫn còn nhớ Khúc Thuần Phong từng nói với mình rằng trên đời này không hề có giao nhân, vậy mà hôm nay, giao nhân kia lại bằng xương bằng thịt xuất hiện trước mắt. Là một đạo sĩ chuyên luyện đan, đối với những sinh vật mình không hiểu rõ, Minh Tuyên khó tránh khỏi mang theo vài phần hiếu kỳ.
Đa số giao nhân dường như đều mang lòng cảnh giác với con người, vì vậy chỉ nhìn từ xa mà không lại gần. Chỉ có Lâm Uyên là dám ngồi trên tảng đá sát mép nước.
Minh Tuyên nhìn Khúc Thuần Phong đang nhắm mắt dưỡng thần dưới gốc cây, rồi lại nhìn đến chiếc đuôi cá dài vừa mạnh mẽ vừa linh hoạt của Lâm Uyên, lén lút tiến đến gần cậu, cất tiếng hỏi:
"Cô nương, đuôi của ngươi có thể cho tại hạ xem qua một chút được không?"
Trong bộ y phục che kín, khuôn mặt của Lâm Uyên vốn đã khó phân biệt nam nữ, giờ lại càng thêm phần mị hoặc. Cậu đang phơi đuôi mình dưới ánh nắng, nghe thấy câu nói quen thuộc ấy, không khỏi ngước mắt nhìn lên. Hóa ra là sư đệ của Khúc Thuần Phong.
Lâm Uyên nhướng mày khẽ, giọng điệu nhàn nhạt:
"Ngươi muốn chạm vào đuôi ta?"
Cậu quá mức xinh đẹp, khiến Minh Tuyên bị nhìn đến mức ngượng ngùng, nhưng vẫn gật đầu như gà mổ thóc. Dù sao, việc người mọc đuôi cá quả thực trên đời hiếm thấy, hắn hoàn toàn không nhận ra rằng, đại sư huynh vốn đang dưỡng thần dưới gốc cây, chẳng biết từ lúc nào đã xách kiếm bước đến sau lưng mình.
Đuôi cá của Lâm Uyên khẽ đập, lập tức vẩy nước vào người Minh Tuyên, từ chối thẳng thừng: "Không được."
Minh Tuyên chỉ cảm thấy mấy ngày nay mình thật có duyên với nước, hắn dùng tay áo lau mặt trong bộ dạng thảm hại, tự cảm thấy yêu cầu của mình hơi đường đột, chuẩn bị cáo từ rời đi. Ai ngờ vừa xoay người đã bắt gặp Khúc Thuần Phong đứng ngay sau lưng:
"..."
Minh Tuyên chớp chớp mắt, tuy không biết mình đã làm sai điều gì, nhưng sống lưng lại vô cớ lạnh toát: "Đại sư huynh?"
Khúc Thuần Phong "choang" một tiếng cắm thẳng thanh kiếm xuống đất, chỉ thấy vị sư đệ này từ nhỏ đến lớn chưa từng khiến người ta bớt lo, liền trầm giọng nhíu mày: "Lần sau còn để ta thấy ngươi nói chuyện với giao nhân, thì tự mình nhảy xuống biển đi."
Minh Tuyên: "..."
Hắn thật sự không hiểu nổi vì sao, có lẽ tình yêu của đại sư huynh dành cho bọn họ đã không còn nữa. Minh Tuyên ủ rũ quay lại gốc cây, cách một khoảng xa, nhưng vẫn thấy rõ đại sư huynh sau khi ngồi xuống tĩnh tọa, giao nhân kia lập tức đặt đuôi cá lên đầu gối của anh.
Lâm Uyên rất tự hào về chiếc đuôi xinh đẹp của mình, chóp đuôi khẽ cọ vào cổ tay Khúc Thuần Phong: "Chỉ cho ngươi chạm thôi đấy."
Chương 117
Hiện tại, hàng chục chiến thuyền do quan phủ phái đi đều đã bị phá hủy, đệ tử Thiên Nhất Môn chỉ có thể tạm thời lưu lại trên đảo, chờ đợi tình hình biến chuyển. Mỗi ngày, ngoài việc bắt cá, nhóm lửa, thì việc còn lại chính là quan sát vị đại sư huynh không gần nữ sắc của bọn họ và giao nhân đuôi xanh kia rốt cuộc là chuyện gì.
Minh Tuyên không biết bắt cá, chỉ có thể chịu trách nhiệm nhặt củi. Hắn nhìn thấy Khúc Thuần Phong lại như thường lệ, một mình ngồi ở nơi xa tĩnh tọa tu luyện, còn giao nhân xinh đẹp kia thì bơi đến, dính lấy anh như không xương. Hết lần này đến lần khác bị Khúc Thuần Phong lạnh lùng đẩy ra, nhưng lại hết lần này đến lần khác kiên nhẫn bám vào.
Minh Tuyên và Minh Nghĩa ngồi sát cạnh nhau, vừa nhóm lửa nướng cá vừa thì thầm với nhau:
"Giao nhân kia hình như thích đại sư huynh?"
Minh Nghĩa liếc nhìn một cái, rồi thu ánh mắt về: "Chắc là vậy."
Minh Tuyên lại bắt đầu phát huy trí tưởng tượng:
"Vậy còn đại sư huynh, huynh ấy có thích hắn không?"
Minh Nghĩa nghĩ bụng, nhị sư huynh đúng là mù thật. Đại sư huynh đã đem miếng ngọc cổ mà sư phụ tặng cho đeo lên cổ giao nhân kia rồi, nói không thích thì ai tin? Vì vậy đáp:
"Chắc là thích."
Minh Tuyên: "Vậy tại sao đại sư huynh lúc nào cũng lạnh mặt, cứ đẩy hắn ra mãi?"
Minh Nghĩa nghe vậy thì khựng lại, không thể nói thẳng đại sư huynh thích làm bộ đứng đắn được, bèn thêm một nhúm củi vào lửa: "Nhị sư huynh, huynh đừng tò mò lung tung nữa, lát nữa đại sư huynh biết, huynh lại bị mắng đấy."
Minh Tuyên bĩu môi, có chút tủi thân: "Các ngươi đều ghét bỏ ta."
Minh Nghĩa nghĩ bụng, đúng là ghét thật, ngươi nói nhiều quá.
Mỗi ngày, việc bắt buộc Khúc Thuần Phong phải làm chính là tu luyện, nhưng đã bị kẹt ở bình cảnh, khó có thể tiến thêm một bước. Nhất là bên cạnh lại có một giao nhân cứ quấy nhiễu, càng khiến anh không cách nào tĩnh tâm được.
Giao nhân đều rất hiếu động, Lâm Uyên thực sự không thể hiểu nổi Khúc Thuần Phong ngày ngày ngồi đó giả làm khúc gỗ thì có gì hay. Thỉnh thoảng cậu lại kéo tay áo anh, nếu không thì dùng đuôi cá hất nước lên người anh. Đáng tiếc, Khúc Thuần Phong luôn thờ ơ, chỉ khi Lâm Uyên dính sát vào người mình thì mới duỗi tay đẩy cậu ra.
Đệ tử Thiên Nhất Môn, nếu đói thì phải tự mình bắt cá, bởi lẽ không ai mang cơm đến cho họ. Tất nhiên, Khúc Thuần Phong là ngoại lệ. Mỗi ngày, Lâm Uyên đều tìm các loại sò ốc và quả dại cho anh ăn, nói thế nào cũng khiến người ta cảm thấy hơi bất công.
Hôm nay, sau khi ăn no, Lâm Uyên nằm bò trên bờ phơi nắng, đầu gối lên đùi Khúc Thuần Phong, vừa kêu "răng rắc" vừa ăn cá khô. Ăn xong cá khô liền gặm vạt áo của anh, trông chẳng khác nào một con vật nhỏ đang trong thời kỳ mọc răng.
Khúc Thuần Phong liếc nhìn cậu một cái, sau đó bình thản rút vạt áo ra, chỉ thấy tấm lụa thượng hạng đã bị cắn đến mức xơ sợi, thủng lỗ. Điều này khiến anh cảm thấy Lâm Uyên chẳng giống cá, mà giống chó con hơn, bèn lên tiếng nhắc nhở: "Ta đang tu luyện."
Lâm Uyên vẫy vẫy đuôi, nghiêng mặt đặt lên đùi anh, trông có vẻ rất buồn chán: "Ngươi đang tu luyện gì vậy?"
Một cuộc đối thoại tương tự cũng đang diễn ra ở phía bên kia.
Minh Tuyên ngồi bên bờ biển nói chuyện với "cá vàng nhỏ", giảng giải bằng động tác về thuật pháp mình đã học, cũng như huyền thuật sĩ là gì. Hai tay hắn bấm quyết, vẽ một pháp trận hình tròn trên mặt biển từ xa. Chỉ nghe một tiếng "Phá!", mặt biển vốn yên ả lập tức bắn lên một cột nước cao một trượng, nước từ trên không rơi xuống tung tóe khắp nơi.
Giao nhân đuôi vàng thấy vậy thì lộ ra thần sắc kinh ngạc. Tuy không nói gì, nhưng đôi mắt tròn xoe lại để lộ sự ngưỡng mộ từ tận đáy lòng.
Minh Tuyên phủi bụi trên tay, rất đắc ý: "Thế nào, ta lợi hại chứ?"
Lâm Uyên thấy vậy thu hồi ánh mắt, áp mặt lên chân Khúc Thuần Phong cọ cọ, khẽ hừ một tiếng, không mấy để tâm: "Ngươi mới là lợi hại nhất."
Mặc dù Khúc Thuần Phong chưa từng thi triển chiêu thức gì, nhưng thanh trường kiếm ấy luyện đến mức xuất thần nhập hóa, rõ ràng là võ công không hề tầm thường. Huống hồ trong mắt Lâm Uyên, người bạn đời của cậu luôn được phủ lên một tầng kính lọc dày, trực giác mách bảo rằng Khúc Thuần Phong mới là kẻ lợi hại nhất.
Khúc Thuần Phong không nói gì, bởi lẽ học võ không phải để khoe khoang. Anh chỉ là bị Lâm Uyên cọ khiến chân hơi ngứa, thêm vào đó không quen với cảm giác mềm mại kia, vô thức dịch người ra sau. Kết quả, đối phương lập tức được đằng chân lân đằng đầu, dính sát lại. Cho dù Khúc Thuần Phong từ chối bao nhiêu lần cũng khó có thể làm giảm khí thế của cậu.
Hiện giờ, trên dưới Thiên Nhất Môn đều cơ bản biết rằng đại sư huynh của họ và giao nhân kia có gì đó với nhau.
Khúc Thuần Phong đành phải ấn lấy Lâm Uyên, nghiêm túc nói tám chữ:
"Đại đình quảng chúng, hữu thương phong hóa."
(*Giữa chốn công chúng, tổn hại phong hóa.*)
Lâm Uyên khẽ nhếch môi cười, đầu ngón tay xoay xoay một lọn tóc dài màu xanh đậm: "Được thôi, vậy tối nay ta dẫn ngươi đến chỗ không người."
Khúc Thuần Phong nghe vậy nghẹn lời, muốn nói rõ rằng mình không có ý đó, nhưng chưa kịp mở miệng thì bên cạnh đã bắn lên một vệt nước, làm ướt hết cả áo của anh. Hóa ra là Minh Tuyên đắc ý không chán, lại tiếp tục kết trận lung tung.
"..."
Lâm Uyên lắc đầu, dùng sức vẩy khô nước trên người, nghĩ bụng con người này thật đáng ghét.
Khúc Thuần Phong không nói gì, chỉ lạnh lùng ngẩng mắt, ánh nhìn nguy hiểm. Thấy Minh Tuyên đang ngồi xổm bên bờ trò chuyện với con cá vàng nhỏ, tay áo của anh không gió mà tự động, lấy thân làm tâm, dần dần mở rộng một trận pháp ra bên ngoài.
Khúc Thuần Phong nhắm mắt, nói với Lâm Uyên:
"Ngươi mau tránh xa một chút."
Lời vừa dứt, thủ thế của anh lập tức thay đổi, đôi mắt mở bừng ra, chỉ thấy một con rồng nước từ mặt biển bất ngờ lao thẳng lên không trung, dài dằng dặc quấn một vòng trên bầu trời, sau đó lao thẳng về phía Minh Tuyên bên bờ biển, hất hắn bay xa mấy chục mét xuống mặt biển. Cuối cùng, chỉ nghe "rào" một tiếng, nó hóa thành vô số hạt nước mưa, tí tách rơi đầy trời.
Mọi người đều sững sờ trước cảnh tượng bất ngờ này, chẳng ai thèm để ý Minh Tuyên còn đang vùng vẫy trong nước, chỉ mải xôn xao bàn tán về cảnh tượng vừa rồi. Cuối cùng, tất cả không hẹn mà cùng đi đến một kết luận: "Thì ra huyền thuật của đại sư huynh lại càng tiến bộ."
Minh Tuyên vùng vẫy trong nước, sặc liên tục mấy ngụm: "Đại... đại... đại sư huynh... cứu đệ với..."
Khúc Thuần Phong nhíu mày: "Tự bơi trở lại."
Minh Tuyên: QAQ
Đến giữa trưa, đệ tử Thiên Nhất Môn chia thành từng nhóm nhỏ ngồi quanh đống lửa nướng cá. Minh Tuyên cuối cùng cũng được cá vàng nhỏ kéo lên, run rẩy vắt khô quần áo. Ăn xong một con cá nướng nóng hổi, hắn mới hồi sức lại, thấy giao nhân đuôi vàng cũng đang ăn cá, bèn ngây ngô hỏi một câu: "Hóa ra các ngươi cũng ăn cá à?"
Giao nhân đuôi vàng nghe vậy thì ngừng động tác, đảo mắt một vòng: "Ta tại sao không thể ăn cá?"
Minh Tuyên chỉnh lại dáng vẻ nghiêm túc, lý lẽ rành mạch: "Ngươi là cá, nó cũng là cá. Ngươi ăn nó, đây gọi là đồng loại tàn sát lẫn nhau. Ta thì khác, cho dù có đói, ta cũng không ăn thịt người."
Giao nhân đuôi vàng: "..."
Con người đều ngu xuẩn như vậy sao?
Khúc Thuần Phong không ăn cá. Anh ngồi bên một đống lửa khác, ăn chút quả dại, nướng vài con sò. Một con cá đen béo mẫm khác, sau khi nướng chín liền bị anh đút hết vào bụng Lâm Uyên.
Lâm Uyên ăn no uống đủ, ngồi trên tảng đá mài móng tay. Thấy Khúc Thuần Phong vẫn đang nướng cá, đôi ngũ quan thanh lãnh xuất trần của anh dưới ánh lửa lại thêm vài phần ấm áp, cậu cắn ngón tay hỏi: "Về sau ngày nào cũng nướng cá cho ta ăn được không?"
Khúc Thuần Phong hơi muốn cười, nhưng biểu cảm trên mặt vẫn nhàn nhạt: "Tại sao? Vì cá ngon à?"
Lâm Uyên gật đầu, rồi lại lắc đầu, nhấn mạnh trọng tâm: "Là cá do ngươi nướng."
Khúc Thuần Phong không nói gì nữa, nghĩ bụng cá anh nướng cũng chẳng ngon lắm, người thì khô khan nhạt nhẽo, tại sao giao nhân này lại nhất định chọn mình? Mà anh cũng chưa từng nghĩ bản thân sẽ có quan hệ với một giao nhân, hết lần này đến lần khác lại mềm lòng, buông tay.
Đưa con cá nướng cuối cùng cho cậu, Khúc Thuần Phong nói: "Ăn đi."
Anh vĩnh viễn không nói ra được những lời mềm mỏng, nhưng ánh mắt ấy luôn chăm chú nhìn Lâm Uyên. Một lát sau, như đùa như thật cất lời: "Ta nướng cá cho ngươi, vậy ta nhận được gì?"
Lâm Uyên đang cúi đầu ăn cá, nghe vậy thì ngẩng lên, nghĩ một lúc: "Ta cho ngươi sờ đuôi của ta."
Khúc Thuần Phong: "..."
Anh không biết nên giải thích thế nào rằng mình không có hứng thú với việc sờ đuôi, suy nghĩ chốc lát mới đáp: "Không cần."
Lâm Uyên liếm đầu ngón tay, rất nhanh nghĩ ra cách giải quyết: "Vậy ta cho ngươi sờ chân?"
Khúc Thuần Phong khi tỉnh táo thì dường như thích dùng chân cậu hơn, đuôi cá rất ít khi dùng đến.
Khúc Thuần Phong ngẩn ra một chút mới phản ứng lại cậu đang nói cái gì, vành tai trắng nõn lập tức đỏ bừng. Anh dường như muốn quát lớn, nhưng đối diện với đôi mắt trong veo của Lâm Uyên, lại chẳng nói được lời nào, đành nghẹn lại.
Lâm Uyên ăn sạch cá, rửa tay, sau đó lại nắm lấy góc áo của Khúc Thuần Phong. Không có lý do gì, chỉ là muốn nắm. Giống như một cánh diều bay xa, chỉ khi nắm chặt dây trong tay mới không sợ nó bay mất.
Mặt biển phẳng lặng, thỉnh thoảng cuộn lên vài con sóng, phát ra tiếng "rào rào" dịu nhẹ, hòa tan những tia nắng rực rỡ nơi chân trời.
Khúc Thuần Phong nhắm mắt, đang tu luyện, hệ thống bỗng "bùm" một tiếng bật ra: [Oa, ta nhìn thấy...]
Khúc Thuần Phong mở mắt: "Nhìn thấy cái gì?"
Hệ thống vỗ vỗ đôi cánh: [Ta nhìn thấy một chiếc thuyền nhỏ, trên đó có hai người...]
Khúc Thuần Phong nói: "Chỉ là ngư dân bình thường."
Hệ thống: [Phía sau chiếc thuyền nhỏ có năm chiếc thuyền lớn, đều là quan binh.]
Lời vừa dứt, Khúc Thuần Phong lập tức đứng dậy, nhìn về phía xa. Nhưng ngoài đường chân trời, chẳng thấy gì khác, bèn nhíu mày hỏi:
"Thuyền đâu?"
Hệ thống dùng cánh vỗ vào sau đầu anh, cảm thấy vị ký chủ này hơi ngốc: [Thân ái à, ta bay cao, nhìn xa, bọn họ còn chưa tới, các ngươi vẫn còn thời gian chạy.]
Khúc Thuần Phong do dự một chút, cuối cùng vẫn chọn tin lời nó. Thấy các sư đệ đồng môn còn đang ngồi tĩnh tọa tu luyện, anh nhíu mày quát lớn:
"Mau đứng dậy, quan binh triều đình đến rồi!"
Lời này của anh vừa dứt, mọi người trong Thiên Nhất Môn lập tức kinh hãi bật dậy khỏi mặt đất, đồng loạt nắm chặt trường kiếm trong tay, đảo mắt nhìn quanh một vòng, bước vào trạng thái đề phòng. Mà xung quanh, các giao nhân nghe xong cũng lập tức thẳng người lên, nhìn về phía xa xa.
Giao nhân trong nước có ngũ giác nhạy bén hơn con người rất nhiều. Bọn họ lặn xuống nước lắng nghe một lát, cuối cùng trồi lên khỏi mặt nước, xác nhận lời của Khúc Thuần Phong không phải giả: "Có rất nhiều quan binh đang tiến về phía này."
Minh Tuyên nghe vậy liền lo lắng: "Đại sư huynh, e rằng đây là quan phủ phái người đến tìm chúng ta, bây giờ phải làm sao đây?"
Khúc Thuần Phong không đáp. Anh bước tới bờ, trầm giọng nói với Lâm Uyên: "Mau dẫn tộc nhân của ngươi rời khỏi đây."
Vị trí Quốc sư của anh vẫn còn, mà Tuyền Châu lại là vùng đất xa xôi hẻo lánh, tin tức nhất thời khó mà truyền đến kinh thành. Những quan binh kia không dám làm gì anh, chỉ có điều nếu bọn họ phát hiện ra tung tích của giao nhân thì sẽ không dễ dàng mà lấp liếm được.
Lâm Uyên nhíu mày: "Vậy còn ngươi thì sao?"
Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhìn cậu, không thể nói ra những lời như tiền đồ mù mịt, sinh tử khó lường của bản thân. Anh trầm ngâm một lát rồi đáp: "...Ta còn chút chuyện cần giải quyết, xong việc sẽ đến tìm ngươi."
Lâm Uyên ngẩng đầu, đôi mắt xanh thẫm như mực ánh lên hình bóng của anh. Cậu bám lấy tảng đá ngầm, nói: "Vậy ta sẽ dẫn họ rời đi trước, sau đó quay lại tìm ngươi."
Khúc Thuần Phong thầm nghĩ, đã đi rồi thì cần gì phải quay lại, chỉ tổ rước họa vào thân. Nhưng lại sợ Lâm Uyên không chịu rời đi, đành gật đầu đồng ý. Lâm Uyên thấy vậy liền vươn người lên, khẽ hôn một cái lên môi anh, ngừng lại một chút rồi mới xoay người lặn xuống đáy biển, dẫn tộc nhân rời đi.
Khúc Thuần Phong không ngờ cậu lại làm như vậy. Anh thoáng sững sờ, một lúc sau mới hoàn hồn lại. Kết quả là vừa quay đầu đã thấy một đám sư đệ đứng phía sau, ánh mắt nóng bỏng nhìn chằm chằm, đồng loạt nhìn anh không rời.
Khúc Thuần Phong: "..."
Tác giả có lời muốn nói:
Sư đệ: Nhào vô hóng hớt nè!
Chương 118
Là đại sư huynh, trước giờ Khúc Thuần Phong chưa từng mất mặt trước mặt các sư đệ. Nhưng giờ đây, bị mấy chục ánh mắt nhìn chằm chằm, thân hình anh không khỏi cứng đờ. Tay nắm kiếm vô thức siết chặt hơn, đôi mày nhíu lại, giọng lạnh băng: "Nhìn cái gì?"
*Nhìn anh bị giao nhân mạo phạm chứ gì!* Trong lòng mọi người đại khái đều là câu trả lời này, nhưng chẳng ai dám nói ra, đồng loạt lắc đầu như trống bỏi, sợ đến nỗi không dám thở mạnh, ngay cả Minh Tuyên cũng biết điều mà im lặng.
Minh Nghĩa không biết phát hiện ra điều gì, đột nhiên chỉ về phía xa, kinh ngạc nói: "Đại sư huynh, huynh nhìn kìa, bên kia có thuyền đang tới!"
Mọi người nhìn theo hướng hắn chỉ, chỉ thấy trên mặt biển phía xa bỗng xuất hiện năm chiến thuyền khổng lồ. Lá cờ sói đỏ tung bay phần phật giữa không trung. Khúc Thuần Phong mắt tinh, nheo mắt nhìn kỹ, thấy người dẫn đầu mặc quan bào xanh lục của chức Thích sử Ngũ phẩm Hạ Châu, nghĩ bụng chẳng phải là Ngô Hiển Vinh sao?
Khúc Thuần Phong khẽ giơ tay ra hiệu mọi người im lặng, trong lòng dấy lên một tia cảnh giác, dặn dò đám người phía sau: "Không được tiết lộ chuyện giao nhân."
Minh Tuyên nói: "Sư huynh cứ yên tâm, đệ nhất định sẽ quản chặt các sư đệ, không để họ nói năng bậy bạ."
Ai ngờ Khúc Thuần Phong liếc hắn một cái, ý tứ sâu xa nói: "Đặc biệt là đệ."
Trong tất cả các sư đệ, chỉ có Minh Tuyên là người ăn nói không giữ mồm giữ miệng. Câu nói vừa rồi của Khúc Thuần Phong rõ ràng là cố ý nói cho hắn nghe.
Minh Tuyên: QAQ.
Mấy chiếc đại thuyền ở xa càng lúc càng gần, tầm nhìn cũng dần trở nên rõ ràng. Trên boong thuyền, Ngô Hiển Vinh đứng ở đầu thuyền, từ xa đã nhìn thấy đám đệ tử áo trắng của Thiên Nhất Môn. Ông ta vui mừng ra mặt, vội vung tay áo thúc giục thuyền phu: "Nhanh lên, nhanh lên! Quốc sư đại nhân bọn họ đang ở trên đảo, mau cập bờ!"
Từ ngày gặp nạn trên biển, Khúc Thuần Phong và các đệ tử mất tích không rõ tung tích. Đường đường là Quốc sư triều đình mà không biết sống chết ra sao, chuyện này lớn nhỏ thế nào cũng đều không thể coi thường. Ngô Hiển Vinh giỏi bơi lội, hôm đó may mắn giữ được mạng, nhưng vì sợ Hoàng đế trách tội nên sau khi lên bờ đã lập tức tập hợp binh lính, ngày đêm tìm kiếm tung tích của bọn họ, lần lượt dò từng hòn đảo một. Nay cuối cùng cũng tìm được, ông ta kích động đến mức nước mắt nước mũi giàn giụa, hận không thể lập tức về nhà thắp cho bài vị tổ tông mười mấy hai mươi nén hương.
Thuyền lớn không thể cập bờ, Ngô Hiển Vinh chỉ có thể leo xuống bằng thang dây, sau đó ngồi thuyền nhỏ bơi vào bờ. Chưa kịp dừng hẳn, ông ta đã vội vàng vén áo quan, nhảy xuống thuyền, bất chấp ướt giày, cuống cuồng chạy tới trước mặt Khúc Thuần Phong, quỳ sụp xuống: "Hạ quan Ngô Hiển Vinh bái kiến Quốc sư đại nhân. Cứu viện chậm trễ, thật đáng chết! Những ngày qua hạ quan ngày đêm không ngủ, rong ruổi trên biển tìm kiếm, may nhờ trời thương, cuối cùng tìm được Quốc sư đại nhân..."
Sợ Khúc Thuần Phong trách tội, ông ta mới nói được vài câu đã nước mắt giàn giụa, nghẹn ngào không thốt nên lời. Ông ta còn dùng tay áo quan lau nước mắt, nhìn qua vô cùng đáng thương.
Khúc Thuần Phong biết ông ta đang diễn trò, không muốn để ý, nhưng vì nể mặt mũi nên vẫn đưa tay đỡ Ngô Hiển Vinh đứng dậy, giải thích: "Hôm đó thuyền lật, ta và các sư đệ không may trôi dạt đến hòn đảo này. Vì không có thuyền nên không thể trở về, may nhờ Ngô đại nhân cứu giúp."
Ngô Hiển Vinh được sủng ái mà lo sợ, vội vàng đứng dậy: "Không dám, không dám. Quốc sư thân phận tôn quý, phúc khí tự nhiên hơn người. Dẫu không có hạ quan cứu giúp, ngài nhất định cũng tai qua nạn khỏi."
Khúc Thuần Phong nghe vậy liền nghĩ đến một người, ngẩng đầu nhìn Ngô Hiển Vinh: "Vương công công vẫn bình an chứ?"
Anh không nhắc thì thôi, vừa nhắc tới, Ngô Hiển Vinh lại "phịch" một tiếng quỳ xuống đất lần nữa, sợ đến mặt mày trắng bệch, cả người run rẩy không khác gì cái sàng. Khác với hồi nãy làm bộ, lần này ông ta thật sự hoảng sợ: "Hạ quan đáng chết, hạ quan đáng chết! Không bảo vệ được Vương công công. Hôm đó sau khi lên bờ, hạ quan lập tức tập hợp nhân mã tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng chỉ tìm thấy thi thể của Vương công công..."
Vương Sùng Hỉ tuổi tác lớn, thân thể không khỏe. Hôm đó thuyền lật, mọi người đều bận rộn tìm đường thoát thân, ai còn thời gian mà cứu ông ta. Thêm nữa, ông ta không biết bơi, chết đuối cũng không phải chuyện gì khó hiểu.
Đó là người được Chiêu Ninh Đế sủng ái nhất bên cạnh. Chết không rõ ràng trong địa phận mình quản lý, dù Ngô Hiển Vinh khéo luồn lách thế nào thì lúc này cũng không tránh khỏi mắt tối sầm, cảm thấy mạng mình coi như xong. Chỉ còn may mắn duy nhất là đã tìm được Khúc Thuần Phong, nếu không cả nhà ông ta có mấy cái mạng cũng không đủ đền.
Khác với Ngô Hiển Vinh mồ hôi lạnh đầm đìa, Minh Tuyên và các sư đệ lại cảm thấy nhẹ nhõm như trút được gánh nặng. Vương Sùng Hỉ nếu còn sống, không biết sẽ nói xấu Thiên Nhất Môn bọn họ thế nào bên tai Hoàng đế. Chiêu Ninh Đế vốn đa nghi, từ lâu đã đề phòng Thiên Nhất Môn, nếu lúc này xuất hiện lời đồn đãi gì đó, e rằng cả môn phái sẽ gặp tai họa diệt môn.
Khúc Thuần Phong nghe vậy thì khựng lại, thật không ngờ Vương Sùng Hỉ lại chết: "Vậy Ngô đại nhân đã dâng tấu lên triều đình chưa?"
Ngô Hiển Vinh nghe hỏi, vô thức ngẩng đầu nhìn anh, rồi lập tức cúi gằm xuống, lắp bắp nói: "Hồi... hồi Quốc sư... Hạ quan vì lo lắng cho an nguy của ngài, một lòng tìm kiếm, cho nên... cho nên vẫn chưa kịp dâng tấu..."
Nói thì hay là chưa kịp, kỳ thực chính là không dám.
Khúc Thuần Phong cũng không vạch trần, lạnh nhạt nói: "Nếu chưa dâng tấu thì cứ tạm thời gác lại. Thánh thượng hiện nay bệnh nặng, ngài vốn rất sủng ái Vương công công, nếu nghe được tin này mà làm bệnh tình nặng thêm thì e là không hay."
Ngô Hiển Vinh nghe vậy thở phào nhẹ nhõm, lập tức thuận nước đẩy thuyền: "Quốc sư nói chí phải, Quốc sư nói chí phải."
Hiện giờ đã bị quan binh tìm thấy, bọn họ đương nhiên không thể tiếp tục ở lại trên đảo. Khúc Thuần Phong suy nghĩ hồi lâu, chỉ có thể tạm thời dẫn theo các đệ tử Thiên Nhất Môn lên thuyền, định trước tiên quay về phủ nha để dò la tin tức từ kinh thành.
Trên thuyền, Ngô Hiển Vinh bưng trà rót rượu, ân cần hết mực. Không biết nghĩ tới điều gì, ông ta bỗng hỏi: "Dám hỏi Quốc sư, môn hạ đệ tử của Thiên Nhất Môn hiện có bao nhiêu người?"
Khúc Thuần Phong vốn đang nhìn mặt biển xuất thần, nghe xong liền thu hồi ánh mắt, khẽ nhíu mày, giọng không chút cảm xúc: "Ngô đại nhân hỏi chuyện này để làm gì?"
Ngô Hiển Vinh sợ anh hiểu lầm, vội vàng xua tay: "Quốc sư chớ hiểu lầm, thực là mấy ngày trước có một nam tử trẻ tuổi đến phủ nha, tự xưng là đệ tử Thiên Nhất Môn, muốn cầu kiến ngài. Hạ quan thấy hắn mặc áo vải thô, lại không có tín vật, không dám tin ngay, nên đã tạm giữ hắn lại trong phủ. Nếu là giả, nhất định sẽ đánh cho hắn một trận rồi đuổi đi."
Khúc Thuần Phong nhớ lại khi mình vừa đến Tuyền Châu từng sai một đệ tử trở về kinh âm thầm dò la tin tức về Hồng Quan Vi, thân hình liền khựng lại, trầm giọng hỏi: "Hắn có tự báo danh tính không?"
Ngô Hiển Vinh vừa nghe ngữ khí của anh thì biết việc này mười phần hết chín là thật, vội đáp: "Hồi Quốc sư, người đó nói hắn tên là Minh Không."
Minh Tuyên đứng bên nghe thấy, thấp giọng nhắc Khúc Thuần Phong: "Sư huynh, là tiểu sư đệ."
Trong số các sư huynh đệ, mỗi người đều tinh thông một lĩnh vực như phong thủy hay thuật số. Minh Không là đệ tử nhỏ nhất trong môn phái, thân pháp cực nhanh, lại giỏi thuật dịch dung, nên lần đó mới được cử đi kinh thành thăm dò tin tức. Bây giờ trở về, chắc hẳn đã có động tĩnh.
Khúc Thuần Phong nhíu mày, chỉ nói chín chữ: "Tăng tốc lên, mau chóng quay về phủ nha."
Hiện nay Đại Sở đang giao chiến với phương Bắc, chỉ trong mấy tháng ngắn ngủi, đã liên tiếp bại trận nhiều lần. Các vùng phong địa như Ký Bắc, Liêu Thành đều đã bị quân địch chiếm đóng, bách tính khốn khổ muôn phần. Lần trước Khúc Thuần Phong đến chợ, nơi đây vẫn còn người qua lại tấp nập, thế nhưng giờ đây lại trống vắng tiêu điều. Những sạp hàng còn sót lại tuy vẫn buôn bán, nhưng hàng hóa không phải lương thực hay vật dụng, mà là những đứa trẻ của những gia đình nghèo khổ.
Thoạt nhìn, sắc mặt Ngô Hiển Vinh cũng có phần khó coi, ngượng ngùng nói: "Quốc sư không biết đấy thôi, hiện nay chiến sự phương Bắc căng thẳng, chỉ riêng mấy tháng gần đây đã thu thuế lương thực bốn, năm lần, kho lương trống rỗng. Ngay cả gạo mốc, gạo cũ năm trước cũng bị đem đi. Trai tráng đều bị bắt đi lính, cũng may Tuyền Châu nằm nơi xa xôi hẻo lánh. Hơn nữa vì phải tìm thuốc trường sinh cho bệ hạ, nên mới miễn cưỡng giữ lại được vài người."
Tuyền Châu đã được coi là khá hơn nhiều nơi. Vì gần biển, dù không còn lương thực, dân làng nhờ vào cá tôm đánh bắt được mà miễn cưỡng cầm cự. Nhưng các châu huyện lân cận, cơ bản bách tính đã bỏ chạy hết, những người còn lại đều là già yếu bệnh tật, xác chết đói rải rác khắp nơi. Cảnh cha mẹ ăn thịt con cái cũng không phải chuyện nói quá.
Đường phố hoang vắng, tiếng khóc không ngừng. Trước mỗi nhà đều treo cờ trắng, làm lễ cho những người chồng, người con đã chết trận nơi tiền tuyến. Nhìn thoáng qua, chẳng khác nào thành quỷ.
Khúc Thuần Phong nhìn khắp đường đi, chỉ cảm thấy mọi thứ vượt xa khỏi trí tưởng tượng. Sau khi được sư phụ nhận nuôi, anh luôn sống ở kinh thành phồn hoa, chưa từng nghĩ rằng Đại Sở có một ngày lại biến thành bộ dạng như thế này, như một tòa lầu nguy khốn trong cơn gió bão, sắp sụp đổ đến nơi.
Từ đầu đến cuối, Khúc Thuần Phong không nói lấy một lời. Đến khi vào phủ nha, bước vào nội sảnh, anh mới mở miệng hỏi: "Người kia đâu rồi?"
Ngô Hiển Vinh nghe vậy, lập tức sai một gia nhân đi truyền gọi. Bài trí trong phủ nha vẫn giống như trước, nhưng số gia nhân đã giảm hơn một nửa. Nguyên nhân không có gì khác, hiện nay đúng là thời loạn thế, lương thực quý giá, không thể nuôi nổi.
Không lâu sau, một thiếu niên mặc áo vải thô được dẫn vào chính sảnh. Hắn đảo mắt nhìn xung quanh một vòng, trông thấy Khúc Thuần Phong đứng ngay chính giữa thì thoáng sững sờ. Tiếp đó, đôi mắt bỗng đỏ hoe, hắn lao thẳng về phía trước, quỳ sụp xuống dưới chân anh: "Đại sư huynh!"
Thiếu niên này trên người mặc chiếc áo vá chằng vá đụp, tóc tai bù xù, cả người bụi bặm, chỉ có thể miễn cưỡng nhận ra là một thiếu niên mười lăm, mười sáu tuổi. Dáng người gầy gò, đôi mắt to tròn và đen lay láy. Khó trách Ngô Hiển Vinh không tin hắn là đệ tử Thiên Nhất Môn. Ngay cả Minh Tuyên đứng đây, thoạt nhìn cũng chưa chắc nhận ra được.
Khúc Thuần Phong nhận ra hắn là tiểu sư đệ Minh Không, liền đỡ hắn dậy, nhưng thấy bộ dạng hắn lấm lem, nhếch nhác, trong lòng không khỏi trầm xuống, cất tiếng hỏi: "Sao đệ lại thành ra thế này?!"
Minh Không nghe vậy, định mở miệng nói, nhưng thấy Ngô Hiển Vinh còn đứng bên cạnh, lời đến miệng lại nuốt xuống. Khúc Thuần Phong hiểu ra, bèn nói với Ngô Hiển Vinh: "Ngô đại nhân tạm lui trước đi. Người này đúng là đệ tử Thiên Nhất Môn của ta, ta có vài lời muốn nói với hắn."
Ngô Hiển Vinh biết bọn họ muốn nói chuyện riêng, vội gật đầu đáp lời, rời khỏi phòng. Trong lòng thầm nghĩ may mà mình không đuổi người kia đi, nếu không chẳng phải đắc tội lớn với Khúc Thuần Phong hay sao.
Sau khi đám gia nhân lui hết, cửa sổ đều đóng lại, trong chính sảnh chỉ còn lại hai người bọn họ. Khúc Thuần Phong thấy trên người Minh Không có vài vết bầm tím không dễ nhận ra, biết chắc hẳn đã xảy ra chuyện gì đó, liền hỏi: "Sau khi đệ vào kinh đã xảy ra chuyện gì? Có bị ai phát hiện không? Sư phụ thế nào?"
Không ngờ Minh Không nghe hỏi, đôi mắt liền đỏ hoe, giọng nghẹn ngào, buông một tin tức chẳng khác nào sấm sét giữa trời quang: "Đại sư huynh, sư phụ người... sư phụ người đã hóa rồi..."
Đạo sĩ khi chết gọi là hóa.
Khúc Thuần Phong xưa nay gặp chuyện gì cũng không kinh hoảng, vậy mà vừa nghe xong liền tối sầm mắt, suýt chút nữa đứng không vững mà ngã xuống đất. Anh dùng sức bấu chặt lấy vai Minh Không, trầm giọng hỏi từng chữ một: "Đệ nói lại lần nữa, sư phụ làm sao?!"
Kiếp trước, sau khi thảm sát cả thôn, Khúc Thuần Phong mang xác giao nhân về kinh phục mệnh, trước sau chỉ mất một tháng. Khi ấy Hồng Quan Vi vẫn còn khỏe mạnh. Ai ngờ kiếp này anh ở lại Tuyền Châu vài tháng, cuối cùng lại chờ được tin dữ về cái chết của sư phụ?
Minh Không nghẹn ngào đến không thành tiếng: "Khi ấy ta cải trang một phen để trà trộn vào kinh thành, mới biết trước đó không lâu, sư phụ vừa bị bệ hạ triệu vào cung và giam lỏng. Ta chỉ có thể giả thành thị vệ để vào cung dò xét tình hình. Nào ngờ sư phụ người đã bệnh nặng đến mức không thể rời giường, bên cạnh toàn là tai mắt của bệ hạ..."
Giọng nói của Khúc Thuần Phong khô khốc, đáng sợ: "Sau đó thì sao?"
Minh Không lau nước mắt: "Ta nhân lúc thị vệ đổi ca mà lẻn vào thăm sư phụ. Người nói đại hạn đã đến, bấm một quẻ thì thấy Đại Sở khí số sắp tận, phương Bắc sẽ có minh quân thay thế. Người bị tai mắt của bệ hạ theo dõi chặt chẽ nên không thể truyền tin ra ngoài, chỉ bảo ta mang lời đến cho mọi người: Đừng đi tìm giao nhân nữa, trên đời này vốn không có thuật trường sinh. Người chỉ là thân xác phàm nhân, chẳng qua nhờ cơ duyên mới sống hơn hai trăm năm, nhưng cuối cùng cũng không thoát khỏi sinh lão bệnh tử."
Minh Không vừa nói vừa lấy từ trong vạt áo ra một xấp đơn thuốc nhăn nhúm, vừa thút thít vừa nói: "Sư phụ nói người vô dụng, nghiên cứu bao năm mà vẫn không tìm ra cách giải loại độc cổ này, khiến chúng ta bị liên lụy. Người chỉ có thể để lại sáu đơn thuốc này để tạm thời khống chế độc phát. Khi độc phát hãy uống, có thể trì hoãn được ba tháng. Người mong sư huynh dẫn Thiên Nhất Môn rời xa triều đình, từ nay về sau không được nhập thế nữa."
Lòng bàn tay Khúc Thuần Phong lạnh toát, sắc mặt trắng bệch đến đáng sợ. Anh cầm lấy xấp đơn thuốc nhăn nhúm ấy, giọng khản đặc hỏi: "Sư phụ còn nói gì nữa không?"
Minh Không lắc đầu: "Sư phụ chỉ nói rằng người đã sống lâu hơn rất nhiều người trên thế gian, dù chết đi thì trong dân gian cũng được xem là hỷ táng. Người bảo chúng ta đừng đau lòng, sớm tìm đường khác mới là điều quan trọng."
Hồng Quan Vi được xem là kỳ nhân một đời của Đại Sở. Tuổi thọ của người từng khiến Chiêu Ninh đế vừa ngưỡng mộ vừa đố kỵ, từ đó mà khát cầu trường sinh. Nay người đã qua đời, cho dù không thể khiến bệ hạ từ bỏ ý niệm trường sinh, thì chí ít cũng dập tắt truyền thuyết về bất tử.
Hơn hai trăm tuổi... Hơn hai trăm tuổi...
Trong dân gian, bách tính nếu thọ quá bảy mươi mà qua đời thì được gọi là hỷ táng. Hồng Quan Vi khi còn sống đã du ngoạn khắp danh sơn đại xuyên, sau này được phong hầu bái tướng, vị cao đến Quốc sư, hưởng hết vinh hoa phú quý nhân gian. Dù mất đi, quả thực cũng không có gì đáng để đau thương ngoại trừ việc người vẫn luôn không yên lòng về các đệ tử.
Khúc Thuần Phong nhắm mắt lại, siết chặt xấp đơn thuốc trong tay.
"Thế còn đệ, vì sao lại thành ra như thế này?"
Minh Không đáp: "Sư huynh không biết đấy thôi. Bệ hạ nằm liệt trên giường bệnh, bệnh tình ngày một nguy kịch. Sau đó không biết nghe lời của đám đạo sĩ luyện đan nào, bắt đầu dùng máu trẻ sơ sinh để luyện thành đan dược, khiến lòng dân oán thán khắp nơi. Hiện nay, nhà mẹ đẻ của hoàng hậu muốn phò trợ thái tử lên ngôi, nhưng bị triều thần phản đối. Sau khi ta trốn khỏi hoàng cung, phát hiện Triệu Vương đã dẫn binh vào kinh, ngoài mặt nói là bảo vệ giá ngọc, nhưng thực chất là mưu phản. Đám binh sĩ ấy đi đến đâu là giết chóc, cướp bóc đến đó. Ta phải vứt hết đồ quý giá, cải trang thành dân chạy nạn mới thoát ra được."
Tình hình hiện nay là: Hoàng đế sắp chết, thái tử muốn lên ngôi, Triệu Vương thì muốn tạo phản. Phương Bắc đang dần thất thủ, trong ngoài Đại Sở đều rối ren, chẳng khác nào một đống cát vụn, người thông minh đã sớm bỏ trốn cả rồi.
Chiêu Ninh đế hiện giờ đã không còn bất kỳ quyền kiểm soát nào với triều đình, cùng lắm chỉ là một vị bù nhìn nửa sống nửa chết.
Nói cách khác, Thiên Nhất Môn đã không cần phải nghe theo mệnh lệnh của triều đình nữa. Chỉ cần tìm được giải dược, bọn họ sẽ được tự do.
Khúc Thuần Phong lại chẳng nói gì. Chỉ thấy anh chậm rãi cất xấp đơn thuốc vào trong ngực, sau đó không nói một lời, đứng dậy, đẩy cửa rồi bước ra ngoài. Minh Tuyên và những người khác đang chờ bên ngoài, thấy sắc mặt anh tái nhợt, dáng vẻ như mất hết hồn vía, không khỏi giật mình. Đang định tiến lên hỏi han, lại thấy Khúc Thuần Phong đi thẳng ra khỏi cửa, chỉ để lại một câu: "Đừng đi theo."
Hồng Quan Vi đã mất. Dù người sống lâu hơn phần lớn mọi người trên thế gian, nhưng người chết như đèn tắt, mãi mãi không thể trở về. Khúc Thuần Phong thậm chí còn chưa kịp gặp người lần cuối.
Đệ tử của Thiên Nhất Môn đều là cô nhi, không tên không họ. Chỉ riêng Khúc Thuần Phong là vì cha mẹ qua đời khi anh bốn tuổi, nên còn nhớ được tên mình. Khi ấy, Hồng Quan Vi ban tên cho tất cả đệ tử trong môn phái, chỉ có tên anh là người bảo giữ nguyên, nói rằng ba chữ ấy rất hay, không cần phải đổi, hãy giữ lại làm kỷ niệm.
Người đối đãi với đệ tử trong môn phái như con ruột. Điều duy nhất người làm sai trong đời là lỡ bước vào triều đình, khiến các đệ tử trúng độc cổ. Nhưng cho dù là Khúc Thuần Phong hay Minh Tuyên, Minh Nghĩa, không một ai từng trách người.
Khúc Thuần Phong có thể xem nhẹ sinh tử của chính mình, nhưng lại không thể xem nhẹ sinh tử của người khác. Anh ở trong triều bao năm, luôn nhận lệnh của Chiêu Ninh đế, chỉ để bảo vệ Hồng Quan Vi. Nhưng nay, tất cả điều đó còn ý nghĩa gì nữa?
Gió lạnh thổi tới, mang theo mùi tanh nồng quen thuộc, thổi tung vạt áo anh không ngừng. Đến khi vạt áo bị nước biển làm ướt, Khúc Thuần Phong mới giật mình nhận ra mình không biết từ lúc nào đã đi đến bên bờ biển. Phía trước đã không còn đường, chỉ còn lại biển cả mênh mông.
Anh dừng bước, ngơ ngác ngồi xuống đất. Đầu óc trống rỗng, mọi chuyện rối tung như một mớ hỗn độn, mà lại chẳng thể nói với ai.
Anh là đại sư huynh...
Phải bảo vệ sư môn, cũng phải bảo vệ sư đệ...
Từ nhỏ Khúc Thuần Phong đã nghĩ như vậy. Nên dù xảy ra chuyện gì, anh cũng chỉ có thể tự mình gánh vác. Sau khi Hồng Quan Vi qua đời, giờ đây Thiên Nhất Môn chỉ còn mỗi anh gánh vác được. Anh không thể gục ngã. Nếu anh gục ngã, các sư đệ bên dưới cũng sẽ sụp đổ.
Nước lạnh dần ngấm vào cơ thể, từng đợt sóng vỗ tới, toàn thân đều lạnh buốt.
Lâm Uyên sau khi đưa tộc nhân rời đi, tìm rất lâu nhưng không thấy nhóm người của Khúc Thuần Phong. Cuối cùng lần theo mùi tìm được đến bờ biển, lại thấy khúc gỗ ngớ ngẩn ấy ngồi một mình trên mỏm đá, nhìn xa xăm, dáng vẻ đờ đẫn ngốc nghếch.
Lâm Uyên tìm anh lâu như vậy, thấy cảnh này liền bơi tới, bám vào mỏm đá gọi hai tiếng. Khúc Thuần Phong lại không hề có phản ứng, cậu đành vẫy vẫy đuôi, hất một ít nước lên người anh.
Khúc Thuần Phong giật mình tỉnh lại, theo bản năng lau nước biển lạnh buốt trên mặt. Ngẩng đầu lên thì thấy Lâm Uyên đang nhìn mình bên cạnh, chiếc đuôi cá màu xanh thẫm còn đang khẽ đung đưa, rõ ràng là thủ phạm.
Khúc Thuần Phong ngẩn ngơ nhìn cậu, hiếm khi không biết nên nói gì, chỉ có thể quay đi, dời ánh mắt.
Lâm Uyên bơi lại gần, kéo áo anh, nghiêng đầu hỏi: "Sao ngươi không vui?"
Dù Khúc Thuần Phong không nói một lời, cậu dường như vẫn nhạy bén cảm nhận được tâm trạng của anh.
Khúc Thuần Phong đối diện với ánh mắt quan tâm của Lâm Uyên, yết hầu khẽ động, như bị nghẹn lại, nửa lời cũng không nói nên câu. Anh mím đôi môi không chút huyết sắc, một lát sau mới từ từ nhắm mắt, thấp giọng nói: "Sư phụ ta mất rồi..."
Anh nói: "Ta không còn sư phụ nữa rồi..."
Câu này vốn không nên nói với giao nhân trước mặt, nhưng cứ như bị ma xui quỷ khiến, anh lại buột miệng nói ra.
Không biết có phải ảo giác hay không, Lâm Uyên nhận ra đôi mắt của Khúc Thuần Phong hơi hơi đỏ lên, như thể sắp khóc. Ngón tay cậu khẽ siết lại, bỗng nhiên không biết phải làm gì. Cậu trườn đuôi lên bờ, ngồi xuống bên cạnh anh, do dự một chút, rồi dang tay ôm lấy Khúc Thuần Phong: "Ngươi đừng khóc nữa, sư phụ ngươi mất rồi, ta làm sư phụ ngươi được không?"
Khúc Thuần Phong: "..."
Kally: Không được cười bạn nha =))) tôi xin phép được cười trước
Chương 119
Giao nhân vẫn đơn thuần như thế, suy nghĩ cũng rất đơn giản. Cậu chỉ cho rằng Khúc Thuần Phong buồn vì mất đi sư phụ, bèn giơ tay đếm từng ngón, nghiêm túc giảng giải những lợi ích khi bái sư: "Nếu ta làm sư phụ ngươi, ta có thể dạy ngươi bắt cá, dạy ngươi bơi lội."
Còn có thể dạy ngươi thổi bong bóng nữa, nhưng Lâm Uyên nghĩ chuyện này chắc chắn Khúc Thuần Phong không học đâu, nên không nói.
Khúc Thuần Phong: "..."
Trong lòng anh vốn dĩ rất nặng nề, nhưng nghe cậu nói thế, lại cảm thấy như bị kẹt giữa không trung, khóc thì khóc không ra, mà cười cũng không cười nổi. Trăm mối cảm xúc đan xen, thực chẳng biết phải nói sao cho phải.
May mắn là anh chưa nói thêm rằng cha mẹ mình cũng đã qua đời, nếu không, chỉ sợ giao nhân này còn muốn làm cả cha mẹ của anh nữa...
Khúc Thuần Phong cụp mắt, nhìn bàn tay đang ôm chặt lấy eo mình của giao nhân. Những đầu ngón tay sắc nhọn của cậu đều ngoan ngoãn thu lại. Rốt cuộc anh cũng không đẩy cậu ra, chỉ khẽ nói hai chữ: "Không cần."
Lâm Uyên: "Không cần gì?"
Khúc Thuần Phong: "Không cần ngươi dạy."
Lâm Uyên hiếu kỳ: "Sao lại không cần ta dạy?"
Khúc Thuần Phong mím môi: "Không cần là không cần."
Lâm Uyên hỏi anh: "Thế ngươi biết bắt cá không?"
Khúc Thuần Phong tất nhiên là không: "..."
Lâm Uyên lại hỏi: "Vậy ngươi biết bơi không?"
Khúc Thuần Phong vẫn không biết: "..."
Lâm Uyên siết chặt cánh tay, cố gắng muốn ôm cả người anh vào lòng, nhưng khổ nỗi bản thân cậu quá gầy yếu, chỉ có thể ôm được một nửa. Cậu vỗ vỗ lưng Khúc Thuần Phong, giống như đang an ủi: "Ngươi xem, ngươi chẳng biết gì cả, lại còn không chịu học."
Khúc Thuần Phong nghe vậy, muốn nói điều gì đó, nhưng lại cảm thấy mình không đáng phải so đo với một con cá, nên đành nuốt hết lời định nói trở lại. Anh hơi cựa mình, định đẩy Lâm Uyên ra, nào ngờ đối phương lại càng ôm chặt hơn, anh chỉ có thể bỏ cuộc.
Giao nhân là loài máu lạnh, cơ thể của Lâm Uyên lúc nào cũng mát lạnh, nhưng cậu chẳng hề để ý. Cậu chỉ nghĩ rằng Khúc Thuần Phong không vui, nên phải làm gì đó để anh vui lên: "Hay ta hái quả cho ngươi ăn có được không?"
Khúc Thuần Phong lắc đầu.
Lâm Uyên lại hỏi: "Vậy ta tìm ngọc trai cho ngươi được không?"
Cậu ngoan ngoãn ngồi bên cạnh Khúc Thuần Phong, mái tóc dài màu xanh thẫm càng làm nổi bật làn da trắng như tuyết, đôi môi đỏ thắm. Dáng vẻ yêu mị như thế, nhưng khi đứng trước mặt người đàn ông này, ánh mắt lại trong trẻo tựa tờ giấy trắng.
Khúc Thuần Phong nghe cậu hỏi hết câu này đến câu khác, mím môi không đáp. Anh nghĩ bụng, giao nhân này chắc là muốn dỗ mình vui, ý nghĩ ấy vừa nảy ra thì không cách nào nén xuống được nữa.
Ánh mắt anh dừng lại trên chiếc ngọc bội cổ mà Lâm Uyên đeo trên cổ. Anh đưa tay v.uốt ve nó một lát, im lặng giây lâu, rồi bất chợt cất giọng trầm thấp: "Đây là di vật của mẹ ta."
Anh chưa từng kể với ai về thân thế của mình. Những sư đệ kia thấy anh luôn mang theo miếng ngọc này, lại không để ai động vào, liền nghĩ rằng đó là vật sư phụ ban cho, nên mới trân quý đến vậy.
Lâm Uyên không hiểu vì sao tự dưng anh lại nói điều này, cậu khẽ quẫy đuôi, có chút căng thẳng hỏi: "Vậy cha ngươi đâu?"
Khúc Thuần Phong lắc đầu, giọng nói bình thản đến bất ngờ: "Mất rồi."
Anh chỉ nhớ rằng khi còn nhỏ, thiên hạ chiến loạn, khắp nơi đều là cảnh đao binh. Sau đó, gia đình thu dọn tài sản, chạy nạn về phương Nam, nào ngờ gặp phải sơn tặc, cả nhà đều mất mạng, chỉ mình anh may mắn sống sót. Cuối cùng, anh được Hồng Quan Vi khi ấy đang chu du đưa về kinh thành.
Có lẽ vì khi đó còn quá nhỏ, nên anh chẳng có ký ức gì về cha mẹ. Giờ nghĩ lại cũng không đến mức quá đau buồn. Thiên hạ này vốn dĩ như vậy, phân tranh tan hợp, sinh vào thời loạn, có quá nhiều người vô tội phải mất mạng. Chỉ mong, như lời quẻ bói của Hồng Quan Vi, Đại Sở khí số đã tận, phương Bắc sẽ có minh quân đứng lên.
Ánh mắt Khúc Thuần Phong bất giác rơi xuống thanh kiếm trong tay mình. Trên thân kiếm khắc rõ hai chữ "Thượng Thiện", nhưng đời trước nó đã nhuốm quá nhiều máu. Giờ đây nhớ lại, chỉ thấy thật châm biếm.
Ngoài khơi xa, sóng biển cuồn cuộn nối nhau, từng lớp từng lớp như sự thay đổi của các triều đại. Khúc Thuần Phong từ từ tra kiếm vào vỏ, như thể đã buông bỏ điều gì đó, rồi nói với Lâm Uyên: "Sau này, ta sẽ không săn giao nhân nữa..."
Làm đấng nam nhi sinh vào thời loạn, nên cầm thanh kiếm ba thước, bước lên triều đình thiên tử, lập công bất thế. Nhưng Khúc Thuần Phong không màng đến vinh hoa, chỉ mong giữ được trong lòng mình một chữ thị phi, không còn mù quáng ngu muội như trước.
Nghĩ thông suốt điều này, trong lòng anh dường như có một tảng đá lớn lặng lẽ rơi xuống, gánh nặng ngàn cân được trút bỏ. Bức tường mà anh vướng mắc bấy lâu nay bỗng chốc có dấu hiệu nứt ra, chỉ cần thêm thời gian, tu vi sẽ tiến thêm một tầng.
Lâm Uyên nghe thấy lời anh, lập tức xoay người đè anh xuống đất. Sau lưng cậu là ánh chiều tà rực rỡ, vì ngược sáng nên không nhìn rõ biểu cảm, chỉ thấy đôi mắt xanh thẫm trong suốt và xinh đẹp vô cùng. Vì quá vui mừng, chiếc đuôi của cậu không ngừng vẫy: "Thật không? Thật không?"
Khúc Thuần Phong bị cậu bất ngờ đ.è xuống, giật mình hoảng hốt, theo bản năng đỡ lấy Lâm Uyên. Nghe thấy câu hỏi của cậu, anh ngẩn người một chút, rồi gật đầu nghiêm túc: "Đương nhiên là thật."
Khúc Thuần Phong sẽ không bao giờ hiểu được Lâm Uyên vui mừng đến nhường nào.
Giữa tộc nhân và bạn đời, lựa chọn bên nào cũng là một việc khó khăn. Lâm Uyên thoạt nhìn có vẻ hờ hững, nhưng thực ra trong lòng cậu do dự và băn khoăn không kém gì Khúc Thuần Phong. Giờ được nghe anh nói câu này, cậu còn vui hơn cả khi nhận được một đống châu báu lấp lánh.
Lâm Uyên nằm trên người Khúc Thuần Phong, hôn nhẹ lên má anh. Đôi môi mềm mại tinh tế mang theo cảm giác mát lạnh, như lông vũ nhẹ nhàng lướt qua. Khúc Thuần Phong không tự nhiên quay đầu né tránh, vành tai trắng nõn lập tức đỏ bừng. Nhìn thấy, Lâm Uyên không nhịn được mà khẽ liếm nhẹ vành tai anh, giọng điệu đơn thuần nói: "Ta tin ngươi sẽ không làm hại ai."
Khúc Thuần Phong tốt như vậy, sao có thể làm hại người khác được chứ?
Khúc Thuần Phong nghe vậy, bất giác nhớ lại những chuyện của kiếp trước. Lần đầu tiên trong đời, trong lòng anh dâng lên một chút hối hận. Anh do dự, đưa tay vuốt mái tóc xanh lam đậm của Lâm Uyên ra sau tai, lại khẽ chạm vào đôi tai nhọn của cậu, sau đó gật đầu, "Ừm" một tiếng.
Lâm Uyên liếm nhẹ dái tai anh, rồi từ khóe mặt Khúc Thuần Phong hôn dọc lên đến môi. Cuối cùng, cậu ôm lấy cổ anh, thuần thục tách môi anh ra. Khúc Thuần Phong theo thói quen chống cự thoáng chốc, nhưng rồi lại thích nghi, chậm rãi vòng tay ôm lấy eo thon gọn của Lâm Uyên, rồi đè cậu xuống dưới thân mình.
Giống như Minh Nghĩa đã nói, đại sư huynh của bọn họ quả thực thích giả vờ đứng đắn.
Lâm Uyên khẽ thở dốc, giọng nói mang theo sự ngọt ngào, mê hoặc đặc trưng của giao nhân. Đôi mắt nơi đuôi khóe đã bị Khúc Thuần Phong hôn đến đỏ ửng, cái đuôi dài uyển chuyển nhẹ nhàng quẫy, có chút khó nhịn mà cọ sát lên người anh.
Bây giờ trời vẫn chưa tối hẳn, hơn nữa nơi này lại là bãi đá lộn xộn, Khúc Thuần Phong dĩ nhiên không thể làm gì thêm. Đúng lúc anh gần như không kiềm chế nổi, liền lập tức dừng lại. Nhìn thấy Lâm Uyên trong lòng mình đã ý loạn tình mê, anh đưa tay giữ lấy cái đuôi đang không ngừng quẫy động của cậu, do dự nói:
"... Hay là ngươi về biển trước đi."
Lâm Uyên ngửi thấy hương trầm trên áo anh, hỏi: "Thế còn ngươi?"
Khúc Thuần Phong tránh ánh mắt cậu, đáp: "Ta sẽ về nha môn trước."
Lâm Uyên: "..."
Đời này làm giao nhân, quả thực cậu chưa từng gặp chuyện như thế này. Đang hôn đến lúc căng dây, mũi tên đã đặt lên cung không thể không bắn, thế mà Khúc Thuần Phong lại bảo ai về nhà nấy?
Cái đuôi của Lâm Uyên quẫy mạnh, lần này không còn nhẹ nhàng nữa, mà là một cú quẫy mạnh đến mức khiến đá vụn bắn tung tóe. Cậu giận dỗi:
"Tại sao?"
Khúc Thuần Phong đáp: "Ta xử lý một số việc xong, sẽ đến tìm ngươi."
Lâm Uyên không còn tin anh nữa, vừa giận vừa tủi thân: "Lần nào ngươi cũng nói vậy, nhưng lần nào cũng không đến tìm ta!"
Khúc Thuần Phong không hề tức giận, chỉ vén tay áo lên chắn những mẩu đá vụn đang bắn về phía mình, rồi hạ giọng hứa hẹn: "Lần này là thật."
Hiện tại, các thành trì phía Bắc liên tiếp thất thủ, quân địch chẳng bao lâu nữa sẽ tiến vào nước Sở. Đến lúc đó chắc chắn sẽ nổ ra một trận chiến lớn. Khúc Thuần Phong dự định tích trữ lương thực, thảo dược, cùng các đệ tử Thiên Nhất Môn đến trú tạm ở một hòn đảo hoang xa xôi, đợi đến khi chiến loạn qua đi mới trở ra.
Sau đó...
Sau đó, đợi minh quân lên ngôi, thiên hạ thái bình, anh sẽ xây một căn nhà gỗ bên bờ biển, sống cùng giao nhân này mà thôi...
Chỉ mong cậu sớm hóa giải được độc cổ, để các sư đệ không còn phải chịu khổ nữa.
Khúc Thuần Phong trước đây là một khối băng lạnh lẽo, nay những góc cạnh băng giá đã tan chảy. Tiên phong đạo cốt của anh giờ đây nhìn qua lại có thêm vài phần ôn hòa. Anh đã nghĩ xong đường lui, lòng cũng không còn mờ mịt, liền bế ngang Lâm Uyên từ mặt đất lên, rồi đi sâu vào làn nước biển, sóng lớn xô đến, dần dần ngập đến ngang eo anh.
Khúc Thuần Phong thả Lâm Uyên xuống nước: "Mười ngày nữa ta sẽ đến tìm ngươi."
Lâm Uyên vừa vào nước liền trở nên linh hoạt. Cậu bơi một vòng quanh Khúc Thuần Phong, sau đó mới nổi lên mặt nước. Mái tóc dài màu xanh lam đậm ướt sũng, nhỏ từng giọt nước, làn da trắng mịn như một khối ngọc không chút nhiệt độ, không chút tỳ vết, chỉ duy nhất nốt lệ chí đỏ tươi kia là nổi bật: "Ngươi nhất định phải đến tìm ta."
Khúc Thuần Phong gật đầu:
"Đương nhiên."
Anh vốn định nhìn Lâm Uyên rời đi, nhưng đối phương lại không hề động đậy, buộc anh phải xoay người rời khỏi. Từng bước lội nước trở về bờ, anh đi chưa được nửa đường, đã nghe thấy Lâm Uyên từ xa xa gọi vọng lại: "Ngươi nhất định phải quay lại, nếu không ta sẽ đi tìm giao nhân khác!"
Khúc Thuần Phong nghe vậy không kịp đề phòng mà vấp một cái. Anh có chút chật vật quay đầu lại, liền thấy giao nhân kia đang đứng trong ánh hoàng hôn, nhìn anh cười như yêu tinh, sau đó lặng lẽ lặn xuống biển.
Khúc Thuần Phong chậm mất một nhịp mới thu hồi ánh mắt, phản ứng lại, chớp chớp mắt: "Ngươi muốn đi tìm giao nhân khác?"
Tìm giao nhân làm gì, ăn sao?
Nếu khi xưa cậu thật sự chịu mở lòng đi tìm một giao nhân khác làm bạn đời, thì Khúc Thuần Phong nào đến mức tự làm khổ mình, rơi vào hoàn cảnh như ngày hôm nay. Anh lắc đầu, lại cười nhẹ, đối với lời của Lâm Uyên, một câu cũng không tin.
Khúc Thuần Phong vắt sạch nước đọng trên vạt áo, sau đó quay về nha môn. Vừa vào cửa, anh đã phát hiện đệ tử Thiên Nhất Môn đều đang chờ sẵn, vừa thấy anh trở về liền đồng loạt vây quanh, ríu rít hỏi:
"Đại sư huynh, vừa rồi huynh đi đâu vậy?"
"Phải đó, bọn đệ lo lắng muốn chết."
"Bọn đệ tìm huynh khắp phố mà không thấy."
Bọn họ đại khái đã biết tin Hồng Quan Vi hóa, ánh mắt ai nấy đều hơi đỏ, nhưng trước mặt Khúc Thuần Phong lại không ai nhắc đến nửa lời, sợ chạm vào nỗi đau của anh.
Khúc Thuần Phong quét mắt qua từng người một, ánh mắt băng lãnh cuối cùng cũng có chút dịu lại, nhưng trên mặt vẫn là vẻ thản nhiên thường ngày, chỉ nói: "Các đệ theo ta."
Nói xong, anh đi thẳng vào nội sảnh. Minh Tuyên và những người khác không hiểu gì, đành đi theo.
Khúc Thuần Phong vào nội sảnh, ra hiệu bảo bọn họ đóng cửa, sau đó đặt thanh kiếm dài trên bàn, châm một cây nến, mới cất giọng: "Hiện nay sư phụ đã hoá, nước Sở cũng sắp tận số. Chiêu Ninh Đế hôn mê, thái tử còn nhỏ, triều đình rối ren. Quân địch đã phá hơn mười thành, chẳng mấy chốc sẽ đánh vào. Quốc sư này không làm cũng được, chúng ta nên sớm tìm đường lui."
Chúng đệ tử Thiên Nhất Môn nghe xong thì nhìn nhau, hiển nhiên không ngờ tình hình đã nghiêm trọng đến vậy: "Đại sư huynh, vậy chúng ta... chúng ta nên tìm đường lui thế nào?"
Khúc Thuần Phong nói: "Trước khi mất, sư phụ từng bốc một quẻ, nói rằng nước Sở đã nguy, phương Bắc có minh quân thay thế. Hiện tại, chúng ta tạm chọn một nơi để lánh nạn, đợi minh quân kế vị, triều cục ổn định, rồi tính con đường sau này."
Bọn họ từ nhỏ đã lớn lên cùng nhau, nghe vậy liền không ai không gật đầu đồng ý: "Sư huynh nói gì, chúng đệ sẽ làm theo, chúng đệ nghe huynh."
Khúc Thuần Phong tháo túi Càn Khôn bên hông ra, đổ ra một đống lớn đồ vật, vàng bạc châu báu, đồ cổ thỏi vàng, rõ ràng là lễ vật khi xưa Ngô Hiển Vinh hối lộ anh. Đống đồ này chất thành một ngọn núi nhỏ trên bàn, dưới ánh nến chiếu rọi, sáng lóa cả mắt người.
Minh Tuyên không kìm được mà nuốt nước bọt:
"Đại sư huynh, huynh muốn chia hết cho bọn đệ sao?"
Khúc Thuần Phong liếc hắn một cái, thật sự chia vàng bạc ra thành nhiều phần, nói với đệ tử Thiên Nhất Môn: "Các đệ cầm số này, đổi thành ngân lượng, rồi đi mua lương thực, dược liệu, thuyền bè. Chỗ chúng ta đến là đảo hoang, phải chuẩn bị đầy đủ."
Các sư đệ không khác gì gà con mổ thóc, gật đầu lia lịa, đồng loạt tiến lên nhận vàng bạc. Không còn cách nào khác, đi vội quá, tài sản đều để lại kinh thành, đành tạm mượn tiền của Ngô Hiển Vinh mà dùng vậy.
Nhớ đến Ngô Hiển Vinh, Khúc Thuần Phong không khỏi hỏi:
"Ngô đại nhân đâu rồi?"
Minh Tuyên đầu cũng không ngẩng lên, thuận miệng đáp: "Có lẽ đang bán đồ để chạy trốn rồi."
Hiện tại quân địch sắp đánh vào, người người đều lo sợ, mà Ngô Hiển Vinh lại không phải hạng người có khí tiết lấy cái chết báo quốc, đương nhiên đã sớm chuẩn bị đường lui.
Khúc Thuần Phong nhíu mày: "Tại sao lại nói vậy?"
Minh Tuyên lấy một ví dụ: "Sáng nay ông ta ra ngoài một chuyến, những bình hoa cổ trong chính sảnh không còn cái nào."
Minh Nghĩa cũng đưa ra một ví dụ: "Giờ Ngọ hôm nay ông ta lại ra ngoài một chuyến, toàn bộ bàn ghế gỗ tử đàn và lê vàng trong phủ đều không cánh mà bay."
Khúc Thuần Phong: "......"
Rất tốt, đều đang chuẩn bị chạy trốn.
Chương 120
Hiện nay đang trong thời buổi loạn lạc, giá gạo đắt đỏ. Các đệ tử Thiên Nhất Môn chia thành nhiều nhóm, đem toàn bộ châu báu, vàng ngọc quy đổi thành ngân lượng, rồi đổi hết thành lương thực, thuốc men, mua thêm vài chiếc thuyền đánh cá, vận chuyển hàng hóa ra hòn đảo giữa biển. Cứ thế bôn ba tới lui suốt bảy tám ngày, cuối cùng mới miễn cưỡng gom đủ mọi thứ.
Cùng lúc đó, quân đội phương Bắc liên tiếp thắng trận, thế như chẻ tre. Không chỉ g.iết ch.ết nguyên soái quân Sở, mà còn bắt sống hai mươi vạn binh sĩ tiền tuyến, trong đó có đến bảy phần đã đầu hàng. Chiêu Ninh Đế nghe tin thì khí huyết nghịch hành, thậm chí chưa kịp lập di chiếu đã băng hà.
Triệu Vương thấy tình thế không ổn, đã sớm sinh lòng thoái chí. Hiện tại nước Đại Sở nội ưu ngoại hoạn, chẳng khác nào củ khoai bỏng tay. Hắn dù có làm hoàng đế thì cũng có ý nghĩa gì, vì vậy dứt khoát ủng hộ thái tử kế vị, lợi dụng thái tử còn nhỏ để ép lấy một đống ban thưởng, sau đó trước khi quân Bắc kịp đánh vào đã dẫn đại quân trở về đất phong của mình.
Da không còn, lông làm sao bám. Triều đình nước Sở nhìn qua đã tan tác hơn phân nửa, các quan viên phía dưới chẳng khác nào cát bụi, không thể tụ lại làm một. Khi quân Bắc tiến vào, các tướng phòng thủ thành nếu trung tâm không sợ chết thì trực tiếp lấy thân tuẫn quốc, còn nếu nhìn rõ thời thế thì lập tức mở cổng thành đầu hàng. Tình thế này đã dần dần lan xuống phía Nam.
Đến nửa đêm ngày thứ mười, trời vẫn chưa sáng, Minh Tuyên cùng những người khác đã thu dọn hành lý chuẩn bị rời đi. Bọn họ lặng lẽ bước ra khỏi phòng, không kinh động đến bất kỳ ai, lén lút rời khỏi nha môn.
Khúc Thuần Phong không muốn để bất kỳ ai biết về tung tích của bọn họ, vì thế vô cùng cẩn thận, cố ý chọn thời điểm nửa đêm khi mọi người ngủ say nhất để rời đi. Ai ngờ vừa bước ra khỏi cổng nha môn, liền thấy một cỗ xe ngựa bốn ngựa kéo dừng lại ngay trên con đường đá xanh trước cửa. Người đánh xe đội một chiếc mũ nỉ nhỏ, trong lòng ôm một cây roi ngựa dài, đầu gục lên gục xuống, đang dựa vào càng xe ngủ gật.
Khúc Thuần Phong nhíu mày, quay đầu nhìn bọn họ:
"Ai gọi xe ngựa đến đây?"
Chúng đệ tử Thiên Nhất Môn thấy vậy thì nhìn nhau ngơ ngác, sau đó đồng loạt lắc đầu, tỏ vẻ không biết. Khúc Thuần Phong thấy vậy đang định lên tiếng, lại thấy cánh cổng nha môn vốn đang đóng chặt bỗng kêu "két" một tiếng, bị người ta mở ra. Từ bên trong, một người đàn ông trung niên thò đầu nhìn quanh, không ai khác chính là Ngô Hiển Vinh.
Ngày thường ông ta thích hưởng lạc, quần áo toàn là gấm vóc lụa là, nhưng hôm nay lại phá lệ mặc một bộ y phục vải thô vô cùng giản dị. Trong lòng ôm chặt một chiếc hòm gỗ tử đàn điêu khắc hoa văn, không biết bên trong đựng thứ gì mà nặng trĩu, khiến ông ta không sao đứng thẳng lưng được.
Đệ tử Thiên Nhất Môn không ngờ bọn họ giữa đêm lén trốn đi lại bị người ta bắt gặp, đồng loạt trố mắt đứng hình.
Mà Ngô Hiển Vinh cũng không ngờ bản thân nửa đêm chuẩn bị ôm tiền bỏ trốn, lại gặp Khúc Thuần Phong cùng đám người này ngay trước cổng. Thân hình ông ta khựng lại, cả người hóa đá, chiếc hòm vàng trong lòng suýt chút nữa rơi xuống đè trúng chân.
Minh Tuyên cùng những người khác bất giác lùi về sau, nép vào sau lưng Khúc Thuần Phong, nhỏ giọng hỏi: "Đại sư huynh, bây giờ làm sao đây?"
Khúc Thuần Phong ra hiệu bảo bọn họ im lặng, ánh mắt bình thản nhìn về phía Ngô Hiển Vinh, dù là đang làm chuyện bỏ trốn, anh vẫn mang dáng vẻ quang minh chính đại, giọng điềm tĩnh hỏi: "Ngô đại nhân nửa đêm ra ngoài, có việc quan trọng gì sao?"
Ngô Hiển Vinh: "......"
Chạy trốn tính là việc quan trọng không?
Nước Đại Sở hiện tại tuy nguy khốn, nhưng chưa hoàn toàn sụp đổ. Ngô Hiển Vinh vẫn mang thân phận quan viên, nếu bị phát hiện tham ô bỏ trốn, đây chính là tội chém đầu. Trước mặt Khúc Thuần Phong, vị quốc sư này, ông ta sợ đến mức tim gan run rẩy, vắt óc nghĩ ra cớ:
"Bẩm... bẩm quốc sư, quân địch phương Bắc đánh vào lãnh thổ nước Sở, khiến dân chúng hoang mang. Hạ quan nghe nói huyện lân cận thiếu lương thực, bách tính phải ăn thịt lẫn nhau, thân làm phụ mẫu chi dân nên muốn đi xem tình hình, vì thế... vì thế..."
Khúc Thuần Phong nghe vậy liếc nhìn chiếc hòm gỗ nặng trĩu trong tay ông ta, lòng đã rõ ràng nhưng ngoài mặt vẫn làm như không biết, thâm ý nói: "Hóa ra là vậy, vậy thì chúc Ngô đại nhân lên đường thuận lợi."
Chạy trốn thôi mà, thiên hạ này ai cũng đang chạy, thiếu gì người như ông ta.
Ngô Hiển Vinh nghe vậy cứ ngỡ mình đã qua ải, trong lòng thầm thở phào, đang định gật đầu đáp lời, lại thấy nhóm người Khúc Thuần Phong, cuối cùng cũng phản ứng lại, nghi hoặc hỏi: "Dám hỏi quốc sư, đêm khuya rời nha môn, là muốn đi đâu vậy?"
Khúc Thuần Phong đổi thanh kiếm sang tay khác: "Ngươi không cần biết."
Thượng quan làm việc, không cần phải báo cáo với hạ quan. Anh có thể hỏi Ngô Hiển Vinh, nhưng ông ta thì không có quyền hỏi anh.
Ngô Hiển Vinh nghe vậy sững người, phản ứng lại liền vội vàng tạ tội cáo từ. Thiên hạ này nhìn qua sắp đổi chủ, ông ta vốn không định làm quan nữa, Khúc Thuần Phong đi đâu dĩ nhiên chẳng còn liên quan gì đến ông ta. Ông ta cười lấy lòng vài câu, sau đó cuống quýt trèo lên xe ngựa rời đi.
Tiếng vó ngựa dồn dập vang lên trên con phố dài, cuối cùng biến mất trong màn đêm tĩnh mịch. Khúc Thuần Phong nhìn lại nha môn lần cuối, chỉ thấy tấm biển khảm vàng đã phủ đầy bụi, nghiêng ngả như muốn sụp đổ. Anh thu hồi ánh mắt, nói với sư đệ: "Đi thôi."
Bên bờ biển đã chuẩn bị sẵn hàng chục chiếc thuyền nhỏ. Khi họ đến nơi, mọi người nhanh chóng chia thành từng nhóm bước lên thuyền, chèo về phía hòn đảo trung tâm. Minh Không lần đầu đi thuyền, say sóng đến mức đầu choáng mắt hoa. Hắn nhìn quanh một vòng, phát hiện trong đám sư huynh đệ dường như chỉ có mình là phản ứng dữ dội nhất. Hắn mặt tái nhợt, yếu ớt hỏi Minh Tuyên: "Nhị... nhị sư huynh, huynh không thấy chóng mặt sao?"
Minh Tuyên vốn đang thong thả chèo thuyền, nghe vậy ngẩn ra một lúc, rồi phản ứng lại: "Tất nhiên là chóng mặt chứ."
Chỉ là sau lần lật thuyền trước kia, bị ngâm cả nửa ngày dưới biển, lại thêm một tháng sống như người rừng trên đảo, thì dù có chóng mặt đến đâu, cũng chẳng đáng là gì.
Minh Không thật sự không nhìn ra được chỗ nào Minh Tuyên cảm thấy choáng váng, rõ ràng sắc mặt hồng hào, trông khỏe khoắn vô cùng. Hắn nằm bẹp bên mép thuyền, yếu ớt đến mức chỉ còn thở được, giọng cũng chẳng còn sức lực, hỏi: "Đại sư huynh, tại sao chúng ta phải đến hải đảo..."
Đi vào rừng sâu núi thẳm chẳng phải tốt hơn sao? Lên cây bắt chim non, vui biết bao.
Khúc Thuần Phong ngồi ở mũi thuyền, tay áo bị gió biển thổi tung phần phật. Anh chỉ chăm chú lau kiếm bằng một tấm vải, nghe vậy thì giọng điệu nhàn nhạt, đầu cũng không quay lại: "Không có tại sao."
Mấy chiếc thuyền đi sát nhau, những sư huynh đệ bên cạnh nghe thấy cuộc đối thoại của họ, đều không nhịn được mà nhìn sang đây. Hàng chục ánh mắt đồng loạt dồn về phía Minh Không, sáng rực như muốn truyền tải cho hắn tất cả những chuyện bát quái trong suốt thời gian qua.
Minh Tuyên: Sao có thể không có tại sao được, đừng nghe đại sư huynh giả vờ nghiêm túc.
Minh Nghĩa: Đại sư huynh và một con cá đã thành đôi rồi!!!
Minh Trù: Trên đảo đó có rất nhiều giao nhân, rất rất nhiều!!!
......
Lượng thông tin truyền đến từ bốn phương tám hướng quá lớn, khiến Minh Không chẳng hiểu nổi một câu nào. Hắn chỉ nghĩ là mình nói nhiều quá, khiến các sư huynh không vui, bị những ánh mắt nóng rực kia nhìn đến phát lạnh cả sống lưng, vô thức rụt người vào trong thuyền, vội vã ngậm miệng lại.
Ôi trời!
Các sư huynh đành bất đắc dĩ thu ánh mắt về, chỉ tiếc rèn sắt không thành thép.
Khúc Thuần Phong không biết chuyện gì đang diễn ra sau lưng mình, chỉ cảm thấy bọn sư đệ cuối cùng cũng im lặng. Thấy hòn đảo ngày càng gần, anh đang định đứng dậy, ai ngờ thân thuyền bỗng chao nghiêng, như thể có thứ gì đó bám lên, khiến mọi người giật mình hoảng sợ.
Khúc Thuần Phong theo bản năng định rút kiếm, nhưng nhìn kỹ lại thì thấy đó là Lâm Uyên.
Giao nhân bám hai tay lên mép thuyền, mái tóc dài màu xanh đen tung ra tứ phía trong làn nước, làn da trắng như tuyết, đôi môi đỏ thắm, dung mạo tuyệt sắc. Cậu nổi lên từ mặt biển sâu không thấy đáy, vừa yêu dị vừa kỳ quái, nhưng trong mắt lại ngập tràn niềm vui khó tả. Cậu thổi một cái bong bóng nước khi trồi lên, nắm lấy vạt áo của Khúc Thuần Phong, nói:
"Sao bây giờ ngươi mới đến?"
Chúng đệ tử Thiên Nhất Môn: Ồ hố~~~
Minh Không thấy vậy thì hoảng hốt vô cùng, trừng to mắt la lên: "Đại đại đại... đại sư huynh! Yêu quái a a a a a!"
Minh Tuyên nhanh tay bịt miệng hắn lại: "Suỵt, đừng nói bậy."
Giao nhân này nhỏ mọn, mà đại sư huynh còn nhỏ mọn hơn.
Khúc Thuần Phong nghe thấy tiếng kêu của Minh Không, theo phản xạ quay đầu lại, chỉ thấy miệng hắn bị Minh Tuyên bịt kín, không thể phát ra âm thanh. Anh nhíu mày theo thói quen, rồi lại từ từ thả lỏng, thấp giọng nói: "Hắn không phải yêu quái."
Vẫn là kiểu nói năng ngắn gọn, chẳng giải thích gì thêm.
Lâm Uyên vốn đang lười biếng bám vào mạn thuyền, nghe vậy thì quay đầu nhìn, sắc mặt không vui, vẩy nhẹ đuôi cá một cái, trực tiếp hất một làn nước lên người Minh Không. Thấy hắn bị dọa đứng ngây ra như trời trồng, cậu cảm thấy vô cùng thú vị, cười khanh khách rồi bơi vào trong biển. Sau đó, cậu lại bất ngờ quay lại, định hất nước lên người Khúc Thuần Phong, nhưng người kia phản ứng nhanh nhạy, nghiêng người tránh được.
Đồ đầu gỗ!
Lâm Uyên hừ một tiếng, dứt khoát tự mình bơi thẳng đến bờ biển, thong thả chỉnh lại cái đuôi cá xinh đẹp của mình, chờ Khúc Thuần Phong chủ động đi tìm.
Nhưng nếu Khúc Thuần Phong không đến thì sao?
Vậy thì cậu sẽ tự mình đi tìm anh.
Khi thuyền cập bến, đệ tử Thiên Nhất Môn lần lượt bước xuống, lôi Minh Không ra một góc, bịt miệng hắn lại, buộc hắn phải nghe hết những chuyện bát quái xảy ra trong thời gian qua. Khúc Thuần Phong không để ý, chỉ nghĩ bọn họ đang sắp xếp lại lương thực, đưa mắt nhìn quanh, thấy Lâm Uyên ngồi một mình bên bãi đá ngầm. Anh dừng lại một chút, rồi cất bước đi tới.
Khúc Thuần Phong vốn tính tình dè dặt, chẳng biết phải nói gì cho phải. Anh vén vạt áo, ngồi xuống bãi cát bên bờ biển, đặt thanh kiếm bên cạnh, lặng lẽ ở lại bên cạnh Lâm Uyên. Ở phía xa, một vầng mặt trời đỏ rực từ từ nhô lên khỏi đường chân trời, nhuộm cả một mảng trời biển thành màu máu.
Đây là một khung cảnh tĩnh mịch và đẹp đẽ, nhưng hiển nhiên Lâm Uyên không hài lòng chỉ ngồi ngắm cảnh thế này. Cậu nghiêng người qua, nắm lấy gáy Khúc Thuần Phong, ép anh cúi đầu xuống, rồi trực tiếp hôn lên. Cơ thể cậu mềm mại, lành lạnh, áp sát vào người Khúc Thuần Phong, rõ ràng nhiệt độ thấp, nhưng anh lại chỉ cảm thấy nóng bừng.
Khúc Thuần Phong theo bản năng vùng vẫy một chút, nhưng lại bị Lâm Uyên mạnh mẽ đ.è xuống. Thấy đám sư đệ không có mặt ở đây, với cả tảng đá ngầm che chắn, anh nửa chống cự, nửa thuận theo, rốt cuộc dây dưa cùng cậu một hồi, hôn đến mức giao nhân dưới thân thở không ra hơi, đôi mắt đỏ hồng.
Mái tóc dài màu xanh đen của Lâm Uyên xõa tung trên bãi cát, càng làm nổi bật làn da trắng bệch. Hàng lông mi dài của cậu khẽ run, nơi khóe mắt có một nốt ruồi lệ đầy mê hoặc. Đôi môi mềm mại hơi sưng đỏ, chiếc đuôi cá nhẹ nhàng cọ vào chân Khúc Thuần Phong, rồi dắt tay anh đặt lên đuôi mình.
Ở đó có một mảng vảy mềm mại vô cùng, rất dễ bị phá vỡ.
Lâm Uyên giọng khàn khàn, đầy mờ ám. Cậu nắm lấy ngón tay của Khúc Thuần Phong, vừa làm vừa nói:
"Khó chịu quá..."
Khúc Thuần Phong không nói gì, anh liếc nhìn bầu trời đã sáng rõ, cả người cứng đờ, chỉ cảm thấy đầu ngón tay mình ẩm ướt. Anh khẽ dùng sức muốn rút tay lại, nhưng lại bị Lâm Uyên ghì chặt không cho cử động.
Giao nhân dường như đã nhịn đến cực hạn. Cái đuôi mạnh mẽ vung lên, mang theo chút bực bội, trực tiếp ôm lấy Khúc Thuần Phong rồi lăn vào biển, bơi về phía một hòn đảo nhỏ khác.
Lễ nghi quân tử của Khúc Thuần Phong đã nhường một bước lại một bước, không còn đường lui nữa. Khi bị Lâm Uyên đ.è xuống bãi cát, anh vẫn muốn giữ lại chút lý trí cuối cùng, nắm lấy cổ tay thon dài của hắn, nhắc nhở: "Bây giờ là ban ngày."
Ban ngày thì sao chứ.
Lâm Uyên khẽ mổ lên môi anh, đầu lưỡi mềm mại đỏ hồng thè ra liếm nhẹ. Ngón tay hắn mân mê vành tai nóng bừng của Khúc Thuần Phong, giọng nói ngây thơ nhưng lại đầy quyến rũ: "Không sao, bọn họ không nhìn thấy đâu."
Lâm Uyên vừa nói, vừa giống như một chú thú nhỏ cọ cọ vào cần cổ anh, giọng nói đơn thuần, mang theo chút nghèn nghẹn: "Ta nhớ ngươi quá."
Cậu không thể đi lại trên cạn, chỉ có thể chờ Khúc Thuần Phong ra biển tìm mình. Nhưng đối phương lại rất ít khi xuất hiện ở bờ biển, mỗi lần gặp đều cách nhau mười ngày nửa tháng, lâu đến mức chẳng thể trông mong.
Nghe vậy, Khúc Thuần Phong cụp mắt xuống, cảm giác được nỗi buồn mơ hồ trên người giao nhân này. Anh cử động những ngón tay cứng ngắc, rồi chậm rãi ôm lấy Lâm Uyên, muốn nói gì đó nhưng lại không thốt nên lời, chỉ có thể xoay người đè cậu xuống, dùng hành động thực tế để bày tỏ.
Giữa hai người, lúc nào cũng là Lâm Uyên chủ động quấn lấy anh trước. Nhưng một khi Khúc Thuần Phong chủ động, cậu lại ngoan ngoãn vô cùng. Cảm nhận từng nụ hôn nóng bỏng của người kia rơi xuống mặt mình, đôi mi của cậu khẽ run, rồi từ từ nhắm nghiền mắt lại.
Khúc Thuần Phong vẫn thích dùng chân, nhưng Lâm Uyên không biết có phải vì nhớ lại nỗi sợ bị cưỡng ép tách ra lần trước hay không mà nhất quyết không chịu biến trở lại. Sau đó, khi Khúc Thuần Phong dần đi vào trạng thái, động tác cũng không còn dịu dàng như lúc ban đầu nữa, Lâm Uyên để bảo vệ lớp vảy trên người mình, chỉ đành biến thành đôi chân.
Mặt trời đỏ chầm chậm dâng lên, sắc máu rực rỡ ấy cũng dần nhạt đi, trong bầu trời ngày càng sáng rõ, biến thành một vệt màu cam nhạt. Biển cả yên ả, không chút gợn sóng, chỉ có những con sóng nhỏ từng đợt từng đợt dâng lên, làm vỡ vụn ánh nắng rọi xuống thành những tia sáng lấp lánh.
Giọng của giao nhân bị va chạm đến mức vỡ vụn, không thành nhịp điệu. Đuôi mắt nhếch lên dần dần ửng đỏ, mang theo chút yêu mị, thấp thoáng lẫn chút nghẹn ngào, chỉ có thể bám chặt lấy tảng đá bên cạnh, khó khăn giữ vững thân mình. Gương mặt tuyệt sắc khuynh đảo chúng sinh ấy giờ đây không còn vẻ đắc ý và cuồng ngạo mê hoặc như thường ngày, chỉ còn sự yếu ớt. Cậu ngửa đầu bất lực, yết hầu gợi cảm lộ ra trong không khí, ngoài yếu đuối ra thì chỉ còn yếu đuối.
Lâm Uyên bị k.ích th.ích đến mức rơm rớm nước mắt, giọng cậu cũng khàn đặc vì khóc, cả đời này chưa từng rơi nhiều nước mắt đến như vậy. Cuối cùng, toàn bộ nước mắt ấy lại bị người đàn ông trên người mình hứng lấy không sót giọt nào, sau đó chầm chậm ngưng tụ thành những giọt nước mắt giao nhân trong suốt, lớn nhỏ không đều.
Khi mặt trời đã treo trên đỉnh đầu, Khúc Thuần Phong rốt cuộc cũng dừng lại. Anh chống người lên, nhìn Lâm Uyên với đôi mắt dại đi, dáng vẻ đáng thương, trong lòng nghĩ rằng cậu hà tất phải tự chuốc khổ vào mình. Bàn tay thon dài nâng lấy một đống nước mắt giao nhân lấp lánh dưới ánh mặt trời, lặng lẽ ngắm nhìn một lát, rồi mới cất vào túi Càn Khôn.
Những thứ lấp lánh có sức hấp dẫn trí mạng đối với giao nhân, huống hồ đây còn là nước mắt của chính cậu. Lâm Uyên níu lấy tay Khúc Thuần Phong, giọng nói vẫn còn chút khàn khàn, thấp giọng ấm ức nói: "Đó là nước mắt của ta."
Khúc Thuần Phong nhìn cậu, một lát sau mới khẽ đáp: "Ta biết."
Lâm Uyên bị ánh mắt nghiêm túc của anh nhìn đến mức tim đập lệch nhịp, lần đầu tiên trong đời loài máu lạnh cảm nhận được cảm giác nóng ran nơi vành tai là như thế nào. Cậu muốn nói gì đó, nhưng lại không biết phải mở lời ra sao, chỉ có thể ửng đỏ viền mắt, lại nhỏ giọng lặp lại một lần nữa: "Đó là nước mắt của ta..."
Cậu hừ một tiếng, cậu muốn một giọt quá đi thôi.
Khúc Thuần Phong lại ừ một tiếng: "Giờ là của ta rồi."
Câu nói vô lại này hoàn toàn không giống những gì anh thường nói, nhưng Khúc Thuần Phong lại cứ thế thốt ra.
Lâm Uyên thử chớp mắt vài lần, muốn khóc thêm một giọt nữa, nhưng thế nào cũng không khóc ra được. Cậu đưa tay len lén gỡ túi Càn Khôn bên hông Khúc Thuần Phong: "Trả ta một giọt, được không?"
Khúc Thuần Phong không chút động lòng, nhìn đôi hàng mi hơi ướt của cậu, đáp: "Tự mình khóc."
Lâm Uyên: "Khóc không ra..."
Nghe vậy, Khúc Thuần Phong nhìn về phía cậu: "Cần ta giúp không?"
Lâm Uyên: QAQ.
Chương 121
Thiên Nhất Môn tạm thời an cư trên hòn đảo này, để tránh khỏi chiến loạn bên ngoài. Ngoại trừ Minh Không vẫn còn chút khó khăn trong việc thích nghi, cơ bản không có vấn đề gì lớn. Thoắt cái, đã hơn nửa tháng trôi qua.
Khúc Thuần Phong ngồi bên bờ biển, bên cạnh đặt một chiếc lò đất nhỏ để sắc thuốc. Trong chiếc bình đầy nước thuốc đen sánh, vì nhiệt độ nóng bỏng mà từng đợt bọt khí sủi lên. Anh cầm trong tay một xấp giấy, vừa đọc vừa lấy dược liệu từ trong túi Càn Khôn bỏ vào. Thời gian trôi qua, nước thuốc càng lúc càng sền sệt.
Lâm Uyên trở về sau khi đi kiếm ăn, ngửi thấy mùi thuốc đắng ngắt liền lập tức bơi xa. Một lúc lâu sau mới chần chừ quay lại, dụi mặt vào đầu gối Khúc Thuần Phong, buồn bực nói đúng một chữ: "Hôi."
Khúc Thuần Phong thấy vậy, liền lấy từ bên hông một túi hương màu xanh nhạt đưa cho cậu. Mùi hương nhàn nhạt của đàn hương xua bớt mùi thuốc đắng, cuối cùng cũng khiến đôi mày nhíu chặt của giao nhân giãn ra đôi chút.
Lâm Uyên không hiểu vì sao Khúc Thuần Phong ngày nào cũng sắc những thứ này, dùng móng tay nhọn khều khều đống củi lửa, lại bị nóng mà rụt tay về. Cậu ngẩng đầu hỏi anh: "Có ngon không?"
Khúc Thuần Phong từng một lần dùng nồi đất nấu canh cá, khiến Lâm Uyên thòm thèm.
Khúc Thuần Phong cảm thấy cậu ngốc. Thuốc làm sao ngon được: "Tất nhiên là không ngon rồi."
Anh nghĩ đến độc tố trên người mình chưa được hóa giải, trong lòng đột nhiên trầm xuống. Nhìn Lâm Uyên một cái, những ngón tay thon dài rơi trên mái đầu cậu, chầm chậm luồn qua mái tóc xanh thẫm như mực. Yết hầu anh khẽ động, thấp giọng hỏi: "Nếu một ngày ta chết đi, ngươi có tìm người bạn đời khác không?"
Thực ra trong lòng anh đã biết đáp án, nhưng vẫn muốn hỏi một câu.
Lâm Uyên nghe anh nói đến chữ "chết", liền không vui. Cậu nhẹ nhàng cào cào vào ngọc bội bên hông Khúc Thuần Phong, lẩm bẩm nói: "Không tìm."
Giao nhân một khi chọn bạn lữ sẽ là một đời một kiếp, làm gì có chuyện thay đổi. Nếu Khúc Thuần Phong chết, cậu sẽ ở lại bên thi thể của anh.
Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhìn Lâm Uyên, một lát sau, anh kéo cậu vào lòng, khẽ thở dài, vòng tay ôm chặt lấy cậu. Sức lực lớn đến mức khiến người ta nghẹt thở. Lâm Uyên không hiểu vì sao hôm nay anh lại khác thường như vậy, ngơ ngác chớp mắt, nhưng cũng không giãy giụa, chỉ nhẹ nhàng quẫy quẫy đuôi.
Trong lòng Khúc Thuần Phong bỗng nhiên cảm thấy rất tiếc nuối. Không rõ lý do, chỉ là nỗi tiếc nuối không đâu vào đâu.
Lâm Uyên hỏi anh: "Ngươi làm sao vậy?"
Khúc Thuần Phong khẽ lắc đầu: "Không có gì."
Cuối cùng anh vẫn không nói với cậu chuyện mình trúng độc, chỉ nghĩ rằng nếu có thể giải được độc thì coi như trời ban ân đức, còn nếu không giải được, cũng là mệnh trời.
Minh Tuyên ngồi ở nơi xa, một mình buồn chán, đang nghịch mai rùa của mình. Hắn không hứng thú với những thứ khác, chỉ thích những thứ thần thần bí bí như bói toán. Hắn bỏ vài đồng tiền xu vào trong mai rùa, lắc lắc đến mức phát ra những âm thanh lách cách liên hồi.
Một giao nhân có chiếc đuôi vàng ngồi chống cằm nhìn hắn: "Ngươi đang làm gì vậy?"
Minh Tuyên: "Bói toán."
Giao nhân với chiếc đuôi vàng nghe vậy, hơi nhướng mày. Đôi mắt màu hổ phách của hắn dưới ánh mặt trời rực rỡ sáng ngời. Khác với vẻ yêu mị của Lâm Uyên, đường nét gương mặt hắn lại mang chút tà khí lạnh lùng hơn: "Bói toán là gì?"
Minh Tuyên: "Là đoán trước tương lai."
Đối phương như bừng tỉnh, có vẻ hứng thú: "Vậy ngươi bói cho ta đi?"
Ai ngờ Minh Tuyên lắc đầu như trống bỏi, nhắm mắt tiếp tục lắc mai rùa: "Ta chỉ biết bói mệnh người, không bói mệnh cá."
Hắn nói rồi, đổ mấy đồng xu ra, sắp xếp theo thứ tự, nhưng vẫn là một cục diện rối ren phức tạp. Hắn nhíu mày, bấm tay tính toán, trầm tư suy nghĩ, hồi lâu không lên tiếng.
Giao nhân kia thấy vậy liền hỏi: "Ngươi đã tính ra gì rồi?"
Minh Tuyên vuốt vuốt cằm, trầm ngâm nói: "Sinh tử quan, Diêm La mở lối, điềm xấu chín chết một sống."
Hiện tại, nước Sở đã mất, Hồng Quan Vi phi thăng, thật sự không còn ngoại lực nào có thể can thiệp vào vận mệnh của các sư huynh đệ bọn họ nữa. Nếu nhất định phải nói đến một điều có thể ảnh hưởng, thì chỉ có độc cổ trong người mà thôi.
Hiếm khi thấy Minh Tuyên lộ vẻ mặt khổ sở. Đại sư huynh liên tiếp mấy chục ngày đều thử thuốc, nhưng vẫn không có bất kỳ kết quả nào. Chẳng lẽ thật sự là trời cao đố kỵ anh tài, ông trời nhất định phải để bọn họ chôn thây nơi đây sao?
Đang lúc âu sầu, bỗng nghe từ xa truyền đến một tiếng kinh hô. Hóa ra Minh Không khi đang bắt cá đột nhiên ngã xuống, co giật không ngừng, phun ra một ngụm máu lớn, trông như sắp mất nửa cái mạng.
Khúc Thuần Phong vốn đang sắc thuốc, nghe thấy động tĩnh liền biến sắc, vội vàng bước đến. Anh thấy Minh Không nằm trên đất, đau đớn co quắp, hai tay bóp lấy cổ họng, thở không ra hơi. Mấy vị sư huynh đứng xung quanh, hốt hoảng như kiến bò trên chảo nóng. Thấy Khúc Thuần Phong đến, họ tự giác nhường ra một lối.
"Đại sư huynh, Minh Không phát độc rồi, làm sao bây giờ!"
"Hắn, hắn... hắn hình như không ổn rồi..."
Khúc Thuần Phong ngồi xuống cạnh Minh Không, nhíu mày bắt lấy cổ tay hắn kiểm tra. Chỉ thấy trên đó xuất hiện một đường vân đen, đã lan ra hơn ba tấc dọc theo cánh tay – rõ ràng là dấu hiệu phát tác của độc cổ.
Lần này xuất môn, Chiêu Ninh Đế chỉ ban cho họ thuốc giải dùng trong nửa năm. Trên đường đến Tuyền Châu, bọn họ mất hai tháng, lại hao tổn ba bốn tháng truy tìm tung tích giao nhân. Tính ra, kỳ hạn nửa năm đã gần đến. Minh Không là người nhỏ tuổi nhất trong các sư huynh đệ, tu vi lại thấp nhất, chỉ e không thể áp chế được độc tính nên mới phát tác sớm.
Khúc Thuần Phong lấy vài cây kim vàng từ túi càn khôn, phong bế mấy đại huyệt trên người Minh Không, dùng hết sức mới cạy được hàm răng đang nghiến chặt của hắn, rồi bảo Minh Tuyên mang bát thuốc vừa sắc xong tới.
Minh Tuyên luống cuống đi làm ngay, rất nhanh đã mang một bát thuốc đen kịt tới. Nhưng hắn đứng bên cạnh, do dự mãi mà không dám cho Minh Không uống.
Thấy vậy, Khúc Thuần Phong cau mày, trầm giọng quát: "Ngây ra làm gì? Còn không mau cho hắn uống!"
Minh Tuyên gấp đến đổ mồ hôi: "Đại sư huynh, nóng, nóng... nóng quá."
Nói nóng là còn nhẹ, bát thuốc ấy vừa mới đun sôi, nếu đổ thẳng xuống có thể làm bỏng chết cả heo.
Khúc Thuần Phong muốn chỉnh đốn hắn, nhưng lúc này không phải thời điểm thích hợp. Anh trầm giọng ra lệnh: "Đi lấy nước lạnh về, hòa thuốc rồi đổ vào!"
Minh Nghĩa tính tình ổn trọng hơn, đã sớm mang một bát nước lạnh lớn tới. Bọn họ hòa nước vào thuốc, rồi cùng nhau cạy miệng Minh Không, luống cuống tay chân đổ hết vào. Minh Không giãy giụa điên cuồng, ho sặc sụa, mãi một lúc lâu sau mới yên lặng, nhắm mắt hôn mê.
Minh Tuyên vội hỏi: "Đại sư huynh, hắn thế nào rồi?"
Khúc Thuần Phong lòng rối như tơ vò, nhưng vẫn giữ vẻ mặt bình tĩnh. Anh thử hơi thở, lại bắt mạch cho Minh Không, sắc mặt điềm nhiên nhưng lại khiến người khác có cảm giác anh không hoàn toàn tự tin: "Không sao, hắn chỉ ngủ thôi. Các ngươi chăm sóc hắn cẩn thận."
Phương thuốc Hồng Quan Vi để lại chỉ có thể kéo dài mạng sống của bọn họ thêm ba tháng. Nhưng ba tháng sau thì sao? Rồi sẽ thế nào?
Độc phát của Minh Không dường như chỉ là khởi đầu. Trong khoảng thời gian sau đó, mọi người trong Thiên Nhất Môn đều lần lượt xảy ra vấn đề. Mặc dù sau khi uống thuốc, độc tính tạm thời được áp chế, nhưng trong lòng họ đều hiểu rõ, đó chỉ là tạm thời mà thôi.
Khúc Thuần Phong mệt mỏi vì chạy đôn chạy đáo, mỗi ngày anh làm không ngừng nghỉ, ngoại trừ sắc thuốc thì vẫn là sắc thuốc. Nhưng mỗi bát thuốc uống xong, dường như đều báo hiệu sinh mệnh của họ chỉ còn lại ba tháng ngắn ngủi. Áp lực đè nặng trong lòng, khiến anh hít thở cũng khó khăn. Sự tuyệt vọng thấm sâu vào xương tủy, khiến người ta chỉ muốn buông xuôi.
Người cuối cùng phát độc, ngoài Khúc Thuần Phong, chính là Minh Tuyên. Thế nhưng hắn lại không hề nhăn nhó, chịu đựng cơn đau, ngồi xổm bên cạnh, giống như một đứa trẻ đòi kẹo, giục giã Khúc Thuần Phong: "Đại sư huynh, nhanh, nhanh, thuốc..."
Khúc Thuần Phong rót thuốc đã nguội vào bát, đưa cho hắn. Minh Tuyên chẳng màng nóng lạnh, ba ngụm đã uống cạn. Hiển nhiên đau đớn không chịu nổi, hắn thở phào một hơi dài, sau đó ngã vật xuống đất, chẳng buồn nhúc nhích.
Nhìn thấy bọn họ như vậy, người khó chịu nhất thực ra chính là Khúc Thuần Phong. Anh nhìn Lâm Uyên vẫn đang ngồi bên cạnh đống lửa thêm củi sắc thuốc, lắc đầu ngăn lại, rồi dùng cát dập tắt lửa.
Một bát thuốc còn lại, đủ để anh uống.
Giao nhân sợ lửa, bàn tay Lâm Uyên bị bỏng đến tróc da, nhưng cậu hiếm khi không làm nũng đòi lăn lộn bên cạnh Khúc Thuần Phong. Như thể nhận ra cảm xúc nặng nề của anh, cậu yên lặng rúc vào lòng anh, ngoan ngoãn nằm trên đầu gối, cái đuôi cá khẽ khàng đong đưa.
Khúc Thuần Phong vì sao không vui?
Khúc Thuần Phong vì sao không vui?
Đầu óc Lâm Uyên đầy ắp những câu hỏi ấy, không thể nghĩ thêm điều gì khác.
Cậu không biết rằng, Khúc Thuần Phong đang chờ chết. Trong lúc chờ đợi cái chết, có lẽ anh sẽ phải tận mắt chứng kiến từng sư đệ dưới trướng mình chết trước, đó là một loại tuyệt vọng còn nghẹt thở hơn cả cảm giác chìm sâu xuống đáy biển mà chết đuối.
Gió biển nhè nhẹ thổi đến, cuốn đi làn khói mỏng bay lên từ đống lửa. Khúc Thuần Phong không sợ chết, anh chỉ sợ liên lụy các sư đệ bên dưới, cũng sợ phụ sự ký thác của sư phụ. Lúc này, ngoài việc chờ đợi độc phát, anh chỉ có thể tự hỏi liệu những lựa chọn ban đầu của mình có đúng đắn hay không.
Minh Tuyên sau khi uống thuốc, dường như đã hồi phục đôi chút. Hắn lảo đảo ngồi dậy, phủi cát trên người, thấy Khúc Thuần Phong và giao nhân kia ngồi cạnh nhau tựa như đang thất thần, liền không kìm được mà nhìn chăm chú rất lâu.
Rất lâu...
Lâu đến mức Khúc Thuần Phong cảm giác được ánh mắt của hắn, nhíu mày nhìn qua: "Nhìn ta làm gì?"
Minh Tuyên hoàn toàn là có lòng tốt, tuyệt đối không có ý nguyền rủa: "Sư... sư huynh, ta đang chờ huynh phát độc để cho huynh uống thuốc."
Nhưng vấn đề ở chỗ, hắn chờ mãi mà chẳng thấy Khúc Thuần Phong có bất kỳ dấu hiệu phát độc nào. Thuốc cũng đã nguội cả rồi.
Khúc Thuần Phong dù có tu vi cao thâm thế nào, cũng không thể mạnh đến mức này.
Minh Tuyên nhất thời không hiểu ra sao, trong đầu đầy mơ hồ.
Khúc Thuần Phong thực ra chính anh cũng không dám chắc. Theo lý mà nói, kỳ hạn nửa năm đã qua, các sư đệ bên dưới không ai thoát khỏi việc phát độc, chỉ riêng anh không có chút động tĩnh nào. Cánh tay anh cũng không xuất hiện vân đen, mọi thứ bình thường đến mức khó tin.
Minh Tuyên tò mò nhìn Khúc Thuần Phong, nhưng anh cũng không biết phải giải thích thế nào, đành nói: "Đặt bát thuốc xuống, ta tự uống."
Minh Tuyên chỉ có thể đặt bát thuốc sang một bên, sau đó nhanh nhẹn lủi đi.
Lâm Uyên nghe thấy cuộc đối thoại giữa họ, đột nhiên thay đổi dáng vẻ lười biếng, thẳng lưng ngồi dậy, đôi mắt dài hẹp hơi nheo lại, trong con ngươi xanh đen lóe lên vài tia sắc bén: "Ngươi trúng độc sao?"
"Không," Khúc Thuần Phong ấn cậu nằm xuống, tay áo rộng lớn rủ xuống, che đi làn gió se lạnh: "Đừng nghe Minh Tuyên nói linh tinh."
Minh Tuyên quả thật thường hay nói linh tinh, nhưng Lâm Uyên vẫn không mấy tin tưởng, liền đưa mũi ngửi ngửi trên người Khúc Thuần Phong. Không phát hiện ra bất kỳ dấu hiệu nào của bệnh tật nơi con người, cậu mới yên lòng, nằm lại trong lòng anh, nhớ đến những chuyện đã xảy ra mấy ngày qua, bèn hỏi: "Bọn họ bệnh rồi sao?"
Khúc Thuần Phong không biết phải trả lời thế nào, trầm mặc một lúc: "Ừ..."
Lâm Uyên không hỏi thêm nữa. Trong lòng cậu, chỉ cần Khúc Thuần Phong không sao thì những người khác chẳng liên quan gì đến cậu cả. Đêm buông xuống, như thường lệ, cậu ôm lấy chiếc đuôi của mình, chìm vào giấc ngủ.
Khúc Thuần Phong thì không tài nào chợp mắt, bên cạnh anh là bát thuốc đã nguội ngắt, vẫn chờ mình độc phát. Thế nhưng từ sáng đến tối, từ tối đến nửa đêm, mọi thứ vẫn yên ắng, không có bất kỳ động tĩnh gì.
Người từng trải qua mới biết, chờ chết là một chuyện vô cùng dày vò. Khúc Thuần Phong thấy Lâm Uyên bên cạnh ngủ rất ngon, rốt cuộc không kìm được, lặng lẽ ngồi dậy. Anh nhíu chặt mày, tự bắt mạch, thế nhưng mạch tượng lại bình hòa, không có chút dấu hiệu nào của trúng độc.
Nhưng làm sao có thể chứ?
Ánh mắt Khúc Thuần Phong thoáng qua vẻ kinh hãi, nghĩ mãi không ra. Anh cẩn thận hồi tưởng những dược liệu mình đã thử mấy ngày qua, nhưng vẫn không tìm được lời giải. Đúng lúc này, một quả cầu ánh sáng màu xanh không biết từ đâu hiện ra, rồi lăn một vòng theo độ dốc trên mặt đất, "lạch cạch" lăn đến bên cạnh anh.
#Hệ thống lại đổi cách xuất hiện mới#
Hệ thống: 【Chào thân ái, lâu ngày không gặp nha.】
Khúc Thuần Phong thấy vậy bèn buông tay đang bắt mạch, nhàn nhạt nói: "Hóa ra là các hạ."
Quả cầu ánh sáng này thần xuất quỷ nhập, anh không cách nào dò được tung tích, nhưng hôm nay anh lại chẳng có tâm tư giao tiếp với nó. Tay anh lục lọi trong túi càn khôn, muốn tìm một quyển y thư để xem thử tại sao độc cổ trong người mình mãi không phát tác.
Hệ thống chính là vì chuyện này mà đến: 【Thân ái, không cần tìm nữa, độc trên người ngươi đã được giải rồi.】
Động tác của Khúc Thuần Phong khựng lại, theo phản xạ ngẩng lên nhìn hệ thống, ánh mắt ngẩn ngơ, hiển nhiên bị câu nói bất thình lình của nó làm bối rối. Hệ thống bay vòng quanh anh một vòng, sau đó đậu lên vai, ghé tai anh nói nhỏ một câu:【Thân ái, máu của hậu duệ Giao Hoàng có thể giải bách độc đó.】
Nói xong, hệ thống liền như kẻ trộm, thoắt cái bật ra xa, rồi giả vờ thản nhiên bay vòng quanh.
Nó không nói gì, nó không nói gì cả.
Trạm không gian vũ trụ có quy định, hệ thống không được tùy ý tiết lộ bất kỳ chuyện gì làm nhiễu loạn quỹ đạo cuộc đời của ký chủ, huống chi kiếp trước Khúc Thuần Phong đã từng săn giết nhiều giao nhân. Nếu biết máu giao nhân có thể giải bách độc, chẳng may anh nảy sinh tà tâm thì sao?
Nhưng tính mạng của đám đệ tử Thiên Nhất Môn đều treo lơ lửng, hệ thống không thể trơ mắt nhìn bọn họ chết được. Huống chi, giờ đây có lẽ Khúc Thuần Phong đã được cải tạo... thành công rồi chăng?
Câu nói của hệ thống làm tim Khúc Thuần Phong lỡ một nhịp. Nghe nói có thứ có thể cứu đệ tử của mình, anh như kẻ sắp chết đuối bắt được cọng rơm cứu mạng, đôi mắt tối tăm bỗng sáng bừng lên một chút, cất tiếng hỏi: "Máu của hậu duệ Giao Hoàng?"
Hệ thống len lén nhìn Lâm Uyên đang say ngủ:【Cậu ấy chính là hậu duệ của Giao Hoàng. Ngươi có thể xin cậu ấy cho một chút máu, nhưng nhất định phải được sự đồng ý nhé.】
Khúc Thuần Phong lúc này mới nhớ ra, lần trước anh bị A Tẫn làm bị thương dưới đáy biển, chính là Lâm Uyên dùng máu cứu anh. Nghe vậy, anh không tự chủ siết chặt đầu ngón tay, do dự hỏi: "Nếu rút máu, có ảnh hưởng đến tính mạng của cậu ấy không?"
Chuyện này hệ thống cũng không biết. Nó sợ nói thêm sẽ bị giám sát viên phát hiện, bèn lắc đầu, dùng cánh che miệng, ra vẻ kín như bưng.
Khúc Thuần Phong vì động tác đứng dậy mà tạo ra tiếng động, Lâm Uyên đang ngủ bỗng nhiên trở mình, không chạm được vào anh, chẳng biết từ lúc nào đã tỉnh giấc. Cậu chậm rãi mở mắt giữa màn đêm, chiếc đuôi cá dài khẽ giãn ra, lớp vảy trong suốt lấp lánh ánh sáng xanh, phát ra một tia sáng lung linh dưới ánh trăng.
Xanh biếc! Lấp lánh!
Hệ thống vốn định rời đi, nhưng nhìn thấy chiếc đuôi của Lâm Uyên, đột nhiên không nhịn được mà bay đến gần, ngưỡng mộ thốt lên: 【Thật... thật đẹp quá. Màu xanh này phát sáng luôn đấy!】
Cả quả cầu sáng sắp dán vào đuôi Lâm Uyên, nhưng giữa chừng lại bị một bàn tay ngăn lại. Ngẩng lên liền thấy vẻ mặt băng lãnh không đổi của Khúc Thuần Phong.
Khúc Thuần Phong nhàn nhạt nói: "Các hạ, xin hãy tự trọng."
Hệ thống: 【QAQ vâng... được...】
Hệ thống "biu" một tiếng, biến mất trong không khí.
Lâm Uyên chẳng nhận ra gì cả, cậu lăn một vòng trên đất rồi ôm lấy eo Khúc Thuần Phong, dụi đầu vào anh, đuôi cá vắt ngang chân anh, quấn lấy một cách thân mật. Vì vừa tỉnh dậy, giọng cậu mang theo vẻ lười nhác khàn khàn, có chút mê hoặc: "Sao không ngủ..."
Khúc Thuần Phong biết độc cổ trên người đệ tử có thể cứu, trong lòng vừa vui mừng vừa khó xử. Anh nhìn Lâm Uyên, chậm rãi siết chặt tay áo, nhất thời không biết phải mở miệng thế nào, trông anh đầy vẻ u sầu.
Lâm Uyên thấy anh không trả lời, cuối cùng cảm thấy có gì đó không ổn, khẽ ngồi thẳng người dậy: "Ngươi sao vậy?"
Khúc Thuần Phong nhìn cậu, một lát sau, mới khó khăn cất tiếng: "Đệ tử ta trúng độc cổ..."
Lâm Uyên khẽ động đuôi cá, không hề bận tâm: "Rồi sao?"
Khúc Thuần Phong cũng biết yêu cầu này có chút quá đáng. Tay anh đặt trên đầu gối siết rồi thả, thả rồi lại siết, lòng bàn tay rịn ra một tầng mồ hôi mỏng, thấp giọng nói: "Máu của ngươi có thể cứu bọn họ."
Lâm Uyên dường như cuối cùng cũng hiểu vì sao dạo gần đây Khúc Thuần Phong lại hay thất thần như vậy. Cậu cụp mắt nhìn thanh kiếm dài chưa bao giờ rời khỏi người anh, đuôi cá khẽ động, rồi nằm yên tại chỗ: "...Ngươi muốn giết ta sao?"
Khúc Thuần Phong nghe vậy, trong mắt lóe lên vẻ kinh ngạc: "Ta vì cớ gì phải giết ngươi?"
Đuôi cá của Lâm Uyên lại không tự chủ được mà khẽ động, quét qua mặt đất phát ra tiếng sột soạt nhỏ. Cậu bỗng nhiên rất muốn biết, trong lòng anh, rốt cuộc mình quan trọng hay đám sư đệ quan trọng hơn, liền nhẹ giọng hỏi: "Vậy nếu chỉ có cách giết ta mới cứu được sư đệ của ngươi, ngươi sẽ giết ta chứ?"
Thần sắc của cậu không quyến rũ, cũng chẳng đơn thuần, nhìn qua vô cùng nghiêm túc.
Khúc Thuần Phong lặng lẽ nhìn cậu, không trả lời. Lâm Uyên cũng chẳng thúc giục, đôi mắt xanh thẳm dưới màn đêm như thấm đẫm một lớp mực dày nặng.
Người này dường như chưa bao giờ nói thích cậu. Đám sư đệ kia, trong lòng anh, hẳn là quan trọng hơn nhiều...
Khúc Thuần Phong không hiểu vì sao Lâm Uyên lại hỏi vậy. Sinh tử có mệnh, phú quý tại thiên, dù anh không cứu được sư đệ, cũng tuyệt đối sẽ không ra tay với Lâm Uyên. Anh ngẩn ngơ nhìn giao nhân trước mặt, giọng khàn khàn: "Dĩ nhiên là không..."
Khi xưa không giết Lâm Uyên, bây giờ không, sau này càng không...
Lâm Uyên hỏi: "Thật không?"
Khúc Thuần Phong: "Ừ."
Khúc Thuần Phong chỉ nói một chữ, nhưng Lâm Uyên liền tin tưởng. Cậu nhẹ nhàng phủi lớp cát trên đuôi cá, sau đó linh hoạt lách mình vào vòng tay ấm áp của anh, cúi đầu nhìn cổ tay đã hồi phục hoàn toàn, khẽ nói: "Vậy thì được rồi."
Khúc Thuần Phong không biết vì sao, nhưng lại chẳng thấy vui vẻ. Anh nắm lấy bàn tay lạnh băng của Lâm Uyên, khẽ xoa vài cái, trầm giọng hỏi: "Nếu dùng máu của ngươi, có nguy hiểm đến tính mạng ngươi không?"
Câu hỏi mang chút quan tâm này khiến Lâm Uyên có chút vui vẻ. Cậu đếm số lượng người của Thiên Nhất Môn, nghĩ rằng mỗi người một giọt máu thì chắc vẫn ổn, liền lắc đầu: "Không đâu."
Khúc Thuần Phong nghe vậy mới yên tâm đôi chút. Anh liếc nhìn khuôn mặt nghiêng rõ từng đường nét của cậu, biết rằng cậu đồng ý cứu người là vì lời anh nói. Trong lòng vừa thấy cậu ngốc nghếch, vừa cảm thấy cậu chân thành. Anh từ từ siết chặt vòng tay ôm, giọng nói mơ hồ hòa lẫn trong màn đêm tịch mịch: "Đa tạ..."
Lâm Uyên đáp lại theo lễ: "Không cần cảm tạ." Cái đuôi phía sau ngoe nguẩy, trông vừa ngốc vừa đáng yêu.
Ánh mắt Khúc Thuần Phong khẽ trầm xuống, nhưng lại mang theo chút dịu dàng hiếm có. Anh vén mái tóc xanh đậm của cậu bằng đầu ngón tay, như có như không, bất chợt cúi đầu hôn lên đôi môi của giao nhân trước mặt. Động tác nhẹ nhàng hé mở hàm răng cậu, môi lưỡi quấn quýt phát ra những âm thanh ám muội khe khẽ.
Hà tất phải hỏi câu đó...
Khúc Thuần Phong đè cậu xuống, vạt áo khẽ thoảng mùi trầm hương nhàn nhạt. Khi lướt qua đôi mắt tuyệt mỹ của Lâm Uyên, mùi hương thanh lãnh này lại dường như nhiễm thêm vài phần vấn vương. Anh hôn lên môi cậu, lại khẽ chạm vào vành tai nhọn nhọn, cúi đầu, nghiêm túc nhìn cậu: "...Ngươi không giống bọn họ, hiểu không?"
Lâm Uyên không hiểu, chớp chớp mắt, mím môi hỏi: "Ta không quan trọng bằng bọn họ sao?"
Khúc Thuần Phong lắc đầu: "Không, ngươi rất quan trọng."
Lâm Uyên lại vui vẻ: "Quan trọng hơn cả sư đệ của ngươi sao?"
Khúc Thuần Phong hơi nóng mặt. Anh rất ít khi nói mấy lời trắng trợn như vậy, cảm thấy vô cùng không quen, nghe vậy liền hơi nghiêng đầu, tránh đi ánh mắt của Lâm Uyên, rồi khẽ nói một chữ: "Ừm..."
Quan trọng hơn một chút.
Một bên là người thân, một bên là bạn đời.
Sáng sớm hôm sau, Minh Tuyên bị ánh nắng làm chói mắt mà tỉnh lại. Hắn nhớ tới thương thế của Khúc Thuần Phong, là người dậy sớm nhất, xoa xoa mắt rồi đi tìm anh khắp nơi. Cuối cùng, hắn thấy Khúc Thuần Phong đang ôm lấy Lâm Uyên, ngủ ngon lành dưới bóng cây, bên cạnh là bát thuốc đã nguội lạnh.
Sao lại chưa uống?
Minh Tuyên gãi đầu, ngồi xổm xuống bên cạnh Khúc Thuần Phong, bưng bát thuốc lên nhìn thử, rồi phát hiện chẳng hề động đến một giọt.
Khúc Thuần Phong tai thính, nhận ra tiếng bước chân nhẹ nhàng bên cạnh liền tỉnh dậy. Anh mở mắt theo phản xạ, nhưng đập vào mắt là khuôn mặt phóng đại của Minh Tuyên, không khỏi nhíu mày. Lại thấy đối phương bưng bát thuốc đưa tới trước mặt mình: "Đại sư huynh, uống thuốc đi."
Khúc Thuần Phong: "..."
Chương 122
Anh không nói với bọn họ rằng máu giao nhân có thể giải bách độc. Có những chuyện không nên để quá nhiều người biết, nếu không sẽ giống như lời đồn bất tử viển vông kia, dẫn tới sát phạt và tranh đoạt. Anh chỉ nói Lâm Uyên từ phía bên kia đại dương tìm được một cây thuốc, có thể giải được độc cổ trên người họ.
Minh Tuyên nghe vậy vừa mừng rỡ vừa lo lắng: "Đại sư huynh, thuốc này thật sự giải được độc sao?"
Khúc Thuần Phong vốc một nắm thuốc ném vào nồi, rồi vỗ tay phủi sạch bột thuốc: "Ngựa chết chữa thành ngựa sống, đã đến nước này, còn có thể tệ hơn được nữa sao?"
Khi anh sắc thuốc, không cho bọn họ nhìn thấy. Đám sư đệ bị anh đuổi đi, một nửa thì bắt cá, một nửa chèo thuyền ra biển xem tình hình nước Sở giờ ra sao.
Lâm Uyên nhìn Khúc Thuần Phong sắc xong thuốc, liền muốn dùng móng tay sắc nhọn rạch một đường trên cổ tay mình, nhưng vừa giơ tay lên giữa không trung đã bị anh ngăn lại. Cậu ngẩng đầu, đối diện ánh mắt muốn nói lại thôi của Khúc Thuần Phong, khẽ nghiêng đầu hôn một cái, rồi lắc lắc đuôi cá.
Khúc Thuần Phong thấy vậy, vô thức buông tay cậu ra. Có vẻ cảm thấy móng tay cậu quá sắc nhọn và dễ cắt vào da thịt, anh rút thanh trường kiếm bên người ra, đặt lưỡi kiếm lạnh buốt lên cổ tay tái nhợt của cậu, rồi từ từ dịch lên, cuối cùng dừng lại trên ngón trỏ của cậu.
Lưỡi kiếm dài ba thước lướt qua máu thịt mà chẳng phát ra tiếng động, chỉ để lại một vết xước nhỏ, vừa nhỏ vừa cạn, chỉ chảy ra một giọt máu đỏ tươi rồi tự khép lại.
Lâm Uyên nhìn mà lần đầu tiên cảm thấy Khúc Thuần Phong đầu óc không bình thường. Với vết thương cạn như thế, máu chảy ra chỉ đủ cho kiến uống. Cậu bèn giữ lấy thân kiếm, hạ xuống một chút, rồi bất ngờ rạch một đường trên cổ tay mình. Máu đỏ sẫm đặc sệt từng giọt, từng giọt nhỏ vào nồi thuốc, dòng chảy chậm rãi.
Khúc Thuần Phong thấy vậy, đồng tử co rút, tim nhói lên một cái. Anh theo phản xạ nắm lấy cổ tay Lâm Uyên, nhíu mày nói: "Sâu quá rồi."
Lâm Uyên đáp: "Không sâu."
Thể chất giao nhân rất đặc biệt, vết thương quá nông sẽ không chảy được bao nhiêu máu. Lâm Uyên dường như cảm thấy máu chảy quá chậm, không để ý tới sự ngăn cản của Khúc Thuần Phong, lại rạch thêm một đường trên cổ tay mình, lần này mới miễn cưỡng đủ dùng.
Cậu thu tay lại, như một con vật nhỏ, cúi đầu liếm vết thương của mình. Màu môi xinh đẹp ngày thường nay nhợt nhạt hơn đôi chút, cái đuôi cá cũng chẳng còn sức sống. Cậu tựa vào lòng Khúc Thuần Phong, nhắm mắt cọ cọ vào vai anh: "Đưa họ uống đi."
Cậu dường như đã kiệt sức, nói xong câu ấy liền không động đậy nữa.
Khúc Thuần Phong lần đầu tiên cảm thấy bản thân hèn mọn. Anh đặt thanh kiếm dính máu sang một bên, sau đó xé phần vạt áo dài của mình, lặng lẽ rắc kim sang dược lên vết thương đã bắt đầu đông máu trên cổ tay Lâm Uyên, rồi dùng dải vải cẩn thận băng bó lại. Làm xong mọi việc, anh mới đưa mu bàn tay chạm nhẹ lên má Lâm Uyên, cảm nhận nhiệt độ so với thường ngày đã lạnh hơn.
Khúc Thuần Phong không rõ thân thể giao nhân mạnh mẽ đến đâu, nhưng cũng có thể nhận ra mất máu quá nhiều chắc chắn gây tổn hại. Anh cởi ngoại bào của mình phủ lên người Lâm Uyên, vô thức ôm cậu vào lòng, trầm giọng hỏi: "Có chỗ nào khó chịu không?"
Cả đời này, lần đầu tiên anh dùng giọng điệu ôn hòa đến vậy.
Lâm Uyên nghe vậy, cố gắng hé mắt nhìn anh, rồi lại nhắm lại, suy nghĩ một lúc, sau đó đặt chiếc đuôi cá của mình lên đùi anh, giọng nói khẽ khàng mà đáng thương: "Khó chịu."
Muốn được v.uốt ve.
Khúc Thuần Phong đưa tay vuốt mái tóc dài màu xanh đậm của cậu, thật sự không biết phải làm thế nào để giảm bớt nỗi đau của cậu. Anh tránh ánh mặt trời gay gắt, bế cậu từ bờ biển vào bóng cây râm mát.
Lâm Uyên nắm chặt lấy tay áo anh không chịu buông, đôi mắt dài khép hờ, trông có vẻ mỏi mệt: "Không được đi."
Khúc Thuần Phong để mặc cậu níu lấy, giọng nói trầm thấp: "Ta không đi."
Nghe vậy, Lâm Uyên dường như mới yên tâm, gối đầu lên đùi anh rồi thiếp đi. Cậu vẫn giữ thói quen cũ, co người lại, ngoan ngoãn ôm lấy chiếc đuôi cá của mình.
Khúc Thuần Phong đã từng nhiều lần nghĩ, từng trăn trở, tại sao trên đời này lại xuất hiện một giao nhân như thế này, mỗi cử chỉ, hành động của cậu đều có thể khiến tâm trí anh xao động. Điều này, đối với nửa đời trước phẳng lặng như mặt nước chết của anh, là một cảm giác chưa từng trải qua.
Lâm Uyên...
Khúc Thuần Phong lặp đi lặp lại hai chữ ấy trong tâm trí, đầu lưỡi anh trăn trở, không biết đã niệm bao nhiêu lần. Cuối cùng, anh hạ mi mắt, ôm chặt lấy giao nhân trong lòng, không rõ đang nghĩ gì.
Minh Tuyên cùng các sư đệ chèo thuyền trở về, liền thấy cảnh này. Khúc Thuần Phong vốn luôn giữ lễ nghi, dù có thân thiết với Lâm Uyên cũng chưa bao giờ quá mức công khai, thế mà giờ đây lại ôm cậu ngay giữa ban ngày ban mặt, thật sự không giống phong thái ngày thường.
Minh Tuyên chần chừ bước tới: "Đại sư huynh..."
Khúc Thuần Phong khẽ liếc mắt ra hiệu cho hắn im lặng, liếc nhìn chiếc vạc thuốc bên cạnh, rồi bảo họ tự mang xuống chia nhau uống. Minh Tuyên thấy Lâm Uyên dường như đang ngủ say, cũng không suy nghĩ nhiều, gật đầu rồi nhẹ nhàng mang thuốc đi.
Mãi đến tối, Lâm Uyên mới tỉnh lại. Cậu trông vẫn không có sức lực, khẽ động chiếc đuôi cá, định ngồi dậy, nhưng bị Khúc Thuần Phong ấn nhẹ vào vai: "Thương thế của ngươi còn chưa lành, đừng động đậy."
Lâm Uyên lười biếng nằm phục trên đùi anh, khẽ cọ cọ. Một lọn tóc rủ xuống bờ vai, tương phản với làn da tái nhợt, vô cớ mang theo vài phần quyến rũ. Cậu yếu ớt nói: "Đói..."
Vết thương chưa lành, làm sao có thể xuống biển được.
Khúc Thuần Phong nghe vậy liền để cậu nằm yên một bên, nhìn qua mặt biển yên ả dưới ánh trăng, rồi cầm lấy thanh kiếm bên mình, nói: "Chờ ta trở lại."
Khúc Thuần Phong không biết bơi, nhưng khu vực nước cạn thì không thành vấn đề. Anh xắn tay áo, lại vén vạt áo dưới lên cột quanh hông, bước vào làn nước biển. Lúc này là ban đêm, thủy triều lên, rất nhiều cá tôm và cua sẽ bơi ra. Thính lực của anh rất tốt, dù không nhìn rõ trên mặt biển đen kịt, chỉ cần nghe động tĩnh cũng đủ nhận ra.
"Vút!"
Nghe tiếng động bên cạnh, Khúc Thuần Phong nhanh chóng vung kiếm, mũi kiếm nhanh như chớp đâm xuống nước. Khi nhấc lên, trên kiếm đã xiên một con cá còn đang giãy giụa. Thấy con cá đủ lớn, anh liền ném nó lên bờ, rồi tiếp tục bắt con khác.
Minh Tuyên lần đầu tiên thấy đại sư huynh bắt cá, liền bước xuống nước theo: "Đại sư huynh, để ta giúp huynh."
Khúc Thuần Phong không nhìn hắn, chỉ tập trung quan sát mặt biển: "Có gì muốn nói thì nói đi."
Minh Tuyên nghe vậy mới nhỏ giọng nói: "Đại sư huynh, hôm nay ta và Minh Nghĩa cải trang thành dân thường ra ngoài thăm dò tin tức. Sở quốc..."
Hắn ngập ngừng một lát rồi mới tiếp: "Sở quốc đã diệt vong rồi..."
Tuy Hoàng đế Chiêu Ninh hôn quân vô đạo, nhưng dù sao bọn họ cũng là người nước Sở. Nay quốc gia rơi vào cảnh diệt vong, khó tránh khỏi cảm giác đau lòng.
Minh Tuyên nói: "Chúng ta mới vào đảo không lâu, quân đội phương Bắc đã đánh thẳng vào kinh thành, lập ra triều đại mới lấy quốc hiệu là Chu. Quan viên ở Tuyền Châu cũng đã thay đổi người. Vị tân quân này xem ra là minh quân, miễn thuế ba năm cho những vùng nghèo khổ, để dân chúng an cư lạc nghiệp. Giờ dân chúng đều rất yên ổn."
Rất yên ổn...
Ba chữ này, đối với một thế giới loạn lạc không ngừng, đã là một điều xa xỉ.
Khúc Thuần Phong lại bắt được một con cá, dùng vạt áo bọc lại. Nhớ đến lời tiên đoán của Hồng Quan Vi, anh bất giác thở dài: "Sở quốc đã hết vận số, phương Bắc có minh quân thay thế, tất cả đều là mệnh trời."
Minh Tuyên nhìn anh: "Đại sư huynh, vậy tiếp theo chúng ta phải làm gì?"
Cứ ở mãi trên đảo cũng không phải là cách.
Khúc Thuần Phong trong lòng đã có tính toán, quay người đi về phía bờ: "Bây giờ chưa phải lúc. Chờ thêm một thời gian nữa, chúng ta sẽ trở về đất liền. Đến khi đó ta sẽ nói rõ với các ngươi."
Minh Tuyên nhìn bóng lưng của anh, chần chừ hỏi: "Đại sư huynh, huynh còn muốn làm quan không?"
Hiện nay tân quân vừa lên ngôi, đúng lúc cần nhân tài. Người Thiên Nhất Môn tinh thông thuật số, nếu muốn làm quan cũng không khó.
Khúc Thuần Phong nghe vậy khựng lại, quay đầu nhìn hắn: "Ngươi muốn ta làm quan?"
Ai ngờ Minh Tuyên lắc đầu: "Đại sư huynh, đệ sợ huynh làm quan."
Hoàng gia là nơi vô tình nhất, dù là minh quân cũng khó tránh khỏi nghi kỵ thần tử. Làm quan có thể được một thời vinh quang, nhưng những ngày sống trong cảnh như đi trên băng mỏng, ai trải qua mới hiểu. Giờ họ đã thoát khỏi vũng lửa, hà tất phải nhảy vào lại, huống hồ còn mang thân phận cựu thần tiền triều.
Minh Tuyên thà sống yên ổn ở một nơi nhỏ bé, làm một đạo sĩ đoán mệnh bình thường cả đời cũng chẳng quay lại, nhưng hắn không biết Khúc Thuần Phong nghĩ thế nào.
Hồng Quan Vi đã mất, chức chưởng môn Thiên Nhất Môn thuộc về Khúc Thuần Phong. Theo lý, mọi người đều phải nghe lời anh. Hơn nữa, tình cảm huynh đệ từ nhỏ lớn lên cùng nhau, đâu dễ nói bỏ là bỏ. Cùng chí hướng thì không sao, nếu khác biệt, quả thật khó xử.
Khúc Thuần Phong im lặng, hồi lâu sau mới khẽ cười: "Ta biết."
Anh nói xong câu này, vỗ nhẹ lên vai Minh Tuyên, sau đó quay người đi về phía bờ biển, từng bước một, phương hướng rõ ràng và kiên định.
Khúc Thuần Phong xử lý sạch sẽ số cá bắt được, rồi cho vào nồi nấu. Không bao lâu sau, nước trong nồi chuyển sang màu trắng đục như sữa. Anh múc ra một bát, đợi nguội bớt rồi mới hơi vụng về, lúng túng đút cho Lâm Uyên ăn.
Dù đang ở trên đảo, không có sơn hào hải vị gì, nhưng món canh cá này lại đủ tươi ngon. Hơn nữa, cho dù có không ngon, Lâm Uyên cũng sẽ không chê thứ mà Khúc Thuần Phong nấu, cậu ăn sạch sẽ từng chút một.
Lâm Uyên liếm khóe môi, ánh mắt nhìn anh không nói một lời. Ngón tay cậu quấn quanh một lọn tóc, hồi lâu sau mới đột nhiên lên tiếng:
"Đây là lần đầu tiên ngươi bắt cá cho ta ăn."
Khúc Thuần Phong không nhớ rõ lắm, nhưng nếu Lâm Uyên đã nói vậy, chắc hẳn là đúng. Anh ngẫm nghĩ rồi có chút chần chừ đáp: "Vậy... sau này ta sẽ bắt thêm cho ngươi."
Ban đầu, Lâm Uyên cảm thấy việc mất nhiều máu như vậy quả là không đáng. Nếu không phải vì Khúc Thuần Phong, cậu chắc chắn sẽ không xen vào chuyện bao đồng. Nhưng lúc này, cậu bỗng nghĩ rằng bị thương cũng chẳng phải chuyện gì tệ, vui vẻ quẫy nhẹ đuôi: "Chờ ta khỏe lại, ta sẽ hái quả cho ngươi ăn."
Cậu rất biết cách đáp lễ.
Khúc Thuần Phong mỉm cười, ngước mắt nhìn màn đêm u tĩnh, giơ tay chỉ cho Lâm Uyên: "Chờ ngươi khỏe lại, chúng ta sẽ quay về đất liền."
Nghe vậy, chiếc đuôi của Lâm Uyên khựng lại. Cậu thầm nghĩ, họ là con người, đương nhiên không thể sống mãi trên đảo, cũng giống như giao nhân không thể sống trên đất liền. Đôi mắt cậu thoáng hiện vẻ thất vọng, giọng nói nhỏ hẳn đi: "Vậy ngươi đừng đi xa quá..."
Đi xa rồi, cậu sẽ không tìm được anh nữa.
"Không xa đâu," Khúc Thuần Phong chỉ về phía căn nhà chài anh từng ở, từ xa nói: "Sau khi trở về, ta sẽ xây vài căn nhà ở đó, rồi sống tại đó luôn."
Đôi mắt Lâm Uyên sáng lên: "Ngươi định làm ngư dân à?"
Khúc Thuần Phong nghe câu hỏi ấy, hơi nhướng mày, rồi dựa lưng vào thân cây, kéo Lâm Uyên vào trong vòng tay mình. Nhìn bầu trời đầy sao, anh khép mắt, che đi ý cười trong đáy mắt, chỉ cảm thấy lòng mình khoáng đạt:"Ừm, ngươi bắt cá, ta bán cá."
Lâm Uyên ngẩn người nhìn anh: "Vậy các sư đệ của ngươi thì sao?"
"Họ à?" Khúc Thuần Phong suy nghĩ một lát: "Có lẽ họ sẽ ra chợ xem bói cho người ta thôi."
Lần trước anh ra chợ, cả bốn con đường Đông, Tây, Nam, Bắc đều bị bọn họ chiếm hết để lập quầy xem bói.
Chương 123: Ngoại truyện - Kết Thúc Thế Giới 4
Sau khi Hồng Quan Vi hóa tiên, không rõ thi thể của ông bị Chiêu Ninh Đế xử trí ra sao, nhưng cuối cùng, không ai có thể thoát khỏi số phận trở về với nắm đất vàng. Khúc Thuần Phong dựng một ngôi mộ áo tại một ngọn núi gần biển, trên bia đá không ghi danh tính, cũng chẳng khắc năm sinh năm mất.
Cái tên Hồng Quan Vi, có quá nhiều người biết đến. Hai trăm năm tuổi thọ, nói ra thật sự quá mức kinh thế hãi tục. Thay vì gây họa không đáng có, chi bằng để mọi thứ được sạch sẽ, bình yên.
Khúc Thuần Phong vén tà áo quỳ xuống trước mộ. Phía sau anh là toàn bộ đệ tử Thiên Nhất Môn, họ kính cẩn cúi lạy ba cái. Trong rừng, tiếng chim hót xa xăm, đối với Hồng Quan Vi mà nói, nơi đây quả thật là một chốn thanh tịnh.
Dập đầu xong, Khúc Thuần Phong đứng dậy, nhìn bia đá trước mắt, chậm rãi nói:
"Ta từng hứa với sư phụ, phải trung quân ái quốc, lo liệu chu toàn cho cả môn phái. Nhưng Chiêu Ninh Đế hôn quân vô đạo, hai chữ trung quân quả thực khó làm. May mắn thay, độc cổ trên người các ngươi đã được hóa giải, cũng xem như ta đã hoàn thành một tâm nguyện."
Mọi người đều im lặng, không biết nên nói gì, chỉ cảm thấy những lời này như đang muốn nói lời từ biệt. Đột nhiên, họ thấy Khúc Thuần Phong gỡ lệnh bài "Ngự tứ Ngư Long" đeo bên hông xuống:
"Sau khi sư phụ hóa tiên, theo quy củ môn phái, ta trở thành chưởng môn đời kế tiếp. Nhưng nay ta không muốn can dự triều đình, cũng không mong các ngươi dính líu đến nơi đó. Nhưng chung quy mỗi người một số mệnh, từ nay về sau, các ngươi cứ theo nghiệp sĩ, nông, công, thương mà tự an định số phận của mình."
Nói xong, anh nhẹ buông tay, một lớp bụi phấn trắng rơi xuống từ lòng bàn tay, hóa ra là anh đã nghiền nát lệnh bài "Ngự tứ Ngư Long" thành bột mịn. Giọng anh rõ ràng, dứt khoát: "Từ nay về sau, đệ tử Thiên Nhất Môn chúng ta vĩnh viễn đoạn tuyệt với hoàng tộc nhà Sở. Không được tham luyến vinh hoa, không được trái với bản tâm. Môn hạ đệ tử đều phải ghi nhớ lời này."
Mọi người đồng loạt ôm kiếm, không một ai dị nghị: "Tuân lệnh, đại sư huynh!"
Tiếng hô vang rền, làm chim chóc trên cành giật mình bay tán loạn. Khúc Thuần Phong đứng dậy, quay đầu nhìn Minh Tuyên và những người khác. Sự lạnh lùng, nghiêm nghị trong giọng điệu của anh cuối cùng cũng dịu đi đôi chút: "Ta sẽ định cư ở ngôi làng chài này. Các ngươi nếu muốn chu du, hoặc vào triều làm quan, cứ tự mình quyết định, ta không ngăn cản. Chỉ có điều, không được tiết lộ nửa lời về tung tích của giao nhân. Nếu không, ta sẽ thay mặt sư phụ thanh lý môn hộ."
Đây là lần đầu tiên anh nói những lời nghiêm khắc như vậy với các sư đệ, đủ để thấy anh không hề đùa giỡn. Minh Nghĩa ôm kiếm, trịnh trọng nói: "Đại sư huynh, những giao nhân ấy đã nhiều lần cứu mạng chúng ta. Bí mật này, đệ sẽ mang theo xuống mồ, tuyệt đối không tiết lộ. Nếu ai dám phản bội, đệ sẽ là người đầu tiên không tha!"
Họ lớn lên bên nhau từ nhỏ, tính tình ai cũng trung thực ngay thẳng. Nếu có người nào tâm địa bất chính, Khúc Thuần Phong đã không đưa họ lên đảo. Nghe vậy, anh gật đầu, không nói thêm gì. Một lúc sau, anh mới hỏi: "Sau này các ngươi có dự định gì không?"
Minh Tuyên ấp úng đáp: "Đại sư huynh, huynh có thể bán cá, dù sao cũng có người giúp huynh bắt cá. Nhưng chúng đệ không được, đều là dân cạn, xuống nước là chết đuối. Đệ và các sư đệ đã bàn bạc, sau này sẽ đi xem bói cho người ta, như thế cũng nhàn hạ."
Ý tứ là sẽ không ở lại cùng anh.
Khúc Thuần Phong trong lòng đã đoán trước được, nhưng vẫn không khỏi cảm thấy mất mát. Bọn họ làm nghề bói toán, chu du tứ phương, lấy trời đất làm nhà. Lần chia tay hôm nay, không biết bao giờ mới có thể gặp lại. Anh gật đầu: "Cũng tốt."
Ngoài hai chữ ấy, dường như anh không biết phải nói gì thêm.
Sau cùng, Khúc Thuần Phong vẫn bổ sung một câu: "...Nếu không có gì bất ngờ, ta sẽ sống cố định ở đây. Các ngươi sau này nếu muốn tìm ta, cứ đến đây, huynh đệ chúng ta cùng tụ họp."
Minh Tuyên thầm nghĩ quán bói của bọn họ đặt ngay tại chợ, chỉ cách bờ biển một con dốc lên xuống núi. Sao mà nghe giọng điệu của đại sư huynh lại giống như bọn họ sắp đi tới chân trời góc bể không về nữa vậy? Hắn gãi đầu đáp: "Đại sư huynh, huynh yên tâm, chúng ta nhất định sẽ thường xuyên gặp lại."
Họ vẫn chưa tìm được nhà, dự định sẽ xây vài căn ngay bên cạnh nhà của Khúc Thuần Phong, để sau này ra cửa ngẩng đầu là gặp, cúi đầu cũng gặp, một ngày ít nhất tụ họp vài chục lần. Nhưng chuyện cấp bách trước mắt là xuống núi tìm vài sạp hàng tốt, rồi thuê vài thợ mộc để xây nhà.
Minh Tuyên nghĩ đến đây, liền ôm quyền nói với Khúc Thuần Phong: "Đại sư huynh, trời không còn sớm, bọn đệ xin phép xuống núi trước."
Khúc Thuần Phong...
Khúc Thuần Phong vốn định giữ bọn họ ở lại ăn cơm, tiễn chân, nhưng thấy Minh Tuyên và các sư đệ dường như không có ý đó, cũng không tỏ vẻ luyến tiếc chút nào, liền ngập ngừng, chỉ có thể gật đầu đáp: "Vậy thì đi đi, giang hồ hiểm ác, nhớ bảo trọng bản thân."
Minh Tuyên nghĩ bụng sao đại sư huynh lại trở nên lắm lời thế, nhưng không dám nói ra, dẫn theo một nhóm sư đệ tung tăng nhảy nhót xuống núi, rõ ràng là đã ở trên hải đảo quá lâu, bị kìm nén đến mức không chịu nổi nữa.
Nhìn đám sư đệ từ nhỏ chơi chung lớn lên, cứ thế mà chẳng chút lưu luyến vỗ tay phủi mông rời đi, nói không mất mát là giả.
Nhưng Khúc Thuần Phong tự thấy bọn họ vốn là người trong giang hồ, hà tất phải vướng bận những tình cảm con trẻ sướt mướt, vì vậy cũng đành thôi, đứng yên tại chỗ rất lâu, mãi cho đến khi không còn thấy bóng dáng của Minh Tuyên và các sư đệ nữa mới xoay người rời đi, trở về căn nhà nhỏ của mình bên bờ biển.
Trên giường trong căn nhà, một thanh niên tuấn tú mày mắt thanh tú đang nằm, chỉ là tóc của cậu gần như đen ánh lam, nhìn có phần yêu dị. Lúc này, cậu đang mặc một bộ quần áo trắng của nhân loại, buông lỏng, không ra dáng chút nào.
Khúc Thuần Phong hơi nheo mắt, có phần kinh ngạc khi thấy Lâm Uyên biến đuôi cá thành hai chân. Anh định bước tới, nhưng không hiểu vì sao lại dừng bước bên cạnh bàn. Anh thấy Lâm Uyên đang cúi đầu chăm chú nghiên cứu bộ y phục đó, liền nhẹ nhàng gõ vào mép bàn để thu hút sự chú ý của cậu.
Lâm Uyên nghe tiếng động, ngẩng đầu nhìn lại. Khúc Thuần Phong thấy cậu nghiên cứu bộ y phục một cách loay hoay, liền cất tiếng hỏi:
"Đuôi đâu?"
Lâm Uyên lười nhác chống cằm: "Không còn nữa."
Cậu muốn tập đi, dù sao ở dưới biển cũng không thể lúc nào cũng bám theo Khúc Thuần Phong, nhưng hai chân không duy trì được lâu.
Khúc Thuần Phong thấy cậu nằm trên giường không động đậy, cách vài bước chân, nói với Lâm Uyên: "Lại đây."
Lâm Uyên ngẩng đầu, nghĩ bụng cậu không biết đi, bèn ngồi dậy, cau mày nghiên cứu rất lâu vẫn không biết nên bước chân như thế nào, cuối cùng vịn mép giường, đứng dậy một cách vụng về, lưỡng lự bước đi, chỉ nghe một tiếng "phịch", không ngoài dự đoán, ngã sấp mặt xuống đất.
"..."
Khúc Thuần Phong cũng không bước tới đỡ, chỉ ôn tồn nói với Lâm Uyên: "Đi qua đây."
Lâm Uyên bị va đến bầm tím cả đầu gối. Tất nhiên, bầm tím không phải là chuyện lớn nhất, quan trọng là mất mặt. Cậu ngồi dưới đất, bực bội định cởi bỏ y phục để đổi lại đuôi cá, nhưng lại nghe Khúc Thuần Phong nói: "Đi qua đây, chỉ ba bước thôi."
Lâm Uyên không vui: "Ngươi đỡ ta."
Khúc Thuần Phong vẫn kiên nhẫn: "Đi qua đây."
Anh đưa tay ra, những ngón tay thon dài mạnh mẽ, lại thu ngắn khoảng cách, trông như chỉ cần chút cố gắng là có thể chạm tới. Lâm Uyên lưỡng lự một chút, rồi lại vụng về đứng dậy, mất hai ba giây sau mới bước thêm bước thứ hai.
Cậu đã quen dùng đuôi cá, phát lực từ phần eo, nên khi bước đi bằng hai chân như nhân loại, lúc nào cũng cảm thấy loạng choạng, lảo đảo. Dù muốn tập đi, nhất thời cũng không học được, không ngoài dự đoán, thân hình lại nghiêng ngả và lần nữa ngã xuống. Nhưng lần này không phải ngã xuống đất, mà được Khúc Thuần Phong đỡ lấy trong vòng tay.
Khúc Thuần Phong cúi mắt nhìn cậu, trong đôi mắt đen nhánh ánh lên một tia cười: "Còn đi nữa không?"
Lâm Uyên nghĩ, đi chứ, nhưng không phải hôm nay. Cậu đá văng đôi giày phiền phức kia ra, lắc nhẹ eo, đôi chân thon dài liền biến trở lại thành đuôi cá, nhưng vì không có điểm tựa để đứng, cả người trượt khỏi vòng tay Khúc Thuần Phong một cách vụng về.
Lâm Uyên ngẩn ra một lúc.
Sau khi nhận thức được tình hình, thấy trên mặt đất có bụi bẩn, không muốn ngồi bừa xuống làm bẩn đuôi mình, cậu ngẩng đầu nhìn Khúc Thuần Phong: "Bế ta lên giường có được không?"
Khúc Thuần Phong lần này không còn nói mấy câu như "tự mình bò lên" nữa, cúi người ôm ngang Lâm Uyên từ dưới đất lên, đặt cậu lại trên giường. Đang định đứng dậy thì bị giao nhân ấy siết chặt lấy không cho đi.
Khúc Thuần Phong hỏi: "Làm gì vậy?"
Giao nhân vốn là loài suy nghĩ đơn thuần, đuôi cá khẽ động, nghĩ gì nói đó: "Hôn ngươi."
Cậu nói xong liền hôn vào yết hầu của Khúc Thuần Phong, rồi từ từ hôn lên môi anh. Cả người cuộn lại, lăn thẳng vào phía trong giường. Tấm rèm trắng vốn không buộc chặt, qua một cú va chạm, không một tiếng động rơi xuống.
Khúc Thuần Phong không biết tự lúc nào đã từ người chính trực biến thành kẻ giả chính trực, bật ra một tiếng rên trầm, muốn nói với giao nhân này: "Ban ngày không được phóng túng."
Lâm Uyên cáu kỉnh vẫy đuôi: "Không hiểu."
Chính là! Không! Hiểu!
Khúc Thuần Phong...
Khúc Thuần Phong còn biết làm sao nữa đây?
Sáng hôm sau, một vầng thái dương từ đường chân trời nhô lên, ánh sáng chiếu rọi mái nhà sáng rực. Khúc Thuần Phong còn chưa ngủ đủ, bên ngoài chợt vang lên tiếng đục đục gõ gõ, lạch cạch loảng xoảng. Anh mở mắt, cau mày kéo chăn đứng dậy xem thử, ai ngờ vừa đẩy cửa sổ ra đã thấy Minh Tuyên và đám sư đệ đang chen chúc nhau ở ngoài, trên người còn dính đầy dăm gỗ.
Minh Tuyên cười hì hì không biết ngượng: "Đại sư huynh, bọn đệ đang xây nhà gần nhà huynh đây, sau này làm hàng xóm, sư huynh đệ thường xuyên tụ họp, huynh có vui không?"
Khúc Thuần Phong: "..."
Con người đúng là một loài sinh vật kỳ quái, xa cách thì nhung nhớ, đến gần lại cảm thấy phiền hà. Khúc Thuần Phong không biểu cảm gì, đang định đóng cửa sổ lại, thì một quả cầu ánh sáng màu lam lơ lửng bay ra: [Chờ đã, đừng đóng, để lại một khe hở cho ta đi~]
Khúc Thuần Phong khựng lại:
"Các hạ có chuyện gì?"
Người học hành chữ nghĩa thời xưa chính là khác biệt, mở miệng câu nào cũng "các hạ", nghe vào thật khiến lòng người dễ chịu.
Hệ thống dùng đôi cánh vỗ nhẹ vai anh: [Ta sắp đi rồi~]
Thực ra hôm qua đáng lẽ đã phải đi, nhưng không dám hiện thân, sợ quấy rầy đời sống phu phu của họ, thật là một quả cầu biết điều.
Khúc Thuần Phong nghi hoặc: "Các hạ muốn đi? Bao giờ trở lại?"
Hệ thống rặn ra hai chữ văn vẻ: [Không về.]
Mỗi thế giới ở đây đều tồn tại độc lập, sau khi đóng lại sẽ không thể mở ra nữa. Nói cách khác, đây là lần gặp gỡ cuối cùng của họ, sau này sẽ không còn cơ hội tái ngộ.
Không về... Khúc Thuần Phong chậm rãi nhấm nháp hai chữ ấy, liền cho rằng hệ thống sắp đi xa, từ từ giơ tay ôm quyền, thực hiện một lễ của người trong giang hồ, nghiêm túc nói: "Đa tạ các hạ chỉ điểm mê lộ, Thuần Phong cảm kích không nguôi. Ta cư ngụ nơi đây lâu dài, ngày sau nếu có điều gì cần giúp đỡ, cứ đến đây tìm ta."
Hệ thống nghĩ bụng khách sáo rồi khách sáo rồi, lại dùng đôi cánh nhỏ vỗ nhẹ lên vai Khúc Thuần Phong: [Trên đời này không có chuyện gì quá mức nghịch thiên, dù là trường sinh hay thành tiên, sau này phải giữ vững bản tâm, chớ coi thường mạng người.]
Hãy cải tạo thật tốt, làm người lại từ đầu.
Khúc Thuần Phong gật đầu: "Các hạ nói chí lý."
Hệ thống khẽ nói: [Vậy ta đi đây~]
Nó nói xong, đôi cánh nhỏ khẽ vỗ, thân thể màu xanh nhạt dưới ánh nắng gần như trong suốt, đồng thời bên tai Khúc Thuần Phong cũng vang lên âm thanh tháo gỡ liên kết của hệ thống. Anh dõi mắt nhìn theo hệ thống rời đi, chợt nhớ ra mình vẫn chưa biết tên của hệ thống:
"Dám hỏi tôn danh các hạ?"
Hệ thống vui vẻ trả lời: [Ta là 009 nha.]
Khúc Thuần Phong mỉm cười: "Vậy chúc các hạ lên đường thuận buồm xuôi gió, núi xanh không đổi, lục thuỷ trường lưu, chúng ta hậu hội hữu kỳ."
Hệ thống nghĩ rằng sau này có lẽ sẽ không còn gặp lại nữa, nhưng vẫn đáp: [Hậu hội hữu kỳ nha~]
Khúc Thuần Phong ngẩng lên, thấy quả cầu ánh sáng màu xanh ấy dần nhạt đi dưới ánh nắng, trôi ra khỏi cửa sổ, cuối cùng hóa thành những đốm sáng li ti, dần dần tan biến, như thể chưa từng xuất hiện trên đời này.
Bên ngoài, sóng biển không ngừng cuộn trào, từng đợt vỗ vào vách đá. Nhân gian sinh lão bệnh tử, triều đại tranh giành, tất cả đều không thoát khỏi số mệnh. Chỉ có núi sông bất biến, linh hồn bất diệt, nhật nguyệt treo cao, giang hà kéo dài mãi.
Hồng Quan Vi sống thọ hai trăm năm, cuối cùng cũng chỉ hóa thành một nắm đất vàng trước mộ. Những bậc đế vương muốn trường sinh, nghĩ kỹ ra chỉ có cách yêu dân như con, để lại công tích hiển hách, lưu danh muôn đời, ghi vào sử sách, mới được xem như một cách trường sinh khác.
Khúc Thuần Phong đứng bên cửa sổ, nhớ lại những chuyện đời trước, chỉ cảm thấy như vừa tỉnh khỏi một giấc mộng lớn. Phải mất rất lâu mới hoàn hồn, lại thấy Minh Tuyên và các sư đệ đang thò đầu thụt cổ nhìn vào trong, liền "rầm" một tiếng đóng sập cửa sổ lại.
Phi lễ chớ nhìn.
Chương 124: Thế giới 5: Học bá công Cận Hành x học tra thụ Văn Viêm (Hiện đại, vườn trường)
Có người mười tám tuổi rực rỡ sáng ngời, có người mười tám tuổi u ám tối tăm, có người còn chưa kịp trải qua mười tám tuổi, đã bị quá khứ chôn vùi, mục nát giữa bùn lầy.
Cận Hành và Văn Viêm, điểm giao nhau duy nhất trong nửa đời đầu của họ, dừng lại ở năm mười tám tuổi, như hai sợi dây vô tình bị vặn vào nhau, ngắn ngủi thắt thành một nút chết, rồi lại bị mạnh mẽ kéo đứt ra, một đầu về trái, một đầu về phải, từ đó chia xa mỗi người một ngả.
Là do chính tay Cận Hành kéo đứt.
Năm tốt nghiệp cấp ba, Cận Hành đỗ vào trường đại học tốt nhất trong tỉnh, còn Văn Viêm, một thiếu niên bất hảo, vì tội ngộ thương người khác mà vào tù. Một người ở trung tâm thành phố phồn hoa, một người trong song sắt lạnh lẽo, quả thực không còn lý do gì để liên lạc.
Quả thực là không có...
Sau khi rời khỏi cái nơi nhỏ bé tên Lâm Thành ấy, Cận Hành không bao giờ quay lại nữa. Nhiều năm sau, anh trở thành một doanh nhân nổi tiếng ở thành phố Z, quần áo chỉnh tề, hào nhoáng rực rỡ. Vẻ vang trước mắt người đời đủ để che lấp đi những ký ức dơ bẩn, hèn mọn trong tuổi trẻ của anh.
Dù sao, ai mà tưởng tượng được rằng, người đứng trên đỉnh kim tự tháp như bây giờ, thời cấp ba lại từng là một kẻ đáng thương bị đám thiếu niên bất hảo bắt nạt đến mức không dám hé răng.
Người cha trốn nợ bỏ trốn, người mẹ bệnh nặng qua đời sớm, một căn phòng trọ trống trải đơn sơ, nghèo đói và bất hạnh lấp đầy không gian. Đó là tất cả những gì Cận Hành có trong những năm tháng đi học. Đã có lúc anh thậm chí không đủ tiền đóng học phí, cuối cùng trở thành đối tượng bị bạn học bắt nạt.
Nếu bây giờ hỏi lại bạn học năm đó, nhắc đến cái tên Cận Hành, họ chắc sẽ mơ hồ nhớ ra mà nói: "Ồ, là cái đứa được Văn Viêm che chở ấy à."
Hiển nhiên, cái tên thiếu niên bất hảo ấy nổi tiếng hơn Cận Hành rất nhiều.
Cùng tuổi đi học, người ta lắm nhất cũng chỉ là trốn học hút thuốc, cậu thì đã vì tụ tập đánh nhau mà vào trại giáo dưỡng vài lần, lần nào cũng phải đổ máu. Tuy rằng thời niên thiếu là thời điểm ngông cuồng, phóng túng nhất, nhưng cậu hiển nhiên "ngông cuồng" quá mức. Nhắc đến tên cậu, ai nấy đều phải rùng mình vài cái.
Cận Hành và Văn Viêm không học cùng một trường, nói đúng ra thì chẳng có liên quan gì. Nhưng thiếu niên bất hảo này lại cố tình che chở Cận Hành.
Ai cũng biết rằng, những người từng bắt nạt Cận Hành không ai là không bị Văn Viêm xử lý đến thảm—
Đó là những chuyện xảy ra trước mặt mọi người.
Còn rất nhiều chuyện trong bóng tối không ai biết, ví dụ như tiền học phí cấp ba và đại học của Cận Hành đều do Văn Viêm, cái tên lưu manh nhỏ bé kia, chi trả. Ví dụ như Cận Hành và Văn Viêm từng ở bên nhau. Ví dụ như việc ngộ thương người khác của Văn Viêm là vì Cận Hành. Và ví dụ như, một người ngồi tù, người còn lại rời khỏi cái nơi nhỏ bé này mà không ngoảnh đầu.
Hai sợi dây vặn vào nhau, thắt thành nút chết, cuối cùng bị mạnh mẽ kéo đứt.
Năm ba mươi lăm tuổi, Cận Hành qua đời trong bệnh viện. Anh ôm quá nhiều tâm sự, gánh quá nhiều gánh nặng, lại thêm khát khao muốn nổi danh, trong những năm tháng trẻ tuổi, anh liều mạng chè chén làm việc, khiến cơ thể bị bào mòn nghiêm trọng.
Khi ấy, Cận Hành đã sở hữu rất nhiều tài sản, nhưng khi chết, anh vẫn cảm thấy hai tay trống rỗng, chẳng nắm giữ được thứ gì, cũng chẳng thể nắm giữ được thứ gì.
Không vì lý do gì cả, người lạnh lùng thường như vậy.
Hệ thống xem qua cuộc đời ngắn ngủi của vị ký chủ này qua màn hình sáng, đôi cánh nhẹ đập, sau đó bay vào đường hầm thời gian, tìm một khe hở trong đường đời của Cận Hành, xuyên qua đó mà tiến vào.
Bánh răng thời gian chầm chậm quay ngược, tất cả khởi động lại.
Giữa trưa, ánh mặt trời gay gắt, những tia sáng xiên qua kẽ lá, tạo thành những đốm sáng lớn nhỏ đan xen, mang theo sự oi ả đặc trưng của mùa hè, khiến người ta không khỏi uể oải, buồn ngủ. Thầy giáo đứng trên bục giảng, thao thao bất tuyệt giảng về dạng đề trọng tâm năm nay, giọng khàn khàn hòa cùng tiếng ve kêu không dứt ngoài cửa sổ, như một mớ bòng bong. Cây thước chỉ bảng bất ngờ gõ xuống bàn học, phát ra tiếng vang trầm đục, làm không ít học sinh giật mình tỉnh giấc.
Tiếng chuông hết tiết đúng lúc vang lên, đinh tai nhức óc, những học sinh vẫn chưa tỉnh cũng lần lượt bừng tỉnh. Thầy giáo kẹp giáo án dưới cánh tay, nhàn nhã dặn dò đủ thứ, tiêu tốn thời gian nghỉ giữa giờ ít ỏi còn lại, rồi mới chậm rãi rời đi.
"Đ* mẹ nó, lề mề rách việc."
Không biết ai bỗng thốt ra một câu chửi, như một giọt nước rơi vào chảo dầu sôi. Căn phòng vốn yên tĩnh lập tức bùng lên náo nhiệt, sách vở bay loạn xạ, kèm theo những lời chửi rủa khó nghe.
Ở hàng cuối cùng của lớp học, gần chỗ thùng rác, có một thiếu niên mặc đồng phục đang ngồi. Cậu nằm úp mặt trên bàn, bất động như đang ngủ. Chỉ đến khi âm thanh huyên náo vọng đến bên tai, cậu mới khó nhọc cử động đầu ngón tay, chậm rãi mở đôi mắt nặng trĩu.
Cận Hành chỉ cảm thấy đầu đau như muốn nổ tung. Anh nhíu mày, nhắm chặt mắt, năm ngón tay luồn qua tóc rồi nắm chặt lấy, cơn đau gần như lột cả da thịt khiến tâm trí mơ hồ của anh trở nên tỉnh táo hơn đôi chút.
Lớp học... bàn học... bảng đen...
Khung cảnh xung quanh hiện lên trước mắt, như mở ra chiếc hộp ký ức đã phủ bụi từ lâu. Với Cận Hành, nó quen thuộc đến tận xương tủy. Anh từ từ mở cuốn sách bên cạnh, khi nhìn thấy tên và lớp trên trang đầu, đồng tử bỗng co rút, biểu cảm kinh ngạc đến mức kỳ lạ.
Lớp 11? Làm sao có thể?
Làm sao có thể...
Cận Hành đột nhiên run lên như một kẻ điên. Anh chậm rãi ngẩng đầu, đôi mắt đen thẳm quét qua những gương mặt quen thuộc hoặc xa lạ xung quanh, cả người như đứng ở ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối, bị chia cắt thành hai nửa.
Căm hận, sợ hãi.
Lạnh lùng, nhút nhát.
Những cảm xúc mâu thuẫn và cực đoan ấy cùng xuất hiện trên một con người, cho đến khi một nam sinh tóc đỏ cao lớn bước đến, túm lấy cổ áo Cận Hành, lôi anh khỏi chỗ ngồi, dòng suy nghĩ của anh mới bị cắt ngang.
Tưởng Thiếu Long là nam sinh cao lớn nhất lớp, vì đang tuổi dậy thì, mặt gã có vài nốt mụn. Ở ngôi trường nhỏ bé này, gã cũng coi như một nhân vật có máu mặt. Gã nắm lấy cổ áo Cận Hành, hất ngã ghế với một tiếng vang, như lôi một con gà con, kéo anh ra khỏi lớp. Mấy đứa đàn em phía sau cười hì hì đi theo, cái ghế ngã xuống đất phát ra tiếng động chói tai.
Cả lớp vẫn ồn ào như thường, náo nhiệt và hỗn loạn, như thể không ai thấy vừa rồi đã xảy ra chuyện gì, dù tiếng ghế ngã nghe chói tai đến thế.
Từ khi vào lớp 10, Cận Hành đã bị Tưởng Thiếu Long bắt nạt. Ba năm ác mộng ấy đều không thoát khỏi bàn tay của kẻ đứng trước mặt này. Đến nỗi sau khi tốt nghiệp, rời khỏi nơi đây ở kiếp trước, anh vẫn không quên được những ký ức dơ bẩn đó.
Nỗi sợ ấy thấm vào tận xương tủy, ẩn sâu trong linh hồn, chỉ cần khơi gợi một chút sẽ như thú dữ lao ra khỏi tổ.
Cận Hành thở d.ốc, tâm trí mơ hồ, như chìm vào một cơn ác mộng không thể thoát ra. Anh dường như muốn vùng vẫy để thoát thân, nhưng lại bị một nỗi kinh hoàng vô hình đ.è xuống, khiến tay chân cứng đờ, lạnh đến mức máu cũng bắt đầu đông lại.
Tưởng Thiếu Long kéo anh vào nhà vệ sinh nam, rồi đẩy mạnh vào cửa, tạo nên một tiếng "rầm" nặng nề: "Đ* mẹ mày, còn dám mách thầy cô? Tao nể mặt mày lắm rồi đúng không?"
Gã tát Cận Hành một cái "bốp", cảm thấy chưa hả giận, lại đá một cú vào bụng anh. Dáng người cao to vượt trội của gã giữa đám bạn đồng trang lứa có áp lực cực lớn, mỗi cú đánh đều dùng sức mạnh không nương tay.
Mấy đứa đàn em đứng ở cửa canh chừng, đề phòng giáo viên bất ngờ đi qua.
Cận Hành ôm bụng, cơn đau liên tiếp ập đến khiến anh không nói nên lời, tai ù ù, bên má đau như bị kim châm dày đặc. Còn chưa kịp lấy lại tinh thần, anh lại bị đè lên cửa: "M* kiếp, trông cái mặt như con gái, nghe nói mẹ mày làm gái, có thật không?"
Gã cố ý sỉ nhục, cả lớp đều biết mẹ Cận Hành đã qua đời vì ung thư dạ dày.
Tình yêu của thiếu niên không cần lý do, sự căm ghét cũng không cần, mà việc bắt nạt càng chẳng cần lý do. Yếu là tội lỗi lớn nhất.
Nhưng lần bắt nạt này của Tưởng Thiếu Long lại hiếm hoi có một lý do: "Còn dám lượn lờ quanh Đường Quả, ông đây sẽ giết chết mày!"
Cận Hành chắc chắn là đẹp trai, nếu không hoa khôi của trường cũng chẳng hay nói chuyện với anh.
Tiếng chuông vào lớp vang lên, Tưởng Thiếu Long cuối cùng cũng dừng tay, lục soát lấy đi hơn hai mươi đồng còn lại trên người Cận Hành rồi rời khỏi nhà vệ sinh.
Hành lang lớp học vốn đông đúc nay trở nên vắng vẻ và yên tĩnh lạ thường.
Vòi nước không đóng chặt, từng giọt nước nhỏ xuống, "tách", "tách"...
Đến giọt thứ ba, Cận Hành loạng choạng đứng lên. Anh rất gầy, dáng người lại cao, nhưng đứng trước thân hình quá mức cường tráng của Tưởng Thiếu Long, trông vẫn thua kém rất nhiều.
Cận Hành dường như đã biết chuyện gì đang xảy ra. Cơn đau trên cơ thể nhắc nhở anh rằng, đây không phải là một giấc mơ.
Anh dùng nước lạnh rửa mặt, rất lâu không ngẩng đầu lên. Mãi sau, anh mới thẳng người, tựa vào bồn rửa tay. Nhà vệ sinh tối mờ, bóng tối bao phủ gần hết thân thể anh, ánh mắt trầm lặng, khó lường.
Anh đã trở lại nơi này...
Lại trở lại nơi này...
Cận Hành cầm trong tay một chiếc bút mực đen, anh ấn đầu bút, từng cái từng cái gõ lên mép bồn rửa. Trong nhà vệ sinh trống rỗng, tiếng động ấy quái dị và khiến người ta sởn gai ốc.
Anh ngửa đầu, biểu cảm b.ệnh h.oạn, nhắm mắt thở dài, dường như còn nghe được chút tiếc nuối.
Bởi vì Cận Hành cảm thấy trong tay anh lẽ ra phải cầm một con dao, chứ không phải một cây bút.
Hệ thống ẩn trong bóng tối quan sát, cầm sổ nhỏ ghi chép, thấy vậy liền trịnh trọng viết mấy chữ: [Ký chủ này bị điên.]
Cận Hành không phải vô hại, ít nhất không phải là kiểu thỏ trắng nhỏ mặc người bắt nạt như vẻ ngoài. Dù anh nhìn không có chút gì giống người có khả năng tấn công, nhưng tâm cơ lại quá sâu. Nếu không, kiếp trước đã chẳng lợi dụng Văn Viêm để lần lượt xử lý sạch đám người đó, cuối cùng còn có thể toàn thân rút lui.
Trở lại một đời, liệu có đi lại con đường cũ?
Dĩ nhiên là phải đi, bởi vì Cận Hành phát hiện, khi quay lại một đời, thì ra anh vẫn rất, rất, rất, rất căm hận những người đó...
"Rắc."
Tiếng gõ trong nhà vệ sinh cuối cùng cũng ngừng lại, cây bút mực đen đâm thẳng vào viên gạch men, ngòi bút lập tức gãy, bị ném vào một góc.
Trước cổng trường cấp 3 số 6 thường xuyên có đám lưu manh tụ tập, có kẻ tán gái, có kẻ đòi tiền bảo kê. Không có ai che chở thì sẽ trở thành đối tượng bị bắt nạt, tựa như một xã hội thu nhỏ.
Sau tiếng chuông tan học buổi tối, không ít học sinh lục tục đi ra, định mua gì đó lót dạ.
Mùa hè oi bức, phố xá tấp nập, tiếng rao bán không dứt. Trong hẻm tối có người đánh nhau, dưới ánh đèn đường côn trùng bay vo ve, ồn ào náo nhiệt, bẩn thỉu mà phóng túng.
Trước cổng trường cấp ba số 6 hôm nay xuất hiện một nhóm người, đứng đầu là một nam sinh đứng bên lề đường, dáng người mảnh khảnh, mang sự góc cạnh đặc trưng của tuổi thiếu niên. Bàn tay gầy gò, khớp xương rõ ràng, kẹp một điếu thuốc. Áo khoác đồng phục xanh trắng của trường nghề vắt trên vai, tai đeo khuyên, mu bàn tay có hình xăm. Cậu ta nhìn qua chẳng phải dạng vừa.
Khói thuốc tan ra, đường nét gương mặt cậu thiếu niên cũng dần trở nên rõ ràng: sắc bén, tuyệt nhiên không thể gọi là ôn hòa. Thế nhưng, điều đó không ngăn cản vài nữ sinh xung quanh lén liếc nhìn và thì thầm bàn tán.
"Nhìn kìa, là Văn Viêm đó."
"Cậu ta đến làm gì? Chẳng lẽ đến đánh nhau?"
"Chắc chắn là đánh nhau rồi. Bọn họ ngày nào chẳng đánh nhau. Lát nữa nhớ tránh xa ra."
Mấy hôm trước, Lạc Minh ở trường số 6 đã xảy ra xích mích với nhóm của Văn Viêm. Nguyên nhân không rõ, nhưng ở nơi này, bọn học sinh cá biệt đánh nhau không cần lý do. Không vừa mắt ai thì cứ thế đè ra đánh.
Văn Viêm đến để đòi lại thể diện. Sự kiên nhẫn của cậu chỉ đủ cho một điếu thuốc. Khi điếu thuốc cháy hết, vẫn chưa thấy người cần tìm, cậu tiện tay búng điếu thuốc, tàn lửa bắn tung tóe, rơi ngay bên chân một nam sinh trường số 6.
Đôi mắt của Văn Viêm, lòng trắng nhiều hơn lòng đen, thoạt nhìn đã không giống người tốt. Cậu ngẩng đầu lên, hỏi một câu không chút cảm xúc, nhưng lại khiến người nghe lạnh sống lưng, tóc gáy dựng đứng: "Biết Lạc Minh không?"
Cận Hành cúi mắt, nhìn điếu thuốc gần như tắt lịm dưới chân mình, rồi lại liếc sang đám côn đồ tụ tập trước mặt, ánh mắt cuối cùng dừng trên người Văn Viêm. Một inch, rồi một inch, như muốn nhìn thấu cõi lòng đối phương.
Đám côn đồ thấy anh không đáp lời, không biết ai lại búng thêm một điếu thuốc, lần này rơi thẳng lên vai anh: "Mẹ mày, hỏi mày không nghe thấy à?"
Cận Hành không động đậy, mặc kệ điếu thuốc rơi xuống chân mình. Anh ngẩng đầu, ngũ quan phơi dưới ánh đèn đường, trông rất sạch sẽ. Trong bóng tối, nét mặt anh càng thêm thanh thoát, nhưng ánh mắt lại mang theo một chút yêu mị, không chút cảm xúc thốt ra một chữ: "Biết."
Văn Viêm nhìn chằm chằm vào anh. Đường nét gương mặt sắc lạnh, giọng nói lười nhác: "Ra gọi cậu ta ra đây."
Cận Hành: "Không thân."
Vì nét mặt không biểu lộ gì, nhìn qua có phần kiêu ngạo.
Văn Viêm nheo mắt. Vì tâm trạng không tốt, cậu trực tiếp nắm lấy cổ áo Cận Hành, kéo anh đến gần, mùi khói thuốc nồng nặc phả vào áo anh. Cậu cười nhạt, hỏi: "Mày muốn ăn đòn à?"
Ánh mắt cậu đầy vẻ hung ác, khiến người ta khiếp sợ.
Chẳng ai biết rằng, Văn Viêm thích đàn ông, hơn nữa là một kẻ thuần bị động. Vẻ ngoài cậu kiêu căng ngạo mạn bao nhiêu, thì trên giường lại đỏ mắt bị làm đến khóc bấy nhiêu.
Cận Hành trước đây cũng không biết, nhưng về sau thì biết rất rõ.
Cận Hành nhìn thoáng qua bàn tay đang nắm cổ áo mình. Khớp xương tay rõ ràng, vì góc độ nên không nhìn rõ hình xăm trên mu bàn tay. Sau vài giây, anh đột nhiên cười khẽ: "Tôi nói rồi, không thân."
Văn Viêm nhướng mày: "Không thân cái gì?"
Cảnh Hành: "Không thân với cậu ta."
Nhưng với cậu thì rất thân đấy...
Kally: Đây là thế giới tui thích nhất trong bộ này á 😭 đọc xúc động lắm lắm luôn
Chương 125
Nếu Văn Viêm hiểu Cận Hành thêm chút nữa, cậu sẽ nhận ra hàm ý trong ánh mắt đối phương. Đáng tiếc, lúc này họ chưa quen biết nhau.
Cận Hành quá vô hại, mặc đồng phục chỉnh tề, tóc đen dài che khuất trán, nhìn thế nào cũng là học sinh ngoan. Nhưng những học sinh cá biệt thì lại thích bắt nạt kiểu học sinh như vậy nhất.
Lại gần hơn, Văn Viêm thậm chí ngửi được mùi nước giặt thoang thoảng trên áo anh, nhưng không bao lâu đã bị mùi thuốc lá xông vào làm át đi. Hai loại mùi hương trộn lẫn, mâu thuẫn và đối lập.
Những học sinh xung quanh thấy Văn Viêm bắt nạt người, giả vờ không thấy, bước chân vội vã đi ngang qua, không ai dám đứng lại xem.
Văn Viêm không chút biểu cảm, vỗ nhẹ lên mặt Cận Hành, tiếng vang giòn nhưng không đau, lại đủ uy hiếp: "Lớp nào, tên gì?"
Câu hỏi này của đám côn đồ thường để dễ bề tìm người gây sự sau này. Chỉ vài chữ hờ hững đã đủ khiến bọn học sinh sợ đến mềm chân. Người lanh trí sẽ bịa một cái tên vớ vẩn để qua chuyện, như "con mèo lớp ba", hay "con chó lớp bốn".
Cận Hành vì hành động của Văn Viêm mà buộc phải quay mặt sang một bên. Anh ngước lên, ánh mắt mang theo đường cong không thuộc về độ tuổi này. Bằng giọng nói nhỏ đến mức gần như không nghe thấy, anh đáp: "Lớp 11/6, Cận Hành."
Trông yếu đuối đến thảm hại.
Chữ "Cận" nào, chữ "Hành" nào, Văn Viêm không rõ. Cậu chỉ thuận miệng hỏi, nhìn vào mắt Cận Hành hồi lâu, thấy anh giống như một con thỏ trắng run rẩy. Cuối cùng, cậu bật cười khinh miệt, tiện tay đẩy anh ra.
Lạc Minh từ cổng trường đi ra.
Nói là đi, không đúng lắm. Trông hắn như đang lủi, bước chân vội vàng, đầu cũng không dám ngẩng, hoàn toàn khác xa dáng vẻ hống hách thường ngày, hệt như con chuột chột dạ.
Chuột vừa xuất hiện, con "thỏ" Cận Hành liền bị tạm gác sang một bên.
Văn Viêm không biết đá thế nào, lon nước ngọt rỗng nằm lăn lóc dưới đất đột nhiên bay vèo lên, chính xác đập vào sau đầu Lạc Minh, khiến hắn ta giật nảy mình.
"Cuối cùng cũng chịu ra rồi à?"
Văn Viêm cười nhếch mép, nhảy lên bồn hoa ven đường, sau đó rút ra một điếu thuốc. Nhờ lợi thế chiều cao, cậu nhìn người khác với thái độ trên cơ. Cậu không lo Lạc Minh sẽ chạy, bởi đám côn đồ đã lục tục bao vây hắn.
"Mày chạy cái gì? Hôm trước không phải mày oai lắm sao, bảo tụi tao biết mặt mà? Địt con mẹ mày, gan chó à?"
"Chạy nữa đi, sao không chạy nữa?"
Những học sinh trường nghề ra tay rõ ràng mạnh bạo hơn, chỉ vài cái tát đã khiến Lạc Minh chảy máu mồm. Thằng nhóc cao 1m8 bị đánh đến rúm ró như con gà con, không dám ho he nửa lời.
Lạc Minh vốn là trùm trường số 6, nhưng trước mặt đám này, xem ra vẫn chẳng đáng gì. Mấy tên đàn em thường theo hắn cũng không dám hó hé.
Cận Hành đứng đó, lặng lẽ quan sát, đến khi tiếng chuông vào lớp buổi tối vang lên, anh mới thu lại ánh mắt, xoay người bước vào cổng trường. Không biết nghĩ gì, anh quay đầu nhìn lại trong nền trời đêm, vô tình chạm mắt với thiếu niên ngạo mạn đang đứng trên bồn hoa, kẹp điếu thuốc trong tay.
Cận Hành có đôi mắt quá mức đen thẳm, người bình thường chỉ cảm nhận được sự tĩnh lặng chết chóc trong ánh mắt đó, nhưng Văn Viêm nhìn vào lại chỉ thấy một vùng cỏ dại bát ngát, sống chết mặc kệ, cháy rồi lại mọc.
Văn Viêm gảy đi lớp tàn thuốc, để lộ ngón tay với một chấm đỏ rực từ điếu thuốc cháy dở, ánh mắt mang theo vẻ thú vị.
Cận Hành theo dòng người lên tòa nhà dạy học.
Chỉ còn một tiết tự học buổi tối nữa là tan học. Giáo viên chủ nhiệm lớp, cô Dương, đang đứng trên bục giảng giải bài, chủ yếu là giảng cho mấy học sinh giỏi ở hàng ghế đầu. Còn đám người của Tưởng Thiếu Long, hoặc là truyền giấy, hoặc là ngủ gà ngủ gật, rõ ràng chỉ đến lớp để giết thời gian.
Đường Quả vừa là lớp trưởng, vừa là hoa khôi của lớp, thành tích cũng không tệ, cho nên trong mắt các thầy cô lẫn các nam sinh, cô thuộc nhóm người hội tụ mọi ưu thế. Cô phát bài kiểm tra lần trước, đi qua bàn của Cận Hành, lại tiện miệng nói thêm vài câu: "Cận Hành, lần này cậu tăng hai hạng so với lần trước rồi, cố lên nhé!"
Cô ấy dường như rất quan tâm đến tình hình thành tích của Cận Hành.
Kiếp trước, thành tích của Cận Hành không được tính là tốt, chỉ lẹt đẹt ở mức trung bình dưới, dù sao cũng chẳng mấy ai trong hoàn cảnh bị cả lớp cô lập, bắt nạt như anh mà vẫn giữ được thành tích ổn định. Mãi đến khi Văn Viêm bắt đầu bao che cho anh, bọn người Tưởng Thiếu Long mới không dám làm phiền anh nữa, anh lúc đó mới vươn lên hạng mười toàn trường.
Trong tay Cận Hành có một con dao rọc giấy, rất mỏng, chỉ dùng để gọt bút chì. Anh kẹp lưỡi dao lạnh lẽo trong tay, không biết đang nghĩ gì. Nghe thấy lời của Đường Quả, anh mới giật mình tỉnh lại, chỉ nói hai chữ: "Cảm ơn."
Cận Hành dường như đang cười, nhưng lại rất ôn hòa, không gây nguy hại gì. Đường Quả có chút ngại ngùng rời đi, Tưởng Thiếu Long ngồi vắt chân chữ ngũ ở góc lớp thấy vậy, sắc mặt trầm xuống, như thể có thể nhỏ ra nước.
Cận Hành dường như không phát hiện ra ác ý trong mắt Tưởng Thiếu Long, anh giấu con dao rọc giấy vào tay áo, lớp vải mềm mại che đi vũ khí sắc bén, trừ anh ra, không ai khác biết được sự tồn tại của nó.
Tấm thẻ bài trên bàn anh hầu hết đều bị đánh dấu gạch đỏ, sai rất nhiều câu. Anh nhìn thoáng qua rồi nhét vào ngăn bàn, ngón tay nắm lấy một cây bút đen, trong tiếng giảng bài của giáo viên, nhẹ nhàng gõ lên mặt bàn từng nhịp.
"Cộc."
Cận Hành dường như không nhớ rõ rốt cuộc kiếp trước anh và Văn Viêm đã quen nhau như thế nào, nhưng đời này, anh vẫn cần một con dao...
"Cộc."
Mà Văn Viêm chính là con dao tốt nhất...
"Cộc."
Vì dùng lực quá mạnh, đầu bút đã bị đè bẹp vào trong.
Cô chủ nhiệm phát bài kiểm tra để cả lớp làm, sau khi kết thúc bài kiểm tra, họ cũng được tan học. Cô thu đống bài dày cộp trên bàn, dặn dò học sinh về nhà sớm, sau đó mang đôi giày cao gót của mình rời đi, tiếng giày vang lên từng nhịp lách cách.
Cả lớp như bầy chim được sổ lồng, lập tức nháo nhào chạy đi. Chẳng mấy chốc, lớp học rộng lớn chỉ còn lại vài người, cuối cùng chỉ còn Tưởng Thiếu Long và Cận Hành.
Cận Hành không rời đi. Anh yên lặng ngồi ở chỗ mình, như đang chờ đợi điều gì đó. Tay áo không ngừng xoa nhẹ vào món đồ giấu bên trong, lớp học rộng lớn trống trải, ánh đèn trên đầu phát ra ánh sáng nhợt nhạt.
"Rầm——"
Tưởng Thiếu Long bỗng đứng dậy, một cước đá văng cái bàn chắn trước mặt, trọng vật ma sát với mặt đất phát ra âm thanh chói tai, thể hiện rõ sự giận dữ bùng lên của hắn. Những đường nét thô kệch trên khuôn mặt của hắn vì ghen ghét mà trở nên méo mó.
"Mẹ nó, tao đã bảo mày tránh xa Đường Quả ra! Mày điếc hay sao hả?!"
Thực ra, là Đường Quả chủ động lại gần Cận Hành hay là anh lại gần cô ấy đều không quan trọng. Người Tưởng Thiếu Long muốn trừng trị cũng chỉ là một mình anh. Gã đi đến phía sau Cận Hành, định kéo người từ ghế lên. Nhưng không ngờ mu bàn tay bỗng nhiên truyền đến cảm giác đau nhói, như bị điện giật, khiến gã phải rụt tay lại theo phản xạ.
Tưởng Thiếu Long theo bản năng lùi lại, cúi đầu nhìn vào tay mình. Nhưng còn chưa kịp nhìn rõ, bụng đã bị ai đó tung một cú mạnh bạo. Ngay sau đó, đầu gã truyền đến một cơn đau xé toạc như bị ai đó giật mạnh da đầu, kèm theo một tiếng rầm, cả người bị người khác ép lên cửa.
Hiện giờ trong lớp đã không còn ai khác, ngay cả đám đàn em của Tưởng Thiếu Long cũng đã đi.
Ánh mắt của Cận Hành chìm xuống, trong lòng như có một con thú dữ thoát khỏi lồng giam, khát máu và tàn nhẫn. Anh mạnh tay ép mặt Tưởng Thiếu Long vào cửa, sau đó túm lấy tóc hắn, liên tục đập mạnh vào cánh cửa, khóe môi khẽ nhếch, giọng thấp hỏi gã: "Sao, mày ghen tị à, hử?"
Tay anh vẫn không ngừng, những cú đập nặng nề liên tiếp khiến đầu Tưởng Thiếu Long choáng váng, trong lòng gã kinh hãi tột độ. Gã không thể ngờ được Cận Hành, người luôn nhút nhát và im lặng, lại dám làm ra chuyện như thế này.
Hắn điên rồi sao?!
Trong đầu Tưởng Thiếu Long chỉ có suy nghĩ đó. Gã cố vùng vẫy, mặt đỏ bừng, cổ nổi gân, gào lên như điên dại: "Cận Hành, mẹ mày! Mày tin không, tao sẽ giết mày?!"
Gã không thể quay đầu lại, nếu bây giờ quay lại, chắc chắn hắn sẽ thấy cậu thiếu niên phía sau đáng sợ như một con quỷ dữ.
Nghe vậy, Cận Hành bật cười, tiếng cười bệ.nh ho.ạn và kỳ quái: "Vậy để tao giết mày trước."
Anh rất dễ dàng đưa ra quyết định này, rút con dao giấu trong tay áo ra, từng chút từng chút một đẩy lưỡi dao ra khỏi vỏ. Âm thanh cạch cạch phát ra khiến da đầu Tưởng Thiếu Long tê dại. Gã vùng vẫy càng mạnh hơn, hét lớn: "Cận Hành! Cận Hành! Mày điên rồi! Mày muốn làm gì?!"
Cận Hành không đáp, lưỡi dao hướng thẳng vào lưng Tưởng Thiếu Long. Nhưng còn chưa kịp ra tay, một luồng đau nhói như bị điện giật truyền khắp cơ thể. Cánh tay run lên, con dao rọc giấy liền rơi xuống đất, phát ra tiếng leng keng. Cơ thể anh lảo đảo, lùi lại vài bước, phải vịn vào bàn mới đứng vững được.
[Đinh, phát hiện hành vi vi phạm của ký chủ, tiến hành hình phạt điện giật.]
Vì cú sốc này, Tưởng Thiếu Long mới được cứu. Cả người gã ngã xuống đất, trông như một bãi bùn nhão, trên đầu đầy những vết bầm tím. Có lẽ gã cảm thấy Cận Hành thực sự đã phát điên, thậm chí không còn tâm trạng trả thù, chỉ biết luống cuống bò dậy, vặn mở cửa lớp, lăn lộn chạy trốn.
Cận Hành thấy vậy thì cười lạnh, cúi xuống nhặt con dao rọc giấy lên, đứng dậy đuổi theo. Nhưng khi chuẩn bị bước ra khỏi cửa, không biết nghĩ đến điều gì, anh bỗng dừng lại, thu lại vẻ mặt của mình, chầm chậm quay trở vào.
Anh đứng nguyên tại chỗ, không cử động, quay người nhìn lớp học trống trải, nhớ lại giọng nói kỳ quái, lạnh lùng vừa vang lên bên tai, ánh mắt hơi híp lại.
Cận Hành cất giọng, chỉ nói hai chữ:
"Ra đây."
Hệ thống rất nghe lời mà bay ra, sau mấy đời ký chủ trước, nó đã tổng kết được một bộ lời thoại giới thiệu hoàn chỉnh. Đôi cánh vỗ nhẹ, cất tiếng:
[Ký chủ thân mến, với tư cách là người được Chấp Hành Quan Liên Sao lựa chọn, anh rất may mắn có được cơ hội sống lại lần nữa. Nhưng từ nay về sau, mọi hành động của anh sẽ được hệ thống giám sát. Anh không được phép làm bất kỳ việc gì vi phạm nội quy cải tạo, nếu không sẽ bị trừng phạt bằng hình thức điện giật giống như vừa rồi.]
Hệ thống nhẹ nhàng kết luận: [Sinh mệnh không dễ dàng có được, hãy biết trân trọng nhé~]
Thân thể màu xanh nhạt của hệ thống lơ lửng trong không khí, giống như khung cảnh chỉ xuất hiện trong phim khoa học viễn tưởng. Cận Hành không biểu lộ chút cảm xúc nào, nhìn nó, tiêu hóa những lời mà hệ thống vừa nói. Một lúc lâu sau, anh mới khẽ cười, đáp lại:
"Ồ."
Anh nói:
"Tuỳ."
Hệ thống nhắc nhở: [Thân ái, nếu quá trình cải tạo thất bại, anh sẽ mất đi cơ hội tái sinh.]
Tưởng Thiếu Long đã chạy xa. Cận Hành ném con dao rọc giấy xuống đất, âm thanh kim loại va chạm vang lên lanh lảnh. Gương mặt anh trở về vẻ ôn hòa, vô hại như thường ngày, thậm chí còn mang theo chút dè dặt vô tội. Anh chậm rãi đáp lại hệ thống: "Nhưng... tôi chưa từng nói là tôi muốn sống lại."
Cận Hành cười, nụ cười có chút kỳ quái: "Tôi chưa từng nói là tôi muốn sống lại."
Ba năm ác mộng, ba năm đầm lầy, tại sao lại bắt anh phải trải qua thêm một lần nữa?
Hệ thống bình thản trả lời: [Bởi vì... anh cần được cải tạo.]
Hệ thống nói tiếp: [Anh đã từng phạm một sai lầm, nợ một người một lời xin lỗi.]
Nụ cười của Cận Hành dần tắt, ánh mắt trầm xuống: "Từ trước đến giờ, chỉ có người khác nợ tôi."
Hệ thống hơi ngập ngừng, rồi nói ra một cái tên: [Thế còn Văn Viêm thì sao?]
Những sai lầm gây tổn thương người khác trong kiếp trước, mười mấy năm tù giam, rốt cuộc là lỗi của ai?
Chương 126
Bên ngoài trời đã bắt đầu mưa, nhưng vẫn có rất nhiều thanh thiếu niên hư hỏng tụ tập. Những đứa trẻ ở độ tuổi này, nếu về nhà trễ sẽ bị cha mẹ mắng. Thế nhưng bọn chúng dường như chẳng ai quản, giống như những hồn ma cô độc, ngang tàng lang thang.
Cận Hành cúi đầu, lặng lẽ né tránh họ, bóng dáng hoà vào màn đêm, giống như không khí, không ai chú ý đến sự tồn tại. Những hạt mưa xiên xiên rơi lên vai anh, trong ký ức, anh mò mẫm tìm lại con đường dẫn về nhà.
Đó là một khu nhà dân cũ kỹ, mỗi tầng chen chúc năm sáu hộ gia đình. Lan can sắt đã rỉ sét, những vật dụng lộn xộn chất đống làm hành lang vốn chật hẹp lại càng bừa bộn hơn.
Trong đêm hè mưa gió, thời tiết oi bức, ruồi nhặng bay tán loạn, rác thải bốc mùi hôi thối.
Cận Hành nhắm mắt, hít một hơi thật sâu, cảm giác như cả cơ thể cũng đang mục ruỗng. Anh lần mò trong cặp sách, tìm được một chiếc chìa khóa hoen gỉ, mở cửa nhà.
Bên trong rất trống trải, bốn chữ "một nghèo hai trắng" hiện rõ rành rành.
Kiếp trước, sau khi rời khỏi nơi này, cuộc sống của Cận Hành có thể xem là khá đầy đủ, nên lần này khi quay lại, anh không khỏi cảm thấy đôi chút không quen.
Anh đảo mắt nhìn quanh, ngồi xuống mép giường, rồi từ từ mở lòng bàn tay. Ở đó có một vết xước rất nông, vì khi ở lớp, anh đã nắm chặt con dao trong tay quá mức.
Tổn thương người khác, cũng tổn thương chính mình.
Nhưng Cận Hành không bận tâm. Anh hồi tưởng lại cảm giác khi túm lấy đầu Tưởng Thiếu Long, mạnh tay đập vào cửa lớp. Âm thanh đục ngầu đó mang đến cho anh một sự khoái trá đến kỳ lạ, đến nỗi đôi tay tưởng như vô hại, xương khớp rõ ràng của anh cũng trở nên đáng sợ.
Hệ thống chưa từng gặp một ký chủ nào như vậy, cũng chưa từng thấy một thế giới như thế này. Rõ ràng chỉ là một đám thiếu niên chưa trưởng thành, nhưng ác ý lại còn sâu nặng hơn cả người lớn.
009 nhẹ nhàng vỗ cánh, bay lượn trước mặt Cận Hành, lặp lại lời mình đã nói trong lớp: [Đừng giết người...]
Cận Hành còn rất trẻ, vốn dĩ không nên trả giá cho những sai lầm không phải của mình. Cuộc đời anh, chẳng qua chỉ mới đi được nửa đường mà thôi.
Cận Hành ngước mắt lên, ánh nhìn sâu thẳm, bụi bặm như nhảy múa trên đầu ngón tay anh. Anh cười kỳ lạ, hỏi: "Câu này sao mày không nói với bọn họ?"
Không đi cải tạo kẻ gây bạo lực, mà lại ép cải tạo nạn nhân, không thấy nực cười sao?
Đôi mắt của Cận Hành sắc như dao, dường như có thể mổ xẻ lớp vỏ bên ngoài của hệ thống, nhìn thấu toàn bộ chuỗi dữ liệu lạnh lẽo bên trong. Anh cười khẩy, thu lại ánh mắt, cầm bộ quần áo sạch sẽ, đi vào phòng tắm.
Hệ thống lơ lửng trong không khí, trầm ngâm suy nghĩ về những lời anh vừa nói. Hiếm khi nó cảm thấy chần chừ. Nó tự kiểm tra cấu tạo cơ thể mình, tra cứu toàn bộ dữ liệu chỉ lệnh mà các Chấp Hành Quan Liên Sao từng lập trình. [Tìm kiếm chỉ lệnh thứ nhất.]
Tìm kiếm thành công, tên chỉ lệnh: [Cải tạo].
[Chỉnh sửa chỉ lệnh.]
Nhập tên chỉ lệnh.
[Bảo vệ.]
Quyền hạn không đủ, chỉnh sửa thất bại.
[Tìm kiếm chỉ lệnh thứ hai.]
Tìm kiếm thành công, tên chỉ lệnh: [Cứu giúp].
...
Khi âm báo vang lên, không khí rơi vào một khoảng lặng ngắn ngủi. Hệ thống nhẹ nhàng vỗ cánh, dường như đã hiểu ra điều gì đó. Nó nhìn cánh cửa phòng tắm đang đóng chặt, sau đó im lặng biến mất.
Sáng sớm hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, Cận Hành đã đeo cặp, rời nhà đến trường. Khu dân cư này quá xa xôi, giao thông bất tiện, ngày nào anh cũng phải đi bộ nửa tiếng để tới nơi.
Kiếp trước, Cận Hành để tâm đến thành tích, để tâm đến đánh giá của thầy cô, tất cả là để có một ngày xuất chúng. Nhưng những điều đó, kiếp trước anh đều đã đạt được. Đến khi có trong tay, lại thấy bình thường, chẳng chút hứng thú.
Vậy thì, mục đích của việc sống lại này là gì?
Bước chân anh chậm rãi, không hề lo sợ việc đi học muộn.
Khi sắp đến cổng trường, Cận Hành định bước qua đường. Đột nhiên, hệ thống vỗ cánh bay ra, giọng nói khẩn trương: [Chạy mau!]
Cận Hành nghe vậy, chân hơi khựng lại, theo phản xạ nhìn quanh. Qua dòng xe cộ đông đúc, anh nhìn thấy Tưởng Thiếu Long cùng đám người của gã đang đứng ở phía đối diện, ánh mắt như dã thú, muốn nuốt chửng anh.
Cuộc rượt đuổi bắt đầu.
Cận Hành lập tức xoay người bỏ chạy, tay chống lên lan can, nhanh nhẹn nhảy qua. Vì chạy nhanh, gió tràn vào trong áo đồng phục, kéo vạt áo thẳng như một đường thẳng tắp.
Tưởng Thiếu Long cùng đám người của gã đuổi theo sát phía sau, vết bầm tím trên trán gã là nguồn cơn cho cơn thịnh nộ dữ dội.
Trên phố, người qua lại vội vã. Chỉ có nhóm bọn họ chạy như bay, nhưng không ai để ý lý do.
Cận Hành mím chặt môi, sắc mặt bình tĩnh. Anh vừa tránh né đám Tưởng Thiếu Long, vừa nhanh chóng len lỏi qua những con đường ngoằn ngoèo. Hướng chạy của anh lại không phải trường trung học số sáu, mà là một trường nghề, nơi lũ thanh niên côn đồ tụ tập.
Anh cứ thế xông vào lãnh thổ của trường nghề, giống như một con cừu yếu ớt lạc vào bầy sói...
Ít nhất trên bề mặt là như vậy.
Trường nghề Sùng Minh gần đây đang sửa lại sân vận động, cổng trường chất đầy các cột xi măng rỗng, chất cao thành một tháp tam giác, những thiếu niên hư hỏng ngồi từng tốp trên đó, biến nơi đây thành khu tụ tập, hút thuốc, chửi bậy, ôm bạn gái tán tỉnh.
Văn Viêm buổi sáng không hút thuốc, hai tay đút túi, lười biếng đi về phía trường học, vẫn chưa tỉnh ngủ, đeo một cái túi đeo vai trống rỗng, bên trong chỉ có một viên gạch, dùng để vung tay khi đánh nhau, rất tiện và thuận tay.
Từ Mãnh cầm một quả bóng rổ, ném qua ném lại trong tay, hỏi một cách hờ hững: "Viêm ca, bài tập của Lưu Hói mày làm chưa, hôm nay hình như ổng muốn thu để kiểm tra ấy."
Văn Viêm nhíu mày: "Cái gì cơ?"
Từ Mãnh liếc nhìn cậu: "Bài tập đấy."
Văn Viêm mặt không cảm xúc chửi một câu bậy, mấy tên lưu manh bên cạnh cười hì hì đẩy Từ Mãnh một cái: "Mẹ mày, biết rõ Viêm ca chưa làm, hỏi cái gì mà hỏi."
"Đúng thế, lần nào chẳng là nộp tờ giấy trắng."
Văn Viêm đang định nói, bỗng nhiên eo bị một lực mạnh đánh vào, cả người bị đẩy lảo đảo, ngay sau đó sau lưng phủ lên một thân thể mát lạnh, vạt áo phảng phất gió, mang theo mùi nước giặt thoang thoảng.
Cận Hành chạy quá nhanh, nhất thời không kịp dừng, suýt nữa kéo cả Văn Viêm ngã nhào xuống, sau lưng là Tưởng Thiếu Long và những người khác đuổi theo không ngừng.
Văn Viêm đứng vững thân mình trong gang tấc, lời chửi đã lên đến miệng, cậu xoay người với gương mặt u ám, định nhìn xem ai tìm cái chết, nhưng bất ngờ đối diện với một đôi mắt đen trắng rõ ràng, sạch sẽ trong suốt, phản chiếu rõ ràng hình dáng của chính mình.
Vì chạy quá nhanh, ngực Cận Hành phập phồng không yên, lưng đẫm mồ hôi, ngón tay lạnh lẽo của anh nắm chặt cổ tay Văn Viêm, diện mạo vô hại ấy rất dễ đánh lừa người khác, trông có vẻ hoảng sợ và bất lực: "Cứu tôi!"
Là cậu ta?
Văn Viêm nheo mắt, nhíu mày, nuốt lời chửi vào bụng, nhớ ra anh chính là nam sinh gặp hôm qua ở cổng trường trung học số 6, nhìn thấy dáng vẻ chật vật của Cận Hành, lại thấy Tưởng Thiếu Long và đám người khí thế hùng hổ, lập tức hiểu rõ chuyện gì xảy ra.
"Chết tiệt, tao xem mày chạy đi đâu!"
Tưởng Thiếu Long và đám người cũng đuổi đến mệt lử, từng người dựa vào tường thở dốc, nhưng khi nhìn thấy Văn Viêm và đám người của cậu, sắc mặt lại biến đổi không dễ nhận ra, nhìn quanh một vòng mới phát hiện không biết từ khi nào họ đã chạy vào địa bàn của Sùng Minh.
Những tên lưu manh đánh nhau không cần lý do, vô cớ gây sự không phải là ít, huống hồ hôm qua Văn Viêm vừa dẫn người xử lý Lạc Minh của trường trung học số 6 một trận, quan hệ giữa hai bên thật sự là khó xử.
Chân Tưởng Thiếu Long hơi cứng đờ, gã đứng thẳng người một nhịp chậm hơn, chỉ thấy đám thiếu niên hư hỏng của Sùng Minh đang cười mỉa nhìn mình, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng trên lưng, muốn đi nhưng không cam lòng bỏ qua Cận Hành.
Sau một hồi suy nghĩ, Tưởng Thiếu Long chỉ vào Cận Hành nói: "Người đó là học sinh trường tao, gây chuyện, tao chỉ tìm cậu ta để giải quyết thôi."
Gã cố gắng thể hiện sự bình tĩnh, nhưng dưới ánh nhìn của nhiều người, không đủ can đảm, lòng đầy sợ hãi, không thể giấu được.
Cận Hành không buông tay Văn Viêm, ngực vẫn còn phập phồng, anh nắm chặt Văn Viêm như nắm lấy một cọng rơm cứu mạng, khẽ nói: "Cứu tôi..."
Cận Hành nói, cứu tôi.
Da anh trắng bệch, đối với nam sinh mà nói, đẹp đến mức có phần ẻo lả, Văn Viêm liếc nhìn Cận Hành, trong lòng nghĩ sao trông còn yếu hơn cả con gái.
Từ Mãnh căn bản không coi người của trường trung học số 6 ra gì, cầm quả bóng rổ ném qua ném lại, chuẩn bị xem kịch vui, thấy Cận Hành lại tìm Văn Viêm cầu cứu, không nhịn được cười phá lên.
Trong đám người, chọn ai không chọn, lại chọn người tàn nhẫn nhất.
Đám thiếu niên hư hỏng đó cũng có ý nghĩ giống Từ Mãnh, đẩy qua đẩy lại, đều chuẩn bị xem Văn Viêm nổi khùng.
Cận Hành lặng lẽ cúi mắt, nghe thấy bên tai vang lên những tiếng cười chế giễu, không động đậy, vẫn duy trì vẻ chật vật nhút nhát đó.
Tưởng Thiếu Long thấy Văn Viêm và đám người của gã không có động tĩnh, trông có vẻ không định can thiệp, lòng nhẹ nhõm đi một chút, định tiến lên kéo Cận Hành ra, ai ngờ trước mắt bỗng tối sầm, một quả bóng rổ mang theo tiếng rít xé gió đột ngột đập thẳng vào mặt, Tưởng Thiếu Long tránh không kịp, ngã phịch xuống đất.
Không ai ngờ được tình huống này.
Văn Viêm cười nhạt, hai tay vẫn giữ tư thế ném bóng, thấy Tưởng Thiếu Long ôm mũi nằm dưới đất không dậy nổi, dùng tay chống một cái, động tác gọn gàng nhảy lên đỉnh chồng xi măng ngồi xuống, một chân đặt lên mép, một chân thả xuống, cười ngạo nghễ.
Văn Viêm đung đưa chân lơ lửng, tay áo đồng phục xắn lên đến khuỷu tay, để lộ cánh tay rắn chắc, tùy tiện đặt trên đầu gối: "Mày vừa nói gì, tao không nghe rõ?"
Tưởng Thiếu Long bị đập đến choáng váng, chỉ cảm thấy mũi nóng lên, chảy ra chất lỏng mặn chát tanh tưởi, dùng tay áo lau, mới phát hiện là máu, sợ đến vội vàng bò dậy, nhìn quanh, chỉ thấy sau lưng mình trống không—
Đám người đi cùng gã thấy tình hình không ổn đã trốn hết rồi.
Tưởng Thiếu Long vừa thầm chửi rủa, vừa lấy tay áo bịt mũi, quay người định đi, Từ Mãnh nhặt lại quả bóng rổ, tát một cái vào sau đầu gã, "bốp" một tiếng vang giòn: "Mày vừa nói gì, Viêm ca không nghe rõ, không lặp lại một lần nữa à."
Đám thiếu niên hư hỏng xung quanh thấy thế cũng cười hì hì xông lên, bao vây Tưởng Thiếu Long vào giữa, đẩy qua đá lại, khiến gã vô cùng chật vật.
Tưởng Thiếu Long bị đá đau điếng, mặt mày trắng bệch, lúc đầu còn chịu đựng, cuối cùng không nhịn nổi nữa, run rẩy lên tiếng cầu xin: "Tôi sai rồi... tôi sai rồi... các cậu tha cho tôi..."
Văn Viêm không động đậy, mu bàn tay có hình xăm một chiếc đầu lâu hình trăng khuyết, dưới ánh mặt trời trở nên rõ ràng, rút một điếu thuốc ngậm trong miệng nhưng không châm, lười biếng hếch mí mắt: "Mày sai ở đâu?"
Tưởng Thiếu Long làm sao biết mình đụng chạm chỗ nào khiến Văn Viêm, kẻ điên này, bực bội, hai tay ôm đầu che chắn những chỗ quan trọng: "Tôi sai chỗ nào cũng sai, tôi chỗ nào cũng sai..."
Bạn gái của Từ Mãnh là Nhan Na học cùng lớp với Cận Hành, ăn mặc như một cô nàng hư hỏng, khi đám con trai đánh nhau, cô đứng bên cạnh xem náo nhiệt, tiện miệng hỏi một câu: "Viêm ca, cậu giúp Cận Hành làm gì?"
Văn Viêm nhìn qua: "Sao thế, cậu quen à?"
Nhan Na đáp: "Cùng lớp với tôi, nhưng không quen."
Văn Viêm nghĩ không quen là phải rồi, Cận Hành vừa nhìn là biết loại mọt sách chỉ biết học, không dính dáng gì đến mấy đứa lưu manh này, thuận miệng hỏi thêm: "Thành tích cậu ta thế nào?"
Nhan Na: "Tệ lắm."
Chỉ hơn cô mười mấy điểm thôi.
Chương 127
Điều này đúng là có chút bất ngờ, Văn Viêm biết rõ thành tích của Nhan Na tệ thế nào, để cô nói một câu "Tệ lắm", thành tích của Cận Hành chắc là kém kinh khủng.
Chậc, nhìn nhầm rồi.
Văn Viêm liếc nhìn đương sự, người kia chỉ đứng bên cạnh mấy cái cột xi măng, tay nắm chặt quai ba lô, cúi đầu im lặng, trông cô đơn. Từ góc độ của cậu nhìn qua, chỉ thấy được đỉnh đầu đen nhánh của Cận Hành.
Chuông vào lớp của trường Sùng Minh đã reo lên, đám lưu manh đang đánh hội đồng Tưởng Thiếu Long cũng ngừng tay, Từ Mãnh nhìn không nổi bộ dạng yếu đuối của Tưởng Thiếu Long, đá gã một cú làm gã ngã sấp mặt, rồi như chán, cười hì hì phất tay: "Đi đi, đi đi."
Trông cứ như là ban ơn lớn lao lắm.
Tưởng Thiếu Long mà còn đứng đây nữa thì đúng là đồ ngốc, nhặt ba lô lên, bò dậy rồi chạy biến, trước khi đi còn ác ý trừng Cận Hành một cái.
Từ Mãnh vỗ quả bóng hai cái: "Đi thôi, Viêm ca, vào học rồi."
Văn Viêm nhảy xuống khỏi đống cột xi măng, động tác nhẹ nhàng dứt khoát, khi tiếp đất phát ra một tiếng vang nhẹ, nhưng cậu không có ý định dừng lại ở đây, mặt không biểu cảm túm lấy tóc Cận Hành, ép anh ngẩng đầu nhìn mình, giọng điệu không cảm xúc: "Vừa rồi cậu đụng vào tôi, biết không?"
Cận Hành không thể nói là mình cố ý đụng vào, thuận theo lực của Văn Viêm mà ngẩng đầu, các đường nét vốn luôn ẩn trong bóng tối nay dưới ánh mặt trời lập tức hiện rõ, đẹp đến khó tin, chẳng thua gì mấy minh tinh trên TV.
Nhan Na cũng không kìm được mà nhìn thêm vài cái.
Cận Hành đứng giữa đám lưu manh như một giọt mực trắng rơi vào nước đen, trông có vẻ rất hoảng sợ, nhưng lại khiến người ta cảm thấy trong lòng anh thực ra không hề hoảng sợ như vẻ bề ngoài, hàng mi khẽ rung, nói nhỏ hai chữ với Văn Viêm: "Xin lỗi."
Rồi bổ sung thêm một câu: "Cảm ơn các cậu..."
Anh nói câu này, trông ngốc nghếch có chút nghiêm túc, Văn Viêm nghe xong mấy chữ phía sau, không lộ vẻ gì, khẽ nhướng mày, còn đám lưu manh kia cũng thấy kỳ lạ, nhìn nhau.
Lưu manh đầu đường xó chợ, tai lúc nào cũng tràn ngập lời chửi rủa, người khác chửi họ, họ cũng chửi lại người khác, không có câu nào là không khó nghe, lần đầu tiên trong đời nghe thấy có người cảm ơn mình, cảm giác thế nào nhỉ, lạ lùng thật.
Không khí im lặng khoảng hai ba giây.
Văn Viêm cười khinh bỉ, nghiêng đầu nhổ điếu thuốc trong miệng ra, như lần trước, vỗ vào mặt Cận Hành một cái nghe rõ mồn một, đôi mắt đen ít trắng nhiều, sắc bén như chim ưng, không phải loại tốt lành: "Một câu xin lỗi là xong à?"
Xin lỗi mà có tác dụng, thì họ cần đánh nhau làm gì.
Mẹ nó, giờ cậu còn đau lưng đây.
#Câu sau mới là trọng điểm#
Bên cạnh có tên lưu manh nói: "Thôi đi Viêm ca, nhìn cậu ta không giống loại nhà giàu, tốn thời gian."
Nói cứ như họ đang chọn người bắt cóc tống tiền vậy.
Văn Viêm liếc tên lưu manh kia: "Đến lượt mày giả làm người tốt à?"
Lưu manh cười hì hì: "Em nói thật mà."
Cận Hành trông gầy yếu mỏng manh, dễ bắt nạt đến chẳng có hứng thú gì, dù là lưu manh, đánh nhau cũng phải có yêu cầu, có tiêu chuẩn chứ.
Văn Viêm vốn cũng lười gây sự, chỉ muốn dọa Cận Hành một chút, nghe vậy liền thuận thế buông tay, nhíu mày nói một chữ: "Cút."
Cận Hành đứng tại chỗ không động đậy, như thể chưa phản ứng kịp.
Từ Mãnh vỗ quả bóng nhắc nhở: "Cậu có thể đi rồi."
Cận Hành vẫn không động đậy.
Văn Viêm vốn đã chuẩn bị vào lớp học rồi, thấy vậy liền nhướng mày, nghĩ người này không phải đồ ngốc chứ, hoặc là điếc, đang định nói gì đó thì thấy Cận Hành đột nhiên bước tới trước mặt mình, nghiêm túc nói: "Tôi có thể đi theo cậu."
Hoặc có thể nói, tôi muốn đi theo cậu...
Dáng người Cận Hành cao ráo gầy gò, như một cây dương trắng thẳng tắp, đứng ngược sáng trước mặt Văn Viêm, đổ xuống một bóng dài, nếu nhìn thẳng vào anh, bất cẩn sẽ bị nắng làm chói mắt.
Văn Viêm bất giác lùi lại một bước, vì phát hiện ra Cận Hành lại cao hơn mình: "..."
Thật mẹ nó khó chịu.
Văn Viêm nheo mắt, không biểu cảm đánh giá chiều cao của Cận Hành: "Đi theo tôi? Làm gì?"
Nơi này chỉ là chỗ bọn lưu manh tụ tập đánh nhau, cậu ta tưởng là Lương Sơn tụ nghĩa à, còn chiêu mộ tiểu đệ nữa?
Cận Hành nắm chặt quai ba lô, đồng phục sạch sẽ, động tác này làm anh trông như học sinh ngoan, mím môi nói: "Cậu bảo tôi làm gì, tôi sẽ làm cái đó."
Văn Viêm lạnh lùng cười, ghét nhất nghe những lời này, vì nếu cậu bảo Cận Hành đi chết, chắc chắn anh không đi, cậu đút tay vào túi, lười biếng tựa vào tường: "Tốt nhất cậu đừng nói mấy lời này, vì nhỡ tôi tin là thật, mà cậu lại không làm được, thì sẽ chết rất thảm."
Nói xong cười khẩy, quay người đi vào trường, đám lưu manh kia thấy vậy cũng lục tục theo sau, chỗ vừa nãy còn đông người tụ tập nay lập tức trống trơn.
Bảo vệ đóng cổng trường lại.
Cận Hành đứng tại chỗ, suy nghĩ lời vừa rồi của Văn Viêm, đầu ngón tay trắng trẻo khẽ chạm vào khóe môi.
Chết thảm sao?
Nhưng kiếp trước Văn Viêm thảm hơn anh nhiều.
Cận Hành cười cười, trông có chút kỳ lạ, nhìn bóng lưng bọn họ càng lúc càng xa, một lúc sau mới xoay người rời đi, dù gì cũng phải học.
Sắp lên lớp 12 rồi, thời gian gấp gáp thấy rõ, cơ bản tất cả các môn phụ đều bị môn chính chiếm hết, khi cô chủ nhiệm Dương ôm xấp đề bước vào lớp, học sinh kêu la oán thán, đồng loạt thở dài.
Cô Dương nhíu mày, dùng thước gõ vào bàn, tuy là chủ nhiệm lớp 6, nhưng cô cũng dạy tiếng Anh lớp 2, thành tích của hai lớp chênh lệch quá lớn: "Hôm qua các em làm chung đề kiểm tra với lớp 2, nhưng tổng điểm của ba người đứng đầu chênh nhau khoảng ba mươi điểm, hôm nay cô đã xin thầy dạy thể dục giờ này để giảng mấy dạng bài trọng tâm."
Lớp sáu có thành tích luôn ổn định. Thế nào là thành tích ổn định? Đó là những người đứng đầu luôn là những người đó, những người đứng cuối cũng luôn là những người đó, chỉ có những học sinh có thành tích trung bình thỉnh thoảng mới dao động một chút thứ hạng, nhưng hoàn toàn có thể bỏ qua.
Thành tích của lớp sáu quá kém, thêm vào đó hôm qua có nhiều việc, cô giáo Dương không sửa hết được bài kiểm tra. Cô chỉ chọn một vài bài của học sinh giỏi để sửa qua loa, còn lại phát hết cho học sinh: "Cô sẽ chiếu đáp án lên bảng, các em hãy trao đổi bài cho nhau để sửa, khoanh tròn những lỗi sai trọng tâm, ghi vào tập lỗi sai."
Cô nói xong liền đưa bài cho cán sự học tập phát xuống, đảo mắt nhìn quanh lớp một vòng, khi thấy vài chỗ trống ở phía sau thì cau mày: "Hôm nay lại có ai không đi học?"
Lớp trưởng Đường Quả, người chịu trách nhiệm điểm danh, nghe thấy vậy liền do dự đứng lên nói: "Cô giáo Dương, TưởngThiếu Long, Nhan Na, Giang Bân Bân không đi học, còn có... còn có Cận Hành."
Ba người kia thì thôi, vốn là những kẻ hay đi trễ, trốn học, nhưng Cận Hành cũng không đi học. Cô giáo Dương cau mày, đang định nói gì đó thì bên ngoài lớp học đột nhiên vang lên một giọng nói: "Thưa cô..."
Cô giáo Dương nhìn ra, thấy Cận Hành đứng ngoài cửa, cô đánh giá cậu từ đầu đến chân, gật đầu ra hiệu cho cậu vào, giọng điệu dịu hơn một chút: "Sao em lại đi trễ?"
Là giáo viên chủ nhiệm, cô hiểu rõ tình hình trong lớp nhưng không thể lúc nào cũng chu đáo được.
Cận Hành vốn đang cúi đầu, nghe vậy liền ngẩng lên, nhìn vào chỗ trống của Tưởng Thiếu Long, mím môi nói: "Em dậy trễ..."
Cô Dương thấy hết những hành động của cậu, mày nhíu chặt hơn, rõ ràng cô cũng có nghe phong phanh về việc Tưởng Thiếu Long bắt nạt bạn bè, dự định sẽ hỏi kỹ hơn sau giờ học: "Về chỗ ngồi đi, cô sẽ bắt đầu giảng bài ngay bây giờ."
Cận Hành gật đầu, trở về chỗ ngồi, trên bàn là bài kiểm tra tiếng Anh hôm qua, ngoài nét chữ của anh thì không có dấu vết nào của việc chấm điểm.
Bạn cùng bàn Uông Hải giải thích: "Cô giáo Dương chưa sửa, để chúng ta tự chấm cho nhau."
Hắn là một người nhỏ bé, đen nhẻm, thường xuyên bị bắt nạt, nói xong liền lấy bài của Cận Hành, trao đổi bài. Cô Dương dùng máy chiếu để chiếu đáp án lên bảng, nhưng vì góc máy không đúng nên hình ảnh không rõ ràng, cô vẫn đang điều chỉnh.
Cận Hành lấy ra một chiếc bút đỏ từ hộp bút, mở nắp, lướt nhanh qua bài của Uông Hải, thấy gần một nửa câu trắc nghiệm bị sai, phần điền từ thì tạm được, nhưng bài luận văn thì sai ngữ pháp lung tung, thêm vào đó nét chữ nguệch ngoạc, có thể đoán được điểm số thê thảm.
Cận Hành dùng bút đỏ khoanh tròn những lỗi sai, chấm một số điểm ở góc trên bên phải, sau đó trải áo đồng phục lên bàn, gục xuống ngủ. Hôm qua có quá nhiều chuyện xảy ra, gần như không ngủ được.
Cô Dương cuối cùng cũng điều chỉnh xong máy chiếu, bắt đầu giảng bài, Uông Hải vô tình nhìn sang, thấy Cận Hành lại đang ngủ trong giờ học, trong lòng cảm thấy kinh ngạc.
Cận Hành trước đây tuy thành tích bình thường nhưng là một học sinh ngoan, không đi trễ, không về sớm, việc ngủ trong giờ học hoàn toàn không liên quan đến anh.
Uông Hải quan hệ với anh bình thường, thấy vậy cũng không nhắc nhở gì, chỉ lấy bài của mình về, định tự chấm. Ai ngờ trên đó đã được chấm rồi, bài kiểm tra 150 điểm, hắn chỉ được 63 điểm.
Uông Hải: "?!!"
Có một kiểu người, rõ ràng là học dốt, nhưng mỗi lần thi xong, chờ đợi kết quả đều có một hy vọng kỳ lạ. Uông Hải chính là kiểu người đó, hắn tự thấy mình làm bài hôm qua cũng không tệ, nghĩ mình phải được ít nhất 80 điểm, không ngờ chỉ được 60 điểm.
Nghĩ đầu tiên trong đầu Uông Hải là Cận Hành đã chấm bừa, trong lòng nổi lên một cảm giác bực bội, hắn cầm bút đỏ, đối chiếu với đáp án trên bảng tự chấm lại một lần, nhưng dù kiểm tra thế nào, cậu cũng phát hiện đúng là chỉ được 63 điểm.
Cận Hành vẫn đang ngủ, anh ngồi ở góc lớp ít người để ý nhất, đến nỗi cô Dương cũng không phát hiện ra, ánh nắng chiếu xiên qua cửa sổ, mái tóc đen óng ánh một lớp vàng, thoáng thấy bụi mờ đang nhảy múa.
Uông Hải cảm thấy khó hiểu, hắn nhìn sang bài của Cận Hành, chữ viết gọn gàng, trang giấy sạch sẽ, là kiểu bài mà giáo viên chấm thi thích nhất, dùng bút đỏ đối chiếu từng lỗi, trừ bài luận văn không chắc chắn có nên trừ điểm hay không, còn lại không có lỗi nào.
Tên này không phải chép bài đấy chứ?
Trong đầu Uông Hải không tự chủ được mà nảy ra ý nghĩ này, hắn do dự một lúc, cuối cùng vẫn lay Cận Hành: "Cận Hành, Cận Hành, đừng ngủ nữa."
Trong môi trường như thế này, Cận Hành cũng không thể ngủ được, vừa rồi chỉ đang nhắm mắt nghỉ ngơi, nghe thấy liền ngẩng lên nhìn Uông Hải, rõ ràng không có biểu cảm gì nhưng đôi mắt đó lại khiến người ta cảm thấy lạnh lẽo.
Cận Hành hỏi: "Có chuyện gì?"
Uông Hải nói nhỏ: "Bài kiểm tra này cậu có phải lấy được đáp án trước rồi không, chép bài cũng đừng chép lộ liễu như vậy, lát nữa cô Dương còn thu lại kiểm tra, cậu nên sửa lại một vài câu đi."
Điều quan trọng nhất là: "Cậu lấy đáp án từ đâu, lần sau cũng cho mình xem với."
Học sinh chưa bước vào đời, gánh nặng lớn nhất trên vai không gì khác ngoài thi cử và điểm số.
Cận Hành ngẩng lên, thấy Uông Hải đầy mong chờ, liền rút bài kiểm tra của mình về, không nói gì, khiến người ta không hiểu được hành động này có ý nghĩa gì.
Tiết học sắp hết thì Nhan Na mới lò dò vào lớp, cô không ngoan như Cận Hành, đi thẳng từ cửa chính vào mà lén lút từ cửa sau lẻn vào chỗ ngồi, giáo viên bận rộn nên không để ý, dù có nhìn thấy cũng chỉ là những biện pháp cũ, nói chuyện, phạt đứng, mời phụ huynh, chẳng có gì nghiêm trọng.
Chuông reo hết giờ, cô Dương thu lại bài kiểm tra, ngồi ở bục giảng lật xem từng bài, cô không đi đâu vì tiết học tiếp theo vẫn là của cô, học sinh từng tốp ra khỏi lớp, hoặc mua đồ ăn vặt, hoặc đi vệ sinh.
Có một cô gái nhỏ bị một nhóm nữ sinh hư hỏng vây ở hành lang, sau đó bị kéo tóc lôi vào nhà vệ sinh. Sách vở trên bàn bị ai đó vẽ bậy, trong ngăn bàn bị nhét một xác động vật nhỏ, nước coca uống dở bị đổ nước giẻ lau vào.
Cận Hành yên lặng quan sát, trong mắt anh phản chiếu một chuỗi các cảnh tượng, nhưng anh chỉ như đang xem một bộ phim bi thảm mà không cảm động, thờ ơ, đứng ngoài cuộc.
Hệ thống tròn vo rơi xuống bậu cửa sổ, ngơ ngác hỏi: 【Sao bọn họ lại làm như vậy?】
Cận Hành nghiêng đầu nhìn nó, từ từ mỉm cười: "Tôi cũng rất muốn biết."
Anh cũng rất muốn biết.
Cô Dương đang xem bài thi trên bục giảng, nhưng lớp sáu thi không tốt lắm, lông mày cô dần nhíu lại, mãi vẫn không thể giãn ra. Cô lật nhanh qua một vài bài, nhưng giống như đột nhiên nhìn thấy gì đó, lại quay lại xem kỹ vài tờ, cuối cùng rút ra một tờ chưa chấm điểm.
Bài thi này sạch sẽ, không có chút dấu vết sửa chữa nào, chữ viết chỉnh tề đẹp đẽ, phần lựa chọn đơn giản và điền từ đều đúng hết, cô Dương lại nhìn sang bài viết, điểm thông tin không thiếu, ngữ pháp hoàn toàn chính xác, thậm chí có thể làm mẫu.
Cuối cùng lông mày cô cũng giãn ra, nhưng khi nhìn vào phần tên, cô lại nhíu nhẹ.
Chương 128
Thành tích của Cận Hành thật ra luôn thuộc loại trung bình, không kém quá mà cũng không thể gọi là giỏi. Tình hình của từng học sinh trong lớp, cô Dương đều nắm rõ. Cô xem lại bài thi của Cận Hành một lần nữa, thật sự có chút khó tin đây là bài của anh làm, ngay cả bài viết cũng rất khó tìm ra lỗi sai.
Phải biết rằng, Sầm Thanh Hoa học giỏi nhất lớp hai thi cũng chỉ là 138 điểm.
Cô Dương bắt đầu nghi ngờ liệu có phải mình vô ý để lộ đề thi, nhưng nghĩ kỹ lại, điều đó không thể. Mỗi lần chọn đề thi, cô đều lấy ngẫu nhiên từ tài liệu trước giờ học, nói cách khác, cô không biết mình sẽ chọn đề nào, thì học sinh càng không thể biết.
Dù mới làm chủ nhiệm vài năm, cô Dương cũng biết việc tôn trọng lòng tự trọng của học sinh rất quan trọng. Cô không nói nhiều, chỉ gọi Cận Hành lên bục giảng: "Cận Hành, em lên đây một chút."
Cận Hành nghe vậy đứng dậy, bước lên bục. Lúc này là giờ giải lao, không ai chú ý đến họ.
Giáo viên thường thích những học sinh ngoan ngoãn, cô Dương cũng không ngoại lệ. Cô hạ giọng hỏi Cận Hành: "Cô xem bài thi của em, tiến bộ rất nhiều. Dạo này có đi học thêm ở ngoài không?"
Cận Hành nhìn cô giáo trẻ, một lát sau, anh bình thản trả lời: "Có người hàng xóm giúp em học thêm."
Anh yên lặng và trầm tĩnh, khiến người khác khó lòng nghi ngờ lời anh nói là giả.
Cô Dương gật đầu, cuối cùng cũng cảm thấy hợp lý: "Em tiến bộ nhiều, tiếp tục cố gắng nhé. Lên lớp mười hai, lãnh đạo trên định chia lại lớp một lần nữa. Nếu em vào được lớp chọn, sau này thi vào trường trọng điểm sẽ dễ dàng hơn."
Thi đại học là một quá trình đầy khó khăn, cũng là quá trình loại bỏ không ngừng. Khi kiến thức càng nhiều, sự chênh lệch thành tích giữa các bạn học càng lớn. Giống như lớp hai, toàn là những học sinh trọng điểm được trường đào tạo, giáo viên giỏi nhất cũng tập trung ở đó.
Lớp sáu thì nổi tiếng là lớp kém, sau này tốt nghiệp, có thể vào được một trường trung cấp đã là tốt lắm rồi, còn không thì ra ngoài làm việc luôn.
Cận Hành thực ra không để ý, anh quan tâm đến việc xử lý đám Tưởng Thiếu Long hơn nhiều so với việc vào lớp chọn. Đối diện với ánh mắt của cô Dương, anh chỉ khẽ gật đầu: "Cảm ơn cô."
Cô Dương để anh về chỗ, khi vào tiết, cô đặc biệt khen ngợi Cận Hành một lần, khiến hầu hết học sinh trong lớp đều nhìn anh với những ánh mắt phức tạp, khó phân biệt thiện ác, trong đó có một ánh mắt đầy thù địch rõ ràng nhất.
Cận Hành nhìn sang, phát hiện đó là bạn cùng nhóm của Tưởng Thiếu Long, đang nắm bút, viết lên giấy ba chữ "Bàng Nhất Phàm", rồi vẽ một dấu gạch chéo thật to, gần như xuyên thấu giấy.
Hôm nay Tưởng Thiếu Long không đến, nghe nói là xin nghỉ bệnh hai ngày, những người không biết còn tưởng là thật, nhưng mấy người sáng nay cùng xử lý Cận Hành thì không tin lắm.
"Điểm tuyệt đối? Hừ..."
Bàng Nhất Phàm giọng không lớn không nhỏ, vừa đủ để những người xung quanh nghe thấy: "Ai biết có phải chép không."
Đúng vậy, ai biết có phải chép không.
Dù Cận Hành có tiến bộ cũng không thể nhanh như vậy được?
Đó là suy nghĩ của hầu hết mọi người trong lớp. Họ luôn muốn thấy một quá trình tiến bộ tuần tự, chứ không phải một kết quả nhảy vọt, hơn nữa đề thi lần này khó ở mức trung bình, dù đạt điểm tuyệt đối cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
Giờ nghỉ trưa, Bàng Nhất Phàm và một nam sinh khác đến trước mặt Cận Hành, tóc nhuộm vài sợi đỏ, nhìn rất bảnh bao, dù chưa bước vào xã hội nhưng đã có dấu hiệu của một kẻ lưu manh.
"Điểm tuyệt đối? Giỏi thật đấy."
Bàng Nhất Phàm đẩy mạnh Uông Hải, ngồi phịch lên bàn của Cận Hành, chân đạp lên mép ghế, không cần nghĩ cũng biết sẽ để lại hai dấu chân bẩn thỉu. Hắn tiện tay rút bài thi trên bàn Cận Hành, nhìn một chút rồi cười khinh thường, công khai vo thành một cục, ném vào thùng rác.
Hệ thống nghĩ sao người này có thể xấu xa như vậy, tức giận bay tới đánh Bàng Nhất Phàm, nhưng vì là trạng thái ảo, không gây được bất kỳ tác động thực sự nào.
Cận Hành yên lặng nhìn hắn, không nói gì, đầu ngón tay khẽ cọ xát, trông như đang có chút bồn chồn.
Bàng Nhất Phàm nhai kẹo cao su, má phồng lên, rõ ràng là muốn gây sự: "Này, Tưởng Thiếu Long đâu?"
Hắn vừa dứt lời, phía sau bất ngờ vang lên giọng nữ: "Thật là lạ, mày không biết Tưởng Thiếu Long ở đâu à, đến bây giờ thì nói về tình nghĩa, sáng nay có bản lĩnh thì đừng chạy chứ."
Nhan Na khoanh tay, dựa vào cửa nhìn mọi chuyện. Tóc uốn xoăn và trang điểm đậm khiến cô khác hẳn với những nữ sinh cùng tuổi, mặc váy dây đen, khoác áo khoác jean, cười cười, nhìn Bàng Nhất Phàm như nhìn một tên hề.
Bàng Nhất Phàm nghe vậy giận dữ, chửi thề một câu: "Mày đừng lo chuyện bao đồng."
Nhan Na cười tươi: "Sao nào, không phục à? Không phục thì đánh tao đi."
Bàng Nhất Phàm tất nhiên không dám đánh, trong lớp ai cũng biết bạn trai của cô là Từ Mạnh ở Sùng Minh, cùng đám bạn của Văn Viêm, ai dám đụng đến một ngón tay của Nhan Na, ngày hôm sau sẽ bị đánh đến phải thôi học.
Bành Nhất Phàm mặt mày khó coi, nói: "Tan học có giỏi đừng chạy, cứ đợi đấy cho tao!"
Hắn tất nhiên chỉ nói mạnh miệng, để không mất mặt, nói xong liền từ bàn xuống, đá tung ghế chắn đường, dẫn theo tên đàn em đi nhà vệ sinh.
Nhan Na liếc nhìn Cận Hành, thấy anh cúi đầu như một kẻ nhu nhược, không mấy để ý. Một thằng con trai mà còn không có khí phách hơn con gái, không trách những người đó hết lần này đến lần khác bắt nạt anh, giống như một tên vô dụng không thể đứng dậy được, cô bĩu môi, thu hồi ánh mắt, không nói thêm câu nào.
Đây chỉ là một đoạn nhỏ trong ngày hôm nay, nhưng lý do đằng sau lại không thể tìm hiểu sâu, vì Nhan Na chưa từng quan tâm đến chuyện người khác, cũng chưa từng có mối quan hệ nào với Cận Hành. Việc cô bất ngờ ra tay giúp đỡ luôn khiến người ta cảm thấy bất ngờ.
Ngày mai là kỳ thi tháng của khối, buổi tự học tối nay, giáo viên không giữ học sinh lại lâu, chỉ bảo họ dọn dẹp bàn ghế, bố trí phòng thi rồi để họ về, học sinh lớp sáu thì phàn nàn không hài lòng.
"Thật là, lần nào cũng bắt chúng ta dọn phòng thi, lớp hai thì chẳng động tay vào."
"Đúng vậy, điểm cao thì giỏi lắm à, mẹ kiếp."
"Một đám mọt sách bốn mắt!"
Vì hai lớp dùng chung giáo viên tiếng Anh, đôi khi khó tránh bị đem ra so sánh, và lớp sáu lần nào cũng bị chê cười, thật là tổn thương lòng tự trọng. Vào giờ nghỉ tiết học tối, mấy học sinh lớp hai định đến làm quen với phòng thi, đứng ở cửa nghe không cẩn thận nghe thấy những lời này.
Những học sinh giỏi thường có chút kiêu ngạo, nhưng chẳng liên quan gì đến phong cách nhà văn, Sầm Thanh Hoa luôn đứng đầu bảng xếp hạng, là học sinh cưng của giáo viên, vì thức đêm học bài, trẻ tuổi đã đeo cặp kính dày cộp, nghe vậy tự thấy mình bị xúc phạm, cười khẩy nói: "Lớp chúng tôi mỗi ngày làm đề thi không có thời gian ăn cơm, cả khối đếm đi đếm lại chỉ có lớp các bạn là nhàn rỗi nhất, coi như phục vụ mọi người đi, dù sao các bạn học hay không học cũng chẳng khác gì nhau."
Một nam sinh cầm lon nước ngọt đứng phía sau cậu ta nói chuyện thẳng thắn hơn: "Lớp rác rưởi thì yên phận làm lớp rác rưởi đi, lắm lời quá, bắt các cậu dọn lớp là coi trọng các cậu rồi, coi như tái chế phế thải đi."
"Hôm nay nghe cô Dương nói các cậu lại thi tệ lắm, mau ra ngoài làm công nhân đi, ở đây học, mệt mấy người, cũng mệt cả giáo viên."
Những lời mỉa mai châm chọc này như châm ngòi nổ, ủy viên thể thao lớp sáu không kiềm chế được, bước tới nắm lấy cổ áo Sầm Thanh Hoa: "Mày nói cái gì, có giỏi nói lại lần nữa!"
Sầm Thanh Hoa ngẩng cao đầu nói: "Nói tụi mày là lớp rác rưởi, sao, rác rưởi cũng không cho nói à? Có giỏi thì đánh đây, không để mày bị đuổi học tao không mang họ Sầm!"
Họ đều là nhân tài được nhà trường trọng điểm bồi dưỡng, không giống như những người bị bắt nạt không dám lên tiếng, đầy tự tin, nếu bị đánh thật, sẽ lập tức báo cáo lên trên, lãnh đạo trường chắc chắn không thể qua loa, bị đuổi học dù nghiêm trọng nhưng bị phạt ghi tội thì không tránh được.
Ủy viên thể thao khinh bỉ: "Mày có gì giỏi, chẳng phải chỉ là học giỏi hơn chút thôi sao, lần này cũng chẳng thấy mày thi tiếng Anh đạt điểm tuyệt đối, ngông cuồng cái gì!"
Cô Dương rõ ràng không nói với lớp hai việc lớp sáu có một bài thi đạt điểm tuyệt đối, Sầm Thanh Hoa cười nhạt, hỏi ngược lại: "Sao, tao không đạt điểm tuyệt đối, mày đạt à?"
Ủy viên thể thao nghe vậy ngắc ngứ, nhìn quanh lớp một vòng, cuối cùng chỉ vào Cận Hành đang lau bảng: "Tao không đạt, cậu ấy đạt, bài thi thứ ba của mày chỉ đạt hơn trăm ba mươi điểm, Cận Hành đạt điểm tuyệt đối, sao hả, tưởng mình là nhất thiên hạ à?"
Dù cả lớp sáu đều nghĩ Cận Hành quay cóp, hoặc may mắn, nhưng đối mặt với lớp hai ghét bỏ, hiếm có cơ hội đoàn kết cùng một hướng, bắt được cơ hội liền công kích Sầm Thanh Hoa: "Đúng vậy, Cận Hành lớp tụi tao đạt điểm tuyệt đối, mày giỏi sao không đạt điểm tuyệt đối đi, thật khiến người ta cười rụng răng."
"Đúng đó, hơn trăm ba mươi điểm, ngông cuồng cái gì chứ!"
Cận Hành nghe vậy nhìn ra cửa, nhẹ nhàng phủi bụi trên tay, rõ ràng không hiểu sao cuộc đấu khẩu của hai lớp lại kéo mình vào, nhưng cũng không mấy hứng thú. Ánh mắt liếc thấy Bành Nhất Phàm mang cặp sách đi ra khỏi lớp, anh đi đến chỗ mình lấy cặp sách, bước theo sau, phía sau vẫn còn nghe thấy tiếng cãi vã của hai lớp.
"Điểm tuyệt đối? Các người thật biết bịa chuyện, bịa cũng phải bịa cái điểm đáng tin chút, đừng nghĩ quay cóp vài câu trả lời đã là thành tích thật của mình."
"Mẹ kiếp mày nói ai bịa chuyện, không tin tự mình đi hỏi cô Dương!"
"Ôi, giỏi quá nhỉ, có bản lĩnh thì bảo cậu ta thi lần nữa đạt điểm tuyệt đối đi, đạt điểm tuyệt đối tao mới tin."
......
Trời bên ngoài đã tối đen, không khí oi bức, không lâu sau lưng áo đã ướt đẫm mồ hôi, Cận Hành giữ khoảng cách năm mét, không xa không gần theo sau Bành Nhất Phàm, nhớ lại kiếp trước đối phương nhốt mình trong phòng đồ của trường suốt hai ngày, chậm rãi thở ra một hơi.
Trọng sinh vẫn có chút tác dụng, dù sao những người này, bất kể hành hạ bao nhiêu lần, anh cũng không thấy chán.
Hôm nay ngoài cổng trường vẫn tụ tập một đám du côn, người của Sùng Minh cũng có, nhưng lần này không phải để đánh nhau, Từ Mãnh chỉ đơn thuần đến đón Nhan Na tan học, một nhóm thanh thiếu niên cao lớn chia thành từng nhóm nhỏ trò chuyện, nhìn một vòng không thấy Văn Viêm.
Cận Hành trong ống tay áo đã quen giấu một con dao nhỏ, anh mắt tối sầm nhìn bóng lưng Bành Nhất Phàm, đang suy nghĩ gì đó, đột nhiên nhìn thấy Từ Mãnh và đám người kia, không khỏi dừng bước.
"Xin hỏi... Văn Viêm có ở đây không?"
Đám thiếu niên hư hỏng đang đứng ven đường hút thuốc, bên tai đột nhiên vang lên một giọng nói trong trẻo, cực kỳ lịch sự, theo phản xạ cùng ngẩng đầu, liền thấy một nam sinh mặc đồng phục trường, không biết từ khi nào đã đứng trước mặt họ, ngũ quan tinh tế, xương cốt ưu việt, sạch sẽ như tuyết, hoàn toàn không hợp với đám du côn này.
Chương 129
Người bình thường thấy đám du côn Sùng Minh, trốn còn không kịp, làm gì có chuyện tự đến gần, họ nhìn Cận Hành một lượt, bước lên vài bước vây lấy anh ở giữa, bộ dạng côn đồ, cười cợt, áp lực rất lớn: "Văn Viêm? Cậu tìm cậu ta làm gì?"
Đổi lại nếu là một cô gái nhỏ, bọn họ nhất định sẽ hùa nhau trêu chọc đến mức người ta phải khóc thét lên, nhưng đáng tiếc, lần này lại là một nam sinh mảnh khảnh, gầy yếu.
Cận Hành cúi đầu, giọng tuy nhỏ nhưng nghe vẫn khá bình tĩnh: "Chỉ là muốn cảm ơn cậu ấy thôi..."
Mấy nam sinh kia lập tức ồ lên một tiếng: "Cảm ơn? Cảm ơn cái gì cơ?"
"Viêm ca mà cũng có ngày được người khác cảm ơn á? Ha ha ha, buồn cười chết mất!"
"Cậu ấy không có ở đây."
Người cuối cùng lên tiếng là Từ Mãnh. Không rõ Văn Viêm đã dặn dò gì với hắn, nhưng hôm nay hắn không gây rắc rối cho Cận Hành. Dựa lưng vào một chiếc xe máy, có vẻ như hắn nghĩ Cận Hành bị bắt nạt nên đến đây tìm sự bảo vệ. Từ Mãnh nhíu mày:
"Văn Viêm không quan tâm chuyện bao đồng."
Nói xong, hắn gọi Nhan Na đến bên mình rồi leo lên xe máy. Nhan Na lập tức ngồi ra sau. Đám thanh niên vây quanh Cận Hành thấy vậy cũng nhanh chóng tản ra, ai nấy leo lên xe máy, gầm rú phóng đi như cơn gió, chỉ còn lại một làn khói đen đặc quánh phía sau. Tiếng động cơ ầm ầm vang lên, át cả tiếng ve râm ran trên những ngọn cây.
Cận Hành đứng yên tại chỗ, không biết đang nghĩ gì, bóng dáng anh rơi vào mảng tối lốm đốm dưới tán cây, cơ thể bị chia cắt thành những khối bóng lớn nhỏ không đều. Tiếng rao hàng ồn ào của những quầy hàng xung quanh như chẳng liên quan gì đến anh, cả người chìm trong sự im lặng tách biệt với thế gian.
Hệ thống bay lơ lửng bên cạnh anh:【Sao nhất định phải tìm Văn Viêm?】
Sao nhất định phải tìm Văn Viêm...
Cận Hành liếc nhìn nó, chậm rãi v.uốt ve con dao giấu trong tay áo, nụ cười có phần kỳ lạ: "Cậu không đoán thử xem à?"
Cận Hành quen làm người đứng sau màn điều khiển mọi việc. Có những chuyện anh muốn làm nhưng không muốn tự mình ra tay, giống như kiếp trước, anh lạnh lùng đứng bên lề, thúc đẩy Văn Viêm thực hiện những việc bẩn thỉu. Vừa đỡ mất công, lại đỡ phiền phức.
Bọn họ chẳng ai là sạch sẽ, nhưng Cận Hành lại nhất quyết muốn làm người đứng ngoài cuộc.
Hôm nay không thể động đến Bàng Nhất Phàm được. Hắn ta đang đi cùng mấy người bạn, khó mà ra tay. Cận Hành đeo ba lô lên, từng bước từng bước rời khỏi trường, tránh xa khỏi những con phố ồn ào, đông đúc trước cổng trường, càng đi càng thấy xung quanh trở nên vắng vẻ, lạnh lẽo.
Văn Viêm không đến, nghĩa là cậu ấy chỉ có thể đang đi đánh nhau.
Khi đến ngã tư, lẽ ra Cận Hành phải rẽ trái, nhưng không biết vì sao, anh lại vô thức rẽ phải, như muốn thử vận may. Không ngờ anh thật sự gặp được Văn Viêm.
Một khu nhà hoang dở dang, bỏ hoang từ lâu là nơi lý tưởng để đám thanh niên tụ tập. Những con đường uốn lượn quanh co rất thích hợp cho việc đua xe máy. Đôi khi náo nhiệt, đôi khi vắng vẻ. Dưới ánh đèn đường mờ nhạt, có bốn, năm người đang đánh nhau.
Nói là đánh nhau, nhưng không chính xác lắm, vì một bên chỉ có duy nhất một người. Bên còn lại có vẻ áp đảo hơn.
Văn Viêm đánh nhau vừa ác vừa dứt khoát, chưa bao giờ nương tay. Một chọi bốn nhưng khí thế vẫn không hề suy giảm. Dù vậy, cậu vẫn ở thế yếu, nhận vài cú đấm mạnh, cuối cùng bị ghì chặt xuống đất, hoàn toàn trái ngược với vẻ ngang tàng, sắc sảo ban ngày.
Chẳng có gì lạ.
Giới xã hội đen là như vậy. Hôm nay cậu đánh tôi, ngày mai tôi đánh cậu. Muốn không bị thương thì chỉ có cách đừng bao giờ để bị bắt gặp khi ở một mình. Hiển nhiên, Văn Viêm hôm nay đã lẻ loi.
Gã cao lớn cầm đầu căm tức đá một cú vào người Văn Viêm, vừa ôm bụng đau do bị đánh bầm dập, vừa chửi rủa đầy hằn học:
"Mẹ kiếp! Mày còn dám hung hăng nữa không? Mày không phải rất ngông sao? Hả?"
Hắn túm tóc Văn Viêm, vừa kéo vừa đấm đá liên tục, rõ ràng trước đó đã bị cậu đè nén không ít.
Cận Hành đứng trong bóng tối, đếm số người của bọn họ. Tổng cộng có bốn người, cả bọn đều đang bị thương. Anh kéo tay áo lên một chút, để lộ con dao giấu bên trong, mặt không cảm xúc, đẩy lưỡi dao ra vài phân, dường như muốn thử xem nó sắc bén đến mức nào.
Hệ thống lắp bắp lên tiếng:【Đừng... đừng dùng dao...】
Cận Hành chậm rãi nhìn về phía nó, ánh mắt sâu thẳm.
Hệ thống đề xuất một ý kiến:【Dùng gạch?】
Tên cao lớn dường như không định tha cho Văn Viêm dễ dàng. Hắn rút từ trong túi ra một chiếc tay đấm bằng kim loại, góc cạnh sắc bén, chỉ cần một cú đấm là có thể khiến người ta phun máu.
Văn Viêm không hề giãy giụa, tóc mái lòa xòa che mắt, ánh nhìn lạnh lẽo và đầy nguy hiểm.
Gã cao lớn thử sức nắm đấm của mình, cánh tay phải đầy hình xăm, cơ bắp săn chắc. Hắn từ trên cao nhìn xuống Văn Viêm, ánh mắt đầy khinh miệt: "Nếu hôm nay mày chui qua háng tao mà xin tha, có khi tao sẽ—"
"Bốp!"
Chưa kịp dứt lời, gã cao lớn đột nhiên ngây người, ngay sau đó lảo đảo ngã nhào xuống đất, để lộ ra Cận Hành đang đứng phía sau. Trong tay anh là một nửa viên gạch, nửa còn lại đã vỡ vụn rơi trên mặt đất.
Ba tên đồng bọn còn lại ngây ra như phỗng, chưa kịp phản ứng, bụng đã bị đạp mạnh, từng tên ôm bụng lùi ra sau, buộc phải thả Văn Viêm ra.
"Đi thôi!"
Giọng Cận Hành trầm thấp, bình tĩnh. Anh nắm chặt cổ tay Văn Viêm, nhanh chóng kéo cậu chạy về phía trước trước khi bọn kia kịp hoàn hồn. Khung cảnh hai bên lướt qua như gió, cơn gió lạnh rít qua tai, cuốn theo tà áo bay ngược ra sau. Cơn đau xé toạc từ lồng ng.ực, từng hơi thở rút kiệt sức lực.
Phía sau vang lên tiếng chửi rủa đầy tức tối:
"Chết tiệt! Chúng nó chạy mất rồi!"
"Mau đuổi theo!"
Cận Hành cắm đầu chạy giữa màn đêm, tà áo bị gió kéo căng thẳng tắp. Anh chạy nhanh đến mức chiếc ba lô tuột khỏi vai cũng không kịp nhặt lại. Thứ duy nhất anh nắm chặt trong tay là Văn Viêm.
Mục tiêu rõ ràng, anh kéo cậu chạy băng qua đường lớn, vượt qua mấy con phố, cuối cùng dừng lại trước cửa đồn cảnh sát gần đó. Đến lúc này, như bị rút cạn sức lực, anh khuỵu xuống, ngã ngồi trên mặt đất.
Cận Hành đã tiêu hao quá nhiều thể lực. Anh chống tay xuống, ngực phập phồng không ngừng. Mỗi lần hít thở đều như thể bị đau nhói ở khí quản. Tóc tai rối bời, mồ hôi lạnh thấm ướt một mảng sau lưng, lộ rõ khi không còn chiếc ba lô che chắn.
Dưới ánh đèn đường trước cửa đồn cảnh sát, những vết bầm tím trên mặt Văn Viêm hiện lên rõ ràng. Hơi thở của cậu nặng nề, chiếc áo phông trắng lấm lem vết bẩn và máu. Trên tay và cánh tay còn có những vết trầy xước.
Văn Viêm rõ ràng không ngờ Cận Hành lại xuất hiện ở đây, vì vốn dĩ chẳng liên quan gì đến nhau. Cậu điều chỉnh lại nhịp thở, đứng dậy từ dưới đất. Dù toàn thân lấm lem, cậu vẫn thích đứng trên cao nhìn xuống người khác.
Văn Viêm tiện tay lau máu ở khóe miệng, đầu lưỡi khẽ liế.m vết thương rách, nheo mắt đánh giá Cận Hành:
"Là cậu."
Cận Hành ngồi trên mặt đất, trông có vẻ rất ngoan, hoàn toàn không liên quan đến chuyện cầm gạch đánh người. Anh cũng không nói gì, chỉ mím môi, theo thói quen cúi đầu, mái tóc ướt đẫm mồ hôi che đi ánh mắt:
"..."
Mẹ kiếp.
Văn Viêm thầm buông một câu chửi, vẻ mặt hiện rõ sự bực bội. Cậu ghét nhất kiểu người như thế này, đánh không được, mắng cũng chẳng xong. Đôi lông mày nhíu chặt mãi không giãn ra, nheo mắt hỏi: "Ai bảo cậu giúp tôi?"
Câu hỏi đó nghe như thể giúp cậu là một việc sai lầm.
Cuối cùng Cận Hành cũng có phản ứng, anh từ dưới đất đứng lên, phủi bụi bẩn trên quần áo. Lúc phát hiện vai trống trơn một cách kỳ lạ, theo phản xạ sờ vào, lúc này mới nhớ ra chiếc ba lô đã rơi mất khi chạy trốn.
Rơi thì rơi thôi.
Cận Hành hơi ngừng lại, không mấy để tâm. Anh nhìn Văn Viêm, rồi nghiêm túc nói:
"Tôi muốn đi theo cậu."
Câu này anh đã nói vào buổi sáng, nhưng Văn Viêm không để ý. Giờ đây, anh lại nói một lần nữa, trông có vẻ đáng tin hơn lúc sáng.
Văn Viêm cười nhạt, trong lòng nghĩ chỉ vì điều này thôi sao. Cậu không thể hiểu nổi, một chân đạp lên băng ghế bên đường, chẳng màng đến chuyện giữ gìn vệ sinh công cộng: "Theo tôi? Theo tôi làm gì?"
Một học sinh trường trọng điểm như Cận Hành, tại sao lại muốn đi theo những kẻ cặn bã của trường nghề như bọn họ? Học đến mức lú lẫn rồi sao?
Cận Hành không giải thích: "Không có lý do."
Văn Viêm móc từ túi ra một bao thuốc, rút một điếu ngậm trên môi, bật lửa châm, đồng tử đen láy trong làn khói mờ ảo trở nên khó đoán. Cậu ném bao thuốc và bật lửa về phía Cận Hành: "Hút thuốc đi."
Cận Hành giơ tay đón lấy: "Tôi không hút."
Văn Viêm rít một hơi thuốc, trong lòng nghĩ đúng là nhóc con mới ra khỏi nhà trẻ, đến thuốc cũng không biết hút. Cậu nhả ra một vòng khói, nhướn mày hỏi: "Thuốc còn không hút, mà muốn theo tôi?"
Cận Hành liếc nhìn điếu thuốc trong tay, vì để lâu trong túi nên vẫn còn chút hơi ấm. Cậu thản nhiên phản bác: "Hút rồi là có thể theo cậu sao?"
Văn Viêm: "Tôi chưa từng nói vậy."
Cậu cảm thấy Cận Hành gan to thật, nhưng theo lời Nhan Na, Cận Hành lại là một trong những học sinh bị bắt nạt nhiều nhất lớp. Vậy mà người như thế lại dám kéo cậu ra khỏi đám hỗn độn kia.
Văn Viêm đứng bên đường, rít hết điếu thuốc, không biết đang nghĩ gì. Thấy đám người kia không đuổi theo, cậu đá một viên đá dưới chân, nó lăn đúng đến trước mặt Cận Hành.
Cận Hành ngẩng lên nhìn cậu.
Văn Viêm đứng đó, không nhìn cậu, chỉ nói:
"Đánh nhau không biết, thì sớm về nhà tìm mẹ cậu đi."
Thiên địa chứng giám, đây là câu nói lịch sự nhất trong kho từ điển chửi thề của Văn Viêm. Nói xong, cậu sờ vào vết bầm tím ở khóe miệng, ánh mắt thoáng qua vẻ hung dữ, liếc nhìn dòng xe cộ qua lại, rồi băng qua đường, bóng lưng nhanh chóng biến mất trong màn đêm.
Đúng là lưu manh, ngay cả một câu cảm ơn cũng chẳng buồn nói.
Cận Hành biết Văn Viêm không dễ tiếp cận. Anh chậm rãi thu ánh mắt lại, rồi từng bước một quay về nhà, ngón tay thon dài khẽ gõ lên góc bao thuốc, rút ra một điếu, bật lửa châm thuốc, chậm rãi nhả ra một làn khói mỏng, ánh lửa lập lòe trong bóng tối.
Không hút thuốc, nhưng không có nghĩa là không biết hút.
Có lẽ Cận Hành đã không còn là một học sinh ngoan từ lâu rồi. Từ rất sớm, ác niệm trong anh đã chất chồng cao hơn cả núi.
Sáng hôm sau là kỳ thi tháng. Cận Hành mất ba lô, nhưng cũng chẳng có tài liệu quan trọng gì. Anh nhét một cây bút chì và một cây bút nước vào túi, rồi hai tay trống trơn đến trường.
Trước cổng trường có rất nhiều quầy bán đồ ăn sáng. Thông thường, Cận Hành không ăn sáng, nhưng hôm qua tiêu hao quá nhiều thể lực, cộng thêm hôm nay phải thi cả ngày, anh mua một cốc sữa đậu nành rẻ nhất.
Chủ quán nhanh nhẹn rót đầy cốc, đưa cho anh: "Hai đồng."
Cận Hành sờ vào túi, vừa định lấy tiền thì một quả bóng rổ bất ngờ lăn đến chân cậu rồi bật xa ra. Cậu nhìn theo, thấy một nhóm thanh niên ngổ ngáo đứng dưới tán cây cách đó không xa. Áo đồng phục xanh trắng của bọn họ hoặc buộc ngang hông, hoặc vắt trên vai, chẳng ai mặc chỉnh tề.
Kẻ vừa ném bóng là Văn Viêm. Cậu dường như đã chờ ở đây từ lâu. Sau khi nói gì đó với đám người bên cạnh, Văn Viêm tiến lại gần, trên tay cầm một chiếc ba lô màu đen, ném thẳng cho Cận Hành: "Ba lô của cậu."
Chương 130
Cận Hành theo phản xạ đón lấy. Quả nhiên là chiếc ba lô anh đã làm rơi hôm qua. Anh ngẩng đầu nhìn Văn Viêm, phát hiện trên người cậu lại có thêm vài vết thương mới, chắc là do tối qua đi trả thù.
Điều này rất giống phong cách của Văn Viêm, nhưng việc trả lại ba lô thì hoàn toàn không giống.
Cận Hành định phủi bụi trên ba lô nhưng nhận ra nó đã sạch sẽ, đành rút tay lại, khoác lên vai, nghiêm túc nói hai chữ: "Cảm ơn."
"Xì..."
Văn Viêm bật cười giễu cợt, khuôn mặt bầm tím vẫn không làm mất đi vẻ ngông cuồng. Cậu hất cằm, cảm thấy hai từ "cảm ơn" này thật nực cười:
"Cậu ngoài nói cái này, còn biết nói gì khác không?"
Phần lớn thời gian, Cận Hành đều cúi đầu, nhưng khi đứng thẳng lưng, anh thực ra cao hơn Văn Viêm. Những ngón tay thon dài cầm cốc sữa đậu nành, bên trong đồng phục là chiếc áo sơ mi trắng, viền xanh nhạt, sạch sẽ, gọn gàng. Ánh nắng chiếu lên vai anh, khiến người qua đường không khỏi ngoái nhìn.
Cận Hành nhìn thẳng vào Văn Viêm, hàng mi dày rợp bóng, đôi mắt đen trắng phân minh, sạch sẽ đến mức khó tin. Anh dường như cười mà không phải cười, hỏi lại Văn Viêm với vẻ nghiêm túc:
"Ừm... vậy tôi nên nói gì?"
"..."
Lần nữa, Văn Viêm nhận ra Cận Hành cao hơn mình. Cậu nhét tay vào túi, thầm buông một câu chửi trong lòng, rồi đá quả bóng rổ dưới chân về phía đám bạn.
Hắn nhận bóng, giơ tay chửi: "Mày điên à! Đây là bóng rổ, không phải bóng đá!"
Văn Viêm liếc mắt lạnh lùng, người kia lập tức im bặt.
Văn Viêm mua một phần bữa sáng, ném tờ một trăm nguyên cho chủ quán. Cậu vừa chờ nhận tiền thối vừa cắn ống hút ly sữa đậu nành, giọng điệu không rõ cảm xúc, uy hiếp: "Chuyện hôm qua, nếu cậu dám kể ra ngoài thì tự chịu hậu quả."
Hiểu rồi.
Dù sao thì việc đại ca trường Sùng Minh bị người ta đè ra đánh mà truyền ra ngoài cũng thật mất mặt.
Cận Hành nắm chặt quai ba lô bằng cả hai tay, gật đầu: "Ừ, tôi biết."
Mái tóc đen mượt như tơ, làn da trắng trẻo, đúng kiểu đứa trẻ ngoan mà người lớn thích nhất. Động tác này khiến anh trông chẳng khác gì học sinh tiểu học, ngoan ngoãn, dễ thương, khiến người ta muốn bắt nạt.
Văn Viêm vô thức nhìn anh thêm vài lần, thầm nghĩ với cái dáng vẻ mềm yếu này, chẳng trách luôn bị người khác bắt nạt. Cậu không nói gì thêm, nhận tiền thối từ chủ quán, chỉnh lại chiếc áo khoác suýt rơi khỏi vai, quay người dẫn đám bạn học Sùng Minh rời đi.
Chủ quán phát hiện cậu quên cầm bữa sáng, liền gọi với theo mấy lần: "Ê, em này! Em để quên đồ ăn rồi!"
Hai quả trứng trà, một phần há cảo chiên, một phần xôi cuộn quẩy nằm trơ trọi bên cạnh. Văn Viêm chỉ cầm ly sữa đậu nành rồi đi mất. Chủ quán gọi không được, đành dúi phần ăn vào tay Cận Hành: "Bạn em đi rồi, hay là em cầm giúp cậu ấy nhé."
Vừa rồi hai người đứng nói chuyện với nhau ở đây, chủ quán có lẽ đã hiểu nhầm gì đó.
Người đã đi xa, Cận Hành cũng không thể đuổi theo, anh đành nhận lấy, xoay người bước vào cổng trường. Trên đường, anh gặp bạn cùng bàn là Uông Hải. Uông Hải đeo ba lô, lưỡng lự đi tới:
"Này, Cận Hành."
Cận Hành không cần bạn bè, cũng chẳng thích giao du. Thấy là Uông Hải, anh vẫn giữ nguyên vẻ lãnh đạm, chỉ "ừ" một tiếng.
Uông Hải dường như vừa nhìn thấy gì đó: "Ê, cậu bị bọn du côn trường Sùng Minh nhắm vào à? Tôi thấy Văn Viêm vừa tìm cậu nói chuyện. Cậu ta nói gì thế?"
Nghe vậy, Cận Hành dừng bước, mỉm cười: "Cậu chắc là muốn biết à?"
Ánh mắt anh sâu thẳm, luôn khiến người ta cảm giác anh che giấu những điều không nên biết, nếu không sẽ chuốc họa vào thân. Uông Hải bị ánh nhìn ấy làm cho lạnh sống lưng, theo phản xạ lắc đầu:
"Tôi... tôi chỉ hỏi thế thôi."
Hỏi chẳng phải vì muốn biết sao? Chẳng khác gì nhau.
Cận Hành đáp: "Cậu có thể tự hỏi Văn Viêm."
Lúc anh nói câu này, nhìn qua có vẻ ôn hòa, vô hại, chẳng có chút sắc bén nào, trông vẫn như bình thường. Nhưng Uông Hải lại cảm thấy có gì đó rất kỳ lạ. Hắn định nói gì đó, nhưng thấy Cận Hành đã quay người đi về phía tòa nhà dạy học.
Ở trường trung học số sáu, thứ hạng trong kỳ thi tháng luôn được sắp xếp theo kết quả kỳ thi lần trước: học sinh giỏi ngồi chung phòng thi với học sinh giỏi, học sinh kém ngồi với học sinh kém. Một cách nào đó, điều này khiến việc "vật họp theo loài, người tụ theo nhóm" trở nên hiển nhiên.
Lần trước, Cận Hành bị bệnh trong kỳ thi, thành ra xếp hạng không cao. Ban đầu, anh luôn ở giữa bảng xếp hạng, nhưng giờ lại rơi xuống phòng thi áp chót, ngồi chung với những học sinh yếu kém lớp 9.
Ở trường, lớp 1, 2, 3 là những lớp trọng điểm được nhà trường ưu tiên bồi dưỡng. Từ lớp 4 đến lớp 6, càng xuống dưới, thành tích càng kém. Lớp 9 thì khỏi phải nói, hầu hết đều là con ông cháu cha, còn tệ hơn cả lớp 6.
Chỗ ngồi của Cận Hành gần cửa sổ. Anh kiểm tra số báo danh rồi ngồi xuống, uống nốt nửa ly sữa đậu nành. Trong khi đó, mấy nam sinh lớp 9 đến sớm đang lật sách Anh văn và Ngữ văn loạt soạt—
Đừng hiểu lầm, bọn họ không phải ôn tập mà đang chép phao thi.
Chủ nhiệm lớp 9 là tổ trưởng tổ Anh văn của khối, nổi tiếng nóng tính nhất. Không có tính cách đó thì chẳng thể trị nổi đám học sinh này. Điểm không đạt, phạt chép; sai những câu cơ bản, phạt chép. Suốt năm học, lớp 9 chép không ngơi tay. Dù thành tích vẫn kém, nhưng ít nhất có chút chí tiến thủ, biết chép phao để cứu vãn điểm số thảm hại.
Họ không yêu cầu nhiều, chỉ cần đủ điểm qua là được. Chủ nhiệm lớp đã nói, chỉ cần qua điểm sàn, mọi hình phạt đều miễn.
Khoảng cách giữa các bàn trong phòng thi khá xa, gần như toàn bộ học sinh trong phòng đều là người lớp 9, chứng tỏ thành tích của cả lớp rất đồng đều, hầu hết đều ở mức thấp như nhau.
Cận Hành ngồi im lặng tại chỗ, ăn hai quả trứng trà, uống một ly sữa đậu nành, trông hoàn toàn lạc lõng giữa đám bạn đang tất bật chép phao, tạo thành một sự đối lập rõ rệt.
Phía trước anh là một nam sinh đeo băng đô thể thao, ăn mặc sành điệu, toàn hàng hiệu. Hắn là người đầu tiên chép xong phao thi, sau đó ngả người dựa lưng ghế, duỗi người một cái: "Xong! Cuối cùng cũng chép xong rồi!"
Bên cạnh, một nữ sinh lườm hắn: "Châu Khải, chép xong rồi thì im lặng được không? Sợ giáo viên đi ngang qua hành lang không nghe thấy hả?"
Châu Khải đắc ý: "Tôi chép nhanh đấy, cậu quản được à? Mấy con rùa các cậu, tay chậm thì đáng lẽ hôm qua phải chép sẵn rồi. Chậc, thật không biết nói gì với các cậu nữa."
Nữ sinh đập mạnh cây bút xuống bàn: "Cậu không cần đáp án Anh văn nữa đúng không?"
Châu Khải lập tức cười hì hì, xán lại gần nịnh nọt:
"Đừng mà, chị gái. Tôi sai rồi, được chưa? Anh văn tôi chỉ trông chờ vào cậu thôi. Lần trước không qua, tôi chép từ vựng đến phát ngốc luôn rồi."
Nữ sinh ghét bỏ đẩy hắn ra, nhưng giọng điệu khá thân thiết. Có vẻ giữa hai người lóe lên chút tia lửa tình yêu: "Đừng làm phiền tớ. Nghe nói lần này trường ra đề chung với trung học số ba, toàn đề nâng cao, tớ còn không biết mình có qua nổi không nữa."
Châu Khải chỉ có thể quay về chỗ ngồi. Hắn ngồi gác chân, đảo mắt quanh phòng một vòng, phát hiện ra Cận Hành – một gương mặt lạ hoắc, thấy anh ngồi yên lặng, liền tò mò hỏi: "Này, sao cậu không chép phao?"
"..."
Cận Hành định nói rằng chép phao chẳng có tác dụng gì. Đề lần này rất ít câu thuộc dạng học thuộc lòng, điểm số cũng không cao, đa phần là bài tập vận dụng linh hoạt. Anh ngừng một chút, rồi bịa đại một lý do: "... Tôi lười."
Châu Khải liếc nhìn thông tin số báo danh trên bàn anh: "Cậu lớp 6 à? Thành tích thế nào?"
Cận Hành: "Nhìn bảng xếp hạng là biết rồi, cũng thường thôi."
Châu Khải "ồ" một tiếng, nghĩ thầm hóa ra cũng là một học sinh kém. Hắn khá nhiệt tình, nhìn vào góc bàn thấy có tên "Cận Hành", liền nói: "Vậy lát nữa tôi chép xong sẽ ném cho cậu một bản đáp án. Đừng mách lẻo nhé."
Toàn bộ khối 11 có hơn ba trăm người, thứ hạng của Châu Khải là 205, Cận Hành là 251. Từ bề ngoài mà nói, thành tích của hắn dường như hơi nhỉnh hơn một chút so với Cận Hành, nên câu này được nói ra với vẻ rất tự tin.
Cận Hành lần đầu tiên gặp phải chuyện như thế này, hiếm khi dừng lại một chút, định nói không cần, nhưng còn chưa kịp mở miệng thì chuông báo thi đã vang lên. Giáo viên coi thi ôm một chồng bài thi đã niêm phong bước vào lớp, bụng phệ, cặp kính dày cộp, trông khá hiền lành.
Châu Khải thấy vậy liền quay lại ngay ngắn, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm, giả vờ ra vẻ một học sinh ngoan ngoãn.
Giáo viên coi thi viết thời gian làm bài lên bảng, sau đó như thường lệ nhắc nhở các em trung thực khi thi cử, rồi yêu cầu tất cả học sinh đặt cặp sách lên bậu cửa sổ bên ngoài lớp, sau đó mới bắt đầu phát đề thi, từng người một truyền xuống.
Hỏng rồi!
Đám học sinh kém của lớp 9 vừa nhìn thấy đề thì ai nấy đều trợn mắt há hốc mồm. Trước đây, đề Toán dù có khó cũng còn hiểu được, lần này bọn họ đến cả đề bài cũng không hiểu, làm sao mà thi nổi đây!
Châu Khải nhỏ giọng lẩm bẩm một câu:"Đề này là người ra đấy à..."
Giáo viên coi thi vỗ nhẹ lên bàn: "Bắt đầu làm bài, không được thì thầm nói chuyện."
Nói xong, thầy kéo ghế ngồi xuống bục giảng, vừa đọc báo vừa uống trà.
Có lẽ vì nguyên nhân sống lại một lần, Cận Hành nhìn qua đề bài một lượt, cảm thấy cũng tạm ổn, chỉ là những câu nâng cao ở cuối hơi quá sức. Anh đại khái nhớ được một vài công thức giải, liền lần lượt làm từng câu trắc nghiệm, so với dáng vẻ khổ sở đau đầu của những học sinh xung quanh thì khác biệt rõ rệt.
Trong phòng thi im phăng phắc, chỉ nghe thấy tiếng bút viết sột soạt trên giấy. Khi những người khác vẫn còn đang vò đầu bứt tai với các câu trắc nghiệm đơn giản, thì Cận Hành đã lật sang mặt sau làm các câu tự luận. Tiếng giấy lật "soạt" một cái vang lên, đặc biệt nổi bật giữa không gian yên tĩnh.
Trong phòng có bốn, năm người quay đầu nhìn về phía anh, người nào ngồi gần còn liếc trộm một cái, phát hiện đề thi của Cận Hành đã được điền đầy đủ các bước giải. Dù không biết có đúng không, nhưng trông có vẻ rất lợi hại...
Một câu hỏi nâng cao ở cuối đề nhìn thoáng qua thì có vẻ dễ, nhưng thực tế lại rất khó, cần phải liệt kê rất nhiều điều kiện để chứng minh, chỉ cần sơ sẩy một chút sẽ rơi vào bẫy. Cận Hành dùng bút chì ghi nháp đầy trên đề thi, sau đó mới điền đáp án vào phiếu trả lời.
Châu Khải mới làm được một nửa, bứt rứt đến mức gãi đầu gãi tai, nhân lúc giáo viên không chú ý liền ném một mẩu giấy vo tròn về phía cô bạn lúc trước. Những học sinh còn lại trong phòng cũng tương tự, âm thầm trao đổi không ngừng.
Dù lớp 9 học kém nhưng được cái đoàn kết, không có ai giấu giếm. Mẩu giấy của Châu Khải truyền qua hết một vòng trong phòng thi, miễn cưỡng thu thập được một số đáp án, nhưng tất nhiên độ chính xác thì không đảm bảo.
Châu Khải lấp đầy gần hết bài thi Toán, bỗng nhớ đến cậu học sinh lớp 6 ngồi phía sau. Hắn lặng lẽ nghiêng người ra sau, vứt một mẩu giấy nhàu nát lên bàn của Cận Hành.
Cận Hành đã làm xong bài thi từ lâu, đang ngồi ngẩn người nhìn chằm chằm vào bàn. Khóe mắt anh liếc thấy mẩu giấy vo tròn trên bàn, liếc nhìn giáo viên coi thi một chút rồi mở giấy ra mà không để lại dấu vết.
"..."
Có thể nhận ra đây là đáp án "tổng hợp" từ trí tuệ của cả lớp 9. Trong mười một câu trắc nghiệm, tám câu sai, còn chưa kể đến phần sau.
Cận Hành nhấn bút chì tự động vài cái, gạch bỏ vài chỗ trên mẩu giấy, rồi ném trả lại cho Châu Khải, sau đó gục xuống bàn tiếp tục ngủ.
Châu Khải vừa mới làm xong bài Toán, đang trong trạng thái thả lỏng hoàn toàn. Đột nhiên thấy một mẩu giấy xuất hiện trên bàn, hắn giật mình, nhanh tay che bằng tay áo, lén lút mở ra xem, phát hiện những đáp án trắc nghiệm bị gạch chéo, bên cạnh có viết đáp án đúng.
"Hả..."
Gửi một mẩu giấy mà còn "mua một tặng một"? Châu Khải quay lại nhìn Cận Hành, thấy anh đang ngủ, hắn cầm mẩu giấy trong tay, do dự mãi không dám quyết định.
Thứ hạng của Cận Hành thấp hơn hắn, thành tích có lẽ cũng chẳng khá khẩm gì. Theo logic, độ tin cậy của đáp án này không cao, nhưng Châu Khải sờ cằm, vẫn cảm thấy Cận Hành có phong thái của một cao nhân. Do dự mãi, cuối cùng hắn vẫn sửa lại một vài đáp án theo hướng dẫn của anh.
Không lâu sau, tiếng chuông kết thúc bài thi vang lên, giáo viên thu bài rồi rời khỏi lớp học. Đám học sinh ngoan ngoãn ngồi im lúc nãy lập tức như bầy ngựa hoang, tụm năm tụm ba thảo luận đáp án.
"Ê, ê, ê! Cậu chọn đáp án gì cho câu đầu tiên? Là C đúng không?"
"Ừ, đúng rồi, C!"
Châu Khải liếc nhìn mẩu giấy, thấy Cận Hành viết đáp án là A.
"Câu thứ hai thì sao? Tớ chọn B."
"Tuyệt quá, tớ cũng chọn B!"
Châu Khải lại nhìn, đáp án là D.
"Còn câu thứ ba thì sao?"
...
Châu Khải nghe không nổi nữa, ôm tim ngã ngồi xuống ghế, cảm giác mình vừa mất trắng cả tỷ đồng. Là học sinh kém, không thể làm nổi phần tự luận, hắn chỉ trông cậy vào trắc nghiệm để kéo điểm. Nhưng bây giờ coi như xong rồi, chắc chắn không qua nổi.
Châu Khải đã hối hận vì sửa đáp án theo Cận Hành. Hắn vẫn không cam tâm, nuốt xuống một ngụm máu hỏi anh: "Cậu nói thật đi, thành tích của cậu rốt cuộc thế nào?"
Cận Hành vẫn trả lời như cũ: "Nhìn thứ hạng là biết, bình thường thôi."
Anh cầm cốc nước uống một ngụm, nhìn những người đang tụm lại kiểm tra đáp án, nghĩ bụng: Có cần thiết không? Đều chép chung một mẩu giấy, đáp án có thể khác được sao?
Chương 131
Giữa giờ nghỉ giải lao, mọi người có khoảng mười phút nghỉ ngơi. Môn thi tiếp theo là Ngữ văn, và thật trùng hợp, giáo viên coi thi là giáo viên chủ nhiệm lớp 9.
Cô không dễ dãi như giáo viên trước, nổi tiếng là người nghiêm khắc, không bao giờ tha thứ cho những hành vi gian lận.
"Các em phải nghiêm túc. Nếu tôi bắt gặp ai thì thầm hay trao đổi đáp án, không chỉ nhận kỷ luật mà còn bị thông báo phê bình trước toàn trường. Làm gì thì tự nghĩ đến hậu quả trước, đừng tưởng giáo viên là người ngốc."
Rõ ràng cô rất hiểu rõ tác phong của học sinh lớp mình. Sau khi phát đề, cô liên tục đi qua lại trong phòng, khí thế nghiêm nghị khiến học sinh không thở nổi, không ai dám làm bất kỳ động tác nào.
Học sinh lớp 9 ai nấy than trời trách đất: Đúng là bi kịch nhân gian!
Cận Hành làm bài thi Ngữ văn cẩn thận hơn so với khi làm bài Toán, vì đề Ngữ văn chú trọng đến khả năng hiểu, không giống như môn Toán chỉ có một đáp án cố định.
Cô giáo Sầm đi qua đi lại giữa lối đi trong phòng thi, ánh mắt vô tình lướt qua nét chữ như gà bới trên bài thi của học sinh lớp mình, khiến đôi mày nhíu chặt. Cho đến khi nhìn thấy một tờ bài thi với nét chữ sạch sẽ, trình bày rõ ràng, sắc mặt cô mới dịu đi đôi chút. Bản năng khiến cô liếc nhìn thông tin ở góc trái trên cùng của bàn thi.
Lớp Sáu, Cận Hành.
Không ngoài dự đoán, hóa ra không phải học sinh lớp cô.
Cô giáo Sầm thở dài, trong lòng có chút nhẹ nhõm như thể đã được chứng thực điều gì. Trong tay cô còn một tờ đề thi thừa, rảnh rỗi không có việc gì làm, cô tiện tay làm thử phần trắc nghiệm. Ánh mắt thoáng lướt qua những ô đen đã được tô kín trên phiếu trả lời của Cận Hành, bất ngờ phát hiện ra đa số đáp án đều giống với mình.
Cô giáo Sầm dạy môn tiếng Anh, nhưng việc xử lý đề Ngữ văn cấp ba với cô không thành vấn đề. Đôi mày khẽ nhíu lại, cảm thấy sự có mặt của Cận Hành trong phòng thi này có gì đó không bình thường, bèn nhìn anh thêm vài lần.
Thời gian cứ thế trôi qua, chẳng mấy chốc đã hết hơn nửa giờ. Cận Hành hoàn thành bài văn, vốn định nộp bài sớm nhưng lại nghĩ đến việc nộp xong cũng không có chỗ nào để đi, mà chiều nay vẫn còn phải thi tiếng Anh và các môn tổng hợp. Cuối cùng, anh quyết định ngồi chờ cho đến hết giờ.
Ngồi bên cạnh Cận Hành là một cô gái, chính là người trước đó đã nói chuyện với Châu Khải. Cô liên tục liếc nhìn về phía anh. Khi thấy cô giáo Sầm quay lưng lại, cô gái tranh thủ ra hiệu cầu cứu với Châu Khải, nhưng Châu Khải không thấy. Bất đắc dĩ, cô chắp tay trước ngực, hướng về phía Cận Hành làm động tác khẩn cầu: "Đại ca, cứu em với!"
Có vẻ như cô ấy thực sự không biết làm bài, nếu không đã chẳng đến mức túng quẫn tìm anh giúp.
Cận Hành dù sao cũng đã 35 tuổi, không còn là đứa trẻ dễ dàng ích kỷ che giấu mọi thứ cho riêng mình. Anh thấy cô giáo Sầm không để ý đến phía này, liền dời ánh mắt đi chỗ khác, đồng thời khẽ đẩy phiếu trả lời trắc nghiệm ra sát mép bàn. Dù chữ không rõ ràng lắm, nhưng những ô đen của đáp án cũng đủ để nhìn thấy.
Cô gái lập tức gửi ánh mắt cảm kích về phía anh, nắm lấy cơ hội chép vội, thậm chí những người ngồi phía sau cũng được hưởng lợi chút ít.
Đúng 12 giờ, chuông hết giờ vang lên. Cô giáo Sầm thu phiếu trả lời và đề thi, tiện miệng nhắc nhở vài câu rồi rời khỏi phòng thi.
Cận Hành vừa bước ra khỏi cửa lớp, trước mắt bất ngờ tối sầm lại. Ngay sau đó, vai anh bị ai đó đẩy mạnh khiến anh mất thăng bằng, loạng choạng lùi về sau vài bước, không may đụng vào bàn ghế, tạo nên một âm thanh chói tai.
Anh ổn định lại cơ thể, theo phản xạ nhìn về phía cửa lớp, thấy Tưởng Thiếu Long và mấy tên đàn em của gã đứng đó, chắn ngang lối ra.
Vết thương trên người Tưởng Thiếu Long đã đỡ hơn chút, nhưng vẫn còn vết tích rõ rệt. Gã nhìn chằm chằm vào Cận Hành, ánh mắt u ám: "Mày mù à? Thấy người mà còn lao vào?"
Cận Hành đã đoán trước rằng gã sẽ tìm đến gây chuyện sau khi quay lại trường, chỉ không ngờ lại nhanh đến thế. Có lẽ lần trước anh vẫn còn ra tay quá nhẹ.
Trong lớp 9, các học sinh chưa rời đi, nghe thấy tiếng động liền đồng loạt quay đầu lại. Cảnh tượng họ thấy chính là tình huống này.
Châu Khải từ trước đến nay ghét nhất là bộ dạng vênh váo của Tưởng Thiếu Long. Huống hồ, Cận Hành từng gửi đáp án giúp hắn—dù rằng hầu hết đều sai, nhưng điều đó không ngăn hắn đứng ra bênh vực. Châu Khải vừa cười nhạt vừa nói: "Đụng người thì sai, nhưng đụng phải một con rùa thì chẳng vấn đề gì cả, đúng không?"
Câu nói vừa dứt, cả lớp 9 cười ồ lên.
Tưởng Thiếu Long vốn không có mâu thuẫn gì với Châu Khải, nhưng nghe thấy hắn buông lời châm chọc như vậy, làm sao nhịn được. Gã tiến lên túm lấy cổ áo Châu Khải: "Mày có gan nói lại lần nữa xem? Có tin không tao đập chết mày tại đây!"
Châu Khải chẳng hề sợ hãi, còn chỉ vào trán mình: "Tới đây, đánh đi! Hôm nay nếu mày dám động vào tao một ngón tay, tao mà không kiện đến cùng thì tao không mang họ Châu!"
Học sinh lớp 9 đa phần là con em của những gia đình có máu mặt, nhà ai cũng có chút thế lực. Riêng Châu Khải, hắn có một ông cậu là trưởng đồn cảnh sát khu vực.
Châu Khải nói xong, chỉ tay về phía cửa lớp: "Cô Sầm của tụi tao còn chưa đi xa đâu. Cứ thử động vào tao xem, tao sẽ hét lên ngay lập tức. Nói trước, tao là con một, sức khỏe yếu, lỡ như có chuyện gì xảy ra, ba mẹ tao không để yên đâu. Họ không giống tao, không dễ dàng thỏa hiệp như tao đâu."
"Hơn nữa..."
"Đây là địa bàn của lớp 9. Mày đến đây gây sự, ai sẽ xử lý ai mới đúng?"
Châu Khải vừa dứt lời, một nhóm nam sinh lớp 9 lập tức xông lên, bao vây lấy Tưởng Thiếu Long. Tình thế căng thẳng như sắp đánh nhau đến nơi. Thấy vậy, đám đàn em của Tưởng Thiếu Long liền lao lên can ngăn:
"Thôi đi, thôi đi, đừng chấp bọn họ."
"Đúng đó."
Ba lời hai tiếng kéo Tưởng Thiếu Long ra khỏi phòng thi.
Châu Khải hừ lạnh một tiếng, ánh mắt đầy khinh bỉ, trong lòng thầm nghĩ: "Toàn thứ vớ vẩn."
Hắn quay sang nhìn Cận Hành, thấy anh đứng yên không nói gì, trông như kiểu người đã quen bị bắt nạt, liền nghĩ thầm rằng chắc anh là một kẻ yếu đuối: "Sợ gì bọn nó? Toàn bọn bắt nạt kẻ yếu thôi. Càng nhịn chúng nó càng lấn tới. Cùng lắm thì đánh nhau một trận, ai sợ ai?"
Cô gái vừa xin đáp án của Cận Hành cũng lên tiếng an ủi: "Lần sau gặp tình huống này, cậu cứ báo với giáo viên hoặc gia đình. Chúng nó chỉ nghĩ cậu không dám làm lớn chuyện nên mới dám bắt nạt. Nếu thực sự bị ép quá thì tìm đến truyền thông. Tớ không tin nhà trường sẽ làm ngơ."
"Nói chung, không thể để bọn nó nghĩ rằng bắt nạt người khác là không phải trả giá."
Con người ta thường xuyên vượt quá giới hạn, phần lớn là vì họ chưa từng phải trả giá cho những gì mình làm.
Nhưng Cận Hành không thể giống như Châu Khải hay những người khác, tự tin cất tiếng. Sau lưng anh không có ai cả, không gia đình, không người thân, cũng chẳng có điểm tựa nào.
"Ừ, cảm ơn."
Giọng anh vẫn bình thản như mọi khi. Những sợi tóc lòa xòa trước trán che khuất ánh mắt, khiến người ta không thể đoán được cảm xúc. Nói xong, anh nhấc cặp sách, rời khỏi phòng thi.
Trường học có căn-tin, nhưng đồ ăn ở đó không ngon lắm, đa số học sinh thích ra ngoài ăn hơn. Cận Hành thích đến những quán nhỏ vắng vẻ, gọi một phần ăn, ngồi yên lặng cả buổi trưa, còn hơn là ở lại lớp học ồn ào.
Hệ thống 009 liên kết chặt chẽ với Cận Hành, vì thế nó cảm nhận rõ ràng cơn ác niệm đang trào dâng trong lòng anh, dường như sắp không thể kiềm chế nổi. Nó như một hạt giống đang âm thầm bén rễ trong góc tối, chờ đợi được tưới bằng máu tươi.
Cận Hành vẫn hận Tưởng Thiếu Long và những kẻ như gã.
Dù đã trọng sinh một lần, dù con đường phía trước rộng mở sáng lạn, Cận Hành vẫn căm hận đến mức thà kéo bọn họ cùng rơi xuống vực sâu.
Nhưng hiện tại, năng lực của anh vẫn chưa đủ, vẫn chưa đủ.
Cận Hành đeo cặp sách, bước qua đường. Ánh nắng len lỏi qua từng kẽ lá, để lại những đốm sáng loang lổ trên tấm lưng gầy guộc của anh. Cho đến khi một cô gái mặc váy dây trắng lên tiếng gọi, anh mới quay đầu lại.
"Cận Hành!"
Nhan Na đi đôi boots đen Martin, trên tay cầm một xấp giấy nháp liên tục quạt, rõ ràng vừa từ phòng thi ra. Cô bước đến trước mặt Cận Hành, dùng giấy che nắng, nhìn anh từ đầu đến chân rồi bất ngờ nói: "Đi thôi, Viêm ca tìm cậu."
Người mà cô gọi là Viêm ca, ngoài Văn Viêm ra thì chẳng còn ai khác.
Cận Hành thoáng khựng lại: "Văn Viêm?"
Nhan Na gật đầu, có chút bực bội vì thời tiết nóng nực. Cô cũng không hiểu tại sao Văn Viêm lại muốn tìm Cận Hành, nếu là tìm một cô gái xinh đẹp thì còn dễ hiểu hơn. Nghĩ đến những lần Từ Mãnh và đám bạn đánh nhau, cô nhíu mày, hời hợt nhắc nhở: "Khuyên cậu nên đi ngay đi, không thì bị đánh cũng chẳng ai cứu đâu."
Cận Hành đồng ý nhanh hơn Nhan Na tưởng: "Ừ, vậy đi thôi."
Nhan Na nhìn anh một cái: "Cậu không hỏi tại sao à?"
Cận Hành thuận theo lời cô: "Vậy cậu ấy tìm tôi làm gì?"
Nhan Na nghẹn lời, lườm anh một cái: "Làm sao tôi biết được. Đi nhanh lên."
Trường Trung học Nghề Sùng Minh vừa mới reo chuông tan học, học sinh lục tục đi ra ngoài từng tốp ba, tốp năm. Nhan Na và Cận Hành đứng đợi ở cổng trường, ánh nắng chói lòa làm hoa cả mắt, chỉ thấy những cái đầu nhuộm đủ màu sắc lướt qua, đủ biết nhuộm tóc ở Sùng Minh là chuyện rất bình thường.
Có người quen biết Nhan Na, thấy bên cạnh cô có một chàng trai trông sạch sẽ, điển trai liền cợt nhả: "Ôi, chị dâu, không sợ Mãnh ca ghen à?"
Nhan Na bĩu môi: "Cút."
Vừa lúc đó, Văn Viêm cùng đám bạn từ trong trường bước ra, ai nấy đều cao ráo, vóc dáng vạm vỡ, vừa nhìn đã biết là dân chuyên đánh đấm. Dù nổi tiếng là nhóm học sinh cá biệt, nhưng điều đó cũng không ngăn cản một số nữ sinh thầm mê mẩn bọn họ.
Gần đây, Văn Viêm dường như rất hứng thú với bóng rổ. Đôi tay thon dài cầm quả bóng, thi thoảng biểu diễn vài cú xoay bóng trên đầu ngón tay, rồi lại lười nhác ném cho Từ Mãnh.
Cậu nheo mắt lại, ánh nhìn dừng ở Cận Hành đang đứng ngoài cổng trường. Ánh mắt quá đỗi sắc bén và mang đầy tính xâm lược, khiến đám bạn bên cạnh cũng nhận ra điều gì đó. Một người lên tiếng hỏi: "Viêm ca, muốn xử lý cậu ta không? Chỉ cần một câu thôi."
Văn Viêm liếc cậu ta, cười nhạt: "Tao lại muốn xử lý mày hơn đấy."
Từ Mãnh chơi với Văn Viêm từ nhỏ, phần nào đoán được suy nghĩ của cậu, dù không rõ ràng lắm. Hắn nhíu mày: "Thằng nhóc đó chỉ bị bắt nạt, tìm cậu để được che chở. Lo chuyện của mình trước đi."
"Hơn nữa, cậu ta không cùng đường với chúng ta."
Văn Viêm bật cười lạnh: "Cậu ta không cùng đường chỗ nào?"
Từ Mãnh liếc nhìn Cận Hành đứng dưới nắng, trông ngoan ngoãn, yên tĩnh, rồi lại nhìn sang Văn Viêm—người suốt ngày hút thuốc, uống rượu, đánh nhau:
"Thế giống chỗ nào?"
Văn Viêm châm điếu thuốc, khoác chiếc áo phông trắng, hình xăm lộ rõ dưới ánh nắng. Đôi tai đeo khuyên đen, trông vừa sắc sảo vừa ngông nghênh. Trong làn khói thuốc lượn lờ, cậu lạnh lùng nhếch mép: "Không cần giống, tôi nói giống là giống."
Dứt lời, cậu bước thẳng đến trước mặt Nhan Na, ánh mắt quét qua một vòng rồi cuối cùng dừng lại ở Cận Hành. Cậu đút tay vào túi quần, khí thế đầy áp lực: "Cậu có biết tại sao tôi tìm cậu không?"
Nhan Na dù là một cô gái cá tính nhưng hiếm khi đánh nhau. Nhìn vẻ mặt của Văn Viêm, cô cảm thấy Cận Hành chắc sẽ gặp rắc rối, liền muốn nói vài lời: "Viêm ca..."
Cô còn chưa kịp nói hết câu, đã bị Từ Mãnh kéo vào lòng: "Được rồi, đừng xen vào."
Cận Hành – người trong cuộc – lại khá bình thản, anh khẽ cười: "Tôi biết."
Trông anh không hề sợ hãi chút nào. Các nữ sinh đi ngang qua không khỏi ngoái đầu nhìn anh lần nữa, sau đó đỏ mặt thì thầm với nhau.
Ánh mắt ngoan ngoãn và vẻ ngoài an tĩnh của Cận Hành lại khiến Văn Viêm cảm thấy ngứa ngáy khó chịu. Cậu gảy tàn thuốc, giọng điệu khó đoán: "Vậy cậu nói thử xem, tại sao tôi tìm cậu?"
Cận Hành nhìn thẳng vào cậu, ánh mắt không mang chút thù địch nào, chỉ có sự ngoan ngoãn vô hại, như một con thú nhỏ: "Cậu muốn tôi đi theo cậu."
Anh nói: "Cậu muốn tôi đi theo cậu."
Chương 132
Cận Hành hoàn toàn không sợ đoán sai suy nghĩ của Văn Viêm, thẳng thừng nói ra, như thể trên đời này không ai hiểu cậu rõ hơn anh.
Đám bạn sau lưng Văn Viêm nghe xong chỉ cảm thấy buồn cười. Bọn họ trước giờ ghét nhất là dính dáng đến đám học sinh ngoan ngoãn, mà Văn Viêm cũng chẳng hứng thú nhận đàn em, nhất là loại vừa nhát vừa yếu.
Ngoan hiền, yếu đuối, còn đẹp hơn cả con gái—Cận Hành đúng là chạm vào tất cả điểm cấm của bọn họ.
Nhưng không ngờ, Văn Viêm lại khẽ cười, nhả khói: "Ồ, cậu cũng thông minh đấy chứ?"
Văn Viêm đúng là không thích học sinh ngoan, nhưng cảm giác về Cận Hành lại có gì đó khác biệt, mà cậu không thể nói rõ được. Hoặc có thể... là do xu hướng cá nhân.
Chẳng lẽ cậu thích kiểu ngoan ngoãn như thỏ con này?
Ý nghĩ ấy khiến chính Văn Viêm cũng cảm thấy vô lý. Cậu kìm nén sự khó chịu trong lòng, nhíu mày, xoay người bước đi. Đi được hai bước, cậu ngoảnh lại, thấy Cận Hành vẫn đứng yên, liền liếc anh một cái: "Không phải nói muốn theo tôi sao? Đứng đó chờ vàng rơi à?"
Từ Mãnh và những người khác thầm kêu lên: "Thật sự muốn nhận đàn em à?"
Cận Hành nhanh chóng bước theo, đi đến bên cạnh Văn Viêm. Hương thơm nhàn nhạt của nước giặt át đi mùi khói thuốc, anh cười nhẹ, đôi mắt sáng lấp lánh dưới nắng: "Vậy từ nay, tôi sẽ theo cậu."
Văn Viêm kéo lại chiếc áo khoác sắp trượt khỏi vai, lười biếng nhướn mắt, ánh nhìn của Cận Hành như một chiếc móc câu, gãi ngứa trong lòng cậu.
Cậu định nói rằng việc nhận đàn em phải có tiêu chuẩn, không phải ai cũng theo được: "Cậu còn trong giai đoạn thử việc."
Nói cách khác, có theo được hay không, còn phải xem biểu hiện sau này.
Cận Hành không biết mình có nên cảm thán một chút không—Văn Viêm vậy mà cũng biết đến khái niệm "thực tập," anh ừ một tiếng: "Tôi sẽ cố gắng thể hiện thật tốt."
Ánh nắng chói chang khiến Văn Viêm không mở nổi mắt, cậu nheo mắt lại, trong lòng nghĩ Cận Hành trầm lặng, chẳng nói chẳng rằng, nhìn là biết một khúc gỗ đần độn, thì thể hiện tốt cái gì được chứ? Nhưng khi cậu còn đang nghĩ như vậy, đột nhiên ánh sáng trước mặt tối lại. Trên đầu không biết từ lúc nào đã có một chiếc ô che nắng, chặn hết ánh mặt trời gay gắt bên ngoài.
Văn Viêm chậm rãi quay đầu nhìn Cận Hành:
"..."
Người kia cầm ô, khẽ mỉm cười, vẻ mặt bình thản như trời quang sau mưa, nhẹ nhàng giải thích: "Hôm nay nắng to, thế này mát hơn."
Nhan Na cũng thấy nóng, con gái thì càng sợ bị nắng làm đen da, cô tức giận đập vào eo Từ Mãnh, hừ một tiếng: "Sao anh không mang ô, nhìn người ta kìa!"
Từ Mãnh nghĩ bụng, con gái đúng là phiền phức, cậu vòng tay ôm Nhan Na, rồi nói với Văn Viêm: "Mày đưa ô đó cho tao đi."
Văn Viêm hoàn hồn, phản ứng đầu tiên là bật cười khinh bỉ: "Dựa vào đâu mà đưa mày?"
Từ Mãnh tỏ vẻ ghét bỏ: "Một thằng đàn ông cầm ô làm gì."
Văn Viêm chỉ tay vào hắn từ xa: "Ngày mai trời mưa, nếu mày dám cầm ô, ông đây sẽ đánh chết mày."
Từ Mãnh suýt nhảy dựng lên: "Mẹ nó!"
Cận Hành đứng bên cạnh Văn Viêm, lặng lẽ che ô, không rõ vô tình hay cố ý, đôi khi khẽ chạm vào vai cậu, nhất thời không phân biệt được ai nóng hơn. Văn Viêm, dù không phải hoàn toàn là trai thẳng, cũng vô thức tránh sang một bên. Nhưng ngay giây tiếp theo, Cận Hành lại tiến gần hơn, với gương mặt vô hại kia, bất kể làm gì cũng đều rất nghiêm túc.
Văn Viêm trừng mắt nhìn anh: "Lại gần như thế làm gì?"
Cận Hành trông có vẻ hơi bối rối, khẽ đáp: "Che ô cho cậu..."
Giọng anh nhỏ nhẹ, mang theo chút ngại ngùng, trông vừa xấu hổ vừa ngoan ngoãn.
Nhan Na khoanh tay, nghĩ thầm sao trước đây mình không nhận ra Cận Hành đẹp trai đến vậy. Thật đáng thương, ở lớp bị đám Tưởng Thiếu Long bắt nạt, ra ngoài lại bị Văn Viêm bắt nạt.
Văn Viêm lúc này mới nhận ra phản ứng của mình có phần thái quá, chỉ là che ô thôi mà. Cậu liếc Cận Hành một cái, rồi thu ánh mắt lại, nhíu mày châm một điếu thuốc, trông có chút không được tự nhiên.
Trong mắt người ngoài, đây chỉ là một hành động tốt bụng đơn giản, nhưng trong mắt hệ thống, đó là bước đầu tiên trong kế hoạch săn mồi của Cận Hành.
Nhưng hệ thống ngoài việc quan sát thì chẳng làm được gì khác, chỉ có thể hy vọng rằng anh sẽ không lặp lại con đường cũ của kiếp trước.
Giờ trưa, Văn Viêm cùng mọi người tìm một quán ăn. Chủ quán thấy nhóm họ đông người, đặc biệt xếp cho một chiếc bàn lớn. Cận Hành tự nhiên ngồi xuống bên cạnh Văn Viêm, cùng với bức tường lạnh lẽo trắng tinh kẹp cậu ở giữa.
Không thể mong đợi ở Văn Viêm chút tinh thần công cộng nào. Cậu kẹp một điếu thuốc đã cháy dở giữa ngón tay, lười biếng dí tàn xuống góc bàn, rồi nhíu mày ném thực đơn về phía Cận Hành:
"Gọi món đi."
Đây là đang bảo anh chọn món mình thích?
Người khác không có được đãi ngộ này, chỉ cần nhìn nét mặt của Từ Mãnh là rõ.
Trong túi Cận Hành chẳng có mấy đồng, buổi trưa thường chỉ ăn một bát mì qua loa. Ăn cơm tiệm đối với anh có phần xa xỉ, nhưng Văn Viêm chắc chắn sẽ không để anh trả tiền. Anh tượng trưng chọn hai món, rồi đẩy thực đơn sang phía đối diện, thái độ lịch sự, khiến người ta cảm thấy dễ chịu: "Mọi người chọn đi."
Văn Viêm cảm thấy hơi khó chịu khi anh không chú ý đến mình. Cậu gõ ngón tay lên bàn, mặt không cảm xúc: "Tôi còn chưa gọi."
Cận Hành nghiêng đầu nhìn cậu, có chút nghi hoặc: "Chúng ta không phải cùng nhau sao?"
Anh gọi rồi, chẳng phải cũng là cậu gọi rồi sao?
Đối diện với đôi mắt trong trẻo của Cận Hành, Văn Viêm đột nhiên có cảm giác như nắm đấm của mình đánh vào bông. Nghe thấy bốn chữ "chúng ta cùng nhau," cơn giận trong lòng cậu lại tự nhiên lắng xuống, chỉ cảm thấy nghẹn họng.
Từ Mãnh nhìn cảnh đó, cười nhạt một tiếng: "Tự làm tự chịu."
Cận Hành rót nước trà tráng qua bát đũa của mình và Văn Viêm, sau đó mới đặt lại trước mặt họ. Ngồi bên cạnh, Nhan Na khẽ lẩm bẩm: "Không ngờ cậu còn chu đáo thế."
Từ Mãnh thì chẳng bao giờ chú ý đến mấy chuyện như vậy.
Cận Hành mỉm cười, không nói gì.
Trên bàn ngoài Nhan Na, đa số là con trai, món ăn đều là thịt, còn có bia rượu và mấy món nướng. Cận Hành ăn uống rất từ tốn, ngay cả khi ăn tôm hùm đất, tay anh cũng không lấm lem như người khác. Đeo găng tay nhựa, không bao lâu đã bóc được một bát thịt tôm nhỏ.
Từ Mãnh rót rượu, tiện tay rót cho cả Cận Hành. Nhưng Văn Viêm lập tức lấy đi: "Mày làm cái gì vậy?"
Từ Mãnh ngơ ngác: "Cái quái gì thế, đây là rượu chứ có phải thuốc độc đâu."
Văn Viêm nhìn ly rượu trong tay, chậm rãi nhận ra điều gì, nhếch môi cười: "Người ta là học sinh ngoan, đừng làm hư cậu ấy. Mà chiều nay Nhan Na còn thi nữa, mày để cô ấy uống rượu à?"
Từ Mãnh: "Không sao, cô ấy có uống hay không thì thi cũng dở tệ."
Nhan Na dưới bàn đạp mạnh vào chân hắn: "Cút đi!"
Ở đây, ngoài Văn Viêm ra, Từ Mãnh là kẻ dữ dằn nhất, nhưng lại bị dẫm đến không dám hó hé, cuối cùng đành im lặng.
Văn Viêm cười lạnh, nghĩ thầm, đúng là phải dạy dỗ như vậy. Vừa gắp một miếng thức ăn, bát trước mặt cậu đột nhiên bị một bàn tay thon dài, sạch sẽ đổi sang, thay vào đó là nửa bát thịt tôm đã bóc sẵn.
Cận Hành dùng khăn giấy lau tay, nhìn cậu cười: "Ăn đi."
Tôm hùm đất vừa bóc vừa ăn thì đúng là thú vị hơn, nhưng quả thật hơi phiền. Chắc chẳng ai từ chối một bát tôm đã bóc sẵn.
Nhan Na lại đạp Từ Mãnh thêm một cái, chẳng hiểu sao hôm nay cô thấy bực bội trong lòng.
Văn Viêm cầm chặt đũa, quay sang nhìn anh, nói ra điều mà ai cũng đang nghĩ: "Cận Hành, cậu có phải là quá tận tâm rồi không?"
Cận Hành cúi đầu, trông có vẻ hơi bối rối: "Không phải cậu bảo tôi... thể hiện thật tốt sao?"
Mọi người ngớ ra, à, thì ra là để chuyển chính thức.
Văn Viêm nghĩ, hóa ra lại là lỗi của cậu, ném một hạt đậu phộng vào miệng, chẳng ai biết trong lòng cậu đang nghĩ gì: "Ừ, vậy cậu cứ thể hiện thật tốt đi."
Cận Hành tuy chu đáo, ân cần đến mức làm người khác chóng mặt, nhưng may thay không phải kiểu "máy điều hòa trung tâm," việc gắp thức ăn, rót nước chỉ nhắm đến mỗi Văn Viêm, khiến chút tính chiếm hữu trong cậu phần nào được xoa dịu, dù hiện tại cả hai chỉ là quan hệ đại ca và tiểu đệ.
Cơm nước ăn gần xong, Văn Viêm nhìn điện thoại: "Mấy giờ cậu thi?"
Cận Hành ngừng một giây mới phản ứng được rằng cậu đang hỏi anh: "Hai giờ."
Văn Viêm đáp: "Cũng sắp rồi, đi thôi."
Mọi người lần lượt đứng dậy tính tiền, rồi túm năm tụm ba bước ra khỏi quán. Nơi này cách trường trung học số 6 không xa, chỉ cần đi qua một con phố là tới. Cận Hành đi bên cạnh Văn Viêm, liếc nhìn thiếu niên bất lương bên mình, cảm thấy đi đến trường thế này có chút "rầm rộ." Nhưng Nhan Na lại tỏ vẻ đã quen, ung dung tự tại bước đi.
Ở một nơi tụ tập nhiều dân anh chị như thế này, nếu không có chỗ dựa thì liệu có sống yên không? Hiển nhiên là không.
Còn hơn hai mươi phút nữa mới đến giờ thi, Nhan Na không muốn vào sớm nên đứng ở cạnh bồn hoa trước cổng trường trò chuyện với Từ Mãnh. Đám côn đồ trường Sùng Minh thì dựa vào gốc cây, hoặc tụ lại hút thuốc, ngắm các cô gái xinh đẹp đi ngang qua, vô tình tạo thành một khoảng không ai dám bén mảng lại gần.
Văn Viêm đứng trên bồn hoa, từ trên cao nhìn xuống Cận Hành, dường như làm vậy có thể cao hơn anh một chút. Muốn nói gì đó, nhưng lại không biết phải mở lời thế nào, cảm giác thật kỳ quặc.
Cận Hành dường như đoán được suy nghĩ của cậu, bước dài một cái nhảy lên bồn hoa, thân hình cao ráo của thiếu niên khiến áp lực chiều cao tăng mạnh: "Sao vậy?"
Văn Viêm trợn mắt: "Cậu xuống đi, lên làm gì?"
Thôi được.
Cận Hành bật cười, rồi nhảy xuống: "Thế này được chưa?"
Coi như tạm ổn. Văn Viêm đút tay vào túi, hơi cúi người, ghé sát xuống nói một câu: "Tan học đợi ở đây."
Cận Hành hỏi: "Có hoạt động gì à?"
Văn Viêm thấy anh cũng thông minh đấy, đứng lâu hơi mỏi nên dứt khoát ngồi xổm xuống: "Đến lúc đó cậu sẽ biết."
Bây giờ cậu thấp hơn Cận Hành, nheo mắt, dáng vẻ lười biếng như loài động vật họ mèo nào đó. Là mèo hay hổ thì còn tùy cảm nhận của mỗi người, nhưng chí ít lúc này trông cậu hoàn toàn vô hại.
Cận Hành cúi xuống nhìn cậu, dáng vẻ này cực kỳ bao dung, góc nghiêng gương mặt rõ ràng dưới ánh nắng nhàn nhạt, không chút tì vết, sạch sẽ, tuấn tú. Giọng nói trầm thấp dưới làn gió hè thêm vài phần dịu dàng: "Được, tôi chờ cậu."
Ánh mắt cậu đối diện với đôi mắt mang ý cười của anh, tim bỗng lỡ một nhịp, hồi lâu không nói được lời nào, cho đến khi khóe mắt thoáng thấy bóng người, cậu mới cười như không cười mà đứng dậy, khoác vai Cận Hành, xoay người anh lại: "Ê, đây chẳng phải là cái thằng... gì ấy nhỉ, lần trước nói muốn xử cậu sao?"
Cận Hành liếc nhìn bóng dáng ở cổng trường, ánh mắt thoáng qua một tia âm trầm, mỉm cười, trong lòng cảm thán sự kỳ diệu của duyên phận.
Tưởng Thiếu Long chỉ cần liếc mắt là thấy ngay đám người Sùng Minh, vì thực sự quá nổi bật. Nhưng gã vạn lần không ngờ Cận Hành cũng ở trong nhóm đó. Sự kinh ngạc làm gã đứng hình, quên cả chạy trốn — dù sao cách đây không lâu gã vừa bị người của Viêm xử một trận ra trò.
Nhan Na tựa vào người Từ Mãnh, thấy vậy bèn nói: "Ồ, cậu ta tên là Tưởng Thiếu Long."
Nói xong nghĩ nghĩ, lại bổ sung: "Viêm ca, cậu ta ở trong lớp hay bắt nạt Cận Hành lắm."
Chương 133
Một lời này của Nhan Na càng khẳng định hình tượng "bánh bao mềm" của Cận Hành trong lòng mọi người. Văn Viêm lơ đễnh quan sát Tưởng Thiếu Long, thấy gã đứng im tại chỗ, sợ đến không dám động đậy, nghĩ thầm: Loại người này mà cũng bắt nạt được Cận Hành, đến mức anh không dám hé răng?
Cận Hành cảm giác bên tai có một làn hơi ấm áp, lẫn chút mùi nhàn nhạt của thuốc lá, cực kỳ xâm lược. Ngay sau đó là giọng nói trầm thấp, đầy từ tính của Văn Viêm: "Cậu ta từng bắt nạt cậu à?"
Cận Hành hơi nghiêng đầu, bất ngờ đối diện đôi mắt đen ít trắng nhiều của cậu, rồi im lặng gật đầu.
Từ Mãnh nghĩ bụng Cận Hành quả nhiên muốn tìm chỗ dựa, bảo sao lại nhiệt tình như vậy. Hắn đứng ngoài nhìn rõ, nên không nói gì, dù sao có nói thêm Văn Viêm cũng chẳng nghe lọt.
Văn Viêm gật đầu, sau đó từ bồn hoa nhảy xuống, động tác nhẹ nhàng, dứt khoát: "Cậu vào thi đi."
Nói xong bổ sung thêm: "Đi cùng Nhan Na."
Từ Mãnh ném chiếc ba lô màu hồng phấn cho Nhan Na, dáng vẻ lười nhác: "Cầm lấy, cầm lấy, thi cho tốt."
Dù thi thế nào cũng vẫn rách nát như cũ, nhưng vẫn phải gửi chút lời chúc cho học dốt. Biết đâu may mắn thì sao?
Nhan Na nghe ra ý trong lời anh, bĩu môi, đeo ba lô, quay người cùng Cận Hành vào trường.
Tưởng Thiếu Long đứng ở cổng, lưng căng cứng, trơ mắt nhìn hai người đi ngang qua mình, khó nhọc di chuyển bước chân. Nhưng chưa kịp đi được hai bước, cổ đã bị một tay côn đồ Sùng Minh vòng qua, siết đến suýt không thở nổi.
Người đó vỗ mặt gã, đau chẳng khác gì bị tát, cười hì hì: "Ê, đừng vội đi, Viêm ca của chúng tao có chút chuyện muốn tìm mày."
Cận Hành vừa vào trường được vài bước, có cảm giác liền ngoái lại nhìn, nhưng bị cổng trường che khuất, chẳng thấy gì. Nhan Na cũng quay đầu nhìn theo, rồi lại cúi xuống đá đá viên đá nhỏ bên chân: "Yên tâm đi, Tưởng Thiếu Long sau này không dám làm phiền cậu nữa đâu."
Cô nói chắc nịch.
Cận Hành gật đầu, khóe môi khẽ cong, dù trông có chút kỳ lạ: "Tôi biết."
Buổi thi chiều diễn ra đúng giờ, nhưng độ khó đề bài cũng vừa phải, không quá cao. Châu Khải hoàn toàn không biết rằng sau lưng mình có một "đại lão," vẫn thoải mái chuyền giấy với đám học sinh tệ của lớp chín. Sau đó, lại ném một mảnh giấy đầy đáp án sai lên bàn của Cận Hành.
Nói sao nhỉ, khả năng né đúng đáp án một cách hoàn hảo cũng là một loại thiên phú.
Cận Hành nhàn rỗi không có việc gì, sửa lại đáp án cho hắn một bản. Châu Khải thừa lúc giáo viên coi thi đang ngáp liền quay đầu, ánh mắt đầy trách móc nhìn anh, rõ ràng truyền đạt một thông điệp: Đáp án của cậu sai hết rồi, còn không mau sửa!
Cận Hành: "..."
Thôi được, cậu cho là sai thì là sai.
Cận Hành bật cười, không tranh luận, nằm bò ra bàn chợp mắt một lúc, rồi canh đúng giờ, nộp bài trước mười phút rồi rời khỏi phòng thi. Hôm nay là kỳ thi tháng, tiết tự học buổi tối được hủy. Thi xong thì về lớp, đợi giáo viên giao bài tập xong là có thể ra về.
Khi Cận Hành lên lầu, đi ngang qua cửa nhà vệ sinh, anh liếc mắt nhìn vào trong, chỉ thấy bên trong trống rỗng, vì đèn bị hỏng nên tối đen như mực. Đang định thu hồi ánh mắt, không ngờ đột nhiên có người từ phía sau đẩy anh một cái. Ba bốn người ngay lập tức giữ chặt tay anh, mở cửa kho chứa đồ trong nhà vệ sinh, rồi mạnh mẽ đẩy anh vào bên trong. Sau đó, một tiếng động nặng nề vang lên, cửa bị người ở bên ngoài khóa trái lại.
Đèn trần trên đầu kêu "xì xì" hai tiếng, bầu không khí trở nên âm u.
Cận Hành loạng choạng một chút, chống vào tường mới đứng vững được. Khi nhắm mắt lại, trong bóng tối anh nghe thấy tiếng nước nhỏ giọt từ vòi, rồi từ từ đứng thẳng dậy.
Những chuyện như thế này đã xảy ra quá nhiều lần, đến mức anh không còn một chút cảm giác hoảng sợ nào nữa.
Cận Hành không còn là tên ngốc của ngày trước, bị nhốt trong nhà vệ sinh cả đêm cũng không dám cầu cứu. Anh mặt không biểu cảm lùi lại mấy bước, định đá văng cửa. Đúng lúc này, một quả cầu ánh sáng màu xanh lam nhỏ bất ngờ bay ra, đè lên chân anh.
Hệ thống: 【Suỵt, bình tĩnh.】
Đá hỏng cửa sẽ phải đền tiền, không đáng.
Hệ thống nói xong, vỗ cánh bay ra ngoài, rồi phát ra một tiếng "cạch", mở khóa cửa. Tấm cửa kêu "kẽo kẹt" một tiếng, từ từ bật ra, để lộ Cận Hành đang đứng bên trong.
Cận Hành lườm hệ thống, hồi lâu sau, anh khẽ cười một tiếng, vẻ mặt như mang theo chút chế nhạo, hoàn toàn khác với dáng vẻ hiền lành thường ngày của anh. Anh khẽ động môi, không tiếng động thốt ra hai chữ: "Cảm ơn."
Nói xong, anh cúi đầu nhìn tay mình, rồi không vì lý do gì mà mạnh mẽ đấm một cú vào tấm cửa. Một tiếng "rầm" vang lên, đến khi khớp tay trên mu bàn tay anh hiện lên vết bầm tím, anh mới lùi lại một bước, kéo vai quai cặp sách sắp rơi xuống, xoay người rời khỏi nhà vệ sinh.
Cận Hành đi qua hành lang, vào trong lớp. Trong phòng học đã chật kín người, ồn ào huyên náo. Bọn Bàng Nhất Phàm đang cười đùa, nhưng khi thấy anh đi vào thì nụ cười trên mặt khựng lại, ngay sau đó chuyển thành một vẻ trào phúng gần như khinh miệt.
Cận Hành nhìn bọn họ bằng ánh mắt u ám, rồi thu hồi tầm mắt, kéo ghế ngồi xuống chỗ của mình. Uông Hải đang sắp xếp bài kiểm tra, thấy anh đến thì tiện miệng hỏi: "Cậu đi đâu thế? Lúc nãy Nhan Na tìm cậu đấy."
Cận Hành đáp: "Ừ, đi vệ sinh."
Anh ngồi lặng lẽ tại chỗ, không biết đang nghĩ gì. Một lúc sau, anh từ ngăn kéo lấy ra một con dao lam nhỏ. Nhưng ngay khi thấy giáo viên chủ nhiệm từ ngoài bước vào lớp, anh lại lặng lẽ cất nó đi.
Giáo viên chủ nhiệm quét mắt qua đám học sinh trong lớp, cũng không đếm xem đủ người hay chưa. Sau khi ghi bài tập các môn lên bảng đen, sắp xếp lại bàn ghế, thầy liền cho cả lớp tan học. Có người mắt tinh nhận ra Tưởng Thiếu Long không đến, nhưng cũng chẳng bận tâm, ba người một nhóm, hai người một cặp, rủ nhau rời khỏi lớp.
Nhan Na rời chỗ ngồi, cùng Cận Hành đi ra ngoài. Cô vừa đi vừa bấm điện thoại, gửi một tin nhắn, rồi mới nói: "Đi thôi, Từ Mãnh bọn họ đang đợi ở cổng."
Mu bàn tay Cận Hành bị tay áo đồng phục rộng thùng thình che khuất, anh hỏi: "Cậu có biết bọn họ tối nay định làm gì không?"
Nhan Na lắc đầu, đời sống của đám thiếu niên bất lương không có nhiều kế hoạch, có thể là uống rượu, đua xe, cũng có thể là đánh nhau, ai mà biết được.
Người lớp sáu nhìn thấy Nhan Na đi cùng Cận Hành, ánh mắt đều trở nên kỳ lạ. Tuổi mười sáu mười bảy là lúc bắt đầu biết yêu, một nam một nữ chỉ cần đi cùng nhau, rất dễ bị hiểu lầm. Trước đây, hoa khôi lớp Đường Quả thường xuyên tìm Cận Hành nói chuyện, trong lớp liền xuất hiện nhiều tin đồn không hay.
Nhưng hiện tại chẳng ai dám dựng chuyện, nếu để Nhan Na nghe được, họ sẽ không sống yên ổn.
Khi Cận Hành bước ra khỏi cổng trường, trời đã chạng vạng tối. Anh nhìn quanh bốn phía, không thấy Văn Viêm đâu, định quay lại hỏi Nhan Na, thì bất ngờ nghe thấy tiếng động cơ mô tô từ xa vọng tới, càng lúc càng gần. Anh ngẩng đầu, liền thấy Văn Viêm cùng đám người lao từ đầu đường bên kia đến, cuối cùng dừng xe ngay trước mặt anh.
Tiếng động quá lớn khiến Cận Hành theo phản xạ lùi lại một bước.
Văn Viêm không mặc đồng phục, trên người là áo thun đen giản dị. Thân hình thiếu niên cao gầy, khiến cả người cậu toát lên vẻ lạnh lùng và sắc bén, hoàn toàn không giống một học sinh. Cậu dừng xe trước mặt Cận Hành, chiếc vòng cổ bạc khẽ lay động vì động tác của cậu, rơi đúng ở hõm xương quai xanh.
Văn Viêm không nhắc gì đến chuyện Tưởng Thiếu Long, chỉ ngoắc tay với Cận Hành, mái tóc mái lòa xòa trước trán bị gió thổi rối, giọng nói vẫn lười biếng như thường ngày. Cậu nheo mắt: "Lên xe."
Cận Hành hỏi: "Cậu định đua xe à?"
Văn Viêm nới lỏng găng tay xe máy, rồi thắt chặt lại: "Sao? Học sinh ngoan không dám à?"
Người khác chửi rủa là "đồ chết tiệt", còn Văn Viêm chửi người lại thích dùng từ "học sinh ngoan". Trong từ điển của cậu, ba chữ này là lời sỉ nhục nặng nề nhất, kèm theo sự chế giễu và mỉa mai sâu sắc.
Cận Hành mỉm cười: "Chỉ là hỏi thôi."
Nói xong, anh trực tiếp ngồi lên phía sau Văn Viêm, hai tay đặt trên eo đối phương một cách thành thục, nhìn qua giống như đang ôm cậu từ phía sau, vô cùng thân mật và hòa hợp.
Văn Viêm cúi đầu nhìn thoáng qua, cảm thấy ngực người phía sau nóng rực, khiến cậu hơi khó chịu. Giữa làn gió đêm, cậu quay đầu nhìn Cận Hành, nhướng mày: "Cậu ôm chặt vậy làm gì?"
Cận Hành đáp: "Tôi sợ."
Văn Viêm: "..."
Được rồi.
Văn Viêm ném một chiếc mũ bảo hiểm cho Cận Hành: "Đội vào."
Cận Hành đưa tay nhận lấy, nhưng không đội: "Của cậu thì sao?"
Văn Viêm cau mày: "Bảo cậu đội thì đội, lề mề cái gì?"
Cận Hành nhìn mũ bảo hiểm trong tay, rồi tháo dây, nhưng lại trực tiếp đội lên đầu Văn Viêm. Động tác của anh rất nhẹ nhàng, không làm người khác khó chịu. Sau đó, anh khẽ cử động ngón tay, thắt chặt dây.
Văn Viêm nhíu mày: "Này!"
Cận Hành nói: "Cậu ngồi phía trước, cậu đội đi."
Từ Mãnh đã cưỡi xe vượt qua họ một đoạn, phía sau chở Yên Nạp. Hắn ngoái đầu lại hét lớn: "Hai người các cậu lề mề cái gì vậy? Hai thằng con trai mà cứ rì rà rì rầm, ai không biết còn tưởng đôi tình nhân đấy!"
Văn Viêm: "Mẹ nó, muốn chết à?"
Từ Mãnh liền tăng tốc, "vèo" một tiếng biến mất không còn bóng dáng. Đám người phía sau cũng nối tiếp đuổi theo, một cơn gió mạnh lướt qua, bên tai chỉ còn tiếng động cơ gầm rú.
Cận Hành ôm chặt eo Văn Viêm, bị gió thổi khiến anh híp mắt lại: "Được rồi, đi thôi, không thì không đuổi kịp bọn họ đâu."
Văn Viêm khẽ cười khẩy, dường như muốn nói gì đó nhưng rốt cuộc lại không mở miệng. Cậu khởi động xe máy, tăng tốc bám sát theo Từ Mãnh và bọn họ.
Cận Hành chỉ cảm thấy cảnh vật phía sau trôi tuột đi với tốc độ chóng mặt, bên tai gió rít vù vù như lưỡi dao cắt vào mặt, ngoài tiếng động cơ gầm rú thì không còn nghe được gì khác.
Văn Viêm liếc nhìn gương chiếu hậu, sau đó thản nhiên giảm tốc độ, giữ ngang với Từ Mãnh, người đang đi ở cuối đoàn. Từ Mãnh vì phải chăm sóc Nhan Na nên tốc độ bị kéo xuống thấp nhất.
Từ Mãnh liếc nhìn sang, tỏ vẻ ngạc nhiên:
"Ơ, bình thường chạy nhanh lắm mà, sao hôm nay chở hai người lại không đi nổi à?"
Văn Viêm thường là người chạy xe nhanh nhất, nhưng hôm nay lại điều khiển xe như kiểu đang lái một chiếc xe điện cỡ nhỏ. Cậu thả một tay, giơ ngón giữa về phía Từ Mãnh:
"Đợi lát nữa đến nơi tao xử mày."
Từ Mãnh cố ý tăng tốc, kéo giãn khoảng cách: "Đuổi kịp tao rồi hẵng nói."
Cận Hành cúi thấp đầu, tránh cơn gió quét qua, vừa khéo tựa vào bả vai Văn Viêm, giọng nói hơi mơ hồ nhưng lại rất rõ ràng: "Hình như cậu hơi chậm?"
Thật ra anh định nói là: Sao cậu đi chậm thế.
Văn Viêm nghĩ bụng không biết thằng ngốc nào lúc nãy còn bảo là sợ. Cậu thuận miệng đáp lại lời Từ Mãnh: "Mịe nó do cậu nặng quá, cậu xuống đi thì tôi chạy nhanh ngay."
Cận Hành cảm thấy xương vai Văn Viêm có chút cấn người, bèn đổi tư thế, khép mắt nói vu vơ: "Cậu chửi thề."
Văn Viêm nghĩ bụng, chửi thề thì đã làm sao, tên "học sinh gương mẫu" này không thích nghe cũng đành chịu. Cậu cười nhạt, đáp: "Tôi chửi thì sao nào?"
Cận Hành cách một lớp áo, thuận tay chạm nhẹ vào cơ bụng Văn Viêm rồi thu tay về. Giọng anh trầm thấp, giống như một chiếc lông vũ lướt qua tai, khơi lên một cảm giác ngứa ngáy khó tả:
"Ừ, chẳng sao cả."
Văn Viêm bất giác khựng lại. Sau khi nhận ra Cận Hành vừa làm gì, sống lưng cậu lập tức cứng đờ. Cậu tức tối mắng một câu tục tĩu thật sự:
"Cận Hành, tôi đệt cả nhà cậu!"
Cận Hành rất điềm nhiên:
"Cậu đệt đi."
Hiếm khi anh cũng nói một câu th.ô tụ.c.
Chương 134
Một nhóm thanh niên cưỡi mô tô phóng như bay trong màn đêm, rít gào lao đi, cuối cùng dừng lại trước một tòa nhà dang dở đã bị giải tỏa một nửa. Tiếng gầm rú của động cơ làm vang động cả một khoảng không gian.
Văn Viêm bẻ lái, dừng xe một cách gọn gàng. Lốp xe cọ sát mặt đất, phát ra âm thanh chói tai. Cậu tháo mũ bảo hiểm, mái tóc bị gió đêm thổi rối tung. Cậu quay đầu nhìn Cận Hành: "Đến nơi rồi."
Cận Hành không có vẻ gì hoảng sợ sau màn lái xe tốc độ cao. Anh buông vòng tay khỏi eo thon của Văn Viêm, nhìn quanh một vòng, phát hiện nơi này có chút quen thuộc. Hình như đây chính là chỗ lần trước Văn Viêm bị vài tên côn đồ vây đánh.
"...Cứu... cứu tôi với..."
Trên khoảng đất trống không xa, mấy người đàn ông nằm vạ vật, tay ôm bụng, cuộn tròn lại như con tôm, dáng vẻ đau đớn, trên mặt đầy vết bầm tím. Tiếng kêu cứu của họ vang lên rõ ràng trong khu vực tĩnh mịch này, nhưng tiếc là chẳng có ai qua lại.
Cận Hành trí nhớ rất tốt. Anh nhận ra mặt mấy người này khá quen, hình như chính là bọn đã đánh nhau với Văn Viêm lần trước. Nghĩ đến tính cách có thù tất báo của Văn Viêm, anh lập tức hiểu ra mọi chuyện.
"Yo hô——!"
Đám thiếu niên bất lương nhìn thấy trò vui, liếc mắt nhìn nhau, sau đó phóng xe tăng tốc, lượn thành vòng tròn, dần thu hẹp phạm vi. Lốp xe lướt sát qua mép áo và đỉnh đầu những kẻ nằm trên đất, như tiếng bước chân của thần chết đang đến gần.
Thêm chút nữa, rất có thể sẽ cán nát tay chân hoặc đầu của bọn chúng.
Đám người nằm trên đất chẳng còn để ý đến cơn đau, luống cuống bò dậy nhưng lại không có đường thoát, chỉ biết run rẩy như những con gà con đáng thương giữa vòng tròn gió xoáy của mô tô.
Văn Viêm không tham gia, cậu ngồi trên xe xem kịch. Cậu rút bật lửa, châm một điếu thuốc, đôi mắt trong màn đêm toát lên một vẻ sắc lạnh, tàn nhẫn không hợp với tuổi.
Văn Viêm cắn găng tay xe máy, quay đầu hỏi Cận Hành: "Nhớ không, bọn chúng đấy."
Cận Hành ngập ngừng, sau đó gật đầu: "Nhớ."
"Tôi thù dai," Văn Viêm khẽ cười, liếc nhìn đám người đang co rúm giữa vòng tròn, giọng nói nhẹ bẫng nhưng lại khiến người ta rợn tóc gáy, "Kẻ nào nợ tôi, đều không có kết cục tốt đẹp."
Kẻ nào nợ cậu, đều không có kết cục tốt đẹp...
Cận Hành ngừng lại, chậm một nhịp nhìn sang Văn Viêm, nhưng chỉ thấy được đường nét mờ mịt của cậu trong bóng tối. Sợi dây chuyền bạc trên cổ lóe lên ánh sáng lạnh lẽo.
Cận Hành không biết mình vừa nghĩ gì. Anh khép mắt lại, và khi Văn Viêm tưởng anh sẽ không đáp lời, Cận Hành bỗng thốt ra một tiếng: "Tôi tin."
Anh tin.
Đôi tay thon dài của Văn Viêm đặt trên tay lái, hình xăm đầu lâu cười trên mu bàn tay trông vừa quái dị vừa kỳ bí. Cậu gõ nhẹ hai cái, rồi hỏi Cận Hành: "Cậu có sợ không?"
Đám thanh niên bất lương và học sinh bình thường luôn có sự khác biệt. Khi những kẻ kia đã bắt đầu đánh nhau, đua xe, uống rượu, thì những người này vẫn còn lo ngay ngáy về việc trốn học hay đi học muộn. Hai thế giới cách biệt một trời một vực, vốn dĩ không nên có giao điểm.
Cận Hành đáp: "Tôi sợ."
Giọng điệu quá đỗi bình thản, nghe đã biết là nói dối.
Văn Viêm thật ra không nên đưa Cận Hành đến xem những chuyện này. Xét cho cùng, cậu nhóc mới thu nhận làm đàn em này trông vừa gầy vừa yếu. Nhưng trong thâm tâm, cậu vẫn cảm thấy lần trước mình bị đánh cho nằm sấp quá mất mặt. Lúc rửa nhục phải để Cận Hành đứng đó chứng kiến mới được.
Ý nghĩ này thật ra có hơi trẻ con.
Văn Viêm xem chán rồi, đeo lại găng tay xe máy, nói với Từ Mãnh bên cạnh: "Tao đi trước."
Từ Mãnh có lẽ định lát nữa sẽ dạo chơi một vòng. Thấy Văn Viêm rời đi sớm như vậy, hắn hơi bất ngờ: "Đi sớm thế, mẹ mày gọi về ăn cơm à?"
Văn Viêm cau mày: "Cút!"
Người phụ nữ kia thường xuyên qua lại giữa đám đàn ông, hễ thấy người nào vừa mắt là lập tức bỏ đi theo, mười ngày nửa tháng không thấy bóng dáng. Hầu hết thời gian, Văn Viêm đều sống một mình.
Từ Mãnh biết mình lỡ lời, không nói thêm gì, chỉ phất tay: "Đi đi."
Văn Viêm khởi động xe nhưng không tăng tốc ngay. Cậu đợi đến khi Cận Hành ôm chặt eo mình mới phóng vụt đi, hòa vào màn đêm.
Văn Viêm hỏi Cận Hành: "Nhà cậu ở đâu?"
Cận Hành nói địa chỉ, Văn Viêm lập tức quay xe chạy về hướng đó, tốc độ vừa phải, tiện miệng hỏi: "Nhà cậu có mấy người?"
Cận Hành bị gió thổi đến lạnh run, nhưng cơ thể Văn Viêm lại như một lò sưởi ấm áp. Anh vòng tay ra sau ôm lấy eo cậu, ngón tay yên lặng đặt lên, ngoan ngoãn đáp: "Một mình. Muốn vào ngồi một lát không?"
Văn Viêm đại khái có thể đoán được tình trạng ở nhà Cận Hành. Nếu cha mẹ anh có quản lý chút đỉnh, anh cũng không đến mức bị bắt nạt thảm hại như vậy, huống chi còn nửa đêm chạy ra ngoài đua xe với đám thanh niên bất lương. Nghe xong câu cuối, mí mắt cậu giật giật: "Không ngờ cậu cũng biết mời khách cơ đấy?"
"Không phải mời khách."
Cận Hành bật cười, tiếng cười yêu mị từ sau lưng truyền tới, tiếc là Văn Viêm không nhìn thấy. Anh nghiêm túc nói: "Nếu cậu đồng ý, cậu sẽ là người đầu tiên."
Lá gan lớn thật, ai cũng dám dẫn về nhà.
Văn Viêm bất giác nhớ lại lần trước Cận Hành cầm gạch đập người, sau đó kéo cậu chạy trốn trên đường phố. Một hồi lâu, cậu không trả lời, hiếm thấy có vẻ lưỡng lự, như thể ngôi nhà của Cận Hành là hang hùm ổ sói, chỉ cần gật đầu bước vào sẽ không ra được nữa.
Cuối cùng, xe dừng lại trước một tòa chung cư kiểu cũ. Đêm khuya tĩnh lặng, hầu hết mọi người đã ngủ, tiếng động cơ dù nhỏ cũng trở nên đặc biệt rõ ràng. Văn Viêm dứt khoát tắt máy, không gian xung quanh lập tức trở nên yên ắng.
Cận Hành không thích ở trường, cũng không thích về nhà. Nói tóm lại, chẳng có nơi nào khiến anh thoải mái. Anh xuống xe máy nhưng không đi ngay, mà quay lại nhìn Văn Viêm. Một bên vai anh dựa vào tường, mời mọc một cách thân thiện: "Thật sự không lên ngồi chơi một chút à?"
Cảm giác như bên trong vỏ bọc cừu non kia, có một con sói đang âm thầm mài giũa móng vuốt.
Văn Viêm nghĩ bụng nửa đêm nửa hôm thì có gì mà ngồi chơi: "Không đi."
Nói xong, cậu định khởi động xe rời đi, nhưng khóe mắt lại lướt qua mu bàn tay đầy vết bầm tím của Cận Hành, động tác bất giác ngừng lại. Cậu nhíu mày hỏi: "Bị người ta đánh à?"
Cận Hành liếc nhìn tay mình, do dự một lát rồi gật đầu, rất thành thật: "Ừ."
"Chết tiệt."
Văn Viêm thấp giọng chửi một câu, muốn hỏi có phải đầu óc Cận Hành bị kẹp cửa không, bị đánh mà không đánh trả? Nhưng nghĩ đến dáng người gầy gò của anh, cậu không nói gì thêm, chỉ giữ nguyên vẻ mặt cau có.
Cận Hành nói: "Tôi lên đây."
Văn Viêm: "Ừ."
Cận Hành kéo lại quai ba lô sắp tuột, xoay người bước vào con hẻm. Ánh trăng lạnh lẽo chiếu lên những vũng nước, phản chiếu ánh sáng lấp lánh. Anh chưa đi được mấy bước thì nghe giọng nói lười biếng kéo dài của Văn Viêm vang lên từ phía sau: "Này——"
Cận Hành quay đầu, tưởng cậu đổi ý muốn lên nhà ngồi: "Sao vậy?"
Xe của Văn Viêm đỗ ở đầu hẻm, cách anh một đoạn. Bên cạnh cậu là chiếc đèn đường hỏng, khiến Cận Hành không nhìn rõ biểu cảm của cậu. Một lúc sau, anh nghe cậu cất tiếng: "Từ nay về sau, tôi sẽ che chở cho cậu."
Câu nói này nếu dịch ra có nghĩa là: Từ nay về sau tôi sẽ bảo vệ cậu.
Câu này thường là đàn anh nói với đàn em, hoặc cấp trên nói với cấp dưới. Nhưng từ miệng Văn Viêm thốt ra, dường như lại nặng nề hơn hẳn, bởi vì những lời cậu nói nhất định sẽ làm được, giống như kiếp trước vậy.
Cận Hành ngẩn ra, khóe môi khẽ nhếch lên không tự giác hạ xuống, cuối cùng trở nên bình thản. Ngón tay anh nhẹ nhàng siết lại, không biết đang nghĩ gì.
Nói xong, Văn Viêm liếc nhìn Cận Hành một cái, không nói thêm gì, khởi động xe, như một cơn gió biến mất trong màn đêm. Tiếng động cơ dần tan đi, xung quanh yên ắng như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.
"..."
Cận Hành xoay người bước lên lầu, dáng điềm nhiên, ngay cả khi nhìn thấy vũng nước cũng không tránh. Hệ thống xuất hiện lặng lẽ, thân hình màu xanh lam như một chiếc đèn đường trong đêm, soi rõ lan can sắt và lối đi hẹp nơi cầu thang.
Hệ thống nói: [Học hành chăm chỉ, thi thật tốt, qua một năm nữa là có thể rời khỏi nơi này rồi.]
Đó là kết cục tốt nhất mà nó có thể tưởng tượng dành cho Cận Hành.
Cận Hành mỉm cười, lắc đầu đáp, giọng nói nhẹ nhàng nhưng mang vẻ b.ệnh ho.ạn: "Chẳng có gì thú vị."
Những điều hệ thống nói, kiếp trước anh đều đã làm, lặp lại một lần nữa, thật sự rất nhàm chán.
Hệ thống cảm thấy tư tưởng của Cận Hành là sai, nhưng lại nghĩ lỗi lầm này không nên đổ lên đầu anh. Vậy rốt cuộc là lỗi của xã hội hay lỗi của ai khác? Ba năm trung học bị bắt nạt, giống như dây cáp của cây cầu treo bị chặt đứt giữa chừng, khiến cuộc đời sau này của anh rơi xuống vực sâu thăm thẳm.
Hệ thống nhớ đến môi trường xung quanh Cận Hành, nghĩ đến những bạn học bên cạnh anh, đưa ra đề nghị: [Anh... có muốn thử đi con đường khác không?]
...
Chẳng bao lâu sau, điểm thi tháng vừa được công bố. Mọi người đều nghĩ rằng vị trí top 3 toàn khối hẳn vẫn thuộc về những học sinh giỏi của lớp Một và lớp Hai. Nhưng không ngờ, người luôn đứng đầu là Sầm Thanh Hoa lại bị đẩy xuống hạng hai, vị trí đầu tiên thuộc về một cái tên vô cùng xa lạ——
Lớp Sáu khối 11, Cận Hành.
Đây không phải là trò đùa đấy chứ?
Nhìn bảng điểm, ai nấy trong đầu đều nghĩ thế. Lớp Sáu nổi tiếng có thành tích kém, học sinh của lớp này mà vào được top 50 đã là kỳ tích, vị trí đầu tiên ư? Thật không khác gì truyện cổ tích.
Bảng thông báo của trường nhanh chóng chật kín người. Ai cũng đổ dồn ánh mắt vào điểm số của Cận Hành, rồi kinh ngạc nhận ra: ngoài môn Ngữ văn bị trừ vài điểm lẻ tẻ, các môn Toán, Anh và Tổ hợp tự nhiên của anh gần như đều đạt điểm tuyệt đối.
Cả trường lập tức bàn tán xôn xao: "Trời đụ mẹ, người lớp Sáu? Thật hay giả đây?"
"Giả thế nào được, nghe nói đề thi lần này còn do trường trung học số ba soạn, bên đó cũng không ai đạt điểm cao thế đâu."
"Quá đỉnh, gần như điểm tuyệt đối, trường mình có nhân vật lợi hại vậy sao?"
Người ngoài lớp đã bất ngờ, lớp Sáu càng như nổ tung. Không ai tin nổi chuyện này là thật. Đám học sinh hay gây rối như Bàng Nhất Phàm thì cười khẩy: "Chắc giáo viên chấm nhầm bài thôi."
"Đúng đấy, trước đây không phải chưa từng có chuyện như vậy."
Đường Quả, lớp trưởng, thường xuyên ra vào văn phòng giáo viên nên biết rõ nhất. Cô giải thích:
"Giáo viên tổ bộ môn đã kiểm tra bài thi của Cận Hành mấy lần, không có chuyện chấm sai đâu."
Bàng Nhất Phàm vẫn không tin, giọng nói lớn đến mức cả lớp đều có thể nghe rõ: "Thế thì là gian lận chứ gì."
Đường Quả nhíu mày: "Kỳ thi lần này là đề kín do hai trường cùng ra, không thể có chuyện lộ đề được. Giáo viên cũng không thể cầm đề trước, Cận Hành làm sao gian lận? Bàng Nhất Phàm, nói những lời như vậy thì phải có bằng chứng."
Đường Quả có mối quan hệ tốt với mọi người trong lớp, dù có kẻ ghen tỵ với thành tích của Cận Hành, nhưng cũng không ai dám công khai nói ra. Huống hồ, Bàng Nhất Phàm vốn là kẻ hay bắt nạt người khác, lần này trở thành đối tượng bị cả lớp công kích.
"Đúng vậy, ghen tị thì nói thẳng ra đi, bịa lý do làm gì."
"Chắc là không muốn thừa nhận người khác giỏi hơn mình thôi."
"Lần trước bài thi tiếng Anh của Cận Hành cũng rất cao, chắc cậu ấy tiến bộ thật rồi. Giờ nhìn xem, lớp 2 có Sầm Thanh Hoa thì còn gì để vênh váo nữa đâu."
Sắc mặt của Bàng Nhất Phàm trở nên khó coi thấy rõ.
Cận Hành vừa bị giáo viên chủ nhiệm gọi lên văn phòng, khi quay lại lớp thì thấy một đám người đang cãi nhau ầm ĩ. Tiếng ồn ào đến mức bên ngoài hành lang cũng nghe được, nhưng khi anh xuất hiện, đám đông lập tức im bặt, như thể bị ai bóp nghẹt cổ họng.
Tuần trước họp phụ huynh, Tưởng Thiếu Long bị cha mình đánh ngay trước mặt cả lớp. Nghe nói gã không chỉ giao du với đám du côn mà còn ăn trộm tiền ở nhà. Cảnh tượng lúc đó rất hỗn loạn, mấy thầy cô lao vào can ngăn cũng không được. Cuối cùng, sau một hồi khuyên nhủ, cha gã mới chịu rời đi. Chẳng bao lâu sau, Tưởng Thiếu Long bỏ học, không bao giờ trở lại nữa.
Còn có tin đồn rằng Cận Hành có mối quan hệ khá thân thiết với đám thanh niên bất hảo ở Sùng Minh. Dù thật giả thế nào, vẫn khiến người khác phải kiêng dè, chỉ có kẻ như Bàng Nhất Phàm là không sợ gì cả.
Cận Hành phớt lờ những ánh mắt nhìn mình, xem đồng hồ rồi quay về chỗ ngồi thu dọn sách vở. Hôm nay là kỷ niệm mười năm thành lập trường trung học số sáu, sáng tổ chức lễ kỷ niệm, đến mười giờ là kết thúc, sau đó nếu không có việc gì thì có thể về thẳng.
Những người khác không ai động đậy, chỉ đứng ngoài hóng chuyện. Đường Quả lại bước đến, chân thành nói: "Cận Hành, chúc mừng cậu đạt hạng nhất toàn khối nhé. Lúc tớ lên văn phòng nộp bài tập, còn nghe cô giáo Ngữ văn khen bài viết của cậu đấy."
Cận Hành mỉm cười, nhưng nụ cười ấy giống như chiếc mặt nạ, không chân thật: "Cảm ơn."
Đường Quả tò mò hỏi: "Vậy cô Dương vừa gọi cậu lên văn phòng làm gì thế?"
Cận Hành đeo cặp lên vai, tay cầm một bài thi đã được chấm điểm, góc trên bên phải chói mắt với con số tuyệt đối. Cậu nói qua loa: "Làm vài bài tập thôi."
Đám bạn trong lớp không tin vào thành tích của cậu, giáo viên khối cũng vậy. Cô Dương khá khéo léo, lấy một bài kiểm tra ngẫu nhiên, bảo anh làm ngay trước mặt. Kết quả, Cận Hành làm đúng toàn bộ, khiến cô không khỏi thở phào nhẹ nhõm, sau đó tươi cười động viên anh giữ vững phong độ, rồi mới để anh rời đi.
Đường Quả gật đầu, không hỏi thêm nữa.
Buổi trưa, Cận Hành cùng Nhan Na đi tìm Văn Viêm và nhóm bạn của cậu ta. Trên đường đến cổng trường nghề Sùng Minh, Nhan Na không ngừng than vãn, tay ôm mặt với vẻ ủ rũ, như thể trời sắp sập: "Sao cậu lại đạt hạng nhất toàn khối chứ?"
Cô đã lường trước được cảnh tượng khi thành tích hai người bị đem ra so sánh, và Từ Mãnh sẽ chế giễu cô như thế nào.
Cận Hành nghĩ, bài thi đó anh đã làm cách đây mười mấy năm rồi, giờ mà còn làm không tốt thì thật mất mặt. Nhìn thấy Văn Viêm và đám bạn của cậu vẫn chưa tan học, Cận Hành hỏi: "Chúng ta đợi bên ngoài sao?"
Nhan Na bước thẳng vào cổng trường mà không dừng lại, bảo vệ cũng không ngăn: "Đợi gì mà đợi, còn cả tiếng đồng hồ nữa. Từ Mãnh thì có tư cách gì để tôi đợi lâu như vậy chứ?"
Lớp của Văn Viêm và Từ Mãnh nằm ở khúc cua đầu tiên trên hành lang tầng ba. Đúng giờ giải lao, bên trong náo loạn như chợ vỡ, còn ồn ào hơn cả trung học số sáu. Ở góc hành lang, đâu đâu cũng thấy học sinh đứng hút thuốc.
Đây là lần đầu tiên Cận Hành bước vào bên trong Sùng Minh. Anh đảo mắt nhìn xung quanh một lượt, cuối cùng đứng cạnh cửa sổ lớp học, cách một lớp kính mỏng, anh quan sát tình hình bên trong. Nói sao nhỉ, không đến nỗi quá tệ, nhưng cũng chẳng khá hơn là bao.
Có lẽ do giờ giải lao không có giáo viên trông coi, học sinh tha hồ làm bậy. Có nhóm tụ tập đánh bài, có cặp đôi ôm ấp nhau, đủ loại hoạt động, hoàn toàn không có chút không khí học tập nào.
Cận Hành tìm từng hàng ghế một, cuối cùng phát hiện ra Văn Viêm đang ngồi gần cửa sổ. Trông cậu có vẻ rất mệt, nằm gục trên bàn ngủ, ánh sáng mặt trời chiếu qua làm mái tóc cậu ánh lên màu đỏ rượu vang nhạt.
Ừm... nhuộm tóc rồi à?
Nhan Na nói: "Hôm qua bọn họ nhuộm đấy."
Từ Mãnh thì nhuộm vài lọn tím, từ một anh chàng lạnh lùng ngầu lòi biến thành một kẻ sến súa. Nói thế nào nhỉ, tuổi trẻ luôn là khoảng thời gian của những lần thử nghiệm và trải nghiệm.
Nhan Na dường như rất quen thuộc với nơi này, khom người đẩy nhẹ cửa sau của lớp, đi vào một cách lặng lẽ. Có cậu con trai nhìn thấy cô, liền trêu đùa gọi "chị dâu." Từ Mãnh đang chơi game, nghe thấy động liền ngẩng đầu, bật ra một tiếng "ôi chao," rồi đuổi thẳng bạn cùng bàn, ngoắc tay kéo Nhan Na vào lòng: "Sao em đến đây?"
Cận Hành là gương mặt lạ. Khi anh theo Nhan Na vào lớp, không ít nữ sinh nhìn anh chằm chằm, ánh mắt không rời. Trường Sùng Minh có nhiều trai đẹp, nhưng phần lớn đều theo kiểu lưu manh phong trần. Còn vẻ sạch sẽ, rạng rỡ như Cận Hành thì hiếm lắm.
Văn Viêm không ngủ say, cậu luôn trong trạng thái mơ màng nửa tỉnh nửa mê. Xung quanh ồn ào như vậy, nếu muốn ngủ sâu, cậu phải uống thuốc ngủ mới được. Cảm giác được xung quanh bỗng yên ắng lạ thường, nhận ra có điều gì không đúng, cậu từ từ ngẩng đầu lên. Kết quả, cậu phát hiện Cận Hành không biết từ khi nào đã xuất hiện ngay trước mặt mình.
"..."
Văn Viêm có lẽ nghi ngờ mình bị ảo giác. Cậu dụi mặt một cái, lề mề nhìn anh, giọng nói còn chút ngái ngủ: "Cận Hành?"
Bàn bên cạnh của Văn Viêm trống vì bạn cùng bàn bị ốm xin nghỉ. Cận Hành nhìn thấy, liền đặt cặp xuống, ngồi xuống bên cạnh cậu. Nụ cười trên môi anh vừa ngây thơ vừa đáng yêu, đôi mắt trong trẻo: "Chiều nay tôi không có tiết học, nên đến tìm cậu. Nhan Na dẫn đường."
Nhan Na ngồi phía trước, quay lưng về phía Văn Viêm, giơ tay làm biểu tượng chiến thắng: "Không cần cảm ơn."
Thông thường, đều là Văn Viêm đến cổng trung học số sáu đợi Cận Hành. Lần Cận Hành đến Sùng Minh, quả thật ít đến mức có thể đếm trên đầu ngón tay.
Văn Viêm chậm rãi ngồi thẳng dậy, xoa nhẹ sau gáy. Cậu không ngờ Cận Hành lại đến đây: "...Đã đến rồi thì cứ ngồi chơi đi."
Dù sao thì lớp của cậu trốn học nhiều, thầy giáo lại lớn tuổi, chắc cũng không nhớ rõ ai là ai trong lớp. Đến lúc đó cúi đầu lặng lẽ dự giờ một tiết chắc cũng chẳng thành vấn đề.
Chương 135
Chủ nhiệm lớp của Văn Viêm là một người đàn ông hói đầu, hơn năm mươi tuổi, đeo kính lão. Cả lớp ngầm gọi ông ta là "Lưu hói". Tiếng chuông vào lớp vang lên, ông ôm một chồng giáo án bước vào, đám học sinh đang ồn ào cũng lập tức im bặt.
Nhìn qua, vị thầy này có vẻ khá khó tính.
Nhan Na chen vào một góc ngồi, trên bàn đặt một quyển sách để làm bộ, dùng tóc che khuất mặt, tránh bị phát hiện. Từ Mãnh ngồi bên cạnh cô, đưa tay xoa đầu cô một cái: "Đồ nhát gan."
Nhan Na: "Xì!"
Theo thói quen trước đây, tiết cuối buổi sáng Văn Viêm chắc chắn sẽ ngủ gật. Nhưng bất giác quay sang bên cạnh, cậu lại thấy Cận Hành – một tên "ngây thơ vô số tội" – đang ngồi nghiêm chỉnh. Văn Viêm đưa tay ấn đầu anh xuống, giọng lười nhác: "Học sinh gương mẫu, cậu khiêm tốn chút đi."
Có tên học dốt nào mà lại ngồi thẳng lưng như thế, sợ thầy giáo không phát hiện ra chắc?
Trên ngón trỏ của Văn Viêm đeo một chiếc nhẫn bạc, áp sát da thịt, cảm giác lạnh lẽo. Cận Hành vô thức cử động cổ, sau đó thuận thế cúi xuống bàn, nghiêng đầu nhìn cậu: "Có sách không?"
Tên này còn định đọc sách à?
Sách của Văn Viêm đều nhét trong ngăn bàn, mới tinh, gần như chưa từng động vào. Cậu nhíu mày, lục lọi hồi lâu rồi tùy tiện ném một quyển sách toán lên bàn Cận Hành: "Cầm đi."
Cuốn sách này nằm trong ngăn bàn đã lâu, mép giấy nhăn nhúm, nhưng chẳng có dấu vết nào cho thấy từng được lật mở. Vừa cũ vừa mới. Giáo trình của trường nghề với trung học số sáu có đôi chút khác biệt. Cận Hành liếc nhìn mục lục, lật từng trang một, dáng vẻ nghiêm túc.
Lưu hói vặn nắp cốc, uống một ngụm trà đặc rồi bảo học sinh mở sách ra. Ông bắt đầu giảng bài, mặc dù bên dưới chẳng mấy người chú ý, nhưng ông vẫn nói rất hăng say.
Cận Hành từ ngăn bàn lấy ra một cây bút nước, thử xem có mực không, sau đó đánh dấu hết những nội dung quan trọng trong sách theo yêu cầu của Lưu hói. Hàng ghế phía trước còn tạm, nhưng hai ba hàng ghế sau toàn học sinh cá biệt, chỉ mỗi anh là đang học bài.
Văn Viêm lười biếng tựa vào ghế, nhìn anh hồi lâu. Ban đầu cậu nghĩ Cận Hành sẽ nói chuyện với mình hoặc làm gì đó, nhưng anh lại chỉ cúi đầu nghe giảng. Văn Viêm đá vào ghế của anh, giọng có chút khó chịu: "Này—"
Cận Hành ngẩng lên: "Hửm?"
Văn Viêm giọng chẳng mấy thiện cảm: "Cậu đến đây nghe giảng hay làm gì vậy?"
Giáo viên ở trung học số sáu không đủ sức dạy cậu chắc, phải lặn lội tới trường nghề tồi tàn này học tập?
Cận Hành đáp: "Đến để chơi với cậu thôi."
Anh nói câu này bằng giọng điệu rất bình thản, cây bút trong tay xoay hai vòng linh hoạt, chẳng có vẻ gì là không tự nhiên. Đôi mắt đen sạch sẽ phản chiếu rõ ràng hình bóng của Văn Viêm, thoáng chút ý cười nhàn nhạt.
Chơi với cậu?
Văn Viêm khẽ nâng mí mắt, đôi mắt đen nhiều hơn trắng, thoạt nhìn chẳng phải hạng tử tế, nhướng mày hỏi: "Ông đây cần cậu đến chơi chung à?"
Chơi cái gì mà chơi, rõ ràng suốt buổi chỉ chăm chăm vào sách.
Có lẽ dáng vẻ của Văn Viêm trông như sắp kiếm chuyện, một nam sinh không quen ngồi gần đó tò mò quay sang, có vẻ hứng thú: "Ô, người ngồi cạnh Văn Viêm là ai vậy? Chưa từng thấy qua, học sinh mới à?"
Từ Mãnh đang nhai kẹo cao su, nghe vậy cũng chẳng buồn ngoảnh lại, đáp: "Đàn em mới nhận, người trung học số sáu đấy."
Nam sinh kia cười cười, đánh giá Cận Hành từ trên xuống dưới: "Cũng được đấy, trông giống học sinh gương mẫu."
Văn Viêm lười biếng đặt tay lên lưng ghế của Cận Hành, không hài lòng với ánh mắt người khác dán vào. Cậu vòng tay khoác qua cổ anh, kéo anh vào lòng, rồi nghịch đầu tóc anh như đang bắt nạt trẻ con, cười như không cười: "Học sinh gương mẫu? Đừng đùa, thành tích tệ lắm."
Câu này là Nhan Na từng nói. Lúc này, cô đang ngồi ở hàng ghế trước uống nước, nghe thấy liền bị sặc hai ngụm, ho đến đỏ bừng mặt, không dám hé răng.
Cận Hành bị ép dựa vào người Văn Viêm đầy mùi thuốc lá. Sau một thoáng kháng cự vô ích, anh lặng lẽ chấp nhận, đầu tựa lên cằm cậu, bên tai là nhịp tim mạnh mẽ của đối phương, vô thức mang lại cảm giác an toàn không lời, khiến người ta cảm thấy đáng tin cậy.
Cảm giác an toàn?
Cận Hành khép mắt, đầu ngón tay không tự chủ nắm chặt lại, rất lâu cũng không thể thả lỏng hoàn toàn. Bốn chữ này đối với anh đã quá xa vời, quá lạ lẫm, đến mức khó mà thích nghi.
Anh nghe thấy lời của Văn Viêm, chớp mắt, chậm rãi nói: "Tôi không tệ như cậu nói."
Văn Viêm nhướng mày nhìn anh. Mái tóc nhuộm đỏ rượu sẫm, trông ngấm ngầm hợp với tính cách kiêu ngạo của cậu. Chiếc khuyên tai đính đá đen dưới ánh mặt trời lấp lánh nhẹ, đường nét xương hàm sắc sảo, dáng vẻ uể oải nhưng đẹp trai theo cách rất áp đảo. Cậu bật cười khinh khỉnh: "Cậu nói không tính."
Nói xong thì buông Cận Hành ra, hoàn toàn không chú ý tới Nhan Na đang co rúm người lại, bóng lưng nhỏ bé, yếu đuối và đầy bất lực.
#Cầu xin đừng bàn về chủ đề này nữa huhu#
Cận Hành vốn không nên trẻ con như thế ở cái tuổi tâm lý ba mươi lăm của mình, nhưng thấy Văn Viêm không tin, anh mở cặp, kéo khóa, lấy ra bảng điểm mới tinh, nhẹ nhàng đặt trước mặt cậu.
Văn Viêm chậm rãi cúi đầu: "Cái gì đây?"
Cận Hành: "Bảng điểm thi tháng."
Thành tích của Văn Viêm tuy không tốt, nhưng chữ thì vẫn biết đọc. Cậu liếc nhìn bảng xếp hạng trên cùng, tên Cận Hành đứng ở vị trí đầu tiên. Những tờ phiếu điểm bên dưới gần như đạt điểm tuyệt đối, thành tích vượt trội đến mức bi.ến th.ái: "..."
Cậu cầm bảng điểm lên soi trước ánh sáng, không thấy dấu vết chỉnh sửa, cũng không giống hàng giả, khẽ xuýt xoa: "Nhan Na không phải nói thành tích cậu rất tệ sao?"
Tệ đến mức đứng nhất toàn khối?
Từ Mãnh nghe thấy bọn họ nói chuyện, lập tức hứng thú, rút luôn bảng điểm trong tay Văn Viêm: "Hả? Nhất khối? Tụi em thi tháng xong rồi à?"
Câu sau là hỏi Nhan Na.
Nhan Na đứng thứ ba từ dưới lên trong toàn khối, thứ năm từ dưới lên trong cả lớp, căn bản không dám lên tiếng: "..."
Từ Mãnh lướt qua bảng xếp hạng, ngay lập tức nhìn thấy tên Cận Hành đứng đầu. Hắn ngạc nhiên buột miệng chửi hai câu, tiếp tục tìm kiếm tên Nhan Na. Mắt nhìn đến hoa cả lên mà vẫn chẳng thấy đâu, cuối cùng lật sang mặt sau, mới phát hiện tên cô: "Tôi đệch."
Từ Mãnh nghi ngờ cuộc đời: "Em thi mà uống rượu đến hỏng cả não à?"
Nhan Na xấu hổ, nổi giận: "Cút, dù tệ thế nào cũng còn hơn anh thi được cái trứng ngỗng!"
Hai kẻ tám lạng, nửa cân, kẻ tám lạng đừng cười kẻ nửa cân.
Văn Viêm cười đến không ngừng được, đôi chân dài duỗi thẳng, khoác tay lên vai Cận Hành, mang theo thái độ khích lệ của đàn anh với đàn em: "Tốt lắm, tiếp tục phát huy, cố gắng thêm nữa nhé."
Cận Hành liếc sang nhìn cậu, khẽ mỉm cười, nụ cười mang chút đùa bỡn của mèo vờn chuột và sự tự tin chắc chắn: "Nếu tôi thi tốt thì có thưởng không?"
Văn Viêm không suy nghĩ nhiều: "Cậu muốn gì?"
Cận Hành hơi nghiêng người, ghé sát tai Văn Viêm, động tác này giống như muốn nói nhỏ, cũng giống như cố ý tránh giáo viên, hơi thở ấm áp phả vào cổ, vừa mập mờ vừa quyến rũ, khiến xương cụt của Văn Viêm bỗng dưng ngứa ngáy kỳ lạ, da đầu cũng tê dại.
Cận Hành nói: "Tôi muốn..."
Văn Viêm dựng tai lên nghe.
Cận Hành hạ giọng, cười hỏi: "Cậu đồng ý hết chứ?"
Văn Viêm nghĩ thầm, Cận Hành có thể đòi gì được chứ: "Cậu nói trước đi."
Cận Hành lại bảo: "Tối nay nói."
Anh dường như cố ý để người khác chờ đợi, nói xong liền ngồi thẳng lại, dáng vẻ bình tĩnh nghiêm túc, cúi đầu tiếp tục ghi chép, như thể chuyện vừa rồi chưa từng xảy ra.
Văn Viêm: "..."
Cái lùm mía.
Thầy Lưu hói trên bục giảng vừa nói xong cách giải bài mới trong đơn vị, nghỉ một chút rồi viết một bài tập lên bảng, ánh mắt quét qua cả lớp, cuối cùng dừng lại ở hàng cuối, đẩy kính lão, nhìn tên trên bảng chỗ ngồi: "Từ Mãnh... là Từ Mãnh đúng không? Lên đây giải bài này đi."
"Phụt—"
Mấy hàng sau vang lên một tràng cười khẽ, rõ ràng là đám bạn bè thân thiết.
Từ Mãnh cũng không ngờ mình xui xẻo đến mức này, bị thầy gọi trúng ngay, đứng dậy, còn chẳng cần lên bục nhìn bài: "Thầy, em không biết."
Thầy Lưu hói đã đoán được, mấy hàng sau chẳng có mấy đứa chịu nghe giảng, giọng trầm xuống: "Cậu thật thà đấy, không biết thì đứng đó đi."
Nhan Na bên cạnh cười đến chảy cả nước mắt, chưa kịp lấy giấy lau đã nghe thầy Lưu hói nói: "Cô bé ngồi cạnh, lên đây giải bài này."
Nhan Na: "!!!"
Tiếng cười xung quanh càng rõ ràng hơn, Nhan Na chậm chạp đứng dậy, đành cứng đầu đi lên. Cô nhìn bài trên bảng hồi lâu, cuối cùng xác định mình không làm được, nhỏ giọng nói: "Thầy, bài này em không hiểu lắm..."
Thầy Lưu hói: "Đứng đó."
Văn Viêm ở phía sau vui sướng khi thấy người gặp họa, Cận Hành không nhịn được nhìn cậu một cái, lần đầu tiên cảm thấy cậu ngốc, khẽ nhắc: "Hình như tiếp theo là cậu đấy."
Văn Viêm nghẹn lại, không cười nổi nữa, vì thầy Lưu hói quả nhiên gọi cậu: "Cậu tóc đỏ sau cậu tóc tím kia, đứng lên, bài này cậu tính ra bằng bao nhiêu rồi?"
Cái gì mà tóc tím, sau đó là tóc đỏ??!
Văn Viêm nghe thầy bảo mình là tóc đỏ, mí mắt giật một cái, kéo ghế đứng dậy, không biết sao lại có cảm giác quang minh chính đại, định nói mình không biết, thì nghe Cận Hành thấp giọng bảo: "Đáp án là 7."
Văn Viêm liếc anh một cái, nói với thầy Lưu hói: "...7."
Thầy Lưu hói có lẽ không ngờ cậu thật sự tính ra, hơi bất ngờ đẩy gọng kính, dùng thước chỉ vào bài khác trên bảng: "Vậy bài này thì sao?"
Cận Hành ở bên cạnh tiếp tục làm quân sư quạt mo: "Căn bậc hai của 3."
Văn Viêm: "Căn bậc hai của 3."
Thầy Lưu hói gật đầu, cuối cùng cũng hài lòng: "Ừ, ngồi xuống đi."
Văn Viêm nhướn mày, nghĩ thầm, chẳng lẽ Cận Hành thật sự là học bá?
Thầy Lưu hói bình thường rất ít gọi học sinh ở hàng sau, vì có gọi cũng không trả lời được, chủ yếu là do Từ Mãnh và Văn Viêm nhuộm tóc quá nổi, một đứa đầu tím, một đứa đầu đỏ, chen chúc ngồi với nhau, nhìn mà bực mình.
Từ Mãnh đứng trên bục, lẩm bẩm: "Ông ấy ghen tị vì chúng ta nhiều tóc hơn."
Tối nay Văn Viêm không đi xe máy, lúc mọi người tan học, ai về nhà nấy, cậu đi cùng Cận Hành. Buổi tối oi bức, nóng đến toát mồ hôi, có làn gió thổi qua mới mát hơn chút.
Văn Viêm ngậm điếu thuốc, bật lửa châm một cách thành thạo, nghĩ tới chuyện ban ngày Cận Hành nói về phần thưởng, ngừng lại, nhướn mày hỏi: "Cậu muốn gì?"
Cận Hành lặng lẽ bước bên cạnh cậu: "Muốn gì cơ?"
Văn Viêm: "Đừng giả ngu."
Nghe vậy, Cận Hành dừng bước, cười một cách đầy ẩn ý, thấy trên đường có người đi qua, để khỏi cản đường, kéo Văn Viêm vào một con hẻm nhỏ, góc khuất trở thành nơi che chắn tốt nhất cho hai người.
Cận Hành vô hình chung ép Văn Viêm vào tường, dáng người cao gầy dù gầy nhưng cũng mang lại cảm giác áp bức khiến tim đập nhanh. Đây là lần đầu tiên Văn Viêm bị người khác chặn theo cách này, cảm thấy hơi kỳ lạ: "Có gì thì nói."
Cận Hành khẽ cười: "Tôi muốn hỏi cậu một câu trước."
Văn Viêm hất mí mắt: "Hỏi đi."
Cậu luôn mang vẻ mặt ngạo mạn, đến mức Cận Hành có lúc bất giác nhớ lại kiếp trước, khi mình đè cậu xuống giường mà làm đến mức tận cùng, khiến khóe mắt cậu đỏ bừng, giọng khàn đặc, xương, da, thịt, máu, tất cả đều như cây anh túc, khiến người ta nghiện...
Thật ra, Cận Hành không phải người kiên nhẫn, anh cúi đầu, lại gần Văn Viêm: "Dạo này, tôi biểu hiện thế nào?"
Ý anh là chuyện chuyển từ thực tập sang chính thức.
Chương 136
Văn Viêm ngẩn ra một giây mới phản ứng được anh đang hỏi cái gì, ném điếu thuốc xuống đất, dập tắt, rồi cho tay vào túi, dựa vào tường nói: "Còn nhớ hôm tôi đưa cậu về nhà, nói gì không?"
Cận Hành khẽ "ừm" một tiếng: "Nhớ."
Văn Viêm đã nói, sau này cậu sẽ bảo vệ mình...
Đó chính là câu trả lời, nếu không coi Cận Hành là đàn em, Văn Viêm việc gì phải bảo vệ cậu ta, dáng vẻ lười biếng dựa vào tường, ánh mắt kiêu ngạo: "Biểu hiện của cậu? Miễn cưỡng coi là đạt yêu cầu."
Cận Hành khẽ cười: "Nhưng tôi thấy cậu không thiếu đàn em."
"Đúng là không thiếu," Văn Viêm bấy giờ mới nhận ra điều gì, ngẩng đầu nhìn anh, nhướn mày, khó đoán được cảm xúc, "Sao nào, không muốn làm đàn em của tôi nữa à?"
Văn Viêm nghĩ đến thành tích của Cận Hành, lại cảm thấy cũng không phải chuyện gì quá bất ngờ. Dù sao học sinh xuất sắc hiếm khi chơi chung với những kẻ phá phách, giáo viên đã không ưa gì đám thiếu niên bất lương chuyên đánh nhau, trốn học như bọn họ. Cận Hành dù bề ngoài không thể hiện gì, nhưng biết đâu trong lòng cũng xem thường bọn họ.
Nhận thức này khiến Văn Viêm vô thức nhíu mày, cậu đứng thẳng người, muốn đẩy Cận Hành ra. Nhưng đối phương lại nắm lấy tay cậu, chính xác hơn là không phải nắm, mà là đan chặt tay vào nhau.
Mười ngón tay siết chặt, lòng bàn tay áp vào nhau, một bên lạnh, một bên nóng rực.
Cận Hành xác nhận một sự thật, giọng nghiêm túc: "Tôi đã nói rồi, tôi theo cậu."
Văn Viêm rất ít khi khoác vai bá cổ với bạn nam, càng không nói đến cái việc chết tiệt này – đan tay. Trong lòng cậu bất giác hoảng loạn, cảm thấy hôm nay Cận Hành có gì đó không đúng, liền ra sức muốn thoát ra. Nhưng chưa kịp hành động, vai cậu đã bất ngờ bị giữ chặt, cả người bị ép vào bức tường xi măng thô ráp lạnh lẽo.
Cận Hành ngừng lại một chút, rồi tiếp tục nói: "Nhưng không phải loại 'theo' mà cậu nghĩ."
Văn Viêm trong lòng thầm chửi thề. Đây là lần đầu tiên trong đời cậu bị người ta kabedon: "Vậy là loại theo nào..."
Câu nói còn chưa dứt, một cảm giác ấm áp đã phủ lên môi cậu. Trước mắt xuất hiện khuôn mặt phóng đại của Cận Hành. Đồng tử cậu co lại, sững người tại chỗ, đầu óc trống rỗng, như bị sét đánh, cả người đờ đẫn.
Đó là một nụ hôn dịu dàng, không mang bất kỳ sự chiếm đoạt nào. Nó giống hệt vẻ ngoài của Cận Hành, sạch sẽ và vô hại. Chỉ là đôi môi chạm vào nhau, ngoài ra không có động tác thừa thãi nào. Trong thoáng chốc, Cận Hành từ từ rời đi. Gió lạnh ùa vào đầu con ngõ nhỏ, thổi tung gấu áo họ, vang lên những âm thanh phần phật.
Cận Hành cúi thấp ánh mắt, đồng tử đen láy sáng ngời, làn da trắng trẻo như một khối ngọc mực thượng hạng, nhưng đôi môi lại phơn phớt sắc đỏ. Anh chống tay bên người Văn Viêm, thân hình cao lớn chặn hết mọi con đường thoát ra, mang theo vài phần ý tứ bắt buộc. Giọng nói trầm thấp: "Cậu... có thiếu bạn trai không?"
Không phải đàn em, mà là bạn trai.
Chú cừu non vô hại đó dường như cuối cùng đã gỡ bỏ lớp ngụy trang, lộ ra bộ móng vuốt sắc bén bên trong, khao khát chờ thời cơ hành động.
Văn Viêm chưa từng nói với ai về xu hướng tính d.ục của mình. Nghe thấy lời của Cận Hành, đây là lần đầu tiên trong đời cậu cảm thấy kinh hoàng. Trên môi cậu vẫn còn lưu lại sự ấm áp nhẹ nhàng từ nụ hôn vừa rồi của Cận Hành, cảm giác lạ lẫm khiến cậu sợ hãi. Đầu óc vì nụ hôn bất ngờ đó mà vang lên những tiếng ù ù như dây đàn bị đứt, chẳng thể gom lại chút lý trí nào, cả người cứng đờ.
Cận Hành...
Cận Hành vừa rồi đã hôn cậu?
Cậu ta dám sao?!
Văn Viêm đến cả hơi thở cũng không thể kiểm soát nổi, bỗng dưng thấy con ngõ này trở nên chật hẹp đến mức không khí cũng loãng đi. Tay cậu run rẩy, chẳng thể gom lại chút sức lực nào, rõ ràng hoảng loạn đến mất phương hướng. Chỉ có Cận Hành vẫn đứng im trước mặt cậu, chặn hết ngọn gió từ đầu ngõ ùa vào, chặn luôn chút ánh sáng yếu ớt từ đèn đường chiếu xuống.
Họ dường như đã phạm phải một điều cấm kỵ mà cái tuổi này không nên phạm phải.
Chỉ nghe "bịch" một tiếng nặng nề, Cận Hành bị đẩy ngược ra bức tường đối diện. Anh lùi mấy bước, khó khăn lắm mới đứng vững, nhưng ngay sau đó đã thấy Văn Viêm chẳng thèm quay đầu lại mà chạy ra khỏi con ngõ, bước chân hoảng loạn, bóng lưng đầy chật vật.
Cận Hành đứng yên tại chỗ, ngẩng đầu nhìn theo bóng lưng rời đi của cậu. Một lúc lâu sau, anh mới bước ra khỏi con ngõ, từ trong bóng tối dần hiện ra. Hệ thống từ màn đêm bay ra, dừng lại trên vai Cận Hành:【Anh vẫn chọn con đường giống như kiếp trước...】
Nhưng rất đáng tiếc, xem ra lần này Cận Hành đã làm hỏng chuyện.
Có thể dọa tên đầu sỏ nhóm thiếu niên bất lương của trường Sùng Minh chạy trối chết, không thể không nói đó cũng là một loại bản lĩnh.
Giọng của hệ thống vẫn mang theo cảm giác máy móc cứng nhắc. Dù cho có vẻ ôn hòa, dễ gần, nhưng cũng là cài đặt từ chương trình, giống như giọng nói của nhân viên tổng đài tự động, lịch sự một cách không thật.
Cận Hành không cảm xúc quay đầu lại, một lúc sau, anh lên tiếng, giọng điệu không chút cảm xúc: "Cậu đang hả hê."
Là câu khẳng định, không phải câu hỏi.
Hệ thống đang vỗ cánh đột nhiên khựng lại một chút, rồi tiếp tục động đậy: 【Một chút xíu.】
Nó thật thà và thẳng thắn.
"Nhưng cậu vui mừng quá sớm rồi." Cận Hành bước qua vũng nước trên đất, dáng vẻ cúi đầu rất yên tĩnh, che giấu hết những sóng ngầm trong mắt, từng chữ một, giọng khẽ khàng: "Cậu ấy sẽ quay lại thôi."
Cậu ấy sẽ quay lại thôi, Cận Hành chắc chắn như thế...
Giống như mặt trời mọc ở đằng Đông, lặn ở đằng Tây, giống như con người ngày ngày già đi, từng bước một đi đến cái chết, như con thiêu thân lao mình vào ánh lửa. Và cuối cùng, Văn Viêm cũng sẽ ở lại bên cạnh anh, âm thầm tuân theo sự sắp đặt của số phận.
Kiếp trước là như vậy, kiếp này cũng không thay đổi. Hoặc có lẽ, điều đó có thể gọi là định mệnh.
Cận Hành từng bước đi về nhà, dùng đầu ngón tay chạm vào môi mình. Một lúc lâu sau, anh mới chậm rãi thu tay lại. Cảm giác ấm áp đó so với nhiệt độ cơ thể hơi cao hơn một chút, giống như người đi trong gió tuyết gặp được một đống lửa trại, đứng bên cạnh thật lâu, mới dần nhận ra được sự ấm áp.
Hiện giờ đã rất khuya, trong những khu chung cư xung quanh, chỉ còn lại lác đác vài ngôi nhà còn sáng đèn. Cận Hành bước lên lầu, giống như mọi ngày dùng chìa khóa mở cửa. Nhưng khi nhìn thấy đống hộp trong hành lang bị ai đó đá văng ra, nằm lộn xộn khắp nơi, động tác mở cửa của anh vô thức dừng lại.
Bản năng nhạy bén khiến anh ngửi được mùi nguy hiểm.
Hệ thống lên tiếng: 【Bên trong không có ai.】
Cận Hành nhìn nó một cái, sau đó mới dùng chìa khóa mở cửa.
Căn nhà này tuy không có nhiều đồ đạc, nhưng thường ngày đều được sắp xếp gọn gàng. Thế mà hôm nay lại có vẻ hơi bừa bộn, dép lê nằm lăn lóc, ngăn kéo bị kéo hờ, ga giường nhăn nhúm, trông giống hệt vừa bị trộm ghé thăm.
Hệ thống ngạc nhiên kêu lên:【Nhà anh bị trộm rồi kìa!】
Có lẽ vì đây là lần đầu tiên gặp chuyện như thế, nó trông chẳng khác nào một tên nhà quê chưa từng thấy sự đời.
Cận Hành kiểm tra một lượt ngăn kéo, sau đó cúi người nhìn dưới gầm giường, rồi liếc mắt đến chiếc tủ quần áo bị lục tung. Ánh mắt cuối cùng dừng lại ở dấu chân nhạt màu trên sàn, anh im lặng rất lâu, đáy mắt tối tăm, cuối cùng khẽ bật ra một tiếng cười lạnh, ý vị không rõ: "Nhà tôi chẳng có gì đáng để trộm cả."
Anh không tiếp tục tìm kiếm, chỉ lục lọi trong ngăn kéo lấy ra một ổ khóa cũ kỹ, khóa chặt cửa từ bên trong, như thể giữa đêm khuya sẽ có vị khách không mời nào đó xông vào. Mu bàn tay của anh ẩn ẩn nổi lên đường gân xanh.
Hệ thống có thể cảm nhận được rằng, dưới vẻ ngoài bình tĩnh của Cận Hành đang có thứ gì đó bị anh cố sức kiềm nén. Như là sự giận dữ, cũng như là căm ghét, trộn lẫn với sự chán ghét khắc sâu trong xương tủy, cuối cùng hóa thành một loại cảm xúc phức tạp khó tả.
Đêm nay định sẵn không ngủ được.
Sáng sớm hôm sau, khi Từ Mãnh đang trên đường đến trường thì gặp Văn Viêm. Một tay hắn cầm bóng, một tay vỗ vai Từ Mãnh, tỏ vẻ thắc mắc: "Ê, hôm nay sao mày đến sớm thế?"
Văn Viêm quay đầu lại, làm Từ Mãnh giật nảy mình. Chỉ thấy đôi mắt cậu đỏ ngầu, hai quầng thâm rõ mồn một, vừa nhìn là biết tối qua không ngủ được bao nhiêu. Từ Mãnh xuýt xoa: "Đêm qua mày đi ăn trộm à?"
Văn Viêm vò vò mái tóc rối bù, trông có vẻ bực bội, thấp giọng buột miệng chửi thề: "Mẹ kiếp."
Từ Mãnh tung quả bóng trong tay vài lần, bật cười: "Mẹ kiếp thật đấy, tao thấy mày y như pháo ấy, châm vào là nổ liền. Tao trêu gì chọc gì mày, sáng sớm đã chửi mẹ tao."
Văn Viêm nhíu mày: "Không chửi mày."
Cậu kéo quai cặp sách sắp tuột xuống, tiếp tục bước về phía trước, nhưng bị Từ Mãnh kéo lại: "Ê ê ê, mày định đi đâu thế? Trường trung học số sáu bên kia cơ mà."
Sáng nào Từ Mãnh cũng đến cổng trung học số sáu để gặp Nhan Na, tiện thể cùng ăn sáng. Xem như là thú vui nhỏ giữa các cặp đôi, tuy nhìn thì có vẻ dở hơi, nhưng bản thân Từ Mãnh không thấy phiền, người khác cũng chẳng buồn nói gì. Nhưng từ khi Văn Viêm nhận Cận Hành làm đàn em, cái hành vi dở hơi ấy biến thành hai người cùng nhau làm.
Những lúc rảnh rỗi, Văn Viêm thường đi cùng Từ Mãnh đến trung học số sáu.
Văn Viêm nói: "Tao đâu phải học sinh trung học số sáu, mày muốn thì tự đi đi."
Từ Mãnh thấy cậu có vẻ bệnh nặng lắm, khó hiểu hỏi: "Chậc, lời này mày nói nghe buồn cười vãi, ai mấy hôm trước còn nhiệt tình chạy tới trung học số sáu iên tục cơ chứ? Sao rồi, không quản thằng em mày nữa à?"
Hắn vừa tung bóng vừa cười, rõ ràng mang ý trêu chọc. Nhưng vừa nhắc đến Cận Hành, Văn Viêm liền nhớ đến chuyện tối qua, dù có muốn không chửi thề cũng không nhịn được, lạnh giọng đáp: "Con bà mày thì biết cái quái gì!"
Từ Mãnh thắc mắc: "Rốt cuộc mày làm sao thế?"
Hết chửi mẹ lại chửi bà.
Văn Viêm có thể kể cho Từ Mãnh nghe rằng tối qua mình bị thằng em đàn áp lên tường hôn sao? Đương nhiên là không thể. Cậu bực bội vò đầu hai cái, chẳng biết nói gì, đành bịa đại: "Tao đau bụng, mày tự đi đi."
Từ Mãnh chưa kịp nói gì, thì phát hiện bên đường không xa có người quen, liền chỉ tay cho Văn Viêm xem:
"Ê, đúng lúc quá, đàn em mày đến tìm kìa."
Văn Viêm bỗng khựng lại, mãi sau mới từ từ ngẩng đầu nhìn. Quả nhiên thấy dưới tán cây có một dáng người cao ráo, áo khoác đồng phục xanh trắng đính phù hiệu trung học số sáu, vẻ ngoài tuấn tú sạch sẽ, không phải Cận Hành thì là ai?
Xong đời.
Trong đầu Văn Viêm chỉ hiện lên hai chữ đó, người như hóa đá.
Cận Hành rõ ràng đứng đây đã lâu, vừa thấy bọn họ liền bước tới. Từ Mãnh cười như có ý gì đó, cảm thấy tình huống này khá thú vị: "Sô-cô-la mở cửa cho sô-cô-la, đúng là trùng hợp ghê. Sáng sớm, cậu chạy tới đây làm gì?"
Từ trung học số sáu tới Sùng Minh hoàn toàn ngược hướng.
Cận Hành gật đầu một cái, vẻ mặt bình thản, không nhìn ra bất kỳ cảm xúc nào: Tôi tìm Văn Viêm."
Từ Mãnh chỉ tay ra phía sau: "Nó ở ngay sau lưng... Ủa, đâu rồi?!"
Hắn quay đầu lại thì chỉ thấy chỗ lúc nãy trống không, Văn Viêm đã sớm biến mất không dấu vết, chạy nhanh như thể có sói đuổi sau lưng.
"Bốp" một tiếng, quả bóng trong tay Từ Mãnh rơi xuống đất. Từ trước tới nay, chỉ có người khác sợ bọn họ, chưa từng thấy bọn họ sợ ai. Văn Viêm từng một chọi năm còn chẳng biết sợ là gì, giờ lại bị Cận Hành dọa chạy mất dạng. Nếu để đám du côn khác biết, chắc sẽ rớt cả cằm, chuyện này mà lan truyền ra ngoài thì ai tin nổi chứ.
Từ Mãnh chậm rãi quay đầu nhìn Cận Hành, đánh giá anh từ trên xuống dưới một lượt, trong lòng nghĩ chẳng lẽ đây là một cao thủ giấu nghề? Do dự hỏi: "Cậu... đánh Văn Viêm à?"
Đánh cho cậu ta sợ luôn?
Tác giả có lời muốn nói:
Cận Hành: Tôi chỉ hôn một cái thôi mà?
Chương 137
Từ Mãnh vừa hỏi vừa cảm thấy không đáng tin. Cận Hành tay chân nhỏ nhắn thế kia, làm sao đè Văn Viêm ra mà đánh được? Hơn nữa, Văn Viêm đâu phải dạng bị đánh vài lần liền sợ mà bỏ chạy?
Từ Mãnh tò mò đến ngứa ngáy, gặng hỏi: "Sao cậu ấy phải trốn cậu?"
Cận Hành vốn quen mang dáng vẻ vô hại, nghe vậy thì mím môi, lắc đầu đáp: "Tôi không biết."
Tuy cách ví von này hơi kỳ lạ, nhưng Từ Mãnh cảm thấy Cận Hành giống hệt như một "cô vợ nhỏ chịu ấm ức". Nghĩ lại cái tính nóng nảy của Văn Viêm, chuyện này cũng không phải là không có khả năng. Hắn nhặt bóng lên, không biết khuyên gì, tự nhiên thấy mình rất lúng túng: "Thôi thì..."
Từ Mãnh chậc lưỡi: "Cậu ấy chỉ cái tính xấu vậy thôi, tan học là hết mà."
Mắt Cận Hành sáng lên: "Thật không?"
Từ Mãnh: "...!"
Dĩ nhiên là không. Ai mà chẳng biết Văn Viêm rất hay thù dai.
Từ Mãnh nghĩ thầm, đúng là không nên xen vào chuyện này. Hắn nảy bóng hai cái, đối diện với ánh mắt ngây thơ của Cận Hành, bỗng dưng cảm thấy áy náy, không tự giác lùi lại hai bước: "Ờm... Nhan Na còn đang đợi tôi, tôi đi trước đây."
Hai "ông trùm trường Sùng Minh" thế mà lại bị Cận Hành dọa cho chạy mất dạng.
Sau đó, trong một khoảng thời gian, Văn Viêm luôn cố tình tránh mặt Cận Hành. Trung học số sáu lại đang bận rộn chuẩn bị phân ban cho học sinh lớp 12, ngày nào cũng thi cử liên tục, khiến Cận Hành bận đến mức không thể rời đi. Hai người đã rất lâu không nói chuyện, cũng không gặp mặt, rơi vào một kiểu quan hệ kỳ lạ.
"Cậu với Viêm ca bị gì thế, sao lâu vậy rồi không nói chuyện?"
Đến cả Nhan Na – người vô tâm vô tư – cũng cảm thấy kỳ lạ. Trước đây, ngày nào Văn Viêm cũng dẫn đám bạn bè lông bông tới cổng trung học số sáu lượn lờ, ăn trưa cùng nhau, tan học cùng về. Nhưng mấy ngày gần đây, cậu hầu như không xuất hiện, mà Cận Hành cũng im lặng đến lạ kỳ.
Tiết này là tiết thể dục, thầy giáo bảo học sinh tự do hoạt động. Cận Hành ngồi trên khán đài sân bóng, không tham gia gì cả, chỉ đặt quyển sách lên đầu gối làm bài tập. Nghe Nhan Na hỏi, anh ngẩng đầu nhìn cô một cái, im lặng một lúc rồi đáp: "Cậu ấy không thèm để ý đến tôi nữa."
Giọng điệu rất bình thản, như đang tường thuật một sự thật.
Nhan Na nghĩ, sao câu này nghe như "cô vợ nhỏ chịu ấm ức" vậy. Trong lòng cảm thấy kỳ lạ, nhưng không nói ra được kỳ lạ chỗ nào, càng nghĩ càng không hiểu: "Tại sao cậu ấy không để ý đến cậu?"
Cận Hành cúi đầu tiếp tục làm bài, vừa làm vừa đáp lời: "Ồ, có lẽ là cậu ấy ghét tôi thôi."
Nhan Na không nghĩ vậy, Văn Viêm mà ghét ai thì đã sớm xử lý người đó đến mức mẹ ruột cũng chẳng nhận ra được, sao có thể để đối phương yên ổn học hành ở đây. Giọng cô có chút nghi hoặc: "Cậu ấy chắc không ấu trĩ đến mức đó... đúng không?"
Cận Hành dừng bút, cười khẽ, sửa lại: "Cậu ấy có đấy."
Văn Viêm chính là rất ấu trĩ.
Nhan Na cảm thấy đau đầu, vừa vì bị nắng chiếu vừa vì bị hai người họ làm phiền. Cô đứng dậy phủi váy, nói: "Không biết hai người các cậu định giở trò gì, tôi lười quản."
Nói xong liền đi xuống khán đài, kéo vài cô bạn thân đi vào lớp tránh nắng.
Bàng Nhất Phàm là cái gai trong lớp Sáu, phần lớn nam sinh đều tụ tập quanh hắn, vô hình chung khiến Cận Hành bị cô lập. Trong các hoạt động tập thể, anh hầu như chỉ ở một mình, sống khép kín, không giao tiếp với ai.
Bàng Nhất Phàm nhìn thấy Cận Hành đang làm bài trên khán đài, khịt mũi cười khẩy: "Làm bộ làm tịch."
Có người bên cạnh tiếp lời: "Cận Hành chẳng qua chỉ được vài lần đứng nhất thôi, thật sự nghĩ mình ghê gớm lắm chắc. Nhưng có Văn Viêm ở Sùng Minh che chở, cũng khó mà đụng vào."
Nghe vậy, trong mắt Bàng Nhất Phàm lóe lên một tia lạnh lẽo, không biết nghĩ đến điều gì, cười nhạt: "Ai nói thế? Văn Viêm lâu như vậy không đến trung học số sáu, chắc đã mặc kệ cậu ta rồi."
Hôm nay lớp Chín cũng có tiết thể dục, Châu Khải vừa từ sân bóng đi ra, mua mấy thùng nước ngọt ướp lạnh chia cho các bạn cùng lớp. Khi vô tình liếc qua, hắn nhìn thấy bóng dáng của Cận Hành, lập tức tròn mắt: "Chết tiệt!"
Nhạc Tiếu vốn sợ hắn hay la toáng lên, bịt tai, nhăn mặt hỏi: "Làm cái gì thế Châu Khải, trời sập à?"
Châu Khải giơ tay che mắt, nhìn một lúc lâu, cuối cùng cũng chắc chắn đó là Cận Hành. Hắn hích tay Nhạc Tiếu, kích động nói: "Này này, cậu nhìn xem, có phải người lần trước cho bọn mình đáp án, đứng nhất toàn khối, tên là gì ấy nhỉ... Cận Hành phải không?"
Lớp Chín vốn có thành tích chung được giáo viên chủ nhiệm mô tả là thảm hại như phân chó, nhưng lần thi tháng vừa rồi lại hiếm hoi xuất hiện vài người làm xuất sắc các câu hỏi mang tính chọn lọc.
Ví dụ, bài thi Toán của Châu Khải, phần trắc nghiệm làm đúng hết.
Lại ví dụ, bài thi tiếng Anh của Nhạc Tiếu, phần trắc nghiệm cũng đúng hết.
Chuyện này thực sự không hợp lẽ thường. Nếu chỉ đoán đúng một hai câu thì còn được, nhưng đoán đúng toàn bộ thì thật khó tin. Đặc biệt là câu trắc nghiệm cuối cùng về Toán Olympic, vốn để phân loại trình độ, khó làm không ít người chùn bước. Giáo viên nhìn vào, chỉ cần liếc qua đã biết bọn họ chép bài, chỉ là không có chứng cứ mà thôi.
Châu Khải vốn đã chuẩn bị tâm lý cho việc bị điểm kém môn Toán. Nhưng khi nhận bài thi, hắn sững sờ, vì phần trắc nghiệm của hắn không sai bất kỳ câu nào. Đáp án Cận Hành đưa cho hắn hoàn toàn đúng, chính xác đến mức giáo viên chỉ cần nhìn cũng đủ hiểu hắn quay bài.
Cảm giác như gặp ma, trong đầu Châu Khải chỉ có suy nghĩ này: ngồi sau lưng hắn hóa ra là một học sinh xuất sắc.
"Bọn em thật là láu cá, lúc nào cũng nghĩ cách lách luật. Thi bình thường thì còn chép được, đến thi đại học cũng chép nổi à? Châu Khải, lần sau muốn quay cóp thì dùng cái đầu một chút, người ta viết gì em viết nấy, chép đúng hết thì ai tin được?"
Cô l Sầm tức đến mức đau cả đầu. Cô không ngờ rằng một học sinh đứng nhất toàn khối lại ngồi thi cùng với học sinh lớp cô. Càng không ngờ rằng Châu Khải và mấy đứa bạn lại chẳng thèm suy nghĩ mà quay bài một cách ngớ ngẩn như vậy. Đứng trên bục giảng, cô gõ bàn rầm rầm: "Lần sau còn để tôi phát hiện chép bài, trực tiếp ghi sổ mời phụ huynh, đừng tưởng lần nào cũng thoát được!"
Châu Khải oan uổng, Châu Khải uất ức. Hắn không ngờ ngồi sau lưng mình là một học sinh giỏi, càng không ngờ học sinh giỏi ấy lại hào phóng đến mức đưa hết đáp án đúng cho hắn. Nghĩ lại mà hối hận đến đấm ngực giậm chân, ruột gan đều xanh mét.
Cũng vì chuyện này, Cận Hành lập tức trở thành nhân vật huyền thoại trong lớp Chín. Dù sao học giỏi và học dốt vốn chẳng liên quan gì đến nhau. Học sinh lớp chọn đều kiêu căng ngạo mạn, mỗi đứa đều phách lối như thể mình là số một. So với họ, Cận Hành thực sự quá khiêm tốn và dễ gần.
Dù bị phạt chép bài, điều đó cũng không ngăn Châu Khải kết bạn. Hắn cầm một chai nước ngọt lạnh đi tới, vỗ vai Cận Hành đầy thân thiết: "Ê, anh bạn!"
Cận Hành ngước mắt, nhận ra Châu Khải chính là người ngồi trước mặt mình trong kỳ thi lần trước. Anh không nhận chai nước, gấp sách bài tập lại, hỏi: "Có chuyện gì?"
Châu Khải nhét chai nước vào tay anh, ngồi xổm bên cạnh, ra dáng fanboy, chỉ vào mình nói: "Học giỏi, cậu không nhớ tôi sao? Lần trước thi tôi ngồi ngay trước cậu mà!"
Cận Hành: "Ừ, nhớ."
Châu Khải búng tay, phấn khích không nói nên lời: "Cậu đỉnh thật đấy, đứng nhất toàn khối luôn. Chậc, không ngờ cả đời tôi lại được ngồi thi cùng học giỏi. Tôi mời cậu uống nước, cảm ơn cậu lần trước đã cho tôi đáp án."
Nói xong, hắn vuốt cằm, nghĩ đến bọn người lớp Sáu. Thật không biết quý trọng, nếu Cận Hành ở lớp hắn, chắc chắn sẽ được coi như báu vật mà tôn lên. Nói gì thì nói, học dốt thì vẫn có một trái tim ngưỡng mộ học giỏi mà!
Nước ngọt vừa lấy từ tủ lạnh ra không lâu, lạnh đến mức cầm không nổi. Cận Hành đặt chai nước dưới chân, cúi đầu, trông rất trầm mặc: "Không cần cảm ơn."
Giữa trưa, trời nắng chang chang, ánh mặt trời gay gắt chiếu thẳng vào khán đài. Học sinh lớp Sáu trốn nắng bên sân bóng rổ, học sinh lớp Chín chiếm khu vực có cây xanh nghỉ ngơi, chỉ có mình Cận Hành ngồi đây, cô lập một góc.
Nhạc Tiếu đứng dưới bóng cây, làm hiệu với Châu Khải, ý bảo bọn họ sang bên này tránh nắng. Ghế ngồi trên khán đài bị phơi đến nóng rát cả mông rồi.
Châu Khải ra dấu OK, sau đó kéo Cận Hành đi về khu nghỉ của lớp Chín, không để anh từ chối: "Đi nào, qua kia ngồi đi. Mọi người lớp tôi ngưỡng mộ cậu lâu lắm rồi, chỉ là chưa gặp bao giờ."
Hắn mơ hồ nhìn ra tình cảnh của Cận Hành ở lớp Sáu, khả năng cao là bị cô lập hoặc bắt nạt. Lòng thương cảm trỗi dậy, hắn không nói thêm lời nào mà kéo anh đi luôn.
Phần lớn học sinh lớp Chín đều là con nhà giàu, bọn họ vừa kiêu ngạo lại vừa đơn thuần. Thấy Châu Khải kéo Cận Hành đến, tất cả đều quay sang nhìn, ánh mắt đủ loại, có tò mò, có dò xét, cũng có những ý vị khó đoán.
Lần đầu tiên trong đời, Cận Hành gặp phải chuyện như thế này, không để lộ cảm xúc gì, chỉ khẽ nhíu mày. Theo bản năng, anh muốn giằng ra, nhưng lại nghĩ điều đó không phù hợp với hình tượng yếu đuối, dễ bị bắt nạt mà anh luôn duy trì. Vì thế, anh đành để mặc mình bị kéo đến địa bàn của lớp 9.
Rất đẹp trai. Đây là suy nghĩ của tất cả các nữ sinh có mặt tại đó.
Châu Khải chen vào ngồi bên cạnh Nhạc Tiếu, tiện tay dọn ra một chỗ trống cho Cận Hành. Hắn nói với mọi người trong lớp 9: "Ê, đây là Cận Hành, chính là đại thần ngồi sau tao lần trước, đưa đáp án cho tao đấy."
Hắn vừa nói xong, mọi người lập tức hiểu ra.
"Là người đứng đầu toàn khối đó à?"
"Cận Hành?"
"Chết tiệt, tao ngồi ngay sau cậu ấy, biết vậy đã xin đáp án rồi. Toàn mấy cái giấy ghi đáp án sai mà tụi mày truyền tới!"
Có lẽ vì vẻ ngoài của Cận Hành quá dễ gây hiểu lầm, dáng vẻ trầm mặc, ít nói của anh không khiến người ta cảm thấy xa cách hay kiêu ngạo. Ngược lại, mọi người chỉ thấy anh khiêm tốn, trầm tĩnh. Cái dáng vẻ vừa đẹp trai, vừa dịu dàng này khiến các nữ sinh tràn ngập cảm giác muốn bảo vệ. Đặc biệt, trong kỳ thi trước đó, đa phần mọi người đều tận mắt chứng kiến cảnh Tưởng Thiếu Long bắt nạt anh.
Đối diện ánh nhìn chăm chú của đám đông, Cận Hành chỉ có thể lịch sự chào hỏi một câu: "...Chào các cậu."
Sau đó thì không nói gì thêm.
Học sinh lớp 9 đa phần đều khá giả. Dưới chân là mấy thùng nước ngọt, đồ uống có ga, thậm chí còn có cả kem đắt tiền. Nhạc Tiếu lấy một cây kem vị sô-cô-la đưa cho anh: "Đại thần, lần trước thi tháng, phần chọn đáp án môn tiếng Anh của tôi đạt điểm tuyệt đối đều nhờ cậu đấy."
Mấy học sinh cá biệt tụ tập lại, ngoài việc bàn cách quay cóp thì cũng chẳng còn gì để nói. Chủ đề của họ nghèo nàn đến đáng thương. Thấy Nhạc Tiếu đưa kem, Cận Hành cũng không tiện từ chối, chỉ nói cảm ơn rồi tìm một chỗ trống bên cạnh để ngồi.
Trong mắt người khác, Cận Hành là kiểu học sinh vươn lên ở giai đoạn sau. Ban đầu, thành tích của anh rất bình thường, nhưng về sau đột nhiên nổi bật. Từ kỳ thi tháng đầu tiên, tất cả những kỳ thi lớn sau đó anh đều đứng đầu bảng, tên anh giống như một con rắn lớn cuộn tròn chiếm cứ vị trí đầu tiên, mãi không chịu rời đi.
Có người tò mò, thấy Cận Hành không giống những học sinh ưu tú khác, lạnh lùng không để ý tới ai, bèn không nhịn được mà hỏi: "Cận Hành, sao cậu tăng điểm nhanh như vậy? Học thêm với thầy cô nào thế? Có thể giới thiệu cho tôi được không?"
Cận Hành tất nhiên không có gia sư riêng, căn bản là không có tiền để thuê. Anh khựng lại một chút, rồi đáp: "...Tự học."
Kiếp trước của anh chẳng có gì trong tay, ngoài tự học ra, không còn lựa chọn nào khác.
Người kia bán tín bán nghi: "Thật á?"
Nhạc Tiếu liếc thấy quyển sách bài tập bên cạnh Cận Hành, nói: "Tất nhiên là thật chứ, giờ ra chơi người ta cũng ngồi làm bài, điểm không cao mới là lạ."
Chương 138
Bàng Nhất Phàm những ngày gần đây luôn âm thầm để ý tình hình. Phát hiện Văn Viêm đã rất lâu rồi không đến tìm Cận Hành, hắn nghiễm nhiên cho rằng "đàn em" này đã bị bỏ rơi. Ý định ác độc vốn kìm nén bấy lâu giờ bắt đầu rục rịch, chỉ chờ cơ hội để bắt nạt Cận Hành.
Sau giờ tự học buổi tối, trời bắt đầu mưa lất phất, không khí vừa ẩm ướt vừa oi bức. Từng nhóm học sinh bước ra khỏi cổng trường, miệng lẩm bẩm than phiền về thời tiết tệ hại. Cận Hành cầm ô, hòa mình vào dòng người nhưng lại như tách biệt khỏi họ.
"Cận Hành!"
Nhan Na đột nhiên chạy từ phía sau tới, thở hổn hển, nói đứt quãng: "Cậu... không đi cùng bọn tôi à?"
"Bọn tôi" ở đây ám chỉ Từ Mãnh và đám học sinh cá biệt của Sùng Minh, nhưng không bao gồm Văn Viêm.
Cận Hành hơi ngẩng ô lên, để lộ đôi mắt đen nhánh như mực. Trong màn mưa tối, đôi mắt ấy dường như có chút mờ ảo, khó nhìn thấu. Anh cố ý lướt qua ánh mắt của Bàng Nhất Phàm và đám người đang lén lút theo dõi mình trong bóng tối, ngập ngừng một chút rồi mỉm cười, nụ cười mang theo chút ý vị kỳ lạ: "Không cần đâu, tôi tự về được."
Nhan Na gật đầu: "Thế cũng được."
Cận Hành quay lưng rời đi, bóng dáng nhanh chóng chìm vào dòng người, dường như lại trở về dáng vẻ độc lai độc vãng như trước đây. Nhan Na thấy Từ Mãnh đang đứng chờ mình bên đường, bèn lách qua đám đông để tiến lại gần: "Anh ngốc à? Không tìm chỗ nào có mái che mà đứng, lại đứng giữa đường làm gì?"
Từ Mãnh giương ô lên che cho cô, tiện thể nhìn về phía sau: "Cận Hành đâu rồi?"
Nhan Na: "Cậu ấy bảo hôm nay tự về, không đi cùng bọn mình."
Từ Mãnh nhớ lại lời dặn của Văn Viêm, vò đầu bứt tóc: "Chết tiệt, Văn Viêm còn bảo bọn mình đưa cậu ấy về nhà, tránh để bị bọn không có mắt ức hiếp."
Nhan Na không hiểu rõ lắm về Văn Viêm, nhưng thời gian này thấy cậu không mấy khi tiếp xúc với Cận Hành, cô cũng nghĩ giống như bao người khác, rằng Văn Viêm đã không còn quan tâm đến Cận Hành nữa: "Cậu ấy không phải không chơi với Cận Hành nữa sao? Lại còn bảo anh phải bảo vệ cậu ấy, buồn cười thật."
Diễn phim truyền hình 8 giờ tối chắc?
Từ Mãnh cũng chẳng rõ nguyên do: "Không biết nữa."
Nhan Na nghĩ hai người này rốt cuộc đang giở trò gì, lòng hiếu kỳ cào cấu như mèo. Ánh mắt cô vô tình liếc về phía Cận Hành đi khuất, liền trông thấy Bàng Nhất Phàm đang lén lút theo sau. Cô giật tay áo Từ Mãnh: "Này, anh nhìn kìa."
Từ Mãnh ngước lên: "Gì thế?"
Nhan Na chỉ tay về phía Bàng Nhất Phàm: "Cậu ta thường xuyên bắt nạt Cận Hành trong lớp. Giờ còn lén đi theo sau, có phải định úp bao tải không?"
Từ Mãnh nghĩ bụng, chỉ mấy tên tép riu đó, xử lý không mất bao lâu, liền nói với Nhan Na: "Chờ ở đây, anh quay lại ngay."
Nhan Na dường như đoán được suy nghĩ của hắn, vội túm lấy tay hắn: "Anh đi làm gì? Gọi điện cho Văn Viêm đi."
Cô không tin hai người đó định chiến tranh lạnh đến bao giờ nữa.
...
Cơn mưa ngày càng nặng hạt nhưng không mang lại chút mát mẻ nào, chỉ khiến người ta cảm thấy bức bối và ngột ngạt, thậm chí không thở nổi. Đường phố phía trước hầu như không còn bóng người, chỉ còn con đường dài trống trải, kéo dài mãi trong đêm tối, không thấy điểm dừng. Những hạt mưa xiên ngang, dưới ánh đèn đường trở nên rõ rệt, như những sợi chỉ bạc.
Hệ thống không nhịn được nhắc nhở:【Có người đi theo anh kìa.】
Cận Hành: "Tôi biết."
Anh xoay xoay cán ô, nước mưa bắn tung tóe thành những hạt nhỏ. Trong lòng anh nghĩ, cuối cùng vẫn phải tự mình ra tay. Tuy không tiện như mượn tay Văn Viêm, nhưng ít nhất cũng có một lợi thế: Tự mình hành động thì thỏa mãn hơn nhiều.
Cận Hành dường như cảm thấy thời cơ đã chín muồi, cuối cùng dừng bước. Anh quay đầu lại, phía sau trống trải không một bóng người. Anh lên tiếng với không khí: "Không định ra à? Tôi sắp về đến nhà rồi."
Tiếng mưa rơi rả rích.
Sau khoảng mười mấy giây, từ con hẻm bên cạnh cuối cùng cũng có một người bước ra. Người đó mặc đồng phục trường trung học số sáu, chính là Bàng Nhất Phàm. Hắn hẳn không ngờ Cận Hành sẽ đoán được mình đang bám theo, biểu cảm thoáng chút bất định, nhưng chỉ một lát sau đã trấn tĩnh lại.
Đoán được thì sao chứ, cuối cùng chẳng phải vẫn mặc hắn muốn làm gì thì làm.
Thích một người có lẽ cần lý do, nhưng ghét một người thì không.
Bàng Nhất Phàm đá bay một lon nước rỗng bên cạnh, thấy Cận Hành vẫn giữ nguyên vẻ mặt bình thản đến cực điểm, trong lòng lại càng bực bội, chán ghét đến cực độ, nhếch môi cười khẩy:
"Mày nghĩ mình giỏi lắm à?"
"Mày nghĩ đứng nhất là ghê gớm lắm sao?"
"Ngày nào cũng bày ra bộ mặt khó ưa, mày nghĩ mày đang khinh ai hả?"
Mỗi câu Bàng Nhất Phàm nói, hắn lại tiến thêm một bước, cuối cùng dồn Cận Hành vào sâu trong con hẻm. Bàng Nhất Phàm dứt khoát quăng ô, một tay túm lấy cổ áo Cận Hành, định đánh ngã anh xuống đất. Không ngờ, cánh tay lại đột ngột đau nhói, cổ họng thì bị siết chặt, cả người bị đẩy mạnh vào tường.
"Bốp!" Một tiếng động trầm đục vang lên, Bàng Nhất Phàm chỉ cảm thấy như xương bả vai sắp gãy. Còn chưa kịp kêu đau, hắn đã bất ngờ đối diện với đôi mắt sâu thẳm, tối tăm như chứa đựng sóng ngầm cuồn cuộn, bên tai vang lên tiếng cười trầm thấp đầy lạnh lẽo, khiến người ta rợn tóc gáy.
"Suỵt..." Cận Hành siết chặt cổ hắn, mặc cho mưa như trút nước đổ xuống đầu, từng giọt lăn qua mái tóc anh, nhưng cũng không thể làm giảm đi chút nào đường cong lạnh lùng nơi khóe môi anh. Anh khẽ phủ nhận: "Tôi đâu có nói vậy."
Bàn tay với những đốt xương nổi rõ siết chặt lấy cổ Bàng Nhất Phàm, có thể thấy lực của anh lớn đến mức nào. Khuôn mặt Bàng Nhất Phàm đỏ bừng, hai tay vùng vẫy kịch liệt, muốn gỡ tay anh ra, nhưng lại hoàn toàn bất lực. Cảm giác cổ họng bị bóp nghẹt khiến hắn lần đầu tiên trong đời cảm nhận được sự cận kề của cái chết.
Cận Hành mặt không biểu cảm nắm lấy tóc Bàng Nhất Phàm, buộc hắn phải ngẩng đầu lên, rồi anh khép hờ mắt, thở ra một hơi dài, mang theo chút khoái cảm b.ệnh h.oạn. Không phải sự tàn nhẫn hung ác, nhưng vẫn đủ khiến người ta sợ hãi từ tận xương tủy. Anh hỏi một cách hờ hững: "Nói đi, theo dõi tôi làm gì."
Bàng Nhất Phàm bị anh bóp chặt, căn bản không thể nói nổi, tầm nhìn cũng dần trở nên mơ hồ, đến mức ngay cả giãy giụa cũng dần yếu đi.
Hắn theo dõi Cận Hành thì làm gì được, chẳng phải chỉ muốn "xử" anh sao.
Hệ thống sốt ruột đến mức xoay vòng, tiến thoái lưỡng nan: [Đừng, đừng, đừng đánh chết anh ta...]
Cận Hành ép mặt Bàng Nhất Phàm vào bức tường lạnh lẽo, thô ráp, rồi lại nắm lấy tóc hắn, liên tục đập đầu vào tường. Dù máu đã chảy ra, anh vẫn chưa chịu dừng tay. Nghe thấy hệ thống lên tiếng, anh khẽ cười, đáp một cách tùy ý: "Nhưng hiện tại cậu ta vẫn chưa chết mà."
Chết thì đã sao.
Những ký ức từ kiếp trước lại ùn ùn kéo đến trong đầu Cận Hành. Trong lòng anh tràn ngập hận thù và tuyệt vọng, để mặc cho nước mưa làm ướt đẫm toàn thân, cả người giống như một hồn ma chui lên từ đáy sông. Anh nhớ đến những kẻ từng chửi rủa người mẹ đã khuất của mình, nhớ đến những lần bị nhốt trong nhà vệ sinh, nhớ đến những trận đòn roi và những lần bị tống tiền. Cảm giác như có một bàn tay vô hình bóp chặt trái tim anh, rồi bất ngờ bóp nát nó.
"Các cậu có biết không? Tôi chỉ muốn yên ổn đi học mà thôi."
Cận Hành nhìn dáng vẻ thảm hại của Bàng Nhất Phàm, ánh mắt đầy chán ghét. Anh tiếp tục đập đầu hắn vào tường, máu đỏ tràn ra không ngừng. Anh nói như tự độc thoại: "Nhưng các cậu..."
Nhưng các cậu hết lần này đến lần khác, không chịu buông tha cho tôi...
Ba năm cấp ba, quãng thời gian ngắn ngủi chỉ ba năm, nhưng sự bắt nạt ấy đã hủy hoại hoàn toàn cả nửa đời còn lại của Cận Hành. Anh phải làm sao để thoát ra? Ai có thể đưa anh thoát khỏi vũng lầy này?
Dù là Bàng Nhất Phàm hay Tưởng Thiếu Long, trong mắt bọn họ, Cận Hành chỉ là một con kiến nhỏ bé, dễ dàng bị bắt nạt. Bọn họ vui thì bắt nạt anh, buồn cũng bắt nạt anh, rồi sau khi tốt nghiệp, sẽ vứt bỏ mọi chuyện xấu xa đã làm mà không vướng bận gì.
Nhưng những người bị bọn họ bắt nạt thì sao? Cả nửa đời còn lại của họ phải làm sao đây?
Ai có thể kéo họ ra khỏi bùn nhơ?
"Két——!"
Ngoài hẻm đột nhiên vang lên tiếng động cơ xe máy, càng lúc càng gần. Sau đó là tiếng phanh gấp khiến lốp xe ma sát với mặt đường, chói tai đến mức khiến Cận Hành phải khựng lại. Anh ngẩng đầu nhìn về phía lối vào hẻm, không biết nghĩ gì, chậm rãi buông Bàng Nhất Phàm ra.
Bàng Nhất Phàm như được đại xá, dựa vào tường, ho sù sụ, tham lam hít lấy từng ngụm không khí. Nhưng còn chưa kịp hoàn hồn, cổ áo hắn đã bị ai đó túm lấy, sau đó là một cú đấm thẳng vào mặt, khiến hắn ngã nhào xuống đất.
"Mẹ kiếp!"
Người vừa đến lên tiếng, giọng nói trầm thấp, xen lẫn sự giận dữ. Mái tóc đỏ sẫm bị mưa làm ướt đẫm, nước không ngừng nhỏ giọt xuống. Chiếc áo đen dính sát vào người, lộ ra thân hình rắn chắc, mảnh khảnh. Không ai khác chính là Văn Viêm.
Cậu nhận được tin từ Từ Mãnh, lập tức phóng xe từ trường đến nhà Cận Hành. Trên đường, phát hiện túi sách và ô vứt trên mặt đất, liền đi vào hẻm thì thấy ngay cảnh Bàng Nhất Phàm và Cận Hành. Chẳng cần nghĩ ngợi, cậu lao vào đánh ngã Bàng Nhất Phàm.
Vì nguyên văn Từ Mãnh nói thế này:
"Có thằng Bàng Nhất Phàm lớp 6 hình như muốn xử Cận Hành, lúc tan học cứ bám theo cậu ấy. Chắc định úp bao tải. Nếu muốn đi thì đi nhanh, tôi không thoát được."
Suy nghĩ tiên quyết rất quan trọng. Trong nhận thức của Văn Viêm, chỉ có chuyện Cận Hành bị bắt nạt, không bao giờ có chuyện anh bắt nạt người khác. Vậy nên Bàng Nhất Phàm vừa bị Cận Hành đánh bầm dập, lại bị Văn Viêm đánh thêm một trận.
Hệ thống lặng lẽ thở phào. Cuối cùng thì Bàng Nhất Phàm cũng được cứu. Nếu Văn Viêm không đến, hắn có lẽ đã bị Cận Hành đánh chết rồi.
Văn Viêm dí Bàng Nhất Phàm sát vào tường, nước mưa chảy dọc theo khuôn mặt sắc lạnh của cậu, càng tôn thêm vẻ dữ tợn. Cậu nheo mắt, lạnh lùng nói: "Cả người của tôi mà mày cũng dám động vào?"
Nếu có thể, Bàng Nhất Phàm lúc này nhất định sẽ quỳ xuống cầu xin tha thứ. Nghe giọng nói lạnh băng của Văn Viêm, hắn hoảng sợ đến mức mặt trắng bệch, chỉ biết lắc đầu lia lịa: "Tôi không... tôi không bắt nạt cậu ta..."
Ít nhất hôm nay không, thật sự không.
Văn Viêm không tin lời hắn, nhưng giờ rõ ràng không phải lúc xử lý Bàng Nhất Phàm. Cậu tung một cú đấm mạnh vào bụng hắn, rồi đá văng ra xa, lạnh giọng quát: "Cút!"
Bàng Nhất Phàm chưa bao giờ thấy từ "cút" lại như thiên âm dễ nghe đến vậy. Hắn lồm cồm bò dậy, không dám ngoái đầu, chạy khỏi hẻm, như thể chỉ cần chậm một giây Văn Viêm sẽ đổi ý. Thoáng chốc, bóng dáng hắn đã biến mất.
Cơn mưa như trút nước, ánh đèn đường mờ nhạt chiếu lên bức tường xi măng loang lổ và bẩn thỉu nơi cuối hẻm.
Cận Hành lặng lẽ đứng đó, trên vạt áo đồng phục sạch sẽ điểm vài vệt máu đỏ, tựa như vừa trải qua một trận ẩu đả, nhưng vẻ ngoài gần như không hề tổn thương, vẫn giữ được sự lạnh lùng sạch sẽ đến xa cách. Đây là lần đầu tiên Văn Viêm gặp lại Cận Hành kể từ cái nụ hôn hồ đồ hôm trước. Cậu đã cố ý tránh mặt anh rất lâu, tâm trạng rối bời, không sao định hình được cảm xúc. Việc không đối diện dường như là cách duy nhất mà cậu nghĩ có thể giải quyết mọi thứ, nhưng không ngờ lại vô tình khiến Cận Hành gặp phiền toái, để người ta nghĩ rằng anh mất đi chỗ dựa.
Văn Viêm muốn bước tới xem anh có bị thương không, nhưng vừa nhớ lại chuyện hôm trước, cậu lại bất giác lùi về sau một bước, đôi mày cau chặt: "Cậu không sao chứ?"
Nghe tiếng, Cận Hành chậm rãi ngẩng đầu lên trong màn mưa dày đặc. Đồng phục sạch sẽ của anh nổi bật trên nền tường cũ kỹ, xám xịt.
Chương 139
Anh không bị thương, nhưng toàn thân ướt đẫm, làn da tái nhợt như tuyết trong đêm đông. Nước mưa hòa lẫn với máu nhỏ từng giọt từ bàn tay buông thõng bên người, tạo nên một vẻ nhếch nhác đến đáng sợ, như một bóng ma bước ra từ trong nước.
Tất nhiên, Văn Viêm cho rằng Cận Hành bị bắt nạt, lòng cậu lập tức bùng lên một cơn giận vô cớ, không cách nào kìm nén được.
Cận Hành chỉnh lại dáng đứng, sau đó đưa tay lau đi nước mưa trên mặt, cúi người nhặt chiếc ô rơi dưới chân lên, lắc đầu, giọng nói trong cơn mưa lớn có chút mơ hồ: "Không sao, cảm ơn."
Nói xong, anh kéo lại quai cặp sách sắp trượt xuống, bước ngang qua người Văn Viêm, dáng vẻ lặng lẽ xa cách, không khác gì một người xa lạ.
"Đứng lại——"
Văn Viêm bất ngờ kéo anh lại, đôi mày nhíu chặt.
Cận Hành lúc nào cũng tỏ ra ngoan ngoãn, bình lặng. Giờ cũng vậy. Anh cúi mắt nhìn bàn tay đang nắm lấy tay mình, chiếc ô nghiêng đi, che cơn mưa lớn khỏi cả hai. Giọng nói của anh trầm thấp: "Sao thế?"
Văn Viêm cũng không biết tại sao mình lại làm vậy, chỉ là thái độ khách sáo xa cách của Cận Hành khiến cậu thấy không thoải mái, như thể có thứ gì đó nghẹn lại trong lòng. Nắm lấy tay anh, nhưng mãi vẫn không nói được lời nào.
Cận Hành thấy cậu im lặng, khẽ động cổ tay, nhắc nhở: "Tôi phải về nhà rồi."
Văn Viêm từ trước đến nay chưa từng giao thiệp với mấy học sinh ngoan, vì giữa họ không cùng một thế giới. Học sinh ngoan khinh thường đám học sinh cá biệt không chịu học hành, còn học sinh cá biệt thì ghét cái vẻ đạo mạo giả tạo của học sinh ngoan. Hai bên như hai cực đối lập ngay từ đầu.
Cận Hành là ngoại lệ.
Anh là ngoại lệ...
Ban đầu, Văn Viêm chỉ muốn bảo vệ Cận Hành mà thôi. Cứ coi như đời này hiếm khi cậu nổi lòng tốt, muốn che chở cho cái người học sinh ngoan luôn làm cậu ngứa mắt này dưới đôi cánh của mình. Còn về sau, con đường ấy sẽ dẫn đến đâu, cậu vẫn chưa nghĩ đến. Chỉ có một điều chắc chắn: Văn Viêm không muốn kéo Cận Hành xuống con đường lầm lạc.
Học sinh cá biệt bề ngoài trông không ai dám động vào, nhưng nói trắng ra cũng chỉ là một đám nhóc tì ngang ngược, chưa tốt nghiệp thì làm trò hù dọa bạn học, tốt nghiệp rồi, lớn lên thì đa số cũng chỉ là những kẻ vô danh trong xã hội, sống lay lắt qua ngày.
Cận Hành thì khác. Anh học giỏi, thành tích tốt, sau này tốt nghiệp, nói theo kiểu của người lớn là "trời đuổi theo mà đút cơm vào miệng", kiểu gì cũng sẽ có tiền đồ sáng lạn.
Văn Viêm bướng bỉnh, kiêu ngạo, từ nhỏ đến lớn chưa từng cúi đầu trước ai. Cậu chưa bao giờ cảm thấy làm học sinh cá biệt thì kém cỏi, cũng chẳng nghĩ việc mình là "thằng côn đồ" có gì đáng xấu hổ. Nhưng cái nụ hôn bất ngờ của Cận Hành lại phá vỡ tất cả, khiến cậu không thể không cúi đầu đối diện với mọi thứ.
Từ trước đến giờ, Văn Viêm chưa từng nhìn ra được điều gì bất thường từ Cận Hành, cũng chưa từng nghĩ sâu xa. Cho nên ngày hôm đó, khi nụ hôn ấy xảy ra, đầu óc cậu lập tức trống rỗng, chỉ biết hoảng loạn bỏ chạy. Một thời gian rất lâu sau đó vẫn không thể bình tâm lại.
Im lặng hồi lâu, như thể đã nghĩ ra được một lý do hợp lý cho hành động của mình, Văn Viêm cuối cùng lên tiếng: "Tôi đưa cậu về."
Cận Hành hỏi lại: "Vì sao?"
Văn Viêm nhíu mày: "Ở đâu ra lắm câu hỏi thế."
Cận Hành khẽ nâng chiếc ô lên, như đang cười mà cũng như không, khó thấy rõ trong màn đêm. Nhưng đôi mắt ấy lại có vẻ như đang chơi trò mèo vờn chuột: "Tôi cứ tưởng cậu sẽ tiếp tục tránh mặt tôi."
Văn Viêm đứng thẳng người, như thể bị đụng phải nỗi đau nào đó, vẻ mặt lập tức cau có, đôi mắt hẹp dài đầy nguy hiểm nheo lại: "Ai bảo tôi tránh mặt cậu?"
Cận Hành nhìn cậu một cách bình tĩnh: "Cậu hiểu ý tôi mà."
Văn Viêm không nói gì thêm. Cậu đưa tay đút túi, quay đầu đi hít một hơi thật sâu để giữ bình tĩnh, rồi thẳng tay giật lấy chiếc ô trong tay Cận Hành, kéo anh ra khỏi con hẻm, đưa đến chiếc mô-tô đậu bên lề đường.
Văn Viêm ngồi lên xe, ném một chiếc mũ bảo hiểm cho Cận Hành, giọng nói trầm thấp, không cho phép từ chối: "Lên xe."
Cận Hành nghe vậy liền đội mũ bảo hiểm, ngồi ra sau xe. Văn Viêm rõ ràng đã thuộc đường, khởi động xe chạy thẳng về phía nhà anh. Tiếng động cơ xe gầm rú át cả tiếng mưa, tiếng gió rít bên tai trộn lẫn với giọng nói trầm thấp của cậu, vừa nghe như gắt gỏng, vừa giống như lầm bầm: "Đám đó để tôi xử lý..."
Rồi ngừng lại, cậu mới nói tiếp: "Ngày mai cậu cứ đi học đàng hoàng cho tôi."
Văn Viêm không nhìn thấy vẻ mặt của Cận Hành, chỉ nghe thấy giọng nói rõ ràng của anh vang lên bên tai: "Không cần."
Văn Viêm không biểu lộ cảm xúc, lặng lẽ tăng tốc, để mặc cơn gió lạnh thổi tung chiếc áo ướt đẫm. Cuối cùng, xe phanh gấp trước con hẻm nhỏ dẫn vào nhà Cận Hành. Cậu vẫn không nhìn anh, giọng điệu lạnh lùng khó đoán: "Cận Hành, cậu lớn gan nhỉ?"
Lúc này, cậu lại bày ra dáng vẻ "đại ca" với đàn em. Vậy thì mấy ngày qua tránh mặt anh là vì cái gì?
Cận Hành bước xuống xe, tháo mũ bảo hiểm, mái tóc có chút rối loạn. Gương mặt anh không có vẻ hoảng sợ hay bối rối, chỉ lộ ra một chút gì đó như muốn giải thích nghiêm túc: "Cậu không cần phải quản chuyện của tôi."
Văn Viêm vuốt lại mái tóc ướt dán trên trán, để lộ những đường nét sắc lạnh, khí thế cả người đầy vẻ hung hãn. Chỉ một ánh mắt thôi cũng đủ làm người ta run sợ: "Tại sao tôi lại không được quản chuyện của cậu?"
Cận Hành ngược lại hỏi: "Cậu lấy tư cách gì để quản?"
Văn Viêm thầm chửi một câu trong lòng, cảm thấy Cận Hành như đang ép mình đến cùng. Cậu quay đầu, tiện miệng bịa ra một lý do, giọng điệu qua loa: "Cậu là đàn em của tôi."
Cận Hành hơi cúi xuống, nhìn thẳng vào mắt cậu: "Tôi đã nói rồi, tôi không làm đàn em của cậu."
Văn Viêm không dám đối diện với ánh mắt anh. Nghe câu nói ấy, trong lòng cậu bỗng nhiên khựng lại một nhịp, bàn tay vô thức siết chặt tay lái, cảm thấy Cận Hành suy nghĩ mọi chuyện quá đơn giản. Đừng nói đến việc thích đàn ông là con đường khó khăn đến mức nào, chỉ riêng chuyện anh đi chung với đám học sinh cá biệt như cậu, ảnh hưởng cũng đã quá lớn rồi.
Nước mưa chảy dọc theo gò má của cậu, không khí oi bức dần tan đi, cuối cùng cũng mang theo chút lạnh lẽo của màn đêm. Văn Viêm nhanh chóng tháo đôi găng tay lái xe máy, lông mày cau chặt lại, hỏi Cận Hành: "Cậu có biết tôi là loại người gì không?"
Nhưng chưa đợi Cận Hành trả lời, Văn Viêm đã tự mình đáp lại, ánh mắt sắc bén khiến người khác không dám nhìn thẳng, từng lời từng chữ tựa như con dao sắc cắt xuyên qua thực tế: "Tôi là một thằng côn đồ."
"Cậu biết côn đồ là thế nào không? Suốt ngày đánh nhau, không lên lớp. Tốt nghiệp rồi thì coi như cuộc sống của tôi chấm dứt. Cậu đi học đại học, còn tôi đi làm thuê. Nếu cậu cứ đi cùng tôi, chẳng mấy chốc mà thành tích của cậu cũng sẽ rớt thê thảm."
"Tôi là loại người thích gây chuyện, không biết ngày nào đó đụng phải kẻ thù, tôi sẽ làm liên lụy đến cậu. Khi đó cậu sẽ còn bị xử lý thê thảm hơn cả bây giờ."
Từng câu từng chữ, đều mang theo sự đe dọa, như muốn hù dọa Cận Hành, hy vọng anh sẽ tự biết khó mà lui.
Văn Viêm trước giờ chưa từng nói những lời như thế này, vì điều đó chẳng khác nào tự đạp mình xuống đất, thẳng thắn thừa nhận bản thân chỉ là một thằng côn đồ không tương lai, không phẩm chất. Từng lời từng chữ đều tự hạ thấp chính mình, mà điều này là điều trước đây Văn Viêm tuyệt đối sẽ không làm.
Cậu chỉ hy vọng Cận Hành sẽ hiểu ra.
Nhưng đồng thời, Văn Viêm cũng buộc phải đối diện với sự thật này. Dáng vẻ của cậu trông thật chật vật. Điều duy nhất cậu có thể làm là giữ một khoảng cách không quá gần, cũng không quá xa với Cận Hành, cùng nhau ăn cơm, cùng nhau tan học, chỉ có thế.
Khi cậu đánh nhau, cậu sẽ không dẫn Cận Hành theo. Khi cúp học, cũng không dẫn anh theo, bởi cậu hiểu rõ hơn ai hết, cả hai là những con người hoàn toàn trái ngược, đi trên những con đường không hề giống nhau.
Mưa dần tạnh, nước mưa vẫn rơi lộp bộp từ mái hiên.
Cận Hành đứng yên tại chỗ, không nói gì, dường như đã nghe thấu mọi thứ.
Văn Viêm im lặng một lúc, thấy anh không có động tĩnh gì, trong lòng không biết là nên thất vọng hay nên cảm thấy may mắn. Cậu cúi đầu, đeo lại đôi găng tay, lau nước mưa trên mặt, khởi động xe chuẩn bị rời đi. Thế nhưng, bả vai cậu đột nhiên bị ai đó nắm lấy.
Bàn tay của Cận Hành hiếm khi mang theo chút ấm áp, trái ngược hoàn toàn với cơ thể lạnh lẽo, căng thẳng của Văn Viêm. Anh nói: "Vậy nếu tôi không sợ thì sao?"
Động tác của Văn Viêm khựng lại.
Cận Hành đưa tay, xoay gương mặt góc cạnh nhưng lạnh giá của cậu lại. Trên hàng mi của Văn Viêm vẫn còn đọng một giọt nước mưa, khẽ run lên rồi trượt xuống, đôi môi nhợt nhạt không rõ là vì trời mưa hay vì điều gì khác.
Cận Hành hỏi: "Nếu tôi không sợ thì sao?"
Trời vừa đổ một trận mưa lớn, màn đêm thêm tăm tối, trên đường không một bóng người, chỉ có sự tĩnh lặng và lạnh lẽo văng vẳng khắp nơi. Trong mắt Cận Hành lại hiện lên chút tà khí, không thuộc về tuổi trẻ, mang theo sức hút kỳ lạ. Anh chậm rãi tiến gần Văn Viêm, đôi môi mát lạnh nhưng mềm mại, sát bên tai cậu, gợi lên cảm giác ngứa ngáy mơ hồ.
Cơ thể Văn Viêm cứng lại, muốn tránh né, nhưng lại bị Cận Hành giữ chặt lấy bờ vai. Sau đó, má cậu chợt lướt qua một thứ mềm mại, cuối cùng đáp xuống đôi môi. Đầu lưỡi nhẹ nhàng chạm vào hàm răng, hơi thở quấn lấy hơi thở, sự thân mật chưa từng có khiến Văn Viêm chấn động.
Đôi mắt cậu mở lớn, ánh nhìn rõ ràng phản chiếu gương mặt phóng đại của Cận Hành, ngay đến nhịp tim cũng lỡ một nhịp.
Cận Hành đã sống lại một đời, muốn đối phó với một thiếu niên không biết gì về yêu đương như Văn Viêm hiển nhiên không có gì khó khăn. Anh nhẹ nhàng mở ra hàm răng đang khép chặt của cậu, bàn tay còn lại trượt từ bờ vai lên, giữ chặt lấy gáy Văn Viêm, động tác dịu dàng nhưng lại không cho phép từ chối. Tựa như một con rắn quấn quanh trái tim, chậm rãi siết chặt, không cho người ta đường lui.
Giọng nói của Cận Hành mang theo sự mê hoặc: "Cậu bảo vệ tôi, những chuyện đó sẽ không xảy ra..."
Ngón tay thon dài của anh luồn qua mái tóc đỏ rượu của Văn Viêm, sự tương phản giữa hai màu sắc khiến người ta chói mắt. Cận Hành không chút dấu hiệu nào, lại tiếp tục làm sâu sắc thêm nụ hôn. Rồi anh nhẹ rời khỏi, đôi môi áp sát môi, khẽ khàng hỏi cậu: "Có đúng không..."
Lúc này, anh mới tháo bỏ lớp ngụy trang, đôi mắt đen láy sâu thẳm, giống như một con sói, cũng như một con rắn độc, tập trung chăm chú vào con mồi của mình.
Văn Viêm cuối cùng bừng tỉnh, theo bản năng nắm lấy cổ tay của Cận Hành, lực mạnh đến nỗi như muốn bóp nát xương anh. Cận Hành cứ nghĩ cậu sẽ đẩy mình ra, nhưng thực tế lại không như vậy. Trong lòng Văn Viêm sớm đã rối loạn đến mức tan tác.
Cận Hành nói với cậu: "Trong nhà tôi chỉ có mình tôi. Ở bên tôi, sẽ không có ai quản."
"Tôi sẽ học hành chăm chỉ, thành tích sẽ không rớt."
"Cậu chỉ cần bảo vệ tôi."
Điều cậu cần làm, chính là bảo vệ tôi...
Kiếp trước, Văn Viêm đã làm vậy, đem cả đời mình đặt cược vào đó, nhưng không một ai thấy thương tiếc cậu, chỉ cho rằng cậu tự làm tự chịu. Vì kết cục của những thằng côn đồ, xưa nay chưa bao giờ tốt đẹp. Nhưng Cận Hành khiến cuộc đời vốn mơ hồ của cậu càng thêm tan nát.
Cận Hành giống như một cây anh túc có độc, mê hoặc lòng người. Anh nói xong, khẽ đặt lên mí mắt của Văn Viêm một nụ hôn. Thoáng qua như một cánh bướm dừng lại trong chớp mắt, nhưng lại khiến bàn tay đang siết chặt của Văn Viêm lập tức buông lỏng.
"Văn Viêm..."
Cận Hành khẽ gọi tên cậu, hai chữ ấy vang lên trong lòng, không biết đã gợi lên cảm xúc gì.
Có lẽ là một điều gì đó đặc biệt. Kiếp trước hay kiếp này, Văn Viêm là người duy nhất giữ được anh, nhưng cuối cùng lại bị anh kéo xuống vực sâu.
Tuổi trẻ, rung động thường đến bất ngờ, vụng về và hỗn loạn. Cuộc gặp gỡ giữa hai người, hoặc là ân huệ, hoặc là bài học đắt giá.
Hệ thống vỗ đôi cánh giữa không trung, vô tình chạm phải ánh mắt của Cận Hành. Thứ ánh mắt xưa nay luôn sâu thẳm, giờ đây lại có chút đắc ý, giống như một kẻ thắng trong ván cược.
Cận Hành không phát ra âm thanh, khẽ mấp máy môi: "Cậu xem, cậu ấy sẽ trở về bên tôi..."
Anh đã từng nói rồi, Văn Viêm sẽ trở lại.
Hệ thống ngước lên nhìn trời, nghĩ thầm đây là lần đầu tiên nó gặp một ký chủ cần được bảo vệ. Nếu rơi vào tay bộ phận "ăn bám", chắc chắn sẽ bị xử lý không còn một mẩu.
009 vỗ đôi cánh lên cái bụng nhỏ của mình, thầm nghĩ mình quả thật là rất nhân từ.
Chương 140
Tối qua mưa suốt đêm, sáng sớm trời đã quang. Không khí mang theo chút ẩm ướt, thoang thoảng mùi đất, nhiệt độ cũng giảm đi đáng kể. Từ xa, tiếng động cơ xe máy vang lên, ngày càng gần hơn.
Văn Viêm dừng xe ngay trước cổng trường trung học số sáu, phía sau cậu là Cận Hành.
"Ồ, hiếm lạ thật đấy."
Từ Mãnh uống một ngụm sữa đậu nành, bước tới gần: "Hai đứa mày lại dính với nhau rồi à?"
Theo quan điểm của hắn, việc Văn Viêm nhận "đàn em" chẳng khác nào trò đùa, muốn quản thì quản, không ai hiểu nổi họ đang làm trò gì.
Văn Viêm sớm biết miệng lưỡi Từ Mãnh chẳng nói được câu nào ra hồn, nhướng mày định phản bác, nhưng nhớ ra sau lưng còn có Cận Hành, lại nhịn xuống, tạt xe vào lề đường, giọng nói lạnh băng: "Liên quan gì đến mày."
Cận Hành xuống xe, tháo mũ bảo hiểm rồi đưa cho Văn Viêm, trông như chẳng có gì khác với mọi ngày, chỉnh lại mái tóc rối: "Tôi vào lớp trước đây."
Văn Viêm nhận lấy mũ bảo hiểm, nhưng bàn tay lại bị ngón tay của Cận Hành khẽ gãi một cái. Cậu giật mình, suýt thì đánh rơi, theo phản xạ nhìn đối phương, chỉ thấy ánh mắt mờ mịt cười như không cười của anh, trái tim cũng bất giác loạn nhịp.
Không biết nhớ đến điều gì, Văn Viêm khẽ nhíu mày: "Chờ chút."
Nói rồi, cậu xuống xe, bước đến quán ăn sáng bên cổng trường, mua mấy phần bữa sáng. Hai tay xách đầy túi lớn túi nhỏ, đưa cho Cận Hành: "Ăn xong rồi hãy vào lớp."
Cận Hành người gầy tong teo, nhìn qua đã biết không chịu ăn uống tử tế.
Văn Viêm mua một đống đồ ăn, có thể bày cả một bàn cơm trưa. Cận Hành liếc nhìn đống túi lớn túi nhỏ trên tay cậu: "Tôi ăn không hết đâu."
Văn Viêm: "Vậy chọn cái cậu thích, còn lại tôi ăn."
Bánh rán, há cảo chiên, xôi cuốn, sữa đậu nành, bánh gạo chiên, gần như đồ trên quầy cậu đều mua một lượt, rất đúng phong cách hào phóng của Văn Viêm. Cận Hành tùy tiện cầm hai món, ngại có Từ Mãnh đứng bên cạnh nên không nói gì thêm, chỉ bảo: "Tôi vào trước đây, cậu về trường sớm đi."
Văn Viêm gật đầu, nhưng ngay khi Cận Hành lướt qua, đột nhiên buông một câu: "Tôi cho cậu cơ hội để hối hận."
Bước chân Cận Hành khựng lại, theo bản năng quay đầu nhìn cậu.
Văn Viêm đã ném đống đồ ăn sáng cho Từ Mãnh, thẳng người lên xe máy. Vẫn phong cách ngạo mạn thu hút không ít ánh nhìn từ các nữ sinh. Cậu không nhìn Cận Hành, chỉ nhìn đoạn đường phía trước đang tắc nghẽn, giọng nói trầm thấp: "Trong ba ngày, nếu muốn hối hận, cậu có thể làm bất cứ lúc nào."
Nhưng một khi chuyện đã định, ba ngày sau, Cận Hành sẽ không còn quyền rút lui nữa.
Văn Viêm không phải người dễ động vào, càng không phải kiểu có thể để người khác đùa giỡn rồi yên ổn thoát thân. Giống như không ai có thể khiêu khích sư tử mà không trả giá, Cận Hành đang làm một việc vô cùng nguy hiểm, mà bản thân lại chẳng tự biết.
Cận Hành cười nhạt, bước đến trước mặt Văn Viêm, ghé sát nói khẽ đủ để chỉ hai người nghe: "Cậu cần tôi hôn cậu trước mặt tất cả mọi người không?"
Để mọi người đều thấy, như vậy nếu muốn hối hận cũng không còn đường lùi. Lòng gan dạ của Cận Hành lớn hơn Văn Viêm tưởng rất nhiều, thậm chí điên cuồng hơn.
Văn Viêm ngẩng đầu, ngạc nhiên nhìn anh. Nhưng Cận Hành đã xoay người rời đi, vừa kịp tiếng chuông báo vào lớp vang lên.
Từ Mãnh: "???"
Từ Mãnh vốn đã không hiểu chuyện gì, giờ càng ngơ ngác hơn. Hắn ôm cả đống đồ ăn Văn Viêm mua, vẻ mặt đầy thắc mắc: "Ba ngày? Hối hận gì? Hai người đang nói cái gì thế?"
Văn Viêm thu lại ánh mắt, liếc hắn một cái, cảm thấy hắn đúng là lắm lời: "Chuyện không liên quan thì đừng hỏi nhiều."
Trường trung học số 6 gần đây sắp xếp lại lớp, có thể coi là một cuộc đại xáo trộn. Bảng xếp hạng cứ 35 người lại kẻ một vạch. Nếu không có ai bất ngờ bứt phá, cơ bản sẽ cố định.
Giữa chừng, giáo viên chủ nhiệm lớp 6 còn tổ chức họp phụ huynh, nhấn mạnh tầm quan trọng của lần phân lớp này. Đám học sinh cá biệt chẳng bận tâm, nhưng cha mẹ họ thì lo sốt vó, hệt như kiến bò trên chảo nóng, chạy khắp nơi tìm lớp bổ túc.
Giữa lớp giỏi và lớp thường có sự khác biệt, mà giữa lớp thường và lớp kém lại càng có khoảng cách. Dù không chen vào được lớp giỏi, nhưng cũng không thể rơi vào lớp kém. Đây là suy nghĩ của phần lớn phụ huynh.
Nhan Na cũng bị mẹ cô làm phiền đến mức đau đầu, giữa giờ không ngừng than vãn với Cận Hành: "Kết quả dở tệ thế này, còn đi học thêm cái gì? Kiến thức cấp hai quên sạch, mà mẹ tôi cứ bắt chen vào lớp thường. Mấy thầy cô dạy thêm nói gì tôi chẳng hiểu nổi."
Nhan Na học lực căn bản kém, nhưng thực ra khá thông minh. Cận Hành lật qua bài kiểm tra cô vừa làm, khuyên nhủ: "Nghe giảng chăm chỉ, biết đâu lại được vào lớp thường."
Nói nghiêm túc, anh đã là người trưởng thành, với thân phận học sinh hiện tại của Nhan Na, chỉ có thể khuyên vậy. Tuy nhiên, học hành chủ yếu dựa vào bản thân, môi trường chỉ là yếu tố phụ.
Nhan Na nói: "Thầy cô bảo cậu chắc chắn vào được lớp 1, đến lúc đó đổi môi trường, cậu đừng để bị bắt nạt nữa đấy."
Học giỏi không nhất thiết là mọt sách. Đám Sầm Thanh Hoa chẳng phải dạng vừa, luôn thích đè ép những người giỏi hơn mình. Nhan Na thực sự lo Cận Hành "tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa".
"Cũng chưa chắc," Cận Hành nói, "Biết đâu tôi lại vào chung lớp với cậu."
Nhan Na: "Cậu đùa à."
Nhưng Cận Hành trông chẳng có vẻ gì là đùa. So với việc học cùng người mình ghét, anh thà học với người quen, dù sao ở đâu cũng là học. Anh gõ nhẹ nắp bút trong tay, có lẽ trong lòng vẫn mong muốn rời khỏi vũng lầy này.
Lớp trưởng Đường Quả vừa từ văn phòng thầy cô về, trên tay cầm bảng liệt kê chi phí học tập, phát từng người: "Đây là tiền sách giáo khoa đợt trước, ngày mai nhớ mang đủ nộp cho tôi, đừng quên nhé."
Thầy cô vì muốn nâng cao tỷ lệ đậu đại học đã mua rất nhiều đề luyện tập cho học sinh, số tiền không hề nhỏ. Không ngoa khi nói, đề họ làm trong một tháng có thể chất thành núi.
Cận Hành nhìn lướt qua bảng kê chi phí, sau đó gấp lại, bỏ vào túi.
Hệ thống hỏi: 【Anh không có tiền đúng không?】
Cận Hành cười nhạt: "Chẳng lẽ cậu có tiền?"
Hệ thống ngại ngùng lắc đầu, giọng lí nhí: 【Tôi cũng không có...】
Nó chỉ là một quả cầu, lấy đâu ra tiền, điện thì nhiều vô kể.
Cận Hành đúng là không có tiền, ba anh đang trốn nợ ở bên ngoài, đã lâu rồi không thấy tăm hơi. Những năm qua nhờ vào chút tiền còn lại trong nhà mà miễn cưỡng sống qua ngày, nhưng cũng chật vật, ngồi không ăn núi lở cuối cùng cũng không phải là cách.
Hệ thống đếm trên cánh một lúc rồi nói: [Anh còn hai tháng nữa là nghỉ hè rồi, có thể ra ngoài tìm việc làm mà.]
Cận Hành nghĩ tại sao phải ra ngoài làm việc, không để lộ cảm xúc, xoay bút: "Sẽ có người cho."
Văn Viêm.
Hệ thống ngăn lại ý nghĩ nguy hiểm này của anh: [Suỵt, đừng ăn bám, lỡ bị hệ thống khác để mắt tới thì không hay đâu.]
Cận Hành ngừng động tác, sau đó ngẩng lên nhìn nó: "Ý là gì?"
Hệ thống: [Ý là... trên thế giới không chỉ có một mình tôi là hệ thống, nếu vi phạm quy định, anh sẽ bị hệ thống khác cưỡng chế liên kết.]
Trạm không gian vũ trụ có rất nhiều bộ phận, dựa vào các loại năng lượng vô danh để duy trì vận hành, tình yêu, hận thù, giận dữ, tham lam, lòng tốt, chính trực của con người, đều có thể trở thành nguồn năng lượng.
009 thuộc bộ phận cải tạo tra nam, chúng thường hút lấy năng lượng cải tà quy chính từ ký chủ trước, sau đó làm năng lượng tái sinh cho ký chủ tiếp theo, cứ thế lặp đi lặp lại, tái sử dụng.
Cận Hành cúi mắt, là một người vô thần, bây giờ anh cảm thấy thế giới này quá mức huyền ảo: "Bị hệ thống khác liên kết thì sao?"
Hệ thống khẽ vỗ cánh: [Anh sẽ bị hạn chế rất nhiều.]
Nhiệm vụ của 009 là ngăn cản ký chủ làm những việc xấu không thể cứu vãn, tương tự, nếu bị hệ thống khác liên kết, quy tắc cũng sẽ thay đổi theo.
Ví dụ như hệ thống của bộ phận ăn bám sẽ ngăn cản ký chủ ăn bám, ép buộc họ tự lập tự cường; hệ thống của nhóm chân ngôn sẽ ngăn cản ký chủ giả dối nói dối, ép buộc họ nói thật; hệ thống của bộ phận cứu vớt sẽ lựa chọn những ký chủ đang cận kề cái chết vì thiên tai nhân họa, để họ đi đến các thế giới cứu vớt những phản diện điên loạn, đổi lấy cơ hội tái sinh; hệ thống của nhóm nghịch tập sẽ giúp những ký chủ có số phận bi thảm phản kháng, bước lên đỉnh cao cuộc đời...
Ví dụ nữa, một số hệ thống tà ác dựa vào năng lượng tiêu cực để vận hành, chúng sẽ dùng quyền lực và tiền tài làm mồi nhử, khiến những ký chủ vốn bình thường cướp lấy cơ hội vốn thuộc về người khác, hút lấy d.ục v.ọng ngày càng phình to trong lòng họ làm năng lượng.
009 thở dài, thời buổi này không chỉ làm người khó, làm hệ thống cũng khó, cạnh tranh khốc liệt, không dễ làm. Cuối cùng, nó đưa ra kết luận, chân thành nói với Cận Hành: [Tra và ăn bám, anh chọn một cái thôi, không thể được đằng chân lân đằng đầu được.]
Nó học được vài câu tục ngữ của con người liền bắt đầu dùng bừa.
Nghe vậy, Cận Hành cười khẩy một tiếng, muốn cười nhưng lại không cười nổi, đối với việc hệ thống nói anh vừa tra vừa ăn bám không phản bác, lạnh mặt kéo ghế ra, xoay người bước ra khỏi lớp học.
Cận Hành không hứng thú với tiền, cũng không thèm tiền, nhưng bây giờ bị hệ thống chỉ ra rõ ràng là anh đang ăn bám, mất mặt là thật.
Chiều hôm đó lớp sáu có kiểm tra thể lực, sau khi chạy xong tám trăm mét, thầy giáo cho tự do hoạt động, Cận Hành tìm một chỗ ngồi xuống, ánh mắt vô tình lướt qua ngoài cổng trường, phát hiện một bóng dáng quen thuộc đứng đó, liền đứng dậy đi tới.
Văn Viêm đứng ngoài hàng rào gần sân thể dục, áo khoác đồng phục trắng xanh, nhìn qua là học sinh, nhưng điếu thuốc kẹp giữa ngón tay và hình xăm trên mu bàn tay lại khiến người ta không thể không liệt cậu vào loại học sinh hư hỏng.
Cận Hành nhìn hàng rào cao cao: "Cậu đến đây làm gì?"
Chưa đến giờ tan học, bây giờ đáng lẽ đang là giờ học.
Văn Viêm hút một hơi thuốc, khói thuốc làm cậu nheo mắt lại, hờ hững nói: "Cúp học."
Cận Hành: "Vì sao? Đua xe? Đánh nhau?"
Văn Viêm muốn nói không phải, cậu chỉ cảm thấy kỳ lạ, không thể nào tĩnh tâm nghe giảng được, không biết từ lúc nào đã đi đến cổng trường trung học số sáu, khi thấy Cận Hành, lại kỳ lạ là bình tĩnh trở lại.
Văn Viêm cầm một ly trà sữa, đưa qua khe hở của hàng rào cho Cận Hành, cứ thế cách hàng rào sắt nói chuyện với anh. Cận Hành không ngờ cậu lại mua trà sữa, ngạc nhiên nhìn một cái: "Cho tôi?"
Văn Viêm nghĩ không phải cho cậu chẳng lẽ cho ma, nhưng nghĩ tới quan hệ hiện tại của hai người khác trước, rốt cuộc nuốt lại, ừ một tiếng, nhìn có vẻ hơi khó chịu.
Cận Hành nghĩ anh đâu phải con gái: "Sao đột nhiên lại mua cái này?"
Văn Viêm chỉ là thấy Từ Mãnh mỗi lần đều mua cho Nhan Na, làm theo thôi, tự mình cũng cảm thấy khó xử, nhướng mày nói: "Cho cậu uống thì uống đi, hỏi gì mà hỏi nhiều."
Cận Hành sờ ly trà sữa ấm trong tay, cách hàng rào sắt đen nhìn Văn Viêm, khuôn mặt lạnh lùng của đối phương bị chia cắt có chút không rõ ràng, tự dưng muốn cười: "Cậu không thấy giống như thăm tù sao?"
Văn Viêm ngừng lại, phát hiện đúng là có chút giống, búng tay vào hàng rào sắt, phát ra tiếng kêu trầm thấp, tùy tiện nói: "Trong tù không thoải mái thế này đâu."
Cận Hành không biết nghĩ tới điều gì, ngẩng lên nhìn Văn Viêm, vai dựa vào cửa, giọng không cảm xúc hỏi: "Thật không?"
Văn Viêm thực ra cũng không rõ, nhưng những người bị nhốt trong tù thì là loại người tốt lành gì, nhốt chung với một đám tội phạm, nghĩ bằng sợi tóc cũng biết không thể nào thoải mái: "Có lẽ vậy."
Cận Hành dựa lưng vào cửa, bỗng nhiên không nói gì nữa, nhìn đăm đăm vũng nước ẩm ướt ở xa, có chút xuất thần.
Văn Viêm lùi lại vài bước, ước lượng chiều cao hàng rào, rồi linh hoạt nhảy qua, động tác thành thạo, rõ ràng là thói quen, khi tiếp đất phát ra tiếng động nhẹ.
Cậu vượt qua hàng rào, đến bên trong "nhà tù".
Cận Hành cuối cùng hoàn hồn, cầm ống hút uống một ngụm trà sữa, nhưng không nếm được vị gì, cảm thấy ngạc nhiên trước những hành động bất thường của Văn Viêm, dùng ánh mắt hỏi cậu.
Bất kể ở đâu, Văn Viêm đều tự tin, đến trường trung học số sáu, như thể đến địa bàn của mình, cậu phủi bụi dính trên áo khoác đồng phục, rồi giẫm tắt điếu thuốc, rõ ràng là dáng vẻ của kẻ lưu manh, nhìn thấy khán đài thể dục không xa có chỗ trống, nói với Cận Hành: "Đi, qua đó ngồi."
Cận Hành giơ tay, nhặt mảnh lá vụn trên vai cậu, ở trường học, dù sao cũng không thể làm những hành động thân mật: "Cậu không sợ bị người ta nhìn thấy?"
Văn Viêm không phải là "vô danh tiểu tốt", mấy tên lưu manh trong vùng này không có ai không biết cậu.
Văn Viêm lên khán đài tìm một chỗ ngồi, sau đó một chân giẫm lên lưng ghế hàng trước, trông rất bá đạo và chẳng có chút gì gọi là công đức cả: "Thấy thì thấy, tôi xem ai dám nhiều chuyện."
Thiếu nữ tuổi thanh xuân luôn có một tình cảm đặc biệt không rõ ràng dành cho những thiếu niên xấu xa nhưng đẹp trai. Trong tiết thể dục, không ít nữ sinh tụ tập ngồi lại trò chuyện và nghỉ ngơi. Có người mắt tinh phát hiện ra Văn Viêm đột nhiên xuất hiện ở trường họ, lập tức như phát hiện ra châu lục mới, vừa vui mừng vừa sợ hãi, hạ thấp giọng xì xào bàn tán.
"Này này này, cậu nhìn xem, đó có phải là Văn Viêm của trường Sùng Minh không?"
"Tớ chưa từng gặp, nhưng đẹp trai quá!!"
"Suỵt, nhỏ tiếng thôi, để cậu ấy phát hiện thì không hay đâu."
"Cận Hành lại quen biết cậu ấy, hình như quan hệ không tồi."
Văn Viêm theo một nghĩa nào đó suy nghĩ khá đơn giản, chưa bao giờ quan tâm đến những chuyện này, ánh mắt cậu rơi vào sân bóng, sau đó hỏi Cận Hành: "Người của lớp các cậu à?"
Cận Hành gật đầu, nhét ly trà sữa vào tay Văn Viêm, lấy từ trong túi ra khăn giấy, lau sạch vài vệt nước mưa trên mép ghế, nhưng còn chưa kịp nói gì thì đã nghe Văn Viêm đột nhiên hỏi: "Những người nào đã bắt nạt cậu?"
Cận Hành dừng lại.
Ánh mắt Văn Viêm khóa chặt những người trên sân bóng, mang theo chút sắc bén, một tay đặt lên vai Cận Hành, dùng chút lực kéo cậu qua, ép buộc cậu nhìn về phía sân bóng: "Những ai bắt nạt cậu, chỉ cho tôi xem."
Cận Hành theo ánh mắt cậu nhìn tới, những gương mặt quen thuộc trên sân bóng, hoặc cười hoặc đùa, đuổi theo quả bóng qua lại, ngón tay cậu khẽ động, cách không chỉ vào một người: "Hắn."
Văn Viêm ghi nhớ: "Còn ai nữa?"
Ngón tay Cận Hành dịch chuyển, chuẩn bị chỉ vào người thứ hai, nhưng đột nhiên bị hệ thống với thân thể tròn trịa màu xanh lam che mất tầm nhìn. Đối phương vỗ cánh, không có ngũ quan của con người nhưng lại mang đến một bầu không khí nghiêm túc.
Hệ thống khẽ nói:【Đừng làm vậy......】
Cận Hành đang không dấu vết dẫn dụ Văn Viêm phạm lỗi, anh biết rõ sau khi chỉ, kết quả sẽ là gì, nhưng vẫn cố tình làm vậy, vẫn coi Văn Viêm là con dao trong tay, để đối phương thay anh trả thù.
Cận Hành nheo mắt lại, không nói gì.
Hệ thống nhắc nhở anh: 【Vi phạm quy tắc sẽ bị trừng phạt bằng điện.】
Cận Hành mỉa mai nhếch môi, trong mắt đầy lạnh lẽo, hình phạt điện của hệ thống không đủ để khiến anh sợ hãi, nhưng không hiểu sao, tay anh vẫn từ từ hạ xuống, xoa ngón tay, nói với Văn Viêm: "Tôi nhìn không rõ."
Văn Viêm cũng không gấp gáp, cậu hơi buông lỏng Cận Hành, nhìn thẳng vào anh, từng từ một nói khẽ: "Sau này ai bắt nạt cậu, phải nói cho tôi biết."
Họ không học cùng trường, dù Văn Viêm có lợi hại đến đâu cũng không thể quan tâm mọi việc.
Cận Hành nhân lúc ghế che khuất, đầu ngón tay lạnh lẽo nhẹ nhàng lướt qua lòng bàn tay Văn Viêm, không biết mang theo ý vị gì, từ tốn đáp: "Ừ, tôi biết."
Văn Viêm ngồi thêm một lát, đợi đến khi họ sắp hết giờ học mới đứng dậy: "Tôi về trường trước, tan học tôi đến đón cậu."
Cận Hành ngồi yên tại chỗ, không có thói quen giẫm lên ghế ngồi và khoanh chân như Văn Viêm, trông rất yên tĩnh và ngoan ngoãn, nghe vậy liền nghiêng đầu nhìn cậu, mái tóc bị ánh nắng chiếu qua có chút trong suốt: "Hôm nay đến nhà tôi ngồi chơi."
Phía sau không có từ "không", nên đây không phải câu hỏi, cũng không phải đang hỏi ý kiến của cậu.
Văn Viêm giật giật mí mắt: "Đến nhà cậu làm gì?"
Cận Hành dứt khoát đứng dậy, dáng người cao lớn rơi một cái bóng dài, cao hơn Văn Viêm nửa cái đầu, một tay đút túi, ánh mắt dừng lại trên môi Văn Viêm, ý vị khó hiểu, mập mờ nói: "Hôn cậu..."
Văn Viêm trừng mắt.
Cận Hành cười cười: "Mời cậu uống trà."
Văn Viêm nghẹn một chút, không nói được gì, cũng không nói không, dù sao mỗi lần nói chuyện với Cận Hành, cậu luôn không theo kịp tiết tấu, lười đi vòng qua bậc thang, chống tay chuẩn bị nhảy từ khán đài xuống, lại nghe Cận Hành nói: "Nếu cậu muốn làm chuyện khác, tôi cũng không phiền."
Ánh mắt Cận Hành như hàn đàm sâu thẳm, anh dựa vào lưng ghế, ánh mắt quét qua bóng lưng gầy gò của Văn Viêm, eo lưng mạnh mẽ, ẩn ẩn có thể nhìn thấy vài phần ngỗ nghịch, có chút tò mò, không biết mùi vị có giống như kiếp trước.
Văn Viêm vô cớ đọc hiểu ánh mắt anh, khi nhảy khỏi khán đài suýt chút nữa té ngã, nghĩ bụng Cận Hành đúng là một tên lưu manh nhỏ.
Chương 141
Buổi tối tan học, Văn Viêm như thường lệ đưa Cận Hành về dưới lầu nhà cậu, nhưng còn chưa kịp đi, Cận Hành đã đột nhiên nắm lấy cổ tay cậu, nghiêm túc nói: "Đi thôi, lên trên ngồi chơi."
Văn Viêm liếc nhìn tay anh nắm lấy tay mình, nghĩ bụng chẳng phải chỉ là đi vào ngồi một chút thôi sao, có thể xảy ra chuyện gì lớn, chậm nửa nhịp giữ chặt quai đeo túi sắp tuột, sau đó khoác áo đồng phục lên vai: "Cậu đi trước."
Cầu thang chật hẹp, một người đi vừa đủ, hai người thì lại chật chội.
Nhưng Cận Hành không buông tay cậu, kéo cậu vào hành lang, đèn cảm ứng màu vàng nhạt sáng lên theo tiếng bước chân, chiếu rõ ràng những quảng cáo nhỏ dán trên tường hai bên, vai họ chạm vào nhau, thực sự rất chật chội.
Người dân khu này đều ngủ sớm, khoảng chín giờ tối đã ngủ cả, Cận Hành tránh những vật dụng chồng chất ở hành lang, lấy chìa khóa mở cửa, đồ đạc trong phòng giống như khách sạn bình thường, gần như không thấy đồ dùng cá nhân, nhưng không mới và đẹp như khách sạn.
Văn Viêm đứng ở cửa, tựa vào khung cửa ngó vào bên trong: "Cậu chắc chắn định mời tôi uống trà?"
Cậu không thấy ấm trà, chỉ cảm thấy căn phòng này vừa lạnh vừa trống, không có người nói chuyện thì yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng kim rơi, đổi lại là người nhát gan thì không dám ở lại.
Cận Hành đặt ba lô lên ghế, sau đó đi đến bồn rửa tay rửa cốc, đổ đầy một cốc nước ấm, nghe vậy liền liếc cậu một cái: "Khách sáo, cậu cũng tin sao?"
Ngoài kia gió lạnh thổi vào, Văn Viêm dứt khoát bước vào phòng, sau đó tiện tay đóng cửa lại, vì không thấy ghế tiếp khách, đành ngồi ở cuối giường, đối với môi trường sống của Cận Hành cảm thấy khó hiểu: "Mẹ cậu đâu?"
Cận Hành bình thản nói: "Mất rồi."
Văn Viêm dừng lại: "Ba cậu đâu?"
Cận Hành đưa cốc nước cho cậu: "Chết rồi."
Anh luôn tỏ vẻ nghiêm túc khiến người khác không thể phân biệt được lời anh nói là thật, giả hay chỉ là lời tức giận.
Văn Viêm liếc nhìn Cận Hành, sau một lúc mới quay đầu nhìn sang chỗ khác, sờ sờ túi quần, theo bản năng muốn lấy thuốc lá nhưng nghĩ đây là nhà Cận Hành nên lại thôi, lơ đễnh nói: "Tôi còn không biết ba tôi là ai, cũng chẳng khác gì cậu."
Mẹ của Văn Viêm có tiếng xấu, trong mắt hàng xóm là một kẻ lẳng lơ không đứng đắn, không biết đã lén lút với người đàn ông nào mà sinh ra Văn Viêm, ngoài việc định kỳ gửi tiền sinh hoạt phí, cả năm chẳng nói được vài câu, chẳng khác gì người xa lạ.
Cận Hành nghĩ, tôi không giống cậu, tôi biết ba mình là ai, cúi người nhìn cậu: "Khác chỗ nào?"
Văn Viêm tiện tay đặt cốc nước sang một bên: "Đều là mấy đứa trẻ không ai quản."
Cận Hành ồ một tiếng, mỉm cười: "Chả trách dám ngủ lang."
Văn Viêm nhướn mày, hé mắt: "Ai nói tôi muốn ngủ lang?"
Cận Hành tiến lại gần cậu, hai tay chống bên cạnh, hơi thở ấm áp phả nhẹ lên cổ, ấm hơn chút so với không khí lạnh bên ngoài: "Muộn thế này, cậu định về nhà?"
Cận Hành tiến quá nhanh, chưa kịp theo đuổi đã hôn, chưa chính thức yêu đã tính chuyện sống chung, Văn Viêm dù không câu nệ tiểu tiết cũng không đến mức đó, cười nhạo một tiếng: "Không về thì làm gì, nhóc con."
Ba chữ sau rõ ràng là nhằm vào Cận Hành, Văn Viêm cảm thấy Cận Hành dù trưởng thành nhưng vẫn hơi nôn nóng, không biết rằng đó chỉ là bản năng chiếm hữu và kiểm soát của cậu ta.
Cận Hành nói: "Còn phải xem cậu muốn làm gì..."
Anh nói xong, cúi người hôn Văn Viêm, rồi chậm rãi cạy mở hàm răng đối phương, điệu nghệ trêu đùa, Văn Viêm thoáng sững lại, sau đó cố gắng thả lỏng, nhưng rốt cuộc không có kinh nghiệm, không biết phải đáp lại thế nào.
Nụ hôn với cậu không nghi ngờ gì là một trải nghiệm lạ lẫm và k.ích thích.
Cận Hành giữ sau đầu Văn Viêm, khẽ cắn môi cậu, giọng khàn khàn đầy mê hoặc: "Thoải mái không..."
Văn Viêm trừng mắt, nghĩ kiểu câu hỏi này thì trả lời thế nào?
Cận Hành lòng bàn tay chậm rãi di chuyển, ôm lấy eo Văn Viêm, cảm giác như tưởng tượng, vừa mạnh mẽ vừa mềm dẻo, anh dẫn dắt đối phương cách hôn đáp lại, từ lóng ngóng đến thuần thục, rồi từ thuần thục đến nhuần nhuyễn.
Nụ hôn của Văn Viêm cũng giống như tính cách của cậu, sau khi thuần thục liền trở nên mạnh mẽ bá đạo, rất có sức công kích, vừa đau vừa nhức, Cận Hành cảm nhận được chút vị máu tanh trong miệng, rồi bóp cằm Văn Viêm, không nói một lời cắn mạnh vào môi dưới của cậu, sau đó thấp giọng cười: "Học nhanh thật."
Hai người không biết từ khi nào đã ngã xuống giường, Văn Viêm lau vết máu trên môi, không để tâm, hình xăm trên mu bàn tay là những đường nét màu đen, đan xen thành nụ cười kỳ quái bên miệng đầu lâu.
Cận Hành giữ lấy tay cậu, hôn lên đó, nụ cười mơ hồ hoà hợp với nụ cười đầu lâu, chợt tắt, anh đứng dậy kéo Văn Viêm dậy cùng.
Văn Viêm nhướn mày: "Làm gì?"
Cận Hành nghĩ có thể làm gì: "Làm bài tập."
Không còn cách nào khác, dạo này bài vở nặng nề, trong cặp Cận Hành còn ba tờ đề chưa làm xong, anh kéo ghế ngồi xuống trước bàn học, rồi như thường lệ bắt đầu làm bài tập, mặc dù tốc độ viết của anh chẳng khác nào điền thẳng đáp án.
Văn Viêm: "......"
Văn Viêm tiện tay kéo ghế ngồi bên cạnh, nhìn hồi lâu cuối cùng phát hiện không đúng, ngạc nhiên: "Cậu gọi tôi đến chỉ để nhìn cậu làm bài?"
Cận Hành xoay bút, ngẩng lên nhìn cậu: "Không, là ở bên cạnh tôi."
Đúng như Văn Viêm nghĩ, nơi này quá lạnh lẽo và trống trải, một người rất khó mà chịu đựng, tâm tư Cận Hành thay đổi khó lường, có lúc chính anh cũng không đoán ra, có lẽ người duy nhất anh quen thuộc từ kiếp trước đến kiếp này chỉ có Văn Viêm, luôn vô thức làm những chuyện kỳ lạ.
Văn Viêm cảm thấy mình bị biến thành công cụ, nhướn mày, lười biếng ngả ra sau ghế: "Tôi dựa vào đâu mà ở bên cạnh cậu?"
Cận Hành nghiêm túc: "Vì là bạn trai, nên phải thoả mãn mọi yêu cầu hợp lý và không hợp lý."
Văn Viêm giật giật mí mắt: "Yêu cầu không hợp lý?"
Cận Hành: "Yên tâm, hiện tại tôi chưa có yêu cầu nào như thế."
Văn Viêm khinh bỉ cười nhạo, trong lòng cảm thấy như bị chơi khăm, mặt không đổi sắc lau mặt, cuối cùng hiểu tại sao Từ Mãnh mỗi lần đều bị Nhan Na giày vò đến muốn nhảy lầu.
Cận Hành làm xong một tờ đề, vô tình nhìn sang bên cạnh, phát hiện Văn Viêm đang ngồi bên cạnh ngẩn người, cúi đầu dùng giấy lau vết mực rỉ, cuối cùng có lương tâm: "Cậu thấy chán à?"
Văn Viêm nhìn thấy đề bài là buồn ngủ, ngáp dài: "Hơi hơi."
Cận Hành đề nghị: "Hay là cùng tôi làm bài?"
Văn Viêm lập tức tỉnh ngủ, cười lạnh: "Cậu đùa à."
Cậu từ trước đến nay chưa từng làm bài tập, dù có làm thì cũng là người khác làm hộ, cậu không muốn biến Cận Hành thành học sinh hư, nhưng Cận Hành cũng đừng hòng biến cậu thành học sinh tốt.
Văn Viêm nói xong, lập tức kéo ghế đứng dậy định rời xa bàn học, kết quả bị Cận Hành kéo trở lại, vừa vặn ngã ngồi trên đùi anh, bị giữ chặt eo không thể cử động.
Văn Viêm khẽ chửi một câu thô tục, hơi xấu hổ thành giận: "Cận Hành, ông đây không phải con gái!"
Cận Hành trước đó với cậu vừa hôn vừa ép vào tường thì thôi đi, giờ càng quá đáng, trực tiếp ôm lên đùi ngồi!
Cận Hành tựa cằm lên vai cậu, khẽ cọ hai cái, thản nhiên: "Tôi biết cậu là con trai, thế thì sao?"
Anh nói xong hơi nghiêng đầu, lập tức giữ chặt mặt bên của Văn Viêm hôn tới, mang theo vài phần bá đạo, điệu nghệ cướp đoạt không khí giữa môi răng đối phương, Văn Viêm nhất thời cảm thấy mình không thở nổi, cuối cùng ngay cả giãy giụa cũng yếu dần.
Cận Hành cách lớp áo sờ sờ cơ bụng cậu, cuối cùng buông tay, dịu dàng nói: "Buồn ngủ thì lên giường nằm một lát, tôi còn một tờ đề nữa là làm xong rồi."
Văn Viêm hổn hển thở dốc, khó khăn lắm mới bình tĩnh lại được. Nghe Cận Hành nói phải làm bài tập, cậu nghĩ yêu một học sinh giỏi thì phải chán thế nào, chắc mình đúng là đầu óc có vấn đề. Văn Viêm đi đến giường nằm xuống, rồi úp mặt vào gối không nhúc nhích.
Ga giường thoang thoảng mùi nước giặt, nhẹ nhàng dễ chịu, giống như mùi áo khoác đồng phục của Cận Hành. Văn Viêm đưa tay vuốt vuốt mái tóc ngắn màu đỏ sẫm của mình, không thể nào hiểu nổi tại sao mọi chuyện lại phát triển thành thế này. Miệng vẫn còn chút đau rát, nhắc nhở cậu về tất cả những gì vừa xảy ra.
Không thể hiểu nổi, Văn Viêm ngồi dậy. Cậu kiềm chế cơn thèm thuốc, kẹp một điếu thuốc trong ngón tay rồi bẻ bẻ, giống như không chú ý, nhưng thực ra lại rất quan tâm, cất giọng hỏi: "Cận Hành..."
Cận Hành không dừng bút, đầu cũng không quay lại, ánh mắt vẫn chăm chú nhìn vào bài tập, nhưng nghe thấy giọng nói thì vẫn khẽ ừ một tiếng: "Sao vậy?"
Văn Viêm nhìn chằm chằm vào lưng anh, mím môi: "Tại sao cậu muốn làm bạn trai tôi?"
Bút của Cận Hành dừng lại, để lại một chấm mực trên trang giấy trắng. Anh dùng giấy lau chiếc bút máy không tốt lắm, cúi đầu nói: "Không có tại sao cả."
Nếu phải nói ra một lý do, Văn Viêm là nơi nương tựa lớn nhất mà Cận Hành có thể tìm thấy. Tình anh em không đủ để Văn Viêm dốc hết mình bảo vệ anh, nhưng tình yêu thì có thể.
Cận Hành cần những điều đó, còn cả trái tim đập mạnh mẽ dưới lớp da thịt của đối phương.
Câu trả lời này như không nói gì, Văn Viêm không biết cảm giác của mình là gì nữa. Cậu ngồi ở mép giường, nửa người chìm trong bóng tối, tóc mái che khuất cảm xúc trong mắt, chỉ có điếu thuốc trong tay bị vân vê đến nham nhở, những sợi thuốc màu nâu rơi đầy đất.
Im lặng một lúc lâu, Văn Viêm vẫn nhắc nhở anh: "Trong ba ngày, cậu muốn hối hận lúc nào cũng được."
Cận Hành lật trang bài tập, phát ra tiếng xào xạc nhẹ nhàng, nghe xong thì quay đầu nhìn cậu, ánh mắt sâu thẳm: "Tôi chưa bao giờ làm việc gì mà phải hối hận."
Kiếp trước anh ở bên Văn Viêm, kiếp này cũng vẫn ở bên Văn Viêm, cùng một chuyện đã làm hai lần, bất kể là vì mục đích gì, cũng không liên quan đến hai chữ hối hận.
Văn Viêm không mang theo quần áo, tối đến tắm qua loa trong phòng tắm rồi mặc đồ ngủ của Cận Hành. Giường chỉ có một cái, hai người chỉ có thể ngủ cùng nhau.
Văn Viêm luôn cảm thấy kỳ lạ, cậu dựa vào giường chơi game, thấy Cận Hành từ phòng tắm đi ra, cậu ngước mắt nhìn anh: "Cậu ngủ có giữ trật tự không?"
Cận Hành vắt áo khoác đồng phục ở cuối giường, rồi dọn dẹp đồ dùng học tập trên bàn, mỉm cười thích thú: "Giữ trật tự? Cậu chỉ điều gì?"
Văn Viêm chỉ có thể rất ẩn ý nói với anh: "Về phương diện đó."
Cận Hành cười như không cười, kéo dài giọng, nói nhẹ nhàng: "Yên tâm, dù cậu muốn làm, tôi cũng không làm."
Văn Viêm cười khẩy: "Sao, cậu thấy tôi còn nhỏ?"
Cận Hành sửa lại: "Không, là tôi còn nhỏ."
Văn Viêm vừa tròn mười tám, Cận Hành còn kém hai tháng nữa.
Chương 142
Văn Viêm nghĩ rõ ràng mỗi lần đều là Cận Hành giở trò lưu manh, làm như thể cậu không trong sáng vậy. Không để ý xoay người, kết quả làm giường phát ra tiếng kêu kẽo kẹt, cậu lập tức cứng người, không dám động đậy nữa.
Cận Hành thu dọn bài tập vào bìa hồ sơ, giọng nói trong trẻo vô hại: "Xin lỗi, giường có hơi cũ."
Văn Viêm nghĩ tôi nhìn ra rồi.
Áo khoác đồng phục của Cận Hành vốn vắt ở mép giường, vì cậu xoay người mà trượt xuống đất, Văn Viêm tiện tay nhặt lên, kết quả thấy dưới đất có một mẩu giấy nhỏ, nhặt lên mở ra xem mới biết là bảng kê các khoản học phí.
Cận Hành không để ý, anh quay lưng về phía giường, đang đứng trước bàn học dọn sách vở.
Văn Viêm nhìn anh một cái, gấp giấy lại, nhét lại vào túi, nhẹ nhàng đặt áo khoác về chỗ cũ, kéo khóa phát ra một tiếng kêu nhỏ. Qua một lúc, Văn Viêm cầm điện thoại chơi game tiếp, tiện miệng hỏi: "Cậu có công việc bên ngoài không?"
Cận Hành thay đồ ngủ, đi về phía giường, thân hình cao gầy: "Kỳ nghỉ hè dự định tìm việc làm thêm."
Văn Viêm tắt game, nhíu mày: "Đây là thời điểm quan trọng để lên lớp, không thích hợp làm việc, hè còn phải học thêm."
Trường Sùng Minh có học thêm hay không không rõ, nhưng theo truyền thống hàng năm, trường trung học số sáu chắc chắn là có.
Cận Hành không bao giờ đặt chuyện học tập vào lòng, nằm xuống giường, không ngờ phát ra tiếng kẽo kẹt, anh tắt đèn, mùi sữa tắm và hương thơm sau khi tắm rửa trong đêm tối trở nên rõ ràng hơn: "Đến lúc đó tính tiếp."
Văn Viêm gối tay sau đầu, nhắm mắt lại nói: "Có chuyện gì thì nói với tôi."
Thực tế, cậu là người ăn nói vụng về, lúc này càng không thể che giấu, nhưng không thể giả dối được.
Hôm đó trong tiết thể dục, Văn Viêm và Cận Hành ngồi cùng nhau, nhiều người đã nhìn thấy, bất kể vì lý do gì, ít nhiều cũng có chút e ngại, rõ ràng nhất là Bàng Nhất Phàm.
Không biết Văn Viêm đã làm gì, mà chỉ sau một đêm, Bàng Nhất Phàm từ một con gà trống hung hăng trở thành một con chuột chạy qua đường đầy lo sợ. Hôm đó Cận Hành ngồi trong lớp sau giờ học, trước mặt đột nhiên xuất hiện một cái bóng, ngẩng đầu lên thấy Bàng Nhất Phàm đang run rẩy đứng trước bàn mình.
Cận Hành cầm chai nước, vặn nắp từ từ, không biểu lộ cảm xúc: "Có chuyện gì?"
Bàng Nhất Phàm nhìn anh với ánh mắt phức tạp, vừa hận vừa sợ, ẩn hiện còn có chút uất ức. Tay hắn nắm chặt bên người, mặt đỏ bừng, ngực phập phồng, một lúc lâu sau mới miễn cưỡng nói ra được hai chữ: "Xin lỗi..."
Giọng nhỏ như muỗi kêu, nếu không phải Cận Hành nhìn khẩu hình miệng, thì không biết hắn đang nói gì.
Cận Hành đặt chai nước lại trên bàn, dựa lưng vào ghế, tư thế ngồi nghiêm chỉnh có một sự trưởng thành và thâm trầm không thuộc về lứa tuổi này, đôi mắt di truyền từ mẹ khiến anh trông cực kỳ sạch sẽ: "Cậu nói gì, tôi nghe không rõ?"
Cận Hành nhìn không có vẻ gì là cần lời xin lỗi của hắn, cười cười, khiến người khác lạnh sống lưng: "Nói lớn lên một chút."
Nghe vậy, ngực Bàng Nhất Phàm phập phồng không ngừng, đây là dấu hiệu hắn đang giận dữ, nhưng không biết vì sao, hắn lại nhịn xuống, dưới ánh mắt kỳ lạ của mọi người xung quanh, lặp lại một lần nữa: "Xin lỗi."
Lần này nghe có vẻ rõ ràng hơn.
Cận Hành có chút muốn cười, cái cảm giác không biết từ đâu đến ấy, có lẽ anh cảm thấy ba chữ này cực kỳ châm biếm và vô dụng. Anh đứng dậy từ ghế, thân hình cao gầy mang đầy áp lực, giọng không nghe ra cảm xúc: "Tôi biết rồi."
Không nói tha thứ, cũng không nói không tha thứ.
Nếu có người đâm bạn một nhát, thì cách tốt nhất để được tha thứ là người đó cũng tự đâm mình một nhát, chứ không phải đứng đây nói những lời vô ích này.
Sắc mặt Bàng Nhất Phàm xanh trắng, mặt vốn đã khó coi càng thêm kỳ dị. Hắn nhìn chằm chằm vào Cận Hành, có lẽ muốn buông lời hung hãn, nhưng không biết nhớ đến điều gì, lại không làm gì cả, chỉ chạy thẳng ra khỏi lớp học.
Những người khác trong lớp đều đang xem kịch, nhưng không dám bàn tán gì, cho đến khi giáo viên vào lớp dạy học, bầu không khí mới trở lại bình thường.
Trưa hôm đó, giáo viên kéo dài tiết học, Văn Viêm đợi ở cửa mười mấy phút mới thấy Cận Hành từ trường bước ra. Anh đi qua những quầy hàng đông đúc, quần áo có chút lộn xộn, tóc cũng hơi rối, như thể vừa chạy đến: "Tôi đến trễ rồi."
Văn Viêm đá điếu thuốc dưới chân: "Cũng được, không đợi lâu."
Cậu luôn không chịu mặc đồng phục đàng hoàng, hoặc vắt lên vai hoặc buộc ở eo, chiếc áo thun thể thao màu đen khiến cậu trông có chút lạnh lùng, lười biếng nhưng tỏa ra khí thế, khiến không ai dám lại gần nói chuyện. Nếu không, vẫn có không ít nữ sinh muốn chủ động kết bạn.
Trưa hôm đó, Văn Viêm đưa Cận Hành đi ăn, lúc đưa anh về trường, không biết nhớ đến điều gì, lấy từ túi ra một xấp tiền nhỏ, đếm đúng năm tờ, đưa cho Cận Hành: "Cầm lấy."
Cận Hành nhận lấy, nhìn thoáng qua, không hiểu: "Đưa tôi tiền làm gì?"
Văn Viêm không thích giải thích nhiều, nhưng lần đầu làm việc này, cảm thấy hơi lúng túng. Cậu thành thạo châm điếu thuốc, ngậm trong miệng, liếc mắt: "Tiền có thể làm gì? Không dùng để tiêu thì dùng để ăn à?"
Khói thuốc có chút cay mắt.
Cận Hành hỏi ngược lại: "Cho tôi tiêu?"
Văn Viêm ừm một tiếng: "Muốn mua gì thì mua."
Học phí và các khoản chỉ cần bốn trăm, cậu làm tròn thành năm trăm. Cứ để Cận Hành tiêu gì thì tiêu.
Chuyện này kiếp trước cũng từng xảy ra, không ngoa khi nói rằng học phí trung học và đại học của Cận Hành, phần lớn đều là tiền Văn Viêm gửi anh. Đối phương vừa là tấm lá chắn, vừa là cây rút tiền, cuối cùng khi xong việc lại vào tù.
Hệ thống ngày đó nói cũng không sai, Cận Hành vừa bỉ ổi vừa yếu đuối. Khác biệt là, anh vừa là nạn nhân vừa là kẻ gây ác.
Cận Hành ừm một tiếng, sau đó nhét tiền vào túi, ánh mắt lướt qua từng chút trên gương mặt kiêu ngạo của Văn Viêm, không biết đang nghĩ gì. Một lúc sau mới nói: "Sau này sẽ trả lại."
Dù không chắc trả hết, kiếp trước còn nợ một đống chưa trả. Chỉ hy vọng không phải nợ thêm, càng nợ càng nhiều.
Văn Viêm dĩ nhiên không có ý định để anh trả lại, trong khói thuốc mờ mịt khẽ nói: "Học hành chăm chỉ, sau này đi làm rồi nói."
Cậu là một thiếu niên không có gì tốt đẹp, chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ có ngày khuyên người khác học hành chăm chỉ.
Cận Hành nhìn đồng hồ, còn mười mấy phút nữa là đến giờ học. Thấy những người bán cơm trưa dần dần dọn đi, anh kéo Văn Viêm vào một ngõ nhỏ bên cạnh. Đây là nơi để đồ vật của trường sáu trung trước đây, sau đó bị bỏ hoang, cỏ dại mọc đầy, không ai đến.
Văn Viêm không hiểu chuyện gì, ánh mắt cảnh giác: "Cậu làm gì?"
"Suỵt," Cận Hành ghé vào tai cậu khẽ nói, nửa cười nửa không, "Nói nhỏ thôi, không thì bị phát hiện không hay."
Văn Viêm nghĩ bị phát hiện cái gì? Nhưng chưa kịp hỏi ra, đã bị Cận Hành hôn lên, đồng tử co lại, không ngờ đối phương gan to như vậy, khẽ trách: "Cậu điên rồi à?"
Cận Hành ôm eo cậu, rồi đột nhiên siết chặt, vừa hôn sâu vừa cắn nhẹ vào tai cậu, hơi nóng phả vào cổ, ám muội k.ích thích, Văn Viêm càng nôn nóng, anh lại càng muốn cười: "Không thấy rất k.ích thích sao?"
Văn Viêm nghĩ cái này mẹ nó k.ích thích quá, trong lòng cậu là sự kháng cự, nhưng lại bị Cận Hành hôn đến choáng váng, thiếu oxy, cuối cùng không đứng vững được.
Cận Hành ôm chặt eo cậu, đợi Văn Viêm bình tĩnh lại mới từ từ buông tay, nghe tiếng thở dốc của đối phương, ngón tay khẽ lướt qua đôi môi đỏ rực của Văn Viêm, như đùa giỡn nói: "Thưởng cho cậu, đưa than sưởi ấm trong ngày tuyết."
Văn Viêm nghĩ đưa tiền lại thưởng bằng cách hôn à? Khó chịu nói: "Ông đây không phải đi mua dâm đâu."
Cận Hành nghĩ Văn Viêm cái gì cũng dám nói, đôi tai khẽ động, nghe tiếng chuông vào lớp vang lên, cúi xuống nhẹ nhàng hôn một cái cuối cùng lên môi Văn Viêm, nói nhỏ: "Tôi đi học đây."
Rõ ràng vừa rồi còn có những động chạm sâu hơn, nhưng cái hôn nhẹ này lại làm lòng người rung động.
Văn Viêm nhìn gương mặt gần trong gang tấc của Cận Hành, không nhịn được khẽ run lông mi, rồi chậm rãi đáp: "Ừ, cậu đi đi."
Cận Hành đứng thẳng dậy, nói với cậu: "Cậu cũng đi học đi."
Văn Viêm lên lớp chỉ để ngủ, nghe Cận Hành nói vậy, tùy tiện vò đầu: "Biết rồi."
Kỳ thi phân lớp của trường trung học số sáu dự kiến diễn ra trước kỳ nghỉ hè, một số người đã được xác định, Cận Hành thuộc loại tăng vọt sau này, giáo viên lo lắng anh thi không ổn định, sau giờ tự học buổi tối, đặc biệt gọi riêng anh nói chuyện, đưa một chồng đề thi, nhưng không ngờ Cận Hành không định vào lớp một.
Giáo viên chủ nhiệm đặt kỳ vọng lớn vào anh: "Học hành chăm chỉ, có gì không hiểu có thể hỏi thầy."
Cận Hành gật đầu cảm ơn, ra khỏi văn phòng, vừa đến cổng trường đã thấy Nhan Na đang đợi bên ngoài, cô đeo ba lô, đi tới đi lui ngoài cửa, trông có vẻ sốt ruột bất an.
Cận Hành nhét đề thi vào ba lô, hỏi cô: "Cậu sao thế?"
Nhan Na thấy là anh, cuối cùng dừng bước, cau mày không ngừng phàn nàn: "Cuối cùng cậu cũng ra rồi, ngoài này đầy muỗi, tôi sắp bị cắn chết rồi."
Cận Hành thấy cô không lén ra ngoài tìm Từ Mãnh trong giờ tự học buổi tối, cảm thấy kỳ lạ, cùng cô đi xuống cầu thang, vừa đi vừa hỏi: "Từ Mãnh đâu, sao không đến đón cậu?"
Nhan Na bĩu môi: "Ồ, hôm nay anh ấy và Văn Viêm có chút việc, có lẽ không đến được. Nếu đợi lâu mà vẫn chưa tới thì chúng ta về trước."
Nhan Na bực mình là có lý do. Từ Mãnh và Văn Viêm loại côn đồ như họ có thể có chuyện gì, không lẽ bị việc học cản trở à? Chắc là đi bar, đi tán gái, hoặc đánh nhau. Nhưng họ đâu phải kiểu người uống rượu tán gái, nên chỉ còn lại việc đánh nhau thôi.
Cận Hành cũng đoán ra phần nào, không nói gì, một lúc sau mới lên tiếng: "Mai tính tiếp đi."
Nhan Na bĩu môi: "Chỉ còn cách đó thôi."
Cận Hành và Nhan Na đi đến ngã ba rồi chia tay về nhà. Anh lấy điện thoại từ túi ra, tìm số liên lạc của Văn Viêm, ngón tay dừng lại trên màn hình hồi lâu, cuối cùng không gọi mà chỉ gửi một tin nhắn.
Ở cổng trường, Bàng Nhất Phàm đang bị vài tên côn đồ kéo vào quán bar. Nhà hắn ở ngoại tỉnh, là học sinh nội trú, ra ngoài giờ này chắc chắn không phải chuyện tốt. Mặt mày sợ hãi và lo lắng, rõ ràng đã trở thành "Cận Hành" thứ hai.
Cận Hành nhìn một cái, bất ngờ chạm ánh mắt với hắn rồi chầm chậm cười.
Bàng Nhất Phàm mặt càng tái nhợt.
Hệ thống đôi khi không hiểu, vỗ cánh hỏi Cận Hành:【Đây là điều anh muốn sao?】
Cận Hành: "Đúng."
Anh liếc hệ thống một cái, nói không chút do dự, cuối cùng còn thêm một câu đầy ẩn ý: "Cậu ta sẽ không phải là người đầu tiên, cũng sẽ không phải là người cuối cùng."
Tưởng Thiếu Long, Bàng Nhất Phàm...
Còn ai nữa đây?
Cận Hành bước đi trên con phố đêm, tâm trạng hơi vui vẻ hơn chút, nhưng khi đến con ngõ nhà mình, như thường lệ lên lầu, phát hiện cửa nhà mở toang, hành lang đầy rác rưởi, lại trở nên lạnh lùng.
Qua khe cửa mở hờ, lờ mờ thấy một người đàn ông trung niên cao lớn đang lục lọi thứ gì đó, ngăn kéo, giường, tủ áo đều bừa bộn. Ông ta lẩm bẩm như một kẻ nghiện, đang tìm thứ cứu mạng mình.
"Tiền đâu... tiền đâu... ở đây không có... chỗ này cũng không..."
"Rầm" một tiếng, Cận Hành mặt không biểu cảm đá cửa ra. Anh ném cặp xuống đất, ánh mắt u ám nhìn đối phương: "Tiền ở chỗ tôi."
Người đàn ông trung niên nghe vậy giật mình, như kẻ trộm bị bắt quả tang, phản xạ đứng lên. Mắt thâm quầng do lâu ngày uống rượu, hút thuốc, khuôn mặt mờ nhạt chút nét giống Cận Hành.
Cận Trường Thanh lục lọi quá nhập tâm, không nhận ra Cận Hành đã đứng ở cửa từ khi nào. Đã lâu rồi ông ta không gặp con trai, đột ngột gặp lại, ngây người một lúc mới phản ứng, rồi cười gượng gạo: "A Hành à, ba về đây từ tháng trước."
Cận Hành liếc đống rác dưới đất, nụ cười vẫn còn, nhưng nhìn kỹ có chút lạnh lùng: "Ừ, tôi biết."
Cận Trường Thanh ngạc nhiên: "Con biết thế nào?"
Cận Hành cười nhạt: "Lần trước không phải ông đã vào đây rồi sao."
Anh bước qua đống lộn xộn dưới đất, thấy ngăn kéo bị tháo, cười khẩy rồi đặt giường lại như cũ, ngồi xuống cạnh giường: "Ông tìm gì, tôi giúp ông tìm."
Trong lòng Cận Trường Thanh, đứa con này nhút nhát, bị đánh cũng không dám kêu, nên không còn e ngại gì nữa, mặt dày không để ý: "A Hành, gần đây ba nợ nần ngoài kia, lúc mẹ con qua đời không phải để lại cho con một số tiền sao, con cho ba vay xoay sở chút."
"Hết rồi," Cận Hành vỗ quần, "Tiền nhiều năm trước để lại, đã tiêu hết rồi."
Cận Trường Thanh sắc mặt biến đổi: "Đó là tiền bà ngoại bán nhà, mấy chục vạn, sao tiêu hết được?"
Cận Hành lặng lẽ nhìn ông ta, nụ cười méo mó: "Ba quên rồi à, đó là tiền bà ngoại để mẹ phẫu thuật, cuối cùng bị ba trộm đi đánh bạc, ba quên rồi?"
Cận Trường Thanh mặt mày tái mét, nghẹn lời: "Nói bậy, mẹ con chắc chắn còn để lại tiền cho con, không thì mấy năm qua con sống sao, mau tìm ra đưa cho ba!"
Ông ta cuống quýt nắm chặt vai Cận Hành, ngón tay gần như chọc vào thịt anh: "Đám cho vay nặng lãi luôn tìm ba, nếu không có tiền, chúng sẽ chặt chân ba, con không thể nhìn ba chết chứ? Hả?!"
Cận Trường Thanh mồ hôi nhễ nhại: "A Hành! A Hành! Con phải giúp ba!"
Cận Hành nhíu mày cố gắng thoát ra, cuối cùng nhận ra sức ông ta quá lớn, không thể lay chuyển, liếc mắt: "Được, buông tôi ra, tôi lấy thẻ ngân hàng cho ông."
Cận Trường Thanh mặt mừng rỡ: "Thật sao?!"
Cận Hành: "Thật."
Lời vừa dứt, anh nhận ra tay Cận Trường Thanh đã buông, từ giường đứng lên, trong ánh mắt ông ta đi tới bàn học, nhưng khi ngang qua bếp, anh rút dao từ thớt ra.
Cận Trường Thanh giật mình: "Con làm gì vậy?!"
Chương 143
Cận Hành dùng con dao không quá sắc chỉ vào Cận Trường Thanh, rồi từng bước tiến lại gần, bóng anh bị ánh trăng ngoài cửa sổ kéo dài và méo mó. Thấy Cận Trường Thanh hoảng hốt, anh cười thú vị, giọng bình tĩnh: "Ông muốn tiền, xuống dưới, tôi đốt cho ông."
Cận Hành căm ghét ông ta hơn cả Tưởng Thiếu Long, tuổi nhỏ mất mẹ, nợ nần chồng chất, mười mấy năm sống vỡ nát đều do Cận Trường Thanh - kẻ nghiện cờ bạc này gây ra.
Cận Trường Thanh chưa kịp nói gì, thấy lưỡi dao lóe sáng, lập tức tránh né, vừa chạy ra ngoài vừa mắng chửi: "Cận Hành! Con điên rồi, ba là ba con!"
Cận Hành điếc không nghe, đâm hụt lần đầu, chuẩn bị đâm lần hai, nhưng bị hệ thống ôm chặt chân trái không động đậy được. Thấy Cận Trường Thanh muốn chạy ra ngoài, anh ném dao, dùng tay siết cổ ông ta, kéo người lại, vật lộn trên đất.
Cận Trường Thanh dù sao cũng là một người trưởng thành, sau vài lần vùng vẫy cuối cùng cũng thoát khỏi sự khống chế của Cận Hành, tức giận đấm thẳng một cú vào mặt anh:
"Địt mẹ mày! Lúc mày mới sinh ra, tao nên bóp chết mày luôn cho rồi! Nói, tiền đâu?"
Cận Hành bị đánh lệch đầu sang một bên, khóe miệng rỉ ra một dòng máu tươi. Anh nằm trên sàn, tay ôm lấy bên mặt, mái tóc rũ xuống che lấp đôi mắt đen láy, chỉ im lặng nhìn chằm chằm vào Cận Trường Thanh. Nhưng ánh mắt ấy mang theo một nụ cười quỷ dị, khiến người ta lạnh sống lưng.
Sắc mặt của Cận Trường Thanh dần trở nên méo mó, ông ta siết chặt cổ của Cận Hành, mạnh tay lắc anh qua lại. Trong mắt ông ta, khuôn mặt của con trai đang dần chồng lên hình ảnh người vợ quá cố, nỗi sợ hãi và bực tức đan xen.
"Mày cũng phiền phức y như con mẹ chết tiệt của mày! Nói, tiền đâu?! Không nói tao sẽ bóp chết mày!"
Hệ thống lo lắng như kiến bò trên chảo nóng, lao tới đấm mạnh hai cái vào Cận Trường Thanh:
【Buông tay! Buông tay ngay!】
Nhưng Cận Trường Thanh hoàn toàn không cảm nhận được sự tồn tại của hệ thống. Ông ta bóp chặt cổ Cận Hành, cố gắng thuyết phục anh: "Tao là ba ruột của mày đấy! Mày thực sự muốn giết tao sao?! Lấy tiền ra đây! Đưa cho tao, để tao gỡ gạc một lần cuối, thắng rồi thì muốn bao nhiêu mà chẳng có!"
Cận Hành không đáp, anh nghiêng đầu khó nhọc, một tay mò mẫm trên sàn, cố với lấy con dao rơi gần đó.
Bây giờ Tưởng Thiếu Long đã bỏ học, Bàng Nhất Phàm cũng chẳng khá hơn. Nếu hôm nay chết đi, Cận Hành sẽ không hối hận, nhưng anh nhất định phải kéo Cận Trường Thanh cùng chết với mình.
Trong căn phòng trọ chật chội, tiếng đánh nhau vang lên không ngừng, làm cả hàng xóm xung quanh thức giấc. Nhưng ngoài vài câu chửi rủa qua khe cửa, chẳng ai thực sự ra ngoài xem chuyện gì đang xảy ra.
Văn Viêm vừa từ bệnh viện trở về. Cậu chỉ định kiểm tra xem Cận Hành đã về nhà hay chưa, nhưng âm thanh mơ hồ từ căn nhà cũ không cách âm vọng ra tận đầu ngõ khiến sắc mặt cậu thay đổi. Cậu lập tức lao nhanh lên lầu.
Cận Hành vì thiếu oxy mà thị lực bắt đầu mờ dần. Trong cơn mê man, ngón tay anh cuối cùng cũng chạm được vào một thứ sắc bén, lạnh lẽo. Không biết lấy đâu ra sức lực, anh siết chặt ngón tay, rồi dùng hết sức mạnh rạch mạnh vào bàn tay đang bóp cổ mình.
"Á——!"
Khi Cận Trường Thanh hét lên đau đớn, cánh cửa phòng vốn đang đóng chặt bất ngờ bị một cú đá mạnh bật tung. Văn Viêm lao vào, nhìn thấy cảnh tượng hỗn loạn trước mắt, đồng tử co lại. Không chút do dự, cậu túm lấy cổ áo Cận Trường Thanh, quật hắn ngã xuống đất, rồi vội vàng kiểm tra tình trạng của Cận Hành.
"Cận Hành!"
Cận Hành ôm lấy cổ, loạng choạng đứng dậy, tay vẫn nắm chặt con dao. Nhìn thấy Văn Viêm xuất hiện trước mặt mình, lại thấy Cận Trường Thanh vội vàng bỏ chạy ra ngoài, anh biết mình không đuổi kịp. Đầu ngón tay cuối cùng cũng buông lỏng, con dao rơi xuống đất, phát ra âm thanh chói tai. Cổ họng anh khô rát, phát ra một tiếng ho khàn khàn, đứt đoạn.
Văn Viêm nắm lấy vai anh, nhíu mày lo lắng gọi:
"Cận Hành?!"
Cận Hành thực ra đã cạn kiệt sức lực. Anh dựa lưng vào bàn, chậm rãi ngồi xuống. Cổ họng bỏng rát, lồng ng.ực phập phồng, sau vài nhịp thở gấp, anh ngẩng đầu lên, nhìn Văn Viêm.
Anh khẽ động môi, mái tóc rũ xuống che khuất đôi mắt, giọng nói khàn đặc, gần như không thể nghe thấy:
"Cậu... sao lại tới đây?"
Văn Viêm định hỏi điều gì đó, nhưng lại sợ Cận Hành xảy ra chuyện. Cậu đỡ anh dậy, định cõng đi bệnh viện, nhưng Cận Hành né tránh: "Không sao, tôi không chết được."
Văn Viêm nhìn thấy con dao dính máu dưới sàn, ánh mắt lướt qua người Cận Hành, không thấy vết thương nào ngoài da, liền đoán máu đó là của người đàn ông kia. Cậu nắm chặt tay Cận Hành, ánh mắt dán chặt vào khóe miệng rách toạc của anh:
"Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?"
Cảm xúc của Cận Hành luôn đến nhanh và đi cũng nhanh. Bây giờ anh đã bình tĩnh lại, cúi đầu, dùng vạt áo chậm rãi lau vết máu giữa các ngón tay. Cử chỉ ấy thản nhiên đến mức khiến người ta rùng mình. Anh chậm rãi nói: "À... tôi muốn giết ông ta. Nhưng ông ta chạy rồi."
"..."
Văn Viêm nhìn anh, không nói gì. Không khí trong phòng trở nên ngột ngạt.
Cận Hành không ngẩng đầu lên. Anh chỉ ngồi giữa mớ hỗn độn, tiếp tục lau vết máu giữa các ngón tay, lau đi lau lại, vừa tập trung vừa cố chấp, đến mức khớp ngón tay cũng trắng bệch. Nhưng vết máu đã khô lại, cứng như lớp vảy, lau thế nào cũng không sạch.
Văn Viêm bất ngờ lên tiếng: "Đừng lau nữa."
Cận Hành làm như không nghe thấy, vẫn tiếp tục lau mạnh. Văn Viêm nắm lấy tay anh, mắt đỏ lên: "Đừng lau nữa!"
Văn Viêm không biết người đàn ông trung niên kia là ai, cũng không biết tại sao Cận Hành lại muốn giết ông ta. Cậu chỉ biết rằng, khi xông vào phòng, cậu nhìn thấy Cận Hành nằm đó, gần như sắp chết. Cảnh tượng đó khiến lần đầu tiên trong đời cậu cảm thấy sợ hãi.
Bỏ qua sự phản kháng của Cận Hành, Văn Viêm ôm anh vào lòng, ánh mắt lướt qua những dấu vết đánh nhau trong phòng, cắn chặt răng. Một lúc lâu sau, cậu mới nói được một câu: "Không sao... Tôi ở đây rồi."
Cậu nắm chặt bàn tay lạnh lẽo của Cận Hành: "Tôi ở đây."
Một hồi lâu sau, Văn Viêm kéo Cận Hành dậy, dẫn anh vào bếp rửa sạch tay, rồi dọn lại giường, ép anh nằm xuống, dùng chăn quấn chặt anh lại. Cậu cũng nằm xuống bên cạnh, vòng tay ôm lấy Cận Hành, giọng trầm thấp: "Ngủ đi."
Trên người Văn Viêm thoang thoảng mùi thuốc lá nhàn nhạt. Dáng người cậu chẳng hề rộng lớn, nhưng lại mang đến một cảm giác an toàn, cánh tay vòng qua, ôm chặt Cận Hành vào lòng.
Cận Hành mở mắt trong bóng tối, qua chút ánh sáng mờ nhạt, anh có thể lờ mờ nhìn thấy vết bầm tím trên mặt Văn Viêm. Anh im lặng nhìn cậu:
"Cậu... đánh nhau à."
Đám du côn không tránh được chuyện đánh nhau. Dù Văn Viêm không muốn gây chuyện, người khác tìm tới, cậu cũng không thể trốn tránh. Chiều nay cậu vừa đánh nhau với đám học sinh trường khác, do số lượng ít nên có chút bất lợi, khó tránh khỏi bị thương.
Văn Viêm không quá bận tâm, sờ vào vết sưng trên mặt mình, rồi nhìn sang vết bầm ở khóe miệng của Cận Hành. Cậu dùng đầu ngón tay khẽ chạm vào, rồi rụt tay lại, lòng bàn tay ấm áp nhẹ nhàng che mắt anh: "Ừm."
Văn Viêm nói: "Đánh thắng."
Cận Hành không nói thêm gì. Trước mắt anh chỉ là bóng tối, chỉ còn lại cảm giác ấm áp từ lòng bàn tay của Văn Viêm. Đôi mắt anh dần khép lại, càng lúc càng nặng trĩu, cuối cùng chìm vào giấc ngủ.
Văn Viêm chờ rất lâu, cuối cùng khi cảm nhận được hơi thở của Cận Hành dần dần trở nên đều đặn, cậu mới nhẹ tay nhẹ chân đứng dậy. May mắn thay, chiếc giường cũ kỹ này không "phản bội" cậu vào lúc này, phát ra những tiếng động lung tung.
Dưới đất là một mớ hỗn độn.
Văn Viêm bật ánh sáng điện thoại, cúi người từng món từng món nhặt lên, cất lại vào chỗ cũ, bao gồm cả quần áo bị lục tung trong tủ, sau khi gấp gọn gàng xong, cậu lặng lẽ đóng cửa tủ lại.
Cuối cùng là con dao dính máu nằm trên sàn.
Văn Viêm nhìn chằm chằm vào nó một lúc lâu, rồi cúi xuống, dùng khăn giấy bọc lấy, sau đó đi vào bếp, rửa sạch vết máu dưới vòi nước, rồi dùng khăn lông và túi nhựa bọc lại từng lớp một. Sau khi do dự rất lâu, cuối cùng cậu bỏ nó vào trong balo của mình.
Một quả cầu ánh sáng màu xanh lam lặng lẽ rơi xuống bàn học, trông giống như một món đồ trang trí bất động. 009 kết nối với ý thức hải của Cận Hành, nó nhận ra cảm xúc của anh đang rối loạn và biến động không ngừng, liền vỗ cánh nhẹ nhàng đậu xuống bên cạnh gối, một sợi năng lượng mỏng manh như tơ nhện màu xanh lam len lỏi vào trong não anh.
Cận Hành chìm vào một giấc mơ dài.
Đó là một đêm mưa tầm tã, con hẻm nhỏ dưới tầng căn nhà, địa điểm không khác gì ngày xưa.
Lúc đó Cận Hành đã thi xong đại học, nhưng Cận Trường Thanh lại đang mắc nợ chồng chất bên ngoài, lén phá khóa vào nhà trộm sạch những món đồ có giá trị.
Chuỗi dây chuyền vàng mà người vợ quá cố để lại trước khi qua đời, cùng số tiền tiết kiệm mà Cận Hành vừa học vừa làm dành dụm được. Nhưng Cận Trường Thanh không quan tâm, thứ gì đáng tiền thì lấy thứ đó. Ngôi nhà vốn dĩ đã trống trải giờ lại càng như vừa bị cướp, chẳng còn lại gì cả.
Cầm lấy thẻ ngân hàng, Cận Trường Thanh run rẩy vì phấn khích đi rút tiền. Nhưng thử vài lần mật khẩu vẫn không đúng, cuối cùng đành phải tức giận quay trở lại. Không ngờ rằng Cận Hành đang đứng chờ sẵn ở đầu cầu thang, hai tay buông thõng bên người, nắm chặt đến mức trắng bệch.
Cận Trường Thanh không che ô, cơn mưa xối xả dội thẳng xuống, trông như một con chó hoang tham lam bị rơi xuống nước:
"A Hành, mật khẩu thẻ ngân hàng là gì, mật khẩu là gì?!"
Cận Hành không nói gì. Anh đi xuống từng bậc thang, mưa lạnh lẽo thấm ướt toàn thân, cúi đầu như đang nung nấu điều gì đó. Tay anh run rẩy, vừa vì sợ, vừa vì hận.
Cận Trường Thanh lớn tiếng hơn, gần như gào lên: "Rốt cuộc là mật khẩu gì?!"
Tay Cận Hành giấu sau lưng siết chặt. Anh hít sâu một hơi, ngẩng đầu lên nhìn Cận Trường Thanh qua màn mưa, giọng khàn khàn run rẩy nói: "Đưa thẻ cho tôi... và cả di vật của mẹ tôi..."
Số tiền đó là để lên đại học. Di vật của mẹ cũng không thể mất.
Cận Trường Thanh căm ghét dáng vẻ vừa cứng vừa mềm không chịu thỏa hiệp này của anh, liền túm lấy cổ áo anh, đẩy mạnh vào tường: "Người chết rồi, giữ mấy thứ đồ bỏ đi đó còn có ích gì? Tiền không quan trọng bằng mạng của ba mày sao?! Mày muốn nhìn thấy tao bị bọn cho vay nặng lãi chém chết hả?!"
Đôi mắt Cận Hành trống rỗng. Mưa trượt dài trên khuôn mặt anh, nhưng anh chỉ lặp lại một cách cố chấp: "Đưa thẻ lại cho tôi... và cả di vật của mẹ tôi..."
Thái độ của anh rõ ràng đã chọc giận Cận Trường Thanh. Bức tường cũ kỹ bong tróc, đèn đường hư hỏng, ánh sáng yếu ớt chỉ lờ mờ chiếu lên hai bóng người đang vật lộn, cùng nhau ngã xuống đất, quần áo dính đầy bùn.
Sau đó, Văn Viêm đến nơi. Và sau đó nữa, trong con hẻm nhỏ bắt đầu là trận hỗn chiến của ba người...
Cho đến khi một tiếng hét thảm vang lên, không gian bỗng trở nên tĩnh lặng. Ba người như chạm phải điện, lập tức tách ra, lùi về sau. Một tiếng "keng" nhẹ nhàng vang lên, lưỡi dao rơi xuống đất. Cận Trường Thanh ôm bụng, sắc mặt tái nhợt, chậm rãi ngã xuống, máu đỏ chói mắt từ từ lan rộng, nhỏ giọt qua kẽ tay.
Khung cảnh đen tối và hỗn loạn. Ai là người ra tay?
Không ai biết, kể cả người giấu con dao.
Cận Hành lảo đảo lùi lại, khuôn mặt trắng bệch như tờ giấy. Anh dựa lưng vào tường, ánh mắt trống rỗng nhìn về phía Văn Viêm. Rất lâu, rất lâu sau, anh mới khó khăn, khàn giọng cất tiếng: "Tôi... giết người rồi sao?"
Dường như không thể tin nổi.
Anh hỏi Văn Viêm: "Tôi... giết người rồi sao?"
Thân hình gầy gò của Cận Hành dường như không chịu nổi cơn mưa xối xả, tựa như có thể tan biến bất cứ lúc nào. Đôi môi anh tái nhợt, đồng tử đen láy, trên mặt không rõ là nước mưa hay nước mắt, toàn thân lạnh buốt.
Anh chỉ muốn lấy lại tiền của mình...
Anh không muốn bị bắt nạt nữa...
Anh muốn... muốn rời khỏi nơi này...
Chỉ vậy thôi.
Văn Viêm cũng bàng hoàng, rất lâu sau mới hoàn hồn. Cậu phản ứng rất nhanh, trong tiếng sấm, siết chặt tay Cận Hành, từng chữ một nhấn mạnh, giọng đầy lạnh lùng: "Không phải cậu!"
Nếu không phải Cận Hành, thì là ai?
Văn Viêm nhặt con dao trên đất lên. Máu nhanh chóng bị nước mưa cuốn trôi, chỉ còn Cận Trường Thanh nằm đó, nửa sống nửa chết, thẻ ngân hàng rơi bên cạnh, dính đầy bùn.
Cận Hành học rất giỏi...
Cận Hành đã thi xong rồi...
Cận Hành sắp vào trường đại học trọng điểm...
Ngón tay Văn Viêm run rẩy nhặt thẻ lên, vụng về lau sạch lớp bùn, rồi nhét mạnh vào tay Cận Hành. Gương mặt cậu bình tĩnh, nhưng thân hình căng thẳng lại tố cáo sự bối rối trong lòng. Cậu nhìn quanh một lượt, thấy nơi này không có camera, liền nói với Cận Hành: "Cậu lên lầu đi."
Cận Hành không nhúc nhích.
Văn Viêm đẩy mạnh anh một cái, giọng đầy dữ dằn: "Lên lầu!"
Cận Hành dường như bị cậu làm cho sợ hãi, mặt mày tái nhợt chạy lên lầu. Vừa chạy, vừa ngoái đầu nhìn lại. Qua màn mưa dày đặc, bóng dáng Văn Viêm mờ nhạt, nhưng cậu cũng đang nhìn anh.
Như một sợi dây đứt phựt, chia làm hai đoạn, càng lúc càng xa.
Bóng dáng Cận Hành khuất dần trong hành lang. Anh vấp ngã một lần, rồi lại đứng lên, tiếp tục đi lên, thở hổn hển, toàn thân run rẩy, như thể sức lực bị rút cạn, không còn đứng vững nổi, vô cùng thê thảm.
Văn Viêm đứng dưới lầu.
Tiếng mưa tí tách không ngừng. Cậu từng nói với Cận Hành: "Thi xong rồi thì đừng quay lại nữa."
Cận Hành cũng nghĩ như vậy. Anh đã thi xong rồi, chỉ còn một bước nữa thôi là có thể thoát khỏi vũng lầy này, chỉ một bước nữa thôi... không thể... không thể hủy hoại ở đây...
Vài tầng lầu ngắn ngủi, nhưng lại như không có điểm cuối. Cận Hành loạng choạng, nghe thấy tiếng còi xe cứu thương và xe cảnh sát. Anh khựng lại, ban công ngay bên cạnh, nhưng anh không dám quay đầu nhìn xuống.
Một con đường tuyệt vọng cuộn quanh phía sau, anh đã không còn đường quay đầu.
Con hẻm ấy vừa đen tối, vừa hỗn loạn, không ai biết Cận Trường Thanh bị thương như thế nào, kể cả chính ông ta. Có thể là vô tình va phải, cũng có thể là ai đó cố ý đâm, có lẽ chỉ có trời mới biết đáp án.
Nhưng nếu Cận Hành muốn rút lui, cần phải có một người lót dưới chân anh.
Cần phải có một người trả giá bằng tự do, chịu đựng những năm tháng ngục tù.
Giấc mơ ẩm ướt, méo mó, tràn ngập mùi máu tanh. Hệ thống dường như không thể thích nghi nổi với nguồn năng lượng tiêu cực này, chậm rãi rút khỏi quá trình dò xét năng lượng.
Cận Hành đột ngột thở gấp, nằm trên giường, nắm chặt ga trải giường dưới thân như một con cá mắc cạn đang giãy giụa cận kề cái chết. Văn Viêm phát hiện tiếng thở dốc nặng nề của anh, vội vàng bước đến bên giường, nhưng lại thấy Cận Hành nhắm chặt mắt, trán đẫm mồ hôi lạnh, trong cơn mê sảng thì thào gọi một cái tên: "Ôn..."
Ôn gì?
Văn Viêm lại tiến gần thêm chút nữa.
"Ôn..."
Ôn gì?
Cậu lại tiến gần thêm chút nữa.
Cơ thể căng cứng của Cận Hành bỗng chùng xuống, đôi môi khẽ động, vô thanh vô tức gọi ra hai chữ: "Văn... Viêm..."
Hóa ra là đang gọi cậu.
Văn Viêm nhìn anh một lúc, thấy trời đã khuya, cậu nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh, rồi vòng tay ôm lấy Cận Hành, vụng về vỗ nhẹ lưng anh:
"Ừ, tôi đây."
Cậu vẫn luôn ở đây.
Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường vang lên trong không gian tĩnh mịch. Khi màn đêm lắng đọng, Cận Hành bất ngờ mở mắt, anh không thể nhìn rõ bất cứ thứ gì, chỉ cảm nhận được hơi ấm từ cơ thể người bên cạnh và mùi thuốc lá thoảng trong vòng tay đang ôm lấy mình, không nhúc nhích.
Hệ thống bay đến trước mặt anh:【Anh tỉnh rồi?】
Cơ thể màu xanh lam của nó phát sáng, rọi lên trần nhà.
Cận Hành chậm rãi đảo mắt nhìn, nhưng không nói gì.
Hệ thống nói:【Anh đang dùng lỗi lầm của người khác để trừng phạt chính mình.】
Nó không tìm được bất kỳ sai lầm nào của Cận Hành, bởi anh chẳng cần làm gì, cũng chẳng cần nói gì, Văn Viêm đã tự nguyện làm tất cả cho anh, dù đúng hay sai, dù thiện hay ác.
Lần đầu tiên hệ thống nói với anh như vậy:【Cơ hội chỉ có một lần, nếu không nắm lấy, sẽ thật sự mất đi.】
Tuổi thọ của con người ngắn ngủi, có người gặp nhau là ân huệ, có người gặp nhau là bài học. Nhưng khi cuộc đời đi đến hồi kết, ký ức bị xóa sạch, có những người sẽ chẳng bao giờ gặp lại.
Ân huệ chỉ có một lần, bài học cũng chỉ có một lần.
Cận Hành có nhiều hơn người khác một cơ hội, nhưng anh lại cố tình biến ân huệ thành bài học. Nếu là vậy, hệ thống sẽ cảm thấy tiếc nuối, và cả lãng phí.
Đôi cánh nhỏ của hệ thống khẽ vỗ:【Anh có muốn sống không?】
Cận Hành không nói gì.
Hệ thống tiếp:【Nếu anh thật sự không muốn sống, tôi có thể thu hồi cơ hội tái sinh này. Mọi thứ anh đang có sẽ biến mất.】
"......"
Cuối cùng, Cận Hành cũng có phản ứng. Anh chậm rãi nghiêng đầu trong bóng tối, dưới ánh sáng nhàn nhạt từ hệ thống, anh lờ mờ thấy được đường nét sắc sảo trên khuôn mặt Văn Viêm. Tim đập, nhiệt độ cơ thể, tất cả đều là thật, một con người sống động bằng xương bằng thịt.
Khi được ôm như thế này, anh cảm thấy mình cũng như đang sống.
Anh nghĩ về rất nhiều điều, về kiếp trước, kiếp này, về Tưởng Thiếu Long, Bàng Nhất Phàm, Cận Trường Thanh, về mẹ anh, và về...
Văn Viêm...
"Sống..."
Cận Hành nhìn thẳng vào hệ thống, đôi môi khẽ động, từng chữ từng chữ rõ ràng:
"Tôi muốn sống."
Anh muốn sống.
Anh muốn sống tốt hơn bất kỳ ai.
Văn Viêm ngủ say, khóe miệng vẫn còn vết bầm tím từ trận đánh nhau, cổ tay quấn băng gạc, ngay cả trong giấc ngủ, chân mày vẫn nhíu chặt. Cận Hành nhìn cậu rất lâu, rồi trong màn đêm lặng lẽ xoay người, từng chút một, ôm lấy cậu vào lòng. Hơi ấm truyền đến, nhịp tim đập đều đặn.
Họ đều phải sống.
Họ đang sống.
Chương 144
Tuổi trẻ của họ vẫn còn dài, và vì vậy, họ luôn mang trong mình nhiều hy vọng. Cận Hành cũng vậy. Nhưng có lúc anh bỗng nhận ra, mang hy vọng cũng là một điều khiến người ta tuyệt vọng.
Có lẽ trong đêm mưa của kiếp trước, vào một thời điểm rất lâu về trước, nếu anh quay đầu nhìn lại và làm điều gì đó khác đi, kết cục có lẽ đã thay đổi. Nhưng Cận Hành vẫn cứ lảo đảo chạy lên lầu, trốn tránh tất cả phía sau, cuối cùng đâm đầu vào bóng tối.
Anh cũng có tội.
Anh đã kéo người muốn cứu mình xuống vực sâu, để rồi nửa đời sau sống trong dằn vặt không yên.
Cận Hành muốn phá hủy những bất hạnh đó. Nhưng khi đánh nhau với Cận Trường Thanh, cận kề cái chết, anh mới nhận ra mọi đau khổ đều bắt nguồn từ chính anh, từ ngày anh đỗ đại học, bước đi ngày càng xa, bỏ lại một người phía sau.
Khi hệ thống nói có thể thu hồi cơ hội tái sinh, hiếm khi Cận Hành do dự. Anh không biết mình do dự vì điều gì, nhưng cảm giác ấy là thật. Anh bắt đầu luyến tiếc cảm giác được sống.
Nhịp tim, dòng máu nóng bỏng...
Văn Viêm chỉ chiếm một góc nhỏ trên giường để ngủ. Khi trời vừa hửng sáng, ánh nắng xuyên qua cửa sổ chiếu thẳng vào, cậu vô thức cau mày, định giơ tay che, nhưng phát hiện mình đang nằm trong vòng tay ấm áp, bị ôm chặt đến mức không thể cử động.
Hả?
Văn Viêm chậm rãi mở mắt, điều đầu tiên cậu nhìn thấy là yết hầu của Cận Hành ở ngay trước mặt, trên đó có một vết bầm tím, nổi bật trên làn da trắng, trông có phần đáng sợ. Lúc này, Cận Hành đang ôm chặt eo cậu, vùi mặt vào cổ cậu, hơi thở đều đặn, có lẽ vẫn chưa tỉnh.
Hôm qua... hôm qua bọn họ ngủ ở tư thế này sao?
Văn Viêm cảm thấy có gì đó không đúng, nhưng lại không thể nói ra. Đang do dự không biết có nên đánh thức Cận Hành dậy đi học không, thì người kia dường như cảm nhận được điều gì, khẽ cựa mình, tóc lướt qua tai cậu, mang theo một chút ngứa ngáy, rồi chậm rãi mở mắt.
Ánh mắt của Cận Hành sáng rõ, không giống người vừa tỉnh dậy. Anh nhìn chằm chằm vào sàn nhà đã được dọn dẹp sạch sẽ, ngẩn người một lúc, rồi cúi đầu nhìn Văn Viêm trong lòng, chậm rãi buông tay ra. Giọng anh vẫn còn chút khàn khàn, trầm thấp khiến người ta suy nghĩ mông lung:
"Mấy giờ rồi?"
Bình tĩnh như thể đêm qua chưa từng xảy ra chuyện gì.
Văn Viêm ngồi dậy sau khi nằm im quá lâu, chân gần như bị chuột rút. Cậu lấy điện thoại xem giờ: "Bảy giờ bốn mươi. Nếu cậu muốn đi học, tôi đưa cậu đi, vẫn kịp."
Mặc dù cậu vẫn khuyên Cận Hành nên nghỉ ngơi một ngày, dù sao nhà cũng vừa bị trộm vào, thầy cô biết chuyện cũng sẽ thông cảm – Văn Viêm không quen biết Cận Trường Thanh, nhưng nhìn tình cảnh hôm qua, cậu cứ tạm coi ông ta là một tên trộm.
Cận Hành lại tỏ ra không vội vàng gì, thấy Văn Viêm nhanh chóng mặc áo khoác, dường như chuẩn bị đưa anh đến trường, liền nhắc nhở: "Hôm nay là cuối tuần."
Văn Viêm khựng lại, mở điện thoại ra kiểm tra, phát hiện quả thực là cuối tuần, liền ném điện thoại về chỗ cũ, động tác mặc áo cũng chậm dần, quay đầu nhìn Cận Hành, muốn nói lại thôi.
Cận Hành lau mặt một cái: "Có chuyện muốn hỏi?"
Văn Viêm gật đầu, do dự một lát lại lắc đầu, trông có vẻ mâu thuẫn, chậc một tiếng: "Cậu muốn nói thì nói, không muốn nói thì thôi."
Cậu chỉ lo người đó sẽ quay lại gây bất lợi cho Cận Hành.
Nghe vậy, Cận Hành khẽ nhếch môi như muốn cười nhưng không cười nổi, vừa mặc quần áo vừa xuống giường, giọng điệu không rõ cảm xúc: "Xét về quan hệ huyết thống, tôi nên gọi ông ta một tiếng 'ba', nhưng đã lâu rồi không gặp. Ông ta thích đánh bạc, nợ nần chồng chất. Năm đó, ông ta lấy tiền phẫu thuật chữa bệnh của mẹ tôi đi đánh bạc hết sạch, rồi biến mất không một dấu vết."
Nhớ đến cái chết của mẹ, anh ngẩn người một lúc: "Hôm qua ông ta mở cửa vào, định trộm tiền, nhưng tôi không đưa."
Nhớ lại chuyện tối qua, Văn Viêm vẫn thấy sợ hãi, luôn nghĩ rằng nếu hôm qua mình đưa Cận Hành về nhà, đối phương sẽ không rơi vào tình cảnh nguy hiểm như vậy. Cậu mím môi, nghiêm túc nói: "Sau này tan học, tôi sẽ đi cùng cậu. Sẽ không có lần sau đâu."
Tối qua trời tối nên không nhìn rõ, giờ ánh sáng ngoài cửa sổ chiếu vào, vết thương trên mặt cậu không còn chỗ nào che giấu. Cận Hành khẽ cúi người, dùng ngón tay trắng nõn nhẹ nhàng nắm cằm cậu quan sát một lát, cuối cùng đưa ra kết luận: "Tối qua cậu đánh nhau."
Tay phải của Văn Viêm vẫn quấn băng, không phải bó bột, nghĩa là không bị gãy xương. Cậu không nghĩ việc đánh nhau là chuyện gì to tát, chỉ cảm thấy phiền vì nó làm chậm trễ thời gian, nếu không tối qua đã có thể đưa Cận Hành về sớm hơn. Cậu thành thật đáp: "Ừ, đánh nhau."
Nói xong, cậu không tự giác nghiêng đầu, cảm thấy tư thế này giống như bị trêu ghẹo.
Cận Hành nói: "Rất xấu."
Anh chỉ vào vết thương.
Văn Viêm ngước mắt nhìn vào vết bầm nhẹ ở khóe môi của Cận Hành, cười không rõ ý rồi bĩu môi: "Được thôi, cậu là đẹp nhất."
Nếu nhìn kỹ, cả hai đều chẳng ai hơn ai, đều là hậu quả của một trận đánh nhau. Ăn sáng xong, khi xuống dưới đi dạo ở sân bóng rổ gần đó, gặp Từ Mãnh và Nhan Na, họ suýt nữa bị vây quanh như khỉ trong chuồng.
"Ba người các cậu rốt cuộc đã làm gì sau lưng tôi thế?"
Nhan Na nhìn ba người đầy kinh ngạc, Từ Mãnh và Văn Viêm đánh nhau bị thương còn có thể hiểu được, nhưng sao Cận Hành cũng bị thương? Giờ nhìn lại, chỉ có mỗi cô là bình thường: "Sao mặt các cậu đều bầm tím, chỉ mình tôi không sao?"
Từ Mãnh cười lớn: "Đơn giản thôi, để anh đấm cho em một cú."
Nhan Na cười lạnh: "Em cho anh mượn hai lá gan đấy."
Cận Hành ngồi trên khán đài sân bóng, lấy điện thoại soi vào vết thương ở khóe môi, thực ra cũng không quá rõ, chỉ là sau khi bôi thuốc thì màu hơi đậm, đi trên đường phố không tránh khỏi bị người khác để ý. Anh lục lọi trong túi một lúc, lấy ra một chiếc khẩu trang đeo lên.
Văn Viêm cũng là người biết sĩ diện, thấy Cận Hành đeo khẩu trang, liền quay đầu nhìn anh, im lặng không nói: "......"
Cận Hành hiểu ý cậu, lấy ra thêm một chiếc khẩu trang khác đưa cho cậu.
Từ Mãnh tràn đầy năng lượng, chơi bóng trên sân, mồ hôi đổ như mưa. Cuối cùng, khi vết thương bị mồ hôi làm xót, hắn rời sân, thấy Cận Hành mặc áo cao cổ, đeo khẩu trang kín mít, không nhịn được trêu: "Đàn ông mà bị thương cứ như con gái xấu hổ vậy, đeo khẩu trang làm gì, thật mất mặt."
Trong mắt hắn, bị thương là một điều đáng tự hào.
Cận Hành không đáp, chỉ kéo nhẹ khẩu trang xuống, quay sang bình thản nói với Văn Viêm bên cạnh: "Cậu ấy nói cậu mất mặt."
Ánh mắt lạnh lẽo của Văn Viêm lập tức quét qua: "Bản thân không biết xấu hổ, còn dám chê người khác mất mặt? Đánh nhau bị thương mà mày nghĩ là vinh quang à?"
Từ Mãnh vỗ bóng hai lần xuống đất, cười hì hì: "Anh em à, mày đừng nghe cậu ta phá hoại tình anh em của chúng ta."
Văn Viêm híp mắt lại: "Cái tình anh em rách nát này cần gì phải phá hoại?"
Từ Mãnh phát hiện ra, từ khi Văn Viêm nhận Cận Hành làm đàn em, tình cảm anh em giữa hai người ngày càng phai nhạt, suốt ngày bị cậu chọc ghẹo. Hắn phóng khoáng ngồi xuống cạnh Nhan Na, khoác vai cô: "Được rồi, anh ngồi với em đây."
Trong lúc nghỉ giữa hiệp, khi Từ Mãnh và Nhan Na biết chuyện xảy ra ở nhà Cận Hành tối qua – dĩ nhiên là lược bỏ đoạn cầm dao chém người – Từ Mãnh không sao, nhưng Nhan Na thì bất bình chửi mắng mãi mới dừng lại: "Làm sao lại có người ba cầm thú như thế? Lần sau ông ta mà dám tới nữa, Cận Hành, cậu báo cảnh sát bắt ông ta ngay!"
Từ Mãnh nói: "Bắt cũng chẳng nhốt được bao lâu. Đừng liều mạng với kẻ điên, lỡ bị trả thù thì không hay. Tốt nhất là thay khóa cửa."
Những điều hắn nói cũng là điều Văn Viêm lo lắng. Sức người có hạn, cậu không thể nào trông chừng Cận Hành suốt ngày đêm. Không biết nghĩ gì, cậu liếc nhìn Cận Hành một cái, giọng nói mơ hồ: "Dù sao nhà tôi cũng chẳng có ai, hay là cậu dọn qua ở tạm đi."
Cận Hành không nghe rõ: "Gì cơ?"
Từ Mãnh và Nhan Na ngồi ngay bên cạnh, khiến Văn Viêm ngượng ngùng không muốn nhắc lại: "Tối nay nói sau."
Nhan Na bị gia đình quản lý nghiêm ngặt, hôm nay cô lấy cớ đi học thêm để trốn ra ngoài, giờ đã quá nửa buổi sáng mà bài tập vẫn chưa động vào chữ nào, lo lắng nói: "Tôi phải tìm chỗ làm bài tập, không thì về nhà mẹ tôi kiểm tra, tôi chẳng biết nói sao."
Văn Viêm cũng thấy sân bóng quá nóng: "Tìm chỗ nào yên tĩnh ngồi làm, tiện thể mua chút đồ uống lạnh."
Không xa đây có một quán KFC, điều hòa mát lạnh, giờ này cũng không đông người. Văn Viêm và Từ Mãnh ra quầy gọi vài suất ăn, tiện thể mua bốn cốc kem mang về bàn.
Văn Viêm cầm một cốc vị dâu và một cốc vị sô-cô-la, đưa cho Cận Hành: "Cậu muốn ăn cái nào?"
Cận Hành tùy ý lấy cốc vị dâu, dùng thìa múc một miếng đưa vào miệng. Lạnh lạnh, chua chua ngọt ngọt, phải mất một lúc mới quen được vị ngọt đó. Từ Mãnh ngồi đối diện nhìn chằm chằm hai người, cảm thấy có gì đó kỳ lạ nhưng không nói được.
Văn Viêm không thích bị nhìn chằm chằm, cậu nhướn mày, lạnh giọng: "Nhìn nữa là tao đấm thật đấy, tin không?"
Từ Mãnh hừ một tiếng, nhưng ngay sau đó lại có hứng thú: "Này Văn Viêm, mày đối tốt với Cận Hành như vậy, sau này lỡ có bạn gái, cô ấy mà ghen thì sao?"
Động tác của Văn Viêm khựng lại, cậu vô thức nhìn sang Cận Hành, rồi lập tức như chạm phải điện, quay đầu lại, tiếp tục ăn kem, giả vờ như không nghe thấy câu hỏi đó.
Cận Hành lại nhìn cậu, như đùa cợt: "Cũng đúng. Sau này cậu có bạn gái, nếu cô ấy ghen thì sao?"
Dưới gầm bàn, chân anh áp sát vào chân của Văn Viêm, đầu ngón tay khẽ vẽ một vòng tròn trên đầu gối cậu, mang theo chút gì đó mờ ám, lại như một lời cảnh cáo nhẹ nhàng.
Văn Viêm cứng người trong giây lát. Giữa chốn đông người thế này, làm loại chuyện này thật sự khiến cậu bất an. Cậu nắm lấy bàn tay đang nghịch ngợm của Cận Hành, đồng thời liếc mắt cảnh cáo Từ Mãnh đang ngồi hóng hớt bên cạnh. Cậu lạnh giọng, cười khẩy: "Lo chuyện của mình đi. Bạn gái mày đang đau đầu làm bài tập sắp rụng tóc kìa, sao không lo mà thương cô ấy?"
Nhan Na đang ngồi bên cạnh, cắm đầu giải đề. Nghe vậy, cô ngẩng đầu lên đánh một cái: "Miễn bàn, mấy chuyện khác thì thôi, chứ học hành thì tôi chẳng mong gì từ anh ta."
Từ Mãnh cười: "Tôi là vô vọng rồi. Nhưng chẳng phải đối diện đang ngồi một học sinh giỏi đấy sao? Không hỏi thì phí."
Nhan Na bừng tỉnh: "Phải rồi! Sao tôi lại quên mất. Cậu là học sinh giỏi nhất khối, chính là thầy giáo tại chỗ!"
Cận Hành gật đầu: "Cứ làm trước đi, không hiểu thì hỏi tôi."
Từ Mãnh cầm ly cola lên, cắn nhẹ ống hút: "Nếu cậu có thể kéo được điểm của Nhan Na lên, sau này chuyện của cậu, tôi bao."
Văn Viêm không vui, nhướn mày: "Tới lượt mày bao à?"
Cậu phát hiện ra gần đây Từ Mãnh rất thích tự đâm đầu vào chỗ chết.
"Bảo vệ hai lớp chứ sao," Từ Mãnh cười, "Ai bảo điểm Nhan Na tệ thế."
Nhan riêng thì phải tiếp xúc thường xuyên, Từ Mãnh không lo, nhưng Văn Viêm thì lại thấy không yên tâm. Nói thật, nếu xếp hạng điểm tệ, cậu không thua ai đâu.
Cận Hành vừa định nói gì đó, thì thấy Văn Viêm nhìn mình, ngập ngừng một hồi mới lên tiếng: "Khụ... tôi cũng học tệ..."
Từ Mãnh làm chứng, hớn hở nói: "Cậu ta suốt ngày đeo gạch trong cặp, sau này chắc chỉ có đi khuân vác ở công trường thôi."
Chương 145
Cùng lớp với Văn Viêm ai cũng biết, cậu chẳng bao giờ mang sách vở, trong cặp toàn là gạch. Không vì gì khác, chỉ là tiện tay khi đánh nhau.
Chuyện nhỏ này, Văn Viêm tất nhiên không thấy xấu hổ. Trong KFC không cho hút thuốc, cậu chỉ có thể dùng bao thuốc gõ nhẹ vào cạnh bàn, nghe Từ Mãnh nói xong, chỉ liếc hắn một cái, nhưng hiếm khi không phản bác lại.
Phản bác gì chứ?
Từ Mãnh nói, tám chín phần là thật rồi.
Mặc dù Văn Viêm đã sớm nhận thức được điều này, nhưng hôm nay nghe lại, trong lòng cậu bỗng nhiên thấy nặng nề khó tả. Vì vậy, từ đó đến khi Cận Hành sửa bài cho Nhan Na, cậu không nói thêm câu nào, khác hẳn sự sôi nổi thường ngày.
Khi trời gần tối, cả nhóm mới rời khỏi KFC để về nhà. Nhan Na thu bài vào cặp, cảm thán: "Cận Hành, cậu giảng bài hay hơn thầy ở lớp phụ đạo nhiều. Rõ ràng, dễ hiểu, quan trọng nhất là tớ còn nghe lọt nữa."
Bài tập của Nhan Na đều là những câu cơ bản, chỉ cần áp dụng công thức là giải được. Cô khen như vậy, chẳng qua vì giáo viên ở lớp phụ đạo giảng quá nhàm chán, cộng thêm bản năng chống đối với giáo viên. Khi Cận Hành giảng, cô lại thấy thoải mái và tập trung hơn.
Từ Mãnh cười chế nhạo: "Vậy mẹ em thuê gia sư chẳng phải phí tiền sao?"
Nhan Na định phản bác thì nghe Cận Hành nói: "Sau này không hiểu gì thì cứ hỏi tôi, dù gì cũng cùng lớp."
Nhan Na thở dài: "Sau này phân lớp rồi thì xa lắm."
Văn Viêm thèm thuốc từ lâu, đang đứng ở cửa KFC hút thuốc, nghe vậy liền quay lại hỏi: "Phân lớp gì?"
Nhan Na đáp: "Lớp Sáu sắp phân lớp rồi. Cận Hành học giỏi, chắc sẽ vào lớp chọn. Cậu nhớ giục cậu ấy ôn tập nghiêm túc vào."
Câu sau cô chỉ nói đùa.
Hoàng hôn nhuộm đỏ cả bầu trời, những tòa nhà bên đường cũng ngả màu vàng óng ánh. Văn Viêm đứng tựa vào lan can, khói thuốc mờ nhạt quanh quẩn.
Cận Hành đứng bên cạnh không thúc giục, chỉ lặng lẽ chờ. Anh lên tiếng, giọng đều đều: "Lúc ở sân bóng, cậu muốn nói gì với tôi?"
Văn Viêm khựng lại, mãi lâu sau mới mở miệng, cố gắng nói bằng giọng nhẹ nhàng nhất có thể: "Cũng không có gì... Chỉ là muốn bảo cậu qua nhà tôi ở, đỡ phải gặp tên điên kia lần nữa."
Cậu nghĩ Cận Hành sẽ suy nghĩ rồi mới quyết định. Nhưng không ngờ, đối phương lại gật đầu đồng ý ngay, suôn sẻ đến mức khó tin: "Cũng được. Đúng lúc cuối tuần, tôi dọn đồ qua đó."
Giờ thì đến lượt Văn Viêm ngẩn ra. Cậu ngậm điếu thuốc, ánh mắt không thể tin nổi, cậu phẩy tay xua đi làn khói trước mặt: "Cận Hành, cậu không thể giữ chút sĩ diện à? Đổi người khác cũng thế sao? Không sợ bị lừa bán à?"
"Đâu đáng tiền," Cận Hành nghiêm túc nói, ánh mắt chăm chú nhìn cậu: "Chỉ có cậu mới cần tôi."
Dưới ánh chiều tà, nét mặt anh trông thật sạch sẽ, mái tóc đen ánh lên chút nắng vàng, trong đôi mắt phản chiếu rõ gương mặt của Văn Viêm.
Khoảnh khắc đó, thời gian như ngừng trôi, dừng lại ở một ký ức nào đó từ kiếp trước, nơi họ cũng từng đứng bên đường và trò chuyện như thế.
Một tàn thuốc rơi xuống, rồi bị gió thổi bay.
Văn Viêm hạ thuốc xuống, cười khẽ. Cậu định nói gì đó nhưng lại thôi, dùng tay cầm thuốc chỉ về phía Cận Hành, mãi lâu mới buông một câu: "Ông đây không cần."
Cận Hành hỏi lại: "Thật không cần?"
Văn Viêm khẽ cười khẩy, không đáp.
Đồ đạc của Cận Hành không nhiều, chỉ vài bộ quần áo và một số vật dụng cá nhân. Thu dọn không tốn mấy công sức, tối hôm đó họ thuê một chiếc xe nhỏ, chỉ cần một chuyến đã chuyển gần hết đồ.
Phần lớn thời gian Văn Viêm sống một mình. Nhà cậu không quá bừa bộn, nhưng cũng không ngăn nắp. Máy chơi game nằm rải rác trên sofa, quần áo chưa giặt vắt trên ghế, chăn màn lộn xộn chẳng ai gấp, rất hợp với phong cách của cậu.
"Phòng bên cạnh còn trống, dọn qua là có thể ở được."
Văn Viêm xách hành lý không rảnh tay, liền dùng chân đá cửa mở ra, quăng đồ đạc lên giường. Cậu vừa định giới thiệu qua loa về nhà mình cho Cận Hành thì quay đầu lại, phát hiện anh đang nghiên cứu bộ quần áo cậu vứt trên ghế.
Cận Hành hỏi: "Đây là quần áo bẩn à?"
Văn Viêm kéo kéo ống tay áo dính vết máu và bùn sau trận đánh nhau, rõ ràng là bẩn mà: "Sao, nhìn không ra à?"
Cận Hành đặt quần áo về chỗ cũ: "Sao cậu không giặt?"
Văn Viêm lười giặt: "Quên mất."
Cận Hành trí nhớ cực tốt, nhẹ nhàng nhắc nhở: "Chiếc áo khoác này ba ngày trước tôi thấy cậu mặc, tối nay nhớ giặt nhé."
Văn Viêm chậc một tiếng: "Tôi để cậu ở đây là để tránh nạn, không phải để cậu lải nhải như bà già."
Cận Hành làm như không nghe thấy. Ở một số mặt, anh khá cố chấp, không thể chịu được sự bừa bộn. Thấy vậy, Văn Viêm đành lôi ra giẻ lau và cây lau nhà, cùng anh dọn dẹp. Mãi đến nửa đêm, cả hai mới coi như được nghỉ ngơi.
Văn Viêm nằm bệt trên sofa, lười biếng nâng mí mắt lên nhìn Cận Hành, nửa thật nửa đùa nói: "Cảm ơn cậu, lần đầu tiên tôi biết thế nào là tổng vệ sinh."
Rõ ràng có thể thấy, tên này hồi đi học chắc chắn tám phần không làm trực nhật bao giờ.
Cận Hành gói gọn vài túi rác: "Không có gì. Tôi cũng tò mò trước giờ cậu sống kiểu gì."
Văn Viêm nghĩ, sống kiểu gì thì cũng cứ thế sống thôi. Cậu chống đầu nhìn Cận Hành, một lát sau đứng dậy, bước tới giật lấy túi rác trên tay anh: "Cậu đi tắm đi, mai còn phải đến trường."
Cận Hành bình tĩnh nhắc nhở: "Mai là chủ nhật, không phải đi học."
Văn Viêm hỏi lại: "Không đi học thì sao? Không đi học là không tắm à?"
Cận Hành khẽ cười, đưa tay bóp cằm Văn Viêm. Ánh sáng từ đèn phòng khách chiếu xuống vai anh, đôi mắt đen thẳm phản chiếu hai điểm sáng. Anh cúi đầu, ghé sát bên tai cậu, chậm rãi cắn lên vành tai, giọng trầm khàn: "Cậu có biết, thế nào là dẫn sói vào nhà không?"
Văn Viêm bị cắn, cả người khẽ run, đầu óc trống rỗng, làm gì còn nhớ đến chuyện sói với chẳng sói, ngữ văn vốn đã không tốt: "Gì cơ?"
"Không có gì." Cận Hành cúi mắt, tay vẫn bóp cằm cậu, khẽ cắn môi cậu một cái: "Chỉ là nếu bên cạnh có sói, thì đừng nên kiêu ngạo quá."
Nói xong, anh buông cậu ra, cầm quần áo đi vào phòng tắm. Tiếng đóng cửa vang lên một cái cạch, lúc này Văn Viêm mới hoàn hồn.
Cận Hành chưa từng đến nhà Văn Viêm, dù kiếp trước họ đã từng làm những chuyện thân mật nhất. Anh đứng dưới vòi sen, để mặc dòng nước nóng chảy xối xuống, len lỏi qua làn da, như muốn xoa dịu những vết thương cũ kỹ năm xưa.
Cận Hành nhắm mắt, bất động, hồi lâu sau bỗng mở bừng mắt, như người sắp chết đuối thoát khỏi biển sâu, không kiềm được mà hít sâu một hơi. Anh tắt vòi sen, một lần nữa nhận ra rằng cảm giác cận kề cái chết thực sự không dễ chịu.
Cận Hành lau khô tóc, bước ra khỏi phòng tắm. Chợt nhớ ra bài tập chưa làm xong, anh đến bàn học, kéo khóa cặp ra, nói với Văn Viêm đang nằm trên sofa chơi game: "Cậu đi tắm đi, tôi làm nốt bài tập."
Văn Viêm lại chậc một tiếng: "Giữa đêm làm bài tập cái gì."
Nếu bây giờ là ban ngày, cậu chắc chắn sẽ nói: "Ban ngày thì làm bài tập cái gì."
Cận Hành quá hiểu cậu. Anh kéo ghế ngồi xuống, nhưng không biết nghĩ gì mà ánh mắt lại chuyển sang chiếc cặp đen bên cạnh — cái cặp mà Văn Viêm hay mang theo.
Cận Hành nhìn chăm chú một lúc, rồi cầm cặp lên. Cảm giác bên trong không có gì nhiều, nhưng lại nặng trĩu. Anh kéo khóa ra, bên trong nằm gọn hai viên gạch.
... Hóa ra lời Từ Mãnh nói là thật.
Cận Hành thấy ngớ ngẩn, lấy hai viên gạch ra, tiện tay ném sang một bên, rồi nhét vào đó một quyển từ điển dày cộm. Văn Viêm vốn chuẩn bị đi vào phòng tắm, thấy vậy lại lùi ra, dựa vào khung cửa, giọng đầy chán ghét: "Tôi không nhét sách đâu, vừa nặng vừa vô dụng."
Cận Hành hỏi: "Vậy lý do cậu mang hai viên gạch đi học suốt hai năm qua là gì?"
Văn Viêm cảm thấy anh đang mỉa mai mình, nhưng không có bằng chứng, nghẹn họng không nói được gì.
Cận Hành bảo: "Thực ra dùng từ điển đánh người đau hơn đấy."
Gạch đập một phát là vỡ, từ điển thì đánh bao nhiêu lần cũng không hỏng.
Văn Viêm không tin: "Cậu nói vớ vẩn."
Cậu rất khoan dung với Cận Hành, mặc anh lục lọi cặp sách của mình, rồi cầm đồ ngủ đi tắm.
Khi Cận Hành cúi đầu làm bài tập, hệ thống ngồi bên cạnh, yên lặng quan sát. Cơ thể màu xanh của nó nổi bật, khiến người ta khó lòng phớt lờ.
Cuối cùng, Cận Hành không nhịn được, ngẩng lên hỏi: "Cậu có chuyện gì à?"
Hệ thống ngồi ngay ngắn, ngoan ngoãn:【Không có gì đâu, chỉ ngắm anh làm bài thôi. Tôi chưa từng thấy ai làm bài, cứ coi tôi là đèn bàn đi.】
Đèn bàn hình cầu phiên bản giới hạn màu xanh lam 009
Cận Hành xoay nhẹ cây bút trong tay: "Cậu sáng quá."
Hệ thống:【Không sao đâu, tôi chỉnh được mà.】
Nói xong, nó từ từ giảm độ sáng, điều chỉnh đến mức vừa phải, rồi tiếp tục quan sát Cận Hành làm bài. Nhìn thoáng qua, đúng là không khác gì một chiếc đèn bàn.
Cận Hành liếc nhìn nó một cái, cuối cùng quyết định phớt lờ, tiếp tục viết. Trong phòng chỉ còn lại âm thanh sột soạt của bút chạm giấy. Sắp làm xong thì bỗng nhiên hệ thống lên tiếng:【Học tốt, ngày càng tiến bộ nhé.】
Câu nói cũ rích đến mức không thể cũ hơn.
Cận Hành khẽ nhướn mày: "Cậu cũng nói thế với các ký chủ khác à?"
Hệ thống ngập ngừng:【Chỉ nói với anh thôi.】
Những ký chủ trước đều đã trưởng thành, không cần đi học. Với họ, 009 chỉ nói: "Cải tạo tốt, làm người mới."
Cận Hành cười nhạt, không biết vì sao, nhưng luôn cảm thấy nếu hệ thống là người, nó sẽ là kiểu "máy sưởi trung tâm" có chút cặn bã. Anh nửa cười nửa không hỏi: "Tại sao?"
Hệ thống lật xem ghi chú:【Người ta nên biết tận dụng lợi thế của mình. Trong trường hợp không phạm phải đạo đức và pháp luật, Trạm Không Gian cho phép ký chủ dùng mọi phương tiện hợp lý để tiến tới tương lai.】
Kiếp trước, Cận Hành đã đứng trên đỉnh cao của cuộc đời. Trở lại lần này, chưa chắc đã không thể làm tốt hơn.
Luật pháp vốn công bằng và chính nghĩa, nhưng lại không thể ràng buộc những kẻ bại hoại về đạo đức, chẳng hạn như những kẻ phản bội lòng người, bạc tình vô nghĩa, hay ức hiếp kẻ yếu. Vì vậy, hệ thống mới tồn tại, như một tấm lá chắn vô hình, đứng trên ranh giới đạo đức mà luật pháp không thể với tới.
Cận Hành lật một trang sách: "Những người như tôi còn rất nhiều, các cậu lo hết được sao?"
Hệ thống đúng chuẩn fan cuồng: 【Tuân theo sự sắp xếp của Chấp hành viên Liên sao!】
Cận Hành không nói gì, cảm thấy quá mức trẻ trâu, tiếp tục lật thêm một trang sách, nhưng viên cầu nhỏ màu xanh lại bay tới: 【Thân ái, tôi hiểu ý anh rồi, nhưng vận mệnh không thể chiếu cố đến từng người được.】
Vận mệnh là thứ quá đỗi huyền diệu, thay vì chờ đợi nó đến, chẳng phải tự mình trở nên mạnh mẽ thì tốt hơn sao? Đồng hành và bảo vệ đều có giới hạn của nó. Gần gũi như cha mẹ, cũng có ngày phải rời xa. Hệ thống không thể bảo vệ mãi, thời gian dài sẽ khiến ký chủ sinh ra cảm giác phụ thuộc. Đó là lý do Chấp hành viên Liên sao không cho phép bọn họ can thiệp quá sâu.
Chỉ khi tự mình trở nên mạnh mẽ, mới là cách sinh tồn bền vững nhất.
Kiếp trước, Văn Viêm và Cận Hành vô tình đi đến hai thái cực: một người mạnh mẽ quá mức, một người lại quá yếu đuối, chẳng hay rằng điều gì cũng không nên quá đà.
Tay Cận Hành lật sách chợt dừng lại, anh ngước mắt nhìn hệ thống, nhưng đối phương chỉ khẽ vỗ vỗ đôi cánh, sau đó vút một tiếng biến mất vào không khí: 【Thân ái, chúc ngủ ngon, ngày mai lại là một ngày tươi đẹp~】
"......"
Cận Hành không cảm xúc khép sách lại, đột nhiên nhận ra Văn Viêm đã vào phòng tắm rất lâu mà vẫn chưa ra. Anh đứng dậy đi qua, nhìn qua khe cửa khép hờ, liền thấy cậu đang giặt chiếc áo khoác bẩn, trong chậu nước nổi đầy bọt, nhìn qua đã biết cậu đang mệt lử.
Cận Hành dựa vào khung cửa, im lặng quan sát hồi lâu rồi cất tiếng: "Ngâm qua đêm đi, mai hãy giặt."
Văn Viêm vốn cũng chẳng muốn giặt, nghe lời anh liền ném thẳng chiếc áo như ném củ khoai nóng bỏng, nét mặt đầy chán ghét. Đứng lên xong không nhịn được mà thở dài: "Mệt hơn cả đánh nhau."
Cận Hành nói: "Thế lần sau đánh nhau thì cố mà c.ởi sạch ra."
Văn Viêm giật giật mí mắt: "Cậu không phải nên khuyên tôi đừng đánh nhau sao?"
Cận Hành khẽ cười, quay người đi vào phòng: "Cậu có nghe không?"
Văn Viêm lầm bầm: "Còn tùy."
Cậu vô thức đi theo Cận Hành, đến cửa phòng thì đối phương đột ngột dừng bước, quay lại nhìn cậu, cười như không cười mà hỏi: "Cậu muốn ngủ cùng tôi à?"
Văn Viêm phản ứng chậm mất một nhịp, nhận ra đây là phòng của Cận Hành, liền nhét tay vào túi: "Cậu nghỉ ngơi đi, có gì cứ gọi, tôi ở ngay phòng bên."
Nói xong, cậu liếc nhìn Cận Hành một cái, rồi quay người về phòng.
Có lẽ vì biết có người ở phòng bên cạnh, đêm nay Văn Viêm cảm thấy khó ngủ. Cậu gối đầu lên tay, bực bội muốn hút thuốc, nhưng hộp thuốc đã trống không, đành phải nhịn. Tâm trạng như có vô số con kiến đang bò, cắn xé trong lòng, khiến cậu khó chịu mà không biết phải làm thế nào.
Văn Viêm trở mình, chợt nhận ra một điều — nghiện ngập thực sự là một thứ rất đáng sợ.
Căn phòng yên tĩnh, chỉ có tiếng trở mình sột soạt, cứ mỗi mười giây lại vang lên một lần, như thể cậu đang nằm trên bàn chông chứ không phải trên giường. Cuối cùng, khi cậu dần cảm thấy buồn ngủ, thì đột nhiên dưới chăn có một luồng khí lạnh ùa vào, tiếp đó là một cơ thể hơi lạnh áp sát vào lưng cậu.
Giọng Cận Hành giữa đêm tối nghe có chút trầm thấp, hơi thở ấm nóng phả nhẹ vào sau cổ: "Còn chưa ngủ à?"
Văn Viêm không ngờ Cận Hành lại làm chuyện trèo lên giường giữa đêm, khẽ chửi thề: "Nửa đêm nửa hôm không ngủ mò sang đây làm gì?"
Cận Hành vòng tay ôm lấy eo cậu, để lưng cậu dán sát vào lồng ng.ực mình, nhịp tim cả hai như hòa vào làm một: "Qua xem cậu ngủ chưa. Kết quả là cậu vẫn chưa ngủ."
Văn Viêm im lặng, cơn thèm thuốc vừa rồi bỗng tan biến như thủy triều rút. Cậu xoay người lại, đối mặt với Cận Hành, định nói gì đó nhưng chưa kịp thốt ra, đã bị người kia nắm lấy gáy rồi hôn xuống.
Ban ngày và ban đêm, Cận Hành là hai con người hoàn toàn khác biệt. Anh không để lại cho Văn Viêm bất kỳ cơ hội phản kháng nào, dù thực ra cậu cũng chẳng muốn phản kháng. Nụ hôn sâu đầy chiếm đoạt, như ngọn lửa nhỏ lan ra cánh đồng hoang, thiêu rụi tất cả.
Cận Hành đưa tay v.uốt ve những vết sẹo gồ ghề trên người Văn Viêm qua lớp áo, sau đó cúi xuống, cắn nhẹ vạt áo của cậu và chậm rãi kéo lên, lộ ra vết bầm tím nơi eo do trận đánh nhau hôm trước để lại.
Anh vùi mặt vào cổ cậu, trầm giọng nói: "Cậu có rất nhiều vết thương..."
Văn Viêm ừ một tiếng, tay nắm lấy cánh tay Cận Hành. Cậu mơ hồ cảm nhận được dưới lớp tay áo kia là những vết thương chằng chịt, không rõ là bị dao cứa hay bút chì rạch: "Cậu cũng nhiều lắm."
Điểm khác biệt là, Văn Viêm là đánh nhau mà có, còn Cận Hành là bị bắt nạt.
Đầu ngón tay Văn Viêm lần theo từng vết sẹo trên tay anh, có những vết đã lành, có những vết để lại dấu tích mãi mãi. Trong bóng tối, cậu ghé sát vào tai Cận Hành, khàn giọng nói: "Sau này, tôi sẽ bảo vệ cậu..."
Cậu nói: "Sau này, tôi sẽ bảo vệ cậu."
Có những điều là định mệnh, mà định mệnh thì không thể thay đổi.
Cận Hành không đáp, chỉ siết chặt cậu vào lòng. Hai cơ thể đầy vết thương áp sát vào nhau, trao cho nhau hơi ấm. Cuối cùng, những nụ hôn sâu nối dài, môi răng va chạm đến bật máu.
Yết hầu Cận Hành khẽ động, nuốt xuống vị tanh của máu. Đầu ngón tay anh lướt qua gương mặt sắc lạnh của Văn Viêm, đôi mắt sâu thẳm như nhìn thấu lòng người: "Tôi nghiêm túc đấy."
Chương 146
Ngày diễn ra kỳ thi phân ban của trường cấp ba số Sáu, phụ huynh và học sinh đều như lâm đại địch, số người mở mắt chờ trời sáng không hề ít.
Cận Hành thức dậy như thường lệ, theo thói quen đưa tay sờ sang bên cạnh, kết quả phát hiện giường trống không, chỉ có tiếng động nhỏ truyền ra từ nhà bếp.
Anh mặc quần áo đi ra, liền thấy Văn Viêm đang đứng trước bếp chiên trứng. Cậu nhíu chặt mày, như thể đang đối mặt với kẻ thù lớn, chảo dầu xèo xèo không ngừng, bên cạnh là mấy chiếc trứng chiên cháy khét, thất bại thảm hại.
Cận Hành dựa vào khung cửa, nhìn một lúc lâu rồi cuối cùng lên tiếng hỏi: "Cậu đang làm gì thế?"
Văn Viêm tranh thủ liếc anh một cái: "Chiên trứng, không nhìn ra à?"
Cận Hành còn tưởng cậu đang chiên bom, nghe vậy liền gật đầu, muốn cười nhưng lại không thể hiện ra, xoay người vào nhà vệ sinh rửa mặt. Đợi đến khi ra ngoài, Văn Viêm đã bày biện xong bàn ăn, một đĩa trứng chiên, một đĩa quẩy, hai ly sữa đậu nành.
Đơn giản đến lạ, nhưng dường như lại chứa đầy sự quan tâm.
Cận Hành kéo ghế ngồi xuống bên cạnh cậu: "Sao lại tự làm đồ ăn?"
Văn Viêm lựa chọn kỹ càng, dùng đũa gắp hai quả trứng chiên trông tạm được bỏ vào bát của Cận Hành, rồi thêm một chiếc quẩy vào, gom đủ điểm tối đa, sau đó nói ra lý do: "Quán dưới lầu hết trứng chiên rồi."
Cận Hành nhớ ra hôm nay có kỳ thi phân ban, hiểu được ý cậu, nhìn sang chiếc quẩy vàng óng, cầm ly sữa đậu nành nhấp một ngụm: "Quẩy cũng là cậu chiên à?"
Văn Viêm ngồi vắt chéo chân, dáng ngồi chẳng chút nghiêm chỉnh: "Không phải."
Cận Hành đoán cậu cũng chẳng có tay nghề đó, ăn hết trứng chiên, cảm thấy hơi nhiều dầu, nhưng phối với sữa đậu nành thì cũng ổn: "Cậu có chút mê tín."
Huống chi, bây giờ điểm tối đa là 150 rồi.
Văn Viêm rõ ràng không để ý đến chuyện đó, dù sao hồi nhỏ cũng thấy bố mẹ người ta hay làm vậy. Cậu tự ăn trứng chiên cháy, uống cạn ly sữa đậu nành, thấy Cận Hành ăn gần xong liền đứng dậy: "Đi thôi, muộn nữa là trễ giờ đấy."
Cận Hành mặc đồng phục, kết quả lại lấy nhầm đồng phục của Văn Viêm, đành cởi ra rồi mặc lại cái của mình, động tác trông chẳng vội vã chút nào, dường như không để ý đến thời gian: "Không phải ngày nào cậu cũng đi trễ sao."
Văn Viêm nghĩ thầm, cậu trễ thì thôi, chẳng thể kéo cả Cận Hành đi trễ được, nhanh chóng xỏ giày vào, uể oải đáp: "Nể tình hôm nay cậu thi, nên mới chịu dậy sớm một lần."
Đúng là minh họa hoàn hảo cho câu "Hoàng đế chưa vội, thái giám đã gấp."
Cận Hành hơi nghiêng người tới, đẩy cậu tựa vào khung cửa rồi hôn một trận. Có thể thấy rõ, vì dậy sớm mà đầu óc vốn đã không tỉnh táo của Văn Viêm lại càng thêm mơ màng, cuối cùng thiếu dưỡng khí đến mức không biết mình bị Cận Hành kéo ra khỏi cửa từ lúc nào.
Trên phố đâu đâu cũng là những hàng quán, tiếng người rôm rả, những gian hàng bán bữa sáng vẫn còn nghi ngút khói, hương thơm bay xa.
Văn Viêm đút hai tay vào túi, cùng Cận Hành đi đến trường, trên vai trái đeo một chiếc cặp đen, bên trong chứa một cuốn từ điển cứng cáp, nặng trịch. Cậu luôn cảm thấy mang theo thứ như cục gạch này mới có cảm giác an toàn.
Sắp đến cổng trường Trung học số 6, Văn Viêm quay sang nói với Cận Hành: "Thi cho tốt, thi được điểm tối đa về nhé."
Cận Hành hơi nhướng mày: "Sao cậu biết là điểm tối đa?"
Văn Viêm liếc mắt nhìn anh: "Cậu ăn hai quả trứng chiên, thêm một chiếc quẩy của tôi."
Cận Hành không biết nghĩ đến điều gì, ngừng lại một lát: "... Quẩy, tôi quên ăn rồi."
"..."
Tâm ý của Văn Viêm đổ sông đổ bể, ngây người ra, nghĩ thầm Cận Hành chỉ ăn hai quả trứng, chẳng lẽ sẽ thi ra con số không? Đang định nói gì đó thì khóe mắt bất chợt thấy một nhóm người đang đến gần, cậu không hề biến sắc, nắm lấy cổ tay Cận Hành kéo anh ra sau mình.
Từ sau khi Tưởng Thiếu Long bị đuổi học, ở nhà chưa an phận được bao lâu đã kết thân với vài người xã hội, giờ cũng có mấy tên bạn bè xấu. Gã vẫn luôn ghi hận Cận Hành và Văn Viêm, đặc biệt chờ sẵn ở cổng trường Trung học số 6 để chặn người.
Tưởng Thiếu Long cao to, ăn mặc lố lăng, kéo theo bốn, năm người phía sau, trông đúng kiểu côn đồ. Từ xa gã đã nhìn thấy Cận Hành, dẫn người đi đến, đá văng lon nước ngăn đường, nở nụ cười như không cười: "Cận Hành, lâu rồi không gặp."
Cận Hành không để ý đến gã, mà nghiêng đầu hỏi Văn Viêm: "Cậu đánh lại bọn họ không?"
Văn Viêm ước chừng số người hai bên: "Cậu có nghe câu 'song quyền nan địch tứ thủ' chưa?"
[*] hai tay không đánh lại bốn tay, đánh không lại
Cận Hành gật đầu: "Tôi hiểu."
Đánh không lại chứ gì.
Văn Viêm cầm điện thoại gửi một tin nhắn, sau đó tắt màn hình, tiện tay nhét vào túi, vừa xoa khớp tay vừa nói: "Lát nữa tôi hô một, hai, ba, cậu chạy thẳng vào trường."
Trường Trung học số 6 chỉ còn một đoạn ngắn nữa.
Cận Hành hỏi: "Còn cậu?"
Văn Viêm nghĩ thầm, tôi đâu có cần thi: "Hỏi nhiều làm gì, cậu cứ chạy là được."
Tưởng Thiếu Long thấy hai người họ như không hề để mình vào mắt, thì tức giận, sắc mặt càng thêm âm trầm, cười lạnh nói: "Cận Hành, đến nước này rồi mà mày còn nhiều lời thế à?"
Dù không còn học ở trường, nhưng không cản trở việc gã nghe ngóng tin tức về Cận Hành. Nghe nói Cận Hành học rất giỏi, sắp lên lớp chọn, từng việc từng việc đ.è xuống khiến tâm lý vốn đã mất cân bằng của gã ngày càng bất ổn.
Hôm nay là ngày thi phân ban, Tưởng Thiếu Long cố ý chọn ngày này để chặn người.
Cận Hành không hề tỏ ra lo lắng, đứng sau lưng Văn Viêm, nở một nụ cười kỳ lạ với Tưởng Thiếu Long, rồi từ từ giơ tay làm động tác cắt cổ, như đang nhắc nhở gã điều gì: "Sắp chết rồi, không cho nói nhiều chút sao."
Tưởng Thiếu Long bất giác nhớ lại lần đầu tiên Cận Hành phản kháng gã, khi đó anh cầm một lưỡi dao lam, ánh mắt sắc lạnh đầy sát khí, sống lưng gã thoáng rùng mình, nhưng không cam lòng mà lùi bước, nghiến răng nói với đám người phía sau: "Chính là hai đứa này, lát nữa lên đánh mạnh vào, có chuyện gì cứ đổ hết lên đầu tao."
Đám côn đồ phía sau nghe vậy lập tức bước lên tìm chuyện, ai ngờ tên thiếu niên tóc đỏ nãy giờ vẫn đứng bên cạnh xem trò đột nhiên vung chiếc cặp lên, bên trong không biết chứa thứ gì, đập mạnh vào khiến đối phương hoa mắt.
Văn Viêm tung một cước vào bụng kẻ tới, chiêu thức vừa nhanh vừa mạnh, đồng thời hét lên với Cận Hành: "Chạy!"
Ý cậu là muốn Cận Hành chạy thẳng vào trường, ai ngờ Cận Hành lại nắm lấy cổ tay cậu, kéo cậu chạy về hướng ngược lại, thân hình nhanh chóng biến mất trong đám đông, để lại đám người của Tưởng Thiếu Long phản ứng không kịp, đuổi theo sau chửi bới: "Mẹ nó! Dám dùng cặp đập tao, đánh chết nó!"
Những cuộc ẩu đả nhỏ nhặt thường xuyên xảy ra, chỉ cần không đổ máu hay gây chết người, rất ít người quan tâm. Người qua đường thấy bọn họ rượt đuổi nhau cũng chỉ lặng lẽ tránh xa để không bị liên lụy.
Văn Viêm bị Cận Hành kéo chạy, suýt chút nữa không kịp phản ứng: "Mẹ nó, tôi bảo cậu vào trường, ai bảo cậu chạy về phía này hả!"
Trong lòng cậu vẫn nhớ đến kỳ thi của Cận Hành.
Cận Hành kéo tay Văn Viêm, chạy xuyên qua các ngõ ngách trên đường phố, mang theo cảm giác như đang chạy trốn khỏi bờ vực sinh tử. Dù thực tế đúng là đang chạy trốn thật. Cơn gió dữ dội thổi bay tà áo, làm rối tung tóc của hai người, nhưng lại giống như giải thoát khỏi ràng buộc, mang đến một cảm giác sảng khoái không chút kiêng dè.
Cận Hành khẽ nhếch môi nhìn Văn Viêm một cái, trong tình huống này mà anh vẫn còn cười được: "Hết cách rồi, tôi không có khả năng định hướng."
Gió cuốn tan giọng nói của anh.
Văn Viêm nhìn thấy đám người của Tưởng Thiếu Long ngày càng rượt gần lại, dứt khoát đổi hướng, kéo Cận Hành nhảy qua lan can bên đường, nhân lúc đèn xanh còn vài giây cuối cùng mà băng qua đường, rồi quay ngược trở lại, chạy về phía khuôn viên trường Sùng Minh bên kia phố: "Đi, tìm đám Từ Mãnh!"
Khi ít người thì dựa vào sức mạnh, khi đông người thì dựa vào anh em.
Văn Viêm nghĩ liệu có phải mình đã nghỉ đánh nhau quá lâu hay không, đến mức một đứa nhãi nhép như Tưởng Thiếu Long cũng dám dẫn người đến chặn đường. Một lát nữa mà không xử lý gọn gàng thì đúng là không thể chấp nhận. Cậu nắm chặt tay Cận Hành, lòng bàn tay đẫm một lớp mồ hôi mỏng vì căng thẳng, nhưng vẫn không dám buông ra.
Khi gần đến khuôn viên bên ngoài của trường Sùng Minh, dưới tán cây đã có một đám thiếu niên bất hảo đứng chờ sẵn. Sơ sơ đếm qua cũng khoảng bảy, tám người, chính là Từ Mãnh và đám bạn.
Văn Viêm kéo Cận Hành chạy đến, rồi thắng gấp ngay trước mặt họ, thở còn chưa kịp đều lại, đã không nhịn được chửi thề: "Đụ má! Tao bảo mày dẫn người đến cứu, thế mà mày ngồi đây hút thuốc?"
Từ Mãnh dập tắt đầu thuốc, đứng lên, đưa tay chắn ngang trán để nhìn rõ hơn đám người đang rượt đuổi. Hắn liếc nhìn Tưởng Thiếu Long đang kéo đám người đến gần, rồi quay sang nhìn Văn Viêm đang thở không ra hơi, vỗ vai cậu: "Đợi đèn đỏ mà, mày có nói cho tao biết mày ở đâu đâu."
Tưởng Thiếu Long vừa đuổi đến nơi, chuẩn bị chửi ầm lên, nhưng lại phát hiện Từ Mãnh và đám bạn cũng đang ở đây. Lời định nói ra lại nghẹn ngược trở vào, một hơi mắc kẹt trong lồng ng.ực, khiến sắc mặt gã trở nên xanh mét.
Bây giờ, cả hai bên cuối cùng cũng đã cân bằng về số lượng, thậm chí phía Văn Viêm còn nhiều hơn vài người. Dùng sợi tóc mà nghĩ cũng biết là đánh không lại rồi.
Tưởng Thiếu Long vốn chỉ định chờ hai người bọn họ đơn độc để ra tay, ai ngờ lại tính toán sai. Gã bắt đầu không để ý đến đám "anh em" của mình, âm thầm lùi bước định chạy, nhưng vai gã đột nhiên bị một lực mạnh từ phía sau đẩy tới, lảo đảo suýt ngã xuống đất.
"Lúc nãy đuổi hăng thế, giờ chạy cái gì?"
Văn Viêm vuốt ngược mái tóc ướt đẫm mồ hôi ra sau, ánh mắt sắc bén nhìn chằm chằm Tưởng Thiếu Long. Thấy sắc mặt đối phương ngày càng hoảng loạn, cậu nhớ lại cảnh mình vừa bị đuổi khắp phố bởi một tên nhãi ranh như gã, giận đến mức suýt bật cười. Cậu quay người lại hít sâu một hơi để bình ổn cảm xúc, rồi đột ngột xoay người, tung một cú đá mạnh khiến Tưởng Thiếu Long ngã lăn xuống đất.
"Á!"
Tưởng Thiếu Long ôm bụng nằm trên đất, cố gắng chống tay định bò dậy. Thấy vậy, Văn Viêm liền nhấc cặp sách lên và đập mạnh vào người gã. Chỉ nghe thấy tiếng hét thảm thiết lần nữa, gã nằm bẹp trên đất, không dậy nổi, chỉ còn biết cầu xin tha mạng.
Đánh nhau giữa phố rất khó coi. Từ Mãnh ra hiệu cho đám bạn phía sau kéo Tưởng Thiếu Long và đám người vào con hẻm bên cạnh, cười cợt rồi buông một câu: "Tiếp đãi bọn nó cho tử tế."
Cận Hành mệt đến mức ngồi bệt xuống bồn hoa bên đường để nghỉ ngơi. Thấy Văn Viêm đi ra khỏi con hẻm, hồi lâu không rõ vừa làm gì, nhưng ánh mắt và nét mặt vẫn còn vương lại vài phần tàn nhẫn, không cách nào che giấu dưới ánh nắng.
Cận Hành vỗ nhẹ vào chỗ trống bên cạnh mình: "Ngồi đi."
Khi Văn Viêm nhìn thấy anh, vẻ sắc lạnh trong mắt dần dịu lại. Cậu ngồi xuống bên cạnh, vẫn dáng vẻ lười biếng, vô tư, dùng vạt áo quạt gió, miệng lẩm bẩm: "Đụ thật, mất mặt quá."
Cận Hành mỉm cười đầy ý vị: "Cậu nói Tưởng Thiếu Long, hay là nói cậu?"
Từ Mãnh nghe câu đó, liền xen vào chọc ghẹo: "Tất nhiên là nói cậu ấy rồi. Bị đuổi chạy như chuột, mất mặt thật. Ngày trước đâu có thế."
Trong bản chất của Văn Viêm vẫn còn chút hung hăng, ngang ngược. Ngày trước, dù đánh nhau đến máu me be bét, cậu cũng không chịu thua, càng không chạy. Nhưng lần này có Cận Hành bên cạnh, cậu lại không dám ra tay, vì trong lòng có điều bận tâm.
Cận Hành lắc đầu, không đồng tình với lời của Từ Mãnh: "Giữ mạng quan trọng hơn."
Nói xong, anh hơi động đậy ngón tay, dường như muốn nắm lấy tay Văn Viêm, nhưng sau vài lần lưỡng lự, cuối cùng vẫn để yên tại chỗ.
Văn Viêm mở cặp sách, nhìn quyển từ điển dày cộp bên trong vẫn còn nguyên vẹn, thử nhấc lên cân thử, tỏ vẻ khó hiểu: "Còn hơn cả gạch nữa, đánh mấy phát mà không hỏng."
Cận Hành bật cười: "Đó chính là sức mạnh của tri thức."
Chương 147
Dù Từ Mãnh và đám bạn đến cứu, không mời họ một bữa thì thật không phải. Văn Viêm nheo mắt nhìn qua một lượt, đếm số người, cuối cùng phát hiện thiếu một người, liền hỏi: "Hoà Dương đâu?"
Từ Mãnh hừ một tiếng: "Bị giáo viên bắt rồi."
Mấy người nhảy qua tường rào như đổ bánh chưng, không thấy mới lạ. Hoà Dương bị kẹt ở cuối, bị giáo viên tóm gọn, giờ chắc đang ngồi uống trà trong văn phòng thầy rồi.
Một người khác cười hì hì: "Kêu cậu ấy giảm cân mà không chịu, lần nào cũng là người chậm nhất, không bắt cậu ấy thì bắt ai."
Văn Viêm đứng lên, vắt áo khoác qua vai, khẽ vỗ vào vai Cận Hành: "Đi thôi, đi ăn trước đã."
Nói xong, cậu mơ hồ cảm thấy mình đang quên mất điều gì, nhưng nghĩ mãi không ra, đành tạm gác sang một bên.
Cận Hành cũng không nhắc nhở, lẳng lặng đi theo cậu. Một nhóm người đông đúc rầm rộ kéo đến một quán thịt nướng để ăn trưa. Vì một bàn không đủ chỗ, họ phải chia ra ngồi hai, ba bàn.
Chạy trốn cả buổi sáng quả thật rất tốn sức, huống chi bữa sáng cũng chẳng ăn được bao nhiêu. Cận Hành cắt nhỏ thịt ra từng miếng, chậm rãi nướng lên rất kiên nhẫn. Văn Viêm ngay cả chiên trứng cũng vụng về, rõ ràng không làm nổi việc này, cậu ngắm nghía đĩa thịt của Từ Mãnh, tranh thủ gắp vài miếng rồi lén chuyển sang bát của Cận Hành.
Từ Mãnh không chịu nổi nữa, lên tiếng: "Văn Viêm, mày có biết xấu hổ không?"
Văn Viêm xoa cằm, lười biếng đáp: "Tao đã có một cái mặt rồi, không thể thêm nữa, thêm là thành mặt dày rồi."
Từ Mãnh trút hết thịt đã nướng vào bát mình, không chừa lại chút nào: "Hoá ra mày cũng biết mình là đồ mặt dày thật đấy!"
Cận Hành đã nướng xong phần thịt của mình, độ mềm vừa phải, không quá cứng, giữ được độ mọng nước nhưng vẫn chín tới, ngon hơn không chỉ một chút so với đám thịt của Từ Mãnh bọn họ.
Anh dùng kẹp gắp toàn bộ thịt bỏ vào đĩa của Văn Viêm.
Văn Viêm không nói gì, chỉ cúi đầu ăn. Có lẽ vì mối quan hệ của hai người vốn chẳng thể lộ ra ánh sáng, nên vào những lúc thế này, nói gì cũng cảm thấy có phần lén lút.
Cận Hành nhìn cậu ăn ngấu nghiến, chống cằm quan sát một lúc, sau đó không nói gì, đẩy cốc nước của mình sang. Văn Viêm tiện tay cầm lên uống liền hai ngụm. Uống xong mới chậm rãi nhận ra đây là cốc của Cận Hành. Cậu hơi khựng lại một chút, nhưng rồi lại nghĩ, chẳng có gì to tát cả — hôn còn hôn rồi, dùng chung cốc thì tính là gì chứ.
Từ Mãnh ngồi đối diện, ánh mắt có chút kỳ lạ nhìn hai người, tiện miệng hỏi thăm Cận Hành: "Sao cậu không ăn?"
Cận Hành gắp vài miếng thịt, ăn qua loa hai miếng: "Hồi nãy hơi nóng."
Văn Viêm nghe vậy liền vô thức sờ vào bát của anh: "Còn nóng không? Của tôi không nóng, đổi cho cậu nhé?"
Cận Hành dưới gầm bàn khẽ dùng chân đạp cậu một cái, lực vừa đủ, ra hiệu cậu đừng nói nữa, cũng đừng tỏ ra quá quan tâm.
Văn Viêm sững người, chậm nửa nhịp mới nhận ra, lập tức thu ánh mắt về, cúi đầu giả vờ nghịch điện thoại, sau đó lảng tránh bằng cách hỏi Từ Mãnh một câu lạc đề: "Ê, thịt của mày có nóng không? Tao cũng có thể đổi cho mày."
Từ Mãnh liếc nhìn cả hai, ánh mắt đảo qua lại, rồi nhướng mày đầy ẩn ý, cười nửa miệng, vừa như thật, vừa như giả: "Ồ, hiếm khi mày quan tâm đến tao như thế. Không cần phiền mày đâu, tao tự thổi được."
Văn Viêm tiếp tục cúi đầu nhìn điện thoại, không biết vì chột dạ hay vì lý do nào khác mà nhất quyết không nhìn lên. Cậu cười nhạt một tiếng: "Mày thì biết gì? Trong đầu mày chỉ có mỗi Nhan Na, làm sao nhận ra tao có quan tâm mày hay không?"
Nói đến Nhan Na...
Không biết nghĩ đến điều gì, Văn Viêm đột nhiên ngẩng đầu lên hỏi:
"Nhan Na đâu?"
Từ Mãnh bị câu hỏi đột ngột làm giật mình, phải mất một lúc mới đáp lại theo phản xạ: "Hôm nay thi phân lớp, cô ấy đi thi rồi."
Nói xong, Từ Mãnh như chợt nhận ra điều gì, ánh mắt đầy ngờ vực chuyển hướng sang Cận Hành: "Cậu không phải học cùng lớp với Nhan Na sao? Sao cậu không đi thi?"
Đáp lại câu hỏi của hắn là một câu chửi thề bật ra từ miệng Văn Viêm: "Chết tiệt!"
Cậu vừa đánh nhau trong con hẻm đến mức quên mất chuyện Cận Hành còn phải đi thi. Không sai, đây chính là chuyện quan trọng mà cậu cứ cảm thấy mình đã quên. Mọi người chỉ thấy cậu đột nhiên đứng bật dậy khỏi ghế, kéo Cận Hành lao ra ngoài, vội vã như thể đi đầu thai, thoáng chốc đã không còn thấy bóng dáng đâu nữa.
Từ Mãnh ngơ ngác cả buổi, cuối cùng mới hoàn hồn, liền hét với theo: "Chết tiệt! Mày thanh toán rồi hẵng chạy chứ!"
Nhưng Văn Viêm nào để ý đến hắn, chỉ kéo Cận Hành chạy thẳng về hướng trường Sùng Minh. Vì quá hoảng loạn nên suýt nữa cậu vấp ngã, vừa giống con ruồi mất đầu, vừa như kiến bò trên chảo nóng: "Xong rồi xong rồi, mấy giờ các cậu bắt đầu thi? Còn kịp thi bổ sung không?"
Cận Hành đi theo phía sau, lắc đầu đáp: "Không vào được nữa. Sau 30 phút là không được vào phòng thi."
Giờ đã là 2 giờ chiều, anh không chỉ lỡ kỳ thi buổi sáng mà cả buổi chiều cũng không kịp nữa.
Câu trả lời này như một chậu nước lạnh tạt thẳng vào lòng Văn Viêm giữa ngày đông giá rét. Cậu dừng bước, ngực phập phồng dữ dội vì chạy quá nhanh, hơi thở chưa kịp điều hòa, xoay người lại hỏi với vẻ không thể tin nổi: "Không vào được nữa sao?"
Cận Hành gật đầu: "Ừ, không vào được."
Văn Viêm nghiến răng, mạnh tay lau mặt, lẩm bẩm gì đó không rõ, nhưng chắc chắn là câu chửi thề bị kiểm duyệt. Cậu bực dọc cởi áo khoác ném mạnh xuống đất, mặt mày u ám: "Mẹ nó, lúc nãy phải xử thằng đó chết luôn mới đúng!"
Dù Tưởng Thiếu Long lúc đó đã bị đánh thảm hại đến mức không thể thảm hơn.
Tất nhiên, Văn Viêm cũng tự biết mình có phần trách nhiệm. Cậu đánh nhau đến quên cả trời đất, vậy mà chuyện quan trọng như thế lại quên mất, hối hận đến mức ruột gan cồn cào, ngồi xổm dưới đất, không nhúc nhích.
Cận Hành nhặt chiếc áo khoác dưới đất lên, phủi sạch bụi bẩn, ánh mắt hiện lên một tia buồn cười. Anh ngồi xuống cạnh Văn Viêm, dùng khuỷu tay khẽ chạm vào cậu: "Áo khoác của cậu."
Văn Viêm không để ý, vẫn cúi đầu tự trách mình.
Cận Hành đành cầm hộ, lúc đầu còn cố nhịn, nhưng sau đó không nhịn nổi nữa, bật cười thành tiếng. Anh vừa cười vừa lắc đầu, cuối cùng cười đến mức không còn sức, suýt ngã xuống đất, bèn ngồi bệt xuống bồn hoa ven đường.
Văn Viêm ngẩng đầu nhìn anh: "Cậu cười cái gì?"
Cận Hành xoa bụng đang đau vì cười, lấy tay lau khóe mắt, tiện thể vắt áo khoác của Văn Viêm lên đùi mình, liếc cậu một cái: "Tôi cười cậu."
Văn Viêm đứng lên, nhìn trái nhìn phải: "Tôi có gì đáng cười?"
Cận Hành nhìn cậu, ánh mắt nửa đùa nửa thật: "Tôi là người trong cuộc còn không gấp, cậu gấp cái gì?"
Văn Viêm định phản bác nhưng lại không biết nói sao, đành nhấc chân giẫm lên mép bồn hoa cạnh chỗ Cận Hành ngồi, cúi người nhìn anh: "Đúng là đồ vô tâm, hoàng đế không vội, thái giám đã vội."
Nói câu đó, lông mày cậu vẫn nhíu chặt, không hề giãn ra, rõ ràng rất coi trọng kỳ thi phân lớp này.
Văn Viêm luôn nghĩ Cận Hành và cậu không giống nhau, con đường sau này đi cũng sẽ không giống nhau. Nhưng giờ phút này, cậu lại cảm thấy mình đã làm lỡ dở con đường của Cận Hành, mỗi bước chân đều nặng nề và thận trọng.
Cận Hành vẫn cười, vẻ mặt chẳng những vô tâm mà còn như chẳng biết lo nghĩ. Cuối cùng anh thu lại nụ cười, thở dài: "Phân lớp thôi mà, có phải chuyển trường đâu, cậu căng thẳng làm gì."
Nói xong, anh chỉ vào đầu mình: "Phân lớp thế nào không quan trọng lắm, quan trọng là ở đây."
Văn Viêm không tin. Nếu thế, tại sao bao nhiêu học sinh phải chen chúc để vào lớp chọn? Cậu nghiêm mặt hỏi: "Cậu biết gì mà bảo không quan trọng?"
Cận Hành đưa ra một ví dụ đơn giản nhất: "Ném cậu vào lớp chọn, cậu có học lên được không?"
Chuyện đó tất nhiên là không thể. Văn Viêm vốn không phải người có thiên phú học hành, đừng nói vào lớp chọn, dù có vào Thanh Hoa hay Bắc Đại cũng vậy. Cậu bị nghẹn lời, tìm mãi không ra câu phản bác, nhìn chằm chằm Cận Hành hồi lâu, cuối cùng nhận ra điều gì đó: "Chậc, cậu cố tình đúng không?"
"Cố ý gì cơ?" Cận Hành hỏi lại.
Văn Viêm không nói gì. Cậu quên kỳ thi đã đành, nhưng Cận Hành sao có thể cũng quên được chứ? Điều này chỉ có thể chứng minh một điều: anh cố ý. Cậu hạ chân từ trên ghế xuống, vò đầu bứt tóc, rồi ngồi xuống bên cạnh Cận Hành.
Cận Hành khẽ chạm vào vai cậu: "Bẩn đấy, cậu vừa giẫm qua."
Văn Viêm liếc nhìn anh: "Biết rồi, nhưng tôi không ghét bản thân mình."
Bất kể làm gì, cậu luôn tỏ ra đương nhiên như vậy. Cận Hành bật cười vì bất lực, ném áo khoác của Văn Viêm vào lòng cậu, ngẫm nghĩ một lát, rồi "ừm" một tiếng: "Tôi cũng không ghét cậu."
Động tác của Văn Viêm khựng lại, theo phản xạ nhìn sang anh, nhưng chỉ thấy Cận Hành đang cười. Trong mắt anh thoáng hiện lên nét tươi sáng, như ánh nắng mùa hè ấm áp, phác nên hình ảnh một thiếu niên tràn đầy sức sống.
"Hừ..." Văn Viêm vắt chéo chân, hiếm khi tỏ ra lúng túng, chậm rãi nói: "Tôi đẹp trai thế này, lại còn biết đánh nhau, cậu có gì mà phải ghét?"
Khó trách Từ Mãnh hay nói cậu không biết xấu hổ.
Kỳ thi phân lớp lần này, lãnh đạo nhà trường đặc biệt chú ý đến top 10 học sinh đứng đầu bảng xếp hạng. Việc Cận Hành vô cớ vắng mặt khiến ngày hôm sau anh bị giáo viên chủ nhiệm gọi lên văn phòng. Nhìn gương mặt mệt mỏi của cô giáo, rõ ràng cô đang rất đau đầu.
"Cận Hành, hôm qua em vắng thi là có chuyện gì? Cô đã gọi điện cho phụ huynh của em, nhưng tất cả đều là số không liên lạc được."
Cận Hành không giải thích nhiều, chỉ nghiêm túc xin lỗi: "Hôm qua em cảm thấy không khỏe, nên đến bệnh viện khám, không kịp xin phép."
Nhưng chuyện này hiển nhiên không thể giải quyết chỉ bằng một lời xin lỗi. Giáo viên chủ nhiệm đổi tư thế ngồi, vẻ mặt lo lắng nhưng không nỡ trách cứ cậu học sinh luôn giữ thái độ lễ phép này: "Cô đã hỏi qua lãnh đạo nhà trường, việc tổ chức thi bổ sung có chút khó khăn. Đề thi lần này là đề bí mật do nhiều giáo viên cùng ra. Muốn tìm một đề có độ khó tương đương là không dễ. Em đã bỏ lỡ toàn bộ các môn, chỉ có thể tính là điểm 0. Nếu cho thi lại thì sẽ không công bằng với các bạn khác."
Cận Hành im lặng.
Giáo viên chủ nhiệm bất lực thở dài: "Tầm quan trọng của kỳ thi phân lớp lần này chắc cô không cần nói thêm. Một khi vị trí đã xác định, sau này khó mà thay đổi được. Chờ khi bài thi được chấm xong, có lẽ em sẽ xếp cuối bảng... Cô cũng không nghĩ ra điểm nào thấp hơn điểm 0 nữa."
Câu cuối cùng xem như một lời nói đùa chua chát.
Cận Hành hỏi: "Phân lớp sẽ quyết định luôn sao ạ?"
Cô giáo gật đầu: "Ừ, nhưng em cũng đừng nản lòng. Nếu sau này em vẫn giữ được thành tích ổn định như trước đây, biết đâu lớp chọn có thể đặc cách thêm một chỗ."
Cận Hành không tỏ ra quan tâm lắm, anh chỉ tiện miệng hỏi. Sau khi bị cô giáo dặn dò thêm vài câu, anh mới rời khỏi văn phòng.
Hoa khôi của lớp – Đường Quả – đang đứng đợi ngoài cửa, trong tay ôm một chồng bài tập. Ban đầu cô tò mò ngó vào trong, nhưng khi thấy Cận Hành bước ra thì lập tức rụt ánh mắt lại. Có vẻ như cô muốn nói gì đó, nhưng nhìn bóng dáng cao ráo của anh lướt qua, cuối cùng lại nuốt lời vào trong.
Một thiếu nữ mười bảy, mười tám tuổi, có những tâm sự khó nói thành lời.
Đường Quả mím môi, cuối cùng vẫn bước vào văn phòng.
Cận Hành không để ý đến cô, hoặc có lẽ dù để ý cũng chẳng làm gì, bước qua hành lang chật chội, khi xuống cầu thang thì tình cờ thấy Nhan Na đang đứng trò chuyện với một nhóm nữ sinh. Bọn họ trang điểm trông khá chững chạc, rõ ràng không phải loại dễ chọc vào, vì vậy việc bắt nạt trong lớp hầu như không bao giờ xảy ra với họ.
Vẻ ngoài của Cận Hành quá nổi bật, Nhan Na liếc mắt một cái liền nhìn thấy anh. Cô giơ tay chào, rồi bước qua với đôi sandal buộc dây có gót, phát ra những tiếng lộc cộc khi chạm đất.
Nhan Na hỏi: "Giáo viên gọi cậu vào văn phòng nói gì thế?"
"Không có gì, chỉ là chuyện hôm qua bỏ thi."
Nhan Na rõ ràng đã nghe Từ Mãnh kể lại: "Hai người cậu với Viêm ca thật ngốc, ăn đồ nướng mà quên luôn cả thi. Lại còn không rủ tôi."
Câu cuối mới là trọng điểm.
Cận Hành khoanh tay trước ngực: "Vậy cậu thi thế nào?"
Nhan Na nghĩ ngợi rồi lật một cuốn sách trong tay, bên trong kẹp bài thi hôm qua. Phiếu trả lời trắc nghiệm đã nộp, nhưng cô cũng điền một bản trên đề: "Tôi cũng chẳng rõ, đề nhìn hiểu hiểu không không..."
Nói trắng ra là không hiểu gì.
Cận Hành cầm bài thi lướt qua, phát hiện hơn nửa số câu là dạng nâng cao. Sau khi đối chiếu với đáp án của Nhan Na, anh cười khẽ, trả lại bài cho cô: "Làm tốt lắm."
Nhan Na thoáng ngơ ngác, không rõ câu đó là khen hay chê: "Ý cậu là gì?"
Cận Hành chỉ nói một câu: "Khéo lắm, có khi chúng ta sẽ vào chung lớp."
Nhà vệ sinh của trường nằm ở cuối hành lang hai bên cầu thang. Khi bọn họ đứng ở cửa cầu thang, bên cạnh chính là nhà vệ sinh. Nhan Na chưa kịp hỏi gì thêm thì bên tai vang lên một tiếng khóc nghẹn ngào, như cố nén lại nhưng đầy đau đớn, phát ra từ nhà vệ sinh nữ. Xung quanh có không ít người đang bàn tán, nhưng nghe không rõ.
"Quan Linh lại bị nhốt trong nhà vệ sinh rồi... Lần trước là thầy cô phát hiện, mới được thả ra."
"Đáng thương thật... Hay là mình thả cô ấy ra?"
"Đừng nhiều chuyện..."
Phòng giáo viên ở tầng trên, cách đây khá xa.
Cái tên Quan Linh nghe quen quen. Cận Hành nghĩ một lúc mới nhớ ra, hình như đó là cô bạn gầy gò, ít nói trong lớp, thường xuyên bị bắt nạt và cuối cùng phải chuyển lớp.
Anh hỏi Nhan Na: "Cô ấy không phải chuyển lớp rồi sao?"
Nhan Na nhún vai, vẻ mặt khó hiểu: "Chuyển lớp, chứ có phải chuyển trường đâu. Đám kia vẫn có thể bắt nạt cô ấy."
Rõ ràng Nhan Na không muốn can thiệp, nhưng cũng không rời đi.
Cận Hành dựa vào tường hành lang, bên tai là tiếng khóc khàn khàn dần yếu đi và tiếng đập cửa vô vọng. Anh nhớ lại lần mình bị Tưởng Thiếu Long và đám bạn nhốt trong nhà vệ sinh. Khi đó, anh cũng từng khóc và đập cửa như vậy, nhưng cuối cùng chẳng phí sức nữa. Vì anh biết, dù có khóc đến khản giọng, cũng sẽ chẳng ai giúp đỡ, người duy nhất anh có thể dựa vào chỉ có chính mình.
Giờ đây, anh đã thoát khỏi tình cảnh đó, nhưng rõ ràng, vẫn còn nhiều người chưa thể bước ra, vẫn bị nhốt sau cánh cửa kia, như những con thú bị dồn vào đường cùng.
Văn Viêm không biết chuyện xảy ra ở trường cấp ba số sáu, cũng không quản được nhiều chuyện như vậy, càng không nghĩ đến đạo lý phức tạp đó. Chỉ là sau giờ học, khi gặp Cận Hành, cậu dùng giọng điệu kỳ quái hỏi một câu: "Nghe Nhan Na nói, cậu vào toilet nữ hả?"
Cận Hành: "..."
Chương 148
Miệng lưỡi của Văn Viêm rất độc, chỉ là bình thường không thể hiện ra. Thỉnh thoảng buột miệng hỏi một câu như thế, đến Cận Hành cũng phải ngẩn ra. Anh phản ứng lại, quay đầu nhìn cậu, nhướng mày, không phủ nhận:
"Ừ, vào rồi."
Văn Viêm giật giật mí mắt:
"Cậu còn tự hào lắm à?"
Hôm nay cậu không đi xe, chỉ đơn thuần cùng Cận Hành thong thả về nhà. Nhan Na và Từ Mãnh đuổi nhau cười đùa bên cạnh. Bầu trời phía sau nửa tối nửa sáng, hiện lên sắc xanh lam Klein huyền bí, sâu thẳm mà sạch sẽ, trong trẻo.
Cận Hành không vội không vàng hỏi lại cậu: "Tôi dám vào, cậu dám không?"
Văn Viêm nghẹn họng, cái gì mà dám với không dám chứ. Người đàn ông nào không có việc gì mà chạy vào toilet nữ, loại chuyện này ngoài kẻ bi.ến th.ái ra thì chỉ có Cận Hành mới làm thôi.
Phía trước có một cái cột điện chắn đường, Cận Hành đưa tay kéo Văn Viêm từ trên bồn hoa xuống, dắt đi trên con đường bằng phẳng hơn: "Sao cậu luôn thích leo lên cao thế?"
Văn Viêm: "Tôi thích đấy."
Cận Hành sờ vành tai, thẳng thừng chọc thủng lớp cửa sổ giấy: "Có phải vì cậu thấp hơn tôi không?"
Rõ ràng đều cùng tuổi, nhưng Cận Hành lại cao hơn Văn Viêm một cái đầu. Dáng người anh khi đứng thẳng, gầy mà có xương, trông chẳng khác gì người mẫu trên tạp chí. Lời này đúng là chọc vào tổ ong vò vẽ. Văn Viêm lập tức vòng tay qua cổ kéo anh cúi xuống, trên cổ áo còn thoang thoảng mùi khói thuốc: "Khỉ gió, ai thấp hơn cậu hả?"
Cận Hành nghĩ, ai thấp người đó tự biết: "Cậu đoán xem?"
Văn Viêm vừa tức vừa không làm gì được anh, đành túm lấy đầu anh vò loạn hai cái mới buông ra: "Được rồi, biết là anh anh hùng cứu mỹ nhân, toilet nữ vào thì cứ vào, nhưng đừng có tấn công nhân cách của tôi."
Cận Hành định nói gì đó, chợt thấy trên cánh tay cậu có một vết thương không rõ ràng lắm. Ban ngày không thấy, giờ anh mới hỏi: "Hôm nay cậu đi đánh nhau à?"
Văn Viêm không trả lời, hờ hững vung tay, như thể đồng ý mà cũng không hẳn: "Ừm."
Cận Hành hỏi: "Đánh với ai?"
Từ Mãnh đang né tránh "truy sát" của Nhan Na, vừa khéo đi ngang qua họ, nghe vậy liền chậm bước lại, lùi về phía sau, cười như không cười đáp: "Còn ai vào đây nữa, chính là tên xui xẻo hôm qua làm cậu lỡ bài kiểm tra chứ ai, suýt nữa bị cậu ấy đánh chết."
Từ Mãnh dùng ánh mắt kỳ lạ nhìn Văn Viêm, tựa như đang chứng kiến một người bạn tốt của mình từng bước rơi vào vực sâu tuyệt vọng. Sau đó, ánh mắt ấy lại chuyển sang Cận Hành, như thể anh chính là kẻ đầu sỏ gây ra mọi chuyện, rồi hắn lên tiếng đầy ẩn ý:
"Cậu thử đếm xem ai từng chọc vào cậu, không chừng những người đó đều bị Văn Viêm đánh qua một lần rồi."
Khi nói câu này, hắn vẫn giữ nguyên dáng vẻ hay cười đùa thường ngày, khiến người khác khó phân biệt là đang nói đùa hay nghiêm túc.
Văn Viêm theo phản xạ liếc nhìn Cận Hành một cái, rồi tung chân giả vờ đá Từ Mãnh: "Đi chỗ khác đi, mày không biết nói chuyện à?"
Từ Mãnh nghiêng người tránh qua, tiện tay phủi bụi trên áo, nhỏ giọng lẩm bẩm một câu không rõ, sau đó lạnh lùng cười: "Mày tự mà xem xét lại đi. Ra tay chẳng biết nặng nhẹ, sớm muộn gì cũng gây họa thôi, tao không quản đâu."
Bốn người không đi cùng một hướng, đến ngã ba phía trước thì rẽ sang các đường khác nhau.
Văn Viêm dù có đánh nhau, nhưng cậu cũng hiểu rõ rằng đánh nhau chẳng phải việc gì tốt, càng không đáng để lấy làm tự hào. Thấy Cận Hành im lặng đi bên cạnh, dường như đang nghĩ ngợi điều gì, cậu lười biếng rút một chiếc bật lửa ra, châm điếu thuốc, rồi cố tình thổi một vòng khói về phía anh.
Khói thuốc có phần hăng, dưới màn đêm đen đặc ngưng tụ thành một vòng trắng, chẳng bao lâu liền tan biến.
Văn Viêm cứ tưởng Cận Hành sẽ phản ứng, nhưng đối phương chỉ nhìn cậu một cái rồi không nói gì thêm.
Văn Viêm vỗ túi quần, bất đắc dĩ mở lời: "Đừng nghe Từ Mãnh nói bậy. Trước đây cậu ta theo đuổi Nhan Na, đánh nhau còn hăng hơn tôi nhiều."
Nghe vậy, chân mày Cận Hành khẽ nhướng lên, có chút hứng thú: "Hửm?"
Văn Viêm ngẫm nghĩ một chút rồi đáp: "Nhan Na hồi học cấp hai cũng giống anh, hình như bị bắt nạt khá nhiều. Từ Mãnh vì cô ấy mà đánh nhau không ít, lần nghiêm trọng nhất suýt chút nữa vào trại giáo dưỡng."
Nói xong, cậu kết luận: "Cậu ta đúng là quạ đen đứng trên đống than, chỉ thấy người khác đen mà không nhìn thấy mình cũng đen."
Cận Hành không ngờ lại có chuyện như vậy. Dù sao nhìn Nhan Na bây giờ, cô đâu có vẻ là người dễ bị bắt nạt. Nghĩ đến lời Từ Mãnh vừa nói, anh quay sang nhìn Văn Viêm, bình thản nói: "Có lẽ cậu ta nói đúng. Nói không chừng một ngày nào đó, cậu sẽ vì tôi mà rước họa vào thân."
Văn Viêm rõ ràng không để bụng, hờ hững đáp: "Họa thì họa, gây thì gây, đời này tôi gây họa còn ít chắc?"
Câu này đúng là thật.
Cận Hành gật đầu tán đồng, thấy phía trước có một cửa hàng tiện lợi, bảng hiệu màu xanh lam sáng lên trong đêm tối, liền kéo Văn Viêm đi vào. Bên trong yên tĩnh, nhân viên bán hàng đang gật gù ngủ gật.
Văn Viêm ngạc nhiên hỏi: "Cậu định mua gì?"
Cận Hành dường như cũng không biết mình muốn mua gì, chậm rãi đi quanh mấy dãy kệ một lúc nhưng không cầm món nào. Sau vài giây im lặng, anh lên tiếng: "Hôm nay là sinh nhật tôi."
Văn Viêm ngẩn ra: "Cái gì?"
Cận Hành nghiêng đầu nhìn cậu, nghiêm túc và bình thản nói: "Hôm nay là sinh nhật tôi."
Thật ra, vốn dĩ anh không định nói ra. Ngày này đối với anh mà nói chẳng có ý nghĩa gì cả, qua đi thì cứ để nó qua đi. Nhưng hôm nay đánh dấu bước ngoặt tuổi trưởng thành, anh cảm thấy cần làm điều gì đó để ghi nhớ. Anh hoàn toàn không nhận ra một câu nói bất ngờ ấy đã khiến Văn Viêm đờ người ra.
"Tôi... Cậu..."
Văn Viêm hiếm khi lắp bắp, vẻ mặt đầy kinh ngạc:
"Hôm nay là sinh nhật cậu, sao tôi không biết?"
Cận Hành nghĩ, đương nhiên cậu không biết, tôi chưa từng nói với cậu. Anh nhìn quanh, đối với đám đồ ăn vặt đầy màu sắc trên kệ chẳng hứng thú, cuối cùng đi đến quầy thanh toán, lấy một hộp đồ, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn, làm nhân viên tỉnh ngủ: "Thanh toán."
Nhân viên là một thanh niên trẻ, thấy Cận Hành mặc đồng phục học sinh, nửa đêm chạy vào cửa hàng mua thứ này, ánh mắt lộ vẻ kỳ lạ, rồi quét mã món hàng.
Cận Hành trả tiền, ra khỏi cửa hàng, phát hiện Văn Viêm vẫn chưa đi theo. Anh ngoái đầu lại nhìn, thấy cậu vẫn đứng ngây người tại chỗ, liền quay lại kéo cậu ra ngoài: "Đi thôi, về nhà."
Văn Viêm không nói gì, đột nhiên nhét balo vào tay anh, vội vàng nói: "Ngồi đây chờ tôi, tôi quay lại ngay!"
Giờ tan học buổi tối của trường cấp ba số sáu rất muộn, lúc này hầu hết các cửa hàng trên phố đều đã đóng cửa. Văn Viêm khá quen khu vực này, mơ hồ nhớ ra gần đây có tiệm bánh ngọt, cậu tìm qua từng nơi, nhưng đều đã đóng cửa.
Chỉ còn lại một tiệm cuối cùng, ánh đèn vàng ấm áp bên trong hắt ra, chủ tiệm đang đứng ngoài kéo cửa cuốn xuống. Văn Viêm gần như kiệt sức, nhưng thấy vậy liền quay đầu chạy tới, nhanh tay giữ lấy cánh cửa đang kéo xuống: "Đợi đã!"
Chủ tiệm nghe tiếng, nhìn thấy một học sinh thở hồng hộc chạy đến, liền ngừng tay: "Sao thế?"
Văn Viêm chạy qua bảy, tám con phố, tạm thời không nói nổi, cúi người chống tay lên đầu gối, cố gắng lấy lại hơi thở, sau vài giây mới ngắt quãng hỏi: "Ông... Ông chủ... còn bánh kem không?"
Chủ tiệm suy nghĩ một chút rồi đáp: "Còn vài cái bánh mì nhỏ, cậu lấy không?"
Văn Viêm hít sâu, xua tay nói: "Không phải bánh mì, tôi cần bánh kem."
Chủ tiệm đáp: "Vậy thì cậu đến muộn rồi, bánh kem phải đặt trước một ngày."
Văn Viêm chưa từng mua bánh kem, cậu nhìn thấy vài chiếc bánh kem lớn trong tủ kính: "Vậy mấy cái đó, bán cho tôi một cái được không?"
Chủ tiệm bật cười: "Đó là mô hình bánh kem giả, ăn vào chết người đấy."
Văn Viêm thất vọng, đấm một cú vào tường, không cam lòng hỏi tiếp: "Thế còn bánh kem nhỏ thì sao? Bánh cắt lát cũng được, nhà tôi có người sinh nhật, thật sự rất cần!"
Chủ tiệm dường như hiểu ra vấn đề, liền kéo cánh cửa cuốn lên, mở khóa tủ kính, lấy ra một chiếc bánh sữa nhỏ bằng hộp cơm, trơ trụi không có kem, giống như phần đế bánh chưa được trang trí.
Chủ tiệm hỏi: "Bánh kem thì không còn, cái này cậu thấy được không? Cắm hai cây nến là cũng tàm tạm."
Văn Viêm: "..."
Đến giờ này, ngoài quán bar và cửa hàng tiện lợi 24/24, gần như không còn nơi nào mở cửa. Văn Viêm không tình nguyện nhưng vẫn phải rút tiền trả, tiện thể mua thêm một gói nến. Lo cậu sẽ để Cận Hành chờ quá lâu, lại tiếp tục chạy như bay về.
Cận Hành không biết Văn Viêm định làm gì, chỉ ngồi trên ghế dài bên đường chờ. Qua khoảng hơn 40 phút, cuối cùng anh cũng thấy bóng dáng quen thuộc ấy chạy tới, tóc tai bị gió thổi rối tung cả lên.
Cận Hành theo phản xạ đứng dậy, thấy Văn Viêm cầm một túi đồ trên tay, anh đoán thử: "Cậu mua bánh sinh nhật à?"
Văn Viêm vốn đã thấy thứ mình mua chẳng ra gì, nghe anh hỏi vậy lại càng thấy không ngẩng đầu lên được, gãi gãi tóc: "Mẹ nó, tiệm bánh đóng cửa hết rồi."
Cậu đặt túi xuống ghế dài, lấy ra cái bánh bông lan vị sữa nhạt nhẽo kia, dưới ánh mắt chăm chú của Cận Hành, cậu miễn cưỡng cắm nến lên, rồi dùng bật lửa cố gắng thắp từng cây một. Thế nhưng gió đêm quá lớn, cộng thêm nôn nóng và run tay, làm thế nào cũng không châm được.
"Đừng vội."
Cận Hành ngồi xuống cạnh cậu, dùng tay che chắn gió, nhận lấy bật lửa từ tay Văn Viêm, châm một cây nến trước, sau đó dùng cây nến đó thắp sáng những cây còn lại. Ánh sáng vàng ấm áp dần lan tỏa, chiếu sáng gương mặt anh, làm đường nét trở nên dịu dàng tựa ngọc.
Thấy vậy, sự nôn nóng của Văn Viêm cũng dần dịu xuống. Cậu nâng tay giúp anh chắn gió, liếc nhìn Cận Hành một cái, rồi lại quay đi, cúi đầu nói khẽ: "Sao không nói sớm cho tôi biết?"
Văn Viêm là kiểu người sống tùy tiện, đúng nghĩa đen, nếu không có người bên cạnh nhắc nhở, cậu thậm chí có thể quên mất trên đời này còn cái khái niệm gọi là sinh nhật, huống chi đây lại là sinh nhật bạn trai mình.
Cận Hành không bận tâm: "Vì tôi biết cậu nhớ kém."
Văn Viêm ngay cả sinh nhật bản thân còn chẳng nhớ rõ, nửa đời trước chỉ có thể miêu tả bằng hai chữ mơ hồ.
Văn Viêm đúng là hay quên thật: "Cận Hành, lần này tôi quên hỏi, là lỗi của tôi, lần sau tôi nhất định sẽ nhớ."
Cận Hành biết, những lời Văn Viêm đã nói thì cậu sẽ thực hiện. Anh đặt bật lửa xuống, mỉm cười, đưa màn hình điện thoại cho cậu xem: "Vẫn chưa qua mười hai giờ đâu, cậu vẫn kịp, không tính là quên."
Thật ra, khi nói với Văn Viêm rằng hôm nay là sinh nhật mình, chính Cận Hành cũng thấy kỳ lạ, bản thân chẳng hiểu sao lại muốn kể cho cậu nghe.
Văn Viêm vẫn cảm thấy cái bánh này nhìn quá tệ, nhưng cắm nến lên thì cũng đỡ hơn chút: "Vậy... thổi nến, ước nguyện chứ?"
Cận Hành lặng lẽ nhìn cậu, không đáp.
Văn Viêm nháy mắt giật mình: "Có cần hát bài 'Chúc mừng sinh nhật' không?"
Cận Hành cười: "Không cần."
Anh chẳng tin vào mấy chuyện nguyện ước, hoặc có thể nói, anh không biết bản thân nên ước điều gì. Nhưng vẫn làm theo ý Văn Viêm, chậm rãi nhắm mắt lại, đối diện với ánh nến lung linh mà ước một điều.
Hy vọng...
Cuộc đời sau tuổi mười tám của họ sẽ bình an và thuận lợi.
Kiếp trước đã quá cay đắng.
Nơi sinh ra và lớn lên, đáng lẽ nên là nhà, chứ không phải vũng lầy và nhà tù khiến người ta mơ cũng chỉ muốn thoát khỏi.
Sau vài giây, Cận Hành mở mắt ra, rồi thổi tắt nến. Văn Viêm lúc này mới nhẹ nhõm, rút mấy cây nến đã cháy được nửa ra, bẻ một miếng bánh đưa đến trước mặt Cận Hành, tự mình cũng ăn một miếng: "Mai tôi sẽ mua cái ngon hơn cho cậu."
Cận Hành lắc đầu. Họ vẫn còn là học sinh, mua đồ quá đắt cũng là gánh nặng. Thấy xung quanh im ắng, chẳng một bóng người, chỉ còn lại cơn gió đêm trên những ngọn cây, anh cúi đầu, khẽ chạm môi mình lên môi Văn Viêm một nụ hôn nhẹ như chuồn chuồn lướt nước.
Cận Hành nói: "Cảm ơn..."
Văn Viêm sững người, đến khi nhận ra chuyện gì xảy ra, Cận Hành đã rời khỏi, cậu bất giác mím môi, cảm thấy nụ hôn vừa rồi nhẹ nhàng ấy khiến tim cậu đập loạn nhịp: "...Cận Hành, sinh nhật vui vẻ."
Cận Hành mỉm cười, không nói gì. Anh đứng dậy từ ghế, thu dọn phần bánh còn lại, rồi kéo Văn Viêm đi về nhà. Hai bóng hình trên mặt đất bị kéo dài ra thật xa.
Cận Hành không biết nghĩ đến điều gì, nhướn mày: "Cậu còn nhớ lần đầu chúng ta gặp nhau không?"
Lần đó ở cổng trường trung học số sáu, Văn Viêm túm lấy cổ áo anh, nói toàn những lời hăm dọa, còn vỗ vào mặt anh, đúng nghĩa là một kẻ ngông cuồng.
Văn Viêm bước nhanh lên cầu thang, lấy chìa khóa mở cửa, mãi không nói gì, giả ngu: "Quên rồi, cậu biết tôi nhớ kém mà... Cậu đói không? Tối nay chỉ ăn được hai miếng bánh."
Cận Hành theo cậu vào phòng: "Không đói, cậu thì sao?"
Văn Viêm thấy mình đã chuyển chủ đề thành công, thầm thở phào: "Không đói."
Cận Hành cởi áo khoác đồng phục ném lên sofa, có thứ gì đó nhỏ rơi ra từ túi áo, nằm trên mặt đất: "Thế thì đi tắm rồi ngủ thôi."
Văn Viêm định lên tiếng, nhưng vừa bước được hai bước, cảm giác dưới chân như giẫm phải thứ gì, cúi xuống nhặt lên nhìn, thì phát hiện đó là... một hộp bao cao su. Trong đầu cậu thoáng trống rỗng: "...Ở đâu ra vậy?"
Quái thật, trong nhà cậu sao lại có thứ này, chẳng lẽ là của bà mẹ mấy trăm năm không thấy mặt kia?!
Cận Hành tựa người vào tay ghế sofa, nghe thấy vậy thì ồ một tiếng: "Tôi mua đấy."
Văn Viêm càng ngơ ngác: "Cậu mua? Lúc nào cơ?"
Cận Hành chỉ ra ngoài cửa: "Vừa nãy ở cửa hàng tiện lợi."
"..."
Văn Viêm bất giác nuốt nước bọt, cầm chiếc hộp nhỏ trên tay, cảm giác như đang cầm phải củ khoai nóng phỏng, não bộ ngừng hoạt động trong giây lát, hỏi một câu cực kỳ ngớ ngẩn: "Cậu mua cái này làm gì?"
Cận Hành cười: "Mua về thổi bóng bay chơi, được không?"
Khốn thật.
Văn Viêm cảm thấy mình ngu ngốc đến cực điểm, lẽ ra cậu phải sớm đoán được tên Cận Hành này không đơn giản như vẻ ngoài. Nghe ra được ý chế giễu trong lời nói của anh, cậu ném thẳng cái hộp lại, tai đỏ bừng: "Mẹ nó, cậu không thể nói tiếng người à."
Cận Hành thấy Văn Viêm quay người định đi, liền nắm lấy cổ tay kéo cậu lại, thuận thế đẩy vào tường. Không biết vô tình hay cố ý, mà tay anh chạm phải công tắc đèn, khiến ánh sáng trong phòng khách đột ngột tắt đi.
Cả hai không ai nhúc nhích, bóng dáng hòa vào trong màn đêm, trở nên mơ hồ khó phân biệt, chỉ còn lại hơi thở nóng ấm, quấn quýt hòa lẫn vào nhau, mập mờ chẳng dứt.
Ngực Văn Viêm phập phồng dữ dội, trái tim như muốn nhảy khỏi lồng ng.ực. Cậu bất giác siết lấy vai Cận Hành, cổ họng khô khốc: "Cậu..."
Mới nói được một chữ, đã không thể thốt tiếp, giọng khàn đặc.
Thời gian chậm rãi trôi qua, cuối cùng cũng bước qua mười hai giờ.
Cận Hành đưa năm ngón tay luồn vào mái tóc Văn Viêm, ép cậu ngẩng đầu lên đón nhận nụ hôn của anh. Sự ngạo nghễ, ngông cuồng ban ngày đã bị lột bỏ, chỉ còn lại sự yếu mềm, ngoan ngoãn để anh chiếm lấy. Bị hôn đến mức đầu lưỡi tê dại, đến hàm răng cũng bắt đầu run rẩy.
"Văn Viêm..."
Cận Hành khẽ gọi, giọng trầm thấp hơi khàn, âm thanh như lớp giấy ráp lướt qua màng nhĩ. Đôi mắt đẹp thừa hưởng từ mẹ của anh trong màn đêm hiện lên vẻ yêu mị kỳ lạ, cuốn hút đến mức khiến người ta mê muội. Dường như nhớ ra điều gì, đầu ngón tay anh lướt qua gò má của Văn Viêm, khẽ nói: "Thực ra, những gì Từ Mãnh nói không sai..."
Văn Viêm đầu óc rối bời, mơ màng như một nồi cháo loãng: "Cái gì cơ?"
Cận Hành áp sát vào tai cậu, chậm rãi cắn nhẹ: "Cậu dính vào tôi, đúng là tự chuốc họa vào thân."
Chẳng hạn như chuyện vào tù ở kiếp trước, hay có lẽ còn nhiều rắc rối khác nữa, những món nợ cũ đã không còn đếm xuể.
Văn Viêm bị cắn đến phát đau, không khỏi hít vào một hơi lạnh: "Cậu mẹ nó nhẹ tay chút."
Về phần những chuyện họa hay không họa kia, cậu dường như đã quên sạch từ lâu.
Văn Viêm nhắm mắt thở dốc, cảm nhận nhiệt độ nóng rực đang lưu lại trên cổ mình. Cậu bất giác ngửa đầu, yết hầu yếu ớt khẽ động, trông như con cừu non đang chờ bị làm thịt.
Cậu không phải không hiểu ý của Từ Mãnh khi cảnh cáo, nhưng đời người luôn có một người khiến cậu sẵn sàng bất chấp mọi hậu quả để làm điều gì đó, không bận tâm đến hậu lộ hay tiền lộ, hoàn toàn không chừa cho mình bất kỳ đường lui nào.
Cũng giống như năm xưa Từ Mãnh có thể liều mạng vì Nhan Na, thì Văn Viêm cũng sẵn lòng làm điều tương tự vì Cận Hành.
Hai người loạng choạng ngã lên giường. Cận Hành hôn sâu Văn Viêm, môi lưỡi lần lượt lướt qua những vết sẹo cũ mòn hoặc gồ ghề trên cơ thể cậu, sau đó nhẹ nhàng li.ếm m.út, luôn khiến người dưới thân run rẩy phát ra tiếng r.ên rỉ trầm thấp, nhưng lại ngoan ngoãn làm theo yêu cầu "nhẹ tay một chút" của cậu, dịu dàng như tẩm độc, càng thêm mê hoặc.
Văn Viêm không hiểu tại sao Cận Hành lại kiên trì hôn khắp những vết thương trên cơ thể mình, chỉ cảm thấy cảm giác ngứa ngáy như thấm tận xương tủy, đôi mắt mờ mịt vô thần, cố gắng lắm mới thốt ra được hai từ: "Cận Hành..."
"Ừ." Cận Hành vùi mặt vào cổ cậu, đáp lại: "Anh đây."
Chương 149
Văn Viêm không biết phải nói gì, có lẽ vì căng thẳng nên cổ họng nghẹn ứ. Bàn tay với các khớp xương rõ ràng đặt lên sau gáy Cận Hành, ngón tay vô thức siết chặt, như đang tìm kiếm sức mạnh.
Cận Hành vừa hôn cậu vừa mở bao bì một thứ gì đó. Văn Viêm không nhìn rõ, nhưng chỉ cần nghe âm thanh sột soạt ấy là đã có thể đoán được vài phần. Lỗ tai cậu bất giác nóng bừng, đầu óc hiện lên toàn những câu chuyện bậy bạ mà đám bạn từng kể—
Tất nhiên, chính cậu cũng từng ngậm điếu thuốc, cười nhạo mà nói vài câu tương tự.
Văn Viêm định nói gì đó để xoa dịu không khí: "Anh... có biết làm không?"
Cận Hành như khẽ cười, lồng ng.ực truyền đến những rung động rất nhỏ: "Biết làm gì? Thổi bóng bay?"
Văn Viêm quệt mặt, đang định đáp lại thì cảm giác một bàn tay lạnh lẽo dán lên eo mình, cả người lập tức cứng đờ.
Cận Hành hôn nhẹ lên mắt cậu: "Thả lỏng nào..."
Văn Viêm thực sự muốn thả lỏng, nhưng loại chuyện này chẳng phải muốn là làm được. Cơ thể cậu, vốn đã quen với những trận đánh nhau triền miên, hình thành phản xạ có điều kiện, luôn bất giác rơi vào trạng thái cảnh giác.
Kiếp trước khi hai người họ quan hệ, tình hình thảm khốc chẳng khác nào hiện trường án mạng, suy cho cùng đều là tay mơ không có kinh nghiệm. Đời này làm lại, Cận Hành dĩ nhiên không muốn dẫm vào vết xe đổ.
Cận Hành bảo Văn Viêm: "Thả lỏng đi, sẽ không đau lắm đâu."
Văn Viêm thầm nghĩ mình đâu phải đứa ngốc không biết gì, mấy câu này lừa được thiếu nữ ngây thơ chứ không lừa nổi cậu: "Anh thử ở dưới đi, rồi hẵng nói câu đó với em."
Đứng nói chuyện thì dễ lắm.
Cận Hành cắn nhẹ vào vai cậu, môi mỏng khẽ nhếch, giọng mơ hồ: "Để em lên trên thì sợ em không làm nổi."
Văn Viêm kiểu người không chịu nổi k.ích thích, may mà cậu không nghe rõ, bị Cận Hành hôn đến choáng váng, ngay cả phép tính đơn giản nhất cũng không nghĩ ra được. Cả người cậu trầm sâu vào lớp đệm giường, làn da tiếp xúc với không khí mát lạnh khiến cậu khẽ run.
Cận Hành cảm thấy kỹ thuật của mình không đến nỗi quá tệ, giọng nói trầm thấp: "Thật sự không đau, được chứ?"
Có lẽ Văn Viêm đã nghĩ thông suốt, thấy Cận Hành mãi không động tĩnh, chủ động túm lấy cổ áo anh kéo xuống, không rõ là an ủi Cận Hành hay chính mình: "Không sao, em không sợ đau."
Cậu thực sự không sợ đau, chịu đựng qua cơn xấu hổ, thì cảm thấy cũng chẳng có gì to tát.
Cận Hành dùng đầu ngón tay vén tóc mái trên trán cậu, một lát sau mới khẽ đáp: "Anh biết."
Họ đã nằm trên chiếc giường này hàng chục đêm, nhưng chưa bao giờ tiếp xúc thân mật đến mức không chút che giấu thế này. Văn Viêm vùi mặt vào gối, thở hổn hển, mặc cho Cận Hành hành động phía sau. Tuy nhiên, rất lâu sau đó, cậu vẫn không cảm nhận được cơn đau dự đoán.
Giống như một nắm tuyết rơi gần ngọn lửa, những tia sáng nhảy múa giữa ngọn lửa thiêu đốt dần làm tuyết tan chảy thành nước. Nóng lạnh giao hòa, lúc như bay bổng trên trời, khi lại rơi rớt xuống đất, cuối cùng ngay cả bọt tuyết nhỏ nhoi cũng dần tan biến vào hư vô.
Giọng của Văn Viêm càng khàn hơn, cậu nắm chặt lấy ga giường, mấp máy môi trong vô vọng nhưng không thể thốt ra lời nào, chỉ có thể nhìn qua khẩu hình mà đoán được hai chữ "Cận Hành." Đó dường như là toàn bộ nguồn sức mạnh giúp cậu chống đỡ.
"Suỵt..."
Cận Hành từ phía sau ôm cậu vào lòng, đôi mắt sâu thẳm ẩn chứa chút gì đó khó lường, như sợi tơ dày quấn quanh, bọc kín tất cả d.ục v.ọng chiếm hữu và cảm giác thỏa mãn không lọt ra một chút nào, ban ngày chẳng hề để lộ.
Cận Hành đời này kiếp trước chưa từng sở hữu điều gì, chết đi vẫn cảm thấy hai tay trống rỗng, chỉ có Văn Viêm từng hoàn toàn thuộc về anh.
Trái tim đầy rẫy tổn thương của anh, cùng sự hòa hợp với người trước mắt, dường như cuối cùng đã được thứ gì đó từng chút một lấp đầy.
Sáng hôm sau, Văn Viêm cảm thấy tối qua mình đã mơ một giấc mộng kỳ lạ. Cảm giác khoái lạc xa lạ như cơn sóng ập tới, k.ích thích đến mức khiến cậu tê da đầu, não bộ trống rỗng, sau đó không còn chút ký ức nào. Ngủ một giấc thật sâu, cuối cùng dựa vào đồng hồ sinh học rèn luyện bao năm mà miễn cưỡng tỉnh dậy.
Đầu Văn Viêm vẫn đau nhức, mí mắt nặng trĩu đến không mở nổi. Cậu theo thói quen quờ tay về phía giường bên cạnh, nhưng chỉ thấy trống không, chỉ còn chút hơi ấm sót lại.
"..."
Văn Viêm giật mình, lập tức mở bừng mắt, bật người ngồi dậy, kết quả vì cơ thể đau nhức mà nhanh chóng ngã trở lại. Rõ ràng, kỹ thuật của Cận Hành vẫn chưa giỏi đến mức khiến người ta hoàn toàn không cảm nhận được đau đớn.
Văn Viêm đã được vệ sinh sạch sẽ, thậm chí còn thay cả quần áo. Cậu trông hơi nhợt nhạt, ngồi yên lặng nghỉ ngơi vài phút, sau đó mới cử động cứng nhắc xuống giường. Đúng lúc này, Cận Hành vừa từ dưới lầu trở về, trên tay xách theo bữa sáng. Thấy cậu tỉnh dậy, anh hơi ngẩn ra, nhướng mày nhàn nhạt hỏi: "Dậy rồi à?"
Anh vốn nghĩ rằng Văn Viêm ít nhất cũng sẽ nằm đến tận trưa.
Văn Viêm liếc nhìn túi bữa sáng trong tay Cận Hành, phản ứng hơi chậm, đáp một tiếng. Nghĩ đến chuyện xảy ra ngày hôm qua, cậu ít nhiều cảm thấy khó xử, ánh mắt hơi lảng tránh: "Anh đi đâu vậy?"
Cận Hành nâng túi cháo lên, hỏi ngược lại với vẻ nghi hoặc: "Không nhìn ra sao?"
Văn Viêm ngắc ngứ: "... Nhìn ra rồi."
Trước đây việc mua bữa sáng đều do cậu làm, hôm nay bất ngờ đổi người khiến cậu có chút không quen. Sau khi rửa mặt xong, cậu kéo ghế ngồi vào bàn ăn. Vừa ngồi xuống, cơ thể đột nhiên cứng đờ, một lúc lâu sau mới từ từ thả lỏng.
Cận Hành chống cằm quan sát cậu trong chốc lát, rồi đẩy bát cháo trong tay về phía cậu: "Ăn đi."
Món ăn khá nhạt, nhưng Văn Viêm cũng không phàn nàn. Vì sợ đến trường muộn, cậu ăn hơi vội. Cận Hành bóc một quả trứng trà, bỏ vào bát của cậu rồi dặn: "Em ăn từ từ thôi, nếu không chịu nổi thì xin nghỉ đi."
Học sinh gương mẫu đang khuyên nhủ một học sinh cá biệt xin nghỉ học, nhưng học sinh cá biệt thì không muốn.
Văn Viêm nuốt miếng cháo trong miệng, suy nghĩ một chút, rồi lắc đầu vẻ ngông nghênh: "Không xin, em muốn học."
Cận Hành bật cười vì tức: "Em học cái gì?"
Văn Viêm cúi đầu húp cháo: "Dù sao cũng không xin."
Cậu đánh nhau, trốn học bao nhiêu năm, nhưng chưa bao giờ xin nghỉ. Nếu để mấy tên bạn xấu hỏi tới, cậu chắc chắn không dám nói ra lý do. Nhưng cậu cũng không giỏi bịa chuyện.
Cận Hành đành chiều theo ý cậu. Ăn sáng xong, cả hai cùng đi đến trường. May mắn là vẫn còn sớm, không cần phải vội.
Khi sắp đến cổng trường cấp ba số 6, Văn Viêm như thường lệ dừng lại, định đứng nhìn Cận Hành đi vào. Nhưng không ngờ, một bàn tay ấm áp bất ngờ đặt lên lưng cậu, nhẹ nhàng đẩy cậu sang một hướng khác.
"Đi nào," Cận Hành nói, "Anh đưa em đến trường."
"..."
Văn Viêm giật nhẹ khóe mắt, nhìn Cận Hành bằng ánh mắt kỳ lạ. Trong lòng cậu nghĩ: không phải chỉ là hôm qua lăn lộn trên giường một lần, để anh đè em xuống mà làm thôi sao? Sao đãi ngộ của mình lại thăng hạng nhanh như vậy chứ...
Cận Hành không biết những suy nghĩ vòng vo trong đầu Văn Viêm, chỉ kéo cậu đi về phía trường nghề Sùng Minh. Sau đó, vì trên đường đông người, anh mới từ từ buông tay ra, mãi đến khi đến cổng trường nghề mới dừng lại.
Khoảng đất trống bên ngoài vẫn chất đống mấy cây cột xi măng rỗng ruột. Có lẽ vì tâm lý ngông cuồng tuổi trẻ, những tên học sinh cá biệt rất thích ngồi lên đó, nhìn người khác với ánh mắt kẻ bề trên.
Thấy Văn Viêm đi học, một người trong số đó nhảy xuống từ trên cột, cười nói: "Ồ, lạ thật, hôm nay Viêm ca không đi học muộn, giờ này mà đã đến trường rồi cơ à?"
Văn Viêm đối với bọn họ không tốt tính như với Cận Hành. Cậu nheo mắt, đáp: "Tao thích, mày quản được chắc?"
Tên kia ngáp dài một cái: "Tối qua bọn tao cắm net cả đêm ở quán net ngoài cổng trường, chơi game suốt, còn chưa về nhà."
Nói xong, ánh mắt hắn chuyển hướng, phát hiện Cận Hành đứng phía sau: "Ồ, đây là đàn em của mày à?"
Đa số người ở trường nghề Sùng Minh đều biết Văn Viêm thu nhận một đàn em, nghe nói là học sinh đứng đầu của trường cấp ba số 6, nhưng không rõ thật giả ra sao. Nhìn thấy hôm nay, quả thật giống học sinh giỏi, điềm tĩnh, sáng sủa, trắng trẻo, đúng kiểu "con nhà người ta" trong miệng các bậc phụ huynh.
Nhưng vẫn có người không tin, học sinh giỏi sao lại chơi với đám học sinh cá biệt như bọn họ.
Một kẻ không rõ ý tứ hỏi: " Viêm ca, nghe nói đàn em của mày học giỏi lắm, có thật không?"
Văn Viêm cau mày: "Vớ vẩn, cậu ấy học không giỏi thì chẳng lẽ mày giỏi à, cái đồ thi lần nào cũng điểm không."
Cậu tỏ vẻ khó chịu, lúc này nếu ai dám cãi lại, cậu chắc chắn sẽ xông lên đánh ngay.
Cận Hành dù sao cũng là một người trưởng thành trong tâm lý, đương nhiên không thể giống đám thanh niên bốc đồng đi tranh cãi mấy chuyện vô nghĩa này, càng không kể mình lần trước thi xếp lớp cũng được điểm không tròn trĩnh. Anh vỗ vai Văn Viêm: "Không còn sớm nữa, đi vào lớp đi. Có việc thì gọi cho anh."
Văn Viêm nghĩ bụng mình có thể có chuyện gì chứ, nhưng vẫn ậm ừ đồng ý.
Cận Hành thấp giọng nói: "Tan học anh đến đón em."
Văn Viêm vô thức gật đầu: "Ừ... Ừ hả?!"
Cận Hành hôm nay bị làm sao vậy, giống như bị bệnh ấy?! Anh không phải còn phải học buổi tối sao?!
Văn Viêm định hỏi, nhưng Cận Hành đã đi xa. Cách một khoảng khá xa, anh giơ tay làm một động tác ra hiệu cho cậu nhanh chóng vào trường.
"..."
Thôi được, mặc dù kỳ lạ, nhưng cảm giác hình như cũng không tệ?
Văn Viêm chớp chớp mắt, lùi vài bước, nhìn bóng lưng Cận Hành khuất khỏi tầm mắt, rồi mới chậm rãi quay người bước vào trường. Kết quả, vừa ngồi xuống lớp, mông còn chưa ấm chỗ đã nghe được một tin dữ.
"Tin lớn tin lớn, lão Lưu hói nói thứ sáu tuần này tổ chức họp phụ huynh! Anh em chuẩn bị tinh thần!"
Nam sinh nắm rõ tin tức nhất lớp thích làm quá mọi chuyện, chuyện nhỏ bằng hạt bụi cũng có thể làm ầm lên trời. Nhưng đối với học sinh, đặc biệt là học sinh học kém, họp phụ huynh quả thật là chuyện lớn. Lớp học lập tức nổ tung.
"Chết tiệt! Lại họp phụ huynh nữa, lần trước ba tao về nhà cầm dây lưng quất tao một trận!"
"Còn phải hỏi, chắc chắn là tại điểm kém quá. Nghe nói lớp mình kéo tụt điểm trung bình của trường, lão Lưu hói bị hiệu trưởng gọi lên nói chuyện rồi."
"Xong đời thật rồi."
Văn Viêm lười biếng ngồi ở góc cuối lớp, nghe tin tức này, cậu mặt không cảm xúc nâng mí mắt lên. Trong lòng hơi khó chịu, bầu không khí quanh người cực thấp, không ai dám lại gần.
Lớp trưởng phát giấy mời họp phụ huynh đến từng học sinh, còn truyền đạt lại thông báo của giáo viên chủ nhiệm: Trừ trường hợp đặc biệt, không ai được phép xin nghỉ. Văn Viêm lập tức ném tờ giấy mời về, giọng điệu hờ hững: "Phụ huynh tôi bận, không đến được, tôi xin nghỉ."
Ngay cả ba ruột của cậu là ai cậu còn không biết, mẹ ruột thì không biết đang đi lăng nhăng với gã đàn ông nào, cậu còn biết gọi ai đến họp phụ huynh.
Lớp trưởng hơi sợ Văn Viêm và đám người của cậu, nhưng vẫn lấy can đảm nói: "Thầy chủ nhiệm nói, phụ huynh của cậu đã nhiều lần không đến, lần này thế nào cũng phải có mặt. Nếu không được thì để ông nội của cậu đến..."
"Phì——"
Lớp trưởng còn chưa nói hết câu, Từ Mãnh đã không nhịn được mà bật cười. Ông nội gì chứ, đó là ông lão chuyên thu mua phế liệu dưới tầng nhà Văn Viêm, bỏ năm mươi đồng ra thuê để đóng vai người nhà.
Văn Viêm mặt tối sầm lại: "Buồn cười lắm à?"
Từ Mãnh cố nhịn cười đến đỏ cả mặt: "Không... không buồn cười, hay mày mời ông nội mày tới đi."
Văn Viêm càng bực hơn: "Ông ấy tháng trước đi thu phế liệu thì bị xe đụng, giờ còn đang nằm viện, không ra được."
Lớp trưởng nhìn hai người họ cứ nói chuyện như chốn không người, chẳng biết nghĩ đến điều gì, đối chiếu danh sách trong tay, đếm một lượt rồi đọc lên từng cái tên:
"Văn Viêm, Từ Mãnh, Hà Dương... Thầy nói phụ huynh của mấy cậu bắt buộc phải đến."
Những cái tên bị đọc lên đều là "học sinh cá biệt" trong lớp, trốn học, đánh nhau đã là chuyện thường ngày, hình phạt cũng không biết đã chịu bao nhiêu lần, giáo viên chủ nhiệm đã hết kiên nhẫn, định gọi phụ huynh đến nói chuyện riêng.
Văn Viêm cười lạnh một tiếng, liếc nhìn Từ Mãnh: "Cười đi, mày cứ cười nữa xem."
Phụ huynh của Từ Mãnh thuộc dạng không quản bất kỳ chuyện gì, nhưng lại rất sĩ diện. Nếu giáo viên gọi đến mà nói gì đó không hay, về nhà chắc chắn hắn sẽ bị "combo đòn" không nể nang.
Từ Mãnh cũng chẳng lo lắng lắm, nghĩ ngợi một lúc rồi lấy điện thoại ra: "Đúng lúc dì tao mới từ nơi khác về, để tao nhờ dì đi họp."
Văn Viêm trợn mắt: "Khốn thật, thế tao phải làm sao đây?"
Từ Mãnh hời hợt đáp: "Ra ngoài đường bỏ tiền thuê một diễn viên tạm thời, không thì để Cận Hành giả làm ông nội mày, coi như giúp đỡ đứa cháu này."
Câu sau hoàn toàn chỉ là nói đùa.
Văn Viêm cau mày, đang định phản bác, nhưng nghĩ ngợi một chút, lại thấy cũng không phải không thể, trầm ngâm một hồi rồi nói: "Bảo cậu ấy làm ông nội tao thì hơi trẻ, nhưng anh họ xa thì cũng hợp."
Cận Hành có khí chất trầm ổn hơn nhiều so với người đồng trang lứa, vóc dáng lại cao, chỉ cần ăn mặc chững chạc một chút, giả làm người vừa đi làm xã hội thì hoàn toàn ổn.
Từ Mãnh lúc này mới há hốc: "Đầu mày hỏng rồi à? Thật sự định nhờ cậu ta giả làm người nhà mày?"
Văn Viêm mặt không đổi sắc, giơ ngón giữa về phía hắn: "Nhảm nhí, mày nghĩ đây là phim trường Hoành Điếm chắc, diễn viên quần chúng đầy rẫy ngoài kia? Lần này qua được, lần sau tao làm thế nào, mỗi lần lại đổi một người thân khác nhau chắc?"
Điều quan trọng nhất là, không phải ai cũng chịu nổi những lời lải nhải của thầy Lưu hói.
Vì sắp đến kỳ nghỉ hè, thêm chuyện sắp xếp lại lớp, lớp 6 đã như cát rời, giờ tự học buổi tối chủ yếu là làm bài tập. Cận Hành viết xong bài sớm, viện lý do không khỏe, giáo viên liền cho anh về trước.
Thế nên khi Văn Viêm vừa tan học, định đến cổng trường cấp ba số 6 chờ Cận Hành, thì nhìn thấy bóng người đứng đó. Cậu thoáng nghĩ mình hoa mắt, ngạc nhiên hỏi: "Anh tới đây làm gì?"
Cận Hành chỉnh lại quai đeo balo sắp tuột, thản nhiên đáp: "Đón em tan học."
Từ Mãnh liếc ra phía sau anh: "Nhan Na đâu?"
Cận Hành suy nghĩ một chút: "Ở trong lớp tự học buổi tối."
Văn Viêm cảm thấy có gì đó không ổn: "Anh trốn giờ tự học qua đây đấy à?"
Cận Hành sửa lại cách nói: "Không phải trốn, thầy cho phép."
Nói xong, anh đưa tay móc vào quai balo của Văn Viêm, kéo cậu từ bên cạnh Từ Mãnh sang phía mình. Chỉ là một động tác nhỏ, nhưng vô tình để lộ sự chiếm hữu trong lòng anh.
Cận Hành cúi xuống nhìn cậu, hỏi: "Có chỗ nào không thoải mái không?"
Văn Viêm ngẩn ra một giây mới hiểu anh đang ám chỉ điều gì. Trước mặt Từ Mãnh, cậu chẳng dám đỏ mặt, đành quay lưng lại ho khan một tiếng, giả vờ lơ đễnh mà lẩm bẩm: "Đàn ông con trai, có gì mà không thoải mái..."
Dứt lời, tai cậu vẫn không kìm được mà đỏ bừng, nóng đến mức muốn bỏng. Văn Viêm ghét cảm giác không thể kiểm soát bản thân này, cau chặt mày, cúi đầu giả vờ châm thuốc, nhưng ngay cả bật lửa cũng cầm không vững, ngọn lửa xanh chập chờn, tố cáo sự bất an trong lòng.
Cận Hành hiếm khi thấy bộ dạng này của cậu, nhìn hồi lâu mới nói: "Em có vẻ hơi chột dạ?"
Còn chưa để Văn Viêm trả lời, đã nghe Từ Mãnh đứng cạnh châm chọc: "Sắp bị mời phụ huynh, không chột dạ sao được? Nếu cậu có thời gian thì đóng giả ông nội cậu ấy, đi họp phụ huynh một lần đi."
"Cút đi!" Văn Viêm cau mày mắng một câu, sau đó quay sang giải thích với Cận Hành: "Đừng nghe cậu ta nói linh tinh, anh giả làm anh họ xa là được."
Cận Hành cũng đại khái hiểu rõ sự tình. Mấy trò vặt vãnh của đám trẻ con, nào là quay cóp, trốn học, đánh nhau, chỉ còn thiếu bị mời phụ huynh nữa thôi, không thể nào phổ biến hơn được.
Anh không lập tức đồng ý, chỉ nói: "Về nhà rồi tính."
Từ Mãnh phải đến trường cấp ba số 6 đón Nhan Na tan học, giữa đường đã tạm biệt hai người họ.
Văn Viêm không cảm thấy chuyện mời phụ huynh là to tát gì, cùng lắm là phiền phức một chút. Nhưng khi bị Cận Hành dẫn về nhà, chẳng hiểu sao lại có chút chột dạ kỳ lạ. Nhịn mãi đến lúc vào nhà, cuối cùng không nhịn được mà bặm môi nói: "Thật sự không được thì... em bỏ tiền thuê một người cũng được."
Dù sao cậu không cha không mẹ, cũng chẳng khác gì trẻ mồ côi.
Cận Hành đang khát nước, uống xong một ly mới nhìn cậu: "Cái gì?"
Văn Viêm: "Mời phụ huynh."
"À," Cận Hành nói, "Anh đâu có bảo là không đi."
Văn Viêm ngớ người: "Vậy sao từ nãy đến giờ anh không nói gì?"
Cậu còn tưởng anh không muốn đi.
Cận Hành tháo áo khoác đồng phục ra, tiện tay vắt lên lưng ghế, rồi bước đến trước mặt Văn Viêm, tự nhiên kéo cậu vào lòng. Anh chăm chú nhìn cậu, chàng trai trẻ không được ai dạy dỗ, khóe môi thấp thoáng ý cười đầy ẩn ý: "Vì anh đang nghĩ một chuyện."
Ngón tay anh chạm nhẹ vào môi Văn Viêm, động tác vô tình mang theo chút mê hoặc.
Văn Viêm khẽ khàn giọng: "Nghĩ gì?"
Cận Hành trầm giọng: "Em chưa bao giờ gọi anh là anh trai, cứ vậy mà bảo anh giả làm anh họ em, không phải là quá thiệt thòi sao?"
Văn Viêm mãi mới phản ứng lại được ý đồ của anh: "Anh nhỏ tuổi hơn em mà."
Cận Hành thấy điều đó không quan trọng, ôm cậu từng bước đẩy lùi, đến khi lưng tựa sát vào bức tường lạnh băng, cúi đầu hôn cậu đến mức đầu óc quay cuồng, rồi dùng giọng điệu vừa mềm mỏng vừa đầy toan tính mà dỗ dành: "Gọi một tiếng anh trai đi."
Văn Viêm đôi mắt mất hồn, hơi thở hỗn loạn, không thành tiếng mà mấp máy đôi môi, nhưng lại gọi tên anh: "Cận Hành..."
Được thôi.
Đầu ngón tay trắng trẻo của Cận Hành nhẹ nhàng vu.ốt ve bên má Văn Viêm, khẽ "ừ" một tiếng, lát sau mới nói: "Em là đứa trẻ nhà anh..."
Chương 150
Văn Viêm từ nhỏ đến lớn đều không ai quản. Cận Hành tuy nhỏ tuổi nhưng vẫn từng được hưởng chút ít tình yêu của mẹ, còn Văn Viêm thì chẳng bao giờ cảm nhận được dù chỉ một chút hơi ấm thuộc về gia đình. Nếu tính kỹ, cậu có phần đáng thương hơn anh.
May mắn là cậu rèn được một tính khí không dễ dây vào, nên trong hoàn cảnh như vậy cũng không đến nỗi sống quá khổ cực, thậm chí còn có thể bảo toàn bản thân.
Buổi họp phụ huynh diễn ra vào thứ Sáu. Đa số các bậc cha mẹ trên đời đều có suy nghĩ giống nhau, mong con thành tài, dù con cái mình học ở một trường nghề có tiếng xấu, họ vẫn mong chúng có thể tranh chút thể diện.
Để trông trưởng thành hơn, Cận Hành mặc bộ vest mà Từ Mãnh cho mượn. Nghe nói là hắn lục lọi trong tủ quần áo của ba mình, vừa với dáng người, tuy hơi rộng nhưng miễn cưỡng vẫn coi như vừa người.
Những đứa trẻ chưa bước vào xã hội, mặc vest khó tránh khỏi cảm giác không hợp. Nhưng Cận Hành lại khoác lên mình một phong thái tinh anh chốn công sở. Anh vuốt ngược mái tóc luôn phủ trán, để lộ những đường nét gương mặt sạch sẽ, tuấn tú. Vì biểu cảm của anh khá lãnh đạm nên trông anh không để lộ vui buồn, dáng người cao ráo, vượt xa bạn cùng trang lứa về sự trưởng thành.
"Đẹp trai quá~" Đây là lời khen chân thành của Nhan Na.
"...Ừm, mặc vào trông còn hơn cả ba tao." Đây là lời bình của Từ Mãnh.
Văn Viêm ban đầu còn lo không diễn tròn vai, thấy vậy cũng hơi yên tâm. Cậu không mở miệng khen, chỉ nhân lúc không ai chú ý mà dùng điện thoại chụp một tấm hình, sau đó hắng giọng, ra vẻ bình thản nói: "Cứ thế đi, trông cũng giống lắm."
Cận Hành chỉnh lại ống tay áo, nghiêng đầu cười nhìn cậu: "Em có muốn thử gọi một tiếng anh họ trước không?"
Lúc không có ai, Văn Viêm gọi vài tiếng cho vui thì được, còn giữa ban ngày ban mặt thế này, cậu tuyệt đối không chịu gọi. Liếc nhìn Cận Hành một cái: "Cũng may không bắt anh giả làm ông nội em, không thì anh có định bắt em gọi là ông không?"
Cận Hành: "Nếu em muốn gọi thì anh cũng không ngại."
Tham gia họp phụ huynh đúng là lần đầu tiên trong đời Cận Hành. Anh bước vào khuôn viên trường Sùng Minh, trước cửa lớp tụ tập đông nghẹt người, hầu hết đều là phụ huynh ngoài bốn mươi tuổi, trò chuyện ríu rít. Gương mặt của anh quá trẻ, đứng trong đám đông trông có phần lạc lõng.
Văn Viêm dẫn Cận Hành vào lớp, chỉ chỗ ngồi cho anh: "Lãnh đạo nhà trường đang họp ở tòa nhà đa phương tiện, Lưu Hói không giành được chỗ, đành phải mở trong lớp."
Giáo viên dường như rất muốn phụ huynh nắm rõ thành tích của con em mình ở trường, đặc biệt phát bài tập và bảng điểm cho họ. Trên bàn của Văn Viêm lộn xộn chất đống một đống giấy, Cận Hành tiện tay lật xem vài tờ, một quyển bài tập ít nhất có đến bốn nét chữ khác nhau, có thể coi là "tinh hoa hội tụ."
Cận Hành buông một câu khen không rõ ý: "Em quan hệ tốt nhỉ."
Văn Viêm không lấy làm xấu hổ, ngược lại còn tự hào: "Chứ sao, không có vài anh em thì làm sao lăn lộn."
Lần lượt có những phụ huynh khác đi vào ngồi xuống.
Khí chất của Cận Hành quá nổi bật. Bình thường bị đồng phục che lấp không lộ ra, hôm nay mặc vest, lại thêm sự chín chắn điềm tĩnh. Trong mắt các bậc phụ huynh lớn tuổi, anh trông giống một người trưởng thành có công việc ổn định, rất chỉnh tề.
Lớp trưởng là một nữ sinh, vốn đang thì thầm trao đổi gì đó với bí thư lớp, kiểm tra sĩ số. Thấy vậy không nhịn được liếc nhìn vài lần, tò mò hỏi: "Văn Viêm, đây là phụ huynh của cậu à?"
Cận Hành nhìn nhiều nhất chỉ ngoài hai mươi tuổi, bảo là chú thì không giống, bảo là cậu cũng không phải.
Văn Viêm búng tay một cái: "Anh họ tôi."
Cận Hành nhân lúc gật đầu mỉm cười với lớp trưởng, khiến cô ngại ngùng quay đầu đi. Chỉ có những người thân thiết với Văn Viêm mới biết chuyện, ai nấy cố nén cười.
Lúc họp phụ huynh, vì giới hạn không gian, chỉ để lại phụ huynh trong lớp. Học sinh có thể rời đi, nhưng phần lớn đều không về, từng đứa một tụ tập bên ngoài hành lang, bám vào cửa kính theo dõi tình hình.
Phụ huynh ngồi đúng chỗ của con mình, vì vậy rất dễ nhận ra ai là bố mẹ của ai.
Văn Viêm dựa lưng vào tường, thỉnh thoảng quay đầu lại nhìn, bên cạnh là một nhóm nữ sinh tụ tập, nhỏ giọng bàn luận về Cận Hành.
"Người ngồi hàng cuối có phải phụ huynh của Văn Viêm không? Hay là anh cậu ấy, đẹp trai quá chừng."
"Á á á, giống ngôi sao quá!"
"Không biết bao nhiêu tuổi, có bạn gái chưa, không thì mình thử tiếp cận xem sao."
Văn Viêm tuy cũng đẹp trai, nhưng nữ sinh trong lớp nhìn cậu lâu ngày, đẹp trai đến mấy cũng quen rồi. So với cậu, Cận Hành – gương mặt mới – lại hấp dẫn hơn. Văn Viêm bứt bứt dái tai, nghe đám nữ sinh bên cạnh hớn hở bàn tán về Cận Hành, trong lòng không khỏi hơi khó chịu.
Cách một bức tường, Cận Hành vẫn đang nghe giáo viên nói chuyện.
Họp phụ huynh ngoài nhấn mạnh việc sắp xếp cho năm cuối, còn cổ vũ học sinh giỏi, phê bình học sinh kém. Trẻ được khen ngợi thì phụ huynh nở mày nở mặt, trẻ bị phê bình thì phụ huynh đỏ bừng mặt.
Lưu Hói cố ý nêu tên một loạt: "...Văn Viêm, Từ Mãnh những học sinh này, mong phụ huynh chú ý nhiều hơn, thành tích kém không nói làm gì, nhưng thái độ học tập nhất định phải nghiêm chỉnh, ngày nào cũng trốn học đi muộn, kỷ luật bị ghi đầy sổ, chỉ sợ chưa tốt nghiệp đã bị đuổi."
Cận Hành ngồi dưới, chán chường giơ tay đếm. Từ lúc họp đến giờ, Văn Viêm đã bị thầy nhắc tên phê bình không dưới năm lần, quả thật "tội danh chồng chất," có thể trụ lại mà chưa bị đuổi học đúng là kỳ tích.
Dì của Từ Mãnh ngồi phía trước, lấy đồ che mặt, chỉ cảm thấy mất hết thể diện.
Trường nghề tuy vẫn có thể thi đại học, nhưng cũng có người chưa học xong năm cuối đã đi thực tập. Lưu Hói đứng trên bục giảng, bất chấp phụ huynh bên dưới có nghe hiểu hay không, cà kê nói liền hơn hai tiếng mới tan họp. Cuối cùng uống một ngụm trà, ánh mắt dừng trên người Cận Hành, có lẽ cảm thấy anh quá trẻ, cau mày nói: "Mời phụ huynh của Văn Viêm ở lại một lát."
Cận Hành còn tưởng được đi rồi, nghe vậy khựng lại, đành ngồi xuống, cử động đôi chân tê cứng, lần đầu cảm nhận việc làm phụ huynh cũng là một kiểu cực hình.
Từ bên ngoài, Từ Mãnh đứng quan sát tình hình, thấy vậy thì "chậc" một tiếng như đang xem kịch vui:"Lưu Hói lại giữ Cận Hành lại rồi à?"
Văn Viêm nhướng mày: "Ông ấy phát hiện ra gì rồi sao? Cận Hành bị lộ à?"
Từ Mãnh: "Nghĩ tích cực một chút đi, có khi là do thành tích của mày tệ quá đấy."
Điều này thì đúng thật.
Các phụ huynh khác lần lượt rời khỏi lớp, Từ Mãnh bị dì của mình tức giận túm tai kéo đi. Trong chốc lát, hành lang và phòng học đều trống vắng. Cận Hành ở bên trong với Lưu Hói, còn Văn Viêm đứng bên ngoài.
Lưu Hói tuy lớn tuổi nhưng không có nghĩa là đầu óc không linh hoạt. Ông ta từ bục giảng bước xuống, chỉnh lại cặp kính lão trên sống mũi, không để lộ biểu cảm mà quan sát Cận Hành: "Xin hỏi, cậu là người nhà của Văn Viêm đúng không?"
Cận Hành lịch sự đứng dậy, đợi khi Lưu Hói ngồi xuống ghế của một học sinh đối diện, anh mới ngồi lại: "Chào thầy Lưu, tôi là anh họ của Văn Viêm."
Lưu Hói ngừng lại một chút: "Ba mẹ của Văn Viêm không đến được sao?"
Cận Hành trả lời ngắn gọn: "Mẹ cậu ấy đang bận công việc ở nơi khác, không có thời gian quay về. Lần này bà ấy nhờ tôi đến để tìm hiểu tình hình của cậu ấy."
Mỗi đứa trẻ đều có một chút vấn đề gia đình nào đó, gia đình ly hôn cũng không phải hiếm. Thấy Cận Hành không nói chi tiết, Lưu Hói cũng không hỏi thêm, chỉ lật danh sách trong tay rồi nói: "Văn Viêm là một đứa trẻ rất thông minh, chỉ là không chịu nỗ lực học hành, thái độ cũng chưa đủ nghiêm túc, tính cách lại hơi cực đoan, thường xuyên đánh nhau."
Cận Hành gật đầu: "Đúng là cậu ấy khá thông minh."
Lưu Hói nhìn anh một cái: "Nhưng vấn đề là Văn Viêm thường xuyên đánh nhau."
Cận Hành mỉm cười: "Làm phiền thầy rồi, sau này tôi sẽ cố gắng để cậu ấy bớt đánh nhau."
Lưu Hói cau mày, cảm thấy câu trả lời này có gì đó sai sai nhưng lại không thể chỉ ra được chỗ không đúng, chỉ đành lắc đầu, chuyển sang chủ đề khác: "Cậu cũng biết rồi đấy, sắp đến kỳ nghỉ hè, sau đó là vào lớp 12, năm học quan trọng nhất. Nếu Văn Viêm cứ tiếp tục thế này, sợ rằng khó mà ổn. Hơn nữa, cậu ấy còn đang chịu mấy kỷ luật chưa được xóa bỏ."
Cận Hành vẫn gật đầu, thái độ rất tốt: "Tôi nhất định sẽ nhắc nhở cậu ấy chăm chỉ học hành hơn."
Lưu Hói vặn nắp cốc trà, uống một ngụm rồi nói tiếp: "Phụ huynh nào cũng nói thế cả, nhưng thực tế có bao nhiêu người làm được? Về nhà là đánh là mắng. Giáo dục bằng roi vọt không phải cách giải quyết vấn đề. Ở độ tuổi nhạy cảm này, bọn trẻ cần sự đồng hành của cha mẹ hơn."
Cận Hành gật đầu tán thành, khiêm tốn tiếp thu: "Thầy nói đúng, tôi nhất định sẽ cố gắng đồng hành cùng cậu ấy."
Văn Viêm đứng bên ngoài, không nghe rõ nội dung trò chuyện, nhưng cậu có thể đoán được đại khái Lưu Hói đang nói gì. Thấy Cận Hành cúi đầu liên tục, dáng vẻ như đang "khiêm nhường cười lấy lòng", trong lòng cậu cảm thấy không thoải mái. Cậu tựa vào tường, cúi mắt không biết đang suy nghĩ gì.
Khoảng hơn hai mươi phút sau, Cận Hành mới từ trong lớp bước ra. Anh nhìn quanh hành lang trống rỗng một vòng, cuối cùng phát hiện bóng dáng Văn Viêm trong góc tối, liền đi đến, vỗ vai cậu nói: "Họp xong rồi, về nhà thôi."
Lưu Hói đúng là rất lắm lời, Cận Hành gần như chịu không nổi, cuối cùng được hít thở không khí trong lành, không tránh khỏi cảm giác như được sống lại.
Văn Viêm liếc anh một cái, nửa muốn nói nửa lại thôi: "Lưu Hói nói gì với anh vậy?"
Cận Hành sánh vai cùng cậu đi xuống cầu thang: "Không có gì, ông ấy nói em rất thông minh."
Văn Viêm không tin, nhếch môi lười biếng: "Thôi đi, chắc chắn ông ấy nói thành tích của em tệ, thích đánh nhau, tiếp tục thế này thì sớm muộn cũng tiêu đời."
Cận Hành cũng không nhịn được cười: "Em đoán được ông ấy nói gì rồi, sao còn hỏi?"
Trước đây mỗi lần họp phụ huynh đều không liên quan gì đến Văn Viêm. Hầu hết thời gian đều chỉ có một mình cậu, cảm giác đó thực sự khiến người ta bực bội. Hôm nay có Cận Hành đi cùng, tâm trạng Văn Viêm hiếm hoi vui vẻ, ngay cả chuyện bị Lưu Hói mách tội cũng không làm cậu bớt vui.
Cảm giác ấy...
Giống như cậu thực sự có gia đình vậy.
Văn Viêm dùng vai đụng nhẹ vào Cận Hành: "Thế anh đã nói gì?"
Cận Hành trầm ngâm một lát rồi đáp: "Thầy nói... bảo em ít đánh nhau lại."
Văn Viêm "chậc" một tiếng: "Em sẽ cố gắng, còn gì nữa không?"
Cận Hành: "Còn cả chuyện bảo em thay đổi thái độ học tập, chăm chỉ học hành."
Văn Viêm cười nhạt: "Cái đó miễn đi, em không hợp."
Cậu bước xuống cầu thang rất nhanh, ba bước làm hai, đôi khi nhảy một cái vượt qua cả đoạn dài. Văn Viêm đi được hai bước, thấy Cận Hành tụt lại phía sau, không theo kịp, bèn dừng lại chờ anh. Cậu suy nghĩ một chút, trong vài giây ngắn ngủi, không biết tại sao lại đổi ý, đột nhiên nói: "Học cũng được, em sẽ cố gắng."
Cận Hành nhướng mày, có chút bất ngờ:"Em không phải không thích học sao?"
Văn Viêm bước chậm lại: "Không thích học thì vẫn phải học. Hơn nữa, Lưu Hói nói lên lớp 12 mà không học tử tế thì phải ra ngoài thực tập làm thợ học việc, giờ em chưa muốn ra ngoài."
Cậu còn muốn ở bên Cận Hành thêm một năm nữa...
Mặc dù con đường sau này của hai người có thể hoàn toàn khác biệt, nhưng ít nhất hiện tại, hai con đường ấy vẫn còn giao nhau. Họ có thể cùng nhau đi hết năm lớp 12 này.
Chương 151
Trước cổng trường số sáu có một con đường rợp bóng cây ngô đồng. Mùa hè rực rỡ, tán lá xòe rộng, che mát cả con đường. Đôi lúc khiến người ta cảm thấy như bước vào một mùa mà vạn vật đều sinh trưởng mạnh mẽ. Tiếng ve kêu inh ỏi, cây cối xanh mướt, vừa khiến người ta cảm thán sự sống mãnh liệt, lại vừa e ngại trước sự phóng túng của nó.
Năm nay kỳ nghỉ hè kéo dài hai tháng, nhưng ban giám hiệu trường số Sáu đã thông báo trước rằng toàn bộ học sinh sẽ phải ở lại trường học thêm, nên không khác gì không được nghỉ. Chỉ có điều lần quay lại học, mỗi người đều được xếp vào lớp mới.
Nhan Na nhìn bảng phân lớp, muốn khóc không được: "Tôi? Lớp 9 á?"
Thành tích của cô còn chẳng đủ để vào lớp 8, dù sao cũng chẳng hiểu sao lại thi kém đến vậy, làm sai một nửa số câu trắc nghiệm.
Cận Hành từ trước đã biết kết quả, nên không hề ngạc nhiên. Anh chỉ lật qua danh sách lớp 9 một lượt: "Tôi cũng giống cậu, vào lớp 9."
Nhan Na suy nghĩ theo kiểu người bình thường, cảm thấy Cận Hành là một học bá đàng hoàng, lại bị xếp vào lớp toàn học kém, thật sự là thảm thương. Nhất thời quên mất hoàn cảnh của mình, cô không nhịn được mà an ủi: "Nghĩ thoáng lên, biết đâu sau này lại được chuyển lên lớp chọn thì sao."
Mặc dù chính cô cũng biết điều này là không thực tế.
Thành tích "ổn định" của lớp 9 là chuyện cả trường đều biết. Trong kỳ thi phân lớp lần trước, ngoại trừ hai trường hợp bứt phá vượt trội bị điều chuyển đi, hầu hết mọi người đều không bị động chạm, những "trụ cột" của lớp vẫn kiên cường giữ vững vị trí.
Giáo viên chủ nhiệm, cô Sầm, cũng không biết nên vui hay nên buồn. Dẫn theo năm học sinh vừa được phân về lớp 9 bước vào phòng học, lớp vốn đang ồn ào lập tức im lặng, đủ thấy uy lực thường ngày của cô lớn đến mức nào.
"Các em trật tự nào, hôm nay lớp chúng ta có thêm năm bạn mới. Mặc dù gia nhập giữa chừng nhưng nhất định phải hòa đồng với nhau nhé."
Học sinh lớp 9 rất biết phối hợp. Dù trong lòng có vui hay không, mọi người vẫn lịch sự vỗ tay. Tuy nhiên, phần lớn ánh mắt đều dồn về phía Cận Hành, muốn biết vì sao học sinh đứng đầu toàn khối lại bị phân về lớp mình.
Trước đây, cô Sầm sợ nhất là "một con sâu làm rầu nồi canh", nhưng nhìn đám học sinh lớp 9 ngồi dưới kia, điều cô lo lắng lúc này lại là "cả nồi sâu làm hỏng một hạt gạo trắng" như Cận Hành. Cô lần lượt sắp xếp chỗ ngồi cho từng học sinh mới, nhưng đến lượt Cận Hành thì lại lưỡng lự.
Ngồi cuối lớp? Có vẻ hơi xa.
Ngồi trên đầu? Nhưng chiều cao của anh lại quá nổi bật.
Ngồi giữa? Nhưng những bạn xung quanh đều không học giỏi, lỡ kéo tụt thành tích của Cận Hành thì sao.
Nếu không phải vì anh thiếu bài thi, gần như chắc chắn anh đã trở thành ứng cử viên sáng giá của lớp mũi nhọn. Bây giờ bị phân xuống lớp dưới, đúng là chuyện trời đất trêu ngươi. Nhớ lại lời dặn dò của lãnh đạo nhà trường, cô Sầm suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng nhìn về phía hàng ghế thứ tư.
"Trình Đậu Đậu, em là lớp trưởng, nhớ quan tâm bạn mới một chút nhé."
Nam sinh được gọi tên đeo một cặp kính dày cộp, trên mặt có vài vết tàn nhang, giọng nói có chút chậm chạp và vụng về: "Dạ, em biết rồi ạ."
Lớp 9 không có ai giỏi, nhưng nếu phải "chọn cột trong đám thấp", có lẽ chính là lớp trưởng Trình Đậu Đậu. Thành tích của hắn không tốt, nhưng thái độ học tập nghiêm túc, chỉ là hắn hơi kém thông minh. Những thứ mà học sinh lanh lợi chỉ cần học một lần là hiểu, hắn học mười lần cũng chưa chắc đã thấm.
Cận Hành ngồi cạnh ai cũng không quan trọng. Nghe vậy, anh liền chuyển bàn ghế đến bên cạnh Trình Đậu Đậu, không nói gì, chỉ sắp xếp lại sách vở rồi chuẩn bị vào tiết học.
Sau kỳ nghỉ hè, họ đã là học sinh lớp 12, nhiệm vụ học tập rất nặng nề. Thời khóa biểu dày đặc từ sáng đến chiều, buổi sáng học Văn, Toán, Anh, buổi chiều học Lý, Hóa, chạy qua chạy lại giữa phòng học và phòng thí nghiệm. Môn Thể dục gần như đã trở thành hình thức.
Khi cô Sầm đang phát bài luyện nghe tiếng Anh trên bục giảng, Trình Đậu Đậu đang chăm chỉ ghi chép, đồng thời âm thầm quan sát Cận Hành.
Hắn nghĩ người học giỏi như Cận Hành chắc chắn sẽ rất chăm chú trong giờ học.
Nhưng thực tế, Cận Hành thậm chí không cầm bút, chỉ ngồi im như đang để hồn đi đâu đó. Đợi đến khi bài nghe kết thúc, anh mới như bừng tỉnh, chậm rãi viết đáp án lên bài tập.
Trình Đậu Đậu nhìn qua một chút, lại so sánh với bài làm của mình, có vẻ không giống nhau.
Cô Sầm ước chừng thời gian đã đủ, liền viết đáp án lên bảng, vừa giải thích vừa đi xuống lớp, xem xét tình hình làm bài của học sinh. Cuối cùng, cô cố ý đi vòng qua chỗ Cận Hành, trong lòng gật gù hài lòng.
Còn bài làm của Trình Đậu Đậu, các câu trắc nghiệm thì hắn sai mất một nửa. Hắn thường hay suy nghĩ không thông, rất dễ rơi vào bẫy của đề bài.
Cô Sầm vẫn rất muốn giúp đỡ học sinh lớp mình. Khi đi qua chỗ Cận Hành, cô dịu dàng nói: "Trong lúc làm bài, em có thể trao đổi với Trình Đậu Đậu, giúp bạn ấy cải thiện những môn còn yếu nhé."
Đây thực ra chỉ là lời khách sáo. Ai mà lại đi tốn công sức giúp đỡ một người chẳng liên quan gì đến mình. Huống hồ, ba mẹ của Trình Đậu Đậu đã chi không biết bao nhiêu tiền vào các lớp học thêm mà kết quả vẫn chẳng tiến triển gì.
Những học sinh xung quanh nghe thấy đều không để ý.
Cận Hành lại gật đầu đáp: "Vâng, được ạ."
Anh luôn tỏ ra lạnh nhạt với người không thân, khiến những người nhạy cảm có cảm giác anh đang thờ ơ và không tình nguyện, như một chiếc kim nhỏ đâm vào lòng tự tôn.
Trình Đậu Đậu cúi đầu chỉnh lại kính, dùng cánh tay che bài làm của mình, cảm thấy xấu hổ, mặt đỏ bừng lên, trong lòng có chút tủi thân.
Cận Hành không nghĩ nhiều đến thế. Dù sao dạo gần đây anh vẫn luôn giúp Văn Viêm và Nhan Na luyện đề, thêm Trình Đậu Đậu cũng không phải vấn đề. Đầu ngón tay thon dài của anh cầm một chiếc bút bi màu xanh, chậm rãi xoay vài vòng, giống như kim đồng hồ trên tường đang lặng lẽ chuyển động.
Giờ nghỉ, Châu Khải cùng một nhóm bạn đặc biệt đến bắt chuyện với anh, có vẻ sợ Cận Hành bị bắt nạt hay bị xa lánh, liền nói thẳng: "Có chuyện gì cứ tìm tôi, Trình Đậu Đậu là lớp trưởng, còn tôi là lớp phó."
Châu Khải rất được lòng bạn bè, sức ảnh hưởng trong lớp vượt xa Trình Đậu Đậu, không chỉ là vấn đề vị trí chính phó có thể quyết định. Đám học sinh lớp 9 nhìn thấy vậy đều hiểu ra. Họ tuy không bắt nạt ai, nhưng việc xa cách hay lạc lõng đối với một học sinh mới nhập học giữa chừng là điều khó tránh.
Trong số năm học sinh chuyển lớp, so ra bên Cận Hành lại là ồn ào nhất.
Trình Đậu Đậu thì khác. Hắn luôn vùi đầu luyện đề, sự chăm chỉ này mỗi lần đều khiến giáo viên tiếc nuối. Hắn chịu khó thì có chịu khó, nhưng đầu óc lại không mấy linh hoạt.
Cận Hành vô tình liếc sang bên cạnh, thấy hắn đang làm bài về hàm số lượng giác, liền dùng đầu bút gõ nhẹ hai cái xuống bàn, đột nhiên nói: "Cậu làm phức tạp rồi."
Trình Đậu Đậu theo phản xạ ngẩng đầu, nhìn quanh một lượt, mãi mới nhận ra Cận Hành đang nói với mình, nhất thời sững sờ tại chỗ, không biết phải phản ứng ra sao.
Cận Hành tiện tay xé một tờ giấy nháp, dùng bút viết lên đó hai công thức cơ bản và một quá trình giải sơ lược: "Đề bài đã cho một điều kiện ẩn, cậu tách ra làm hai phần là có thể tìm được thông tin phương trình. Cách này không chỉ suy ra được đáp án câu hỏi đầu tiên mà còn tận dụng được điều kiện trong quá trình giải để thay vào câu hỏi thứ hai."
Cách giải của Cận Hành rất rõ ràng, quá trình đơn giản, mạch lạc. Nhưng Trình Đậu Đậu luôn ghi nhớ lời thầy cô dạy là khi làm bài phải trình bày đầy đủ từng bước. Làm vậy dù không tìm ra đáp án cũng có thể lấy điểm cho phần trình bày, thành ra hắn vô thức đi vào ngõ cụt.
Hắn nhìn qua cách giải của Cận Hành, quả nhiên đơn giản hơn của mình rất nhiều, bỗng thấy mặt nóng bừng, xấu hổ cúi đầu, lẩm bẩm vụng về: "Cảm... cảm ơn..."
Những học sinh mới chuyển đến khác đều tỏ vẻ rất xem thường lớp 9, hắn còn tưởng rằng Cận Hành cũng kiêu ngạo như vậy, nhưng dường như chỉ là hắn nghĩ sai mà thôi.
Cận Hành "ừm" một tiếng, sắp xếp lại bàn học lộn xộn: "Đề bài sẽ không cho những thông tin vô dụng, cố gắng sử dụng tất cả các điều kiện được cung cấp, đôi khi đáp án của câu hỏi đầu tiên chính là chìa khóa giải quyết câu thứ hai."
Anh quá quen thuộc với những chiêu thức ra đề của thầy cô.
Trình Đậu Đậu gật đầu, hiểu được đôi chút, tiếp tục giải câu thứ hai. Hắn làm theo lời Cận Hành, thử tách nhỏ đáp án của câu đầu tiên ra, cuối cùng phát hiện hai câu quả nhiên có liên quan đến nhau, không nhịn được gãi đầu, có chút phấn khích.
Khoảng hơn mười phút sau, Trình Đậu Đậu do dự nhìn về phía Cận Hành, chỉ vào một câu hỏi trên bài thi, ấp úng hồi lâu mới dám lấy hết can đảm hỏi: "Cận Hành... câu này cậu có thể dạy mình không..."
Từ nhỏ đến lớn hắn luôn bị người ta mắng là đần, có lẽ cũng sợ hỏi nhiều quá sẽ làm Cận Hành phiền, nhìn vẻ mặt hắn đầy bất an.
Cận Hành liếc qua đề bài, lần này không trực tiếp cho đáp án mà dùng bút khoanh tròn các điểm mấu chốt, dẫn dắt hắn suy nghĩ: "Trước tiên hãy liệt kê các điều kiện đã biết, phân loại, nếu đẩy xuôi không được thì thử đẩy ngược."
Trình Đậu Đậu nghĩ chậm chạp, chỉ một câu hỏi ngắn gọn mà nghĩ mãi, Cận Hành cũng không lộ ra chút mất kiên nhẫn nào, thỉnh thoảng mới gợi ý đôi chút. Cuối cùng mất hơn hai mươi phút, hắn cũng giải được câu hỏi có độ khó trung bình này.
Mấy học sinh ngồi xung quanh không nhịn được ngoảnh đầu nhìn Cận Hành, lộ vẻ kinh ngạc. Dù sao thầy cô đôi khi còn bị cái đầu đần độn của Trình Đậu Đậu làm cho tức đến đập bàn mắng mỏ, thế mà Cận Hành không chỉ nhẫn nại từ đầu đến cuối, còn dạy được hắn, đúng là kỳ tích.
Học sinh lớp 9 chi tiêu rất thoải mái, thi thoảng còn đặt đồ ăn ngoài trong giờ ra chơi. Mấy nam sinh nhân lúc không có thầy cô liền túm năm tụm ba đi lấy đồ ở cổng trường, không khác gì đang buôn sỉ.
Cận Hành đã qua cái tuổi thèm ăn vặt, hơn nữa hiện tại anh không có thu nhập, cũng không thích hợp tiêu xài nhiều. Vì vậy anh chỉ dành thời gian rảnh để sắp xếp tập bài tập cho Văn Viêm, yên lặng và trầm ổn.
"Uống chút nước trái cây đi."
Không biết là ai đã đặt lên bàn anh một ly nước chanh dây, Cận Hành chưa kịp nhìn rõ, ngẩng đầu lên thì chỉ thấy Châu Khải và vài nam sinh đang cười hì hì chia đồ ăn, toàn là đồ ngọt đặt từ tiệm bánh gần đây.
"..."
Cận Hành cứ nghĩ là ai cũng có, nhưng nhìn quanh một vòng, thấy bàn của mấy học sinh mới chuyển đến khác vẫn trống không.
Bàng Nhất Phàm cũng được phân vào lớp 9, hắn không dám gây sự với Cận Hành, nhưng không có nghĩa là không dám gây sự với người khác. Thấy vậy, hắn ngượng ngùng, giận dữ mà không dám bộc lộ, cuối cùng ngồi im tại chỗ, mặt mày tái xanh, bật cười mỉa mai: "Có gì mà ghê gớm, toàn là mấy người có ô dù thôi."
Một học sinh lớp 9 nghe thấy, liền quay đầu nhìn hắn, sau đó cố ý dùng tay quạt quạt trước mặt: "Chậc, sao mùi chua nồng thế nhỉ, ai ăn chanh à?"
Cả lớp cười ồ lên.
Cận Hành quan sát một lúc, cuối cùng phát hiện người mua đồ ăn vặt là Châu Khải, còn người đặt nước uống là nam sinh ngồi phía sau anh. Dù không quen, anh cũng không muốn nợ ân tình, nghĩ một chút rồi quay lại nói:
"Cảm ơn."
Nam sinh kia ngẩn ra một chút rồi mới phản ứng lại, không để tâm mà vẫy tay: "Chuyện nhỏ thôi. Cậu dạy được cái đầu đần của Trình Đậu Đậu, chứng tỏ cậu có bản lĩnh, tôi nể nhất là người có bản lĩnh."
Nhà hắn giàu có, lại không ưa những kẻ nịnh bợ. Cận Hành không giống những người khác khinh thường lớp 9, lại rất kiên nhẫn với Trình Đậu Đậu, từ đó nhìn ra vài phần tính cách của anh, mời uống nước cũng không phải chuyện gì to tát.
Trình Đậu Đậu căng thẳng liền lắp bắp, nghe vậy bèn nói: "Phải... phải đấy, cậu uống đi, không sao đâu."
Cận Hành không nói gì, chỉ quay người lại.
Đôi khi, sự thiện ý xung quanh còn khiến người ta khó xử hơn là ác ý.
Ngày đầu tiên của kỳ học hè coi như yên ả, việc chia lớp cũng không gây ra mâu thuẫn gì. Sau giờ học, Cận Hành vừa ra đến cổng trường liền thấy Văn Viêm. Rõ ràng cậu đã canh đúng giờ để đợi anh, tiện tay ném qua một cây kem, qua lớp bao bì nhựa vẫn cảm nhận được cái lạnh thấm vào lòng bàn tay.
Cận Hành thấy Văn Viêm không mặc đồng phục, lên tiếng hỏi: "Em không đi học bổ túc à?"
Trường Trung học Sùng Minh cũng tổ chức học hè, nhưng Văn Viêm ngay cả ngày học bình thường cũng không đi đủ, càng không cần nói đến kỳ học hè. Cậu chột dạ sờ sờ chóp mũi, rồi hàm hồ đáp: "Lười đi. Đúng rồi, anh chia lớp thế nào, không ai bắt nạt anh chứ?"
Cận Hành xé túi kem, cắn một miếng: "Không ai bắt nạt anh."
Socola tan chảy trên đầu lưỡi, hương vị vừa đậm vừa mát lạnh. Cây kem này khá đắt, Cận Hành liếc nhìn, thấy hai tay Văn Viêm trống không, bèn tranh thủ lúc không có ai chú ý ở ven đường, đưa cây kem lên trước miệng cậu: "Cắn một miếng."
Văn Viêm nghiêng đầu: "Em ăn rồi."
Cận Hành đành rụt tay về, nhưng không biết có phải ảo giác hay không, lúc anh thu lại ánh mắt, bất chợt nhìn thấy một bóng người lướt qua tường, trông khá quen.
Anh cắn một miếng kem, ra chiều suy tư.
Văn Viêm thấy anh ngẩn người, liền hỏi: "Sao thế, nghĩ gì mà thừ ra vậy?"
Cận Hành khẽ cười, khiến người ta không thể đoán được: "Không có gì, thấy một người quen. Đi thôi, về sớm một chút, anh có sắp xếp vài bài tập cho em."
Văn Viêm thổi thổi phần tóc mái trước trán, không tình nguyện lắm: "Ừ."
Văn Viêm là một đứa trẻ thông minh, nhưng điều đó không bao gồm phương diện học tập. Bài giảng của thầy cô trên lớp cậu không nghe, những gì đã học trước đây cũng quên sạch, gần như phải học lại từ đầu, khối lượng công việc lớn đến đáng sợ.
Cận Hành đã mất hơn nửa tháng để đọc hết sách của trường Văn Viêm. Thi tốt nghiệp trung học nghề chỉ cần thi ba môn Toán, Ngữ văn và Anh văn, cộng với thực hành kỹ năng, bây giờ bắt đầu học vẫn còn kịp.
"Em nghe một lượt trước, đến lượt thứ hai, anh sẽ dừng lại giữa mỗi câu hỏi để em trả lời theo phần nghe."
Cận Hành tải một bộ đề nghe tiếng Anh cơ bản từ mạng, cùng Văn Viêm ngồi trước bàn học, vừa nghe vừa làm bài. Nhưng người sau nghe đoạn hội thoại tiếng Anh phát ra từ điện thoại, chỉ cảm thấy líu lo như tiếng trời.
Văn Viêm cắn chặt đầu bút, cau mày, bắt đầu trả lời câu hỏi.
Cận Hành nhìn chằm chằm đầu bút của cậu, cuối cùng không nhịn được mà dừng phần nghe lại: "Em nghe hiểu không?"
Văn Viêm nhướn mí mắt: "Hiểu... hiểu chứ."
Cận Hành vòng tay ôm chặt lấy bờ vai của Văn Viêm, nhẹ giọng nhắc nhở: "Nghe mới đến câu thứ ba, mà em đã làm đến câu thứ sáu rồi."
Văn Viêm: "..."
Mẹ kiếp.
Không biết có phải ảo giác hay không, Cận Hành thoáng ngửi thấy trên cổ áo của Văn Viêm có mùi xăng nhè nhẹ, nhưng anh không để tâm. Anh hôn lên tai cậu, từng chữ một dịch lại câu văn.
Ví dụ như dạng câu hỏi lựa chọn đơn giản nhất, đoạn nghe kể về nhân vật chính và bạn của anh ta đi ăn ở nhà hàng, lúc chọn đồ uống thì gặp rắc rối:
"Tôi muốn uống nước cam, nhưng nó quá chua với tôi. Hay là uống coca vậy, nhưng coca lại dễ làm tăng cân. Thôi đổi sang nước chanh đi, nhưng cuối cùng tôi vẫn thích uống coca hơn..."
Chỉ vài câu đối thoại lòng vòng đã khiến người ta đau đầu.
Văn Viêm thầm rủa một câu: "Uống mẹ thuốc trừ sâu luôn đi."
Chương 152
Không biết có ai hiểu được cái sự thú vị này không.
Mỗi lần nhìn thấy Văn Viêm bị học hành làm cho tức đến mức văng tục, Cận Hành lại thấy thú vị, chỉ là không biểu hiện ra ngoài. Anh cầm bút, kiên nhẫn giải thích từng từ một để mở rộng vốn từ vựng cho cậu.
Ban đầu, Văn Viêm còn cố gắng tiếp thu, nhưng về sau, cậu bắt đầu hoa mắt. Không nhịn được ngáp một cái, cúi đầu nhìn sách vở ngẩn ngơ, rồi càng lúc càng buồn ngủ, đầu gục xuống từng chút một.
Đúng lúc cậu gần như sắp ngủ hẳn, đột nhiên có cảm giác đau nhói trên dái tai. Văn Viêm giật bắn người tỉnh dậy, quay đầu lại thì thấy Cận Hành đang nhìn mình, đôi môi ấm áp áp sát vào tai cậu.
Rõ ràng vừa rồi chính là anh cắn cậu.
"..."
Văn Viêm nhất thời không thể đoán được Cận Hành đang vui hay giận. Nhưng người ta giảng bài vất vả còn mình ở dưới ngủ gật thì cũng chẳng hay ho gì. Cậu ngồi cứng đờ, sự buồn ngủ hoàn toàn bay biến, dè dặt hỏi: "... Sao anh không giảng tiếp?"
Cận Hành cầm bút, đóng nắp lại với một tiếng "tách" nhẹ: "Em buồn ngủ à?"
Thực ra là không buồn ngủ, nhưng cứ nghe "how are you" là lại muốn ngủ. Trước đây, Văn Viêm luôn nghĩ là do thầy Lưu Hói quá xấu, nên học sinh mới hay ngủ gật trong giờ. Nhưng giờ xem ra chẳng liên quan gì đến ngoại hình cả.
Văn Viêm lắc đầu: "Không sao, anh giảng tiếp đi."
Nhưng Cận Hành không tiếp tục giảng nữa. Có lẽ anh đã nhìn ra Văn Viêm thực sự không có năng khiếu học tập. Anh gấp sách lại, xếp chồng bài tập đã làm dở lên nhau. Chỉ một hành động nhỏ thôi mà cũng khiến Văn Viêm sợ đến mức giật mình.
"Anh làm gì vậy?"
Cận Hành đáp: "Nếu em không thích học thì không cần học nữa."
Phản ứng đầu tiên của Văn Viêm là nghĩ Cận Hành giận rồi. Cậu ngồi thẳng dậy, vội vàng giữ lấy tay anh: "Em học, ai nói em không học?"
Thấy vẻ mặt căng thẳng của cậu, Cận Hành hạ giọng giải thích: "Anh nói thật đấy. Nếu em không muốn học, có thể không học."
Văn Viêm ngơ ngác: "Tại sao...?"
Cận Hành chỉ nói một câu: "Anh sẽ học thay em."
Nếu Văn Viêm không muốn học, thì anh sẽ học thay cậu.
Cận Hành chưa bao giờ yêu cầu Văn Viêm phải đạt thành tích tốt hay vào được trường danh tiếng. Nếu cậu thực sự không thích, anh cũng sẽ không ép buộc. Người lớn thường nói "đọc sách mới có tương lai", Cận Hành không phủ nhận điều đó, nhưng tương lai của anh và Văn Viêm đã gắn chặt với nhau.
Không biết tại sao, Văn Viêm đột nhiên im lặng. Cậu nhìn Cận Hành, đôi mắt sắc bén giờ đây lại hiện lên vẻ bất lực sâu sắc. Hồi lâu sau, cậu nhắm mắt lại, thở dài nói: "Cận Hành, em không muốn làm một kẻ vô dụng cả đời."
Trước đây, Văn Viêm chưa bao giờ nghĩ làm một thiếu niên bất cần đời có gì sai. Nhưng từ khi ở bên Cận Hành, cậu chợt nhận ra khoảng cách giữa hai người không chỉ nằm ở thành tích, mà còn ở tương lai.
Họ sắp trưởng thành rồi, rời xa những năm tháng trung học, càng tiến gần hơn đến thực tế tàn khốc.
Cận Hành sẽ vào được trường đại học trọng điểm, còn Văn Viêm chỉ có thể cố gắng bám theo, để khoảng cách giữa họ không quá xa đến mức không thể chạm tới. Nhưng trên vai cậu, hiện thực nặng nề vẫn đang đè nặng, khiến cậu nghẹt thở.
"Văn Viêm..."
Cận Hành khẽ gọi, nhưng không biết phải nói gì. Ngón tay anh chậm rãi lướt qua đường nét gương mặt của cậu, cuối cùng dừng lại ở trán, cúi đầu thì thầm: "Đừng sợ."
Con đường ấy, Cận Hành đã từng đi qua. Chỉ cần theo đúng quỹ đạo kiếp trước, những thứ anh từng có—danh vọng, tiền tài—sẽ lần lượt quay trở lại.
Điểm khác biệt duy nhất là ở kiếp này, anh sẽ mang theo Văn Viêm.
Văn Viêm không cần lo lắng, không cần sợ hãi, cũng không cần phải ép buộc bản thân học hành, bởi vì Cận Hành chính là lối thoát của cậu. Chỉ cần vượt qua vài năm nữa, phần đời còn lại của họ sẽ trải đầy hoa tươi.
Giọng nói của Cận Hành mang theo sức mạnh làm dịu lòng người, những cảm xúc bất an trong lòng Văn Viêm dần bình ổn lại. Lông mi cậu khẽ run, không nhịn được nhìn vào người trước mặt—một chàng trai đôi khi dịu dàng, đôi khi lạnh lùng—nhưng chỉ một giây sau đã bị anh hôn lên.
"Ưm..."
Văn Viêm vốn dĩ là người mạnh mẽ, nhưng trước Cận Hành, cậu vẫn luôn bị những nụ hôn dịu dàng đến nghẹt thở này làm cho mất kiểm soát. Không muốn đẩy anh ra, cậu đặt tay lên vai anh, ôm chặt lấy, cảm nhận sự k.ích thích mãnh liệt như thể sắp chết ngạt.
Tập bài tập bị hất xuống đất, chiếc bút lăn vào góc phòng, nhưng không ai bận tâm.
Cận Hành đẩy Văn Viêm lên bàn học, động tác mạnh đến mức như muốn nghiền nát từng khúc xương của cậu, nhưng nụ hôn của anh lại dịu dàng đến mức khiến người ta run rẩy. Giọng anh trầm thấp, khàn khàn, đầy ám muội: "Văn Viêm, chỉ cần em ở bên anh là đủ..."
Em không cần làm gì khác cả.
Kiếp này, con đường ấy sẽ do Cận Hành trải sẵn.
Văn Viêm thần trí mơ hồ, đôi mắt lạc đi nhìn trần nhà, ngón tay vì động tác của Cận Hành mà không ngừng siết chặt. Cậu gần như không nghe rõ những gì anh nói. Cuối cùng, cậu khẽ r.ên rỉ, giống như một con thú nhỏ bị tổn thương, đôi mắt đỏ hoe.
Cận Hành bế cậu xuống khỏi bàn, hôn lên những giọt nước mắt chảy ra vì k.ích thích quá độ. Hai người như hai sợi dây chẳng hề liên quan, giờ đây lại dần dần xoắn vào nhau, thắt thành một nút thắt không thể gỡ, ai cũng không thể tách rời.
...
Cận Hành ôm lấy Văn Viêm, thở dốc, lồng ng.ực phập phồng không ngừng. Anh hôn lên mái tóc ướt đẫm mồ hôi của cậu, khẽ hỏi: "Hôm nay em đã làm gì?"
Văn Viêm hồi thần chậm một nhịp: "Gì cơ?"
Cận Hành hơi ngửi ngửi nơi cổ cậu: "Trên người em có mùi xăng, em đã đến xưởng sửa xe à?"
Văn Viêm chối ngay lập tức: "Không đến."
Cận Hành nhìn cậu: "Vậy là giết người phóng hỏa rồi."
Văn Viêm: "..."
Cận Hành đôi khi thông minh đến mức quá đáng, Văn Viêm kiểu người vô tâm như vậy đương nhiên không giấu nổi anh. Cậu lười biếng không muốn động đậy, chỉ lật người úp mặt vào gối, trả lời qua loa: "Dù sao cũng rảnh, nên em đi làm thêm thôi."
Những việc không liên quan đến học tập thì Văn Viêm luôn làm rất giỏi: hút thuốc, đánh nhau, uống rượu, chơi ván trượt, đua xe. Ồ, giờ phải thêm cả sửa xe nữa.
Cận Hành không nói gì, chỉ qua một lúc lâu mới bảo: "Em vẫn còn nhỏ..."
Anh nói câu này với góc nhìn của một người trưởng thành.
Văn Viêm nằm úp sấp trên mép giường, quay lưng về phía anh. Ban đầu định hút một điếu thuốc sau khi xong việc, nhưng tìm không thấy bật lửa nên bỏ qua, nhíu mày đáp: "Đã trưởng thành rồi, nhỏ cái gì."
Người phụ nữ đó từng nói, sau khi Văn Viêm tốt nghiệp trung học, nếu cậu không thi đỗ đại học, chọn ra ngoài đi làm, thì sẽ không chuyển tiền vào tài khoản nữa.
Văn Viêm vốn đã có sẵn kế hoạch sau khi tốt nghiệp lớp mười hai sẽ ra ngoài làm việc. Cậu từng nghe Từ Mãnh nói, học đại học rất tốn tiền, học phí và sinh hoạt phí của Cận Hành phải bắt đầu tiết kiệm từ bây giờ, còn cả ăn mặc ở đi của chính cậu nữa, thứ nào cũng tốn tiền, chẳng lẽ sau này lại đi vay mượn của người ta?
Cận Hành lặng lẽ nhìn tấm lưng của cậu, trên đó ngoài những vết thương cũ đã lành từ lâu, còn có cả dấu hôn mới để lại. Ngón tay anh khẽ miết qua những dấu vết ấy một lúc, rồi hỏi: "Là vì anh sao?"
"Đừng quan tâm nhiều thế," Văn Viêm nói, "Dù sao cũng sớm muộn phải đi làm, làm quen trước thôi."
Nói xong, cậu ngừng lại một lúc rồi bảo: "Anh cứ học cho tốt, sau này em nuôi anh."
"..."
Nghe những lời này, Cận Hành không biết nghĩ đến điều gì, ngón tay khựng lại trong giây lát, ánh mắt thoáng thất thần. Anh từ từ ghé sát cổ của Văn Viêm, như một con rắn độc, nhẹ cắn một cái, khiến cậu hừ nhẹ một tiếng. Sau đó, Cận Hành ôm siết lấy cậu, giam cậu chặt chẽ vào lòng mình.
Văn Viêm hơi khó thở: "Cận Hành..."
Cận Hành không đáp, nhắm mắt hôn cậu. Đó vẫn là kiểu hôn khiến hàm răng, quai hàm của cậu bắt đầu ê ẩm đau nhức. Văn Viêm không nói nên lời, chỉ cảm nhận được người này trên cơ thể mình bắt đầu có dấu hiệu trỗi dậy, cậu vòng tay ôm lấy cổ anh, hơi nghẹn ngào thành tiếng.
Người ta thường nói đời người như bàn cờ, mỗi nước đi là không thể hối hận. Cận Hành luôn tin như vậy, nhưng anh vẫn mãi trăn trở, liệu kiếp trước mình có hối hận hay không.
Giờ nghĩ lại, đúng là hối hận. Anh không nên để Văn Viêm một mình trong cái nơi băng lạnh ngục tù đó...
Cận Hành không phải người xấu hoàn toàn. Thậm chí thuở nhỏ, anh từng làm những chuyện ngây ngốc đến mức buồn cười. Nhưng không chống lại được những kẻ xung quanh cứ liên tục dội từng thùng nước đen vào tờ giấy trắng của anh, cuối cùng cũng méo mó không còn ra hình dạng.
Thế là Văn Viêm phải gánh lấy hậu quả này.
Cận Hành chưa từng nói với ai, rằng kiếp trước, mỗi lần nửa đêm tỉnh mộng, trong anh luôn có một ý nghĩ như cỏ dại mọc lan tràn, thôi thúc anh quay về nơi ác mộng ấy để gặp một người. Nhưng chưa kịp làm gì, ánh sáng mặt trời của ngày mới đã như ngọn lửa thiêu rụi tất cả, khiến ý nghĩ ấy bị đốt sạch không còn gì.
Chỉ có điều, cỏ dại khó mà nhổ tận gốc, gió xuân lại đến, nó lại mọc điên cuồng.
Bọn họ hôn nhau cuồng nhiệt, dây dưa triền miên.
Cận Hành bế Văn Viêm vào phòng tắm, hai người tựa vào những viên gạch men lạnh lẽo, nhưng thứ rơi xuống từ trên đầu lại là dòng nước nóng bỏng, hơi nước nhanh chóng bao phủ, mờ mịt cả tầm nhìn.
Cận Hành tựa trán mình vào trán Văn Viêm, bảo: "Đừng đi, bây giờ chưa phải lúc."
Trong lòng anh, người trước mắt vẫn chỉ là một thiếu niên non nớt.
Văn Viêm hôn nhẹ lên môi anh, xem như câu trả lời lấp lửng.
Cận Hành không ngăn được Văn Viêm. Khi anh ở trường học thêm, không thể lúc nào cũng theo sát cậu. Văn Viêm thậm chí đã biết khôn ra, mỗi lần đều thay bộ đồ sạch sẽ, trên người ngoài mùi thuốc lá ra, chẳng còn mùi gì khác.
Cận Hành biết cậu chắc chắn vẫn đang làm thêm ở bên ngoài, nhưng anh không thể làm gì, chỉ có thể chờ kỳ thi đại học, chờ tốt nghiệp, rồi đưa Văn Viêm rời khỏi thành phố này.
Lần đầu tiên, trái tim vốn chỉ chất đầy sát ý vặn vẹo ấy lại nảy sinh một mong mỏi.
Có lẽ đây mới là cảm giác sống thật sự.
Lớp 9 vừa trải qua một kỳ kiểm tra nhỏ, chỉ là kỳ thi trong phạm vi lớp nên không có xếp hạng toàn khối. Ngoài Cận Hành với thành tích gần như đạt điểm tối đa một cách kỳ dị đứng đầu, còn có một người đã khiến cả lớp ngạc nhiên với kết quả của mình, chính là lớp trưởng Trình Đậu Đậu.
Dù rất chăm chỉ học tập, nhưng thành tích của hắn trước giờ trong lớp 9 không được coi là xuất sắc, vẫn luôn quanh quẩn ở mức trung bình khá. Đến cả Châu Khải – kiểu học sinh cá biệt lơ là học hành – mà chăm chỉ vài hôm cũng có thể vượt mặt hắn, đủ thấy trình độ thế nào. Nhưng lần này Trình Đậu Đậu lại phá lệ, tiến bộ vượt bậc, trực tiếp lọt vào top 5 của lớp. Cô Sầm còn đặc biệt nêu gương hắn để khen ngợi.
"Chậc, đầu của Đậu Đậu bị ai đó khai quang rồi à?"
"Tôi thấy là thông suốt thì đúng hơn."
Giờ nghỉ, mọi người đều bu lại bàn của hắn, tấm tắc trầm trồ, hệt như đang nhìn loài động vật quý hiếm.
Trình Đậu Đậu lại tỏ ra rất khiêm tốn, ngượng ngùng gãi đầu, vẫn không sửa được tật nói lắp mỗi khi căng thẳng: "Không... không phải, là nhờ Cận Hành... dạy giỏi..."
Cô Sầm từng nói bâng quơ một câu, nhưng Cận Hành lại thực sự thực hiện nghiêm túc. Mỗi ngày giờ nghỉ đều sửa cho Trình Đậu Đậu cách tư duy làm bài, một tháng như vậy ít nhiều gì cũng phải tiến bộ.
Mọi người bừng tỉnh: "Chết tiệt, tí nữa quên mất, bên cạnh cậu có một học sinh xuất sắc đây mà. Cứ tưởng Đậu Đậu ngộ ra được, hóa ra là học bá dạy giỏi."
Cô Sầm đang ngồi trên bục giảng nghỉ ngơi, tai hơi động, nghe được câu chuyện, không kìm được liếc nhìn Cận Hành đang cúi đầu làm bài kiểm tra tổng hợp ở chỗ ngồi.
Chương 153
Cận Hành rất thông minh. Ít nhất là trong nhiều năm giảng dạy của cô, chưa từng gặp một học sinh nào như anh. Dù thường ngày cũng làm bài tập, luyện đề kiểm tra, nhưng thời gian Cận Hành dành cho việc học rõ ràng ít hơn nhiều so với những học bá cần mẫn khác, mà lại còn ung dung hơn nhiều.
Tình hình học tập của Trình Đậu Đậu, cô Sầm rất rõ. Cận Hành lại có thể dạy hắn tiến bộ đến mức này, quả thực khiến người ta kinh ngạc.
Gần đây, áp lực học tập ngày càng lớn, đến mức việc đi vệ sinh cũng trở thành một thứ xa xỉ. Trong khoảng thời gian nghỉ ngắn ngủi giữa giờ, hầu hết học sinh trong lớp đều chạy ra ngoài hết, đa phần là chạy thẳng đến nhà vệ sinh, chỉ còn lại vài người trong lớp ngồi bơ phờ, không chút sức sống.
Gần đây, tổ giáo vụ vừa phát hành bộ đề thi tổng hợp A, độ khó tương đối cao. Với trình độ của học sinh lớp 9, việc hoàn thành bộ đề này gần như không thể. Vì vậy, giáo viên Toán chỉ giảng các câu cơ bản ở phần đầu, còn các câu nâng cao ở phần cuối thì đành bỏ qua.
Khi cô Sầm đi ngang qua chỗ ngồi của Cận Hành, cô thấy anh đang chống cằm, chăm chú giải câu hỏi khó ở cuối đề. Bên cạnh, giấy nháp ghi đầy những thứ rời rạc, nhưng vì chúng quá tản mạn nên cô cũng không nhìn ra được gì.
Khoảng một phút sau, anh mới nhận ra sự hiện diện của cô Sầm, liền ngồi thẳng người lại theo phản xạ, nghĩ rằng cô có chuyện gì cần giao phó.
Nhưng cô Sầm không nói gì, chỉ liếc nhìn bài thi của anh và nói: "Câu nâng cao ở cuối nếu có chỗ nào không hiểu, em có thể hỏi riêng cô giáo Toán. Cô ấy thường bỏ qua một số điểm khó khi giảng bài. Có lẽ em nên chịu khó chạy đến văn phòng hỏi cô ấy nhiều hơn."
Dù nói vậy có phần không hay, nhưng thực tế cách giảng dạy của lớp 9 thực sự không phù hợp với các học sinh xuất sắc. Bộ đề thi tổng hợp A này chủ yếu là dành cho lớp chọn để tìm kiếm những học sinh có tiềm năng thi vào trường trọng điểm. Vì trình độ tổng thể của lớp 9 không đủ, nên khi giảng bài, giáo viên thường có thói quen bỏ qua các câu nâng cao ở phần cuối.
Không phải họ không muốn giảng, mà là nếu giảng, học sinh cũng không hiểu. Những câu đó liên quan đến nhiều kiến thức vượt chuẩn, không thể nói rõ ràng chỉ trong vài ba câu. Thay vào đó, dành thời gian tập trung vào những câu cơ bản sẽ hợp lý hơn. Tuy nhiên, điều này lại khiến Cận Hành bị thiệt thòi.
Cận Hành hiểu rằng cô Cận có lẽ đã hiểu lầm, bèn điền nốt đáp án còn dang dở vào bài thi, đặt bút xuống và nói: "Không sao đâu ạ, cô Toán giảng rất chi tiết."
Thực ra, anh chỉ nghe nói câu cuối rất khó, vừa hay có thời gian rảnh nên thử giải. Cuối cùng nhận ra đúng là khá phức tạp, rõ ràng đề bài cố ý gây khó khăn. Nhưng anh cũng biết rằng đề thi đại học sẽ không bao giờ ra những câu vượt chuẩn như thế này, nên làm hay không cũng không có nhiều ý nghĩa.
Những học sinh giỏi luôn khiến người khác yêu quý.
Thái độ của cô Sầm dần dần dịu xuống, cách nói nhẹ nhàng mềm mỏng hoàn toàn khác với dáng vẻ nghiêm khắc thường ngày: "Em vào lớp 9 cũng được một thời gian rồi, đã quen chưa?"
Cận Hành gật đầu:
"Cũng ổn ạ."
Thực ra, dù nhìn từ góc độ nào, lớp 9 cũng tốt hơn lớp cũ của anh rất nhiều.
Cô Sầm hỏi tiếp: "Thời gian học hàng ngày có căng thẳng không?"
Anh không hiểu sao cô lại hỏi như vậy, chỉ đành mơ hồ đáp: "Cũng tạm ạ."
Thấy vậy, cô Sầm hơi yên tâm, cuối cùng nói rõ mục đích của mình: "Gần đây cô muốn thành lập một nhóm học tập một kèm một trong lớp. Học sinh có điểm số gần nhau sẽ giúp đỡ lẫn nhau, giống như em đã giúp bạn Trình Đậu Đậu vậy, mỗi nhóm gồm sáu người."
Tiếng điều hòa trong lớp phát ra những âm thanh khe khẽ, xua tan cái nóng hầm ngoài trời.
Thấy vài học sinh đã bắt đầu lác đác quay về, cô tiếp tục nói: "Cô định chọn ra năm bạn đứng đầu lớp, ngoài em, để tạo thành một nhóm. Em sẽ làm nhóm trưởng, theo dõi tình hình học tập của các bạn trong nhóm... Cô biết dạo này thời gian rất gấp gáp, nếu em thấy không tiện, có thể nói với cô."
Điểm số tuy có sự chênh lệch, nhưng nếu kéo được một số bạn lên, đó có thể là sự khác biệt giữa đại học và cao đẳng. Cô Sầm cũng là bất đắc dĩ.
Một số học sinh ngồi nghỉ trong lớp nghe được đoạn hội thoại giữa hai người, vừa uống nước vừa lén vểnh tai, muốn biết Cận Hành sẽ trả lời thế nào.
Anh vẫn giữ dáng vẻ yên lặng thường thấy, gật đầu đồng ý: "Được ạ."
Thực ra, chỉ cần không động chạm đến giới hạn, Cận Hành là một người rất dễ nói chuyện. Có lẽ do sự thay đổi trong tâm lý, đôi khi anh cảm thấy giúp đỡ những học sinh lớp 9 này cũng không phải chuyện gì lớn. Dù sao thì... có những con đường chỉ đi được một lần.
Và kỳ thi đại học cũng chỉ có một lần.
Nghe câu trả lời của anh, trên mặt cô Sầm lộ rõ vẻ vui mừng, muốn nói gì đó nhưng lại không biết phải nói thế nào, cuối cùng chỉ vỗ nhẹ vào vai anh: "Có gì cần giúp đỡ, cứ nói với cô nhé."
Sau tiếng chuông vào lớp, cô lập tức phân chia danh sách nhóm học tập. Học sinh ngồi phía dưới thấy cô không giảng bài như đã nói, liền tò mò xì xào bàn tán.
"Cô Sầm không phải bảo là sẽ giảng đề sao, sao giờ chưa bắt đầu nhỉ?"
"Suỵt, tôi vừa thấy cô ấy tìm Cận Hành rồi, hình như là nhờ cậu ấy kéo điểm lớp mình, giờ đang phân chia danh sách nhóm học tập."
"Cận Hành đồng ý rồi à?"
"Đồng ý rồi, tôi thấy cậu ấy gật đầu mà."
Xung quanh vang lên những tiếng bàn tán khe khẽ.
Đừng nhìn Cận Hành đã chuyển đến đây hơn một tháng, nhưng thực ra anh không nói chuyện nhiều, chủ yếu đi cùng vài người như Châu Khải, nên tự nhiên để lại ấn tượng là người lạnh lùng, khó gần.
Việc anh từng giúp Trình Đậu Đậu học đã đủ khiến mọi người ngạc nhiên, không ngờ giờ còn đồng ý giúp lập nhóm học tập. Nói thật, ở thời điểm cấp ba này, thời gian quý giá như vàng bạc, ngay cả anh em ruột cũng chưa chắc đã giúp nhau được như thế.
Học sinh lớp 9 nhìn theo bóng lưng yên lặng thường thấy của anh, tâm trạng ít nhiều có chút phức tạp.
Cô Sầm nhanh chóng hoàn thành danh sách nhóm học tập và thông báo trong lớp: "Từ giờ, bạn Cận Hành sẽ là nhóm trưởng của nhóm 1. Các bạn nhóm khác nếu có gì không hiểu, có thể trao đổi với bạn ấy vào lúc rảnh. Nếu ai có vấn đề với danh sách phân chia, hãy gặp cô sau giờ học."
Danh sách vừa công bố, người vui người buồn. Vui là các thành viên trong nhóm, buồn nhất chính là Trình Đậu Đậu.
Trước kia, chỉ có mình hắn là "đệ tử" của anh, giờ phải "chia sẻ" với năm người khác, tâm trạng có thể nói là muốn khóc mà không khóc nổi.
Ba của Trình Đậu Đậu làm bất động sản, nhà không thiếu tiền, chỉ thiếu một người con học hành thành đạt để vẻ vang gia đình. Kỳ thi tháng trước, vì điểm số của Trình Đậu Đậu tăng lên, gia đình hắn còn đặc biệt tổ chức vài bàn tiệc ở nhà hàng lớn để ăn mừng, người ngoài không biết còn tưởng đang làm tiệc báo danh đại học.
Ông Trình không rõ đầu đuôi, còn mang theo một đống quà cao cấp định đến cảm ơn giáo viên, nhưng thời nay, quy định rất nghiêm, quà cáp hoàn toàn không thể đưa được.
Khi tan học, sau nhiều lần suy nghĩ, Trình Đậu Đậu ngập ngừng nhìn Cận Hành: "À... cuối tuần cậu có bận không?"
Trường học tuy có tổ chức học bù nhưng cuối tuần vẫn cho nghỉ hai ngày, cũng không đến mức quá khắc nghiệt.
Cận Hành đang thu dọn sách vở, nghe vậy ngước lên nhìn cậu một cái: "Sao thế?"
Thường thì cuối tuần Cận Hành không có việc gì nhiều, hoặc là nằm ở nhà ngủ, hoặc là dạy kèm cho Nhan Na, nếu không thì đi loanh quanh với Văn Viêm, rồi về lăn lộn trên giường, vậy là hết một ngày.
Trình Đậu Đậu đỏ mặt tía tai, gãi đầu đến mức gần trọc rồi mới lắp bắp: "Là... là... cậu có thể làm gia sư cho tôi được không? Thầy dạy kèm mà ba tôi mời... cảm giác không được linh hoạt như cậu... nên tôi bảo ba cho nghỉ rồi. Sau này cuối tuần cậu dạy tôi, tôi trả lương tính theo giờ, được không?"
Hiện nay, phí gia sư bên ngoài không hề rẻ, vài giờ dạy có thể bằng lương của người khác trong mấy ngày. Dù loại bình thường hơn cũng đủ trang trải sinh hoạt cơ bản. Tuy Cận Hành học giỏi, nhưng chỉ giáo viên mới biết trình độ của anh, còn nếu đi làm gia sư bên ngoài, chẳng phụ huynh nào dám thuê.
Cận Hành động tác khựng lại: "Ba mẹ cậu có biết không?"
Trình Đậu Đậu gật đầu lia lịa: "Biết... biết chứ. Tôi nói với họ rồi... lần này thi được điểm cao thế này... đều... đều nhờ cậu dạy cả..."
Hắn không biết Cận Hành có cần tiền hay không, chỉ sợ anh từ chối, nên hồi hộp đến mức mồ hôi túa ra.
Nhưng Cận Hành lại nhận lời rất thoải mái: "Được, cuối tuần tôi rảnh, cậu muốn học mấy tiếng?"
Lần này đến lượt Trình Đậu Đậu ngớ người: "Hả?"
Cận Hành: "Vậy thì trước tiên bốn tiếng, nếu chưa đủ thì thêm."
Ngoài cửa sổ, mây chiều phủ kín trời, trên sân thể dục có vài nhóm nam sinh đang chơi bóng, đuổi bắt ồn ào, chưa chịu rời trường.
Cận Hành đeo cặp đi xuống lầu, nhặt quả bóng vô tình lăn đến chân mình và ném lại. Gió chiều thổi tung tà áo anh, gió đi qua cũng như đang đếm ngược ngày tháng của thời niên thiếu.
Có lẽ đây mới là cuộc sống cấp ba bình thường.
Học hành, chơi bóng, sân thể dục, những ngày hè xanh tươi đầy bóng cây, lớp học ồn ào náo nhiệt. Chứ không phải là chuỗi ngày bị bắt nạt và sợ hãi vô tận.
Văn Viêm hôm nay bận việc, không kịp đến trước cổng trường đón anh, nên hai người hẹn gặp tại một quán nướng gần đó, có vẻ như muốn mời anh một bữa.
Cận Hành thấy đường không xa, liền không chen xe buýt mà đi bộ theo chỉ dẫn trên điện thoại. Nhưng đi chưa được bao xa, anh nhạy bén phát hiện có người đang lén lút theo dõi mình, liền nheo mắt, tắt điện thoại.
Anh đứng giữa đường, quay đầu lại, không ngờ nhìn thấy một người đàn ông với dáng vẻ tiều tụy đang rón rén đi theo mình, trông chẳng khác nào một tên trộm, chính là Cận Trường Thanh.
"Haizz..."
Cận Hành bất ngờ khẽ thở dài một tiếng đầy ý vị. Đôi khi không phải anh không muốn buông bỏ, mà là mỗi lần anh sắp sửa thoát thân thì luôn có người níu lấy gấu áo anh, không chịu buông tay.
Đến mức khiến người ta chán ghét, chỉ muốn cầm dao cắt đứt.
Cận Hành im lặng vài giây, cố nén ý định giết chóc đã lâu chưa trỗi dậy trong lòng. Anh bước tới gần Cận Trường Thanh, vẻ mặt không cảm xúc, không thể nhìn ra anh đang nghĩ gì, cuối cùng dừng lại cách ông ta ba mét.
Cận Hành nhìn khuôn mặt gầy gò hốc hác của Cận Trường Thanh, trong lòng không chút gợn sóng, chỉ hơi nhếch môi, cười mà như không: "Theo tôi mấy ngày rồi, có việc gì?"
Thời gian này, để trốn nợ tín dụng đen, Cận Trường Thanh phải lang thang như chuột chạy qua đường. Ăn bữa đói bữa, râu ria xồm xoàm, trông chẳng khác nào một kẻ ăn mày. Nghe Cận Hành hỏi, ánh mắt đục ngầu của ông lóe lên một tia sáng, định đưa tay nắm lấy anh: "A Hành, ba... ba biết sai rồi... hôm đó không nên đánh con. Con có tiền không, cho ba mượn ăn bữa cơm, hai trăm, một trăm, năm mươi cũng được!"
Cận Hành ngửi thấy mùi hôi từ người ông ta, vội lùi lại né tránh. Trong ánh mắt anh ngoài sự lạnh lùng còn có chút giễu cợt, nhẹ nhàng hỏi lại: "Ba, ba đã không có tiền, sao tôi lại có được?"
Cận Trường Thanh không tin. Ông đã theo dõi anh mấy ngày nay, thấy luôn có một thiếu niên có vẻ mặt dữ tợn đi cùng anh, nên không dám đến gần. Hôm nay thấy Cận Hành đi một mình, ông không muốn bỏ lỡ cơ hội này: "Con không có tiền thì sao con đi học, ăn uống thế nào? Chẳng lẽ uống gió Tây Bắc mà sống sao?"
Con người khi bị dồn đến đường cùng, đã đến mức điên cuồng, chẳng khác gì một con chó dại.
Cận Hành vốn định làm gì đó, nhưng thấy Cận Trường Thanh vừa bẩn vừa hôi, bỗng dưng mất hứng.
Người đi đường qua lại tấp nập, Cận Hành không muốn dây dưa thêm với Cận Trường Thanh. Anh khẽ nghiêng người né mùi hôi bốc ra từ ông ta. Cúi mắt một thoáng, giấu đi ý cười lạnh lẽo trong đáy mắt: "Thế thì ông cứ xem như tôi lớn lên nhờ uống gió Tây Bắc đi."
Anh lùi lại mấy bước, xoay người bỏ đi.
Chương 154
Cận Trường Thanh không chịu buông tha, như người níu được cọng rơm cứu mạng, túm chặt lấy tay anh, khẩn thiết cầu xin: "A Hành! A Hành! Ba là ba của con, con không thể mặc kệ ba được! Mấy ngày nay ba phải ngủ ngoài đường, đến bánh bao cũng chẳng có mà ăn, con giúp ba với! Giúp với..."
Chưa nói dứt lời, Cận Hành đã hất tay ông ta ra, giọng lạnh nhạt không nghe ra cảm xúc: "Ông mà còn bám lấy tôi, tôi không biết mình sẽ làm ra chuyện gì đâu."
Cận Hành nói thật lòng. Ngay cả chuyện giết người anh còn chẳng sợ, thì còn gì đáng sợ nữa?
Cận Trường Thanh bị ánh mắt lạnh lẽo của anh làm cho hoảng sợ trong thoáng chốc, theo phản xạ lùi lại một bước, nhưng vẫn đứng nguyên tại chỗ, kiên quyết không chịu rời đi.
Lúc này, Châu Khải vốn định ra ngoài ăn tối với bạn bè, vừa bước ra khỏi cổng trường liền tình cờ nhìn thấy cảnh này. Hắn tưởng Cận Hành bị kẻ lang thang nào đó quấy rối, bèn dẫn người tiến lại, gọi một tiếng: "Cận Hành."
Mấy nam sinh to cao ở lớp 9, ai nấy đều cao trên 1m8, trông chẳng dễ chọc vào.
Châu Khải thấy Cận Trường Thanh râu ria xồm xoàm, trông không giống người tốt, liền hỏi: "Người này là ai, có phải côn đồ đòi tiền không? Cậu yên tâm, chú tôi làm ở đồn cảnh sát, nếu cần tôi gọi cho chú ngay."
Mấy lời này làm Cận Trường Thanh sợ tái mặt. Ông nghiện cờ bạc, nợ nần chồng chất, những năm qua làm không ít chuyện khuất tất. Nếu bị bắt điều tra thì còn gì để nói nữa?
Cận Trường Thanh cuống lên: "Tôi không phải côn đồ, tôi là ba của Cận Hành!"
Cả đám Châu Khải đều ngớ người. Dù Cận Hành trông sạch sẽ gọn gàng thế kia, chẳng hiểu sao lại có quan hệ với một người như Cận Trường Thanh. Hai người này, sao có thể là cha con chứ?
Cận Hành khẽ nhíu mày trong thoáng chốc, sau đó dần dần giãn ra: "Tôi chưa từng thừa nhận. Cảm ơn cậu, giúp tôi gọi điện cho đồn cảnh sát đi."
Câu sau là nói với Châu Khải. Cận Hành cố tình như vậy, rõ ràng đã khiến Cận Trường Thanh sợ hãi. Ông ta vừa cảnh giác nhìn xung quanh vừa lùi lại, vừa lẩm bẩm mắng: "Cận Hành, mày đừng hòng phủi sạch quan hệ với tao!"
Nói xong, ông ta như một con chuột chạy biến mất dạng.
Châu Khải còn đang ngơ ngác, thấy Cận Trường Thanh đi rồi, không nhịn được hỏi đầy kinh ngạc: "Người đó thật sự là ba cậu à?"
Cận Hành không giấu diếm, chỉ "ừ" một tiếng, nói ngắn gọn: "Ông ấy thích cờ bạc, nợ nần tín dụng đen bên ngoài, muốn tìm tôi đòi tiền."
Châu Khải và những người khác nhìn nhau ngơ ngác. Việc Cận Trường Thanh đánh bạc nợ nần tín dụng đen đã đủ khó tin, đằng này còn tìm đến cậu con trai vẫn đang đi học để đòi tiền. Họ không hiểu nổi suy nghĩ này: "Thế gia đình cậu đâu? Không lo chuyện này sao?"
Cận Hành bình thản trả lời: "Trong nhà tôi chỉ có một mình tôi."
Anh rất ít nói ở trường, hiếm khi giao tiếp với mọi người, nên hầu hết bạn cùng lớp đều không biết về hoàn cảnh gia đình của anh. Nhưng cũng có người đoán rằng, nhìn cử chỉ và thành tích của Cận Hành, chắc nhà anh là gia đình tri thức hoặc nề nếp. Không ai nghĩ rằng hoàn cảnh lại thế này.
Châu Khải nghĩ bụng, chẳng trách Cận Hành lại sống khép kín như vậy, bất giác cảm thấy đồng cảm: "Sao lại có kiểu làm ba thế này chứ? Lần sau ông ta mà đến tìm cậu, cậu cứ nói với tôi. Tôi gọi cậu của tôi ra xử lý."
Cậu của Châu Khải là trưởng đồn cảnh sát. Nếu có chuyện xảy ra, rất có thể sẽ giúp được.
Một cậu bạn cao gầy đứng bên cạnh đẩy gọng kính, nói: "Hành vi này của ông ta đã đủ cấu thành quấy rối, hơn nữa cũng không đạt tiêu chuẩn của người giám hộ. Đánh bạc là phạm pháp, nếu cần thiết cậu có thể tố cáo. Mẹ tôi làm ở văn phòng luật sư, nếu cậu cần giúp đỡ, tôi có thể giới thiệu người quen cho cậu."
Học sinh lớp 9 đều khá trưởng thành sớm. Ngoài lý do tính cách từng người, còn bởi hầu hết bọn họ đều là con nhà có mối quan hệ, ảnh hưởng từ cha mẹ, họ hiểu rõ nền tảng hiện tại sẽ trở thành các mối quan hệ xã hội sau này, vì thế rất đoàn kết.
Cận Hành không có nền tảng gia đình, cũng không có xuất thân đặc biệt, đáng ra không có lý do gì để các bạn học phải để tâm. Nhưng Châu Khải và nhóm bạn vẫn sẵn sàng dành thiện chí và sự giúp đỡ lớn nhất cho anh.
Không nói rõ lý do, có lẽ vì Cận Hành tuy học giỏi nhưng chưa từng xem thường ai, thậm chí còn sẵn lòng giúp đỡ mọi người cải thiện thành tích. Những điều này, tuy không ai nói ra, nhưng các bạn đều nhìn thấy. Mỗi lần phát đồ ăn vặt, bàn của Cận Hành luôn đầy ắp.
Cận Hành cười nhẹ: "...Cảm ơn."
Châu Khải không bận tâm: "Có gì đâu, cùng lớp mà. Có việc cứ nói với chúng tôi."
Mấy nam sinh đứng cạnh cũng gật đầu theo.
Phía chân trời, ánh hoàng hôn rực rỡ dần bị màn đêm bao phủ, bầu trời trở nên đen thẳm vô tận. Sau khi tạm biệt Châu Khải và nhóm bạn, Cận Hành đến trước cửa quán nướng mà anh đã hẹn với Văn Viêm.
Quán nướng này bán ngoài trời, rất đông khách, là nơi sôi động nhất vào buổi tối.
Văn Viêm đã ngồi sẵn, thấy Cận Hành đến, liền giơ tay ra hiệu: "Bên này."
Bên cạnh cậu chất đầy tàn thuốc, rõ ràng đã đợi khá lâu. Nếu không vì Cận Hành liên lạc qua điện thoại, có lẽ cậu đã nghi ngờ rằng Cận Hành lại bị ai đó bắt nạt chặn đường.
Xung quanh rất đông người, nhưng Cận Hành giờ đây không còn bài xích không khí nhộn nhịp này. Anh ngồi xuống cạnh Văn Viêm, theo thói quen rút khăn giấy lau bàn, nhưng phát hiện bàn đã sạch sẽ, không còn vết dầu mỡ.
Văn Viêm nói: "Em lau rồi."
Cận Hành thấy lạ vì cậu ta lại tỉ mỉ như vậy: "Sao hôm nay lại nghĩ đến mời anh đi ăn nướng?"
Văn Viêm mặc áo thun đen đơn giản, có lẽ vì trời nóng nên cậu xắn tay áo lên, để lộ cánh tay săn chắc. Trên mu bàn tay có hình xăm đầu lâu đã phai màu, kèm theo một vết dầu chưa lau sạch.
"Hôm nay lĩnh lương, dẫn anh đi ăn mừng."
Cận Hành cảm thấy vết bẩn đó có chút khó chịu, liền dùng ngón tay lau đi. Sau đó anh giữ nguyên tư thế, như thể đang nắm lấy tay Văn Viêm: "Sửa xe có mệt không?"
Văn Viêm đương nhiên nói không mệt.
Cận Hành đáp: "Chỉ còn một năm nữa thôi, chúng ta cố gắng vượt qua."
Nói xong, anh buông tay Văn Viêm ra.
Văn Viêm không biết tương lai của họ sẽ ra sao, trong lòng vừa hoang mang vừa mong đợi. Nghe Cận Hành nói vậy, cậu không hiểu tại sao anh lại chắc chắn đến vậy, liền gọi món, sau đó chán nản cắn đầu đũa: "Đại học còn mấy năm nữa cơ mà."
Cậu nằm gục trên bàn, gương mặt nghiêng với những đường nét sắc sảo, dáng vẻ bất cần, điển hình của một tên lưu manh, nhưng lại mang theo sự chân thành.
Cận Hành không biết phải đáp lại thế nào, bèn đùa: "Vậy chẳng phải em phải chu cấp cho anh thêm mấy năm nữa à?"
Văn Viêm không mấy để tâm: "Chuyện nhỏ. Đúng rồi, sao hôm nay anh đến muộn thế?"
Cận Hành thấy món ăn đã được dọn lên đầy đủ, liền gắp một phần cà tím nướng vào bát Văn Viêm, sau đó đeo găng tay nilon bóc tôm:
"Cận Trường Thanh đến tìm anh."
Nghe đến cái tên đó, Văn Viêm ngẩn ra một lúc mới nhớ ra là ai, sắc mặt cậu trầm xuống: "Ông ta tìm anh làm gì?"
Đồng thời, ánh mắt cậu quan sát Cận Hành từ đầu đến chân, muốn chắc chắn rằng anh không bị thương.
Cận Hành luôn kể mọi chuyện bằng giọng điệu hờ hững: "Ông ta đến vay tiền. Anh không cho, nói sẽ báo cảnh sát, thế là ông ta đi."
Văn Viêm vô thức hỏi: "Vậy anh định cho à?"
Cận Hành nhìn cậu, cười như không cười: "Em nghĩ sao?"
Văn Viêm hiểu rồi.
Ăn đồ nướng mà không có bia thì không hợp, Văn Viêm gọi món tiện tay chọn vài chai, nhưng khi mang lên mới nhận ra một mình uống không hết. Cận Hành mở một chai bia: "Cùng uống đi."
Văn Viêm giữ tay anh lại, lầm bầm: "Anh còn đi học, uống bia làm gì?"
Nghe câu này, cứ như thể cậu không còn đi học vậy.
Cận Hành vạch một đường giữa chai bia: "Anh chỉ uống nửa chai, phần còn lại em uống."
Văn Viêm cảm thấy có thể chấp nhận, nên buông tay ra. Nhưng không hiểu sao, việc dẫn Cận Hành đi uống bia khiến cậu có chút cảm giác tội lỗi.
Trong bữa ăn, cậu uống hết bốn chai bia bên cạnh mình, chỉ để Cận Hành uống hai ly nhỏ.
Văn Viêm tửu lượng tuy tốt, nhưng uống liền mấy chai cũng không tránh khỏi hơi men, bước chân có chút loạng choạng.
Cận Hành khí chất nhã nhặn, lạnh lùng, khi ngồi tại chỗ còn sạch sẽ hơn cả ánh trăng trên ngọn cây. Anh đường hoàng ôm lấy Văn Viêm vào lòng, sau đó dẫn cậu về nhà.
Văn Viêm nghiêng đầu, liền có thể thấy yết hầu hơi nhô của Cận Hành, chớp mắt vài cái: "Em không say."
"Anh biết." Cận Hành nhìn cậu một cái. "Nhưng anh muốn ôm em."
Văn Viêm uống rượu đến đỏ bừng cả mặt, bước chân loạng choạng. Khi Cận Hành đỡ lấy vai cậu, người qua đường nhìn vào cũng chỉ nghĩ anh đang dìu một kẻ say về nhà, hoàn toàn không thể đoán được ý nghĩ ẩn sâu trong đó.
Văn Viêm không nói gì, giả bộ say rượu, cắn một cái lên vành tai của Cận Hành.
Cận Hành mặc kệ cậu cắn, dù sao cũng chẳng đau. Đến khi về tới nhà, anh thuận tay đóng cửa, bế ngang người cậu lên, cúi xuống đặt lên giường.
Không cần nói gì, họ tự nhiên hôn nhau, hơi thở tràn ngập hương vị vấn vương. Tăng lên không chỉ là nhiệt độ cơ thể mà còn cả nhịp tim.
Cận Hành giữ lấy cằm Văn Viêm, trêu đùa giữa môi răng của cậu. Những ngón tay thon dài luồn qua mái tóc cậu, sau đó từ từ siết chặt, giọng nói mơ hồ hỏi: "Em có chắc là mình chưa say không?"
Văn Viêm nhìn lên trần nhà, chớp mắt chậm rãi: "Em thấy mình vẫn ổn?"
Cậu cảm thấy suy nghĩ của mình vẫn rõ ràng, chỉ là bị nụ hôn của Cận Hành làm cho choáng váng. Cậu vòng tay ôm lấy eo anh, kéo sát về phía mình, rồi vén áo của anh lên, động tác thuần thục như thể đã quen từ lâu.
Hôm nay, Cận Hành muốn thử một tư thế khác. Anh để Văn Viêm ngồi đối diện trong lòng mình. Nụ hôn mang theo men rượu rải khắp đôi mày, ánh mắt của cậu. Khi tiến sâu hơn, cả hai đều có cảm giác như xương cốt và linh hồn hòa làm một.
"Cận Hành... ưm..."
Giọng của Văn Viêm khàn đặc, siết chặt lấy vai của Cận Hành. Không biết mỗi ngày anh làm thế nào mà nghĩ ra nhiều cách đến vậy. Lưng cậu căng thành một đường thẳng, rồi lại run rẩy, co giật vì khoái cảm mãnh liệt.
Cận Hành chỉ ôm lấy cậu, hôn khắp từng ngóc ngách. Trong phòng dù mở máy lạnh nhưng vẫn khó xua đi hơi nóng trong cơ thể.
Lúc này, Văn Viêm thực sự cảm thấy mình có chút say, kiệt sức nằm gục xuống giường, chỉ còn hơi thở gấp. Nhưng Cận Hành dường như vẫn chưa thỏa mãn, tiếp tục trêu đùa bên tai cậu, cảm giác ngứa ngáy chạy dọc sống lưng.
Văn Viêm chớp mắt, tầm nhìn hơi mờ. Không biết là mồ hôi hay nước mắt khiến mắt cay xè, chỉ thấy trước mắt toàn là sương mù. Cậu đành nâng mặt Cận Hành, ngẩng đầu đáp lại nụ hôn của anh, như một kẻ nghiện nặng.
Cận Hành thấp giọng hỏi: "Anh là ai?"
Văn Viêm mơ màng gọi tên anh: "Cận Hành..."
Cận Hành...
Người thiếu niên mà cậu yêu, người mà cậu muốn đặt trên đầu quả tim để bảo vệ cả đời.
Chương 155
Cận Hành vẫn chưa hài lòng với câu trả lời này. Anh cúi xuống hôn lên yết hầu nhô cao của Văn Viêm, đầu lưỡi nhẹ lướt qua, cảm giác như sợi tơ mỏng manh, tựa như đang dạy cậu phải nói ra điều gì: "Cận Hành là ai của em?"
Văn Viêm ngẩng đầu, bất lực siết chặt lấy sau đầu anh: "Cận Hành là..."
Cậu mấp máy môi không thành tiếng, ánh mắt mờ mịt, dường như không biết phải diễn tả suy nghĩ của mình ra sao.
Cận Hành rất kiên nhẫn: "Cận Hành là ai?"
Ánh mắt Văn Viêm tập trung lại trong chốc lát: "Là..."
Cận Hành nhướng mày: "Ai?"
Cuối cùng, Văn Viêm thì thầm vài chữ: "Là người em thích..."
Cận Hành không nói gì, nhưng tình trạng tiếng nói vỡ vụn của Văn Viêm đã trực tiếp phơi bày nội tâm đang trào dâng của anh. Loại cảm xúc vô danh ấy còn sâu hơn đêm tối, nóng bỏng hơn ánh mặt trời, cuối cùng chỉ lặng lẽ lăn trong cổ họng, khóa chặt trong nụ hôn.
...
Nửa đêm, Cận Hành ngủ say. Anh ngủ rất sâu, hơi thở đều đặn, ôm chặt lấy Văn Viêm trong tư thế vừa bảo vệ vừa chiếm hữu. Có lẽ đến giây phút này, anh mới cảm nhận rõ ràng rằng mình đã nắm giữ được thứ gì đó.
Văn Viêm vẫn còn tỉnh, cậu tựa vào lòng Cận Hành nhắm mắt nghỉ ngơi một lúc, cho đến khi chiếc điện thoại dưới gối kêu lên một tiếng, mới nhẹ nhàng ngồi dậy, vén chăn xuống giường.
Cận Hành khẽ động, như cảm nhận được điều gì, nhưng không mở mắt, chỉ ngái ngủ hỏi: "Sao vậy?"
Văn Viêm dừng động tác mặc áo, qua một hai giây mới đáp: "Trong nhà hết giấy rồi, em xuống siêu thị mua một ít."
Phía sau im lặng, không có bất kỳ động tĩnh nào, Cận Hành không nghi ngờ, đã chìm vào giấc ngủ lần nữa.
Văn Viêm nhẹ nhàng rời khỏi phòng, cũng nhẹ nhàng đóng cửa lại, nhìn qua điện thoại một cái, sau đó bước nhanh xuống tầng dưới.
Góc phố vắng có mấy tên côn đồ đứng tụ tập, chia thành từng nhóm nhỏ, thỉnh thoảng lại ngó nghiêng xung quanh như đang đợi ai đó. Một trong số họ chính là Từ Mãnh. Hắn thấy Văn Viêm đi xuống, lập tức bước lên đón: "Người đó tìm thấy rồi, nhưng không chắc có phải không, mày phải tự mình đến xem."
Văn Viêm gật đầu, ánh mắt tối sầm: "Người ở đâu?"
Từ Mãnh đáp: "Dưới chân cầu đang ngủ, sợ dọa ông ta chạy mất nên chưa dám động đến, tao đã bảo Thuận Tử theo dõi rồi."
Khu này nói lớn không lớn, nói nhỏ không nhỏ, bình thường cũng chẳng có nhiều người ngoài đến. Tìm một kẻ mắc nợ ngập đầu, đường cùng lẩn trốn thực ra chẳng khó khăn gì.
Cận Trường Thanh không xu dính túi, không có chỗ ở, mỗi ngày chỉ có thể tạm bợ trên đường hoặc dưới gầm cầu. Nhưng đến mức khốn cùng như thế, ông ta vẫn không chịu tìm một công việc tử tế, trong mơ còn lẩm bẩm gì đó, chắc đang mơ đến chuyện giàu sang trong một đêm.
Khi Văn Viêm dẫn người tới, Cận Trường Thanh đang ngủ ngon lành trong góc, đàn muỗi bay loạn giữa đêm cũng chẳng làm phiền được ông ta.
Từ Mãnh nhìn Văn Viêm: "Là người này sao?"
Bầu trời đêm tối tăm, nhưng vẫn lờ mờ thấy được đường nét ngũ quan. Văn Viêm mặt không cảm xúc dùng đèn điện thoại rọi vào mặt Cận Trường Thanh, sau đó đá mạnh một cú làm ông ta lật người:
"Là ông ta."
Cú đá khá nặng, dù Cận Trường Thanh ngủ say như chết cũng không thể không tỉnh dậy. Ông ta nhíu mày, mơ màng mở mắt, vừa thấy một đám người vây quanh mình, còn dùng đèn pin chiếu thẳng vào mắt, sợ đến mức giật bắn mình, vội vàng bật dậy khỏi đất: "Mấy người là ai?!"
Ông ta còn tưởng đó là người của bọn cho vay nặng lãi, dựa vào tường miễn cưỡng đứng vững, mặt mày hoảng loạn, chân run lên bần bật.
Văn Viêm không nói lời nào, chỉ túm lấy cổ áo ông ta ép mạnh vào tường, phát ra một tiếng "bịch" nặng nề. Tên kia đau đến suýt nữa hét lên, nửa bên mặt bị ép sát vào bức tường thô ráp, cọ đến mức rát bỏng.
Ông ta khó khăn quay đầu lại, giọng lắp bắp: "Đạ... đại ca... Có chuyện gì từ từ nói... Tôi có tiền nhất định sẽ trả mà..."
Câu nói còn chưa dứt, ông ta đã bị ăn một cú đấm nặng vào phần eo sau, đau đến tái mét mặt mày, không ngừng cầu xin. Nhưng cậu thiếu niên phía sau lại không có ý định buông tha dễ dàng như vậy.
Văn Viêm đã lâu không gây sự, nhưng một khi sự tàn nhẫn trong ánh mắt cậu bộc phát, thì rất khó mà thu hồi. Cậu lạnh lùng hỏi ông ta: "Có biết vì sao tôi tìm ông không?"
Ông ta tất nhiên không biết, từ lâu đã quên mất Văn Viêm là ai, làm sao nhớ được lý do cậu tìm đến. Giọng run run, hoảng loạn: "Không... không biết..."
Văn Viêm nhắm mắt lại, chậm rãi thở ra một hơi, rõ ràng không hài lòng với câu trả lời này. Cậu kéo ông ta ném mạnh xuống đất, vừa khéo đẩy vào một góc. Những người đi cùng Văn Viêm lập tức hiểu ý, nhào lên đánh ông ta một trận nhừ tử.
Văn Viêm quay lưng lại, châm một điếu thuốc. Vì vừa trải qua một trận kích tình, khóe mắt đuôi mày cậu vẫn còn vương nét lười nhác. Một tia lửa nhỏ đỏ rực bừng sáng trong hầm cầu, khói thuốc chưa kịp hình thành đã bị làn gió đêm cuốn đi.
Từ Mãnh không tham gia vào trận đánh, chỉ liếc nhìn Văn Viêm, giọng đầy ẩn ý: "Gần đây mày làm việc càng ngày càng thiếu cân nhắc rồi."
Trước đây, mỗi lần đánh nhau, Văn Viêm đều biết dừng đúng lúc, đánh đủ rồi sẽ dừng. Nhưng từ khi quen biết Cận Hành, mỗi lần ra tay cậu đều tàn nhẫn hơn, và giới hạn cũng bị hạ xuống từng chút một, giống như một con chó điên mất hết ràng buộc.
Văn Viêm chẳng buồn để ý, chỉ ậm ừ qua loa, ngước nhìn bầu trời đêm cuồn cuộn sắc tối xa xăm, nhả ra một làn khói mỏng: "Yên tâm, không chết người đâu."
Cậu không phản bác lời Từ Mãnh, thậm chí còn cảm thấy như vận mệnh đã định là thế.
Từ Mãnh buông một câu chửi tục: "Mẹ kiếp, ông đây lười quản mày!"
Người khác không hiểu Văn Viêm, chẳng lẽ hắn còn không hiểu sao? Chuyện đã rõ ràng đến mức này, nếu Từ Mãnh còn không đoán ra được mối quan hệ giữa hai người kia, thì khác nào mù quáng!
Ngạc nhiên à? Đương nhiên là có, nhưng còn sâu hơn là một cảm giác bất lực.
Từ Mãnh cảm thấy Văn Viêm điên thật rồi, lúc nào cũng thích làm những chuyện không được thế tục dung tha. Nhưng hắn cũng chẳng can thiệp hay khuyên bảo được gì.
Văn Viêm hút xong điếu thuốc mới bảo những người kia dừng tay. Cậu đi đến trước mặt người đàn ông nọ, từ trên cao nhìn xuống hắn hồi lâu, rồi mới cúi người, nhẫn nại hỏi lại: "Giờ đã biết mình sai ở đâu chưa?"
Tên kia bị đánh đến thảm hại, mặt mày bầm dập, chẳng còn nhận ra nổi diện mạo ban đầu. Nghe vậy, ông ta gật đầu rồi lại lắc đầu, vừa muốn khóc vừa không còn nước mắt, rõ ràng vẫn chưa nghĩ ra được nguyên do.
Văn Viêm ném đầu lọc xuống đất, giọng vô cảm: "Nhớ kỹ, hôm nay ông đã gặp ai."
Gặp ai?
Hôm nay ông ta chỉ gặp mỗi Cận Hành thôi mà...
Đầu óc xoay mấy vòng, cuối cùng cũng phản ứng kịp, đồng tử co rút, hoàn toàn không ngờ rằng Văn Viêm lại vì Cận Hành mà ra mặt. Ông ta bối rối sợ hãi: "Tôi tôi tôi..."
Ấp úng cả nửa ngày, chẳng biết mình đang nói cái gì.
Văn Viêm mất hết kiên nhẫn. Cậu túm lấy tóc ông ta, ép mạnh xuống đất, từng chữ một, giọng trầm thấp: "Nhớ kỹ lời tôi, sau này nếu còn dám xuất hiện trước mặt Cận Hành, để tôi phát hiện được, tháo tay tháo chân chỉ là nhẹ nhàng thôi. Hôm nay chỉ là cảnh cáo, rõ chưa?"
Ông ta bị đập đến choáng váng, máu mặn chát từ trán chảy xuống, làm mờ cả tầm nhìn. Hiện giờ mạng sống của ông ta đang nằm trong tay người khác, không đáp ứng chẳng phải đường chết hay sao, chỉ có thể vội vàng gật đầu: "Rõ! Rõ! Tôi sau này sẽ không xuất hiện trước mặt Cận Hành nữa. Tôi tôi tôi... Tôi thấy thằng bé liền tránh xa ngay! Xin cậu tha cho tôi!"
Văn Viêm không biết ông ta nói thật hay giả, nhưng ngoài việc tin, cậu cũng chẳng còn cách nào khác. Dù sao cũng không thể thật sự đánh chết ông ta. Cậu buông ông ta ra, giọng lạnh lùng: "Nhớ kỹ lời ông nói."
Nói xong đứng dậy, dẫn người rời đi.
Lúc về nhà, cậu ghé vào một cửa hàng tiện lợi 24 giờ dưới lầu, mua mấy cuộn giấy vệ sinh, lại mua thêm ít đồ ăn vặt. Cầm theo túi lớn đồ đạc, bước ra khỏi cửa hàng, ánh mắt thoáng nheo lại nhìn con phố vắng vẻ.
Không biết Cận Hành đã tỉnh hay chưa, nhưng tốt nhất là chưa. Chuyện này không cần thiết để anh biết.
Văn Viêm lấy một chai nước khoáng, ngồi xổm bên đường rửa sạch vết máu trên tay, rồi mới xách đồ lên lầu. Khi cậu đẩy cửa vào nhà, bên trong yên tĩnh, đoán rằng Cận Hành vẫn còn đang ngủ. Cậu nhanh chóng tắm qua, rồi mò mẫm trong bóng tối chui vào chăn.
Cận Hành theo thói quen ôm lấy cậu, giọng khàn khàn: "Đi mua đồ sao lâu vậy mới về..."
Văn Viêm nghĩ, chẳng lẽ lại nói ra chuyện vừa đánh ba anh một trận? Mắt mở to nhìn lên trần nhà, cậu mất khoảng mười giây để bịa ra một câu nói dối cực kỳ lố bịch: "Trời tối quá, đi mua đồ không nhìn rõ, nên đi lạc."
Cận Hành mà tin thì đúng là quái lạ. Anh cúi xuống hôn lên làn da ẩm lạnh của cậu, giọng chắc nịch: "Em vừa đánh nhau."
Văn Viêm chớp mắt: "Đánh một chút thôi."
Cận Hành cũng chẳng hỏi thêm gì. Anh chỉ sờ soạng trong chăn, kiểm tra xem cậu có bị thương hay không, sau đó thu tay lại, nói một câu: "Ừ, sau này bớt đánh đi."
Văn Viêm đáp: "Mai còn phải đi học, ngủ sớm đi."
Cậu biết Cận Hành chẳng có tình cảm gì với ba mình, nhưng khi làm những chuyện này, cậu vẫn theo bản năng tránh mặt anh. Không có lý do gì cả, đánh nhau vốn không phải là việc tốt, nếu không phải bất đắc dĩ, Văn Viêm cũng chẳng muốn dính dáng đến.
Những ngày sau đó, gió yên biển lặng. Kỳ nghỉ hè trôi qua trong chớp mắt, Cận Hành cũng chính thức lên lớp 12. Trong suốt khoảng thời gian đó, ba anh không hề xuất hiện, dường như lần gây rối hôm đó chỉ là một đoạn nhạc đệm không đáng kể.
Góc trên bên phải bảng đen lớp 9 có một dòng chữ đếm ngược kỳ thi đại học. Mỗi ngày, cán bộ kỷ luật đều thay đổi số ngày còn lại để nhắc nhở các bạn thời gian không còn nhiều. Không khí căng thẳng lan khắp phòng học, khiến thần kinh mọi người cũng căng như dây đàn.
Trong lớp, người duy nhất có thể sống qua ngày một cách nhàn nhã có lẽ chỉ có Cận Hành. Trên người anh không thấy chút áp lực học tập nào, lúc nào cũng ung dung thảnh thơi, chậm rãi. Mỗi khi Trình Đậu Đậu bị việc học làm cho rối bời, nhìn thấy anh, dây thần kinh căng thẳng của hắn luôn vô thức thả lỏng một chút.
Trình Đậu Đậu lắp bắp nói: "Cận... Cận Hành, sắp thi đại học rồi, cậu... cậu... cậu không lo lắng sao?"
Hắn cảm thấy dù Cận Hành học giỏi, ít nhiều gì cũng nên có chút căng thẳng chứ.
Cận Hành đã trải qua kỳ thi đại học một lần, dù muốn căng thẳng cũng không thể. Trong cuộc đời anh đã xảy ra quá nhiều chuyện, mỗi một chuyện nếu lấy ra đều kinh tâm động phách hơn cả kỳ thi đại học.
"Ồ, tôi lo lắng lắm chứ, chỉ là các cậu không nhìn ra thôi."
Cận Hành nói xong, dường như để chứng minh lời mình là thật, anh lấy một gói đồ ăn vặt từ trong ngăn bàn ra, ăn hai miếng rồi mới nói: "Ăn chút gì đó giúp giảm bớt áp lực tinh thần, cậu cũng có thể thử xem."
Trong ngăn bàn anh mỗi ngày đều chất đầy đồ ăn vặt, không biết là ai gửi đến, có lẽ là học sinh khác trong lớp 9. Dù sao cũng đầy ắp, cái gì cũng có. Anh ăn hết rồi, hôm sau lại có thêm một đống mới, ăn mãi không hết.
Trình Đậu Đậu lắc đầu: "Không... không được, tôi vẫn thấy căng... căng thẳng."
Chương 156
Thời gian còn lại trước kỳ thi đại học giống như một tảng đá lớn treo trên đầu, mỗi ngày đều từ từ hạ thấp, dù là người vô tâm vô tính cũng ít nhiều cảm thấy lo lắng. Cận Hành cũng không biết phải khuyên thế nào, có áp lực cũng tốt, có áp lực mới có động lực.
Anh không biết nhớ tới điều gì, từ trong ngăn bàn lấy ra một tập đề bài được in bằng quỹ lớp, mỗi bài ba trang, tập hợp hầu hết các dạng bài cơ bản môn Toán.
Cận Hành rút ra một tờ đưa cho Trình Đậu Đậu: "Giờ nghỉ làm một chút đi, làm xong đưa tôi sửa."
Mỗi cuối tuần anh đều đến nhà Trình Đậu Đậu để phụ đạo, tiền công tính theo giờ rất cao. Thành tích của hắn cũng đã có sự cải thiện rõ rệt, ít nhất mỗi lần thi đều ổn định trong top 10 của lớp, chỉ là môn Toán vẫn còn hơi yếu.
Trình Đậu Đậu chỉ khi làm bài tập mới cảm thấy nhẹ nhõm hơn một chút. Với kiểu người chăm chỉ như hắn, một khi nhàn rỗi sẽ có cảm giác tội lỗi. Thấy vậy, hắn vội vàng nhận lấy, cúi đầu tính toán ngay tại chỗ.
Nhóm học tập do cô Sầm thành lập thực ra cũng có chút hiệu quả, một số học sinh có khả năng tự chủ kém được các nhóm trưởng đốc thúc cũng ít nhiều học được một chút, điểm trung bình của lớp kéo lên không ít.
Cận Hành lần lượt phát từng phần bài tập còn lại. Đây là những dạng bài tiêu biểu mà anh đã chọn lọc kỹ lưỡng từ rất nhiều đề thi. Chỉ cần luyện thành thạo, chưa nói đến việc đạt điểm cao, nhưng điểm cơ bản nhất định có thể giành được.
Dạo này Châu Khải làm bài đến phát điên, vừa nhìn thấy bài Cận Hành phát, mắt hắn lập tức xoáy tròn như muỗi. Hắn vỗ mạnh vào mặt để tỉnh táo, vừa lẩm bẩm tự nhủ: "Bình tĩnh, bình tĩnh!"
Những người khác cũng chẳng khá hơn là bao.
Hằng ngày học đến khuya, sáng sớm lại phải bò dậy đi học, ai nấy đều mắt thâm quầng như gấu trúc.
Cận Hành thấy vậy liền nhìn chồng đề bài trong tay: "Hay là mai hãy làm?"
Châu Khải còn chưa kịp trả lời, những người khác nghe thấy đã vội phấn chấn, tay chân lóng ngóng giằng lấy đống bài tập trên tay Cận Hành, sợ anh đổi ý: "Đừng đừng đừng, làm luôn hôm nay, việc hôm nay không để ngày mai."
"Tôi còn có thể chiến thêm một trăm năm nữa!"
"Châu Khải không làm, chúng tôi làm!"
Châu Khải sốt ruột: "Ai mẹ nó bảo tôi không làm, ra đây!"
Môi trường phần lớn sẽ ảnh hưởng đến một người. Lớp 9 dù học sinh kém nhiều, nhưng trong tình huống mà mọi người đều làm bài như thế này, ít nhiều cũng bị tác động. Trước đây bọn họ học kém, một nửa là vì không thích học, một nửa còn lại là vì không tìm được phương hướng.
Thầy cô khó mà quan tâm chu toàn đến từng người trong lớp. Tan học coi như xong nhiệm vụ, khả năng cao sẽ không quản chuyện ngoài giờ. Có người nghe không hiểu bài, sống ngày qua ngày mơ mơ hồ hồ, những thứ không biết ngày càng nhiều, đến cuối cùng dứt khoát bỏ cuộc.
Cận Hành mỗi ngày đều giao bài tập, không nhiều không ít, vừa đủ 20 câu. Vừa nhìn qua đều là những câu rất đơn giản, nhưng mức độ khó sẽ tăng dần theo từng bậc. Đề ngày hôm sau sẽ mở rộng biến đổi trên cơ sở đề ngày hôm trước.
Có người càng làm về sau càng sốt ruột, vò đầu bứt tai. Phía trước đã làm được, không lý nào phía sau lại không làm ra. Không ai có thể phủ nhận cảm giác thành tựu vô song khi một học sinh kém lâu năm giải được một bài khó.
Huống chi Cận Hành hiện tại coi như hy sinh thời gian của bản thân để vô tư giúp họ bổ túc, phải ngốc nghếch đến mức nào mới từ chối chứ?
Chồng bài tập dày nhanh chóng được chia sạch.
Khi cô Sầm bước vào lớp, thấy học sinh đang cúi đầu làm bài, thỉnh thoảng có vài người nói chuyện cũng là để thảo luận bài, trong lòng không khỏi ấm áp. Nhưng không biết nghĩ đến điều gì, cô lại nhíu mày lo lắng.
Cận Hành đang giảng bài cho Nhan Na, bất ngờ nghe thấy có người gọi mình, theo bản năng nhìn theo tiếng gọi, liền thấy cô Sầm đứng ở cửa, ra hiệu cho anh: "Cận Hành, em ra đây một chút."
Nhan Na uống một ngụm trà sữa, cảm thấy hơi ngấy liền đặt xuống. Không hiểu gì ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa: "Cô tìm cậu làm gì?"
Phải nói rằng học sinh khiến cô yên tâm nhất trong lớp không ai ngoài Cận Hành, học giỏi lại ngoan ngoãn, xứng đáng làm hình mẫu toàn trường, chưa bao giờ gây chuyện.
Cận Hành cũng không biết, anh liếc nhanh vài câu hỏi phía sau của Nhan Na, khoanh tròn một câu:
"Câu này sai rồi, cậu làm lại đi, lát nữa tôi quay lại xem."
Nói xong, anh đặt bút xuống, bước ra khỏi lớp trong ánh mắt theo dõi của mọi người.
Cả lớp thấy vậy liền xì xào bàn tán: "Sắc mặt cô Sầm có vẻ không đúng, liệu có chuyện gì xảy ra không?"
Ủy viên học tập nắm bắt thông tin khá nhanh nhạy: "Mấy lần thi vừa rồi, Cận Hành đều vượt qua thủ khoa của lớp 1. Nghe nói thầy cô lớp 1 muốn chuyển cậu ấy lên lớp chuyên, nhưng cô Sầm không đồng ý, vẫn đang thương lượng."
Lời này vừa dứt như một tảng đá ném vào mặt nước phẳng lặng, khiến sóng gợn khắp nơi. Cả lớp 9 lập tức xôn xao, ngay cả Nhan Na cũng sững sờ.
"Chết tiệt, lớp mình vất vả lắm mới có một học bá, kết quả là chưa ngồi nóng chỗ đã bị điều đi rồi?"
"Lãnh đạo trường cũng quá thực dụng, ban đầu không chịu phá lệ chuyển Cận Hành vào lớp chuyên, bây giờ thấy thành tích cậu ấy ổn định lại đổi ý, muốn gọi thì đến, muốn đuổi thì đi, xem Cận Hành là cái gì vậy."
"Những học sinh giỏi của lớp một đều không dễ chọc vào, lỡ cậu ấy chuyển qua đó mà bị cô lập thì làm sao?"
"Điểm số tệ của tôi mới cải thiện được chút xíu, chết tiệt!"
Mặc dù Cận Hành thường ngày ít nói trầm lặng, nhưng không thể phủ nhận rằng anh một mình gánh vác trọng trách học tập của lớp chín, ở một góc độ nào đó đã trở thành trụ cột tinh thần của cả lớp. Nếu thật sự bị điều đi, chưa nói đến những thứ khác, không khí học tập trong lớp chắc chắn sẽ sụp đổ.
Cô Sầm dẫn Cận Hành đến văn phòng khối. Vì học sinh lớp mười hai đều bận rộn, thời điểm này văn phòng cũng không có mấy người. Cô kéo một chiếc ghế ngồi xuống, đồng thời ra hiệu cho Cận Hành ngồi đối diện, suy nghĩ một chút rồi mới lên tiếng: "Cô đã xem qua, điểm số của em mấy kỳ thi gần đây đều rất tốt."
Lớp chọn là nơi được trường trung học số sáu đảm bảo chỉ tiêu trọng điểm, nhưng vài học sinh giỏi nhất của lớp đều ít nhiều có môn học yếu thế, chỉ riêng Cận Hành là các môn đều ổn định, khi phát huy xuất sắc còn có thể gần đạt điểm tuyệt đối.
Cận Hành không nói gì, chỉ lặng lẽ chờ cô tiếp tục.
Cô Sầm thở dài: "Tổ trưởng Miêu đã bàn bạc với ban lãnh đạo nhà trường, muốn điều em qua lớp của họ. Hiện tại cô vẫn chưa đồng ý, muốn nghe ý kiến của em trước."
Mặc dù môi trường học tập cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến thành tích, nhưng Cận Hành rõ ràng là kiểu người không bị tác động bởi điều này. Trong lòng cô Sầm không muốn anh bị điều đi, một phần vì lớp chín, phần khác là vì lớp chọn rất khép kín, thế nên cô đã cố gắng trì hoãn trả lời.
Nói cho cùng, dù lãnh đạo nhà trường quyết định thế nào, vẫn phải xem ý kiến của học sinh.
Cận Hành lắc đầu từ chối: "Không cần."
Cô Sầm thở phào nhẹ nhõm, sau đó lại ân cần hỏi: "Em lo lắng không hòa nhập được với môi trường mới à?"
Câu hỏi này hoàn toàn dư thừa. Cận Hành chưa bao giờ có ý định hòa nhập vào bất kỳ tập thể nào, thực tế anh sống độc lập, một mình cũng rất thoải mái: "Lớp chín rất tốt, không cần thiết phải chuyển."
Cô Sầm vỗ vai anh, dịu giọng nói: "Được rồi, cô đã biết ý của em, đến lúc sẽ báo lại với ban lãnh đạo nhà trường. Gần vào giờ học rồi, em về lớp trước đi."
Cận Hành gật đầu cảm ơn, rời khỏi văn phòng.
Còn vài phút nữa là vào lớp, nhưng hành lang lại vắng tanh. Qua lớp kính cửa sổ, có thể nhìn thấy đa số học sinh đều đang cắm cúi viết bài. Nắng mặt trời nóng gắt đến mức làm những bụi cây xanh trong bồn hoa bên ngoài cũng héo rũ. Cận Hành vừa bước ra khỏi văn phòng, trên người còn vương chút hơi lạnh của điều hòa, nhưng chẳng bao lâu đã bị cái nóng bức bối xua tan.
Lớp chín bình thường khi không có giáo viên thì vô cùng ồn ào, hôm nay lại yên tĩnh đến lạ. Ít nhất là khi Cận Hành bước vào lớp, anh cảm nhận được bầu không khí có chút khác thường, nhưng lại không thể nói rõ khác ở chỗ nào, chỉ thấy im ắng đến mức hơi quá đáng.
Cận Hành cho rằng họ đã nghịch ngợm mệt rồi nên không để ý, đi đến chỗ ngồi định ngồi xuống. Không ngờ có người bất thình lình hỏi to: "Cận Hành, cậu sắp chuyển sang lớp chọn à?"
Cận Hành hơi sững người, sau đó lấy lại tinh thần: "Ai nói?"
Người đó chỉ về phía lớp trưởng: "Lớp trưởng nói đấy."
Lớp trưởng bị oan, mặt đỏ bừng, cố cãi: "Tôi nghe giáo viên nói mà."
Cận Hành không trả lời.
Tư thế của anh rơi vào mắt mọi người, lại thành minh chứng cho tin đồn anh sắp chuyển sang lớp chọn. Cả lớp vừa lo lắng, vừa bất lực, lại không biết làm sao để ngăn cản.
Người ta nói đúng, chim tốt chọn cây mà đậu, chuột đào hang cũng phải tìm nơi tốt, huống chi là con người. Thời gian qua, thành tích của Cận Hành mọi người đều thấy rõ, anh sang lớp chọn chắc chắn là nhân vật đỉnh cao, nhưng lại chịu ở lại lớp chín – lớp của những học sinh kém, ai mà không muốn đổi chỗ tốt hơn?
Mặc dù không muốn anh đi, nhưng họ cũng không thể cản anh tiến bộ được.
Châu Khải thấy xung quanh không ai lên tiếng, sợ Cận Hành ngồi một mình khó xử, bèn mạnh dạn đứng lên, hắng giọng nói: "Thế này... chuyển sang lớp chọn cũng tốt mà. Nếu không phải vì trượt kỳ thi tuyển, thật ra cậu cũng nên ở lớp chọn từ trước rồi, là chuyện tốt, là chuyện tốt..."
Những người khác không nói gì, chỉ thầm nghĩ "tốt cái quái gì", từng ánh mắt đầy oán trách nhìn anh, giống như những người vợ bị bỏ rơi.
Trình Đậu Đậu là người ngốc nghếch, nhưng được cái thật thà. Làm bạn cùng bàn với Cận Hành đã lâu, cũng có tình cảm: "Sư phụ, cậu định bỏ rơi bọn tôi thật sao?"
Nhan Na ở phía sau đang uống trà sữa, nghe vậy thì suýt nữa bị sặc, mắt trợn trắng. Người khác không biết, nhưng cô biết rõ, Cận Hành căn bản chẳng hứng thú gì với lớp chọn. Hơn nữa, Cận Hành bên lớp một vẫn luôn coi anh là cái gai trong mắt, làm sao có khả năng anh sang lớp chọn được chứ?
Bình thường không nhận ra, tình cảm của lớp chín thật sự phong phú thế này sao?
Cận Hành đối mặt với ánh mắt dò xét của mấy chục người, chậm rãi ngồi xuống chỗ mình, liếc nhìn xung quanh, sau đó bình tĩnh hỏi: "Ai nói tôi muốn chuyển sang lớp chọn?"
Châu Khải ngẩn ra: "Hả? Không phải cô Sầm vừa gọi cậu lên văn phòng à?"
Cận Hành lấy bút ra, mở nắp, tiếp tục làm bài thi còn dang dở, nghe vậy thì "ừ" một tiếng: "Cô gọi, nhưng tôi đâu có nói là sẽ đi."
Ý ngoài lời, các cậu nghĩ nhiều rồi.
Đám học sinh kém của lớp chín ngơ ngác kinh ngạc, không thể tin được. Nơi người ta chen chúc tìm cách vào, Cận Hành lại từ chối?! Nghe được tin này, họ vừa vui, vừa ngạc nhiên, lại vừa áy náy.
Hóa ra Cận Hành từ đầu đến cuối chưa từng định đi, bọn họ vậy mà còn làm vẻ mặt đau khổ như bị bỏ rơi, thật mất mặt!
Trình Đậu Đậu ấp úng hỏi: "Cận Hành, cậu không đi là vì bọn tôi sao?"
Những người khác trong lớp chín cũng đầy hy vọng nhìn anh.
Ở tuổi mười bảy mười tám, bất kể nam hay nữ, quả nhiên không thể thoát khỏi hai chữ "tự luyến".
Ngòi bút của Cận Hành khựng lại một chút, không biết nên trả lời thế nào, chỉ có thể chậm chạp nói: "...Các cậu nghĩ vậy thì cứ coi là vậy đi."
Cả lớp chín: Hu hu! Cảm động quá!
Chương 157
Văn Viêm trước đây đã quen sống một mình, nhưng không biết từ khi nào, cậu bắt đầu thích cảm giác hai người ở bên nhau. Giống như một con đường, ba người thì chật, một người thì trống trải, hai người thì vừa đủ.
Cậu và Cận Hành, hai người.
Tan học, họ vẫn như thường lệ cùng nhau về nhà. Văn Viêm lấy chìa khóa ra mở cửa, vặn một vòng, lông mày khẽ nhíu lại, nhận ra có điều không đúng, bởi vì cửa vốn không khóa.
Văn Viêm bất giác ngừng động tác, theo phản xạ quay đầu nhìn Cận Hành, giọng nói đầy nghi hoặc: "Hôm nay lúc đi học, em có khóa cửa không?"
Cận Hành gật đầu: "Có, anh đã nhìn em khóa mà."
Văn Viêm lẩm bẩm: "Mẹ nó, không lẽ có trộm?"
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì thấy không hợp lý. Khu này có lắp camera giám sát, kể cả trộm cắp cũng sẽ không chọn nơi này để xuống tay.
Cậu nheo mắt, không để lộ vẻ gì, đẩy cửa ra để kiểm tra tình hình. Nhưng vừa bước được hai bước, chân cậu đã đạp phải thứ gì đó cứng cứng. Nhìn xuống, cậu thấy một đôi giày.
Đó là đôi giày của phụ nữ.
Gót giày cao, phần thân màu đen, quanh mép giày có một vòng dây xích bạc mảnh mai, vừa nhìn đã có thể tưởng tượng được dáng vẻ quyến rũ khi mang nó.
Văn Viêm hiếm khi sững người, không phản ứng ngay. Cận Hành thấy cậu đứng yên bất động, cũng đưa mắt nhìn theo và phát hiện ra đôi giày cao gót của phụ nữ, liền khẽ ngẩn ra, mơ hồ đoán được điều gì đó: "Có phải là em..."
Chưa kịp nói hết câu, trong phòng ngủ chính bỗng vang lên một giọng nói, ngay sau đó, một người phụ nữ ăn mặc thời thượng bước ra: "A Viêm, con tan học rồi sao?"
Người phụ nữ tên Văn Tư Uyển có đầy đủ tố chất của một mỹ nhân giao thiệp rộng. Dù đã có con gần tốt nghiệp trung học, trông bà cũng chỉ như hơn ba mươi tuổi. Bà vừa mang nét trẻ trung tươi tắn của cô gái nhỏ, lại vừa mang sự mặn mà quyến rũ của phụ nữ trưởng thành. Mái tóc xoăn sóng màu nâu hạt dẻ làm tôn lên làn da trắng ngần của bà, đôi lông mày dài đen nhánh tôn lên đôi mắt tinh anh, lão luyện.
Có vẻ như bà đang thu dọn đồ đạc, trên cánh tay vắt một chiếc áo len không hợp với mùa. Thấy cậu con trai đã lâu không gặp, bà không hề tỏ ra lúng túng hay xa cách, ngược lại còn mỉm cười tiến đến ôm lấy cậu: "A, lâu không gặp mà sao cao quá rồi, mẹ suýt không nhận ra con nữa."
Nhưng không ai biết rằng, cái "lâu" bà nói ra ấy thực chất là gần năm năm không hề hỏi han.
Vậy mà trên gương mặt Văn Viêm không hề có chút vui mừng, cậu nhíu mày, lạnh lùng đẩy bà ra, giọng nói lạnh nhạt không hề giống mẹ con, mà như hai người xa lạ: "Mẹ về đây làm gì?"
Văn Tư Uyển khựng lại, có chút bối rối: "Con nói gì thế, mẹ không thể về sao..."
Bà vừa nói đến đây thì bất giác phát hiện ra Cận Hành đang đứng phía sau, lập tức dừng lại, ánh mắt nghi ngờ nhìn anh: "Cậu là ai?"
Văn Viêm ngay lập tức nghiêng người chắn trước Cận Hành, lén đẩy anh một cái, khẽ chỉ về phía phòng khách: "Anh vào phòng trước đi, lát nữa em sẽ tìm anh."
Hai người họ thường ngủ chung một giường, nếu để Văn Tư Uyển phát hiện ra, chắc chắn sẽ có chuyện. Cận Hành hiểu ý, không nói gì, gật đầu rồi quay người đi vào phòng khách bên cạnh, nhẹ nhàng đóng cửa lại.
Văn Viêm thấy vậy mới thu ánh mắt về, trả lời Văn Tư Uyển: "Bạn cùng lớp của con."
Văn Tư Uyển trợn to mắt: "Bạn cùng lớp mà ở nhà mình sao?"
Văn Viêm giữ bình tĩnh, mặt không đổi sắc nói: "Phòng khách để trống, con cho cậu ấy thuê."
Văn Tư Uyển nghe vậy liền cảm thấy khó chịu, ném chiếc áo khoác lên ghế sofa: "Dù là bạn cùng lớp cũng không tiện ở chung, huống hồ mẹ còn ở đây. Ngày mai tìm lý do bảo cậu ấy chuyển đi đi."
"Muộn rồi," Văn Viêm rút một điếu thuốc trước mặt bà, giọng điệu lãnh đạm, "Cậu ấy đã trả tiền thuê một năm, con không có tiền để trả lại."
Văn Tư Uyển không ngờ con trai mình lại làm vậy. Bà đi đi lại lại trong phòng khách, lông mày mảnh dài nhíu chặt, giọng nói không che giấu sự bực bội: "Thế tiền thuê nhà đâu?"
Văn Viêm thẳng thắn đáp: "Tiêu hết rồi."
Văn Tư Uyển nâng giọng lên: "Tiêu vào cái gì?!"
Văn Viêm: "Uống rượu, chơi game."
"Bốp!"
Cái tát của Văn Tư Uyển giáng xuống bất ngờ, vang lên rõ mồn một. Gương mặt Văn Viêm bị lệch sang một bên, để lại dấu đỏ rõ nét. Cậu đứng yên không nhúc nhích, mãi đến khi đầu thuốc trong miệng cậu rơi xuống, để lại một đốm tro trắng, mới từ từ quay mặt nhìn người phụ nữ đang giận dữ trước mặt.
Ánh mắt cậu không chút biểu cảm, híp lại một cách nguy hiểm.
Cận Hành từ khe cửa nhìn thấy cảnh này, chân vô thức nhích lên một bước, như muốn đi ra, nhưng cuối cùng lại kiềm chế được.
Vẻ thân mật vừa rồi như thể chỉ là một màn kịch. Văn Tư Uyển chỉ tay vào mặt Văn Viêm, ngón tay run lên đầy tức giận như muốn đâm xuyên trán cậu: "Con nhìn lại mình xem đã thành cái dạng gì rồi! Xăm mình, nhuộm tóc, hút thuốc, uống rượu, khác gì đám côn đồ ngoài đường?! Học không chịu học, trường không chịu đến, mẹ nuôi con để làm gì?!"
Lúc bà bỏ đi, Văn Viêm chỉ mới học lớp tám. Khi đó, cậu tuy không ngoan ngoãn, nhưng cũng chưa đến mức nổi loạn như bây giờ. Văn Tư Uyển nhìn mái tóc nhuộm, khuyên tai, hình xăm trên tay, cùng điếu thuốc sắp cháy hết kia, càng nghĩ càng tức điên.
Văn Viêm dập tắt điếu thuốc trên bàn, để lại một vết cháy sẫm màu, dáng đứng ngày càng thô lỗ, không khác gì một tên lưu manh chính hiệu. Cậu lạnh nhạt hỏi: "Mẹ về đây là để dạy dỗ tôi à?"
Nghe câu này, cơn giận của Văn Tư Uyển như bị dập tắt, thay vào đó là vẻ chột dạ khó hiểu. Bà nhíu mày quay người, vuốt lại mái tóc rồi đáp: "Chú Trương của con vì công việc phải sang Canada, mẹ phải theo ông ấy. Lần này về chỉ để báo cho con biết, con giờ cũng lớn rồi..."
Văn Viêm ngắt lời bà: "Chú Trương nào? Thế còn chú Lý, chú Vương trước đây thì sao?"
Cậu cố ý vạch trần lớp mặt nạ của bà, khiến mọi lời che đậy trở nên tr.ần tr.ụi.
Văn Tư Uyển hít sâu một hơi, cố nhẫn nhịn: "Dù con có đồng ý hay không, mẹ với ông ấy đã kết hôn từ hai năm trước. Dù sao con cũng đã trưởng thành, không cần mẹ chăm sóc nữa, sang nước ngoài mẹ cũng yên tâm."
Văn Viêm nghe vậy như thể vừa được kể một trò hề, bật cười giễu cợt, chất vấn: "Chăm sóc? Mẹ từng chăm sóc tôi bao giờ?"
Ngày trước, bà mải mê với những người đàn ông bên ngoài, cả nửa tháng chẳng thèm về nhà một lần. Đến gương mặt bà cậu còn sắp quên mất, nói gì đến chuyện chăm sóc.
Sắc mặt Văn Tư Uyển lúc xanh lúc trắng, nhưng vì chột dạ, bà không muốn tranh cãi thêm. Bà quay người bước vào phòng ngủ chính, tiếp tục thu dọn đồ đạc. Đã nhiều năm không trở về, quần áo trong tủ đã lỗi thời không còn mặc được. Chẳng còn gì để thu dọn, bà chỉ có thể gom hết mấy món trang sức giá trị trong hộp đựng.
Văn Viêm lườm bóng lưng của bà ta, cuối cùng vẫn không làm gì, chỉ lạnh lùng đứng nhìn.
Văn Tư Uyển cảm nhận được ánh nhìn sắc lạnh từ sau lưng mình, không dám quay đầu lại, giọng nói trở nên vội vã: "Sau này mỗi tháng mẹ sẽ chuyển vào tài khoản của con một ít tiền, con tự mà tiết kiệm mà tiêu, mẹ sẽ không cho thêm đâu. Thi đại học chắc con cũng chẳng đậu được trường nào tốt, đến lúc đi làm thì tự nuôi sống bản thân đi."
Chiếc vali xinh đẹp đã được nhét đầy đồ. Văn Tư Uyển kéo khóa lại, chuẩn bị rời đi. Thực ra, vé máy bay của bà là hai ngày sau, hôm nay vốn dĩ muốn ở đây qua đêm, nhưng nhìn không khí căng thẳng như thế này, ở lại cũng chẳng cần thiết.
Văn Viêm ngồi trầm lặng trên sofa, đôi mắt đen láy, lòng trắng ít hơn lòng đen, nhìn chằm chằm vào Văn Tư Uyển như nhìn một người xa lạ, khóe môi nở một nụ cười lạnh lùng: "Không cần mẹ ở đây giả vờ tử tế."
Ngón tay của Văn Tư Uyển hơi run lên. Bà nhìn cậu thật sâu lần cuối, sau đó xoay người mở cửa, bước ra ngoài, giày cao gót gõ từng nhịp lạnh lùng vang vọng, cuối cùng rời đi như cơn gió.
Sau trận cãi vã, căn phòng trở nên im lặng như tờ, chỉ còn lại tiếng máy điều hòa đang hoạt động. Cận Hành mím môi, qua khe cửa nhìn tình trạng của Văn Viêm, chỉ thấy cậu vẫn duy trì tư thế như cũ, không nhúc nhích.
Không biết đã bao lâu, có lẽ một phút, hai phút, hoặc cũng chỉ là vài giây ngắn ngủi. Đúng lúc Cận Hành định bước ra ngoài thì Văn Viêm cuối cùng cũng nhúc nhích. Cậu bất chợt bật dậy từ sofa, bước thẳng đến bên cửa sổ, sau đó xoạt một tiếng kéo mạnh rèm cửa kính—
Dưới lầu, một chiếc xe hơi màu đen đang đậu.
Khi Văn Tư Uyển kéo hành lý bước đến, cửa xe được mở ra. Từ trong xe, một người đàn ông trung niên khoảng năm mươi tuổi bước xuống, trên tay ôm một bé trai khoảng hai tuổi. Bé trai nhìn thấy Văn Tư Uyển thì vui mừng vung tay vung chân, giọng non nớt gọi: "Mẹ... mẹ ơi..."
Văn Tư Uyển nhìn thấy liền cười tươi như hoa, vội vã bế lấy bé trai, dịu dàng đung đưa hai cái: "Bé cưng ngoan nào."
Người lái xe chất hành lý của bà vào cốp, cả nhóm người lên xe rồi nhanh chóng rời đi, bụi cuốn theo bánh xe biến mất không dấu tích.
Văn Viêm đứng trên tầng, nhìn toàn bộ cảnh tượng này không sót chút nào. Các đốt ngón tay của cậu siết lại trắng bệch, như muốn bóp nát khung cửa sổ. Một cảm giác ngột ngạt khó thở xộc đến, trái tim như bị một bàn tay vô hình siết chặt, đau nhức đến mức không thể chịu nổi.
Văn Tư Uyển không phải không biết làm một người mẹ tốt, cũng không phải không thể ở lại bên cậu. Chỉ là bà không muốn.
Chỉ là nếu bà đã có một gia đình mới, thì Văn Viêm cậu là gì?
Là thừa thãi? Là kẻ có cũng được, không có cũng chẳng sao?
Cận Hành không biết đã đứng sau lưng Văn Viêm từ lúc nào. Anh từng ngón từng ngón bẻ bàn tay đang nắm chặt khung cửa sổ của cậu ra, sau đó nắm lấy, kéo bàn tay ấy vào lòng bàn tay mình. Từ phía sau, anh nhẹ nhàng ôm lấy cậu, nói khẽ: "Đừng nhìn nữa."
Cái nóng oi bức bên ngoài dường như muốn xâm nhập vào trong phòng, khiến cả hơi lạnh từ máy điều hòa cũng yếu đi vài phần.
Cận Hành vươn tay đóng cửa sổ lại, dường như cũng cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ cuối cùng giữa hai mẹ con họ.
Văn Viêm không nói gì, nhắm mắt lại, cúi thấp đầu. Một lọn tóc rũ xuống, nhìn cậu lúc này thật hiếm hoi lại có vẻ nhếch nhác. Lâu lắm sau, cậu mới khó nhọc thốt lên vài chữ: "Em cứ tưởng bà ấy thật sự định quay về..."
Cậu cứ nghĩ rằng Văn Tư Uyển sẽ thực sự yên ổn quay về bên mình, nhưng hóa ra tất cả chỉ là một trò đùa.
Người phụ nữ ấy, người đáng lẽ là mẹ của cậu, hết lần này đến lần khác bỏ rơi cậu lại phía sau.
Từ điển của Cận Hành không có từ nào gọi là "đồng cảm." Nhưng không thể phủ nhận rằng khi Văn Viêm đau khổ, lòng anh cũng chẳng dễ chịu gì. Đôi tay thon dài của anh áp lên má đối phương, nhẹ nhàng v.uốt ve dấu bàn tay in hằn nơi đó, cuối cùng cúi xuống hôn nhẹ lên đó.
Nụ hôn ấm áp che đi nỗi đau âm ỉ ấy.
"Người muốn đi, thì không giữ được." Cận Hành khẽ hôn lên vết đau trên gương mặt của Văn Viêm, nhưng lại cảm thấy việc này cũng không tệ, anh thì thầm bên tai cậu: "Sau này chỉ cần có mình anh là đủ rồi..."
Nhìn xem, như thế này không tốt sao.
Họ đều là những kẻ bị mọi người chối bỏ, họ đều là duy nhất của nhau.
Cận Hành ép Văn Viêm dựa vào cửa sổ, hôn cậu đến mức khó dứt ra được. Hai trái tim đang đập hòa vào nhau, từng nhịp, từng nhịp, cuối cùng đạt đến sự đồng điệu kỳ lạ.
Văn Viêm ôm chặt cổ Cận Hành, cảm giác nặng nề trong lòng khó mà xua đi, một cơn bức bối dâng trào khiến lý trí khó mà chống đỡ. Cậu hôn lại Cận Hành, giọng nói mơ hồ cất lên: "Sau này anh có bỏ em lại không..."
Bỏ lại cậu một mình.
Như cách Văn Tư Uyển đã làm.
Cận Hành khựng lại, ngẩng đầu nhìn cậu, chỉ thấy Văn Viêm nghiêm túc nhìn mình, thấp giọng nói: "Sẽ không..."
Anh nói: "Chúng ta sẽ mãi ở bên nhau."
Chương 158
Cứ xem như Cận Hành đã nói dối.
Đời trước anh thực sự đã bỏ rơi Văn Viêm.
Cận Hành không ngờ có quá nhiều điều mà anh không hiểu rõ, chẳng hạn như Văn Viêm lại có một người mẹ như vậy, một quá khứ như vậy. Lại chẳng hạn, từ nhỏ đến lớn, đối phương luôn là kẻ bị người khác ruồng bỏ...
Cận Hành siết chặt lấy cậu, cố dùng hơi ấm cơ thể và những nụ hôn không ngừng rơi xuống để che đậy hành vi đê hèn của mình ở kiếp trước. Giống như cách tuyết trắng rơi xuống, phủ kín mọi màu sắc u tối, không còn dấu vết nào.
Họ dần dịch chuyển, cuối cùng cả hai ngã xuống sofa. Cận Hành nâng mặt Văn Viêm lên, hết lần này đến lần khác hôn lên những vết thương bên má cậu. Tiếng thở dốc và bầu không khí mờ ám hòa quyện, quá khứ và hiện thực trộn lẫn vào nhau.
"Cận Hành..."
Văn Viêm ôm chặt anh, giọng khàn khàn. Cậu cảm nhận được sự chiếm hữu mạnh mẽ tiềm ẩn trong đôi mắt sâu thẳm của anh. Mảnh ghép thiếu hụt trong tim cuối cùng cũng được bù đắp. Ít nhất ngay khoảnh khắc này, cậu cảm thấy mình không còn cô độc nữa.
Từng mảnh quần áo lặng lẽ rơi xuống, dần tích thành đống nơi mép sofa.
Văn Tư Uyển không ngoái đầu mà bước đi, nhưng vẫn có người nguyện ý ở lại bên cậu.
Đầu óc Văn Viêm trống rỗng, cảm giác xa lạ dâng tràn từng đợt, phá tan lý trí vốn đã rạn nứt của cậu. Những ngón tay thon dài, khớp xương rõ ràng luồn vào mái tóc của Cận Hành, không biết vì khó nhịn hay vì điều gì khác, nhẹ nhàng siết chặt, rồi lại từ từ buông lỏng.
Trong căn phòng lạnh lẽo của máy điều hòa, tóc họ bị mồ hôi làm ướt, dính thành từng lọn. Hơi lạnh thoảng qua, để lại một cảm giác băng giá nơi da thịt.
Văn Viêm khẽ hôn phía sau tai Cận Hành, để lại một dấu ấn nhạt nhòa. Nhưng cảm thấy vẫn chưa đủ, cậu tiếp tục hôn sâu, đến khi dấu ấy chuyển thành màu tím nhạt mới vừa lòng.
Cậu vén những lọn tóc lòa xòa trước trán Cận Hành, khóe mắt ửng đỏ, giọng khàn khàn hỏi: "Có bị người khác nhìn thấy không?"
Cận Hành lắc đầu, không mấy để tâm: "Không sao."
Anh thậm chí còn để lại một dấu ấn phía sau tai Văn Viêm, ở cùng vị trí, rồi dùng đầu ngón tay khẽ v.uốt ve, mỉm cười hỏi: "Có tính là đồ đôi không?"
Tóc của Văn Viêm ngắn hơn, khó mà che đi được. Nhưng cậu thấy Cận Hành không quan tâm, bản thân cũng chẳng coi đây là vấn đề lớn, lời đáp dần chìm vào nụ hôn sâu giữa đôi bên: "Đương nhiên là tính..."
Dù sao thì họ vốn đã là người yêu của nhau.
Một cuộc tiếp xúc thân mật đã xóa tan những cảm giác khó chịu mà Văn Tư Uyển mang đến, mọi thứ tiêu tan trong thoáng chốc, tựa như bà chưa từng xuất hiện.
Văn Viêm tắm xong, chợt nhớ ra thầy Lưu Hói đã giao bài tập. Cậu lấy ra vài tờ đề nhăn nhúm từ cặp sách, trải phẳng trên mặt bàn rồi chẳng động tay gì thêm.
"Thầy giao bài tập chỉ để các em ngồi nhìn chằm chằm vào đề thế thôi à?"
Cận Hành sấy khô tóc, từ phòng tắm bước ra, thoáng nhìn thấy dáng vẻ của Văn Viêm đã biết ngay cậu chẳng biết làm bài. Anh kéo một chiếc ghế ngồi xuống bên cạnh, người vẫn còn phảng phất hơi nước: "Không làm được chỗ nào?"
Mí mắt Văn Viêm giật một cái, dùng tay xoa xoa, qua kẽ tay lén nhìn anh: "Không làm được chỗ nào hết."
Cận Hành: "...."
Được rồi, anh sớm nên biết câu hỏi này là thừa thãi.
Cận Hành liếc nhìn đồng hồ, đã là mười một giờ đêm. Với tốc độ giải bài của Văn Viêm, chỉ e đêm nay có ngủ được hay không cũng là vấn đề. Anh mở nắp bút, xé một tờ giấy nháp: "Làm từng bài một."
Thầy Lưu Hói rõ ràng đã cân nhắc đến năng lực chung của cả lớp, bài tập không quá khó. Nhưng với một học sinh kém cỏi như Văn Viêm, đây vẫn là thứ giống như thiên thư.
Mấy bài đầu còn tạm ổn, miễn cưỡng làm được, càng về sau càng rối rắm. Văn Viêm cố gắng mở to đôi mắt đã sắp díp lại vì buồn ngủ, trong lòng hối hận vì sao lại lôi đề ra làm, sáng mai vào lớp chép chẳng phải tốt hơn sao?
Cận Hành ôm lấy vai cậu, nâng cái đầu đang gật gù của cậu thẳng dậy: "Chỉ còn nửa mặt nữa thôi."
Văn Viêm liếc nhìn, phát hiện mặt sau toàn là bài giải chi tiết, mắt cậu lập tức trợn tròn: "Chết tiệt, em không làm được bài nào hết."
Cận Hành: "Anh dạy em."
Văn Viêm không đáp, lời nói của Cận Hành chẳng giống với những gì cậu tưởng tượng, kiểu như "Để anh làm giúp em", "Em ngủ trước đi", hay "Vậy thì không cần làm nữa", cách xa đến tám vạn dặm.
Dường như Cận Hành nhìn thấu suy nghĩ của cậu, bật cười: "Hay là nhắm mắt nghỉ ngơi một lát rồi làm tiếp?"
Trúng ngay mong muốn của Văn Viêm.
Cận Hành thở dài, kéo cậu vào lòng. Văn Viêm cũng không còn như lần đầu, cứng người từ chối tư thế này, mà tìm một chỗ thoải mái dựa vào vai anh, nhắm mắt dưỡng thần.
Khi ngủ, Văn Viêm rất yên tĩnh. Nhìn bề ngoài, cậu có vẻ thuộc kiểu "trai hư" đang rất thu hút con gái, nhưng giữa hàng chân mày vẫn còn chút sắc bén không thể xóa nhòa, chẳng hề giống mẹ mình chút nào.
Người khác thường gọi cậu là "lưu manh".
Cận Hành trước đây nghĩ rằng từ này là một từ mang tính miệt thị, khiến người ta tránh xa. Nhưng đặt lên người Văn Viêm, thốt ra từ đầu lưỡi lại mang theo ý vị khó mà diễn tả rõ ràng.
Dẫu có là lưu manh, thì cũng là lưu manh của riêng anh.
Cận Hành đưa tay vuốt tóc cậu, không muốn đánh thức cậu dậy. Tay kia lật nhẹ mặt sau tờ đề bài, cầm bút tiếp tục làm. Thỉnh thoảng dừng lại vài giây, cố ý bắt chước nét chữ của Văn Viêm, nhìn thoáng qua đã có bảy, tám phần giống.
Một người luôn mang theo đầy cảnh giác như Văn Viêm, khi nằm trong vòng tay anh, lại ngủ an ổn đến lạ.
Cũng giống như lần đầu tiên họ gặp nhau, bộ đồng phục sạch sẽ của Cận Hành thoang thoảng hương nước giặt, dưới ánh mặt trời ấm áp và làn gió nhẹ thoảng qua, mọi thứ tựa hồ đều dịu dàng bao bọc lấy anh.
Khi cảm giác đó lan tỏa, dù là gai nhọn thế nào cũng sẽ mềm lại.
Nếu ở nơi khác, có lẽ khí trời lúc này đã hơi se lạnh. Nhưng ở đây, mùa hè lại dài đến mức người ta dường như quên mất sự tồn tại của mùa thu. Bên ngoài, gió lay cành cây, tạo ra âm thanh xào xạc, bóng cây rung rinh in trên khung kính cửa sổ.
Sáng hôm sau, Từ Mãnh đang ngồi trong lớp cắm cúi chép bài tập, chỗ này chép một chút, chỗ kia thêm một chút, miễn cưỡng hoàn thành một tờ đề.
Hắn thở phào nhẹ nhõm, đang thắc mắc sao Văn Viêm chưa đến, thì thấy đối phương hai tay đút túi, ung dung bước vào từ cửa sau, chậm rãi ngồi xuống chỗ của mình.
Từ Mãnh nhìn đồng hồ: "Còn mười phút nữa, mày không chép bài tập à?"
Trên mặt Văn Viêm tuy chẳng có biểu cảm gì, nhưng lại toát ra một kiểu khoe khoang khó tả. Cậu lấy đề từ trong cặp ra, đặt bộp lên bàn, dõng dạc nói: "Làm xong từ lâu rồi."
Từ Mãnh thầm nghĩ: Mày thật tài giỏi đấy. Hắn nhặt đề của Văn Viêm lên, quét mắt qua vài lượt, nhưng với trình độ học sinh kém cỏi như hắn, chẳng nhìn ra đúng sai gì, bèn nghi hoặc hỏi: "Mày tự làm đấy à?"
Văn Viêm rất hào phóng, nhướng mày đáp: "Muốn chép không?"
Từ Mãnh lắc đầu chê bai: "Tao không chép."
Ai sống chán đời mà đi chép bài của Văn Viêm, chép bài của kẻ ngốc còn hơn chép bài của cậu.
Văn Viêm bĩu môi: "Chậc, tao còn chẳng thèm cho cậu chép."
Gần đây, thầy Lưu Hói đến lớp rất sớm, một là để kiểm tra việc đọc bài, hai là ngăn học sinh chép bài tập. Chuông vào lớp vừa reo, lớp trưởng đã thu hết bài tập của cả lớp, xếp ngay ngắn trên bục giảng.
Buổi sáng hôm đó đều là tiết của thầy Lưu. Ông kéo ghế ngồi xuống, tùy tiện lật vài tờ đề, giọng kéo dài không rõ vui buồn: "Các em không chép bài đúng không?"
Cả lớp đồng loạt lắc đầu, đồng thanh đáp: "Không chép!"
Thầy Lưu kinh ngạc trước sự vô liêm sỉ của học sinh mình, bẻ một đoạn phấn ném xuống, hận không thể ném cả một quả lựu đạn, chết được đứa nào hay đứa đó: "Không chép cái đầu các em!"
Mười tờ bài tập có tám tờ giống y hệt nhau. Có đứa còn tự cho là thông minh, sửa vài câu trắc nghiệm, nhưng phần giải bài chi tiết phía sau thì giống hệt. Thậm chí có kẻ ngốc còn chép căn bậc hai của 5 thành 55.
Ngay từ đầu năm lớp 12, lớp đã chuyển đi một nhóm thực tập sinh, khiến phòng học vốn chật chội nay trở nên trống trải. Nếu những học sinh này còn không cố gắng, thà sớm ra ngoài làm việc còn hơn.
Thầy Lưu giận tím mặt, rút bút đỏ, đối chiếu bài tập, xoẹt xoẹt xoẹt sửa một trận điên cuồng. Sửa xong một bài, mắng một câu: "Làm ơn lần sau chép bài tập thì động não chút, chép bài tập cũng không biết chép, sau này ra ngoài đừng nói là học sinh của tôi!"
"Lưu Tây Uyển! Câu trắc nghiệm B mà em có thể chép thành 13, mang bài thi xuống đây!"
"Còn cái tên kia... Trần Tiểu Trí, vừa nhìn đã biết em chép bài của Lưu Tây Uyển, cũng viết thành 13 hết, mang xuống!"
Thầy Lưu Hói rất hiếm khi nổi giận đến mức này. Đám học sinh vốn đang cười đùa xem kịch vui cũng lập tức im bặt, không khí trong lớp đột ngột trở nên căng thẳng, ai nấy đều cảm thấy bất an.
Từ Mãnh ngẩng đầu nhìn lên trần nhà, cố gắng nhớ lại xem có phải mình cũng chép B thành 13 không. Nếu đúng vậy thì thật xui xẻo.
"Từ Mãnh!" Quả nhiên, thầy Lưu Hói gọi tên hắn. "Chơi game đến mờ cả mắt rồi đúng không? Rảnh thì đi bệnh viện kiểm tra đi. Mang bài thi xuống!"
Đáng đời—
Ngồi phía sau, Văn Viêm vắt chân chữ ngũ, giơ ngón giữa lên, cười cợt nhả.
Từ Mãnh lướt qua chỗ cậu, cũng giơ ngón giữa đáp trả, hạ giọng nói: "Để xem mày thi được bao nhiêu điểm."
Toàn học sinh kém, ông nọ cười bà kia làm gì.
Văn Viêm vuốt cằm, nghĩ thầm: Mấy câu phía sau đều do Cận Hành làm, chắc không sai nhiều đâu. Nhưng trong lòng cậu vẫn hơi lo lắng, ngón tay vô thức cọ cọ lên mép bàn. Cậu hơi nhổm người dậy nhìn lên bục giảng, không ngoài dự đoán, bài thi mà thầy Lưu Hói đang sửa chính là của cậu.
Đừng hỏi tại sao nhận ra—bài thi nhàu nhĩ như dưa muối, trong lớp không có bài nào thứ hai như vậy.
Khoảng chừng một phút sau, thầy Lưu Hói đột nhiên lên tiếng: "Văn Viêm?"
Giọng điệu như không thể tin được.
Từ Mãnh bật cười, chờ xem trò vui.
Văn Viêm trước giờ vốn lười biếng, không sợ giáo viên, vẫn ngồi tại chỗ, hờ hững giơ tay lên: "Thưa thầy, em đây."
Thầy Lưu Hói không để ý đến cậu, lật bài thi qua lại hai lượt, xác nhận không nhầm, mới nghi hoặc hỏi: "Bài thi hôm qua là tự em làm à?"
Văn Viêm nhất thời không đoán được thầy muốn nói gì, chậm rãi đáp: "Dạ, đúng ạ."
Thầy Lưu Hói kéo dài một tiếng "hừm", trong mắt lóe lên sự kinh ngạc. Ông giơ bài thi nhàu nhĩ như dưa muối lên, lắc lắc: "Em tiến bộ nhanh quá rồi, là người duy nhất trong lớp đạt điểm tuyệt đối."
Cả lớp sửng sốt, đồng loạt quay đầu nhìn về phía Văn Viêm, ánh mắt tràn ngập kinh ngạc khó tin.
Đến chính Văn Viêm cũng ngơ ngẩn. Tuyệt đối?
Từ Mãnh quay đầu nhìn cậu, tỏ vẻ thâm sâu khó lường: "Có phải có ai giúp mày làm không?"
Cũng tại Cận Hành, hôm qua chỉ chăm chăm bắt chước nét chữ, quên chỉnh lại đáp án, tiện tay làm đúng hết.
Văn Viêm nhíu mày, nghĩ thầm: Đây là tình huống gì vậy? Cậu vò đầu, suy tư xem nên trả lời thế nào. Nói là mình tự làm thì quá giả, mà bảo không phải thì lại chẳng giải thích được đáp án từ đâu ra.
Thầy Lưu Hói nhất thời không nghĩ ra việc Văn Viêm nhờ người làm bài, dù sao trong lớp này điểm cao nhất cũng chỉ hơn 100 điểm một chút. Nhìn vào bài thi, ông không giấu được niềm vui sướng. Từ khi tiếp quản lớp này, đã bao lâu ông không được thấy bài thi đạt điểm tuyệt đối. Không nhịn được, ông lại hỏi thêm một lần: "Thật là em tự làm à?"
Văn Viêm: "...Đúng ạ."
Ngồi phía trước, Từ Mãnh đảo mắt, trong lòng thầm chửi: "Đúng là không biết xấu hổ."
Tác giả có lời muốn nói:
Văn Viêm: Tôi chết cũng không khai ra Cận Hành.
Chương 159
Thời tiết gần đây thay đổi thất thường. Chỉ qua một đêm, mặt đất đã ngập đầy lá rụng. Gió lạnh thổi qua khiến người ta run rẩy, mang theo một chút giá buốt.
Ban đầu còn thắc mắc, đến khi cô giáo chủ nhiệm lớp mang một chồng giấy "Thông báo kỳ nghỉ" vào lớp phát cho từng học sinh, mọi người mới ngớ người nhận ra: Đã sắp nghỉ đông rồi.
Học sinh lớp 12 ngày ngày vùi đầu làm đề, về nhà làm xong lại đổ gục xuống ngủ, nào còn tâm trí quan tâm Tết nhất. Tin tức nghỉ đông đột ngột đến như vậy khiến những dây thần kinh căng cứng bấy lâu của mọi người cuối cùng cũng thả lỏng, trên mặt ai nấy đều lộ rõ vẻ vui sướng.
"Thật sự sắp được nghỉ rồi sao? Tôi không phải đang mơ đấy chứ?"
"Phải về ngủ một giấc đã, mệt chết đi được."
"Kỳ nghỉ đông ngắn lắm, vẫn phải làm đề thôi. Nghỉ xong là thi đại học rồi."
Cận Hành nhìn qua tờ thông báo an toàn, ước chừng thời gian nghỉ đông khoảng hai mươi ngày, không nhiều không ít, chỉ thoáng cái là qua. Nhưng so với chuyện Tết, mọi người hiển nhiên quan tâm đến kỳ thi đại học đang đến gần hơn.
Lớp 9 đã có sự tiến bộ vượt bậc, trong kỳ thi chung toàn khối lần trước, điểm trung bình thậm chí đã ngang bằng với lớp 7, khiến bao người phải há hốc mồm kinh ngạc.
Cô nhìn về phía Cận Hành, có chút ghen tị với sự rõ ràng trong định hướng tương lai của anh, trong khi bản thân lại tràn ngập mơ hồ: "Từ Mãnh phải chăm sóc mẹ anh ấy, chỉ có thể ở lại địa phương. Sau này hoặc là học cao đẳng, hoặc là đi làm, tôi muốn ở bên anh ấy..."
Cận Hành cuối cùng cũng hiểu tại sao cô lại khổ sở như vậy. Đây dường như là vấn đề không thể tránh khỏi của mỗi cặp đôi thời học sinh khi tốt nghiệp. Anh nhìn lên bầu trời xanh trong, khẽ thở dài một tiếng: "Cậu ấy nghĩ thế nào?"
Nhan Na mím môi, đôi mắt hơi đỏ lên: "Anh ấy cũng bảo tôi nên đi học ở Hải Đại."
Cận Hành nói: "Vậy thì đi học đi."
Nghe vậy, Nhan Na ngẩn người, có lẽ cảm thấy Cận Hành không hiểu mình, cô cắn môi, quay đầu đi không nói gì, vô thức tăng tốc bước chân.
Cận Hành vẫn giữ khoảng cách vừa phải, giọng điệu bình tĩnh, như đang thuyết phục: "Bốn năm, sẽ trôi qua rất nhanh thôi."
So với một đời người dài đằng đẵng, bốn năm thực sự chẳng là gì. Chỉ cần Nhan Na có thể vượt qua bốn năm này, mở ra một con đường tươi sáng, đến lúc đó quay về tìm Từ Mãnh cũng chưa muộn. Nhưng cô không dám đánh cược.
Cuộc đời luôn đầy rẫy những biến số. Xa nhau bốn năm, chẳng ai dám đảm bảo mọi thứ vẫn sẽ giữ nguyên như ban đầu, nhiều hơn là cảnh vật đổi thay, lòng người cũng khác.
Không biết từ lúc nào, hai người đã đi đến cổng trường Sùng Minh. Văn Viêm vừa khéo từ bên trong bước ra, nhìn thấy Cận Hành và Nhan Na, liền tặc lưỡi một tiếng: "Sao không đi học tự buổi tối?"
Cận Hành kéo khóa áo lên đến tận cổ, chắn lại cơn gió lạnh lùa vào: "Nghỉ đông rồi, sao, tụi em chưa nghỉ à?"
Văn Viêm vỗ đầu một cái, cuối cùng cũng phản ứng: "Có nghỉ chứ, nhưng bên em muộn hơn bên anh hai ngày."
Từ Mãnh đứng bên cạnh, im lặng chơi đùa với trái bóng rổ trong tay, không biết vì sao lại không còn như trước, ôm lấy Nhan Na nói chuyện nữa. Còn cô, cũng chỉ cúi đầu nhìn mũi giày, im lặng bất thường.
Văn Viêm trông thấy cảnh đó, liếc mắt nhìn Cận Hành, hai người giao tiếp trong không trung chỉ một giây đã hiểu hết mọi chuyện.
Cãi nhau rồi à?
Ừ, cãi rồi.
Văn Viêm không sợ lạnh. Khi người khác đều run cầm cập thì cậu vẫn mặc áo ngắn tay, áo khoác chỉ khoác hờ trên vai như để làm màu. Đúng là sức trẻ sung mãn.
Như để phá tan bầu không khí, Văn Viêm chậm rãi mặc áo khoác vào, hỏi: "Lạnh thật đấy, hay đi ăn lẩu đi?"
Cận Hành phụ họa: "Cũng lạnh thật."
"..."
Không khí ngượng ngập lan tỏa.
Cuối cùng vẫn là Nhan Na lên tiếng trước. Cô khẽ liếc Từ Mãnh, rồi lại thu hồi ánh mắt: "Tôi không có ý kiến."
Từ Mãnh đập bóng xuống đất, để nó bật lên cao rồi trở lại tay hắn: "Tùy."
Văn Viêm vốn không giỏi làm người hòa giải, từ trước đến nay toàn là người khác phải hòa giải giúp cậu. Thấy vậy, cậu đi ra lề đường, tùy tiện gọi một chiếc taxi, đưa cả nhóm đến một quán lẩu gần đó.
Thời tiết chuyển lạnh, quán lẩu đã trở thành nơi tụ tập lý tưởng của đám thanh niên. Cả nhóm đứng bên ngoài đợi hơn nửa tiếng mới có bàn trống, bị gió lạnh thổi đến mức ngây người.
"Đụ má, quán này sao đông khách thế."
Văn Viêm ngồi xuống trong quán, nhớ lại trước kia quán này làm ăn ế ẩm, vắng tanh vắng ngắt, giờ lại đông nghịt thế này, thật là khó hiểu.
Cận Hành ngồi cạnh cậu, lật xem thực đơn: "Bình thường thôi, trời lạnh mà, quán nào chẳng thế."
Hai người gọi món xong, đưa thực đơn cho phía đối diện: "Muốn ăn gì thì tự chọn đi."
Nhìn ra được, Nhan Na đang cố gắng xoa dịu bầu không khí, hiếm khi chủ động nói chuyện với Từ Mãnh, chọn vài món, cuối cùng cũng kéo nhiệt độ đang đóng băng dần ấm lên. Vài cốc nước ngọt uống vào, câu chuyện cũng dần mở ra.
Hiển nhiên Văn Viêm biết rõ nguyên nhân sự việc. Cậu nói với Từ Mãnh: "Lần đầu thấy mày giận Nhan Na đấy. Thật ra không cần phải vậy, đợi kết quả thi của cô ấy xong rồi hẵng tính, miễn cưỡng cũng chẳng được gì."
Văn Viêm là đầu lĩnh trong nhóm học sinh cá biệt. Bình thường đánh nhau thì đánh, quậy thì quậy, nhưng đến lúc quan trọng, Từ Mãnh không tránh khỏi phải nghe cậu nói vài lời.
Từ Mãnh có vẻ ngoài lạnh lùng, nhưng thường ngày luôn cười tươi rói, khó mà nhận ra điều đó. Hắn nhìn chăm chăm vào nồi lẩu uyên ương đang sôi sùng sục, cúi mắt nói: "Tao đã tìm hiểu rồi, Hải Đại khá tốt."
Ít nhất là trường đại học mà Nhan Na có khả năng thi đỗ.
Văn Viêm nheo mắt, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn: "Mày nói tốt không tính, phải để cô ấy nói mới tính."
Từ Mãnh ngẩng đầu nhìn cậu: "Vậy nếu Cận Hành thi đỗ trường trọng điểm, nhưng lại cố chấp ở lại địa phương học một trường tệ hại, mày có để cậu ấy học không?"
Câu này nghe qua thì bình thường, nhưng thực ra lại ngầm châm chọc. Văn Viêm đáp ngay không chút do dự: "Không để."
Cậu cuối cùng cũng bỏ dáng ngồi lười nhác không xương, hơi thẳng người lên, nói: "Anh ấy đi đâu, tao theo đó."
Nhưng Từ Mãnh lại không có nhiều sự lựa chọn. Hắn không thể vừa ở bên Nhan Na, vừa chăm sóc người mẹ bệnh tật, chỉ có thể cân nhắc giữa hai bên.
Cận Hành ngồi bên cạnh im lặng nhúng thịt, dường như hoàn toàn không nghe thấy bọn họ nói gì. Chỉ là khi nghe Văn Viêm nói "anh ấy đi đâu, tao theo đó," anh khẽ mỉm cười.
Người duy nhất mơ hồ trong chuyện này có lẽ chỉ có Nhan Na.
Nồi lẩu đỏ trắng sôi sùng sục, bốc hơi nghi ngút, tiếng nước sôi reo rắt. Trong mắt Cận Hành, vấn đề mà họ đang băn khoăn chẳng qua chỉ là một khó khăn nhỏ trên chặng đường dài của cuộc đời. Anh gắp một miếng thịt đã nhúng chín, đặt vào chén của Văn Viêm.
Từ Mãnh không muốn tiếp tục dây dưa với chủ đề này, tùy tiện hỏi: "Mọi người Tết này về quê không?"
Nhan Na lắc đầu: "Không, em phải ôn thi."
Gia đình cô vì để cô yên tâm ôn thi, thậm chí không định tổ chức Tết, chỉ ở nhà học bài.
Còn Văn Viêm thì càng đơn giản. Cậu với Cận Hành chẳng có họ hàng thân thích nào, làm gì có quê để về: "Không, trước đây thế nào thì giờ vẫn thế thôi, ngủ mấy ngày là hết Tết."
Câu này nghe chẳng có chút lãng mạn nào. Cận Hành nhìn cậu một cái: "Một năm chỉ có một lần Tết, em định ngủ qua như vậy sao?"
Văn Viêm hơi nghiêng người, hạ giọng nói đủ để chỉ hai người nghe: "Ngủ với anh, chứ không ngủ với người khác."
Nói xong, cậu vỗ vai Cận Hành, như anh em chí cốt: "Nhìn thoáng ra đi."
Cận Hành: "......"
Bữa ăn này miễn cưỡng mới ăn xong. Họ thanh toán xong, rời khỏi quán lẩu, tiếng ồn ào náo nhiệt phía sau dần rời xa, lập tức bị cơn gió lạnh bên ngoài thổi cho thấu xương, não cũng tê liệt trong chốc lát.
Văn Viêm hít một hơi lạnh buốt: "Xì——"
Cậu ra vẻ, cởi áo khoác ngoài, sự lạnh giá đột ngột của thời tiết đối với cậu chẳng khác gì một "đòn giáng nặng nề".
Cận Hành nghiêng người chắn gió, thấy cậu lạnh run như chó, liền mạnh tay ép cậu mặc áo khoác vào. Sau đó, dùng lòng bàn tay vẫn còn hơi ấm sờ lên khuôn mặt lạnh băng của cậu, vừa cười vừa hỏi với ý cười khó hiểu: "Lần sau còn cởi nữa không?"
Tất nhiên là không cởi, mạng quan trọng hơn.
Văn Viêm đứng trên bậc thềm đá trước cửa quán, nhờ vậy mà cao hơn Cận Hành nửa cái đầu, từ phía sau cậu ôm lấy cổ anh, như muốn đùa nghịch mà ép xuống lưng anh: "Chậc, lần sau cởi của anh!"
Nhan Na chỉ nghĩ rằng đó là trò đùa giữa những người anh em, không để tâm, xoa xoa cánh tay hơi lạnh của mình. Từ bên cạnh, Từ Mãnh thấy vậy liền đón một chiếc xe, đẩy cô vào trong, rồi nói với Văn Viêm: "Bọn tao đi trước."
Văn Viêm hất cằm ra hiệu tùy họ.
Từ Mãnh ngồi vào xe, đóng cửa lại. Không hiểu sao lại hạ nửa cửa sổ, giữa khung cảnh đêm tối bất tận, hắn nhìn thẳng vào Văn Viêm mà nói: "Hai người may mắn hơn tao, còn có thể lựa chọn..."
Có người mười tám tuổi không có gì trong tay, cũng có người mười tám tuổi u ám chẳng ánh sáng.
Còn thiếu niên, chỉ còn một lòng dũng cảm, mang theo gánh nặng trĩu nặng, lao về phía trước. Họ có lựa chọn, nhưng lại không cần phải chọn lựa.
Từ Mãnh trước kia không đánh giá cao Văn Viêm và Cận Hành, nhưng giờ nghĩ lại, họ ngược lại là đôi có khả năng đi xa nhất. Nhiều chuyện trên đời bắt đầu thì đẹp, kết thúc thì buồn. Nhưng cũng có những câu chuyện vốn dĩ đầy cay đắng, cuối cùng lại đọng lại vị ngọt.
Tưởng rằng là ngông cuồng, hóa ra lại là định mệnh.
Nói xong, hắn cười, kéo kính xe lên, taxi lao đi trong làn khói bụi.
Cận Hành vai nặng trĩu, thấy vậy nghiêng đầu nhìn Văn Viêm, chẳng ngờ lại đụng ánh mắt cậu. Hai đầu mũi thoáng chạm vào nhau, rồi nhanh chóng tách ra.
Cận Hành nhướn mày: "Từ Mãnh vừa rồi nói gì?"
Văn Viêm từ phía sau khoác vai anh, ngón tay nhẹ động, rồi cúi sát vào tai anh, cố ý làm bộ bí hiểm: "Cậu ta nói..."
Cận Hành giật nhẹ tai: "Nói gì?"
Văn Viêm cười: "Nói chúng ta rất may mắn."
Chương 160
Gần Tết, nhiệt độ giảm mạnh, lạnh đến mức thở ra khói trắng, nhưng trời lại không có tuyết. Khiến người ta cảm thấy cái lạnh này thật không đáng.
Văn Viêm khí huyết sôi sục, người ta mặc áo bông thì cậu chỉ mặc chiếc áo len mỏng cổ chữ V màu xám, cứ thế đi qua đi lại trong phòng khách. Cận Hành từ phòng tắm bước ra, đi ngang qua liền tiện tay chạm vào cơ bụng của cậu, rồi mới thu tay lại.
Văn Viêm theo bản năng cúi người tránh, có chút xấu hổ: "Này——"
Làm gì mà sỗ sàng vậy.
Cận Hành xoa xoa đầu ngón tay: "Anh chỉ xem em có lạnh không thôi."
Văn Viêm nghĩ không cần giải thích, giải thích chính là che giấu. Cậu tập luyện có cơ bụng chẳng lẽ là để cho Cận Hành sờ? Kéo áo xuống một chút, có ý khoe khoang: "Chậc, ra ngoài sắm Tết không?"
Cậu thấy người khác dường như đều đang sắm Tết.
Cận Hành có chút hiếu kỳ nhìn cậu: "Em chắc chứ?"
Hai người bọn họ, ra ngoài mua đồ cái này gọi là sắm Tết, nhưng thật ra chỉ là dự trữ đồ ăn.
Văn Viêm cũng chỉ là rảnh không có việc gì làm, hay còn gọi là nhàm chán, nghĩ một lúc liền dứt khoát: "Đi, mặc áo ra ngoài, tránh trưa lại kẹt xe, dù sao trong nhà cũng chẳng còn gì ăn."
Cận Hành chỉ có thể đồng ý.
Vào dịp Tết, thành phố này còn sôi động và huyên náo hơn bình thường, nhưng sự náo nhiệt tột cùng ấy lại dẫn đến vẻ lạnh lẽo rải rác. Một nhóm người rời đi, một nhóm người đổ vào.
Văn Viêm và Cận Hành ngồi taxi đến trung tâm mua sắm lớn nhất gần đó. Cậu vốn định chạy xe máy, nhưng mùa đông này phóng xe đón gió, không có bệnh mười năm não mới nghĩ ra được, và Cận Hành thẳng thừng từ chối.
"Nóng thật."
Văn Viêm bị hơi ấm trong trung tâm thương mại làm đổ mồ hôi, lập tức cởi áo khoác, vóc dáng rắn chắc lộ rõ. Cậu tiện tay kéo một chiếc xe đẩy qua, vô cùng hào phóng: "Tùy chọn."
Cận Hành nghĩ người không biết còn tưởng rằng cậu là tỷ phú. Đi dạo mấy vòng quanh khu đồ ăn vặt, chọn mấy gói khoai tây chiên, tiện tay lấy thêm ít hạt khô. Văn Viêm thì thực tế hơn, toàn mua đồ đông lạnh.
Cận Hành nhìn mấy gói bánh chẻo đông lạnh trong xe đẩy: "Tết này em định ăn cái này à?"
Tết trước giờ Văn Viêm đều tự mình trải qua, nhà không có trưởng bối dạy dỗ chuyện này, ánh mắt ngơ ngác: "Ăn Tết còn phải cầu kỳ nữa à?"
"Không cầu kỳ lắm," Cận Hành xoa nhẹ đầu cậu, "Ăn gì ngon thì ăn."
Văn Viêm nghĩ vậy thì đáng tiếc thật, cậu không biết nấu ăn, Cận Hành xem ra cũng chẳng thạo. Đến lúc đó nhà hàng đóng cửa hết, bọn họ chỉ còn cách chui rúc trong nhà ăn mì tôm. Định nói mua thêm chút đồ ăn vặt, nhưng lại thấy Cận Hành đến khu hải sản chọn vài con cá và tôm.
Văn Viêm nhíu mày: "Anh định ăn cái này?"
Cận Hành không phải người không biết làm gì, nếu không những năm qua chắc chỉ còn nước uống gió Tây Bắc mà sống: "Hấp chấm giấm ăn."
Cách này đơn giản, nghe thôi đã thấy không có kỹ thuật gì, hơn nữa Tết mà không có chút mùi thịt thì cũng kỳ.
Hai người lại lượn lờ thêm nửa tiếng, cố giành được một hộp quà khuyến mãi dịp Tết trong tay đám ông bà lão, cuối cùng mang theo túi lớn túi nhỏ ra quầy tính tiền.
Trong lúc đó Cận Hành vào nhà vệ sinh, lâu lắm mới quay lại. Văn Viêm ngồi trên ghế dài chờ anh, gác chân chữ ngũ, đầu đội mũ bóng chày màu đen in chữ cái, thấy anh cuối cùng cũng ra, liền ngước mắt: "Em còn tưởng anh rớt xuống hố rồi."
Cận Hành kéo dây áo khoác lên tận cổ, hai tay đút túi: "Thế sao em không vào kéo anh lên?"
Văn Viêm xách túi đồ, xì một tiếng: "Ông đây không phải mở tiệm lẩu đâu."
Trên phố rất nhộn nhịp, nhưng vì ai cũng chuẩn bị về nhà ăn Tết, lại khiến không khí như thưa thớt hơn. Những câu đối đỏ tươi, những chiếc đèn lồng đỏ thắm, những chữ "Phúc" đỏ rực rỡ khắp nơi.
Sau khi Văn Viêm về đến nhà, cậu xắn tay áo chuẩn bị nấu cơm. Tuy nhiên, cá tôm mà Cận Hành chọn mua vẫn còn rất khỏe, nằm trong túi nhảy loạn không ngừng, vùng vẫy dữ dội. Chẳng mấy chốc, một con cá bật mạnh lên, nhảy thẳng vào bồn rửa, phát ra một tràng âm thanh loảng xoảng.
Cận Hành cau mày, đang nghĩ cách xử lý thì thấy Văn Viêm túm lấy đuôi cá, thô bạo đập mạnh xuống thớt một cái, khiến con cá lập tức bất tỉnh.
Dĩ nhiên, với sức lực đánh nhau bao năm của Văn Viêm, làm chết con cá cũng chẳng phải chuyện khó.
"Thế này không phải là xong rồi sao." Văn Viêm nói.
Tôm thì dễ xử lý hơn, rửa sạch rồi rút chỉ tôm là được. Chỉ có cá là hơi phiền phức, hai người loay hoay một hồi mới miễn cưỡng moi sạch nội tạng.
Cận Hành vốn mắc bệnh sạch sẽ, anh khẽ nhíu mày: "Hình như hơi tanh."
Văn Viêm gần như nghẹt thở: "Mẹ nó tanh điên lên đi được!"
Cách dùng từ của cậu luôn mạnh mẽ như thế, bất kể chuyện gì cũng có thể thêm "mẹ nó" vào một cách rất tự nhiên.
Cận Hành không hiểu sao lại khẽ bật cười, chỉ là nụ cười thoáng qua nhanh đến mức khó ai kịp nhìn thấy. Văn Viêm cắt hành, gừng, tỏi xong, làm theo công thức trên mạng từng bước một, còn Cận Hành thì đứng bên cạnh sửa chữa sai sót. Cuối cùng, mấy món ăn cũng xem như tạm ổn.
Thời gian trôi qua rất nhanh. Họ về đến nhà từ buổi trưa, đến lúc nấu xong cơm, bên ngoài trời đã ngập ánh hoàng hôn. Vì chênh lệch nhiệt độ giữa trong và ngoài nhà khá lớn, trên cửa kính xuất hiện những vệt nước mờ ảo, phản chiếu ánh sáng nhàn nhạt và lấp lánh. Sắc cam, đỏ, lam, tím chuyển tiếp dần, cuối cùng bị màn trời xanh thẫm nuốt chửng.
Bảng hiệu điện tử ngoài trời lần lượt sáng lên, đường phố càng thêm vắng lặng.
Cận Hành đứng nhìn một lát rồi thu ánh mắt về, bật tivi lên. Tất cả các kênh đều phát chương trình chào đón Tết Nguyên Đán. Màu nền đỏ rực khiến phòng khách vốn yên tĩnh cũng nhuốm thêm vài phần náo nhiệt.
Văn Viêm bưng thức ăn ra, có tôm luộc, cá kho, một đĩa lớn bánh chẻo cùng vài chai đồ uống mua ở siêu thị. Nhà không có người lớn giúp đỡ, mấy món đơn giản như thế này đã tốn gần hết thời gian của hai cậu thanh niên trẻ tuổi, nhưng chẳng ai thấy sơ sài cả.
Đây là lần đầu tiên Văn Viêm ăn Tết một cách nghiêm túc. Nhìn bàn ăn, cậu cứ cảm thấy còn ít món hơn cả khi ra ngoài ăn tiệm: "Hay làm thêm vài món nữa đi?"
Cận Hành đổ giấm vào chén nước chấm: "Đủ ăn là được, làm nhiều quá cũng không ăn hết."
Nói xong, anh gắp một miếng cá nếm thử, dưới ánh mắt chăm chú của Văn Viêm, anh gật đầu: "Cũng ngon đấy."
Văn Viêm bán tín bán nghi nếm thử một miếng, phát hiện ngoài dự đoán là không tệ, trong lòng không khỏi có chút tự hào: "Đây là lần đầu tiên em nấu cá á."
Cận Hành thấy gần Tết rồi, bèn khen một câu: "Giỏi lắm."
Trên tivi đang chiếu một tiểu phẩm hài, hai người vừa ăn cơm vừa xem diễn viên tấu hài, lần đầu tiên cảm nhận được không khí đón năm mới. Khi màn đêm buông xuống hoàn toàn, bên ngoài bỗng vang lên vài tiếng pháo hoa nổ, nhưng vì cách cửa sổ nên không nghe rõ.
Văn Viêm ngừng đũa: "Hình như có người bắn pháo hoa?"
Cận Hành hỏi: "Muốn xem không?"
Nói rồi, anh đứng dậy mở cửa sổ. Luồng khí lạnh từ ngoài ùa vào, khiến người ta lập tức tỉnh táo. Văn Viêm bước đến cạnh cửa sổ, không ngờ lại nhìn thấy những chùm pháo hoa nở rộ trên bầu trời, lấy những tòa cao ốc trong thành phố làm nền, rực rỡ lóa mắt, soi sáng cả đêm tối.
Ngắm pháo hoa vốn chẳng liên quan gì đến Văn Viêm, nhưng lúc này cậu đứng bên mép cửa sổ, cảm thấy cũng khá thú vị. Đặc biệt là khi Cận Hành từ phía sau ôm lấy cậu, nhịp tim bỗng chốc nhanh hơn, một cảm xúc lạ lẫm đang âm thầm lớn dần.
Cận Hành đặt cằm lên vai cậu, hơi ấm từ anh truyền đến, giọng nói trầm thấp: "Lạnh không?"
Văn Viêm không hiểu tại sao anh lại hỏi thế, hơi ngập ngừng đáp: "...Không lạnh."
Cận Hành không rõ vì sao, bỗng khẽ thở dài, như có như không mang theo ý cười. Văn Viêm còn chưa kịp hỏi, cổ đã cảm thấy ấm áp, một chiếc khăn quàng cổ màu đen được quấn quanh, góc dưới còn có một chữ cái trang trí.
"Dù không lạnh cũng quàng vào đi," Cận Hành nói, "Văn Viêm, năm mới vui vẻ."
Đây là năm mới đầu tiên của họ, cùng nhau trải qua trong kiếp này.
Văn Viêm nhìn chiếc khăn quàng trên cổ mình, ngây người mất một lúc mới nhận ra đây là quà năm mới. Theo phản xạ, cậu đứng thẳng người, có chút luống cuống, quay đầu nhìn Cận Hành: "Anh mua lúc nào thế?"
Cận Hành chỉnh lại khăn cho cậu, cảm thấy màu này rất hợp với cậu: "Mua rồi thì thôi, mua lúc nào quan trọng à?"
Văn Viêm thầm nghĩ, anh tặng sớm quá làm em không kịp chuẩn bị gì cả. Không biết vì sao, cậu bất chợt đẩy Cận Hành ra, bỏ lại một câu: "Chờ em một lát."
Văn Viêm nhanh chóng vào phòng ngủ, lục trong tủ quần áo lấy ra một phong bao lì xì đã chuẩn bị từ lâu. Phong bao nặng trĩu, không rõ bên trong chứa bao nhiêu tiền. Cậu nhét nó vào túi, chỉnh đốn tinh thần rồi mới đi ra ngoài.
Cận Hành đứng bên cửa sổ chờ, không hỏi gì, trên mặt hiện lên ý cười mơ hồ.
Văn Viêm khẽ ho một tiếng, kéo tay anh qua, rút phong bao lì xì từ túi ra, vỗ "bốp" một cái vào tay anh: "Quà năm mới."
Cậu vốn định đợi đến nửa đêm mới tặng, ai ngờ Cận Hành lại nhanh tay hơn.
Phong bao lì xì nặng đến mức mép phong bì cũng không khép lại được. Cận Hành hơi nhướn mày, mở ra xem, không ngoài dự đoán thấy bên trong toàn là tiền: "Đây là gì?"
"Tiền chứ gì," Văn Viêm nói rất tự nhiên, "Tiền lì xì."
Cận Hành không hiểu sao lại bật cười. Văn Viêm xem anh là bậc trưởng bối nào thế này? Anh đếm qua loa: "Hơn mười nghìn, em lấy đâu ra lắm tiền thế?"
Văn Viêm sửa lại lời anh: "Không phải mười nghìn, là chín nghìn chín."
Ý nghĩa biết bao.
Cận Hành hỏi: "Em lấy đâu ra?"
Văn Viêm lấp lửng đáp: "Tích cóp mà có."
Hiện tại, dù cậu có ra ngoài làm việc thì một tháng cũng chỉ kiếm được hơn ba nghìn. Số tiền này cậu đã dành dụm từ rất lâu. Nếu không tính đến khoản sinh hoạt phí Văn Tư Uyển gửi, thì không quá lời khi nói rằng Văn Viêm đã dốc hết tiền dành dụm của mình vào đây.
Cậu đối tốt với một người chính là như vậy, không hề do dự, cũng không hề tính toán.
Cận Hành cảm thấy số tiền trong tay mình nặng trĩu.
Văn Viêm hỏi anh: "Không thích à?"
Có chút thấp thỏm.
Cận Hành không nói gì, chỉ đưa tay ôm cậu vào lòng, rất lâu sau mới lên tiếng: "Thích."
Văn Viêm thầm thở phào nhẹ nhõm, đồng thời cũng có chút đắc ý. Cậu đã nói rồi mà, tặng tiền là thực tế nhất. Nhưng chưa kịp nói thêm điều gì, bên tai bỗng cảm nhận được một nụ hôn nhẹ, mềm mại mà nóng rực, dần dần trượt xuống và chạm đến môi.
Văn Viêm đối diện ánh mắt sâu thẳm của Cận Hành, hơi thở bất giác nghẹn lại. Đầu ngón tay không tự chủ mà siết lấy bờ vai anh, nhắm mắt lại, khẽ đáp lại nụ hôn ấy. Lưng cậu tựa vào lớp kính mát lạnh, phía sau là những chùm pháo hoa rực rỡ, còn gương mặt nghiêng đã trở nên mơ hồ dưới ánh sáng mờ ảo.
Cận Hành ép cậu vào tường, cảm xúc mãnh liệt cuốn trào. Văn Viêm bị anh hôn đến mức cảm nhận được chút đau nhói, mãi đến khi không khí dần nóng lên, cậu mới khàn giọng thúc giục: "Vào phòng đi."
Cận Hành hôn quá say sưa, chẳng rõ là nghe thấy hay không. Văn Viêm đành trở mình làm chủ, nắm lấy tay anh, kéo thẳng về phía phòng ngủ. Y phục lần lượt rơi xuống, chỉ còn chiếc khăn quàng cổ màu đen đơn sắc vẫn quấn hờ hững.
Tựa như sợi dây định mệnh, buộc chặt hai người lại với nhau.
Văn Viêm ngửa đầu, yết hầu mong manh lộ ra giữa không khí lạnh giá. Cậu chầm chậm ôm lấy gáy của Cận Hành, không thành tiếng mấp máy đôi môi, rồi bất chợt ghé vào tai anh thì thầm ba chữ:
"Em yêu anh..."
Chân thành mà vụng về, khắc sâu mà nồng nhiệt.
Cận Hành chợt khựng lại, sau đó chậm rãi tiếp tục điều đang dang dở. Anh hôn lên mái tóc của Văn Viêm, lướt qua hàng chân mày, sống mũi, khóe môi, và cuối cùng là dái tai cậu. Rất lâu, rất lâu sau, anh khẽ đáp lại: "Anh cũng vậy..."
Anh cũng vậy...
Chương 161
Mùa đông năm nay rốt cuộc vẫn không có tuyết rơi, chỉ có một đêm nào đó, cơn mưa lạnh lẽo lướt qua như một lời tượng trưng. Sáng sớm đọng thành băng. Rồi sau bữa cơm Tết, những lần thăm hỏi họ hàng kết thúc, ngày tựu trường cũng đã đến.
Kỳ nghỉ ngắn ngủi đến không thể ngắn hơn ấy chẳng hề làm ảnh hưởng đến trạng thái học tập của mọi người trong lớp 12/9. Ban đầu, chỉ vài ngày đầu họ còn chút phấn khởi, nhưng rất nhanh sau đó đã trở lại nhịp độ học hành. Đề bài mà Cận Hành giao ra cũng dần nâng độ khó để chuẩn bị cho kỳ thi đại học.
Con số đếm ngược trên góc phải bảng đen từng chút một giảm xuống, từ ba chữ số chỉ còn hai chữ số. Cả hành lang khu lớp 12 đều tràn ngập một bầu không khí căng thẳng khó nói thành lời. Ngoài những tiếng lầm rầm học bài thì chỉ có giọng giáo viên giảng bài thi.
Cô Sầm có lẽ thấy học sinh quá bận rộn nên khi thời tiết vừa bắt đầu ấm áp hơn, đã thông báo một tin tức: "Thứ sáu tuần sau, chúng ta sẽ chụp ảnh tốt nghiệp. Đến lúc đó tất cả phải mặc đồng phục. Nam sinh cắt tóc gọn gàng, nữ sinh cũng chỉnh sửa lại bản thân chút nhé."
Tin tức này vừa được đưa ra đã làm giảm bớt phần nào áp lực học tập bận rộn của cả lớp. Học sinh lập tức bàn tán rôm rả, có phần phấn khởi.
Có một bạn nữ yêu cái đẹp giơ tay hỏi: "Cô ơi, nhất định phải mặc đồng phục sao? Không mặc đồ riêng được ạ?"
Bên dưới lập tức đồng tình: "Đúng rồi đó, đồng phục xấu quá mà!"
Cô Sầm nhìn họ, lắc đầu bất lực: "Bây giờ các em chê đồng phục xấu, sau này muốn mặc cũng không mặc được đâu. Các em mặc đồ riêng chụp ảnh chung với nhau thì cô không quản, nhưng chụp tập thể với ban giám hiệu thì phải mặc đồng phục."
Điều này coi như nới lỏng yêu cầu. Đến lúc đó, họ có thể mặc thêm đồ riêng bên trong đồng phục, chụp xong ảnh thì cởi ra. Không gian sáng tạo trong cách ăn mặc của nữ sinh khá lớn, nghe vậy bèn vui mừng nhảy nhót.
Cận Hành không còn nhớ rõ lần chụp ảnh tốt nghiệp kiếp trước của mình là như thế nào nữa. Hình như anh đứng trong góc, đến mặt mũi cũng chẳng nhìn rõ. Anh vốn không có cảm giác gì với chuyện chụp ảnh, chỉ dự định ngày mai cắt ngắn mái tóc hơi dài của mình.
Cận Hành lúc nào cũng ăn mặc đơn giản, không giống như Châu Khải và nhóm bạn luôn chọn đồ hiệu màu mè lòe loẹt, nhưng tiếng tăm "nam thần" vẫn lặng lẽ gắn liền với anh. Ngăn kéo đầy chật, không chỉ có đồ ăn vặt mà còn là những bức thư tình. Cả lớp mình lẫn lớp khác, nhưng chưa từng thấy anh đáp lại.
Các nữ sinh chỉ có thể ôm lấy trái tim tan vỡ, tự an ủi bản thân: Không theo đuổi được thì thôi, dù sao người khác cũng chẳng làm được.
Ngày chụp ảnh tốt nghiệp của trường 6 trời xanh trong vắt, là một ngày nắng đẹp. Bối cảnh được chọn ở sân vận động. Cận Hành nghiêm chỉnh mặc một bộ đồng phục, vì cao ráo nên đứng ở hàng cuối cùng.
Châu Khải thì cố ý chải chuốt một kiểu tóc mới, vừa soi gương tự sướng vừa khoe chiếc máy ảnh chuyên dụng mà hắn mang từ nhà đến: "Chụp ảnh tập thể xong, tụi mình tự chụp thêm vài tấm nhé."
Bọn họ hầu hết đều đặt mua hoa, để ngay ở góc hành lang. Có lẽ là dành tặng thầy cô. Những đóa hoa muôn màu rực rỡ, hương thơm tinh khôi tỏa lan, khiến không khí cũng như vương chút thanh thoát.
Lãnh đạo nhà trường ngồi ở hai hàng ghế đầu, mặc vest chỉnh tề. Lớp 1 chụp trước, lần lượt xếp xuống dưới, cuối cùng mới đến lượt lớp 12/9.
Cô Sầm dẫn học sinh đi sắp xếp vị trí, Cận Hành tự giác đứng vào hàng cuối vì chiều cao của anh. Nhưng đột nhiên Châu Khải và mấy người bạn đẩy anh ra, kéo anh lên giữa: "Cậu đứng đây này."
Cận Hành hơi sững người.
Mấy bạn nữ đứng phía trước cũng bật cười khúc khích: "Đúng rồi, đứng xa như thế làm gì. Cậu là đại diện nhan sắc của lớp 9 mà!"
Học sinh lớp 12/9 dường như có ý muốn anh đứng ở vị trí trung tâm, không cho phép anh từ chối mà kéo thẳng lên. Cô Sầm thấy vậy cũng không nói gì, chỉ bảo: "Cận Hành, em cao quá, hơi khụy chân một chút đi."
Hiệu trưởng đã lớn tuổi, nhìn thấy cảnh này thì bật cười ha hả: "Không ngờ, học sinh đứng đầu khối của chúng ta lại được yêu thích như thế."
Lớp 1 lúc nãy khi chụp ảnh còn phải tranh vị trí cả buổi. Họ đều là những học sinh ưu tú, chẳng ai muốn đứng ở góc, thầy cô phải dàn xếp mãi mới ổn thỏa.
Châu Khải là người hay pha trò, bèn đùa với cô giáo và hiệu trưởng: "Đương nhiên rồi, Cận Hành là bảo vật của lớp chúng em. Bảo vật mà không đứng trung tâm thì thật là bất công!"
Mọi người xung quanh đều bật cười.
Cận Hành chỉ có thể làm theo ý cô giáo, hơi cúi thấp chiều cao, cố gắng không che khuất người phía sau. Vài bạn nam bên cạnh choàng vai bá cổ nhau, cũng tiện thể kéo anh vào, cùng nhau giơ hai ngón tay tạo dáng trước ống kính.
Nhiếp ảnh gia chỉnh lại góc máy, cuối cùng lên tiếng: "Bạn đẹp trai đứng giữa, cười một cái nào."
Người đẹp trai đứng giữa, hiển nhiên là Cận Hành. Có lẽ vì nụ cười tươi sáng của những người bên cạnh, mà nét mặt có phần nhạt nhòa của anh lại trở nên nổi bật. Cận Hành chỉ có thể mỉm cười, lúc đầu hơi gượng gạo, nhưng về sau dần thả lỏng.
Nụ cười chân thành đối với anh dường như không còn khó khăn như trước nữa.
"Chụp nào!"
Khoảnh khắc máy ảnh bắt được hình ảnh của họ, dường như đã lưu giữ lại tất cả thời gian suốt ba năm qua. Nó cũng giống như một đường phân cách, tách rời hoàn toàn thanh xuân, tượng trưng cho sự kết thúc của thời niên thiếu.
Ba năm dài đằng đẵng, nhưng cũng chỉ đến thế, khi ngoảnh lại, họ nhận ra bản thân đã vượt qua biết bao gian khổ.
Sau khi chụp ảnh tập thể xong, Cận Hành vốn định quay về lớp học, ai ngờ một nữ sinh trong lớp đột nhiên ôm một bó hoa chạy tới, không nói không rằng nhét một bó hướng dương vào tay anh: "Cận Hành, tặng cậu."
Anh tưởng rằng đây là một lời tỏ tình, cảm thấy không nên nhận, định trả lại thì Châu Khải bỗng nhiên vỗ đầu như vừa nhớ ra chuyện gì, chạy qua ôm thêm hai bó hoa nữa.
Một bó dành cho cô Sầm, bó còn lại đưa cho Cận Hành.
Châu Khải vỗ vai anh, cười nói: "Anh bạn, trong toàn trường này, tôi biết ơn hai người nhất, một là cậu, hai là cô Sầm."
Dường như tất cả đều đã bàn bạc trước, lần lượt từng người một đem hoa tới. Cuối cùng, hoa trong tay Cận Hành nhiều đến mức anh không thể ôm hết, còn bên phía cô Sầm cũng tương tự. Không còn cách nào khác, cô đành chia bớt cho thầy giáo bên cạnh, bất đắc dĩ nói: "Biết các em yêu quý thầy cô, nhưng cũng đừng lãng phí tiền như vậy."
Mọi người cười rộ lên. Đúng là lớp 12/9 chẳng thiếu thứ gì, ngoại trừ tiền thì có rất nhiều.
Các nữ sinh tháo đồng phục ra, để lộ những chiếc váy xinh đẹp bên trong, tụ tập chụp ảnh cùng bạn bè thân thiết. Cận Hành là người được yêu thích nhất, gần như ai cũng muốn kéo anh chụp cùng một tấm. Cuối cùng, anh ngồi bệt xuống đất, đặt bó hoa sang bên cạnh, ai muốn chụp thì cứ việc tới.
Châu Khải đứng lên hô to: "Lớp 9, nhanh qua đây chụp ảnh nào!"
Lời vừa dứt, mọi người lập tức đáp lại. Trừ một số người không có mặt, cả lớp còn lại đều tập hợp đông đủ. Cận Hành là tâm điểm, mọi người tự sắp xếp vị trí xung quanh anh.
Anh chia bớt hoa cho các nữ sinh đứng gần, sau đó chậm rãi đưa tay tạo dáng chữ "V". Ánh nắng chiều đổ xuống, chiếu rọi mái tóc đen của anh, để lại một lớp ánh vàng mỏng, khiến đường nét khuôn mặt anh càng thêm tuấn tú. Bộ đồng phục xanh trắng dường như sinh ra để dành cho anh.
Châu Khải hẹn giờ xong, vội vàng chạy đến tạo dáng, suýt nữa vấp ngã. Máy ảnh "tách" một tiếng, cả đám đồng loạt bật cười và hô lớn: "Dưa chua—!"
Ánh nắng xuyên qua tán lá, soi rõ từng đường vân mỏng manh, mang đến sự ấm áp và niềm hạnh phúc.
Cận Hành được bao quanh bởi hoa tươi và tiếng cười, những khuôn mặt trước mắt anh chỉ tràn ngập sự thuần khiết và chân thành, không có lấy một tia u ám.
Thành tích xuất sắc, danh tiếng vang dội, bạn bè thân thiết, tình cảm gắn bó.
Đây mới là cuộc đời mà anh đáng được sở hữu.
Không phải như kiếp trước, nơi chỉ toàn là sự bắt nạt và lăng mạ, phải gắng gượng sinh tồn trong bóng tối, bị ác ý nhấn chìm như cơn thủy triều, không cách nào trồi lên. Khi ấy, anh chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc vùng vẫy để kéo người khác xuống cùng mình.
Kỳ thi đại học sắp đến gần, giấy báo thi đã được phát cho từng người. Cô Sầm không ngừng dặn dò mọi người kiểm tra kỹ đồ đạc vào ngày thi, dáng vẻ lo lắng như muốn tự mình đi thi thay cho học sinh.
Ngoài hành lang trường số 6, những tấm biểu ngữ đỏ rực được treo dọc lan can, dòng chữ hiện rõ nét: "Chăm chỉ hôm nay, vượt vũ môn ngày mai!"
"Mười năm đèn sách, tháng sáu mộng đẹp, hành trình rực rỡ!"
"Cố gắng hết mình, kỳ thi đại học tất thắng!"
Cận Hành đã tổng hợp toàn bộ các dạng bài và công thức, gửi cho các bạn trong lớp 12/9. Những gì anh có thể làm đều đã làm xong, mọi người đã luyện tập kỹ càng, thành hay bại giờ chỉ còn chờ bước cuối cùng.
Suốt thời gian dài, học sinh luôn trong trạng thái học tập căng thẳng. Trước và sau kỳ thi đại học, thầy cô lại giảm bớt sự giám sát, phần lớn thời gian để học sinh tự học.
Đây là lần thứ hai Cận Hành tham gia kỳ thi đại học, dù muốn cũng không thể căng thẳng được. Những lúc ở nhà, anh chủ yếu dành thời gian giúp Văn Viêm luyện bài, còn cậu thì như con kiến bò trên chảo nóng, miệng lẩm bẩm không ngừng.
Văn Viêm ngồi xếp bằng trên sofa, cầm điện thoại tra quy trình thi cử: "Giấy báo dự thi mang theo chưa?"
Cận Hành đang gấp quần áo: "Mang rồi."
"Bút chì, thước kẻ đâu?"
"Cũng mang rồi."
Văn Viêm: "..."
Cậu vò tóc, không biết nên hỏi thêm điều gì. Khi rơi vào trạng thái căng thẳng, đầu óc cậu thường dễ đơ. Thấy Cận Hành bình thản gấp đồ, Văn Viêm đứng dậy nói: "Em vào ôn bài đi, để anh làm cho."
Cận Hành cảm thấy mình không cần ôn nữa: "Hay là anh ra thêm cho em vài bài tập nhé?"
"Thôi đi, đừng nhắc đến cái bảng điểm thảm hại của em nữa," Văn Viêm thở dài, "đã không có tài năng, giờ muốn học thêm cũng chẳng kịp."
Hai người thi cùng một ngày, nhưng Văn Viêm gần như buông xuôi, chỉ quyết tâm viết được gì hay nấy, còn lại phó mặc số phận.
Cận Hành dựa vào bàn, xoa đầu cậu: "Đừng căng thẳng quá."
Văn Viêm liếc anh một cái: "Anh nói em hay nói chính anh đấy?"
Cận Hành khẽ cười: "Anh nói em."
"Em còn chẳng có gì để căng thẳng," Văn Viêm vỗ mạnh vào đống quần áo gấp gọn, nhét đại vào tủ rồi vỗ tay, "Hay em xuống mua ít trái cây cho anh ăn nhé? Hoặc ra ngoài ăn tiệm cũng được?"
Những ngày cận thi, học sinh thường được hưởng đãi ngộ như vua, chỉ cần yêu cầu không quá đáng thì bố mẹ đều chiều theo. Văn Viêm cũng vậy, cảm thấy Cận Hành phải thi vất vả, cần được ăn uống bồi bổ.
Cận Hành: "Sinh hoạt như bình thường thôi, lỡ ăn gì lạ lại đau bụng thì sao?"
Văn Viêm nghĩ cũng phải, đành từ bỏ ý định. Nhưng không hiểu sao cậu lại cảm thấy tinh thần mình như bị k.ích thích, không cách nào ngủ được. Cậu châm điếu thuốc để trấn tĩnh lại, tâm trạng lo âu cuối cùng cũng dịu đi đôi chút, nhưng chỉ một chút mà thôi.
Có lẽ chính cậu cũng đang căng thẳng.
Văn Viêm dụi tắt điếu thuốc trong gạt tàn, bất ngờ đứng lên vỗ vào vai Cận Hành: "Đi, vào ngủ thôi."
Cận Hành ngập ngừng hỏi: "...Ngủ?"
Cậu nghĩ đến điều đó sao?
Văn Viêm như đoán được ý anh, từng chữ nhấn rõ: "Chỉ. Ngủ. Mà. Thôi."
Nếu ngủ muộn, nghỉ ngơi không đủ, ngày mai đi thi lại buồn ngủ thì sao.
Cận Hành lần đầu tiên trong đời, tám giờ tối đã bị kéo lên giường đi ngủ.
Chương 162
Kỳ thi đại học với bất kỳ học sinh nào cũng đều là sự kiện trọng đại quyết định vận mệnh. Sáng sớm hôm sau, khoảng tám giờ, khi Cận Hành đến khu vực ngoài trường thi, hai bên đường đã chật kín phụ huynh và giáo viên tiễn thí sinh. Bảo vệ đang duy trì trật tự, quang cảnh vô cùng náo nhiệt.
Cô Sầm chen chúc giữa đám đông, chiếm được một góc nhỏ, học sinh lớp 9 đều tụ tập tại đó, lần lượt kiểm tra giấy báo dự thi và dụng cụ học tập.
Cận Hành bước đến, quả nhiên bị cô Sầm gọi tên: "Cận Hành, mau kiểm tra xem giấy báo dự thi mang chưa, dụng cụ đâu?"
Tất cả đều đã được cất trong túi tài liệu trong suốt. Cận Hành giơ túi lên cho cô xem: "Đã mang đầy đủ ạ."
Thời tiết oi bức, vài lọn tóc của cô Sầm đã ướt mồ hôi, trông có chút luộm thuộm. Cô cầm túi của anh lên, kiểm tra từng thứ một, xong xuôi mới trả lại: "Bữa sáng thì sao, đã ăn chưa?"
Cận Hành gật đầu: "Em ăn rồi."
Văn Viêm tối qua tám giờ đã lên giường, kết quả lăn qua lộn lại mãi đến rạng sáng mới ngủ được. Trời còn chưa sáng đã vội vàng ra ngoài mua cả đống đồ ăn sáng, hai người căn bản ăn không hết.
Cô Sầm yên tâm hơn một chút, vỗ vai anh: "Làm bài bình thường là được, đừng căng thẳng."
Châu Khải đứng ngay bên cạnh, tay cầm một chồng tài liệu ôn thi, miệng lẩm bẩm không ngừng, vẻ lo lắng lộ rõ. Nhìn thấy Cận Hành, mắt hắn sáng rực lên, như thể tìm được cứu tinh, lập tức chạy tới: "Cận Hành, Cận Hành!"
Cận Hành còn tưởng hắn có bài nào muốn hỏi: "Sao thế?"
Châu Khải đứng tại chỗ dậm chân, hít sâu: "Tôi... tôi... tôi căng thẳng quá."
Cận Hành: "Đừng căng thẳng, chỉ là một kỳ thi thôi mà."
Họ đang ở độ tuổi thanh xuân rực rỡ. Ở tuổi trẻ tràn đầy khí phách này, chỉ cần dốc hết sức làm một việc, dù thành công hay thất bại, kết quả cũng sẽ không quá tệ. Bởi vì con đường của tuổi trẻ vẫn còn rất dài, một kỳ thi không thể quyết định toàn bộ thành bại trong tương lai.
Cận Hành là chỗ dựa tinh thần, luôn mang vẻ phong thái ung dung, bình thản. Châu Khải nhìn anh, tâm trạng bỗng nhiên bình ổn hơn, ngồi xuống ghế bên bồn hoa, chờ đến giờ mở cổng trường thi.
Trường thi của Sùng Minh nằm ở một ngôi trường khác, cách khá xa. Cận Hành ngồi dưới bóng cây, trong lòng đoán xem cậu giờ này đang làm gì. Ôn bài? Chắc chắn không phải. Hút thuốc? Có khả năng.
Văn Viêm mỗi lần căng thẳng là thích hút thuốc.
Cận Hành nghịch điện thoại, dường như muốn gửi gì đó nhưng vẫn chưa chỉnh sửa xong lời, cứ viết rồi lại xóa. Mãi đến khi chuông báo vào phòng thi vang lên, anh mới dừng tay, nhấn nút gửi đi.
—Thi xong, chúng ta cùng đến thành phố A nhé.
Cận Hành viết hai chữ "Cố lên", lại xóa. Viết "Thi tốt", rồi lại xóa. Những lời đó đều không phải điều anh thực sự muốn nói.
Thi đại học kết thúc, ý nghĩa của cuộc sống mà anh được tái sinh lần này mới hoàn thành được một nửa. Chỉ khi mang theo Văn Viêm cùng rời đi, mới có thể coi là trọn vẹn. Họ sẽ không bị thua bởi thời gian, cũng không bị thua bởi khoảng cách.
Bởi vì tuổi trẻ bất khả chiến bại, không gì cản nổi.
Khoảng hai ba phút sau, bên kia mới gửi lại một tin nhắn. Văn Viêm chỉ nói đúng một chữ: "Được."
Đó chính là câu trả lời của cậu. Đối diện với mọi lựa chọn của Cận Hành, cậu vĩnh viễn chỉ có một đáp án này.
Cô Sầm nhìn thấy học sinh từng người một bước vào trường thi, lòng bàn tay đặt lên vai họ, rồi khẽ siết lại: "Làm bài tốt nhé, đừng căng thẳng."
"Cô ở bên ngoài đợi các em."
"Đừng sợ, thả lỏng đi."
Khi Cận Hành bước tới, cô Sầm cũng vỗ vai anh, dưới bóng râm của tán cây, nhẹ nhàng động viên:
"Làm bài tốt nhé."
Cận Hành gật đầu, bước vào phòng thi.
Mùa hè dài dằng dặc, là mùa phóng túng nhất trong bốn mùa. Còn mười tám tuổi cũng là độ tuổi ngông cuồng nhất trong đời người. Hai điều ấy giao hòa với nhau, kéo dài khoảng thời gian thanh xuân, làm phẳng lặng cả quãng đời sau này.
Buổi sáng chín giờ bắt đầu thi môn ngữ văn, buổi chiều ba giờ thi môn toán.
Đề thi hơi khó, nhưng phần lớn các dạng bài cơ bản học sinh lớp 9 đều đã làm qua, chắc chắn có thể kiếm được điểm phương pháp. Cận Hành vẫn còn nhớ điểm số kỳ thi trước của mình. Nhìn những câu hỏi quen thuộc trước mắt, ngòi bút khựng lại, anh cố ý làm sai hai câu, cố gắng giữ điểm trong phạm vi nhất định.
Anh đã đạt được rất nhiều thứ, trái tim này bỗng trở nên nhỏ bé và biết đủ...
Cận Hành chỉ muốn đi theo con đường cũ của kiếp trước, ngoài Văn Viêm ra, không cần thay đổi thêm gì nữa.
Kỳ thi kéo dài hai ngày nhanh chóng kết thúc, dường như cũng đánh dấu sự kết thúc của thời học sinh lớp 12. Nhiều học sinh đã lên kế hoạch đi du lịch thư giãn, sau đó mới quay lại kiểm tra điểm số. Dù sao mọi chuyện cũng đã an bài, làm gì thoải mái thì làm.
Văn Viêm cũng có suy nghĩ đó. Rõ ràng cậu cũng chỉ là một thanh niên chưa trưởng thành, nhưng mỗi khi nhìn Cận Hành, trong lòng luôn mang tâm lý như nhìn đứa con của mình. Những gì người khác có, Cận Hành cũng phải có: "Em dẫn anh đi dạo đâu đó, anh chọn một chỗ đi."
Họ đang ngồi trong phòng điều hòa, không khí mát lạnh phả ra, nhưng vẫn không ngăn được cái nóng như thiêu đốt ngoài kia. Cận Hành dựa vào ghế sofa, lắc đầu: "Không muốn đi, cứ ở nhà nghỉ vài ngày đi."
Đi chơi cũng không nên chọn mùa này, sẽ bị nắng nóng thiêu cháy mất một tầng da.
Văn Viêm lướt xem các địa điểm du lịch được đề xuất trên điện thoại, trông có vẻ rất ổn: "Anh có phải sợ tốn tiền không?"
Hiện tại hai người họ chỉ là những sinh viên nghèo, không có nguồn thu nhập nào cả. Đợi đến khi tới thành phố A, việc gì cũng cần tiền. Cách tốt nhất bây giờ là tiết kiệm được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Cận Hành cầm điện thoại của cậu, thoát khỏi mấy quảng cáo lòe loẹt, rồi ném trả lại: "Toàn là quảng cáo lừa đảo."
Rồi nói thêm: "Tiền không phải vấn đề lớn."
Cận Hành vào Đại học A, rất nhiều kế hoạch có thể bắt đầu thực hiện. Anh sẽ dùng thời gian ngắn nhất để đạt tới độ cao như ở kiếp trước.
Văn Viêm nghiêng người, tựa đầu lên đùi anh, ngón tay chọc chọc màn hình điện thoại: "Nếu anh không muốn đi chơi, vậy mấy tháng tới em đi làm thêm, dù sao ở không cũng chẳng làm gì."
Cận Hành không nói gì, nhìn ra ngoài trời nắng chói chang, hơi nóng cuồn cuộn. Một lát sau, anh mới lên tiếng: "Anh đi cùng em."
Văn Viêm theo phản xạ ngồi thẳng dậy, sau đó lại chậm rãi nằm xuống lần nữa: "Anh vừa thi xong, nghỉ ngơi một thời gian rồi tính tiếp."
Cận Hành đưa tay lướt qua đường viền cằm của Văn Viêm, cảm thấy cậu gầy đi rất nhiều. Anh kéo người vào lòng, cúi xuống hôn, rải đầy những nụ hôn nhỏ nhặt, rồi thấp giọng hỏi bên tai: "Em có thấy mệt mỏi không?"
Cuộc đời của cả hai người bọn họ đều không hoàn chỉnh, thậm chí ngay cả việc có đủ cha mẹ bên cạnh cũng là điều xa xỉ, không có chút tư cách nào để so sánh với người khác. Không biết có phải là do ông trời ưu ái hay không, Cận Hành còn có Văn Viêm bên mình, nhưng Văn Viêm lại chưa từng được ai bảo vệ.
Cậu chưa kịp làm một đứa trẻ, đã bị ép buộc phải gánh vác cả cuộc sống.
Văn Viêm không hiểu tại sao anh lại hỏi như vậy, theo bản năng nghĩ rằng anh hỏi công việc có mệt không, nên trả lời chậm rãi: "Cũng tạm."
Cận Hành đã đoán trước được cậu sẽ trả lời như thế, vòng tay qua ôm lấy eo Văn Viêm, vùi mặt vào cổ cậu. Mùi hương quen thuộc của thuốc lá khiến người ta không khỏi cảm thấy an toàn: "Văn Viêm, con đường sau này chúng ta cùng nhau đi..."
Vì vậy, cũng phải cùng nhau cố gắng.
Văn Viêm cảm thấy điều này vốn dĩ là hiển nhiên, không cần phải nói ra. Cậu lười biếng nằm trong lòng anh, dây thần kinh bỗng chốc thả lỏng, cơn buồn ngủ như thủy triều kéo đến, chẳng biết từ khi nào đã ngủ mất.
Áp lực trên vai cậu không hề nhỏ hơn Cận Hành, vừa lo lắng cho kết quả thi của anh, vừa đi làm, lại vừa nghĩ về tương lai sau này của hai người. Sau kỳ thi đại học, như thể cậu vừa trút được một tảng đá lớn, có được chút thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi.
Trong khoảng thời gian sau đó, Văn Viêm cuối cùng cũng không thể cãi lại được Cận Hành. Hai người cùng nhau tìm một công việc làm thêm tại một cửa hàng trà sữa, lương mỗi tháng ba nghìn tệ. Có lẽ vì ngoại hình xuất sắc, doanh thu của quán lúc nào cũng tốt đến mức bất ngờ. Nhan Na thỉnh thoảng cũng ghé qua ủng hộ.
"Một ly trà sữa lạnh, thêm nhiều trân châu."
Nhan Na mặc một chiếc váy dây màu trắng, che ô đứng trước quầy, thành thạo gọi một phần đồ uống. Vì trời nóng bức, mái tóc dài ngang lưng của cô đã được cắt ngắn thành kiểu tóc bob, trông vừa thuần khiết vừa đáng yêu, khiến phong thái tiểu lưu manh ngày trước giảm đi vài phần.
Cận Hành mỉm cười, làm theo yêu cầu của cô, cho thêm hai thìa trân châu. Ông chủ khá dễ tính, nhìn thấy cũng không nói gì, thậm chí thường xuyên để nhân viên uống miễn phí, bởi chi phí nguyên liệu vốn không cao.
Văn Viêm đứng tựa vào quầy, dùng nón vẫy vẫy vài cái cho mát: "Ngày nào cũng thêm trân châu, chưa thấy cậu thêm tiền lần nào."
Nhan Na giậm chân: "Gì chứ, tôi đến ủng hộ quán mà cậu còn tiếc hai thìa trân châu à? Chúng ta là quan hệ gì chứ?"
Văn Viêm nhướn mắt liếc cô một cái, lười đáp.
Cận Hành lắc đều trà sữa, đưa cho Nhan Na. Cô nhận lấy, chống tay lên quầy, thần thần bí bí nói: "Nghe nói tối nay lúc nửa đêm là có thể tra điểm rồi, có muốn thức để xem không?"
Ngữ điệu của cô lộ rõ sự căng thẳng, bất an.
Văn Viêm hơi ngừng lại, theo phản xạ nhìn về phía Cận Hành. Điểm số của cậu thì khỏi phải nói, chắc chắn là không được tốt. Quan trọng là xem Cận Hành thi thế nào, dù gì A Đại cũng nổi tiếng là nơi cạnh tranh khốc liệt.
Cận Hành bình tĩnh rửa cốc, đối với việc tra điểm không hề nóng vội: "Tối nay xem được thì xem, nhưng chắc sẽ đông người."
Nhan Na có vẻ rất hồi hộp, vừa mong mình thi không tốt, vừa mong mình không quá tệ. Sự mâu thuẫn thể hiện rõ ràng qua vẻ mặt, đến mức ly trà sữa trong tay cũng trở nên nhạt nhẽo.
Tối chín giờ tan ca, Văn Viêm và Cận Hành trực tiếp về nhà. Có lẽ vì sắp có kết quả, bầu không khí có chút căng thẳng, làm gì cũng không tập trung nổi.
Từ sau kỳ thi, Văn Viêm chưa từng hỏi qua Cận Hành thi như thế nào, chỉ sợ tạo áp lực cho anh. Đêm nay, cuối cùng cậu không nhịn được mà hỏi: "Anh thấy thi thế nào?"
Chưa đầy mấy ngày sau kỳ thi, đáp án mẫu đã được công bố. Cận Hành đã đối chiếu, kết quả dự đoán không chênh lệch nhiều.
Anh lấy từ tủ lạnh ra một đĩa trái cây ướp lạnh, nét mặt chẳng hề có chút căng thẳng: "Anh thấy cũng ổn."
Anh vốn khiêm tốn, nhưng chữ "ổn" ấy làm Văn Viêm không khỏi nghĩ nhiều. Kết quả chưa có, cậu đã chuẩn bị sẵn cả bụng lời an ủi: "Kệ, thi được hay không cũng chẳng sao. Dù ở đâu thì cũng không đến mức chết đói."
Cận Hành khẽ cười: "Thế còn em, cảm thấy thi thế nào?"
Văn Viêm thật thà đáp: "Không tốt lắm."
Điểm văn hóa của cậu nhờ Cận Hành lôi kéo lên được một chút, nhưng phần kỹ năng của trường nghề lại chiếm phần lớn. Văn Viêm không cần tra cũng biết mình thi chẳng ra sao, cùng lắm chỉ là chết không quá thảm.
Tối đó, cả hai đều không ngủ, ngồi trên sofa xem TV, đợi đến nửa đêm để tra điểm. Văn Viêm không ngừng nghịch điện thoại, vẻ mặt lo lắng, cảm giác thời gian trôi qua quá chậm.
Ngoài trang web chính thức, một số tài khoản công khai trên các ứng dụng xã hội cũng mở cổng tra cứu. Văn Viêm theo dõi thời gian, vừa đến giờ liền bấm vào trang chủ, nhập thông tin số chứng minh thư và số báo danh của Cận Hành. Nhưng thanh tiến trình cứ xoay mãi, không hiển thị kết quả.
Cậu nhíu mày, cảm thấy điện thoại này làm chậm trễ mọi thứ, bực bội lắc hai cái, quay sang hỏi Cận Hành: "Anh vào được chưa?"
Cận Hành lắc đầu: "Chưa."
Kỳ thi đại học là cảnh ngàn quân vạn mã chen chúc nhau qua một cây cầu hẹp, giờ này không biết có bao nhiêu người đang thức đợi. Không lâu sau, Nhan Na cũng gọi đến, nói không vào được. Từ Mãnh thử rất lâu, kết quả cũng như vậy.
Bốn người, không ai thành công.
Bọn họ kiên trì không bỏ cuộc, vừa dùng điện thoại vừa dùng máy tính, nhưng đường truyền mạng vẫn tắc nghẽn. Cận Hành nhìn đồng hồ treo tường, thấy đã chỉ một giờ sáng, dứt khoát đứng dậy, kéo Văn Viêm vào phòng: "Trễ rồi, ngủ trước đi, mai tra cũng vậy thôi."
Văn Viêm: "Không được, em ngủ không được."
Cậu cầm điện thoại, tiếp tục làm mới trang web.
Cận Hành kéo cậu lên giường, ánh sáng từ màn hình điện thoại hắt lên gương mặt, làm các đường nét trở nên mờ ảo. Đầu ngón tay anh thuần thục kéo vạt áo của Văn Viêm lên, nhướn mày hỏi: "Ngủ không được, làm chuyện khác nhé?"
Văn Viêm nhìn anh một cái, thầm nghĩ cũng được, sau đó quay lưng về phía anh: "Anh làm chuyện của anh, em làm chuyện của em."
Cận Hành: "..."
Chương 163
Văn Viêm cuối cùng vẫn không tra được điểm, chẳng biết lúc nào buông tay làm rơi điện thoại xuống gầm giường. Sáng hôm sau, phát hiện một góc màn hình bị vỡ, cậu chẳng còn sức để đau lòng, chỉ muốn nằm yên trên giường, làm một con cá chết biết thở.
Cận Hành đúng là quá mức độc ác rồi...
Văn Viêm có thể thề rằng, hôm qua chắc chắn là trận "vận động" kịch liệt nhất cậu từng trải qua trong đời.
Cận Hành đang ngồi bên mép giường mặc quần áo, thấy Văn Viêm đã tỉnh, anh cười như không cười, hỏi: "Đã tra được chưa?"
Văn Viêm không còn sức để nói chuyện: "..."
Cận Hành nói: "Nghỉ một lát rồi dậy đi, anh xuống dưới mua bữa sáng."
Nói xong, anh liền rời đi. Khi đang đi trên đường, mới chậm rãi nhớ tới chuyện kiểm tra điểm thi. Anh mở trang web, nhập thông tin dự thi của Văn Viêm, mất khoảng một phút để tải, cuối cùng cũng vào được.
Văn Viêm thi kỳ thi kỹ năng, tổng điểm tối đa là 700, trong đó kỹ năng chiếm 490 điểm, môn văn hóa gồm Ngữ văn và Toán mỗi môn 90 điểm, Anh văn 30 điểm.
Cận Hành trước giờ luôn giúp Văn Viêm bồi dưỡng các môn văn hóa, còn về kỹ năng thì lực bất tòng tâm, nên cũng không chắc cậu thi thế nào. Anh đứng bên đường lướt một hồi lâu, cuối cùng trang web hiện ra điểm số của Văn Viêm.
Tổng điểm: 380
Kỹ năng chuyên ngành: 251
Ngữ văn: 48
Toán: 63
Anh văn: 18
Khi thấy tổng điểm của Văn Viêm là 380, Cận Hành ngẩn người trong chốc lát, sau đó không nhịn được mà bật cười. Cũng tạm ổn, ít nhất cao hơn dự đoán của anh. Thi đại học thì chắc chắn không đủ, nhưng đăng ký cao đẳng vẫn miễn cưỡng vừa vặn.
Cận Hành thoát khỏi trang web, nhập thông tin của mình để kiểm tra điểm thi. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc phân tâm, trang web lại đơ, không thể nào vào lại được. Anh đành cầm bữa sáng quay về nhà.
Không biết Văn Viêm đã dậy từ lúc nào, giờ đang nằm trên sofa không ngừng bấm điện thoại. Có lẽ do tốc độ mạng không theo kịp người khác, cậu bắt đầu chửi thề: "Chết tiệt, tại sao vẫn chưa vào được?"
Cận Hành đặt bữa sáng lên bàn: "Lại đây ăn sáng đi, chắc chiều sẽ vào được thôi."
Văn Viêm liếc nhìn anh, rồi nhìn sang bàn ăn, sau đó vừa ôm eo vừa chậm rãi ngồi xuống bên bàn, cực kỳ "thục nữ". Nhưng còn chưa kịp ngồi xuống ghế, đã nghe Cận Hành nói: "Anh tra được điểm của em rồi."
"Xoẹt ——"
Văn Viêm suýt nữa ngã khỏi ghế, kinh ngạc hỏi: "Cái gì? Anh tra được điểm của em rồi?!"
Cận Hành nghiêm túc gật đầu, sau đó mở hộp cơm, khuấy đều bún xương hầm bên trong, gắp một chiếc bánh bao nhỏ bỏ vào bát của Văn Viêm, rồi bắt đầu ăn của mình.
"..."
Văn Viêm chờ mãi cũng không nghe được câu tiếp theo, chớp mắt, cuối cùng không nhịn được mà hỏi: "Em được bao nhiêu điểm?"
Cận Hành thấy bữa sáng hôm nay ngon miệng, tâm trạng cũng không tệ: "Em muốn biết à?"
Anh rất ít khi để lộ cảm xúc, khiến Văn Viêm không thể đoán được điểm số của mình là cao hay thấp từ nét mặt anh. Cậu không yên, ngón tay gõ nhanh trên bàn, cuối cùng giơ tay ra hiệu dừng lại: "Khoan đã, để em chuẩn bị tâm lý cái đã."
Cận Hành suýt bật cười, uống một ngụm sữa đậu nành, cố nhịn cười, gật đầu: "Được, chuẩn bị xong thì bảo anh."
Dù là học kém, Văn Viêm cũng đã chuẩn bị sẵn tâm lý thi tệ, nhưng trong lòng cậu vẫn không khỏi hồi hộp. Cậu vô thức cắn móng tay, nhíu mày, ánh mắt chăm chú nhìn Cận Hành, hy vọng có thể tìm được manh mối từ biểu cảm của anh, nhưng không có gì cả.
Đợi đến khi bữa sáng sắp nguội, cuối cùng Văn Viêm cũng lên tiếng: "Em... em được bao nhiêu điểm?"
Cận Hành ăn no rồi, ngả người vào ghế, phong thái tao nhã mà cao quý: "Em đoán thử xem?"
"Đoán cái đầu anh," Văn Viêm giục, "Bao nhiêu điểm, nói nhanh."
Cận Hành không trêu nữa, nghĩ một lát rồi giơ một ngón ba, sau đó là một ngón tám.
Văn Viêm ngớ người, ngạc nhiên hỏi: "Ba mươi tám điểm?!"
Điểm này cũng thấp quá mức rồi, đến thằng ngốc bên cạnh nhắm mắt khoanh bừa cũng không thấp như vậy!
Cận Hành lần đầu tiên trong đời cảm thấy bất lực:
"Thêm một số không phía sau."
Văn Viêm thăm dò: "Ba trăm tám?"
Cận Hành cũng không biết sao cậu lại thi được mức này, không hơn không kém đúng ngay con số đó. Anh đưa tay che môi, nhịn cười gật đầu: "Ừ, không tệ đâu, cao hơn anh nghĩ."
Văn Viêm đoán trước điểm của mình khoảng hai trăm bảy, không ngờ lại được ba trăm tám. Dù không phải điểm cao, nhưng cậu vẫn có cảm giác bất ngờ khó tả. Cậu không tin nổi chỉ vào mình:
"Em thật sự được ba trăm tám? Anh không nhìn nhầm chứ?"
"Không nhầm," Cận Hành bước tới, xoa đầu cậu, còn lắc nhẹ như lắc một đứa trẻ ngốc, thuận tiện khen một câu: "Em giỏi lắm."
Lần đầu tiên Văn Viêm cảm thấy ngại ngùng, khẽ ho một tiếng rồi hỏi: "Còn anh? Anh được bao nhiêu điểm?"
Cận Hành phản ứng chậm nửa nhịp: "À, quên chưa tra."
Văn Viêm hít sâu một hơi, ngẩng đầu nhìn anh: "Em phát hiện, anh có vẻ rất tự tin về điểm số của mình nhỉ?"
Quả thật có, nhưng Cận Hành quen khiêm tốn.
Văn Viêm dứt khoát đứng dậy, đi tới chỗ cửa sổ bắt sóng mạnh hơn, tìm thêm vài cách khác để tra điểm. Cận Hành đứng yên tại chỗ, không lại gần, chỉ thấy cậu bận rộn gõ bàn phím điện thoại. Sau đó không biết đã nhìn thấy gì, người cậu đột nhiên sững lại, suýt làm rơi cả điện thoại.
Cận Hành bước nhanh tới, kịp thời đỡ lấy: "Sao vậy?"
Trong lòng anh thoáng nghi ngờ, chẳng lẽ điểm số có vấn đề? Cận Hành mở màn hình, thao tác thuần thục mở khóa, không ngờ nhìn thấy điểm số của chính mình——
Anh không muốn vì trọng sinh mà làm thay đổi điều gì, nên cố ý viết sai một hai câu hỏi, muốn khống chế điểm số trong phạm vi nhất định. Nhưng kết quả vẫn cao hơn kiếp trước năm sáu điểm.
Văn Viêm khi nãy sững sờ vì một học sinh kém cỏi như cậu chưa từng thấy điểm số nào cao đến thế, thậm chí còn nghi ngờ mắt mình có vấn đề. Cậu định thần lại, rút điện thoại về, kiểm tra kỹ lưỡng một lần nữa. Sau đó nhìn Cận Hành, dò hỏi: "Điểm này chắc đủ vào A Đại nhỉ?"
Cận Hành nhìn đôi mắt trừng lớn của Văn Viêm, khẽ cười gật đầu: "Ừ, đủ vào."
Dù A Đại yêu cầu điểm chuẩn rất cao cho khối tự nhiên, điểm của Cận Hành chắc chắn có thể gọi là xuất sắc. Có lẽ không bao lâu nữa, anh sẽ nhận được hàng loạt cuộc gọi tuyển sinh từ các trường đại học.
Cô Sầm đã gửi thông báo trong nhóm lớp, ai tra được điểm thì báo ngay trong nhóm. Cận Hành nhớ ra chuyện này, liền chụp màn hình bảng điểm rồi gửi lên nhóm, sau đó tắt điện thoại, chẳng hề bận tâm sẽ gây ra cú sốc thế nào.
Dĩ nhiên, có lẽ cũng chẳng gây ra sóng gió gì, dù sao anh vẫn luôn đứng đầu bảng ở trường, chưa thi đã có người dự đoán anh rất có thể là thí sinh đoạt thủ khoa năm nay.
Văn Viêm không nói gì, cổ họng như bị nghẹn lại, cậu ôm chặt Cận Hành vào lòng, lực mạnh đến mức suýt nữa bóp nát xương cậu ta. Mãi một lúc lâu sau, cậu mới cười khẽ: "Mẹ kiếp, điểm của anh cao hơn em nhiều vậy."
Lời nói không giấu nổi niềm tự hào.
Cận Hành không nói gì, chỉ ôm chặt lại cậu: "Văn Viêm..."
Chẳng còn gì khác, lúc này trong lòng anh chỉ có hai chữ này.
Hôm nay trời đẹp, Nhan Na muốn ra biển dạo chơi. Từ Mãnh đạp xe đạp, cô ngồi ở yên sau, hai người đi thẳng tới dưới lầu nhà Văn Viêm, định rủ họ cùng ra ngoài chơi.
Từ Mãnh bấm chuông xe, lấy giọng gọi to lên lầu: "Văn Viêm! Xuống chơi!"
Giọng điệu đàng hoàng như đang gọi "mẹ cậu gọi về ăn cơm."
Chỉ nghe tiếng "xoạt" một cái, cửa sổ tầng bốn bị ai đó mở ra. Văn Viêm ló người ra, trong lòng còn thắc mắc kẻ nào không sợ chết đang la hét dưới nhà mình, kết quả nhìn xuống lầu, mới phát hiện là Từ Mãnh: "Mẹ kiếp, sáng sớm đã gọi hồn hả mày!"
Nhan Na cầm một cây kem, che miệng cười, tiếng cười trong trẻo như tiếng chuông bạc. Từ Mãnh vẫy tay với Văn Viêm: "Mày và Cận Hành xuống đây đi, cùng ra biển chơi."
Ngay bên đường không xa có một bãi biển, phong cảnh khá đẹp.
Văn Viêm nghe là biết ngay ý của Nhan Na, quay đầu nhìn Cận Hành: "Họ nói ra biển chơi, đi không?"
Dù sao điểm cũng có rồi, tâm trạng tốt, lúc này đừng nói ra biển, có đi châu Phi hai người cũng vui vẻ đi một vòng.
Cận Hành nói: "Ra ngoài dạo cũng tốt."
Hai người thu xếp một chút rồi ra khỏi cửa, Văn Viêm thấy Từ Mãnh đạp một chiếc xe đạp, nheo mắt nhìn hắn từ trên xuống dưới, thắc mắc hỏi: "Sao không đi xe máy?"
Nhan Na nói: "Cậu có thể lãng mạn chút được không, ra biển chuyện lãng mạn đẹp đẽ như vậy, tất nhiên phải đạp xe đạp từ từ ngắm cảnh, cậu từng thấy ai chạy xe máy trên bãi biển chưa?"
Nói chuyện lãng mạn với Văn Viêm, cô rõ ràng tìm nhầm đối tượng.
Văn Viêm: "Sao cậu không đi bộ, càng chậm hơn."
Nhan Na suýt bị tức chết, Từ Mãnh suýt bị cười chết: "Được rồi, mau đi thôi, lát nữa nhiệt độ tăng cao sẽ nắng cháy da đấy."
Văn Viêm chỉ có thể tìm ra chiếc xe đạp cũ để ở dưới lầu đã lâu không dùng, đó là chiếc xe cậu đạp hồi cấp hai, bơm căng lốp miễn cưỡng có thể dùng. Cận Hành đạp thử một vòng quanh đường nhỏ, xác nhận không có vấn đề gì lớn, rồi dùng phanh chân dừng trước mặt Văn Viêm: "Vẫn chạy được, lên đi."
Văn Viêm chậm chạp ngồi lên yên sau, bị nắng chiếu đến mức lười biếng không mở nổi mắt.
Nhan Na quan sát kỹ hai người họ: "Ơ, tôi còn tưởng là Viêm ca đạp xe chứ."
Dù sao trông Cận Hành gầy yếu mảnh mai vậy mà.
Cận Hành cười cười, không nói gì. Văn Viêm bĩu môi, trong lòng âm thầm rủa thầm: Mẹ kiếp, ai bị Cận Hành đè trên giường lăn lộn cả đêm, hôm sau còn bò dậy đạp xe được, cậu kính người đó là một câu hảo hán!
Kính xong rồi bóp chết.
Cận Hành không rành đường, chậm nửa thân xe, theo sau Từ Mãnh. Tốc độ không nhanh không chậm, gió ấm thổi tới mặt, cũng thấy thêm phần mát mẻ.
Văn Viêm không biết nghĩ gì, đột nhiên hỏi: "Nhan Na tra được điểm chưa?"
Từ Mãnh quay đầu, cười nhìn Nhan Na một cái, nghe kỹ còn mang theo chút tự hào: "Tra được rồi, cao hơn điểm chuẩn năm ngoái của Hải Đại, chắc là đỗ."
Nhan Na ôm eo Từ Mãnh, tựa vào lưng hắn, mắt cười híp lại: "Đúng rồi, còn chưa chúc mừng Cận Hành nữa, tôi đoán cậu là học sinh có điểm thi cao nhất trường, sau này không chừng còn để lại truyền thuyết gì đó."
Vừa cao, vừa đẹp, điểm lại cao, trong mắt người ngoài đó chính là tiêu chuẩn của kẻ chiến thắng trong cuộc sống. Nhưng chỉ có người thân quen mới biết, con đường anh đi qua gian nan thế nào, lận đận ra sao, khó khăn không nói nên lời.
Văn Viêm vui vẻ, chỉ cảm thấy mặt trời trên đỉnh đầu cũng dịu dàng hơn vài phần: "Thế thì tốt rồi, đều thi đỗ, hôm nay là ngày tốt."
Họ đạp xe trên đường, màu xanh của biển dần hiện ra trước mắt. Mặt trời treo lơ lửng ở phía bên kia đường chân trời, rải xuống những ánh sáng lấp lánh. Sóng biển dập dềnh, thổi tới mùi mặn nồng, làm bay góc áo, rối tung mái tóc.
Họ tìm một chỗ đỗ xe, rồi đi tới bãi biển, Nhan Na lập tức cởi giày, chân trần chạy ra bờ cát. Từ Mãnh nhặt giày của cô lên, theo sau không gần không xa.
Cận Hành lần đầu tiên nhìn thấy biển, biển rộng mênh mông vô bờ, chợt cảm thấy lòng mình trước kia quá hẹp hòi. Anh lặng lẽ nắm tay Văn Viêm, rồi lặng lẽ buông ra, móc ngón út: "Chúng ta sau này có đi đường rất dài không?"
Văn Viêm nhướn mày, nhìn Từ một cái: "Vớ vẩn."
Lại nói: "Ông đây ít nhất sống tới chín mươi, giờ mới chưa tới hai mươi, anh nói dài không?"
Cận Hành luôn bị những lời nói thẳng thắn của cậu làm cho bật cười, gật gật đầu: "Đúng là còn rất dài."
Kiếp trước Cận Hành dù đã bò ra khỏi vực sâu, nhưng cũng giống như đã chết trong vực thẳm đó. Sinh mệnh đến đây chấm dứt ở tuổi mười tám. Nhưng con đường của anh lẽ ra phải rất dài rất dài, vinh hoa trải lối, danh vọng đầy mình, rồi cùng người mình thích chậm rãi bạc đầu.
Đó mới là cuộc đời anh nên có.
Đó mới là cuộc đời của bọn họ.
Không nên vì những người không đáng mà uổng phí nửa đời.
Nhan Na ra biển chơi một vòng, lại chạy về, vạt váy trắng bị sóng đánh ướt. Cô dùng hai tay làm loa, cười hướng ra biển gọi: "Nhan Na và Từ Mãnh sẽ luôn luôn ở bên nhau!"
Từ Mãnh ở phía sau nghe, dù không có hành động gì, nhưng trong mắt cũng tràn đầy ý cười.
Văn Viêm là người phá đám bầu không khí, nhướn mày: "Cần gì phải gọi to vậy."
Cậu thì văn nhã hơn nhiều, nghiêng đầu ghé sát tai Cận Hành nói nhỏ: "Chúng ta cũng phải luôn luôn ở bên nhau."
Cận Hành nhân lúc không ai để ý, nhanh chóng hôn lên mặt cậu một cái, mắt ánh lên ý cười ngày càng sâu: "Ừ, luôn ở bên nhau."
Bốn người họ tìm một chỗ ngồi nghỉ, bóng lưng dưới ánh chiều tà trở thành những hình bóng đen trên nền cát. Cận Hành nắm một nắm cát, phát hiện bên trong có một vỏ sò màu tím nhạt, khá hiếm thấy, anh phủi sạch rồi kéo tay Văn Viêm qua, đặt vào lòng bàn tay cậu: "Tặng em."
Hành động này có chút ngây ngô, như đứa trẻ thấy món đồ mới lạ, dù là đá hay kim cương, đều muốn dâng tặng cho người mình thích.
Văn Viêm "miễn cưỡng" nhận lấy, vừa chê vừa vui: "Chậc, xấu muốn chết."
Cận Hành vừa định nói gì đó, bỗng nghe bên tai vang lên một tiếng "đinh". Tai anh hơi động đậy, mơ hồ cảm thấy âm thanh này có chút quen thuộc, quả nhiên nhìn thấy một quả cầu ánh sáng màu xanh từ không trung xuất hiện, đôi cánh mũm mĩm nhẹ nhàng đập sau lưng, rõ ràng là hệ thống 009.
Hệ thống bay quanh họ một vòng, giọng vui vẻ:【Thân ái, 009 phải đi rồi.】
Cận Hành nhìn nó, không biết nên nói gì.
Hệ thống nói:【Sau khi gỡ bỏ liên kết, anh sẽ trở thành một người bình thường, sau này phải sống tốt nhé, cơ hội tái sinh chỉ có một lần thôi.】
009 nói xong, bay qua nhẹ nhàng chạm vào mặt Cận Hành, đây là động tác biểu thị sự thân thiện của quả cầu ánh sáng, giống như cái ôm và cái bắt tay trong thế giới con người, nó khẽ nói: 【Xin lỗi nhé, lúc nguy hiểm xảy ra tôi đã không thể bảo vệ anh...】
Lần đầu tiên 009 có cảm giác này, vì tội nguyên thủy vốn không nằm ở Cận Hành. Nó chỉ có thể ràng buộc người sử dụng, nhưng không thể ràng buộc những kẻ làm điều ác.
Thân hình hệ thống mềm mại và mát lạnh, giống như thạch. Cận Hành bị cảm giác lạ lẫm này làm cho ngẩn ngơ một lúc, sau đó từ từ ngẩng lên nhìn nó, muốn nói gì đó nhưng lại không biết phải nói sao. Anh nhẹ lắc đầu, biểu thị không sao cả. Hạ mắt xuống, chầm chậm nắm chặt tay Văn Viêm.
Hệ thống bắt đầu thực hiện chỉ thị.【Đinh! Chương trình gỡ bỏ khởi động, xin mời người dùng chuẩn bị,
Kích hoạt chương trình tự kiểm tra,
Tự kiểm tra hoàn tất.
Đang tháo gỡ liên kết,
20%
50%
100%
Tháo gỡ thành công】
Cận Hành cảm thấy có gì đó trong cơ thể mình dần bị tách ra, trong khi thân hình màu xanh của hệ thống cũng dần trở nên nhạt, hòa vào ánh nắng màu cam: 【Thân ái, tạm biệt nhé~】
Cận Hành không thành tiếng mấp máy môi: "Tạm biệt..."
Lòng bỗng nhiên nhẹ nhõm.
Hệ thống không thể bảo vệ Cận Hành, có lẽ vì từ lâu đã có người đứng phía trước bảo vệ anh, ngăn chặn mọi khó khăn và giông bão. Đường đời dài đằng đẵng, cứ thế mà cùng nhau bước đi.
Từ Mãnh đã bảo vệ cô gái của mình.
Văn Viêm cũng đã bảo vệ chàng trai của mình.
Con đường này, cứu rỗi và hủy diệt cùng sinh sôi, cân bằng lẫn nhau.
Biển đè cành trúc thấp lại nâng lên, gió thổi chân núi tối rồi lại sáng...
Chương 164: Ngoại Truyện 1
Đó là một giấc mơ của Cận Hành sau nhiều năm ở bên nhau.
Ánh mặt trời chiếu qua khe rèm cửa, tạo nên những cột sáng xiên xiên trên sàn nhà, trong không khí mơ hồ thấy được những hạt bụi đang nhảy múa. Khung cảnh ấm áp như thế, lại bị sắc lạnh của căn phòng đẩy lùi vài phần nhiệt độ.
Trên giường nằm một người đàn ông gầy gò. Mi mắt anh khẽ run, dường như bị ánh sáng làm tỉnh giấc, theo bản năng xoay người, đầu ngón tay trong chăn mò mẫm, cố gắng tìm kiếm một cơ thể ấm áp khác.
Tuy nhiên, anh chỉ chạm vào khoảng không.
Cận Hành nhận thấy điều không đúng, chậm rãi ngồi dậy, nghĩ rằng Văn Viêm đã xuống lầu chạy bộ tập thể dục, nhưng khi mở mắt, cảnh tượng lạnh lẽo và cô độc đến cực điểm trong phòng khiến anh ta kinh ngạc.
Ba giây sau.
"Xoạt ——"
Cận Hành chưa bao giờ thất thố như vậy, trực tiếp tung chăn xuống giường. Anh không kịp xỏ giày, liền mở cửa chạy ra ngoài hành lang, chạy xuống lầu với tốc độ cực nhanh, nhưng cảnh tượng trước mắt rõ ràng là căn biệt thự mà kiếp trước anh sống một mình.
Nhưng làm sao có thể?
Làm sao có thể?
Biểu cảm bình tĩnh của Cận Hành cuối cùng cũng xuất hiện những vết rạn, hoảng sợ và kinh ngạc, méo mó và u tối. Bà Miêu trong bếp đang nấu ăn nghe thấy động tĩnh liền bước ra, thấy Cận Hành mặc đồ ngủ, mặt tái nhợt đứng ở đầu cầu thang, thậm chí không đi giày.
Cận Hành tính cách bình thường quá cô độc, bà Miêu rất ít khi nhiều lời, nhưng thấy vậy vẫn không nhịn được hỏi một câu: "Cận tiên sinh, cậu sao vậy?"
Cận Hành nghe theo tiếng mà nhìn, nhận ra bà là người giúp việc nấu ăn trong nhà, sắc mặt đột nhiên khó coi, thậm chí có chút đáng sợ. Anh không nói lời nào, nghiến chặt răng, từng bước lùi lại, quay người chạy lên lầu.
Điện thoại nằm yên tĩnh ở góc bàn đầu giường. Cận Hành trở lại phòng, hơi thở có phần gấp gáp, mở khóa màn hình rồi không ngoài dự đoán nhìn thấy thời gian và ngày tháng trên đó, động tác lập tức dừng lại.
Đây là kiếp trước, khi anh 25 tuổi...
Thân hình Cận Hành đột nhiên không kiểm soát được mà trượt xuống, ngã ngồi trên sàn nhà. Đầu xuân, không hiểu sao lại lạnh đến mức phổi cũng phả ra khí lạnh.
Anh nắm chặt điện thoại, đầu óc rối bời, lúc này chỉ có thể nhớ đến hai chữ.
Văn Viêm...
Văn Viêm...
Phải tìm được cậu ấy...
Liễu Ti là thư ký riêng của Cận Hành, phần lớn lịch trình của ông chủ đều do cô phụ trách, nhưng hôm nay Cận Hành lại bất thường hoãn cuộc họp, bảo cô sắp xếp nửa tháng trống, đặt một vé máy bay đi thành phố F.
Liễu Ti muốn hỏi, nhưng không dám. Cận Hành bên ngoài là tài năng trẻ mà mọi người khao khát, nhưng chỉ những người ở gần mới biết, vị sếp này tính khí âm u và cô độc, khá là khó chiều.
Cô chỉ có thể làm theo, lập tức thu xếp vé máy bay và khách sạn một cách thuần thục, nhưng đúng lúc đó, Cận Hành lại bảo cô đi tra tin tức của một người, không phải minh tinh xinh đẹp hay nhân vật nổi tiếng trong giới kinh doanh, mà là một kẻ giết người—
Liễu Ti theo thói quen dùng từ này để chỉ những người từng ngồi tù, dù đối phương chỉ bị kết án vài năm vì tội cố ý gây thương tích mà thôi.
Cận Hành hoàn toàn không biết những gì đã xảy ra sau khi mình ra đi, quãng thời gian đó với anh, nhợt nhạt đến mức gần như đáng sợ. Ngồi trong xe trên đường ra sân bay, mắt anh nhắm hờ, không nói lời nào, dùng chiếc điện thoại lạnh lẽo cứng ngắc tựa vào cằm, đột nhiên hỏi một câu: "Cậu ấy bị kết án mấy năm..."
Liễu Ti ngồi ở ghế phụ, không nhìn rõ biểu cảm của Cận Hành, chỉ cảm thấy giọng anh hỏi có gì đó kỳ lạ, lật xem tài liệu trong tay rồi đáp: "Nạn nhân bị thương rất nặng, cộng thêm việc cậu ta không thuê luật sư bào chữa, nên bị kết án bảy năm ba tháng, còn vài ngày nữa là ra tù."
Theo quan điểm của Liễu Ti, thực ra cũng không phải chuyện lớn lắm, nếu chịu chi tiền thuê luật sư biện hộ, cộng thêm bồi thường ngoài tòa, giảm án xuống ba năm cũng không phải không thể.
Cô không nhịn được, lại nhìn vào tài liệu, phát hiện Văn Viêm lúc bị bắt mới mười tám, mười chín tuổi, tính ra vừa tốt nghiệp trung học, lẩm bẩm một câu: "Vẫn còn là học sinh, còn rất trẻ, thật đáng tiếc."
Đúng vào tuổi đẹp nhất, lại bị nhốt trong tù nhiều năm như thế.
Cận Hành nghe thấy lời cô nói nhỏ, chậm rãi ngẩng đầu. Như hỏi cô, lại như hỏi chính mình, không nghe ra bất kỳ cảm xúc nào: "Đáng tiếc sao?"
Liễu Ti giật mình, cứ tưởng mình nói sai gì đó, hơi lo lắng đổi tư thế. Nhìn qua gương chiếu hậu, cố gắng thăm dò chút biểu cảm của Cận Hành, nhưng không có gì, chỉ đành ấp úng đáp: "Có chút ạ."
Đồng thời trong lòng không ngừng đoán mối quan hệ giữa người đó và Cận Hành.
Người thân? Anh em? Hay kẻ thù?
Cận Hành im lặng, không nói thêm gì.
Họ lên chuyến bay lúc bảy giờ tối, trực tiếp tới thành phố F. Liễu Ti đã chuẩn bị sẵn khách sạn, sau khi nhân viên đưa hành lý vào phòng, cô theo thói quen hỏi lịch trình tiếp theo của Cận Hành: "Cận tổng, anh có nơi nào muốn đi không?"
Cô nghĩ Cận Hành tới đây du lịch, dù sao đây cũng là một thành phố yên tĩnh.
Cận Hành không đáp: "Tìm hiểu rõ khi nào cậu ấy ra tù, thời gian và địa điểm gửi cho tôi,"
Anh ngừng lại, đưa cho Liễu Ti một địa chỉ: "Thuê một căn hộ ở khu này, tôi muốn vào ở sớm nhất có thể."
Liễu Tư càng không hiểu Cận Hành muốn làm gì, trong lòng ngứa ngáy khó chịu như bị mèo cào, chỉ đành ngập ngừng hỏi: "Cận tổng, thuê trong bao lâu ạ?"
Khi họ ra ngoài làm ăn, thường ở khách sạn, ở bao lâu gia hạn bấy lâu. Khu đó nhìn là biết là chung cư cũ, không phải dự án mới phát triển, phần lớn là cư dân ở lâu dài, thuê chắc chắn tốn không ít công sức, ít nhất cũng phải nửa năm.
Cận Hành mở máy tính, đang tra cứu gì đó, ánh sáng màn hình rơi trên sống mũi, thêm một tầng sáng yếu ớt. Anh lạnh giọng, không quay đầu lại nói: "Thuê trực tiếp, không thuê được thì mua. Cô tự sắp xếp, qua phòng tài chính thanh toán."
Ý ngầm là không cần quan tâm tiền nhiều tiền ít.
Liễu Ti trong lòng thầm than, người có tiền thật đáng ghét, mua nhà như mua kẹo, khiến những người làm công cực nhọc như cô sống sao đây. Bề ngoài thì gật đầu đáp ứng, rời khỏi phòng.
Phòng nằm ở tầng cao của khách sạn, nhìn từ cửa sổ lớn xuống, một mảng sáng rực, xe cộ tấp nập. Nhìn lâu, lại thấy ngột ngạt vô cớ. Cận Hành áp lòng bàn tay vào kính lạnh, khớp ngón tay ẩn ẩn xanh xao, cố gắng phân biệt xem tất cả trước mặt có phải là mơ hay không.
Nhưng dù là mơ, cũng nên có sự tồn tại của Văn Viêm...
Không ai biết gần bảy năm ngồi tù sẽ mang lại cho một người sự thay đổi thế nào, điều duy nhất biết được là suốt bảy năm qua, Cận Hành chưa từng đi thăm Văn Viêm một lần nào.
Mặt trời nóng bỏng treo cao trên trời, chiếu cánh cửa sắt của nhà tù đến bỏng rát, nhìn kỹ thấy mép cửa đã có chút sơn bong tróc. Một chiếc xe đen yên lặng đậu không xa, người ngồi ở ghế lái là một người đàn ông gầy gò. Anh nắm vô lăng, không biết đang nghĩ gì.
Thời gian từng chút trôi qua.
Lại khoảng nửa tiếng sau, cánh cửa đóng chặt cuối cùng kẽo kẹt mở ra, Cận Hành cảm thấy điều gì đó, ngẩng đầu nhìn, thấy một người đàn ông được cảnh sát nhà tù tiễn ra, tim không kiểm soát được bỏ lỡ một nhịp.
Đó là một gương mặt vừa quen thuộc vừa xa lạ.
Quen thuộc vì ngũ quan không thay đổi, xa lạ vì đôi mắt đó đã không còn thấy chút ánh sáng nào, ngoài sắc lạnh tàn nhẫn, chỉ còn sự âm u vô tận. Đứng dưới ánh mặt trời, người ấy cứng nhắc khiến nơi đứng trở nên một góc tối.
Bóng tối đổ dài trên mặt đất, bị kéo dài vô hạn, méo mó đến biến dạng.
Cảnh sát vỗ vai Văn Viêm, đưa cho cậu một cái ba lô đựng đồ dùng cá nhân, rồi nói vài lời khuyên bảo, sau đó mới rời đi.
Cơn nóng hầm hập xộc tới, khiến không khí cũng méo mó biến dạng.
Văn Viêm không để ý lời cảnh sát, híp đôi mắt dài, chậm rãi ngẩng đầu. Bảy năm tù đột nhiên khiến cậu có chút chán ghét ánh mặt trời chói chang như thế. Cậu cảm thấy mình như một khối băng, giờ lại bị ép đứng dưới ánh mặt trời, một mặt tan chảy, một mặt biến mất.
Đó là một đôi mắt chết lặng, không thấy chút sinh khí, như một bức tranh đã mất đi màu sắc, chỉ còn hai màu đen trắng.
Văn Viêm vừa đi hai bước, một chiếc xe đỗ không xa đột nhiên mở cửa, từ đó bước xuống một người đàn ông trẻ tuổi mặc vest. Thân hình cao lớn, lông mày thanh tú, đang từng bước một đi về phía cậu.
Cũng giống như Cận Hành có chút không nhận ra Văn Viêm, người sau cũng khó mà nhận ra anh.
Dù sao ai cũng đoán không được, kẻ yếu từng bị người khác bắt nạt nhiều năm trước sẽ leo lên đỉnh cao mà người khác khó mà với tới sau khi tốt nghiệp.
Văn Viêm dừng bước, ánh mắt u ám nhìn Cận Hành. Cậu cầm ba lô bằng một tay, hình xăm trên mu bàn tay không biết tự lúc nào đã nhạt thành màu xanh, lặng lẽ thể hiện thời gian trôi qua.
Họ chỉ cách nhau vài bước chân, nhưng giữa hai người là khoảng trống bảy năm. Lạnh lẽo hơn cả song sắt nhà tù, vút cao lên, dựng lên một bức tường vô hình.
Bảy năm rồi, không ai đảm bảo được rằng không có gì thay đổi.
Nhưng Cận Hành không quan tâm, dù là mơ hay hiện thực, chỉ cần Văn Viêm còn tồn tại.
Chỉ cần Văn Viêm còn tồn tại...
Cận Hành đi đến trước mặt Văn Viêm, chậm rãi dừng bước, rồi bất ngờ kéo cậu vào lòng, thậm chí còn có phần mạnh mẽ. Anh nhắm mắt cảm nhận cơ thể ấm áp của đối phương, nhịp tim đập, dòng máu đóng băng lâu ngày cuối cùng bắt đầu chảy chậm lại, cảm nhận được cảm giác sống động đã lâu không gặp.
Văn Viêm nhíu mày, rõ ràng ngạc nhiên một chút.
Cận Hành vùi mặt vào cổ cậu, khẽ thở dài, giọng khàn khàn nói một câu: "Anh tìm được em rồi..."
Liễu Ti ngồi trên một chiếc xe khác, bất cứ lúc nào cũng trong trạng thái chờ lệnh. Khi nhìn thấy ông chủ lạnh lùng, người sống chớ lại gần của mình đột nhiên ôm lấy một phạm nhân vừa ra tù, cô suýt chút nữa phun hết ngụm nước ngọt trong miệng, lóng ngóng tìm khăn giấy lau sạch.
Gì thế này, chẳng lẽ thật sự là họ hàng à?
Nhưng nếu quan hệ thật sự tốt như vậy, tại sao suốt bảy năm trời lại không đến thăm một lần, vậy mà giờ đây lại bày ra dáng vẻ tình thân sâu nặng, người ngoài không biết còn tưởng anh máu lạnh thế nào nữa.
Ngay cả Liễu Ti còn có nghi ngờ, huống hồ là Văn Viêm.
Cậu đã ở trong tù quá lâu, không còn quen với kiểu tiếp xúc thân mật này, cơ bắp không kìm được mà căng cứng. Lông mày hơi nhíu lại, cậu đẩy Cận Hành ra.
Hành động của cậu khiến Cận Hành sững sờ, theo bản năng nhìn sang, lại thấy trong mắt Văn Viêm chỉ toàn sự xa cách và cảnh giác.
"......"
Qua một hai giây, Cận Hành mới có động tác. Anh mỉm cười, lùi một bước, nhưng chuyển sang nắm lấy tay Văn Viêm, nói khẽ: "Đi thôi, anh đưa em về nhà nghỉ ngơi một lát."
Văn Viêm hỏi lại, giọng không rõ cảm xúc: "Về nhà?"
Khi cậu vào tù, Văn Tư Uyển đã cắt đứt quan hệ với cậu rồi, chữ "nhà" này đối với cậu chẳng khác gì một lời châm biếm.
Cận Hành luôn chỉ khi từng bước lùi lại mới đột nhiên nhận ra những năm qua Văn Viêm đã sống trong hoàn cảnh thế nào, cô độc mà tuyệt vọng. Đầu ngón tay anh khẽ siết chặt, khẽ "ừ" một tiếng: "Về nhà của chúng ta."
Anh hơi mạnh tay kéo Văn Viêm lên xe, rồi lái xe rời khỏi đó. Liễu Ti thấy vậy vội vàng đi theo.
Cùng lúc đó, một chiếc mô tô lướt qua họ, động tác dứt khoát dừng lại trước cổng nhà tù. Người lái xe là một thanh niên tóc ngắn gọn gàng, cậu ta tháo mũ bảo hiểm, nhìn quanh một lượt nhưng không thấy bóng dáng Văn Viêm đâu: "Chết tiệt, người đâu rồi, chẳng phải nói giờ này sẽ ra sao, không lẽ đi rồi à?"
Trên yên xe phía sau là một cô gái mặc váy, cô chỉnh lại mái tóc hơi rối, nhìn quanh một lượt, quả nhiên không thấy bóng dáng Văn Viêm đâu. Tay cô cầm một cây kem chưa bóc vỏ, đã hơi tan chảy, dính cả tay: "Trời ạ, sao anh ngốc thế, đi hỏi thăm một chút chẳng phải là được à?"
Từ Mãnh quay đầu nhìn cô: "Anh ngốc? Nếu không phải trên đường em cứ đòi mua kem, anh có đến muộn không?"
Nhan Na trợn mắt, túm lấy tóc hắn: "Em ăn kem thì sao, anh không ăn chắc? Nhả ra đây cho em!"
Từ Mãnh bị túm chặt cổ: "Ư... đồ điên!"
Văn Viêm hoàn toàn không hay biết việc mình rời đi đã khiến một đôi tình nhân trẻ suýt chút nữa "động tay động chân". Ngồi ở ghế phụ, cậu phả hơi vào điều hòa, ánh mắt nhìn ra thế giới bên ngoài qua cửa sổ xe, trong thoáng chốc cảm thấy như đã cách một kiếp đời.
Văn Viêm đã rời xa thế giới này quá lâu. Cậu không thể đoán được gì, cũng không nhìn ra gì, chỉ có thể mơ hồ đoán rằng cuộc sống hiện tại của Cận Hành chắc hẳn rất dư dả. Đôi lông mày lạnh lùng hơi cụp xuống, đột nhiên cậu hỏi một câu: "Vào đại học rồi à?"
Cận Hành quay đầu, nhìn gương mặt không cảm xúc của cậu, khẽ đáp: "Đại học A."
Văn Viêm nhắm mắt, không nói thêm gì.
Cận Hành lái xe đến cổng khu dân cư, dừng lại ở gara. Anh nhắn tin cho Liễu Ti bảo cô không cần đi theo nữa. Sau đó mở cửa xe bước xuống, vòng sang phía bên kia kéo Văn Viêm xuống xe.
Có vẻ như chỉ khi được chạm vào cậu mọi lúc mọi nơi, anh mới có thể trấn an được trái tim bất an của mình.
Văn Viêm rất không quen, vùng vẫy muốn thoát ra, nhíu mày nhắc nhở anh: "Bây giờ là ban ngày."
Lực tay của Cận Hành vào lúc này bỗng lớn đến lạ thường, anh vừa kéo Văn Viêm đi về phía thang máy, vừa nghiêm túc hỏi: "Vậy buổi tối có thể nắm tay không?"
Văn Viêm nghẹn lời.
Nơi này từng là nhà của Văn Viêm, nhưng sau khi Văn Tư Uyển ra nước ngoài, đã bán lại cho người khác. Cận Hành lại nghĩ cách mua về, trong thời gian ngắn nhất sửa sang lại sơ qua một lượt.
Hiển nhiên Văn Viêm nhận ra nơi này, đứng trước cửa không vào: "Căn nhà này không phải bán rồi sao?"
Cận Hành đứng sau cậu, theo thói quen muốn ôm lấy cậu, nhưng cuối cùng chỉ đặt tay lên vai cậu, hơi siết lại, thấp giọng nói: "Anh mua lại rồi, sau này đây sẽ là nhà của chúng ta."
Văn Viêm không biết vì sao, nhìn nơi quen thuộc mà xa lạ này, lại không lên tiếng.
Cận Hành đưa cậu vào trong, sau đó xoay người đóng cửa lại. Anh bước vào phòng ngủ, lấy ra một bộ quần áo sạch sẽ: "Tắm trước đi, lát nữa ra ăn cơm."
Mọi thứ anh sắp xếp đều chu toàn vô cùng, tỉ mỉ chu đáo, không thể bắt bẻ được chỗ nào.
Văn Viêm cũng không phản đối, nhận lấy quần áo rồi đi vào phòng tắm. Áo thun cậu đang mặc là màu đen, qua cánh tay lộ ra bên ngoài, Cận Hành nhạy bén phát hiện trên đó có rất nhiều vết sẹo cũ, có lẽ là để lại từ trong tù. Anh chậm một nhịp thu lại ánh mắt.
Cận Hành gọi một cuộc điện thoại, rất nhanh đã có người mang đến một đống đồ ăn được đóng gói tinh xảo. Anh ngồi bên bàn, lần lượt mở nắp hộp, yên lặng chờ Văn Viêm từ phòng tắm bước ra.
Trong lòng có khó chịu không? Chắc chắn là có.
Nhưng đối với Cận Hành mà nói, chỉ cần Văn Viêm còn ở đây, thì không phải vấn đề lớn.
Người đó sớm muộn gì cũng sẽ trở lại bên anh.
Cận Hành từ tốn sắp xếp bát đũa, lần lượt phân loại gọn gàng, đặt vào đúng vị trí, động tác tao nhã khiến người ta không nói nên lời. Khi Văn Viêm bước ra từ phòng tắm, liền nhìn thấy anh đang ngồi bên cửa sổ chờ mình, ánh nắng nhạt chiếu sáng cả phòng khách, cả nụ cười bên khóe môi Cận Hành cũng trở nên dịu dàng hơn.
Cận Hành đứng dậy: "Tắm xong rồi à?"
Văn Viêm không biết nên đáp lại thế nào, chỉ gật đầu.
Cận Hành nhìn mái tóc ướt sũng của cậu: "Tóc phải lau khô."
Tóc của Văn Viêm rất ngắn, không cần phải sấy. Tuy nhiên, cậu còn chưa kịp mở miệng, đã thấy Cận Hành tiện tay lấy một chiếc khăn, ấn cậu ngồi xuống ghế, nhẹ nhàng lau tóc cho cậu, động tác thuần thục, như thể đã làm nhiều năm rồi.
Văn Viêm hơi nghiêng đầu tránh: "Tôi tự làm được."
Cận Hành: "Để anh giúp."
Có vẻ như anh rất thích kiểu tiếp xúc thân mật này. Lau tóc xong, thậm chí còn khẽ hôn lên má Văn Viêm một cái như chuồn chuồn lướt nước: "Ăn cơm đi."
Văn Viêm giật mình, theo phản xạ suýt chút nữa giáng một cú đấm, may mà kiềm chế được. Giọng cậu trầm xuống, nghe kỹ có chút cảnh cáo: "Cận Hành——"
Cận Hành hoàn toàn không sợ, anh xoa mái tóc đã khô của cậu, nhắc nhở: "Anh là bạn trai của em."
Anh là bạn trai của em...
Văn Viêm nghe thấy câu này, trong lòng không thể bình tĩnh. Đối diện với ánh mắt sâu thẳm của Cận Hành, cậu càng thêm bối rối. Cậu như trốn tránh mà quay đầu, nhanh chóng dời ánh nhìn: "Không cần thiết."
Thật sự là không cần thiết.
Dù Cận Hành vì áy náy hay bù đắp gì đó, bảy năm qua hai người đã có những cuộc sống khác nhau, không cần phải miễn cưỡng dây dưa thêm nữa.
Cận Hành mỉm cười: "Không phải em nói là được."
Anh nhét đôi đũa vào tay Văn Viêm: "Ăn cơm đi, nguội rồi."
Những món ăn trên bàn đều là món Văn Viêm thích, thỉnh thoảng Cận Hành lại gắp một miếng vào bát cậu, rồi hỏi có ngon không. Trong lòng hai người nghĩ gì không rõ, nhưng nhìn bề ngoài, họ trông như đang vui vẻ hòa hợp.
Trong đầu Văn Viêm là một mớ hỗn độn, cậu nghĩ rằng một lúc nữa sẽ ổn, nhưng thực tế thì đến tối vẫn không thể bình tĩnh lại. Như có một ngọn lửa thiêu đốt trong lục phủ ngũ tạng, ngoài đau ra chỉ còn lại đau.
Trời đêm đen kịt, xung quanh tĩnh mịch.
Cậu ôm ngực, nhắm mắt, cố gắng thở ra một hơi.
Bảy năm ngục tù, bảy năm không ai hỏi han, đã khắc sâu ba chữ "ý nan bình" vào tận xương cốt. Trước đây chưa từng nghĩ tới, nhưng hôm nay lại bất ngờ cuồn cuộn trào dâng vào buổi đêm này.
Cận Hành không ngủ được, tình cờ đi ngang qua phòng Văn Viêm, liền nghe thấy tiếng cậu trằn trọc. Anh không gây tiếng động mà đẩy cửa vào, trong bóng tối mờ ảo cất giọng hỏi: "Khó chịu à?"
Văn Viêm khựng lại, không nói gì. Một lát sau, chỉ cảm thấy bên cạnh bất chợt lún xuống, một bàn tay hơi lạnh đặt lên trán cậu.
"Không bị sốt," Cận Hành nói, "Thật ra anh cũng không ngủ được."
Anh rất tự nhiên nằm xuống giường, cánh tay luồn qua eo Văn Viêm, từ từ kéo cậu vào lòng mình, giọng nói trầm thấp, bình tĩnh như đang tuyên bố một sự thật: "Anh nhớ em."
Văn Viêm cảm thấy Cận Hành như mắc chứng nghiện tiếp xúc da thịt, ngay cả tính cách cũng khác trước kia, có chút chế nhạo mà hỏi ngược lại: "Nhớ tôi? Nhớ cái gì ở tôi?"
Vừa dứt lời, bỗng nhiên một mảnh nóng ấm phủ lên môi cậu. Như bị ai bóp nghẹt cổ, âm thanh bị dập tắt. Chỉ trong khoảnh khắc phân thần, đối phương đã thừa cơ tách mở hàm răng cậu, đầu lưỡi linh hoạt thăm dò vào trong.
Cận Hành như một kẻ nghiện, đột ngột tìm được thứ khiến anh say mê. Không quan tâm đến sự giãy giụa nhẹ nhàng của Văn Viêm, anh giữ chặt gáy đối phương, hôn sâu mà quấn quýt. Đầu lưỡi lướt qua vòm miệng ấm nóng, những chiếc răng cứng, cuối cùng là một đầu lưỡi mềm mại khác.
Cậu đẩy, anh tiến.
Trong đêm tối, Cận Hành từng tiếng từng tiếng gọi tên cậu, mang theo khát khao và vội vã: "Văn Viêm... Văn Viêm..."
Giọng anh khàn đặc, như muốn nuốt chửng người dưới thân vào bụng. Văn Viêm bị anh hôn đến nghẹt thở, không thể ra tay đánh trả, chỉ biết lùi hết lần này đến lần khác, cuối cùng cũng không hay biết giới hạn của mình bị phá vỡ lúc nào.
Cậu giận dữ: "Cận Hành!"
Nhưng ngay sau đó vì động tác của đối phương mà cất lên tiếng rên nghẹn ngào.
Cận Hành cảm giác linh hồn và cơ thể mình như tách làm hai, linh hồn bình tĩnh, nhưng cơ thể lại không thể khống chế được. Anh hôn lên dái tai Văn Viêm, hơi thở quấn quýt, từng chữ từng chữ gọi tên cậu như lời tình nhân thủ thỉ: "Văn Viêm..."
Hết tiếng này đến tiếng khác, tháo gỡ từng lớp phòng bị của Văn Viêm.
Văn Viêm không biết vì sao, chỉ biết nắm chặt gối, động tác đơn giản nhưng lại toát ra mấy phần oán hận. Cậu giống như một con thú sắp chết, cúi thấp đầu, thê thảm để mặc Cận Hành muốn làm gì thì làm, vô lực và nhợt nhạt. Cuối cùng, cậu thốt lên một chữ yếu ớt: "Đau..."
Cơ thể run rẩy. Bảy năm trong ngục giam khiến cậu khó thích nghi với sự tiếp xúc của người khác.
Cận Hành dừng lại, trong bóng tối xoay người cậu lại, tiếp tục dịu dàng hôn lên. Hai người đã quá lâu không chạm vào nhau, tình huống này là bình thường.
"Đừng sợ..."
Cận Hành nhẹ nhàng v.uốt ve sau gáy cậu, không biết phải làm sao mới tốt. Anh hôn đi vị mặn chát ở khóe mắt cậu, không rõ là mồ hôi hay nước mắt, ôm chặt lấy cậu, như muốn khảm vào tận xương tủy.
Văn Viêm dần mơ hồ, duy nhất cảm nhận rõ ràng là nụ hôn của Cận Hành. Cậu nghe thấy anh thì thầm bên tai, mơ hồ như gió thoảng, cuối cùng không biết từ lúc nào đã vượt qua ranh giới.
Cận Hành bất an trong lòng cuối cùng cũng lắng xuống. Anh nâng khuôn mặt Văn Viêm, mũi kề sát mũi, trán chạm trán, không ai trên thế gian này gần gũi hơn họ: "Còn đau không..."
"..."
Văn Viêm toàn thân run rẩy, không thể nói thành lời, mồ hôi thấm đẫm mái tóc.
Cửa sổ không đóng chặt, gió đêm từng cơn thổi vào, làm rèm cửa phất phơ. Loáng thoáng có thể nghe thấy tiếng côn trùng yếu ớt. Biển chỉ cũ kỹ ven đường phai màu đôi chút, những bóng cây ngô đồng xào xạc rủ bóng.
Cận Hành ôm Văn Viêm, chôn mặt vào cổ cậu, đầu ngón tay từng chút từng chút v.uốt ve những vết sẹo trên người đối phương, nhẹ nhàng chậm rãi. Văn Viêm dường như cũng chẳng còn sức giãy dụa, nhắm mắt không biết đang nghĩ gì.
Cận Hành bỗng hỏi: "Khi ở trong đó, em có muốn anh đến thăm không?"
Chắc chắn là đã từng muốn.
Nhưng năm đầu không đến, năm thứ hai không đến, năm thứ ba vẫn không đến, nên không muốn nữa.
Lông mày Văn Viêm khẽ nhíu lại, quay đầu đi: "Không có."
Cận Hành biết cậu nói dối, vẫn không chịu buông tay, giữ chặt bàn tay cậu nói: "Em đánh anh một trận đi, giải tỏa đi..."
Văn Viêm vùng vẫy.
Cận Hành không chịu thả: "Một năm không đủ, thì hai năm, ba năm, để em đánh cả đời."
Anh áp sát mặt vào cậu, giọng nghiêm túc: "Sau này sẽ không bao giờ bỏ lại em một mình nữa..."
Văn Viêm sững người, Cận Hành lại càng siết chặt ôm vào lòng, giọng thì thầm như gió thoảng: "Anh yêu em..."
Chương 165: Ngoại Truyện 2
Thời gian là thứ khó vượt qua nhất trên thế gian này.
Văn Viêm bị giam cầm trong ngục, bị nhốt trong suốt bảy năm. Cận Hành tự vẽ ra một nhà tù cho mình, trói buộc bản thân đến hai kiếp, cuối cùng phải chết đi một lần mới miễn cưỡng rút ra được, mạng sống đã tiêu hao hơn phân nửa.
Nhưng tất cả những điều đó đều không quan trọng, chỉ cần Văn Viêm còn sống...
Chỉ cần Văn Viêm còn sống...
Trong đôi mắt đen kịt của Cận Hành dường như có một cơn sóng ngầm u tối cuồn cuộn, phảng phất toát lên sự cố chấp đầy b.ệnh h.oạn, nhưng chỉ trong thoáng chốc, anh đã mạnh mẽ áp chế nó xuống. Anh nhắm mắt lại, như thể dốc hết sức lực mà hôn lấy Văn Viêm, tựa hồ muốn nuốt trọn máu thịt và xương cốt của cậu vào bụng.
"Ưm——"
Văn Viêm ngửa đầu bất lực, giống như một con cá sắp chết khát. Cậu cào mạnh lên vai của Cận Hành, đầu ngón tay gần như đâm sâu vào thịt. Toàn thân cậu co giật run rẩy, mồ hôi lạnh thấm ướt tóc, chẳng rõ là đau đớn hay khoái cảm.
Đôi mắt Văn Viêm mở to, nhìn chằm chằm lên trần nhà. Trong khoảnh khắc mơ hồ, một dòng chất lỏng nóng bỏng chảy ra từ khóe mắt đỏ hoe, cuối cùng lăn dài xuống thái dương. Gương mặt của Cận Hành trong ánh trăng vừa quen thuộc vừa xa lạ.
Những ngày tháng trong ngục tối, gương mặt này đã vô số lần hiện lên từ đáy lòng của Văn Viêm, để rồi lại bị cậu tự tay đập tan một cách tàn nhẫn.
Cận, Hành.
Cậu thầm gọi cái tên này, hàm răng nghiến chặt. Trong đó chất chứa hận, mang theo oán, mang theo nỗi đau không cách nào nguôi ngoai. Cuối cùng, tất cả những cảm xúc ấy cuộn tròn lại thành một khối, đầu lưỡi ngập tràn vị tanh ngọt.
Cận Hành ôm lấy Văn Viêm từ phía sau, kéo cậu vào trong lòng mình, rồi dần siết chặt vòng tay.
Anh ôm thật chặt, chặt đến mức không để lại bất kỳ khoảng trống nào cho không khí lọt vào. Như một kẻ sắp chết chìm dưới đáy biển, tuyệt vọng bám lấy một mảnh gỗ cứu sinh, chỉ cần buông tay là sẽ chết ngay lập tức.
Văn Viêm nhắm mắt lại thật mạnh, trong khoảnh khắc lại cảm nhận được một thứ chất lỏng nóng bỏng rơi xuống cổ mình, lặng lẽ ngấm vào, để lại một vệt ướt lạnh lẽo.
Cậu cố gắng cử động cổ, muốn ngoái lại nhìn, nhưng lại bị người phía sau siết chặt hơn, không thể nhúc nhích.
Cận Hành không nói một lời, chỉ im lặng ôm lấy cậu như vậy. Tựa như một kẻ nghèo túng đến tột cùng, cầm chặt trong tay mảnh vàng cuối cùng còn sót lại, chỉ để giữ lại một tia hy vọng sống sót.
Văn Viêm kiệt sức, cuối cùng cũng không giãy giụa nữa.
Trăng lặn ngày lên. Ngoài cửa sổ, bóng tối của đêm dần tan biến, nơi chân trời xuất hiện một vệt trắng nhạt, ánh sáng mờ ảo tràn vào phòng ngủ, chiếu lên sự hỗn độn đầy giường, cùng với hai người đang ôm lấy nhau.
Cận Hành không ngủ cả đêm. Một tia sáng nghiêng nghiêng rơi trên mặt anh, có phần chói mắt. Anh khẽ cử động đôi mắt, trong đó dòng nước tối mịt mù rút đi như thủy triều, dưới ánh nắng rực rỡ cuối cùng cũng khôi phục lại vài phần dáng vẻ của một người bình thường, ngay cả vòng tay ôm cũng dần nới lỏng.
Đúng bảy giờ, Văn Viêm theo phản xạ mở mắt ra. Cậu đột ngột ngồi bật dậy trên giường, toàn thân căng thẳng đề phòng, cho đến khi nhìn thấy cách bài trí xung quanh và Cận Hành bên cạnh, lúc này cậu mới nhớ ra mình đã ra khỏi ngục.
Cận Hành vào ban ngày lại là một con người hoàn toàn khác với ban đêm, không còn chút lạnh lẽo u tối nào. Anh tùy tiện khoác một chiếc áo, từ trên giường bước xuống, sau đó kéo Văn Viêm vẫn còn chưa tỉnh táo đi vào phòng tắm.
Vòi hoa sen mở ra, hơi nóng lan tỏa khắp phòng tắm.
Cận Hành khẽ chạm vào môi dưới bị tổn thương của Văn Viêm, không biết là bị đập vào đâu hay do cậu tự cắn, để lại một vết răng sâu. Giọng anh dịu dàng, ánh mắt cũng đầy ôn nhu: "Tắm xong rồi xuống ăn sáng, anh dẫn em đi ăn bánh bao ở tiệm dưới lầu mà em thích, phải đi sớm, trễ một chút là hết đấy."
Anh nói như thể mọi thứ đều rất đỗi bình thường, như lẽ hiển nhiên. Cứ như hai người bọn họ đã sống cùng nhau rất nhiều năm, những ngày như thế sẽ lặp đi lặp lại, ngày nào cũng sẽ cùng nhau xuống lầu ăn sáng.
Văn Viêm cuối cùng cũng tỉnh táo lại. Cậu đẩy Cận Hành ra, đôi mày nhíu chặt: "Không cần."
Thân hình săn chắc của cậu hiện lên mờ ảo giữa màn hơi nước, so với trước đây thì gầy hơn, nhưng cũng rắn rỏi hơn. Khuôn mặt có đường nét góc cạnh, không còn chút dáng vẻ thiếu niên, chỉ có đôi mắt vẫn giống như trước.
Cận Hành không để ý, như thể không nghe thấy gì, cúi đầu giúp cậu lau rửa dưới dòng nước ấm chảy róc rách. Bàn tay Văn Viêm rơi bên người siết thành nắm đấm, cơ bắp căng cứng, dường như sẵn sàng đấm anh bất cứ lúc nào, giờ không động thủ chỉ là vì đang cố gắng nhẫn nhịn.
Văn Viêm không hiểu tại sao mọi chuyện lại phát triển đến mức này. Rõ ràng hôm qua vẫn còn ở trong nhà tù lạnh lẽo, vậy mà hôm nay cậu lại bị Cận Hành đưa về nhà, lại còn không biết thế nào mà lên giường với anh, để hai người vốn đã xa cách nay lại quấn lấy nhau.
Cậu lùi một bước, tựa lưng vào gạch men lạnh buốt, tóc ngắn bị nước làm ướt sũng, đôi mắt đen nhiều hơn trắng, trông như một con quỷ nước: "Ra ngoài."
Văn Viêm nhìn chằm chằm Cận Hành, giọng nói trầm thấp khiến dòng nước nóng chảy ra từ vòi sen cũng như nguội bớt vài phần, lạnh lẽo đến cực điểm: "Ra ngoài!"
Động tác của Cận Hành thoáng khựng lại, sau đó thuận theo như nước chảy: "Được, anh xuống dưới mua bữa sáng trước. Em tắm xong mặc quần áo vào, đừng để bị cảm."
Nói xong, anh cầm một chiếc khăn từ trên giá, tiện tay lau khô tóc, sau đó mở cửa bước ra ngoài.
Cận Hành mặc quần áo chỉnh tề rồi xuống lầu mua bữa sáng. Trước khi ra cửa, không biết nghĩ đến điều gì, anh dùng chìa khóa khóa trái cửa lại, lúc này mới rời đi.
Tám giờ sáng, Liễu Ti thấy đợi sẵn ở đầu phố. Công việc của cô là thư ký cho Cận Hành, tất nhiên phải luôn sẵn sàng chờ chỉ thị của sếp. Mặc dù Cận Hành chỉ bảo cô mua lại căn nhà này rồi không dặn dò gì thêm, nhưng cô cũng không dám tự ý đi chơi thư thái một mình.
Trong chốn công sở không có kẻ ngốc, mỗi người đều có một bộ quy tắc sinh tồn của riêng mình.
Liễu Ti ngồi trong xe, cúi đầu nhìn đồng hồ, vì sự nhạy cảm và tò mò bẩm sinh của phụ nữ, cô không kìm được suy nghĩ về mối quan hệ giữa Cận Hành và tên phạm nhân đó, nhưng cuối cùng vẫn không tìm ra được gì.
Qua kính chắn gió, Liễu Ti thấy Cận Hành đang mua bữa sáng dưới lầu, mắt cô sáng lên, lập tức lấy một chiếc hộp từ ghế phụ, xuống xe đi tới.
"Cận tổng," Liễu Ti bước tới với đôi giày cao gót, đưa một chiếc hộp cho anh. Cô gái thị thành với phong cách thời thượng, trông hoàn toàn không hòa hợp với khung cảnh xung quanh.
Trong tay cô là một chiếc hộp điện thoại lớn hơn bàn tay một chút, nặng trĩu, kèm theo cả thẻ SIM. Đây là thứ Cận Hành bảo cô mua.
Cận Hành đang xách hai túi bánh bao nhỏ, hoàn toàn khác với vẻ lạnh lùng, u tối trước kia. Anh nhận chiếc hộp từ tay Liễu Ti, mở ra xem qua rồi đóng lại: "Tôi cho cô nghỉ một tuần, có việc tôi sẽ gọi."
Liễu Ti suýt nữa reo lên vì vui sướng, nhưng vẫn giữ vẻ chuyên nghiệp, cẩn thận hỏi: "Cận tổng, vậy khi nào chúng ta trở về thành phố A?"
Cô là thư ký, phụ trách sắp xếp hành trình, vé máy bay và khách sạn đều cần đặt trước.
Cận Hành không trả lời ngay, ngừng một chút rồi nói: "Để sau hẵng tính."
Nói xong, anh xoay người bước vào khu chung cư cũ kỹ, dáng người cao ráo, gầy gò. Những năm tháng bận rộn với công việc dường như đã gần như vắt kiệt sức lực của anh.
Liễu Ti đứng nhìn bóng lưng anh, bỗng cảm thấy thất thần.
Cận Hành đã là một người trẻ xuất chúng ở thành phố A, ngoại hình nổi bật, tài sản kếch xù. Nhưng Liễu Ti chẳng hề ghen tị với anh, một chút cũng không.
Làm việc nhiều năm như vậy, cô chưa bao giờ hiểu được tâm tư của người đàn ông này. Anh cô độc và lặng lẽ, lạnh lùng và xa cách. Đang ở độ tuổi đẹp nhất của đời người, thế nhưng cả trong lẫn ngoài đều toát lên vẻ chết chóc.
Liễu Ti chưa từng thấy Cận Hành vui vẻ. Ký được hợp đồng lớn không vui, mỹ nhân tựa vào lòng cũng không vui, sống trong biệt thự đắt đỏ cũng không vui.
Anh sống, giống như đã chết.
Người ta kiếm tiền để vui vẻ, nhưng dường như Cận Hành chẳng bao giờ có cảm giác đó. Anh làm việc ngày đêm, chỉ để đổi lấy những con số hoàn toàn vô nghĩa với mình.
Có lần làm thêm ca đêm, Liễu Ti thấy Cận Hành một mình ngồi trong văn phòng rộng lớn, nhìn xa xăm qua cửa sổ mà không nhúc nhích. Bầu trời tối đen mịt mù tràn ngập, như muốn nhấn chìm anh.
Không ai biết gì về quá khứ của Cận Hành.
Người đàn ông này không có cha mẹ, cũng chẳng có thân thích, sống một mình như cỏ dại không rễ.
Mỗi ngày anh sống dường như đều là một sự dày vò, chỉ có chết đi mới được giải thoát. Nhưng nguồn cơn đau khổ là từ anh, hay từ người khác?
Lúc đó, Liễu Ti đứng ngoài cửa, lặng lẽ quan sát hồi lâu. Cô bỗng cảm thấy Cận Hành chỉ còn lại một cái xác không hồn, sống như cái xác biết đi, chỉ sống để mà sống. Linh hồn của anh có lẽ đã chết từ rất nhiều năm trước.
Nhưng nguồn gốc là từ tuổi thơ đầy đau khổ của anh, từ mùa hè năm mười tám tuổi, hay là từ ngày người nào đó bị tống vào tù? Ánh nắng gay gắt trên cao, lòng chết như tro tàn.
Trong lòng Liễu Ti đột nhiên xuất hiện một ý nghĩ: người đàn ông này sẽ không sống lâu được.
Người mất đi ý chí, không bệnh không tật cũng sẽ chết.
Ngay sau đó, cô lại tự làm mình sợ, vội xua tan cái ý nghĩ gần như lời nguyền ấy. Không ngờ rằng, lời nói ứng nghiệm. Đời trước, Cận Hành chỉ sống đến ba mươi lăm tuổi, một đời đầy thất bại, ngập tràn đau khổ, đến đó kết thúc.
Đứng tại chỗ quá lâu, đôi giày cao gót khiến cơ thể Liễu Ti lảo đảo. Cho đến khi bên tai vang lên tiếng còi xe chói tai, cô mới bị kéo trở về thực tại từ dòng ký ức. Cô cử động cổ chân tê dại, rồi xoay người lên xe.
Một tuần nghỉ phép, đủ để cô nghỉ ngơi thật lâu.
Cận Hành quá hiểu Văn Viêm. Cậu chắc chắn sẽ không dễ dàng chấp nhận ở lại như vậy. Anh xách bữa sáng, vừa bước đến cửa đã nghe thấy tiếng đập cửa ầm ầm bên trong.
Cận Hành không hề ngạc nhiên. Anh lấy chìa khóa từ túi ra mở cửa. Tiếng ổ khóa xoay nhẹ nhàng vang lên, cuối cùng khiến bên trong yên lặng lại.
"Cạch——"
Cửa mở.
Văn Viêm vẫn mặc bộ đồ ngày hôm qua, vai đeo một cái túi, đó là toàn bộ gia sản của cậu. Đơn giản đến mức không thể đơn giản hơn, hành lý của kẻ ăn mày dưới gầm cầu chắc cũng nhiều hơn cậu.
Cận Hành nhìn cậu, Văn Viêm không hề né tránh, đôi mắt dài hẹp nhìn thẳng vào ánh mắt anh, bộc lộ tính cách cứng cỏi từ trong xương tủy vốn không hề thay đổi.
Cận Hành bước vào nhà, sau đó đóng cửa lại, giả vờ như không nhìn thấy chiếc túi trên vai Văn Viêm, kéo cậu ngồi xuống cạnh bàn ăn: "Ăn sáng đi."
Nói xong, anh ngồi xuống, mở hộp điện thoại. Anh lấy ra một chiếc điện thoại màu đen, lắp sim và khởi động máy, sau đó lưu số điện thoại của mình vào: "Cầm cái này mà dùng."
Anh mỉm cười, nhét chiếc điện thoại lạnh lẽo vào tay Văn Viêm. Trong danh bạ chỉ lưu duy nhất một số của anh.
Văn Viêm không động đậy, cũng không nói gì, đại khái muốn xem thử Cận Hành rốt cuộc định làm gì.
Cận Hành nghĩ, Văn Viêm vừa ra tù, cần một thời gian để hòa nhập với xã hội: "Vài ngày nữa anh dẫn em đi dạo một vòng, Từ Mãnh và Nhan Na chắc đang tìm em, tiện thể tụ họp một chút."
Nghe đối phương nhắc đến người cũ, Văn Viêm cuối cùng cũng có chút phản ứng, nhưng vẫn muốn rời đi: "Nói xong rồi chứ?"
Ngụ ý trong lời nói, nếu đã nói xong thì hãy để cậu đi.
"Nói xong rồi, ăn sáng đi, nguội mất." Cận Hành đẩy bữa sáng đến trước mặt cậu, sau đó từ đĩa trái cây bên cạnh lấy một quả táo, chậm rãi gọt vỏ.
Lớp vỏ được gọt một vòng rồi lại một vòng, đều đặn và không đứt đoạn.
Văn Viêm cảm thấy anh đang giả ngu, cuối cùng mất kiên nhẫn, bất thình lình đứng bật dậy khỏi ghế, bước thẳng về phía cửa, nhưng tay cậu lại bị ai đó nắm chặt lấy.
Cậu quay đầu lại, thấy Cận Hành đang nhìn mình: "Em định đi đâu?"
Ánh mắt đối phương nghiêm túc, giọng nói cũng nghiêm túc, giống như một đứa trẻ ngây thơ.
Văn Viêm nhíu mày: "Không liên quan gì đến cậu."
Cậu dùng sức muốn rút tay về, nhưng lại bị đối phương giữ chặt hơn. Văn Viêm thấy vậy, trong lòng đột nhiên dấy lên cơn giận không rõ lý do, trán nổi gân xanh, cậu túm lấy cổ áo Cận Hành, nghiến răng nói: "Mẹ kiếp, rốt cuộc cậu muốn làm cái gì?!"
Cận Hành đang làm gì? Rốt cuộc là vì cái gì?
Hối hận? Tự trách? Hay chuộc tội?
Văn Viêm không cần, cậu không cần bất cứ thứ gì, cậu không cần sự đồng cảm của người khác, càng không cần lòng thương hại của Cận Hành!
Cận Hành không nói gì, mặc cho cậu túm lấy, tay vẫn không buông: "Em đi đâu, anh sẽ đi theo đó."
Chưa kịp nói hết câu, anh đã bị Văn Viêm đấm một cú ngã nhào xuống đất. Chiếc ghế bị va chạm mạnh, ma sát trên mặt sàn phát ra âm thanh chói tai. Cả hai người đều im lặng.
Cận Hành ngã xuống đất, đưa tay ôm lấy miệng, cúi đầu, không nhìn rõ vẻ mặt. Giữ nguyên tư thế đó, rất lâu sau cũng không nhúc nhích. Trong cổ họng anh toàn là vị tanh mặn.
Đây là lần đầu tiên Văn Viêm đánh Cận Hành.
Đó từng là người mà cậu bảo vệ trong lòng bàn tay, bảo vệ suốt ba năm cấp ba, lại đằng đẵng thêm bảy năm sau đó. Gần nửa cuộc đời thiếu niên của cậu đã trôi qua như vậy.
Văn Viêm không nỡ để Cận Hành bị người khác bắt nạt, nên luôn bảo vệ anh. Cậu không nỡ để anh vào tù, nên lại bảo vệ một lần nữa. Nhưng không ngờ cuối cùng cả hai lại rơi vào tình cảnh này.
Văn Viêm lảo đảo lùi lại một bước, trong lòng đầy ngỡ ngàng. Tay phải của cậu buông thõng bên người, đầu ngón tay run rẩy, lòng bàn tay tê cứng.
Cận Hành ngẩng đầu lên, khóe miệng có một vệt máu đỏ rực, chói mắt. Bên cạnh tay anh là con dao gọt trái cây vừa rơi xuống, anh chậm rãi siết chặt nó. Lưỡi dao sắc bén cứa vào lòng bàn tay, máu đặc sệt nhỏ tí tách xuống đất.
"Văn Viêm..."
Giọng Cận Hành khàn khàn, mắt đỏ hoe nhìn cậu: "Nếu em hận anh, thì hãy giết anh đi..."
Văn Viêm nhìn vũng máu đỏ thẫm dưới đất, đột nhiên cảm thấy Cận Hành đã phát điên. Cậu theo bản năng bước lên một bước, nhưng rồi lại từ từ lùi lại. Hai hàm răng nghiến chặt, phát ra tiếng ken két, cuối cùng cậu đá mạnh chiếc ghế bên cạnh: "Mẹ kiếp, cậu đúng là một thằng điên!"
Văn Viêm đùng đùng bỏ đi, cửa bị đóng sầm lại, phát ra tiếng vang lớn.
Cậu dường như thực sự rời đi, một mình bước đi cô độc, không ngoảnh đầu nhìn Cận Hành thêm một lần nào nữa.
Cận Hành muốn đứng dậy khỏi sàn, nhưng lại không tài nào gom đủ sức lực, cuối cùng chỉ đành ngồi phịch xuống. Anh siết chặt con dao trong tay, dường như chỉ có sự đau đớn sắc bén ấy mới có thể mang lại cho anh chút sức lực, để rồi đổi lại là từng giọt máu tí tách rơi xuống.
Một cảm giác bất lực đáng sợ hơn cả ngạt thở quét qua toàn thân anh, khiến anh không thể nhấc mình lên nổi.
Cảm giác này chỉ xuất hiện khi anh còn nhỏ, vào ngày mẹ anh qua đời.
Cận Trường Thanh đã đem toàn bộ tiền bạc trong nhà đi đánh bạc, thua sạch không còn một xu, thậm chí đánh đổi cả mạng sống của vợ mình.
Cận Hành trước đây không đòi hỏi gì nhiều, thật sự không nhiều. Anh chỉ hy vọng mẹ mình còn sống, sống thật tốt, nhưng ông trời vẫn lấy đi mạng sống của bà. Sau đó, anh chỉ hy vọng có một người cha không nghiện cờ bạc đến thế, nhưng kết quả vẫn không được như ý.
Cuối cùng, khi đến trường, đó lại trở thành khởi đầu của một cơn ác mộng khác. Ngày qua ngày bị bắt nạt đã dập tắt mọi hy vọng của một thiếu niên về tương lai, thậm chí khiến anh không còn chút sức lực nào để tiếp tục sống.
Anh không có gì cả, một cuộc đời thất bại hoàn toàn, chỉ có thể níu lấy Văn Viêm, mới không đến nỗi thua một cách quá thảm hại.
Trong lúc mơ hồ, có thứ gì đó nóng bỏng rơi khỏi hốc mắt, nhưng Cận Hành không hề nhận ra. Anh cố gắng muốn đứng lên khỏi sàn nhà, Văn Viêm giận cũng được, muốn đi cũng được, anh nhất định sẽ đi theo cậu.
Anh yêu cậu,
Cậu cũng yêu anh...
Không biết mất bao lâu, Cận Hành mới loạng choạng đứng dậy khỏi mặt đất. Anh mặc kệ vết máu loang lổ trên áo, cũng không quan tâm dáng vẻ mặt mũi bầm dập của mình trông buồn cười đến mức nào, gắng sức bước đến mở cửa.
Thế nhưng, anh còn chưa kịp mở khóa, cánh cửa đã tự động mở ra. Bên ngoài, Văn Viêm đứng đó với sắc mặt âm trầm. Trên vai cậu đeo chiếc túi, tay xách một túi thuốc, "ầm" một tiếng mở cửa, sau khi vào nhà lại "ầm" một tiếng đóng cửa.
Cậu đã rời đi, nhưng lại quay về.
Sau khi xuống lầu, Văn Viêm lang thang trên phố một mình, đi cả nửa ngày mà không biết đi đâu, mơ hồ và lạc lõng. Cuối cùng, cậu ghé vào tiệm thuốc mua băng gạc và cồn i-ốt, rồi quay trở lại.
Cận Hành ngẩn người nhìn cậu, đôi mắt đỏ hoe, sống mũi cũng đỏ lên.
Văn Viêm rất cáu. Cậu không chút biểu cảm ném túi của mình xuống đất, thấy tay Cận Hành đầy máu, cậu túm lấy cổ áo anh, thẳng tay quăng người lên ghế sô pha.
Chiếc túi nhựa kêu loạt xoạt, mọi thứ bên trong rơi hết xuống bàn trà, lăn lóc khắp nơi. Văn Viêm túm lấy bàn tay bị dao cứa loạn xạ của Cận Hành, không tính là nhẹ nhàng mà sát trùng cho anh, sau đó rắc thuốc bột, quấn băng gạc từng vòng từng vòng.
Văn Viêm cảm thấy chắc chắn mình đã phát điên.
Tại sao cậu vẫn còn dây dưa với thằng điên này, tại sao chứ?!
Ánh mắt của Văn Viêm càng lúc càng tối lại, cậu bóp chặt cằm Cận Hành, đầy bực tức lau vết thương trên khóe miệng anh. Nhưng còn chưa kịp làm gì, eo cậu đã bị siết chặt, bị một người ôm chặt lấy.
Văn Viêm giãy giụa nhưng không thể thoát ra.
Trời biết Cận Hành lấy đâu ra sức mạnh lớn đến thế. Rõ ràng trước kia, bị người khác đấm một cú thôi đã chẳng đứng dậy nổi. Chính vì vậy, Văn Viêm mới không để anh phải vào tù.
Trong tù toàn là những loại người gì, Cận Hành yếu ớt như thế, lại không biết đánh nhau, vào đó rồi thì sống sao đây?
Cậu vẫn không nỡ để anh chịu khổ...
Văn Viêm từ trước đến nay chưa bao giờ hối hận về những việc mình đã làm. Một khi đã quyết định, dù tốt hay xấu, đều nên tự mình gánh lấy.
Cậu cố sức muốn đẩy Cận Hành ra, nhưng cũng chỉ là vô ích. Chỉ cảm thấy sau gáy mình lạnh toát, có vô số giọt nước mặn chát lăn vào cổ áo, nóng rực đến mức khiến tim cậu bối rối.
Cận Hành đã rất lâu không khóc như vậy. Anh đỏ mắt nhìn cậu, như một đứa trẻ bị bỏ rơi: "Đừng để anh lại một mình..."
Đôi mắt anh đỏ au, những giọt lệ nóng hổi tuôn rơi. Anh run rẩy từng chữ: "Văn Viêm, đừng bỏ anh lại một mình..."
Toàn bộ sức lực trong người Văn Viêm dường như bị mấy lời đó rút cạn. Lồng ng.ực cậu phập phồng dữ dội, không biết nên nói gì, thân thể cứng ngắc, run rẩy không ngừng, đến cả hơi thở cũng trở nên khó khăn.
Cận Hành ôm lấy cậu, ôm thật chặt, thật chặt. Như thể ôm lấy hy vọng cho phần đời còn lại, giọng anh khàn đặc: "Chúng ta sẽ không bao giờ rời xa nhau nữa..."
Không bao giờ rời xa nhau nữa...
Anh chỉ có cậu, và cậu cũng chỉ có anh. Yêu hay hận, đời này vốn dĩ nên ở bên nhau, chẳng ai có thể chia lìa. Từ rất nhiều năm trước, dưới tán cây ngô đồng xanh mướt, khi hai người mang cặp sách trên lưng, mặc đồng phục trường, giữa biển người ngược xuôi mà bốn mắt giao nhau.
Từ khi đó, tất cả đã được định sẵn.
Họ sẽ cùng nhau thoát khỏi vực sâu, cùng sống tiếp, sống cho thật tốt...
Nửa đời trước, Văn Viêm đã bảo vệ Cận Hành, nửa đời sau, đổi lại là anh bảo vệ cậu. Ông trời không quá bạc đãi anh, cuối cùng cũng để lại một tia hy vọng, chỉ là kiếp trước ngu muội, để vuột mất khỏi tay mình.
Cận Hành hôn Văn Viêm, vị mặn chát của nước mắt hòa quyện với vị tanh ngọt của máu, tựa như dư vị của cả cuộc đời anh: "Anh yêu em..."
Thời gian qua đi, cuối cùng cũng có nơi để về. Giữa biển người mênh mông, cuối cùng cũng tìm được chốn dừng chân.
Anh chỉ chờ đến ngày mọi thứ yên bình, cùng cậu tay trong tay đi hết quãng đời còn lại.
Tác giả: Cuối cùng cũng viết xong rồi (khóc thành con lợn nhỏ).
Chương 166: Ngoại Truyện 3 - Kết Thúc Thế Giới 5
Văn Viêm đã rời đi, rồi lại quay về.
Nhưng chuyện này không hề đáng để vui mừng, ngược lại, nó khiến Văn Viêm từ sâu thẳm trong tâm can cảm nhận được một sự bất lực cùng cực, như thể cậu mãi mãi không thể thoát khỏi sợi dây mang tên "Cận Hành".
Thật đáng buồn.
Khi bị Cận Hành đè lên ghế sô pha mà hôn, trong đầu Văn Viêm bất giác hiện lên ba từ ấy. Cậu nhắm mắt, nghiêng đầu đi, khóe môi khẽ nhếch lên tự giễu. Đèn chùm trên trần nhà xỉn màu, cũ kỹ, giống hệt trái tim cậu ngâm trong nước đắng.
Cận Hành không biết có phải nhận ra điều gì hay không, động tác hôn cậu dần chậm lại. Anh cúi đầu, tựa trán mình vào trán Văn Viêm. Khóe môi anh sưng đỏ, rướm máu, gương mặt vốn thanh tú giờ vô cớ mang theo vài phần tàn tạ: "Đây là lần đầu em đánh anh..."
Giọng nói của Cận Hành trầm thấp, nghe như đang oán trách, mà cũng không hẳn.
Nghe câu này, trong lòng Văn Viêm đột nhiên bùng lên ngọn lửa giận dữ, thiêu đốt đến mức lục phủ ngũ tạng cậu đau đớn. Cậu nắm lấy bàn tay bị cắt thương của Cận Hành, dùng sức siết mạnh, đến khi máu tươi thấm qua lớp băng gạc, cậu mới lạnh lùng nhếch môi hỏi: "Đau không?"
Cậu cười, nụ cười khiến người ta sởn gai ốc, như một kẻ ác vừa bò ra từ địa ngục.
Có lẽ không phải là "như", mà chính là vậy.
Trong khoảnh khắc đó, Cận Hành thấy được trong mắt Văn Viêm sự hận thù không hề che giấu. Anh lặng yên một lúc, cuối cùng khẽ gật đầu: "Đau."
"Đau là đúng."
Văn Viêm cười khẽ, trong tiếng cười chứa đựng sự thỏa mãn và tàn nhẫn: "Nếu cậu ở bên tôi, sau này sẽ còn đau hơn."
Cậu sẽ không bảo vệ Cận Hành nữa.
Mãi mãi cũng sẽ không.
Văn Viêm nghĩ, mấy năm tù đó là cậu tự nguyện thay anh gánh lấy, vốn không định yêu cầu anh trả gì. Nếu Cận Hành đã tuyệt tình, thì cả đời đừng quay lại, hoặc đừng rời đi ngay từ đầu.
Nhưng như bây giờ, lúc ngồi tù thì mặc kệ cậu sống chết, đến khi cậu ra tù lại tỏ vẻ quan tâm hết mực, thực sự là một nước đi ngu ngốc! Cũng là một nước đi sai lầm!
Cậu không phải món đồ chơi mà Cận Hành muốn thì nhặt lên, không muốn thì vứt bỏ.
Cận Hành lặng lẽ nhìn Văn Viêm, một lát sau, anh bỗng cười, nụ cười phảng phất hơi thở của thời niên thiếu cách đây mười mấy năm. Anh vẫn là chàng thiếu niên sạch sẽ đứng dưới bóng cây ngô đồng khi ấy: "Anh biết."
Nhưng, anh không sợ.
Cận Hành nhắm mắt, cúi đầu, vùi mặt vào cổ Văn Viêm, khẽ cọ nhẹ như đang làm nũng. Anh vẫn hiểu rõ Văn Viêm hơn ai hết, kể cả tâm tư của cậu: "Sau này em sẽ không bảo vệ anh nữa, đúng không?"
Văn Viêm thoáng sững người. Ngay giây tiếp theo, bên tai cậu lại vang lên một giọng nói trầm thấp, dịu dàng như ánh trăng trong lòng bàn tay không thể nắm giữ: "Vậy thì sau này, anh sẽ bảo vệ em."
Cận Hành nghiêng đầu, hôn nhẹ lên vành tai cậu: "Anh sẽ bảo vệ em, Văn Viêm."
Anh nói chân thành đến mức không thể trách móc, nhưng Văn Viêm đã không còn dám tin anh nữa.
Từ ngày đó, Văn Viêm bắt đầu ở lại. Cậu không có nơi nào để đi, duy nhất chỉ có ngôi nhà cũ kỹ ấy là chỗ dừng chân. Nhưng cậu vẫn không thích nói chuyện với Cận Hành, trông có vẻ lạnh nhạt, xa cách.
Tình trạng này kéo dài suốt một tháng, cho đến khi Từ Mãnh và Nhan Na bất ngờ tìm đến, mới phá vỡ được sự im lặng.
"Khốn nạn! Tao đã biết mày chính là kẻ đưa Văn Viêm đi! Mày còn chưa hại cậu ấy đủ hay sao?! Xem tao xử lý thằng sói mắt trắng như mày thế nào!"
Từ Mãnh dạo này vẫn luôn tìm tung tích của Văn Viêm. Khó khăn lắm mới nghe được tin cậu ở đây, vừa đẩy cửa vào đã thấy Cận Hành đứng sau cánh cửa, lý trí liền bị cơn giận thiêu đốt. Hắn lao lên, tóm lấy cổ áo Cận Hành: "Nói! Mày giấu Văn Viêm ở đâu?!"
Nhan Na thấy Cận Hành cũng sững người, nhưng nhanh chóng phản ứng, vội vã ngăn Từ Mãnh lại, giọng lo lắng: "A Mãnh! Anh bình tĩnh lại! Đây không phải nơi để đánh nhau!"
Hồi còn đi học, bọn họ là bạn bè không rời nhau nửa bước, nguyên nhân Văn Viêm phải ngồi tù họ đều biết rõ. Nhìn thấy Cận Hành, làm sao không hận được.
Cận Hành để mặc Từ Mãnh nắm lấy cổ áo mình, không né cũng không tránh. Anh đối diện với đôi mắt đỏ au giận dữ của đối phương, môi khẽ động, vừa định nói gì đó, thì bên tai chợt vang lên một giọng nói trầm lạnh: "Dừng tay!"
Câu nói này khiến không khí trở nên im lặng.
Mọi người quay đầu lại, liền thấy Văn Viêm không biết từ khi nào đã bước ra từ căn phòng. Sắc mặt cậu âm trầm, tiến lên đẩy mạnh Từ Mãnh ra, đứng chắn giữa anh và Cận Hành: "Ai cho mày động tay động chân!"
Văn Viêm quay lưng về phía Cận Hành, còn hơi nghiêng người che chắn anh lại.
Đó là một tư thế bảo vệ mà chính Văn Viêm cũng không nhận ra.
Cận Hành thu hết khung cảnh ấy vào mắt, sâu trong đồng tử anh lóe lên một cảm xúc phức tạp không thể gọi tên. Đầu ngón tay anh khẽ nhúc nhích, cuối cùng lặng lẽ đặt lên eo thon của Văn Viêm, nhẹ nhàng trượt qua làn da mảnh khảnh qua lớp áo.
Cử động của anh vừa như xoa dịu, vừa như trêu chọc, quen thuộc đến mức như đã lặp lại hàng nghìn lần.
Cả người Văn Viêm cứng đờ, sắc mặt càng thêm khó coi.
Từ Mãnh thấy hành động thân mật của họ, mí mắt giật mạnh, giận dữ quát lên: "Văn Viêm!"
Trong giọng quát ấy có cả cảnh cáo, nghi vấn, và sự kinh ngạc sâu sắc. Từ Mãnh có lẽ không thể hiểu nổi, tại sao Văn Viêm đã bị Cận Hành làm tổn thương đến mức ấy, mà vẫn dây dưa với anh ta?!
Trái tim Văn Viêm trầm xuống. Cậu vừa định mở miệng, thì cổ tay đột nhiên bị một lực nhẹ nhàng kéo lại, bị Cận Hành lôi về phía sau.
"Sắp đến giờ ăn tối rồi, đây không phải nơi thích hợp để nói chuyện. Hay là tôi mời mọi người một bữa, tìm chỗ ngồi xuống nói rõ?"
Cận Hành làm như không nhìn thấy ánh mắt đầy đề phòng của Nhan Na và Từ Mãnh, vẫn giữ nụ cười nhàn nhạt. Nói xong, anh cũng không đợi họ đồng ý, đã cầm chìa khóa xe kéo Văn Viêm ra ngoài.
Những người còn lại nhìn nhau, cuối cùng cũng đành đi theo.
"Buông ra!"
Văn Viêm hất tay Cận Hành ra, hạ giọng quát lên đầy giận dữ: "Rốt cuộc cậu muốn làm gì?!"
Cận Hành quay đầu nhìn cậu, đôi mắt trong bóng đêm tựa như ánh sao vỡ vụn: "Không làm gì cả, chỉ là nhiều năm không gặp, muốn mời họ ăn bữa cơm."
Anh thực sự đã lâu lắm rồi không gặp Từ Mãnh và mọi người, cũng thực sự rất nhớ những người bạn cũ.
Với thân phận hiện tại của Cận Hành, nếu mời khách ăn cơm thì hẳn là phải chọn nhà hàng cao cấp. Nhưng anh lại lái xe vòng vo qua những con đường ngoằn ngoèo, cuối cùng dừng lại ở một khu phố cũ sắp bị giải tỏa. Bên lề đường có một quán nướng, khói nghi ngút, tiếng người nói cười rôm rả vang vọng khắp nơi.
Sau khi xuống xe, Từ Mãnh thấy nơi này có chút quen thuộc, nhưng nhất thời không nhớ ra đây là đâu.
Chỉ có Văn Viêm nhận ra, đây chính là nơi họ từng học ngày trước. Những ký ức đau khổ, hỗn loạn lập tức ập về, khiến cậu không nhịn được mà nhíu chặt mày: "Ăn ở đây sao?"
"Quán này ăn ngon lắm, có thể thử xem."
Cận Hành nói xong liền xắn tay áo sơ mi trắng, chọn một bàn rồi ngồi xuống gọi món. Quán nướng này nằm đối diện trường học, khách quen phần lớn là học sinh, bọn họ – những người trưởng thành – ngồi giữa đám đông, trông có chút lạc lõng.
Nhan Na cảm thán: "Không ngờ trường học vẫn còn, tôi cứ nghĩ nó đã bị phá từ lâu rồi."
Ánh sáng qua kẽ lá bàng đổ bóng loang lổ. Họ ngồi chờ đồ ăn, một khoảng lặng kéo dài, phá vỡ bởi một bình bia được mang ra đầu tiên. Cận Hành đứng dậy, rót đầy ly cho từng người, cười nhẹ: "Tôi phải lái xe, không uống được, đừng để bụng."
Từ Mãnh liếc nhìn anh không vừa mắt: "Uống hay không thì kệ mày. Lát nữa Văn Viêm sẽ ở chỗ tao, mày cách xa cậu ấy ra."
Cận Hành chỉ mỉm cười, vẻ ngoài như người đàn ông giàu kinh nghiệm chốn thương trường: "Hai người chắc đã kết hôn rồi nhỉ? Có lẽ sẽ bất tiện. Căn nhà cũ đó là của Văn Viêm."
Ngụ ý, Văn Viêm không phải là kẻ không chốn dung thân.
"Này! Ý mày là sao hả?!"
Từ Mãnh lập tức muốn đập bàn, nhưng Nhan Na ngăn lại: "Thôi nào, ăn cơm trước đi. Anh đúng là nói nhiều thật."
Giống như Cận Hành luôn kiềm chế bản thân trước Văn Viêm, Nhan Na cũng là chiếc khóa bảo vệ cho Từ Mãnh. Bầu không khí trên bàn ăn một lần nữa trở nên im lặng, chỉ còn lại tiếng trò chuyện rôm rả của đám học sinh bàn bên, than phiền về bài vở bận rộn.
Văn Viêm từ đầu đến cuối không nói lời nào, cậu uống cạn từng ly bia, môi mím chặt, ánh mắt dán vào cánh cổng sắt han gỉ phía bên kia đường, chìm trong dòng suy nghĩ hỗn loạn. Cho đến khi cơn say dâng trào, cậu mới gục xuống bàn với tiếng "cạch" vang lên—
Cậu say rồi.
Trong tù không được phép uống rượu, mấy năm sống trong lao ngục đã khiến tửu lượng của Văn Viêm – vốn không tệ – bị bào mòn đến cạn kiệt. Cậu gục xuống bàn, lẩm bẩm những lời không rõ ràng, chân mày nhíu chặt, ngay cả trong mơ cũng không yên ổn.
Thấy vậy, Cận Hành cởi áo khoác, khoác lên vai cậu, rồi đỡ Văn Viêm dậy, nói với Từ Mãnh và Nhan Na: "Tôi sẽ gọi thư ký đến đón hai người. Văn Viêm say rồi, tôi đưa cậu ấy về trước."
Nói xong, anh không chờ Từ Mãnh đáp lại, đã ôm lấy Văn Viêm say xỉn, đi thẳng qua con đường. Bóng hai người kéo dài dưới ánh đèn đường, dần dần hòa làm một, rồi bị bóng đêm nuốt chửng.
Cận Hành cố ý ghé sát hơn, muốn nghe xem Văn Viêm đang nói gì. Kết quả, anh chỉ nghe thấy cậu lẩm bẩm ngắt quãng: "Cận Hành..."
Cận Hành nhẹ đáp: "Ừ, anh đây." Giọng anh dịu dàng, mang theo ý cười.
Nhưng Văn Viêm lại nói: "Tha cho tôi đi..."
Lời vừa dứt, không gian trở nên tĩnh lặng đến đáng sợ.
Văn Viêm có lẽ chưa say, hoặc có lẽ đã say đến mức không biết gì. Đôi mắt sắc bén của cậu trong bóng tối nhìn chằm chằm Cận Hành, bên trong cuồn cuộn sóng ngầm, như biển đen dậy sóng: "Cậu bây giờ có tiền, có địa vị... cũng đã học đại học rồi..."
"Đừng dính dáng tới một tên tù nhân như tôi nữa..."
Văn Viêm nói xong, đẩy mạnh Cận Hành ra, loạng choạng lùi lại hai bước. Cậu dựa vào thân cây bàng bên đường, khó nhọc hít thở, nước mắt đã chảy ra: "Cận Hành, điều tôi hối hận nhất trong cuộc đời này chính là ngày đó đã quen biết cậu tại nơi này!"
Nếu không quen biết, họ sẽ không đau khổ như vậy.
Học sinh gương mẫu và thiếu niên bất lương vốn không nên có giao điểm.
Cận Hành đứng nguyên tại chỗ, nhìn Văn Viêm như phát điên, vừa khóc vừa cười. Trong lòng anh bỗng chốc ngổn ngang cảm xúc. Cuối cùng, anh không nói lời nào, tiến lên ôm chặt Văn Viêm đang giãy giụa vào lòng, nghiêng đầu hôn đi giọt nước mắt mặn chát nơi khóe mắt cậu.
"Em không phải tù nhân, Văn Viêm."
Cận Hành ôm lấy Văn Viêm, nhớ lại lần đầu tiên họ gặp nhau, giọng nói khẽ mang chút mê hoặc: "Em còn nhớ đã nói gì ở đây không?"
Áo của Cận Hành mang mùi hương dịu nhẹ của nước giặt, giống hệt như năm xưa. Phía sau họ là ngôi trường cũ kỹ, dường như ngày mai họ sẽ lại bước vào học như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Văn Viêm thoáng chốc ngẩn ngơ, lẩm bẩm: "Tôi..."
Trong đầu cậu hiện lên hình ảnh một bóng dáng gầy gò, mặc đồng phục kẻ sọc xanh trắng, gương mặt sáng sủa, nụ cười của người đó đã chạm vào nơi sâu nhất, nhạy cảm nhất trong lòng cậu.
"Cận Hành..."
Cận Hành ôm lấy Văn Viêm: "Là anh."
Cận Hành: "Em đã nói gì khi đó, còn nhớ không?"
Văn Viêm đã say, cậu nhìn người đàn ông trước mặt – hoàn toàn không còn nét ngây ngô của năm xưa. Nhưng không hiểu vì sao, cậu vẫn thấy đối phương mỏng manh, cần được bảo vệ. Không kìm được, cậu lặp lại câu nói năm nào: "Sau này cậu theo tôi..."
"Tôi sẽ bảo vệ cậu."
Năm đó, Văn Viêm ngậm điếu thuốc, nụ cười nửa như trêu chọc nhìn Cận Hành – kẻ bị ai cũng có thể bắt nạt. Lời nói tưởng như bông đùa, nhưng lại là một lời hứa mà cả đời cậu đều cố gắng giữ gìn.
Nghe một lần, rung động một lần. Nghe vạn lần, rung động vạn lần.
Trái tim Cận Hành đập loạn nhịp. Anh đặt tay Văn Viêm lên ngực mình, nhắm mắt lại. Phải rất lâu, anh mới thốt ra một chữ: "Được."
Cận Hành đang lợi dụng việc người trước mặt đã say, anh ghé sát tai Văn Viêm, thì thầm một bí mật: "Văn Viêm, em không chỉ phải bảo vệ anh, mà còn phải yêu anh."
Bởi vì...
"Anh cũng yêu em."
Gió đêm thổi qua, xoa dịu mái tóc rối bời. Họ đi một vòng lớn, cuối cùng lại trở về nơi bắt đầu. Có lẽ mọi thứ đã thay đổi, nhưng trái tim thì không.
Chương 167: Thế giới 6: Tham quan công Công Tôn Trác Ngọc x Thái giám thụ Đỗ Lăng Xuân ( Cổ đại, phá án)
Khi một người hiện đại xuyên không về thời cổ đại, liệu họ có muốn tạo dựng sự nghiệp lớn lao không?
Chưa hẳn.
Nhưng Công Tôn Trác Ngọc nhất định là loại người như vậy.
Anh có phần kiêu ngạo, đứng trên vai của những người khổng lồ để nhìn lại cổ nhân, luôn mang theo một loại ưu thế kỳ lạ không biết từ đâu mà có. Vì vậy, khi một ngày nọ xuyên không trở thành đứa trẻ sơ sinh cất tiếng khóc chào đời ở Đại Nghiệp triều, anh đương nhiên cho rằng mình phải làm nên điều gì đó.
Anh đọc sách, học chữ, thi khoa cử. Đi trên con đường mà hầu hết mọi người thời đại ấy đều sẽ đi, tuy không hẳn là mười năm đèn sách, nhưng cũng gần như vậy. Cuối cùng, anh được phân về Giang Châu làm một vị tri huyện.
Tri huyện, chính thất phẩm, tuy chỉ là một chức quan nhỏ bé, nhưng chịu khó nhẫn nhịn vài năm, chưa hẳn không có cơ hội thăng tiến.
Thế nhưng, ở một triều đại mà nạn tham ô tràn lan như vậy, làm quan thanh liêm chẳng có mấy đường ra. Công Tôn Trác Ngọc luôn cảm thấy ông trời cho anh cơ hội xuyên không đến đây, chắc chắn là để anh làm nên một sự nghiệp lớn lao, vì thế không tiếc công sức, tìm mọi cách leo lên.
Anh làm tri huyện suốt ba năm, dưới tay chất đầy oan sai chồng chất, vụ án chưa phá được bao nhiêu, nhưng lại thu vơ không ít tiền bạc, cuối cùng lấy đó làm đòn bẩy, thành công gia nhập phe cánh của đám tham quan. Thế nhưng còn chưa kịp hưởng chút lợi lộc gì, hoàng đế đã hạ chỉ thanh trừng triều đình. Một đạo thánh chỉ ban xuống, vô số người rơi đầu ngục tù.
Những tham vọng năm xưa của anh tựa bọt nước, chạm một cái là tan biến.
Ngục thất của Kinh Luật Tư giống như cổng quỷ môn quan của Diêm La Vương, chẳng phải nơi tốt lành gì. Công Tôn Trác Ngọc bị giam ở đó nửa tháng, mỗi ngày đều tận mắt thấy vô số người chịu đủ mọi cực hình, muốn chết cũng không được.
Luật pháp Đại Nghiệp nghiêm minh, hiện tại anh không chỉ bị buộc tội kết bè kéo cánh, những vụ oan sai năm xưa cũng bị lật lại toàn bộ, xét theo luật thì chắc chắn khó thoát được cái chết. Nhưng người nhà họ Công Tôn đã vét sạch tài sản, dâng lên muôn vàn tiền bạc để chuộc tội, theo luật có thể miễn chết, nhưng tội sống lại khó tránh...
Ngục tốt liếc nhìn người thợ già đang mài dao bên cạnh, lại nhìn Công Tôn Trác Ngọc đã hai ngày không ăn không uống, nghĩ bụng: "Nhận cung hình thì cứ nhận cung hình, còn hơn là mất mạng chứ gì?"
Hắn gõ vào cánh cửa nhà lao, dây xích leng keng vang lên: "Công Tôn Trác Ngọc, trước mặt ngươi còn ba người nữa, chuẩn bị đi."
Công Tôn Trác Ngọc ngồi tựa vào tường, áo tù khoác lên người anh có vẻ rộng thùng thình. Nhưng vẫn được anh chỉnh tề gọn gàng, không giống những kẻ khác nhếch nhác bẩn thỉu, đủ thấy anh yêu sạch sẽ, tiếc mạng sống.
"Các ngươi giết ta đi..."
Anh mới chỉ hai mươi chín tuổi, gương mặt đã mang sắc xám xịt, đôi mắt khép lại, không khó để nhận ra ý muốn chết.
Ngục tốt bật cười: "Cái đó không được đâu. Người nhà ngươi đã bán hết của cải, khó khăn lắm mới gom đủ tiền chuộc mạng giữ lại cái mạng nhỏ này cho ngươi. Bây giờ chịu một dao là qua thôi, nhiều lắm thì bị đày ba ngàn dặm, còn hơn là mất mạng. Người khác muốn chịu dao mà còn không có tiền chịu kìa."
Người nhà họ Công Tôn muốn anh sống, nhưng Công Tôn Trác Ngọc là một nam nhân, thà rằng đầu lìa khỏi cổ, cũng không muốn sống nhục nhã như vậy.
Ngục tốt không đợi được câu trả lời của anh, cũng chẳng bận tâm, quay lưng bỏ đi. Cho đến khi mặt trời lặn, lúc đi tuần phòng mới phát hiện có điều bất thường: Công Tôn Trác Ngọc đầu đầy máu, đập tường muốn tìm cái chết.
Ngục tốt hoảng hốt: "Mẹ nó! Nhanh chóng đưa người ra ngoài, lập tức thiến luôn cho ta! Thiến một người mà cũng lắm chuyện thế này!"
Phạm nhân chết trong ngục, người canh giữ cũng khó thoát tội.
Đám người tay chân luống cuống nâng anh ra ngoài. Công Tôn Trác Ngọc từng luyện võ, vẫn còn chút sức lực, liền trực tiếp siết chặt cổ tay của một người gần nhất, sức mạnh lớn đến mức có thể bóp nát xương. Từng chữ, từng chữ anh khàn khàn nói: "Ta cầu chết, không cầu sống—"
Một trận náo loạn này không biết đã kinh động đến ai, bên ngoài đột nhiên vang lên tiếng quỳ đồng loạt. Ngục tốt thấy người đến, cũng hoảng hốt vội quỳ xuống, chắp tay hành lễ: "Tham kiến Đỗ tư công!"
"Chuyện gì mà ồn ào thế, làm người ta nhức đầu."
Công Tôn Trác Ngọc thọ mệnh sắp tận, trước mắt đỏ ngầu, không nhìn rõ diện mạo người đến. Nhưng nghe giọng nói, thanh mảnh âm nhu, lành lạnh, tám phần là một hoạn quan. Loại giọng nói của kẻ yếu đuối mà anh khinh thường nhất, càng khiến anh quyết tâm muốn chết hơn.
Ngục tốt ngập ngừng nói: "Người này là tri phủ Giang Châu, Công Tôn Trác Ngọc, tham ô hối lộ, cấu kết cùng một đảng với Thái Kiệt. Đáng lý phải xử tử, nhưng người nhà hắn dùng tiền chuộc mạng, hắn lại nhất quyết không chịu chịu cung hình..."
Lúc nói những lời này, trong lòng hắn run lên, bởi người trước mặt tuy quyền khuynh triều dã, nhưng cũng là một hoạn quan.
Đỗ Lăng Xuân khoanh tay trong ống tay áo, uể oải cúi mắt nhìn Công Tôn Trác Ngọc, máu me đầy người, như thể không còn là người sống nữa. Tuy chật vật là thế, nhưng không khó để nhận ra đây là một gương mặt anh tuấn, vừa nhìn đã biết là kẻ có học. Nghĩ bụng những văn nhân này thật nặng lòng với danh tiết, từng người một thà chết cũng không chịu làm thái giám, cứ như bị ô uế ghê gớm lắm vậy.
Y cười nhạt, tựa rắn độc thè lưỡi, từ tốn nói: "Không muốn chịu cung hình, vậy càng phải chịu."
Ngục tốt hiểu ý, vội vàng đáp dạ liên hồi, chuẩn bị nâng Công Tôn Trác Ngọc lên bàn trói. Nhưng Đỗ Lăng Xuân bỗng lên tiếng: "Khoan đã."
Ngục tốt lập tức quay lại: "Tư công còn gì phân phó?"
Đỗ Lăng Xuân nheo đôi mắt dài, chân mày hơi nhíu: "Ngươi nói hắn là người Giang Châu, họ Công Tôn?"
Họ này không phải là họ thường gặp.
Ngục tốt đáp: "Phải, dám hỏi tư công, có điều chi không ổn?"
Đỗ Lăng Xuân không trả lời, đưa tay phủi nhẹ ống tay áo. Đầu ngón tay y trắng nõn, thon dài, đẹp như của nữ tử. Không biết y đang nghĩ đến điều gì, đột nhiên nói một câu chẳng đầu chẳng đuôi: "Giang Châu... là nơi non xanh nước biếc, tốt tươi. Hắn đã không muốn chịu cung hình, thì miễn đi."
Nói xong tựa hồ cảm thấy chốn ô uế này không thể ở lâu, y lấy khăn tay che mũi miệng, quay người rời đi.
Công Tôn Trác Ngọc mơ hồ ngẩng đầu, không nhìn rõ dung mạo, chỉ thoáng thấy phần cổ trắng trẻo, bị cổ áo đen che kín, lộ ra một nốt chu sa đỏ nhạt. Lòng anh đột nhiên nhẹ nhõm, khép mắt lại.
Ngục tốt thấy Đỗ Lăng Xuân đi xa, lúc này mới dám thẳng người, đá Công Tôn Trác Ngọc một cái: "Ngươi mạng lớn, Đỗ tư công tha cho ngươi rồi."
Công Tôn Trác Ngọc không động đậy.
Ngục tốt đưa tay dò hơi thở, nói với quản ngục: "Đầu lĩnh, hắn chết rồi."
Đây là một đời ngắn ngủi của Công Tôn Trác Ngọc ở Đại Nghiệp. Không lưu danh thanh sử, chỉ đầy rẫy ô danh. Anh mười năm dùi mài kinh sử, làm ba năm tri huyện, rồi ba năm tri phủ, có tổng cộng sáu mươi tư vụ oan sai, hại chết mười tám mạng người. Sau khi chết, thi thể được đưa về quê, bị người người phỉ nhổ.
Anh từng ngỡ rằng mình sẽ làm nên sự nghiệp kinh thiên động địa ở triều đại này, giờ ngẫm lại chỉ là một ý nghĩ ngây ngô, quả thực làm mất mặt những người xuyên không.
009 nhìn thấy kết cục của Công Tôn Trác Ngọc, nghĩ bụng thì ra anh là một tên đại tham quan coi mạng người như cỏ rác, phải cải tạo thật tốt mới được. Đôi cánh nhẹ nhàng vỗ, dẫn dắt luồng hồn phách ấy thoát khỏi thân xác, quay trở lại năm anh làm tri huyện năm thứ hai.
Giang Châu nằm gần tuyến thương đạo, vốn là một nơi giàu có, chỉ tiếc rằng dù non xanh nước biếc, nhưng người chẳng kiệt xuất, đất cũng chẳng linh thiêng, nổi danh với ba mối họa lớn. Một là hổ dữ trong rừng Mật Tử ăn thịt vô số người, hai là thổ phỉ ngang nhiên hoành hành trên núi Thanh Phong, còn mối họa thứ ba, chính là tri huyện bản địa Công Tôn Trác Ngọc.
009 nhìn thấy Công Tôn Trác Ngọc đã rơi vào hố sâu của sự tham lam, chỉ nhận tiền tài, chẳng màng đúng sai. Từ khi nhậm chức, anh chỉ biết ăn chơi sa đọa, án oan án sai không đếm xuể, danh tiếng thối nát, nhưng vì nơi đây núi cao hoàng đế xa, không ai quản nổi.
Dân chúng chỉ biết than trời, tự nhận mình xui xẻo mà thôi.
Công Tôn Trác Ngọc vốn lười nhác, mỗi ngày đều ngủ đến khi mặt trời đã lên cao ba sào mới dậy. Hôm nay, dù đã qua cả giờ ngọ, anh vẫn chưa thức, nha hoàn bà tử chẳng hề kinh ngạc, lặng lẽ dọn cơm nước lên bàn rồi cũng lặng lẽ lui ra, nếu không mà làm anh thức dậy thì thế nào cũng loạn cào cào lên.
Rèm giường lặng lẽ buông, bị gió khẽ hất lên một góc, lộ ra người đàn ông nằm bên trong. Anh nhíu chặt mày, mồ hôi lạnh nhỏ giọt, tựa như đang rơi vào cơn ác mộng không thể thoát ra. Cuối cùng, anh bật dậy khỏi giường với một tiếng hét, thở d.ốc từng hơi nặng nề.
Công Tôn Trác Ngọc không kịp để ý gì khác, phản ứng đầu tiên là cúi đầu kiểm tra "thứ đó" của mình, phát hiện ra nó vẫn còn, cả người ngã nhào xuống giường, suýt nữa bật khóc.
Khóc ròng trong lòng: May quá, vẫn còn...
009 núp một góc nãy giờ, thấy vị tân ký chủ của mình cắn góc chăn khóc lóc thảm thương, sống mũi đỏ ửng, nước mắt lưng tròng. Cuối cùng không nhịn được, nhẹ nhàng bay đến gần, tò mò hỏi: Ngươi khóc gì thế?】
Công Tôn Trác Ngọc đang vui buồn lẫn lộn, khó lòng kìm nén cảm xúc, bất chợt thấy một quả cầu ánh sáng xanh bay đến trước mặt, động tác bỗng khựng lại, hỏi với giọng ngờ vực: "...Ngươi là ai?"
Thời cổ đại làm gì có mấy thứ công nghệ cao này nhỉ?
Hệ thống khẽ vỗ đôi cánh, tạo dáng đẹp mắt: 【Thân ái, ta chính là người đã giúp ngươi sống lại đấy~】
Công Tôn Trác Ngọc không phải chưa từng đọc những bộ truyện nhân vật nam chính trọng sinh, thực tế là anh đã đọc không ít, thành ra đầu óc bị tẩy não, nghĩ rằng chỉ cần xuyên không thì mình sẽ là nhân vật chính, muốn làm gì cũng không chết.
Nghe vậy, anh theo bản năng quan sát bốn phía, bất ngờ phát hiện khung cảnh xung quanh quen thuộc vô cùng. Anh đưa tay áp lên ngực để bình ổn nhịp tim đang đập mạnh, nhìn thẳng vào hệ thống, nghĩ thầm chẳng lẽ mình thực sự trọng sinh rồi?
Anh thử lên tiếng thăm dò: "Ngươi là..."
Hệ thống giọng điệu thân mật:【Ta là hệ thống 009~】
Công Tôn Trác Ngọc nuốt nước bọt, hỏi tiếp: "Ngươi là kiểu hệ thống siêu cấp giúp nhân vật chính cưới bạch phú mỹ, đạt đến đỉnh cao nhân sinh phải không?"
Hệ thống: 【Ơ...】
Công Tôn Trác Ngọc: 【Là cửa hàng vô địch có thể đổi lấy vật phẩm hiện đại?】
Hệ thống: 【Cái này thì...】
Công Tôn Trác Ngọc nghe ra giọng điệu của nó có gì đó là lạ, bắt đầu nhận ra điều bất thường: "Rốt cuộc ngươi là hệ thống gì?"
Hệ thống: 【Hệ thống cải tạo... cải tạo tra nam, nghe bao giờ chưa?】
Công Tôn Trác Ngọc nhảy xuống giường, chỉ mặc một bộ trung y, trông phong lưu phóng khoáng. Anh rót cho mình một chén trà, rồi lắc đầu: "Chưa nghe bao giờ."
Cải tạo tra nam? Nghe đã chẳng phải thứ gì tốt đẹp.
Hệ thống bay đến bên anh, đầy khí thế hô vang:【Không sao! Từ giờ 009 sẽ giúp ngươi cải tà quy chính, làm một người tốt!】
Cải... tà quy chính?
Công Tôn Trác Ngọc liếc nhìn nó: "Ngươi có phải hiểu lầm gì không, ta là một thanh quan."
Hệ thống ngơ ngác, thời buổi này sao ký chủ lại càng ngày càng trơ tráo, ngập ngừng hỏi:【Thanh quan?】
Công Tôn Trác Ngọc nói như lẽ đương nhiên: "Đương nhiên là thanh quan."
Anh đi đến bên cửa sổ, vươn vai, tâm trạng vô cùng tốt vì được sống lại. Mặc dù đã là người trưởng thành, nhưng anh vẫn không bỏ được cái tư tưởng ngây ngô ấy: "Mơ ước của ta là lưu danh thiên cổ, trở thành một đời danh thần, như Tần Cối! Triệu Cao!"
[1] Tần Cối là một trong những gian thần không thể tha thứ trong lịch sử trung quốc. Ông là tể tướng dưới thời nam Tống, lãnh đạo phái chủ hoà trong chiến tranh Tống - Kim. Năm 1139, Nam Tống đứng trước nguy cơ diệt vong, nhưng lúc đó vẫn có một vị tướng tài là Nhạc Phi. Nhưng Tần Cối sợ sệt quân Kim, cho một số gian thần vu cáo Nhạc Phi tạo phản, hại chết Nhạc Phi, cắt đứt cơ hội khôi phục giang sơn nên bị cho là bán nước. Tại miếu Nhạc Phi ở Chiết Giang, tượng Tần Cối đã liên tục bị người đời làm hư hại, phải đúc tới 13 lần.
[2] Triệu Cao (? - 207 TCN) là một hoạn quan, Thừa tướng của triều đại nhà Tần, có ảnh hưởng chính trị rất lớn trong suốt giai đoạn tồn tại của nhà Tần. Ông là một hoạn quan người Trung Quốc đã âm mưu giành quyền lực sau cái chết của Thủy Hoàng Đế , hoàng đế đầu tiên của nhà Tần, dẫn đến sự sụp đổ của triều đại.
Hệ thống im lặng trong chốc lát: 【...Toàn chẳng phải người tốt cả.】
Công Tôn Trác Ngọc khoanh tay, không đồng ý với lời nó: "Ai nói làm người tốt mới lưu danh thiên cổ, người xấu cũng có thể, mà còn dễ hơn."
Hệ thống: 【Ngươi muốn làm người xấu?】
Công Tôn Trác Ngọc chợt nhận ra mình lỡ lời, khẽ ho một tiếng: "Không phải, ta đã khóc lóc, thề sẽ cải tà quy chính rồi."
Vừa nói, anh vừa dùng đầu ngón tay chạm nhẹ vào khóe mắt, ở đó vẫn còn vương chút nước mắt chưa khô: "Nhìn đi, ta đã khóc đây này."
Hệ thống không tin lời anh: 【Rõ ràng ngươi đang khóc vì bé chim của mình mà.】
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Cái ấy bé chỗ nào hả?!
Đúng lúc Công Tôn Trác Ngọc định cãi tay đôi với nó, thì sư gia Vạn Trọng Sơn bất chợt hớt hải chạy vào, gõ cửa đầy gấp gáp: "Đại nhân! Đại nhân! Không hay rồi, có người đánh trống kêu oan!"
Công Tôn Trác Ngọc từ trước đến nay ghét nhất là phải xử mấy vụ như thế, huống chi bây giờ anh đang khó chịu vì mới ngủ dậy: "Không thấy bổn đại nhân còn chưa dậy sao? Dù có chuyện gì cũng để sang một bên, đợi ta xử lý sau!"
Vạn Trọng Sơn đã ngoài bốn mươi, tức đến độ bộ râu dê cũng run lên: "Đại nhân, vụ án này đã bị ngài đẩy đi ba lần rồi, nếu không xử lý sẽ có người mất mạng đấy!"
Công Tôn Trác Ngọc phẩy tay áo: "Chết cũng chẳng phải người nhà ta!"
Hệ thống ánh mắt nghiêm nghị: 【Tách!】
Điện giật lóe lên, chỉ nghe một tiếng "phịch", Công Tôn Trác Ngọc bị đánh ngã lăn xuống đất. Từ nhỏ anh đã học võ, miễn cưỡng run rẩy đứng lên, đang định xem rốt cuộc chuyện gì vừa xảy ra, thì thấy quả cầu ánh sáng xanh kỳ quái ấy nghiêm nghị nói: 【Thân ái, thế là sai rồi đấy.】
Vậy nên,
【Mau đi xử án đi~】
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Nói đến vụ án này, thực ra đã được thụ lý từ mấy ngày trước.
Ở đầu thôn phía Đông có một hộ gia đình, trong nhà có quả phụ trẻ tuổi xinh đẹp tên là Dư thị, người phụ nữ này hiền thục nết na, dù chồng sớm đã chết nơi chiến trường, nàng vẫn hết lòng phụng dưỡng cha mẹ chồng.
Một ngày nọ, khi nàng đi chợ mua vải, ai ngờ lại bị công tử nhà viên ngoại họ Lưu để ý rồi bắt cóc. Sáng sớm hôm sau, nàng bị vứt ở vệ đường trong tình trạng quần áo xộc xệch, đến khi được phát hiện thì người đã tắt thở.
Cha mẹ chồng của nàng đều đã già yếu, tóc bạc phải tiễn người đầu xanh, khiến ai cũng không khỏi xót xa. Nhưng Lưu viên ngoại lại giàu nứt đố đổ vách, bỏ tiền mua chuộc quan lại, ngang nhiên giúp con trai mình rửa sạch tội danh.
Ngày hôm đó, mẹ chồng của Dư thị lại đến trước phủ nha kêu oan. Ở tuổi già tóc bạc phơ, bà được dân làng dìu đỡ, chống gậy đi bộ hơn mười dặm đường núi để đến đây, khiến người qua đường nhìn thấy cũng không khỏi động lòng.
Bên lề đường, một người bán mì lắc đầu: "Lại chạy uổng công nữa thôi."
Tại một bàn ăn gần đó, một đội thương nhân đang ngồi nghỉ chân. Người đứng đầu trong nhóm có khí chất uy nghiêm, toàn thân toát lên vẻ không tầm thường. Nghe thấy lời của người bán mì, y chợt nảy sinh hứng thú: "Xin hỏi các hạ, vì sao lại nói vậy?"
Người bán hàng vừa thành thạo kéo sợi mì, vừa nói chuyện phiếm với họ: "Nhìn mấy vị là biết khách từ nơi khác đến rồi. Quan huyện của chúng ta, thật đúng là người chẳng ra gì..."
Nói xong, hắn liếc nhìn sắc trời: "Giờ này chắc vẫn còn chưa tỉnh đâu. Lại nói, bà mẹ chồng của nhà họ Dư đã đến mấy lần, lần nào cũng bị nha dịch đuổi về. Quan huyện rõ ràng không định quản, e là lần này lại công cốc mà thôi."
Hắn cứ tự mình nói một mạch, hoàn toàn không để ý đến vị lão gia kia đã nhíu chặt mày: "Tưởng rằng dân phong Giang Châu thuần hậu, bá tánh tất nhiên an vui, chẳng ngờ quan phụ mẫu lại là hạng người như thế này."
Bên cạnh, một thiếu niên công tử chừng mười lăm, mười sáu tuổi khẽ nói: "Phụ thân bớt giận, quan viên Đại Nghiệp chúng ta rất đông, phỏng chừng kẻ ngồi không ăn bám chỉ là thiểu số."
Vị lão gia không đáp, nhấp một ngụm trà, có lẽ thấy trà không ngon lắm nên đặt lại, rồi đứng lên nói: "Đi, chúng ta đến xem thử."
Thiếu niên công tử muốn ngăn cản, nào ngờ lại bị một nam tử áo tím giữ tay lại. Người này từ đầu đến cuối không nói lời nào, thân hình mảnh khảnh, làn da trắng hơn cả nữ nhân. Lông mày và ánh mắt dài, mang nét bất định khó phân biệt nam nữ, giọng nói âm trầm khàn khàn: "Trong bóng tối có cao thủ Đại Nội bảo vệ, công tử không cần lo lắng."
Thiếu niên công tử dường như rất tôn kính y, gật đầu đồng ý: "Ngươi nói có lý."
Đỗ Lăng Xuân lúc này mới buông tay ra, dùng khăn từ tốn lau đầu ngón tay, chậm rãi cất vào tay áo.
Mẹ chồng nhà họ Dư không chịu rời đi, quỳ trên bậc thềm ngoài công đường, dáng vẻ phong trần, nước mắt đầm đìa, dập đầu không ngừng: "Xin đại nhân thay lão thân đòi lại công bằng, xin đại nhân minh oan..."
Bên ngoài dần dần tụ tập một đám người đến xem náo nhiệt, người tốt bụng không nhịn được khuyên nhủ: "Lão bà, mau về đi, lỡ quỳ hỏng thân mình thì làm thế nào."
"Quan huyện sẽ không ra đâu."
"Tên cẩu quan này cấu kết với nhà họ Lưu rồi!"
Đúng lúc mọi người bàn tán xôn xao, cửa công đường lại kẽo kẹt một tiếng mở ra. Chỉ thấy hai bên công đường có ba ban nha dịch đứng thành hàng, dùi gõ xuống đất, đồng thanh hô: "Uy vũ!" Một người trông như sư gia từ trong đi ra: "Ai gõ trống kêu oan, vào đường kể rõ!"
Mọi người giật mình, không khỏi ngước mắt nhìn trời. Mặt trời mọc từ đằng Tây rồi sao, quan huyện vậy mà chịu mở công đường?!
Công Tôn Trác Ngọc mặc quan bào màu xanh lục nhạt cấp bảy, thắt đai bạc cửu hoàn, ngồi cao trên công đường, thoạt nhìn cũng ra dáng người đường hoàng. Dẫu anh luôn cảm thấy bộ quan phục màu này xấu muốn chết, mặc vào chẳng khác nào một con rùa xanh.
Công Tôn Trác Ngọc thấy mẹ chồng nhà họ Dư được đưa lên, liền đập mạnh kinh đường mộc, mang tính tượng trưng hỏi: "Người dưới đường là ai, vì sao gõ trống kêu oan?"
Mẹ chồng nhà họ Dư run rẩy quỳ xuống: "Đại nhân minh giám, lão thân họ Tiền, là người thôn Hà Khẩu. Mấy ngày trước, con dâu đáng thương của ta bị công tử nhà Lưu viên ngoại trên trấn bắt cóc hại chết. Xin đại nhân minh oan cho chúng ta!"
Thời đại này không có điện thoại cũng chẳng có máy tính, tài nguyên giải trí vô cùng thiếu thốn, bên ngoài chật kín bá tánh đến nghe xử án, tất cả đều vươn cổ hóng chuyện.
Công Tôn Trác Ngọc mặt mũi chính trực, gương như trăng gió, lại cứ phong lưu ph.óng đ.ãng. Anh lười nhác tựa vào ghế, ngáp một cái, mân mê miếng ngọc bội thượng hạng bên hông, thích không rời tay—
Đây là Lưu viên ngoại tặng.
"Ngươi không có chứng cứ, sao dám khẳng định con dâu ngươi bị công tử nhà Lưu viên ngoại hại chết?"
Nhìn qua chính là một quan lại hồ đồ.
Hệ thống đậu trên vai Công Tôn Trác Ngọc: 【Có phải ngươi hơi thiên vị nhà họ Lưu không?】
"Suỵt," Công Tôn Trác Ngọc đáp, "Ta cũng không muốn đâu, nhưng họ cho nhiều quá."
Hệ thống cảnh cáo anh: 【Xử án đàng hoàng, nếu không 009 sẽ giật điện ngươi đấy.】
Công Tôn Trác Ngọc khẽ ho một tiếng, chậm rãi ngồi thẳng lại. Chỉ thấy bà Tiền quỳ dưới đường, vừa khóc vừa nói: "Hôm ấy... hôm ấy rất nhiều người đều trông thấy Lưu Diệu Tổ bắt con dâu ta về phủ, sáng sớm hôm sau, người đã chết, quần áo xộc xệch, rõ ràng là bị làm nhục. Ngoài hắn ra còn ai vào đây nữa."
Công Tôn Trác Ngọc xoa cằm: "Dẫu hắn bắt về thật, nhưng chưa chắc đã là hắn giết. Ngươi tận mắt thấy hắn giết người sao?"
Anh chỉ đưa ra suy luận trên cơ sở thiên vị nhà họ Lưu, nhưng trong mắt bá tánh bên ngoài, lại chính là đồng lõa với nhau. Bên ngoài mắng chửi om sòm, không biết là ai ném một miếng lá cải vào trong: "Cẩu quan!"
Công Tôn Trác Ngọc đập mạnh kinh đường mộc: "Ai chửi, đứng ra cho bản quan!"
Không ai đáp, ngu gì mà đứng ra.
Sư gia Vạn Trọng Sơn bên cạnh ho khan một tiếng, lên tiếng nhắc nhở: "Đại nhân, nên xử án thôi."
Công Tôn Trác Ngọc không tính toán với họ, vừa phái người đi truyền Lưu Diệu Tổ, vừa nói với lão bà: "Tiền thị, không phải bản quan không muốn thay ngươi làm chủ, mà do pháp y khám nghiệm tử thi xác nhận, Dư thị chết từ giờ Tý đến giờ Sửu đêm hôm đó. Trong khoảng thời gian này, Lưu Diệu Tổ đang ở sòng bạc Đông Lai lắc xúc xắc, người đi cùng đều có thể làm chứng."
Bà Tiền tuổi già, lại là người quê mùa, miệng lưỡi vụng về, ấp úng không biết phản bác thế nào. Bên ngoài không biết là ai trầm giọng hỏi: "Nếu Lưu Diệu Tổ mua chuộc người khác tạo chứng cứ giả, bản thân ở sòng bạc nhưng lại sai thủ hạ hại người, thì sao?"
Công Tôn Trác Ngọc theo tiếng nhìn lại, thấy đó là một vị lão gia giàu có mặt mũi nghiêm nghị, đang nhẹ nhàng ném miếng ngọc bội trong tay: "Theo lời ngươi nói, chẳng lẽ công đường xử án không cần nhân chứng vật chứng nữa, dù sao đều có thể làm giả mua chuộc."
Nói chuyện chưa dứt, Lưu Diệu Tổ đã bị áp giải đến. Hắn có vẻ vừa bị kéo ra từ ổ gái lầu xanh, quần áo xộc xệch, đầy mùi son phấn. Nhìn thấy bà Tiền, sắc mặt hắn thay đổi, rồi lập tức quỳ trước mặt Công Tôn Trác Ngọc: "Thảo dân Lưu Diệu Tổ, bái kiến đại nhân."
Công Tôn Trác Ngọc ra hiệu cho hắn đứng lên: "Mấy hôm trước ngươi có bắt một cô nương về nhà không?"
Lưu Diệu Tổ không nhịn được liếc bà Tiền, sau đó thu lại ánh mắt: "Bẩm đại nhân, cô nương ấy xinh đẹp, thảo dân chỉ muốn mời về nhà uống chén trà mà thôi. Ai ngờ nàng không nể mặt, vừa khóc vừa làm loạn, còn muốn tự tử, thảo dân đành thả nàng đi."
Bà Tiền nghe vậy liền kích động, lao lên muốn đánh hắn, giọng đau thương thê lương: "Ngươi nói láo! Nếu ngươi thả nó đi, người sao lại chết, rõ ràng ngươi làm nhục rồi giết nó! Con ta đáng thương, con ta..."
Bà tuổi già sức yếu, gục xuống đất khóc đến mức suýt ngất đi, tóc tai rối bời: "Đại nhân, phu quân ta vì nước chinh chiến, mất một chân trên chiến trường, con trai ta bảo vệ biên cương, cũng là đầu rơi máu chảy. Cả nhà chỉ trông cậy vào một mình Tố Vân, cớ gì lại có kết cục như thế này, cớ gì lại có nỗi oan không được giải..."
Trong thời cổ đại, chiến loạn liên miên, việc tòng quân chẳng khác nào mười phần chết chín. Một nữ tử bỏ mạng, đồng nghĩa với cả nhà mất đi hy vọng. Đám đông nghe thẩm án bên ngoài không khỏi thở dài, thì ra là hậu duệ của những người trung liệt...
Lưu Diệu Tổ sắc mặt khó coi: "Đại nhân, thảo dân thực sự không có giết người mà!"
Hắn xoay lưng về phía mọi người, trong lòng ra hiệu số ba, liều mạng nhắc nhở Công Tôn Trác Ngọc: nhà ta đã dâng lên ngài ba ngàn lượng bạc!
Hệ thống như một quả cầu nhỏ khóc không thành tiếng, dùng cánh vỗ bôm bốp lên đầu Công Tôn Trác Ngọc: 【Thật đáng thương, mau xét xử cho đàng hoàng, mau lên!】
Công Tôn Trác Ngọc bị nó đánh đến hoa mắt chóng mặt, chỉ có thể làm theo, mạnh mẽ đập kinh đường mộc, trầm giọng nói: "Người đâu, mang thi thể Dư thị lên đây!"
Chương 168
Giang Châu không phải là nơi quá nóng bức. Hơn nữa, Dư thị vừa mới qua đời chưa được bao lâu, hung thủ vẫn chưa tìm ra, thi thể còn đang được lưu giữ tại nghĩa trang nên bảo quản vẫn khá nguyên vẹn. Nếu không có chuyện hôm nay, e rằng vụ án này sẽ bị khép lại như một vụ án không đầu mối.
Khi thi thể được khiêng vào, một mùi hôi thoang thoảng lan ra, khiến các nha dịch hai bên không nhịn được phải lùi lại hai bước, chỉ có Tiền thị là khóc càng thêm thê thảm.
Công Tôn Trác Ngọc lại chẳng hề để ý, vẫy tay ra hiệu cho sư gia Vạn Trọng Sơn đưa một đôi găng tay vải tới. Vừa xắn tay áo, vừa đeo găng vào, anh bước xuống công đường, rồi kéo tấm vải trắng phủ trên thi thể lên.
Đây là lần đầu tiên Công Tôn Trác Ngọc tự mình xem xét thi thể, trước nay những việc này đều do pháp y đảm nhận. Thi thể của Dư thị bị bỏ rơi bên vệ đường vắng vẻ, quần áo xộc xệch, trước khi chết đã xảy ra quan hệ t.ình d.ục. Trên cổ có một vết cắt mảnh, bị siết cổ đến chết. Thời gian tử vong sơ bộ ước tính từ giờ Tý đến giờ Sửu, tức là khoảng từ mười một giờ đêm đến ba giờ sáng.
Ánh mắt của Công Tôn Trác Ngọc lướt qua thi thể của Dư thị từng tấc một, không bỏ sót bất kỳ chi tiết nào. Cuối cùng, anh thậm chí không màng đến hình tượng, quỳ một chân xuống đất, cúi người gỡ tung mái tóc của thi thể ra để kiểm tra.
Dân chúng chưa từng chứng kiến cảnh tượng này bao giờ, liền xì xào bàn tán:"Hắn đang làm gì vậy? Không định xét xử nữa sao?"
"Giả thần giả quỷ!"
"Hay là thấy Dư thị xinh đẹp nên muốn lợi dụng?"
Quan huyện mà khẩu vị nặng đến thế ư?
Ngay khi đám đông đang ngầm kinh ngạc, Công Tôn Trác Ngọc cuối cùng cũng dừng lại động tác kỳ quặc của mình. Anh suy ngẫm, một nữ nhân nếu bị đe dọa hoặc xâm phạm tính mạng chắc chắn sẽ giãy giụa dữ dội, cào cấu, đạp đá hung thủ.
Nghĩ đến đây, anh nắm lấy cổ tay của Dư thị. Dù là một nông phụ, nàng vẫn xinh đẹp và sạch sẽ, móng tay để dài chừng nửa đốt, màu sắc tái nhợt xen lẫn xanh xám. Anh dùng một chút lực tách nhẹ ra, bên trong có dấu vết máu thịt và da bị cào nát.
Công Tôn Trác Ngọc đưa tay của Dư thị cho họ Tiền xem: "Trước khi chết, Dư thị đã giãy giụa rất dữ dội, móng tay tay phải bị gãy một nửa, bên trong còn có máu thịt của hung thủ."
Nói xong, anh chỉ vào Lưu Diệu Tổ: "Mới vài ngày ngắn ngủi, dù có dùng linh đan diệu dược gì đi nữa, cũng khó tránh khỏi để lại dấu vết. Lão thái bà, ngươi xem trên người Lưu Diệu Tổ có vết thương nào không?"
Tiền thị nhìn sang, chỉ thấy gương mặt của Lưu Diệu Tổ trắng trẻo, cổ cũng vậy. Một nha dịch tiến lên, lột ngay áo của hắn, nhưng trên người hắn cũng không có vết thương nào.
Các cô nương và phụ nhân đứng xem đỏ bừng mặt, xấu hổ đến nỗi giậm chân liên tục. Lưu Diệu Tổ cũng đỏ mặt tía tai, luống cuống mặc lại áo.
Tiền thị nói: "Có khi nào hắn sai gia nhân hại chết Tố Vân!"
Loại công tử như Lưu Diệu Tổ, bên cạnh luôn có đám gia nhân sai bảo, nếu thực sự muốn giết người, hắn đâu cần tự mình ra tay.
Công Tôn Trác Ngọc đặt tay của Dư thị trở lại: "Còn về chuyện này, gia nhân của hắn đều có chứng cứ ngoại phạm. Lưu gia cũng khá giàu có, gia nhân phục vụ mỗi người mỗi việc, đều có bà quản gia trông coi. Nếu thiếu một người, chắc chắn sẽ bị phát hiện."
Nói xong, anh lại tiếp lời: "Còn nữa, mấy tên tiểu đồng thường theo hầu Lưu Diệu Tổ vào đêm đó cũng cùng hắn ở Đông Lai sòng bạc, có hơn mười nhân chứng. Hơn nữa, theo lời của gia nhân gác cổng nhà Lưu gia, vào giờ Dậu đã thấy Dư thị rời khỏi cổng lớn, đi về hướng đông, người gác đêm có thể làm chứng."
Nói cách khác, khi rời khỏi Lưu phủ, Dư thị vẫn còn sống. Những lời Lưu Diệu Tổ nói đều là thật. Nếu hắn thực sự có ý đồ xấu, hà tất phải để Dư thị rời đi?
Suy đoán ban đầu của đám đông bị Công Tôn Trác Ngọc ba lời hai lẽ phá tan, ai nấy đều ngỡ ngàng, nhìn nhau không nói nên lời. Họ không muốn tin, nhưng cũng chẳng thể tìm ra lỗ hổng để phản bác.
Vị lão gia thương nhân đứng giữa đám đông thoáng vẻ trầm tư, rõ ràng cũng có chút khó hiểu, ông quay đầu hỏi người đàn ông áo tím bên cạnh: "Ngươi nghĩ những lời hắn nói có mấy phần thật?"
Đỗ Lăng Xuân hai tay giấu trong tay áo, mắt khép hờ, nụ cười sâu không lường được, thoạt nhìn trông như một kẻ hầu thực thụ: "Lão gia nói sao, thì chính là vậy."
Bên này, Công Tôn Trác Ngọc đã định lui đường, anh không hứng thú với việc truy tìm hung thủ, nhận tiền của Lưu gia, chứng minh Lưu Diệu Tổ vô tội là xong chuyện. Đang định xoay người bước lên ghế cao, bỗng nghe có người phía sau cất tiếng hỏi lớn: "Nếu Lưu Diệu Tổ không phải hung thủ, vậy ai mới là hung thủ?"
Hả?
Công Tôn Trác Ngọc quay đầu lại, thấy người vừa lên tiếng chính là vị thương nhân lão gia nọ. Anh thầm nghĩ lão già này sao mà lắm lời thế, cứ mở miệng liên tục. Định bụng bảo kẻ không liên quan đừng xen vào, nhưng không ngờ đám dân chúng cũng hưởng ứng theo: "Đúng vậy, rốt cuộc hung thủ là ai?"
"Hãy tìm ra hung thủ để rửa oan cho Dư thị!"
"Đại nhân, xin đòi lại công lý!"
Hệ thống rưng rưng nước mắt, cũng chen vào làm loạn: 【Xin đòi lại công lý! Đòi lại công lý!】
Công Tôn Trác Ngọc vốn không có gì tốt, nhưng nếu phải tìm một hai điểm đáng khen thì đó chính là có ơn tất báo, trọng nghĩa khí. Dù gì hệ thống cũng đã cứu anh một mạng, ít nhiều cũng phải đáp lại. Nghe vậy, anh nói: "Chỉ lần này thôi, lần sau sẽ không có nữa."
Nói xong, anh thu lại bước chân vừa định rời đi, quay trở lại chỗ thi thể của Dư thị, cởi đôi giày thêu của nàng ra cho mọi người xem, chỉ thấy đế giày dính đầy bùn đỏ.
Công Tôn Trác Ngọc nói: "Nơi phát hiện thi thể Dư thị là con đường bùn đỏ vắng vẻ, trong toàn bộ huyện Giang Châu chỉ có duy nhất đoạn đường đó có bùn đỏ. Nếu nàng bị giết rồi ném xác, đế giày chắc chắn sẽ không dính bùn đỏ. Rõ ràng, nàng đã bị hại khi đang đi trên con đường đó."
Tiền thị ngập ngừng: "Nhưng... nhưng đường bùn đỏ ấy vắng vẻ, nằm gần lưng chừng núi, đâu phải đường về nhà ta..."
Chuyện này thì Công Tôn Trác Ngọc không biết, anh đâu phải thần thánh: "Lúc rời khỏi Lưu phủ đã là nửa đêm, có lẽ vì trời tối nên đi nhầm đường, hoặc bị kẻ xấu ép buộc."
Anh nói xong liền vén vạt áo, nửa quỳ trên mặt đất, nâng cằm của dư phụ lên, để lộ ra vết thương trên cổ cho mọi người nhìn rõ: "Nàng bị người ta siết cổ đến chết. Vết thương rất nhỏ, không giống như dây thừng thô ráp mà là loại dây mảnh và mềm dẻo, chẳng hạn như dây cung. Hơn nữa, kẻ giết nàng vô cùng khỏe mạnh."
Dư phụ rõ ràng đã bị c.ưỡng b.ức, trên má đầy dấu vết đỏ ửng, như bị người ta mạnh mẽ hôn lên, còn có vết xước của râu cứng chà sát để lại.
Nói đến đây, ánh mắt của Công Tôn Trác Ngọc dường như đã sáng tỏ, tựa hồ anh đã hiểu ra điều gì. Từ từ đứng dậy, anh tháo đôi găng tay, ném lại cho sư gia Vạn Trọng Sơn rồi trầm giọng nói: "Kẻ nào thường dùng dây cung, kẻ nào sống trên núi hoang vu không bóng người..."
Câu trả lời đã rõ ràng như mặt trời ban trưa.
Công Tôn Trác Ngọc khoanh tay trước ngực, bước lên công đường, ngả người tựa lưng vào ghế thái sư như không có xương cốt, ánh mắt trầm tư, từng đặc điểm của hung thủ lần lượt được anh liệt kê:
"Trên người có ba vết cào do móng tay phụ nữ để lại, râu ria rậm rạp, trong nhà có cung tên, thân thể cường tráng, sống trên núi, không có vợ, cô độc một mình... Có lẽ là một thợ săn ở quanh đó."
Nói xong, anh vỗ tay xuống công đường khiến mọi người đang ngơ ngẩn bừng tỉnh, rồi ra lệnh cho bộ khoái: "Chiếu theo lời ta vừa nói, lập tức đến khu vực quanh đường đỏ, lục soát toàn bộ những kẻ khả nghi, đưa về đây."
Bộ khoái đứng dưới công đường, nghe vậy liền hoàn hồn, lập tức lĩnh mệnh rời đi. Trong lòng hắn không khỏi thầm nghĩ, hôm nay mặt trời mọc từ hướng tây hay sao? Ngoài mấy ngày đầu mới nhậm chức, đây là lần đầu tiên hắn thấy Công Tôn Trác Ngọc chăm chỉ xét xử vụ án như vậy.
Đám dân chúng vây quanh vẫn chưa rời đi, ai nấy đều kiên nhẫn chờ đợi kết quả, muốn xem vị huyện thái gia này cuối cùng có thể tra ra được điều gì. Đồng thời, họ không khỏi xì xào bàn tán. Những đặc điểm mà Công Tôn Trác Ngọc vừa liệt kê thoạt nhìn chẳng liên quan gì đến nhau, nhưng nghĩ kỹ lại thì không phải là không có căn cứ, khiến người ta khó lòng phản bác.
Thi thể của Dư thị nằm lặng lẽ giữa công đường, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời cũng không thể làm ấm lên chút nào. Nàng chỉ có thể tiếp tục mục rữa theo thời gian. Sinh mệnh của con người thực sự quá mong manh.
Công Tôn Trác Ngọc tựa lưng vào ghế, có chút buồn ngủ. Anh không thích xét xử vụ án, bởi việc này không mang lại lợi ích gì cho anh, chỉ tổ tốn sức. Nhà họ Lưu còn có thể đưa chút lễ vật, nhưng Tiền thị lại chỉ là dân thường, cùng lắm cũng chỉ có thể dâng một bao ngô mà thôi.
Anh vẫn luôn ôm khát vọng làm danh thần, không cần biết tiếng thơm hay tai tiếng, chỉ cần lưu danh sử sách, chứng tỏ mình từng tồn tại ở triều đại này.
Công Tôn Trác Ngọc nhắm mắt dưỡng thần, lặng lẽ suy nghĩ về con đường tương lai. Nên dâng lễ vật cho cấp trên vẫn phải dâng, nếu không thì làm sao thăng quan tiến chức. Chuyện kiếm tiền cũng không thể bỏ qua, ở nhà còn mười mấy cái miệng chờ anh nuôi sống, chưa kể đến đám môn khách. Nhưng có một điều chắc chắn, kiếp này dù thế nào anh cũng sẽ không bao giờ đầu quân cho Thái Kiệt nữa.
Đúng là một kẻ xui xẻo.
Công Tôn Trác Ngọc vẫn không cho rằng kiếp trước mình làm gì sai. Trong triều có vô số tham quan, chẳng qua anh bị lôi ra chỉ vì theo nhầm người mà thôi. Kiếp này nhất định phải tìm một chỗ dựa vững chắc hơn.
Đường đỏ cách đây không xa, mặc dù phải đi một đoạn đường nhưng cũng không mất quá nhiều thời gian. Hơn nữa, đám bộ khoái đều có võ nghệ trong người nên việc lục soát diễn ra nhanh chóng. Khoảng một canh giờ sau, bên ngoài công đường bỗng có người chạy vào thông báo: "Bẩm đại nhân! Chúng tiểu nhân lục soát quanh khu vực đường đỏ, bắt được một thợ săn khả nghi!"
"Ồ——"
Dân chúng nghe vậy liền ồ lên. Thật sự bắt được người sao?!
Mọi người đồng loạt quay đầu nhìn ra, tự giác nhường ra một lối đi. Chỉ thấy hai tên sai dịch áp giải một nam tử lực lưỡng bước vào công đường. Người này râu ria rậm rạp, eo quấn một mảnh da hổ cũ, mặc áo vải thô, lộ ra cánh tay đầy cơ bắp. Hắn vùng vẫy khiến đám sai dịch suýt chút nữa không giữ nổi.
"Đứng yên! Đi nhanh!"
Bộ khoái dẫn người vào công đường, chắp tay bẩm báo với Công Tôn Trác Ngọc: "Bẩm đại nhân, chúng tiểu nhân làm theo lệnh ngài, lục soát quanh khu vực đường đỏ, vô tình phát hiện kẻ này lén lút theo dõi từ xa nên bắt giữ."
Nam tử kia ra sức vùng vẫy, thở hổn hển, lớn tiếng hét lên: "Ta không phạm pháp! Các người dựa vào đâu mà bắt ta! Dựa vào đâu mà bắt ta!"
Công Tôn Trác Ngọc tinh mắt, phát hiện trên cổ hắn có ba vết cào không quá rõ ràng, liền khẽ ngồi thẳng dậy: "Kẻ đứng dưới công đường là ai, báo danh ra."
Nam tử nghe vậy liền ngẩn người, có vẻ bị giọng nói nghiêm nghị của anh làm cho hoảng sợ, cuối cùng cũng ngừng vùng vẫy, miễn cưỡng đáp: "Tiểu nhân là Lưu Nhị Hổ."
Công Tôn Trác Ngọc khẽ nhắm mắt lại: "Ừm, làm nghề gì?"
Lưu Nhị Hổ đáp: "Từ nhỏ cha mẹ đều mất, tiểu nhân sống trong núi săn bắn mưu sinh."
Công Tôn Trác Ngọc mở mắt nhìn hắn: "Có thê thất không?"
Lưu Nhị Hổ lắc đầu: "Bẩm đại nhân, tiểu nhân từ nhỏ nghèo khó, tính tình thô lỗ, lại không có trưởng bối mai mối nên đến giờ vẫn chưa thành thân."
Công Tôn Trác Ngọc mỉm cười, dáng vẻ anh tuấn phong lưu trong bộ quan phục khiến đám nữ tử ngoài công đường không khỏi đỏ mặt thẹn thùng: "Lưu Nhị Hổ, ngươi quay đầu lại nhìn đi."
Lưu Nhị Hổ thoáng ngẩn người, quay đầu lại, chỉ thấy một người nằm trên đất, mặt bị che kín bởi tấm vải trắng. Hắn định mở miệng hỏi, nhưng đột nhiên một cơn gió lạ nổi lên trong công đường, thổi bay tấm vải trắng, để lộ gương mặt của Dư thị.
Thi thể lạnh lẽo tái nhợt, tóc mai tán loạn, mùi tử khí lạnh lẽo không chút tiếng động, nhưng lại như đang âm thầm tố cáo những gì đã xảy ra trên thân thể nàng.
Dưới ánh mặt trời chói chang, có người bị dọa đến toát mồ hôi lạnh.
Chương 169
Ngẩng đầu ba thước, trên có thần minh, nhìn khắp bốn phương, lại không biết gió từ đâu đến. Chỉ thấy tấm vải trắng che thi thể nửa rơi nửa phủ trên người dư phụ, trắng đến chói mắt.
Sắc mặt của Lưu Nhị Hổ lập tức trở nên khó coi rõ rệt. Hắn nhìn chằm chằm vào thi thể của dư phụ, sau đó hoảng hốt thu lại ánh mắt, thân hình loạng choạng, ngã phịch xuống đất, lắp bắp nói: "Đại... đại nhân, vì sao trên công đường lại có thi thể nữ tử?!"
Hắn không biết vừa rồi trên công đường đã xảy ra chuyện gì, cũng không rõ bản thân bị bắt đến đây như thế nào. Nhưng đám dân chúng vây quanh thì đã tận mắt chứng kiến toàn bộ quá trình Công Tôn Trác Ngọc nghiệm thi và suy luận, hàng chục cặp mắt đồng loạt đổ dồn về phía Lưu Nhị Hổ, chờ xem hắn sẽ phản ứng ra sao.
"Công đường có thi thể nữ tử ư? Hừm, chuyện này thì nói ra cũng dài lắm."
Công Tôn Trác Ngọc đổi tư thế ngồi, cuối cùng cảm thấy tựa vào chiếc ghế cứng nhắc thật không thoải mái, liền đứng dậy, hai tay giấu trong tay áo, từng bước đi xuống bậc thang, chậm rãi bước qua lại bên cạnh thi thể của dư phụ: "Đây là một nữ tử đáng thương."
Lưu Nhị Hổ nuốt một ngụm nước bọt, mặt cứng đờ, không dám lên tiếng.
Công Tôn Trác Ngọc cúi người, hỏi: "Nàng họ Dư, khuê danh Tố Vân. Lưu Nhị Hổ, ngươi nhìn đi, nàng có phải rất xinh đẹp không?"
Cơ mặt trên má Lưu Nhị Hổ không kiểm soát được, khẽ co giật, mồ hôi lạnh to như hạt đậu lăn dài trên trán.
Công Tôn Trác Ngọc rất thích kiểu trò mèo vờn chuột này. Anh giống như đang kể một câu chuyện, từng chút một tái hiện lại tình cảnh đêm hôm đó: "Hôm đó, Dư Tố Vân ra chợ mua vải, bị một tên ác thiếu vừa mắt, liền bắt cóc về phủ. Dù may mắn trốn thoát, nhưng vẫn kinh hãi chưa nguôi."
Bên cạnh, Lưu Diệu Tổ vì nghe thấy mình được nhắc tới, khẽ ưỡn thẳng người, nhưng không ngờ bị Công Tôn Trác Ngọc đá cho một cú: "Quỳ xa ra!"
Cướp đoạt dân nữ thì có gì đáng tự hào?
Lưu Diệu Tổ vội vàng quỳ lùi lại, mặt đầy vẻ lấy lòng.
Công Tôn Trác Ngọc phủi nhẹ ống tay áo, tiếp tục nói: "Trời tối đường trơn, Dư Tố Vân vội vàng về nhà, không ngờ lại bị kẻ xấu theo dõi. Tên đó không vợ không con, sống một mình nhiều năm, thèm khát vô cùng, thấy nàng xinh đẹp, liền định giở trò bỉ ổi..."
Anh làm một động tác, mô phỏng lại cảnh tượng phạm tội: "Tên đó bịt miệng nàng từ phía sau, kéo một mạch tới con đường đất đỏ, sau khi c.ưỡng h.iếp xong, liền dùng cung mang theo trên người siết cổ nàng đến chết. Dư Tố Vân ra sức vùng vẫy, cào rách cả cổ hắn..."
Lưu Nhị Hổ cúi đầu xuống, chỉ cảm thấy máu toàn thân đảo ngược, cổ cũng bắt đầu cảm thấy khác thường, bất giác đưa tay lên che lại, nhận ra mình đang hành động lộ liễu, liền buông tay xuống như chạm phải lửa.
Công Tôn Trác Ngọc vén mái tóc rối loạn của Dư Tố Vân, bên trong có một hạt ngọc nhỏ, rõ ràng từng đeo trâm hay đồ trang sức gì đó. Vì bị giật mạnh nên mắc lại trong tóc: "Không chỉ vậy, sau khi giết người, hung thủ còn lấy hết trang sức của nàng. Ngươi nói xem, đúng không, Lưu Nhị Hổ?"
Câu cuối cùng đánh thẳng vào tim gan.
Lưu Nhị Hổ ngẩng phắt đầu lên: "Đại nhân, tiểu nhân không hiểu ngài đang nói gì!"
Công Tôn Trác Ngọc ghét nhất loại phạm nhân này. Bằng chứng rành rành mà còn chối quanh co, vừa chịu khổ vừa tốn thời gian của anh. Đứng lâu cũng hơi mệt, anh bèn ngồi luôn xuống bậc thềm. Dù sao nơi nhỏ bé này anh cũng là người quyết định tất cả, gần đây không nghe tin có quan lớn nào xuống kiểm tra cả.
Công Tôn Trác Ngọc chỉ tay về phía cổ của hắn: "Trên cổ ngươi có vết cào, là từ đâu mà có?"
Lưu Nhị Hổ sống chết không nhận: "Đây là do tiểu nhân tối ngủ đập muỗi, không cẩn thận tự cào mà thành."
Công Tôn Trác Ngọc gật đầu: "Cũng được, nghe cũng hợp lý, dù móng tay ngươi ngắn tới mức không cào rách được da thịt, bổn quan cứ coi như ngươi mới cắt đi."
Bên ngoài, dân chúng nôn nóng hô lớn: "Đại nhân, ngàn vạn lần không thể thả tên hung đồ này!"
Ở đây nhà sát nhà, người liền người, nhà ai mà chẳng có một hai người phụ nữ, mà lại thường xuyên phải lên núi hái nấm, nhặt quả dại. Nếu chuyện này không được giải quyết, Lưu Nhị Hổ mà không bị bắt, sau này ai còn dám lên núi nữa?
Sắc mặt Lưu Nhị Hổ tái xanh: "Ta không giết người! Ta không giết người!"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ, ngươi nói không giết thì là không giết sao? Ngươi nói cũng chẳng có giá trị gì. Ánh mắt anh từ trên xuống dưới quan sát Lưu Nhị Hổ, chỉ thấy hắn bẩn thỉu lôi thôi: "Bổn quan nhìn ngươi to lớn thô kệch, không giống người tỉ mỉ. Hơn nữa cung tên gặp nước sẽ giảm độ bền, dây cung sau khi siết cổ người xong, ngươi chắc hẳn còn chưa kịp lau chùi nhỉ? Ừm... bây giờ tới nhà ngươi, có khi còn tìm thấy sợi dây cung dính máu."
Đầu lĩnh bộ khoái lập tức nhận lệnh: "Đại nhân, ta sẽ dẫn người đi khám xét ngay!"
Công Tôn Trác Ngọc đan hai tay vào nhau, ngón cái khẽ gẩy: "Không vội. Nhớ tìm xem trong nhà hắn có đồ trang sức nữ không. Nếu không có, thì tới tiệm cầm đồ lân cận hỏi thử, ba ngày nay có gã nào ăn mặc như thợ săn tới cầm cố trâm vàng, trâm bạc hay không."
Hung thủ lấy đi trang sức của nạn nhân, hoặc là vì tham của, hoặc là để làm kỷ niệm, thỏa mãn sở thích sưu tầm. Nếu không tìm thấy trâm của Dư Tố Vân ở nhà Lưu Nhị Hổ, thì chỉ có thể là ở tiệm cầm đồ.
Lưu Nhị Hổ sống hơn nửa đời người, chưa bao giờ gặp phải người như vậy. Khi hắn c.ưỡng h.iếp rồi gi.ết ch.ết Dư Tố Vân, rõ ràng xung quanh không một bóng người, vậy mà vị huyện lệnh này lại giống như tận mắt chứng kiến, kể lại toàn bộ quá trình không sai một chi tiết nào. Bộ dạng tươi cười, nhưng lại khiến người ta sợ hãi đến cực điểm.
"Đại nhân! Đại nhân!" Lưu Nhị Hổ bỗng hoảng loạn, dập đầu thình thịch trên đất, khóc lóc cầu xin: "Tiểu nhân là nhất thời ma quỷ ám ảnh mới hại chết nàng ấy, không phải cố ý, không phải cố ý mà!"
Vụ án đến đây đã sáng tỏ. Bên ngoài dân chúng xôn xao, vốn tưởng rằng vụ này do thương gia cấu kết quan huyện, ai ngờ chỉ trong chớp mắt, Công Tôn Trác Ngọc đã lật ngược tình thế, hung thủ thực sự lộ diện.
Trừ thời gian bắt người và lục soát, anh chỉ mất chưa tới nửa canh giờ để suy luận ra hung thủ, thật sự khiến người ta phải kinh ngạc.
Lão thương gia đứng ngoài trầm ngâm, phe phẩy quạt, thấy người bán mì cũng chen vào xem náo nhiệt, bèn hỏi: "Ngươi không phải nói huyện lệnh các ngươi hồ đồ vô dụng sao? Sao hôm nay lại thấy hắn cũng có chút tài trí?"
Người bán mì gãi đầu, cũng không hiểu nổi: "Cái này ta không biết. Ai mà biết hôm nay hắn không ngủ trong nha môn mà lại ra xét xử án chứ."
Đỗ Lăng Xuân mỉm cười, hiếm khi lên tiếng: "Người này đại trí nhược ngu."
[1] Đại trí nhược ngu, đại dũng nhược khiếp" ý chỉ những người tài năng, thông minh nhưng lại thường không bộc lộ sự sắc sảo tinh khôn ra bên ngoài. Người khác nhìn vào tưởng khờ khạo nhưng thực tế họ là người có cái nhìn sâu sắc, hiểu rõ bản chất sự việc.
Lúc này, bên trong đường đường là một cảnh náo loạn. Công Tôn Trác Ngọc xách vạt áo quan, một cước đạp Lưu Nhị Hổ ngã chổng vó: "Người chết rồi mà ngươi còn nói là vô ý? Sớm nhận tội có phải đỡ tốn thời gian của bổn quan không?"
Nói xong, anh bước lên ghế cao, vỗ mạnh vào kinh đường mộc, tiếng vang chấn động công đường:
"Tội phạm Lưu Nhị Hổ, đêm hai mươi sáu c.ưỡng hi.ếp rồi sát hại lương gia nữ tử Dư Tố Vân, cướp đoạt tài sản, chứng cứ xác thực, tội không thể tha, giam vào đại lao, chờ ngày xét xử! Lui đường!"
Lưu Nhị Hổ hoảng sợ đứng lên, còn muốn nói thêm, nhưng bị hai nha dịch dùng côn nước lửa đánh ngã, rồi lôi mạnh ra khỏi công đường.
Lưu Diệu Tổ quỳ dưới đường, thấy vậy trước là thở phào nhẹ nhõm, sau lại nịnh nọt hỏi: "Đại nhân, còn dân đen thì sao?"
"Ngươi?" Công Tôn Trác Ngọc suýt nữa quên mất hắn, liền tháo mũ quan, tiện tay ném cho sư gia, bước đến bên cạnh Lưu Diệu Tổ, cúi xuống, giơ ra một con số, lạnh lùng đe dọa: "Về bảo cha ngươi mang ba ngàn lượng ngân phiếu tới, coi như bồi thường tổn thất tinh thần và giấc ngủ của bổn quan. Bằng không, ngươi cũng sẽ cùng Lưu Nhị Hổ ngồi trong đại lao!"
Lưu Diệu Tổ người đều ngây dại, kinh ngạc thốt lên: "A?! Đại nhân, cái cái cái... cái phí tổn thất tinh thần và phí bồi thường giấc ngủ là vật gì vậy?"
Lưu gia dù có giàu, ngân phiếu cũng không phải gió thổi đến, Công Tôn Trác Ngọc thuộc giống tỳ hưu sao?!
Công Tôn Trác Ngọc: "Điều đó không quan trọng, quan trọng là ba ngàn lượng ngân phiếu!"
Anh nói xong từ dưới đất đứng dậy, được gia nhân hầu hạ rửa tay, chợt thấy bụng đói cồn cào, lúc này mới phát hiện mình cả ngày chưa ăn gì, nói với sư gia: "Bổn quan ra ngoài ăn bát mì, việc còn lại nhờ tiên sinh thu xếp."
Vạn Trọng Sơn đã quen, lần nào không phải là ông thu xếp, sờ sờ bộ râu dê của mình: "Đại nhân cứ đi, nhớ trả tiền, một bát mì thì đừng ghi nợ nữa."
Một tri huyện thất phẩm có bao nhiêu bổng lộc, thêm vào Công Tôn Trác Ngọc thích xa hoa, gia nhân vô số, lại thích đến chốn tiêu tiền uống rượu hoa, nhiều tiền cũng không đủ bù đắp, ghi nợ là chuyện thường tình.
Công Tôn Trác Ngọc phẩy tay ra cửa, không biết có nghe thấy hay không.
Hệ thống đi theo anh: 【Thân ái, vừa rồi có tính là... nhận hối lộ không?】
Công Tôn Trác Ngọc liếc nó một cái, giả ngốc: "Nhận hối lộ? Nhận hối lộ gì? Ta nhận tiền của ai sao?"
Hiện tại thì chưa, nhưng đợi Lưu gia mang tiền đến thì không chắc.
Hệ thống không lên tiếng, chờ lần sau điện anh tiếp.
Công Tôn Trác Ngọc đi ra khỏi cửa phủ nha, đúng lúc thấy Tiền thị đứng bên đường, trong tay cầm vài đồng tiền, cầu xin xa phu qua đường kéo thi thể Dư Tố Vân về quê. Khổ nỗi người ta chê tiền ít xui xẻo, không chịu nhận việc này.
Lão gia nhà giàu chưa đi, thấy vậy lắc đầu thở dài, ra hiệu cho Đỗ Lăng Xuân. Y lập tức hiểu ý, không để lộ dấu vết nhíu mày, từ trong tay áo lấy ra một thỏi bạc bước tới, nhưng còn chưa mở miệng, đã thấy một bóng hình màu xanh xuất hiện trước mắt.
"Lão nhân gia, có khó khăn gì sao?"
Công Tôn Trác Ngọc bước xuống bậc đá, đi đến bên cạnh Tiền thị, giọng trong trẻo, trông có vẻ dễ gần hơn so với trên công đường.
Tiền thị thấy vậy chống gậy, run rẩy quỳ xuống, nghẹn ngào rơi lệ: "Đa tạ đại nhân đòi lại công bằng cho Tố Vân, lão thân dự định mang thi thể nó về quê, sau đó an táng tử tế."
Thi thể Dư Tố Vân ngay bên cạnh, án kết thúc, thì trả lại cho gia đình. Tiền thị cũng không ngại gì, dùng bàn tay già nua sửa lại tóc mai rối bời của nàng: "Đứa trẻ này cha mẹ mất sớm, nhà mẹ đẻ cũng không còn thân nhân gì, người đã chết rồi, hồn tổng phải có chỗ để về."
Công Tôn Trác Ngọc liếc nhìn: "Thì ra là vậy."
Anh nói xong, tiện tay gọi lại nha dịch đang trực ở cửa, giúp người thì giúp đến cùng: "Ngươi gọi hai huynh đệ, giúp vị lão nhân này đưa thi thể con dâu về quê, chăm sóc cẩn thận."
Nha dịch chắp tay nhận lệnh: "Vâng, đại nhân!"
Tiền thị thấy vậy cảm kích không biết làm sao cho phải, cúi đầu rơi lệ: "Đại nhân là thanh thiên đại lão gia, thanh thiên đại lão gia, lão thân về nhà nhất định khắc trường sinh bài vị, thay đại nhân hương hỏa cầu phúc."
Công Tôn Trác Ngọc án đã phá, không kiếm chút danh tiếng thật quá phí, anh đỡ bà Tiền dậy: "Lão nhân gia trung liệt hậu duệ, bổn quan trong lòng khâm phục, huống chi thân là phụ mẫu chi dân, vốn nên bảo hộ bách tính bình an, chẳng qua là việc trong bổn phận, không cần cảm tạ."
Nói xong sai người đưa Tiền thị đi, lúc này mới thẳng người lên, nhưng ánh mắt vô tình thoáng qua, lại phát hiện không xa đứng một nam tử mặc áo tím, âm nhu, không khỏi ngây người tại chỗ.
Không nói rõ tại sao, Công Tôn Trác Ngọc luôn cảm thấy đối phương có chút quen thuộc, dường như đã gặp ở đâu.
Đang định nhớ lại, đối phương đã đi tới, thân hình khoan thai, nói không hết vẻ nhàn nhã thong dong. Giọng nói mềm mại âm lạnh, khiến người ta nhớ đến rắn độc máu lạnh, trên mặt mang cười: "Công Tôn đại nhân, chủ nhân nhà ta muốn mời ngài đi uống chén rượu."
Chương 170
Quan thương cấu kết, quan thương cấu kết, câu nói này không hoàn toàn là lời suông. Ít nhất muốn ở một nơi phát triển lâu dài, không thể thiếu quan hệ nhân mạch. Ở đất Giang Châu này, nhà giàu có thể đếm trên đầu ngón tay đều đã mời Công Tôn Trác Ngọc ăn cơm, tặng lễ, Lưu gia là một ví dụ rất tốt.
Công Tôn Trác Ngọc chỉ cho là nhà giàu nào đến bái sơn đầu, nhưng tai hơi động, cảm thấy giọng nói của nam tử áo tím trước mắt có chút quen thuộc, lại quá âm nhu, giống như đã nghe qua ở đâu.
Anh cố gắng suy nghĩ một lúc, nhưng không biết có phải kiếp trước trước khi chết đập đầu hỏng rồi không, nhất thời không nhớ ra, càng nghĩ đầu càng đau.
Công Tôn Trác Ngọc đành tạm thời để qua một bên, anh quan sát Đỗ Lăng Xuân một lúc, trong lòng bỗng có một cảm giác vi diệu: "Ngươi... tên là gì?"
Đỗ Lăng Xuân sững sờ, anh còn tưởng Công Tôn Trác Ngọc sẽ hỏi "chủ nhân nhà ngươi là ai", nhưng không ngờ đối phương lại hỏi một vấn đề không liên quan như vậy. Nhẹ nhàng nhướn mày, tay giấu trong tay áo động đậy, ý vị không rõ gật đầu cười nói: "Tại hạ họ Đỗ, đơn danh một chữ Lăng."
Công Tôn Trác Ngọc hỏi: "Lăng trong Lan Lăng mỹ tửu úc kim hương sao?"
[1] Trích từ bài Khách Trung Tác của Lí Bạch
Lan Lăng mỹ tửu uất kim hương,
Ngọc uyển thịnh lai hổ phách quang.
Đãn sử chủ nhân năng tuý khách,
Bất tri hà xứ thị tha hương.
Dịch nghĩa
Rượu ngon đất Lan Lăng thơm mùi hoa uất kim,
Đựng trong chén ngọc sáng màu hổ phách.
Nếu như chủ nhân biết làm cho khách say,
Thì còn biết nơi nào là tha hương.
Nguồn thivien.net
Đỗ Lăng Xuân cười không đổi, nhưng ánh mắt tối đi: "Đại nhân chê cười rồi, tại hạ một kẻ nô tài, chưa từng học qua thơ gì, chỉ biết là tả nhĩ Lăng (?)."
Nô tài phần lớn xuất thân bần hàn, không có tiền đi học đường, Công Tôn Trác Ngọc lúc nhỏ đi học cũng rất vất vả.
"Vậy chính là Lăng trong Lang Lăng rồi, tên ngươi rất hay, thật ra ta cũng không biết nhiều chữ," Công Tôn Trác Ngọc không tỏ ra khinh thường, thái độ rất tốt, "chủ nhân nhà ngươi là ai?"
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy nhìn anh một cái, hơi nghiêng người, đối diện với một tửu lâu: "Chủ nhân nhà ta họ Doãn, là thương nhân tơ lụa đến từ kinh thành, ngưỡng mộ danh tiếng của đại nhân, muốn mời một lần."
Công Tôn Trác Ngọc không lên tiếng.
Đỗ Lăng Xuân vừa rồi hành lễ không có chỗ nào chê, nhìn sơ qua đúng là dáng vẻ của nô tài. Chưa đọc qua vài cuốn sách, chứng tỏ lúc nhỏ gia cảnh bần hàn. Nhưng lại ăn mặc hoa quý, khi cúi đầu thần thái thờ ơ, nghĩ rằng ở bên cạnh chủ nhân địa vị trọng yếu, là nhân vật từ tầng đáy trèo lên cao.
Giọng nói âm nhu, thái giám?
Yết hầu không rõ, có thể tịnh thân từ nhỏ.
Nhưng có thể được thái giám thân cận hầu hạ chỉ có vương công quý tộc, thêm y vừa rồi nói chủ nhân y từ kinh thành tới, chẳng lẽ nơi đất hoang Giang Châu này thực sự có đại nhân vật vi hành đến?!
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ đến danh tiếng Giang Châu tam hại của mình, trong lòng thở dài một tiếng, đây không phải chuyện tốt gì. Để chứng thực suy đoán trong lòng, ánh mắt anh không để lộ dấu vết liếc nhìn hạ thân của Đỗ Lăng Xuân, thử xem có nhìn ra manh mối gì không, nhưng rất tiếc, chẳng thấy gì cả.
Công Tôn Trác Ngọc chỉ có thể nói: "Thay ta cảm tạ chủ nhân nhà ngươi, nhưng rượu thịt này thì miễn đi, làm quan cần phải thanh liêm chính trực, không thể tham luyến một chút gì của dân chúng."
Không quan trọng là có phải nhân vật lớn hay không, đây là cách an toàn nhất—
Giả vờ! Làm! Quan! Thanh!
Công Tôn Trác Ngọc nói xong, dường như để chứng minh điều gì đó, trực tiếp đến quán mì bên cạnh gọi một bát mì dương xuân, ngồi đợi dọn lên.
Đỗ Lăng Xuân cả đời này hiếm khi gặp người như Công Tôn Trác Ngọc, dù sao cũng là thanh trọc đối lập, loại quan vì dân mà đấu tranh, căm ghét cái ác như y luôn có chút đáng ghét. Y nhẹ nhàng vuốt tay áo, khẽ mở miệng: "Đại nhân chỉ là một huyện lệnh, lại ăn những món ăn thanh đạm này sao?"
Công Tôn Trác Ngọc tất nhiên không ăn, ở phủ lúc nào cũng là sơn hào hải vị, không có thịt thì ăn cơm không thấy ngon. Nhưng bề ngoài vẫn phải tiếp tục giả vờ: "Thanh trà đạm phạn là đủ rồi, thiên hạ có rất nhiều dân chúng không đủ ăn, Đỗ huynh có muốn cùng ăn không?"
Đỗ Lăng Xuân hơi cúi người: "Tại hạ chỉ là nô tài, nào dám ngồi chung bàn với đại nhân."
Công Tôn Trác Ngọc thì không để ý mấy thứ này, kéo y ngồi xuống bên cạnh: "Không có gì gọi là nô tài không nô tài, người khác cho rằng ngươi là nô tài thì cũng thôi, nhưng bản thân mình không được nghĩ mình là nô tài."
Nói xong liền gọi tiểu nhị thêm một bát mì.
Đỗ Lăng Xuân nghe lời anh nói, không hiểu vì sao, thân hình khựng lại một chút. Một lúc sau mới ngẩng đầu, nhìn anh sâu sắc mà nói: "Lời đại nhân nói mới mẻ thật, nhưng có người sinh ra đã định là nô tài, giống như dân chúng nghe lệnh quan, quan lại nghe lệnh hoàng đế."
Muốn thay đổi vận mệnh, cần phải bằng mọi cách trèo lên cao.
Câu sau y giấu đi không nói.
Công Tôn Trác Ngọc là người hiện đại, chưa bao giờ có suy nghĩ này, anh chỉ có cảm giác ưu việt không thể giải thích được: "Dân chúng nghe lệnh quan, là vì quan phụ mẫu, quan nghe lệnh hoàng đế, là vì thiên hạ đều là con dân của hoàng đế."
Con dân và nô tài vẫn có sự khác biệt rất lớn.
Trong lúc nói chuyện, hai bát mì dương xuân đã được dọn lên. Thực sự thanh đạm đến mức không thể thanh đạm hơn, giống như mì trắng nấu nước lã. Công Tôn Trác Ngọc đẩy một bát đến trước mặt Đỗ Lăng Xuân: "Nào, cùng ăn."
Đỗ Lăng Xuân hiển nhiên là không ăn, dùng khăn lụa nhẹ nhàng lau ngón tay, không động đũa. Công Tôn Trác Ngọc nhìn ngón tay hơi nhấc lên của y, chớp chớp mắt, nghĩ thầm quả nhiên là một thái giám.
Các văn nhân sĩ tử phần lớn đều thanh cao, khinh thường quyền hoạn. Công Tôn Trác Ngọc trước đây cũng không thích, luôn cảm thấy thái giám là sinh vật âm dương quái khí, còn luôn thích ngấm ngầm chơi xấu sau lưng. Nhưng nhớ lại kiếp trước mình chết đi cũng suýt chút nữa làm thái giám, nên không có ý nghĩ đó nữa.
Đỗ Lăng Xuân cuối cùng cũng mở miệng: "Đại nhân cứ từ từ dùng, chủ nhân nhà ta còn đợi ta về báo cáo."
Công Tôn Trác Ngọc: "Không ăn mì nữa sao?"
Đỗ Lăng Xuân cười không rõ ý: "Hôm khác có cơ hội, tại hạ sẽ mời đại nhân."
Nói xong cáo từ rời đi, quay người hướng về tửu lâu đối diện. Tầng hai có một gian phòng bao, bên ngoài có hai tên hộ vệ không lộ sơn không lộ thủy canh giữ, trong bóng tối cũng có người giám sát. Thấy Đỗ Lăng Xuân lên lầu, chắp tay hành lễ: "Tư công."
Đỗ Lăng Xuân nhàn nhạt ừ một tiếng, đẩy cửa vào. Bên trong là vị lão gia thương nhân giàu có, cùng một vị công tử trẻ tuổi.
Lão gia nhìn sau lưng y một cái: "Sao không thấy người?"
Đỗ Lăng Xuân hơi cúi người, bỏ qua đoạn đối thoại về "nô tài", đại khái nói lại tình hình, cuối cùng nói: "Nô tài vô năng, phụ lòng thánh thượng giao phó."
Người trung niên trước mặt chính là hoàng thượng đương triều!
Hoàng đế không lên tiếng, uống một ngụm trà thượng hạng: "Trẫm lần đầu gặp hắn, còn tưởng lại là một kẻ hôn quân vô năng, không ngờ không chỉ phá án nhanh nhạy, còn tâm niệm dân chúng, có thể thấy mọi việc không thể chỉ nhìn bề ngoài. Thôi thì, chuyến đi Giang Châu này cũng không phải uổng công."
Đỗ Lăng Xuân đáp: "Chỉ là bên ngoài vẫn nguy hiểm, bệ hạ nên sớm ngày hồi cung thì hơn."
Hoàng đế nói: "Trẫm chiều nay sẽ khởi hành về kinh, chuyện dư đảng tiền triều giao cho Kinh Luật Tư điều tra, chỉ có thể giết nhầm, không thể bỏ sót."
Nếu hỏi quyền thần Đại Nghiệp có ai, đầu tiên là tể tướng Nghiêm Phục, sau đó là Đề đốc Kinh Luật Tư Đỗ Lăng Xuân. Y vào cung từ nhỏ, khi hoàng đế còn tiềm long đã hầu hạ bên cạnh, sau này cứu giá có công, được thăng quan tiến tước, phong làm Đề đốc chính nhị phẩm Kinh Luật Tư, địa vị cao quý, ân sủng vô hạn.
Một thái giám làm đến mức này, có thể gọi là vô tiền khoáng hậu. Nhưng những người biết rõ nội tình đều hiểu, đây chỉ là lý do bề ngoài.
Nguyên nhân sâu xa hơn, chính là vì Đỗ Tư công có một người tỷ tỷ hoa dung nguyệt mạo, không chỉ được thánh thượng để mắt tới, còn một đường thăng tiến thành quý phi, sinh hạ nhị hoàng tử, tựa như Đát Kỷ chuyển thế, khiến thánh thượng mê mẩn không thôi.
Tiền triều hậu cung, lại bị huynh muội này mỗi người chiếm nửa giang sơn.
Kinh Luật Tư trực thuộc hoàng đế quản lý, theo một nghĩa nào đó chính là tai mắt của thiên tử, không xảy ra chuyện thì thôi, một khi xảy ra chuyện là hàng chục hàng trăm mạng người. Không ai biết trong đó có bao nhiêu oan hồn vô tội, nhưng vì sợ Đỗ Lăng Xuân hành sự tàn nhẫn vô tình, nên đều giận mà không dám nói.
Văn quan chính thống đều khinh thường Đỗ Lăng Xuân, trong lòng âm thầm phỉ nhổ xuất thân thái giám, địa vị thấp kém, nhưng hoàng đế lại sủng tín y vô cùng, những tấu chương tố cáo y đều được hoàng đế nâng lên cao, hạ xuống nhẹ, trách mắng không đau không ngứa vài câu rồi bỏ qua.
Rượu thịt trong phòng bao rốt cuộc cũng không động đến, hoàng đế rất nhanh mang theo một đoàn thị vệ rời đi. Nhị hoàng tử trước khi đi, không biết nghĩ đến điều gì, nhìn Đỗ Lăng Xuân một cái: "Cữu cữu, hôm trước ta thấy phụ hoàng phê tấu chương, văn thần đứng đầu là Nghiêm Phục đều đang buộc tội cữu cữu bài trừ dị kỷ, mưu cầu tư lợi, chúng ta có nên..."
Đỗ Lăng Xuân đứng bên cửa sổ, chậm rãi bước đi, nghe vậy ánh mắt trầm xuống một chút: "Có nhớ hết tên bọn họ không?"
Nhị hoàng tử gật đầu: "Nhớ."
Đỗ Lăng Xuân búng ngón tay lên khung cửa sổ, quả nhiên như lời đồn hẹp hòi, có thù tất báo: "Những lão già đó, không nhảy nhót được mấy ngày đâu, bọn họ đã nói ta bài trừ dị kỷ, không thể mang tiếng xấu này vô ích được."
Nói xong lại nói: "Ngươi ngoan ngoãn theo hoàng thượng về kinh, chuyện triều đình đừng nhúng tay quá xa, tránh bị nghi ngờ, để ta xử lý."
Nhị hoàng tử hiển nhiên rất kính sợ vị cữu cữu này, nghe vậy chắp tay thi lễ, sau đó rời khỏi tửu lâu này.
Công Tôn Trác Ngọc ăn được nửa bát mì, sau đó thật sự không thể ăn nổi nữa, đành phải quay về phủ. Vừa bước vào cổng đã bị quản gia chặn lại: "Đại nhân, ngài cuối cùng cũng về rồi!"
Công Tôn Trác Ngọc thấy ông ta mặt mày lo lắng, như đít bị lửa đốt, liền hỏi: "Sơn tặc trên núi Thanh Phong đánh tới rồi sao? Hốt hoảng thế này, ra thể thống gì."
Quản gia nghĩ bụng, sơn tặc trên núi Thanh Phong cũng không ác liệt bằng đám người đòi nợ kia, tay trái cầm sổ sách, tay phải cầm bàn tính nhỏ, lách cách đưa cho hắn xem: "Đại nhân, ngài tháng trước đi Mãn Nguyệt Lâu uống hoa tửu hơn mười ngày, người ta đến cửa đòi bạc rồi, còn có thương nhân ở phố Đông, nói là làm cho ngài hai bộ áo lụa thượng hạng, còn..."
Công Tôn Trác Ngọc đối với bộ dạng này đã quen lắm rồi, liền cắt ngang: "Bọn họ không phải là muốn tiền sao, đưa cho họ đi, đưa cho họ."
Nói xong liền muốn đi vào trong.
Quản gia thấy vậy liền gật đầu, nhưng lại phản ứng lại không đúng, vội vàng chặn hắn lại: "Đại nhân, bạc không đủ a!"
Công Tôn Trác Ngọc: "Bạc không đủ thì đi lấy ở trong sổ sách."
Quản gia: "Bạc trong sổ sách cũng không đủ a."
Công Tôn Trác Ngọc phản ứng lại, anh mới làm tri huyện hai năm, còn chưa kiếm được nhiều tiền như vậy. Quay lại nhìn quản gia: "Mấy ngày trước không phải còn dư một ngàn lượng sao, bạc đâu rồi?"
Quản gia lắc đầu, đem sổ sách ra tính toán: "Ngựa kéo xe của ngài chết một con, theo ý ngài thay bằng ngựa tốt nhất, còn có gạo, rau, tiền lương cho đám nha hoàn, tạp dịch trong phủ, còn có đám sư phụ của ngài..."
Có chàng trai nào mà không có giấc mơ thiếu hiệp giang hồ, Công Tôn Trác Ngọc nuôi một đám cao thủ giang hồ trong phủ, bái sư học nghệ, nghe vậy liền nói: "Mấy sư phụ của ta thì làm sao?"
Quản gia khép sổ sách lại, mặt mày ủ ê nói: "Bọn họ ăn nhiều quá. Một người một bữa mười cái bánh bao, một ngày ba bữa là ba mươi cái bánh bao, mười mấy sư phụ của ngài, một ngày phải ăn hết bốn trăm năm mươi cái bánh bao, một tháng là mười ba nghìn năm trăm cái bánh bao, giá bột mì đắt đỏ, nào chịu nổi sự tàn phá này!"
Công Tôn Trác Ngọc kinh ngạc, anh biết người luyện võ thể lực tiêu hao nhiều, khẩu vị cũng lớn, nhưng không ngờ lại ăn khỏe như vậy. Anh đây là nuôi một đám sư phụ hay là nuôi một đám thùng cơm?!
Công Tôn Trác Ngọc bỗng nhiên ấm ức: "Ta một bữa cũng chỉ ăn hai cái bánh bao, bọn họ lại ăn mười cái?!!"
Chương 171
Công Tôn Trác Ngọc cuối cùng cũng hiểu vì sao mình kiếm nhiều tiền như vậy mà vẫn không đủ tiêu, hóa ra đều bị đám sư phụ ăn hết. Anh nhìn quản gia, ba lần năm lượt kéo ngọc bội trên eo xuống đưa qua, đau lòng đến mức nhỏ máu: "Mang đi, mang đi, đem đi cầm đồ!"
Quản gia ừ một tiếng, lại không nhịn được nói: "Đại nhân, cứ như vậy không phải là cách, vẫn phải khai thác nguồn thu và tiết kiệm chi tiêu a."
Ý tứ rõ ràng, khuyên anh bớt đi uống hoa tửu vài ngày. Tiệc ở Mãn Nguyệt Lâu giá trị không rẻ, bao nhiêu sơn hào hải vị, mỹ tửu trân lương, một bữa ít nhất cũng mất bảy tám lượng bạc, bổng lộc của một tri huyện nhỏ nào chịu nổi sự hao tổn này.
Công Tôn Trác Ngọc gật đầu: "Ngươi nói có lý, sau này để bọn họ ăn ít đi, một bữa nhiều nhất năm cái bánh bao."
Nói xong phất tay áo bỏ đi, bước nhanh vào hậu viện, để lại quản gia đứng ngơ ngác tại chỗ.
Người nhà trong phủ ngoài đám nha hoàn, chỉ còn lại mỗi lão phu nhân. Bà bị bệnh về mắt, không thể nhìn thấy, ngày thường chỉ ở trong tiểu phật đường ăn chay niệm kinh, không dễ dàng bước ra khỏi phòng. Nhưng hàng năm đều phân phát cháo và áo cho dân nghèo, tiếng lành đồn xa.
Cha của Công Tôn Trác Ngọc mất sớm, thuở nhỏ đều nhờ lão phu nhân nuôi dưỡng. Anh vẫn còn chút hiếu tâm, cách ba ngày lại đến thỉnh an, bầu bạn với bà, nói chuyện phiếm.
"Nương."
Công Tôn Trác Ngọc phất tay cho đám nha hoàn đứng ngoài cửa lui đi, đẩy cửa vào phật đường, quả nhiên thấy lão phu nhân đang niệm kinh trước phật, phía trên còn thờ bài vị tổ tiên nhà Công Tôn. Hương khói vấn vít, trong phòng đầy mùi trầm hương thanh đạm.
Bà nghe tiếng, tay gẩy chuỗi hạt dừng lại, không quay đầu, giọng từ ái: "Hóa ra là Trác Ngọc, sao vậy, mới tỉnh ngủ à?"
Bà được bảo dưỡng kỹ lưỡng, tuy đã gần bốn mươi nhưng nhìn qua chỉ như hơn ba mươi. Quần áo giản dị, trang sức duy nhất chỉ có đôi khuyên tai ngọc trai lâu năm. Khí chất ôn hòa, từ bi.
Công Tôn Trác Ngọc gãi đầu, ngồi xuống đệm bên cạnh bà: "Sớm đã tỉnh rồi, vừa mới xét xử xong một vụ án."
Lão phu nhân không biết tại sao, khẽ thở dài: "Có thay dân chúng rửa oan không?"
Công Tôn Trác Ngọc: "Có a."
Bà gật đầu, lẩm bẩm: "Vậy thì tốt."
Hàng năm bà đều phân phát cháo gạo ra ngoài, tuy mắt mù nhưng tai không điếc, chắc cũng nghe thấy vài điều về danh tiếng của con trai mình. Nhưng là nữ nhân nơi thâm cung, đối với nhiều việc có lòng mà không có lực.
Lão phu nhân nói: "Ngươi là phụ mẫu chi dân của Giang Châu, dân chúng chính là con dân của ngươi, nhất định phải thanh liêm chính trực, đừng bạc đãi họ, phụ lòng kỳ vọng của cha ngươi."
Nhắc đến người cha đã khuất, Công Tôn Trác Ngọc liền có chút phức tạp.
Nói ra không ai tin, vị cha trên danh nghĩa của anh cũng là một quan chức, lúc cao nhất từng làm đến chính tứ phẩm ngự sử, cả đời thanh liêm. Nhưng đáng tiếc đắc tội quá nhiều người, sớm đã cáo lão hồi hương, sau đó chán nản, bệnh chết tại nhà.
Công Tôn lão đại nhân sau khi qua đời, đám tang cũng coi như phong quang, toàn dân trong huyện đưa tiễn, khóc rống rung trời. Nhưng tiếc thay, qua hơn mười năm đã không còn ai nhớ đến ông, hơn nữa nửa đời thanh bạch, không để lại vật gì giá trị.
Công Tôn Trác Ngọc hứng thú giảm sút: "Nương, những lời này ta nghe nhiều đến phát ngán rồi."
Công Tôn phu nhân lắc đầu: "Ngươi ra ngoài đi, trẻ tuổi, đừng cứ ở chỗ ta, ta đã là người một chân vào quan tài rồi, đừng nhiễm phải khí già của ta."
Công Tôn Trác Ngọc đành phải rời đi: "Hài nhi cáo lui."
Thời cổ đại thật sự không dễ chịu, không có game để chơi, không có máy tính để dùng, muốn ăn một cái kem cũng khó khăn, huống chi là bánh ngọt bít tết. Công Tôn Trác Ngọc rời khỏi phật đường, rảnh rỗi quá, chỉ có thể ra tiền viện tìm đám sư phụ chơi.
Triều đình giang hồ vốn là hai thế giới khác nhau, quan lại cũng không liên quan đến du hiệp, nhưng vẫn không ngăn cản được quan lớn nhà giàu chiêu mộ nhân tài, nuôi dưỡng môn khách trong phủ.
Công Tôn Trác Ngọc bái mười mấy sư phụ, nghe có vẻ nhiều, nhưng nghĩ đến Mạnh Thường Quân xưa kia có ba nghìn môn khách, so ra cũng chẳng đáng kể gì.
Anh bước vào tiền viện, từ xa đã nghe thấy tiếng luyện côn ào ào như gió, khí lực dồi dào, bèn gọi lớn: "Đại sư phụ!"
Trong sân có một nam nhân trung niên mặc áo đen, thái dương hơi nhô, thân hình cường tráng, đôi mắt sáng ngời có thần, rõ ràng là cao thủ trong giới. Nghe thấy tiếng gọi này, hắn thu côn lại: "Thì ra là Công Tôn đại nhân."
Công Tôn Trác Ngọc nhận họ làm sư phụ, nhưng họ lại không coi mình là sư phụ, chỉ coi mình là môn khách. Mười mấy người trong giang hồ lấy võ lực xếp hạng, đứng đầu là Thạch Thiên Thu, cũng chính là "đại sư phụ" mà Công Tôn Trác Ngọc vừa gọi.
Thạch Thiên Thu thấy Công Tôn Trác Ngọc đến, bèn hỏi: "Đại nhân có phải muốn luyện kiếm không?"
Thạch Thiên Thu tung hoành giang hồ nhiều năm, giỏi sử dụng trường kiếm, vì kiếm pháp của hắn quỷ dị khó lường, nhanh như chớp, có biệt danh là "Nhất kiếm vô ảnh", trong cùng thế hệ khó có địch thủ.
Theo lý mà nói, người như thế này không nên bị một tiểu tri huyện như Công Tôn Trác Ngọc thu nạp, nhưng khi còn trẻ Thạch Thiên Thu từng nhận ân huệ của Công Tôn lão đại nhân, thêm vào không có chỗ nương thân, nên đành dừng chân ở Giang Châu, tiện thể dạy kiếm thuật cho Công Tôn Trác Ngọc.
Công Tôn Trác Ngọc phẩy tay, tìm một chiếc ghế đá ngồi xuống: "Sư phụ vừa rồi có phải đang luyện công không?"
Thạch Thiên Thu ít nói: "Đúng vậy, người luyện võ chúng ta ngày nào cũng phải hoạt động gân cốt."
Công Tôn Trác Ngọc ngước nhìn hắn, tay chắp sau lưng, mặt đầy chân thành: "Sư phụ vẫn nên luyện ít lại."
Họ mỗi lần luyện công là tốn thể lực, mà tốn thể lực thì phải ăn cơm, mỗi bữa ăn là hàng ngàn hàng trăm cái bánh bao. Công Tôn Trác Ngọc áp lực quá lớn, anh chưa bao giờ cảm thấy gánh nặng trên vai mình lại nặng nề như thế.
Thạch Thiên Thu là người giang hồ, không hiểu mấy điều quanh co này, ngơ ngác: "Đại nhân có ý gì?"
Công Tôn Trác Ngọc thở dài, ngẩng đầu nhìn trời: "Bổn quan cần cù vì dân, liêm khiết vì công, bên cạnh tuy nhiều môn khách nhưng không ai có thể giải được nỗi khổ của ta, thật là một điều tiếc nuối lớn trong đời."
Thạch Thiên Thu định hỏi kỹ, thì bỗng thấy quản gia băng qua hành lang, vội vã chạy đến: "Đại nhân, đại nhân!"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm chẳng lẽ lại hết tiền rồi, ánh mắt cảnh giác nhìn ông ta: "Có chuyện gì?"
Quản gia tìm anh một hồi, mệt đến thở hổn hển: "Đại nhân, ngài làm ta tìm mãi, Lưu viên ngoại gửi bái thiếp, muốn cầu kiến ngài."
Lưu viên ngoại chính là cha của Lưu Diệu Tổ. Lão hồ ly này không giống như con trai lão, không lý do gì mà tự nhiên đến thăm, chắc chắn là vì vụ án hôm nay, đến để tạ ơn, gọi là Tống Tài Đồng Tử.
Công Tôn Trác Ngọc mắt sáng rỡ, lập tức đứng dậy: "Mau mời người vào chính sảnh, thôi, ngươi quá chậm, bổn quan tự đi!"
Nói xong, anh kéo vạt áo, vụt một cái đã không thấy bóng dáng.
Thạch Thiên Thu vẫn đang suy nghĩ lời anh nói, quay đầu nhìn mấy người sư phụ đang luyện công: "Đại nhân nói không ai giải được nỗi khổ của hắn... là có ý gì?"
Một hán tử cường tráng ném chiếc khóa đá nặng như ngàn cân: "Chẳng lẽ Giang Châu có tai họa gì khó giải, khiến đại nhân ưu phiền?"
Lời này vừa nói ra, không ai đáp lời.
Giang Châu có thể có tai họa gì, ngoài sơn tặc ở Thanh Phong Sơn, hổ ở rừng Mật Tử, thì chính là Công Tôn Trác Ngọc.
Trong phủ nếu có khách, đều mời vào chính sảnh dâng trà.
Lưu viên ngoại lại không có tâm trạng thưởng trà, lão đợi mãi không thấy Công Tôn Trác Ngọc, chỉ cảm thấy như ngồi trên đống lửa. Lão đứng dậy đi đi lại lại một lúc, định gọi nha hoàn hỏi thăm, thì thấy một bóng xanh đột ngột hiện ra trước mắt, lập tức như gặp được Phật sống, vui mừng nghênh đón, chắp tay cúi đầu: "Ôi, Công Tôn đại nhân, lâu ngày không gặp, ngài càng thêm thần thái phấn chấn."
Công Tôn Trác Ngọc trước mặt người ngoài vẫn giữ vẻ nghiêm trang, anh khẽ đỡ Lưu viên ngoại dậy, ngồi xuống chủ vị: "Lưu viên ngoại cũng càng thêm khỏe mạnh."
Lưu viên ngoại cười nói: "Lão phu không mời mà đến, đường đột tới thăm, mong đại nhân đừng trách, thật là do khuyển tử hư đốn, gây phiền phức cho ngài, trong lòng không yên."
Công Tôn Trác Ngọc khẽ nhắm mắt: "Ừ, lệnh lang quả thật đã gây không ít phiền toái cho bổn quan."
Lưu viên ngoại nghe vậy mặt biến sắc, lấy tay áo lau mồ hôi trán, sau đó gọi nha hoàn bưng lên một chiếc hộp gấm, bên trong là một cuốn sách cổ triều trước. Chỉ thấy lão hai tay dâng lên Công Tôn Trác Ngọc, hạ giọng: "Nghe danh đại nhân học rộng tài cao, tại hạ mấy ngày trước tìm được một số sách cổ, nghĩ đi nghĩ lại chỉ có đại nhân mới xứng đáng, xin vui lòng nhận cho."
Sách chắc chắn không phải sách bình thường.
Công Tôn Trác Ngọc không đáp lời, giơ tay nhận lấy, điềm nhiên lật giở mấy trang, thấy bên trong kẹp một xấp ngân phiếu, rồi lại khép sách lại. Trên mặt cuối cùng cũng lộ ra nụ cười: "Lưu viên ngoại nói vậy khách sáo rồi, lệnh lang tuy nghịch ngợm, nhưng cũng là tâm hồn thuần khiết, bổn quan sao có thể thật sự so đo với hắn."
Lưu viên ngoại thầm mắng, Công Tôn Trác Ngọc cái tên con đỉa hút máu, thật là kẻ tham tiền! Nhưng vẫn phải cười nói: "Đại nhân yêu dân như con, tại hạ bội phục."
Công Tôn Trác Ngọc vừa định nói gì, thì một quả cầu ánh sáng màu xanh đột nhiên như viên đạn pháo lao ra, piapiapia dùng cánh đập vào đầu y:【Để ta bắt được ngươi, để ta bắt được ngươi, ngươi nhận hối lộ, ngươi nhận hối lộ】
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm đúng là oan hồn không tan, dùng tay áo che lại, nhanh chóng rút xấp ngân phiếu nhét vào người, lẩm bẩm: "Ta trả lại không được sao."
Nói xong anh ném cuốn sách cổ lại vào hộp gấm.
009 bay một vòng quanh anh: 【Ta tuy là một quả cầu, nhưng ta không mù, trả tiền lại, không được nhận hối lộ】
Công Tôn Trác Ngọc kiếp trước đổ đài, tội danh có cả tham ô hối lộ. Huống hồ anh nhận thế này đã không tính là nhận hối lộ, tính là tống tiền.
Công Tôn Trác Ngọc coi như không nghe thấy. Người quen biết đều biết, anh như con tỳ hưu, chỉ vào không ra, tiền đến miệng rồi sao có thể nhả ra được.
Hệ thống: 【Ngươi không trả lại ta sẽ giật ngươi】
Công Tôn Trác Ngọc: "Dựa vào bản lĩnh mà kiếm được tiền, sao phải trả lại."
【Xẹt ——】
Công Tôn Trác Ngọc nghiến răng: "Không trả!"
【Xì xì——】
Công Tôn Trác Ngọc mồ hôi lạnh toát ra: "Chính là không trả!"
【Xì xì xì xì xì xì——!】
Công Tôn Trác Ngọc ngã nhào từ trên ghế xuống: "Ta trả."
Lưu viên ngoại đứng bên cạnh, thấy vậy sợ nhảy dựng lên, vội vàng tiến tới đỡ Công Tôn Trác Ngọc: "Ôi chao, đại nhân, ngài sao vậy, mồ hôi lạnh tuôn ra, có cần gọi đại phu đến xem không?"
Công Tôn Trác Ngọc bị điện giật đến co giật, nhờ vào sự hỗ trợ của Lưu viên ngoại mới miễn cưỡng đứng dậy, sau đó thở hổn hển. Dưới sự đe dọa của hệ thống, anh đành phải rút ra một xấp ngân phiếu từ trong lòng, đập mạnh vào tay Lưu viên ngoại: "Trả lại cho ngươi!"
Đau lòng đến sắp khóc.
Lưu viên ngoại không hiểu đầu đuôi, trên mặt thậm chí hiện ra vài phần hoảng sợ: "Đại... đại nhân, ngài có ý gì vậy?"
Người như Công Tôn Trác Ngọc, đột nhiên không nhận tiền, khiến người khác sợ hãi.
Công Tôn Trác Ngọc phất tay áo không nói, tựa vào ghế để bình tâm lại, một lúc sau mới nói: "Lệnh lang vốn không phải hung thủ, bản quan thay hắn rửa oan cũng là điều nên làm, Lưu viên ngoại mang đồ về nhanh đi, về nhanh đi, về đi."
Công Tôn Trác Ngọc chỉ sợ nhìn thêm ngân phiếu một cái nữa sẽ hối hận, hối đến đấm ngực giậm chân.
Lưu viên ngoại nghĩ rằng hôm nay huyện thái gia này trúng tà gì, như bị ma quỷ ám vào người mà khác thường như vậy. Đưa tiền thì anh không lấy, không đưa lại sợ bị ghi hận. Suy đi tính lại, vẫn không yên tâm.
Vì vậy Công Tôn Trác Ngọc trông thấy Lưu viên ngoại đi rồi lại quay lại, ngập ngừng nói: "Đại nhân, lão phu có một chuyện không biết nên nói hay không."
Công Tôn Trác Ngọc ngay cả mí mắt cũng lười nhấc: "Nói."
Lưu viên ngoại nói: "Tri phủ đại nhân mấy ngày trước có đặt một bàn tiệc lớn ở tửu lâu nhà ta, chỉ định phải có đủ tám món quý, nói có nhân vật quan trọng đến, vạn vạn không được qua loa, lão phu tự mình đoán, sợ là..."
Ông nói, hạ thấp giọng, chỉ chỉ lên trên: "Sợ là có đại quan xuống thị sát."
Tửu lâu lớn nhất ở Giang Châu là của nhà họ Lưu, trong đó tám món quý là món ăn nổi tiếng, nếu muốn chuẩn bị đủ một món, phải chuẩn bị trước mười ngày, rất tốn công sức. Lưu viên ngoại tiết lộ tin tức này, chẳng qua là muốn lấy lòng Công Tôn Trác Ngọc.
Hử? Có đại quan xuống thị sát?
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy theo bản năng ngồi thẳng người, nghĩ rằng kiếp trước không có chuyện này, tri phủ lại không báo trước, chẳng lẽ là muốn một mình ôm lấy đùi?
Sai sót rồi, sai sót rồi, tin tức này lại để Lưu viên ngoại tiết lộ mới biết, chẳng trách kiếp trước mình thăng quan thăng chức khó khăn như vậy.
"Khụ," Công Tôn Trác Ngọc khẽ ho một tiếng, "Tri phủ đại nhân có nói khi nào mở tiệc không?"
Lưu viên ngoại khẽ cúi người: "Ba ngày sau, tại biệt viện của tri phủ."
Công Tôn Trác Ngọc suy nghĩ một lát, lập tức nắm chặt tay của Lưu viên ngoại, mắt đẫm lệ: "Ý tốt của Lưu viên ngoại, bản quan ghi nhớ trong lòng."
Lưu viên ngoại nghĩ rằng chỉ cần ngài không nhớ đến tiền nhà ta là niệm A Di Đà Phật rồi, mặt đầy vẻ cười cười: "Đại nhân nói gì vậy, thời gian không còn sớm, vậy... lão phu xin cáo từ trước?"
Công Tôn Trác Ngọc: "Nào, bản quan tiễn ngươi!"
Anh nắm tay Lưu viên ngoại, trực tiếp tiễn người ra cửa, thể hiện rõ ràng "quan dân một nhà thân thiết", không nhận bất kỳ món quà nào.
Quản gia nghĩ hôm nay thật là kỳ lạ, lắc đầu, chuẩn bị gọi nha hoàn dọn dẹp chén trà, nhưng nghe Công Tôn Trác Ngọc nói: "Mau chuẩn bị một phần lễ hậu, ba ngày sau bản quan muốn đến thăm tri phủ đại nhân!"
Quản gia dừng bước chậm một nhịp: "Lễ... hậu?"
Công Tôn Trác Ngọc nhìn y: "Có vấn đề gì?"
Quản gia do dự: "Đại nhân, kho lương trống rỗng có thể có chuột chạy rồi, không có lễ hậu, lễ mỏng được không?"
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Làm thanh quan chính là khổ như vậy, ngay cả một món quà ra hồn cũng không thể tặng, thế này sau này làm sao ôm đùi được?!
Công Tôn Trác Ngọc đầy tâm sự, anh phất tay, ra hiệu cho quản gia lui xuống. Ngồi xổm ở cửa suy nghĩ một hồi, cuối cùng đứng dậy đi vào thư phòng.
Không có lễ hậu, anh tự mình làm một phần lễ hậu, ai sợ ai chứ.
Đại Nghiệp trọng văn khinh võ, văn nhân sĩ tử địa vị rất cao, qua lại tặng quà, phần lớn là đồ cổ thư họa, như vậy mới thể hiện được nội hàm. Chỉ có Công Tôn Trác Ngọc loại người vừa tục vừa tham mới thích vàng bạc.
Quản gia thấy anh đi vào thư phòng, không khỏi đi theo vào, nhưng thấy Công Tôn Trác Ngọc từ trên kệ sách đầy bụi rút ra một cuộn tranh lớn, sau đó xoạt một tiếng trải rộng trên bàn, nhìn dáng vẻ là muốn viết chữ.
Quản gia: "Đại nhân, ngài muốn luyện chữ, hay là gọi nha hoàn đến mài mực?"
Công Tôn Trác Ngọc sửa lại: "Không phải luyện chữ, là vẽ tranh."
Hiện tại tranh của các danh gia văn nhân rẻ nhất cũng phải vài ngàn lượng một bức, Công Tôn Trác Ngọc không mua nổi, tự mình vẽ vậy.
Chương 172
Công Tôn Trác Ngọc khi xuyên không đến đây, còn là một đứa trẻ sơ sinh. Những thứ người đọc sách thời đại này phải học anh đều đã học qua, cầm kỳ thư họa miễn cưỡng cũng biết, không đến mức tinh thông, nhưng lúc quan trọng lấy ra làm dáng vẫn đủ.
Thư họa trọng ý cảnh, sơn thủy là trên hết, hoa cỏ đứng thứ hai, điểu thú nhân vật thì không đáng kể. Theo Công Tôn Trác Ngọc thấy, phong cách tranh của Đại Nghiệp hiện tại vẫn đang trong giai đoạn phát triển tìm tòi, chưa thể thoát khỏi gông cùm rườm rà.
Anh nằm sấp trên bàn suy nghĩ một lát, kết hợp ưu nhược điểm của những bức tranh nổi tiếng từ xưa đến nay, trong đầu dần có khung cảnh, sau đó mới nghiền tốt màu, bắt đầu vẽ phác thảo.
Công Tôn Trác Ngọc đối với bất kỳ việc gì có lợi cho con đường quan lộ đều rất chú tâm, hai ngày sau đó luôn ở trong thư phòng không ra ngoài. Khi lão quản gia do dự không biết có nên lắp ráp một phần lễ hậu để giữ thể diện cho anh không, Công Tôn Trác Ngọc cuối cùng cũng từ thư phòng đẩy cửa ra.
"Quản gia, tìm một hộp gấm đựng cuộn tranh thư họa."
Anh ôm một cuộn tranh trong lòng, bước chân nhanh như bay về phía phòng ngủ, không biết nhớ ra gì, lại quay lại: "Đúng rồi, chuẩn bị sẵn xe ngựa, sau khi bản quan tắm rửa thay y phục sẽ đi thăm tri phủ đại nhân."
Lão quản gia đã quen với tính cách lăng xăng của anh, liên tục đáp ứng, lập tức sắp xếp nha hoàn hầu hạ anh tắm rửa.
Công Tôn Trác Ngọc đối với chất lượng cuộc sống yêu cầu rất cao, ăn mặc ở đi lại đều tinh tế, ngay cả thường phục cũng là lụa thượng hạng. Tắm xong, nha hoàn bưng đến một chiếc áo dài màu lam bảo, ai ngờ Công Tôn Trác Ngọc chỉ nhìn thoáng qua liền bảo đổi: "Đổi bộ rẻ tiền hơn."
Hoa lệ lòe loẹt, vừa nhìn đã biết giống một kẻ tham quan.
Tiểu tỳ nghe vậy không hiểu, dùng tay áo che miệng cười: "Đại nhân, nếu là đi bái phỏng tri phủ đại nhân, cớ sao không mặc cho thể diện, mà lại chọn áo quần tầm thường như vậy?"
Công Tôn Trác Ngọc trong lòng nghĩ, lão đầu tri phủ kia thì có gì đáng để bái phỏng, mục tiêu của anh là vị đại quan từ trên triều đình xuống thị sát. Trước khi chưa thăm dò được tính tình của đối phương, dĩ nhiên vẫn nên khiêm nhường một chút. Nhưng ngoài miệng lại nói: "Con gái con đứa lắm chuyện thật đấy, mau đi tìm y phục, chậm trễ giờ là ta trừ tháng lương của ngươi."
Công Tôn Trác Ngọc vốn không hay trách phạt hạ nhân, nhưng tháng lương thì đúng là nói cắt là cắt. Tiểu tỳ không dám nói thêm, vội vàng lấy ra một bộ trường bào tay rộng màu nguyệt bạch, là y phục cũ của năm ngoái, trông khá giản dị thanh tao.
Nàng vừa giúp Công Tôn Trác Ngọc mặc vào, vừa thốt lên: "Đại nhân mặc bộ y phục này, quả thực phong lưu tiêu sái."
Công Tôn Trác Ngọc có một dung mạo đoan chính thanh nhã, lúc nhắm mắt không nói, chính là một vị thanh quan không nhiễm tục thế. Nhưng đôi mắt anh lại quá đa tình, đồng tử đen láy linh hoạt, khi cười mang theo một loại phong lưu vô tội, khiến người khác cảm giác anh trơn tuột khó nắm bắt.
Cũng không rõ giống ai mà ra như thế.
Xe ngựa cứ thế thong thả lăn bánh, cuối cùng đến biệt viện của tri phủ trước khi mặt trời lặn. Công Tôn Trác Ngọc vốn cho rằng lần này chỉ có mình anh đến, nào ngờ vừa nhảy xuống xe ngựa đã thấy ba cỗ xe khác đậu bên cạnh, rõ ràng là của các quan viên thuộc các huyện lân cận.
Thấy vậy, lòng Công Tôn Trác Ngọc không khỏi động đậy, định xem xét kỹ hơn thì lại thấy một cỗ xe có mui xanh từ xa đi tới. Từ trên xe bước xuống một viên quan mặc áo lục bào, tuổi chừng hai mươi, sắc mặt nhợt nhạt, bước chân lảo đảo, rõ ràng là do rượu chè làm hao tổn sức lực. Hóa ra là huyện lệnh huyện Càn, Trương Cát Cát.
Trương Cát Cát và Công Tôn Trác Ngọc năm xưa cùng là đồng môn khoa cử, có chút tình nghĩa bạn học, lại thêm tính tình hợp nhau, vì thế xem như thân quen. Hắn vừa thấy Công Tôn Trác Ngọc, lập tức cười hớn hở bước tới: "Công Tôn huynh, đã lâu không gặp, dạo này khỏe chứ?"
Công Tôn Trác Ngọc lười xã giao những lời hoa mỹ, liền kéo hắn lại gần, hạ giọng hỏi: "Ngươi tới biệt viện tri phủ làm gì?"
Trương Cát Cát sững người: "Quan viên từ kinh thành tới, phụ trách điều tra loạn đảng tiền triều, hoàng thượng có chỉ, quan viên các nơi phải nghe theo điều động. Vị đại nhân ấy vừa đến Giang Châu, tri phủ đại nhân mở yến tiệc khoản đãi, lệnh chúng ta cùng đến. Công Tôn huynh không nhận được thiệp mời sao?"
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Sao lại có cảm giác mình bị gạt ra ngoài, chốn quan trường quả nhiên hiểm ác.
Công Tôn Trác Ngọc đằng hắng một tiếng: "Đương nhiên... đương nhiên là nhận được rồi."
Lúc này anh mới chậm nửa nhịp nhớ lại, quản gia mấy ngày trước hình như có đưa thiếp mời, chỉ là khi đó anh còn chưa tỉnh ngủ, tiện tay vứt vào góc, giờ không biết đã phủ bụi ở xó nào.
Trương Cát Cát như vừa phát hiện điều gì, đột nhiên kêu lên một tiếng: "Công Tôn huynh, tình cảnh quan trọng thế này, cớ sao không mặc quan phục?"
Công Tôn Trác Ngọc vung vẩy tay áo, bạch y ngọc đái, mang phong thái quân tử tùng trúc, nghe vậy liếc nhìn Trương Cát Cát: "Ngươi không cảm thấy mặc quan phục giống hệt con rùa xanh sao? Ai mặc người ấy ngốc, ai ngốc người ấy mặc."
Nói xong anh thu lại ánh nhìn, theo tiểu tỳ dẫn vào trong phủ.
Trương Cát Cát ở phía sau hít một hơi chửi mẹ, nhưng nghĩ lại, vội vàng đuổi theo.
Giang Châu quản hạt tổng cộng sáu huyện, nhưng khi Công Tôn Trác Ngọc bước vào ngồi vào chỗ, phát hiện ngoại trừ tri phủ đại nhân, vẫn còn thiếu một người chưa tới. Anh nghiêng người hỏi Trương Cát Cát: "Bạch Tùng Hạc sao không đến?"
"Hắn à?" Trương Cát Cát giọng điệu vi diệu:
"Ngươi chẳng phải biết rồi sao, lão già đó xưa nay tự phụ phong cốt, những yến tiệc nịnh nọt như thế này chưa từng tới, nhất là lần này còn chiêu đãi một nhân vật như vậy..."
Công Tôn Trác Ngọc sớm đã muốn hỏi: "Là chiêu đãi ai?"
Trương Cát Cát nhắc tới cái tên ấy, như thể mang theo sợ hãi, hạ giọng từng chữ: "Đô đốc Kinh Luật Tư, Đỗ Lăng Xuân."
Giang Châu chỉ là một nơi nhỏ, cách hoàng cung xa vời vợi, chẳng thể sánh với kinh thành về mặt thông tin. Công Tôn Trác Ngọc lờ mờ từng nghe qua cái tên này, chỉ biết đối phương là cận thần của thiên tử, quyền thế ngút trời, nếu là trước kia thì tương đương với những kẻ như Uông Trực, Ngụy Trung Hiền: "Là quyền thần?"
Trương Cát Cát nghiêm túc bổ sung: "Cũng là sủng thần."
Công Tôn Trác Ngọc bỗng hóa thành một quả chanh lớn: "Nhân sinh như thế, còn gì mà cầu."
Trương Cát Cát uống trộm vài chén rượu, không khỏi hơi say, nghe vậy cười hê hê, nói năng không kiêng kỵ: "Quyền thế ngút trời thì có ích gì, cũng chỉ là một thái giám không gốc không rễ."
Hắn từ nhỏ mê mỹ nhân, vàng bạc chỉ là thứ yếu, cảm thấy Đỗ Lăng Xuân mỗi ngày nhìn bao nhiêu giai nhân tuyệt sắc, nhưng hữu tâm vô lực, có thêm vàng bạc cũng vô dụng.
Câu này không biết đã chạm phải chỗ đau nào của Công Tôn Trác Ngọc, khiến anh ngồi thẳng hơn đôi chút, thầm nghĩ thái giám thì sao, thái giám cản trở gì ngươi rồi: "Nhà nghèo khó nhiều khi túng thiếu áo cơm, nếu không phải đường cùng, một người đàn ông tốt lành nào lại muốn vào cung tịnh thân, cớ gì..."
Anh ngừng một chút rồi nói: "Cớ gì buông lời mỉa mai, hạ thấp người ta như thế."
Trương Cát Cát nghĩ Công Tôn Trác Ngọc từ khi nào trở nên chính nghĩa đường hoàng như vậy, vừa định lên tiếng thì đột nhiên nghe bên ngoài truyền tới tiếng thông báo ồn ào: "Đỗ đại nhân và tri phủ đại nhân đến!"
Mọi người lập tức chỉnh trang y phục, đứng dậy nghênh đón. Chỉ thấy một nam tử mặt mày âm nhu, búi tóc cài ngọc quan, khoác y bào đỏ thẫm, tay chắp sau lưng, chậm rãi bước vào yến phòng. Tri phủ đại nhân thì khom lưng khúm núm, cúi thấp nửa người, bám theo phía sau.
Công Tôn Trác Ngọc không giống người khác cúi lưng quá mức, nhân lúc ngẩng đầu liếc nhìn một cái, thầm nghĩ nam tử áo đỏ thẫm kia hẳn là vị Đỗ tư công quyền thế ngập trời trong truyền thuyết. Ánh mắt anh từ dưới lên trên từ từ quét qua, đến khi thấy rõ dung mạo đối phương thì sững người trong giây lát...
Là y?!
Trí nhớ của Công Tôn Trác Ngọc vẫn chưa đến mức tệ như vậy, dù sao ở Giang Châu, thái giám quyền thế này với anh mà nói, vẫn không xa lạ.
Tri phủ ân cần nói: "Đại nhân, xin mời ngồi vào ghế chủ tọa."
Đỗ Lăng Xuân phất tay áo choàng, ung dung ngồi vào vị trí chủ vị. Chúng quan viên phía dưới đồng loạt hành lễ: "Hạ quan bái kiến Đỗ đại nhân, bái kiến tri phủ đại nhân."
Đỗ Lăng Xuân cất giọng lười nhác: "Đứng dậy đi."
Chúng quan viên lúc này mới dám an tọa.
Công Tôn Trác Ngọc ngồi phía dưới, trong đầu nhanh chóng hồi tưởng lại những sự việc mấy ngày gần đây. Không còn nghi ngờ gì nữa, Đỗ Lăng Xuân nói y tên là Đỗ Lăng, chắc chắn chỉ là giả danh. Về phần câu nói "chủ nhân của ta muốn mời ngươi một chén rượu", thì lại càng đáng suy ngẫm hơn.
Một nhân vật như Đỗ Lăng Xuân, triều thần thì sợ hãi, hoàng tử lại ra sức lôi kéo, người như thế có thể gọi ai là chủ nhân? Lẽ nào là hoàng đế?
Hừm...
Công Tôn Trác Ngọc không kìm được mà hít một hơi lạnh, vừa kinh ngạc trước phát hiện của bản thân, vừa hối hận đến nỗi ruột gan như bị xoắn lại. Nếu sớm biết đó là hoàng đế, thì có bay cũng phải bay tới gặp một lần, bợ đỡ tâng bốc vài câu, chẳng lẽ còn sợ không có chức quan? Ăn làm gì bát mì dở hơi kia!
Đúng lúc anh đang âm thầm tự trách mình, vị Đỗ Tư Công trên ghế chủ tọa bỗng nhiên mở miệng: "Quan viên Giang Châu đều đã có mặt ở đây chứ?"
Tri phủ đại nhân vội vàng đứng dậy trả lời: "Hồi bẩm đại nhân, quan viên sáu huyện Giang Châu, trừ huyện lệnh huyện Ninh là Bạch Tùng Hạc chưa đến, còn lại đều đã có mặt."
Đỗ Lăng Xuân vốn có nước da trắng, nay khoác thêm bộ hồng y lại càng làm y thêm phần tuyết trắng như băng ngọc. Nghe vậy, y khẽ cười nhạt, sắc mặt lộ rõ vẻ bất mãn, giọng điệu thoáng chút châm biếm, hỏi lại: "Cớ sao không tới? Chẳng lẽ bản Tư Công không đáng để hắn bái kiến?"
Tri phủ vốn chẳng phải hạng người tử tế, xưa nay thích ném đá xuống giếng. Nhưng vào ngày trọng đại thế này, nếu làm phật ý Đỗ Lăng Xuân, thì người chịu xui xẻo chính là họ, thế nên hắn vội vàng chữa cháy đôi chút: "Hồi... hồi bẩm đại nhân, Bạch Tùng Hạc tuổi cao sức yếu, thân thể xưa nay không được khỏe, vì vậy cáo bệnh không thể đến, kính mong đại nhân lượng thứ."
Ai cũng biết, lấy cớ cáo bệnh không tới rõ ràng chỉ là thoái thác. Thực tế, Bạch Tùng Hạc đã trả lại thiệp mời của tri phủ, đóng cửa không tiếp, thậm chí còn lớn tiếng chế giễu tri phủ, bảo rằng kết bè kết đảng, nịnh nọt quyền thế. Tri phủ tức giận đến mức giậm chân tại chỗ.
Đỗ Lăng Xuân nào có nghe không hiểu, y cầm chiếc chén vàng trong tay, chậm rãi lên tiếng: "Nếu đã tuổi cao sức yếu, làm sao quản lý được phong thổ của một huyện? Làm sao chăm lo được cho bách tính dưới quyền? Sao không sớm cáo lão hồi hương, nhường lại vị trí cho người tài?"
Nói xong, y mỉm cười nhìn tri phủ: "Tri phủ đại nhân nghĩ sao?"
Tri phủ liên tục phụ họa: "Bạch Tùng Hạc tuổi cao sức yếu, mắt mờ tai lãng, quả thực khó đảm đương trọng trách."
Chỉ một câu đã định đoạt con đường lui của Bạch Tùng Hạc.
Trương Cát Cát ngồi bên dưới, âm thầm tặc lưỡi: "Vị Đỗ Tư Công này quả nhiên thủ đoạn mạnh mẽ, thật đúng như lời đồn."
Công Tôn Trác Ngọc trong lòng bực bội, nghĩ bụng sao Trương Cát Cát không biết giữ miệng, bèn liếc nhìn hắn một cái: "Tường có tai, cẩn thận lời nói."
Nói xấu cũng đừng lộ liễu như vậy, về nhà nằm trên giường rồi nói cũng không muộn. Lỡ bị nghe thấy thì làm sao bây giờ?
Yến tiệc bắt đầu, tri phủ hiển nhiên đã bỏ ra không ít tâm tư. Trên bàn tiệc, tiếng đàn sáo vang lên không dứt, vũ nữ múa lượn, thậm chí còn mời đến bốn vị hoa khôi lừng danh của Mãn Nguyệt Lâu, nơi mà người ta nói có ngàn vàng cũng khó thấy mặt. Công Tôn Trác Ngọc trong lòng hô lên một tiếng, cảm thán bản thân thật có lời.
Rượu quá ba tuần, tri phủ – một kẻ lão luyện – bắt đầu dâng lễ: "Đại nhân từ xa tới, hạ quan có chút lễ mọn, không dám nhận là gì, chỉ mong đại nhân không chê cười."
Nói xong, hắn vung tay, ra lệnh cho người mang lên một chậu cây được che phủ bởi một tấm lụa. Sau đó, dưới ánh mắt tò mò của mọi người, tấm lụa được từ từ kéo ra, hóa ra là một cây thông vàng, khắp cây treo đầy trân châu ngọc bích.
Công Tôn Trác Ngọc âm thầm nghiến răng, trong lòng hóa thành quả chanh lớn: "Tên tri phủ già này cũng quá tham lam rồi, lại dùng vàng để đúc cây cảnh!"
Trương Cát Cát cũng không khỏi cảm thán than thở: "Ta vốn dĩ vẫn cho rằng Công Tôn huynh đã là nhân trung chi long, không ngờ rằng Tri phủ đại nhân còn cao minh hơn một bậc. Khó trách người ta ngồi ở chức Tri phủ, còn chúng ta chỉ là một vị tri huyện nho nhỏ. Quả thực tiền phải tiêu đúng chỗ, hôm nay mới lĩnh ngộ được, thật là đáng chết."
Công Tôn Trác Ngọc liếc mắt nhìn hắn: "Ngươi đã tặng lễ gì?"
Trương Cát Cát khiêm tốn cười: "Không có gì đáng kể, chỉ dùng bạch ngọc thượng hạng khắc một chiếc ấn hình hạc tiên, lớn cỡ lòng bàn tay mà thôi."
Công Tôn Trác Ngọc: "Vậy thì ngươi quả thực đáng chết."
Trương Cát Cát: "......"
Quan viên Giang Châu đều là kẻ khôn ngoan, lễ vật đem tặng cái nào cũng thực tế. Người này tặng cây tùng bằng vàng, người kia tặng linh chi, thậm chí có người tặng cả một tượng Phật làm từ phỉ thúy. Lễ vật sơ sài nhất chính là của Trương Cát Cát, nhưng chiếc ấn hạc tiên bằng ngọc ấy lại tinh xảo đến mức khó tin, từng đường nét sống động như thật, hai mắt còn được khảm hai viên huyết ngọc hiếm có.
Những hành động như thế của mọi người lại khiến Công Tôn Trác Ngọc trông chẳng ra dáng người thông minh chút nào. Anh ngồi ở hàng ghế cuối, thầm nghĩ rằng lễ vật đem tặng mà không đúng ý người, chi bằng không tặng còn hơn. Một bức họa thì cũng quá đỗi tầm thường, đợi khi yến tiệc kết thúc hãy nghĩ cách bổ sung thêm một phần khác vậy. Vì thế, anh ngồi lặng lẽ uống rượu, cố gắng giảm bớt sự hiện diện của mình.
Từ xưa đến nay, tham quan ô lại đều yêu thích vàng bạc châu báu, Đỗ Lăng Xuân cũng không ngoại lệ. Thứ tiền tài này, chẳng ai chê là nhiều. Nhưng trong số những người có mặt, lễ vật lần lượt được dâng lên, duy chỉ có vị quan bạch y ngồi dưới kia là không chút động tĩnh, thật khiến người ta cảm thấy kỳ lạ.
"Công Tôn đại nhân," Đỗ Lăng Xuân vậy mà vẫn còn nhớ đến anh, chống tay lên đầu, giọng nói nhỏ nhẹ uyển chuyển, mang theo chút thú vị hỏi: "Ngươi có chuẩn bị món quà đặc sản nào của Giang Châu để dâng tặng bổn Tư công không?"
Hỏng bét rồi!
Yết hầu của Công Tôn Trác Ngọc hơi động, trong đầu chỉ có hai chữ rõ ràng như thế.
Trương Cát Cát phát giác không ổn, âm thầm ghé lại gần, thấp giọng hỏi: "Ngươi đã chuẩn bị lễ gì?"
Công Tôn Trác Ngọc nhìn hắn liền thấy bực: "Chuẩn bị cái rắm ấy!"
Trương Cát Cát nghĩ thầm Công Tôn Trác Ngọc vốn là người thông minh, sao lần này lại làm việc hồ đồ đến vậy. Suy nghĩ chốc lát, hắn lập tức tháo chiếc ngọc bội bằng phỉ thúy chất lượng thượng hạng bên hông xuống đưa cho anh: "Nếu thật sự không ổn, hãy dùng miếng cổ ngọc này của ta để thay thế trước, đợi sau đó ngươi đưa tiền trả lại cho ta là được."
Câu cuối mới là điểm chính.
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ bụng trả cái rắm ấy, anh có bán cả nhà đi cũng không đủ tiền trả miếng ngọc này. Đâm lao thì phải theo lao, dứt khoát đứng dậy từ chỗ ngồi, đối diện với Đỗ Lăng Xuân, chắp tay cung kính nói: "Hạ quan nhà nghèo, lễ vật mọn mằn, e rằng khiến đại nhân chê cười."
Đỗ Lăng Xuân nghĩ thầm, đã đoán được rồi. Dẫu sao nghèo đến mức chỉ có thể ăn mì sợi thì còn có gì để dâng. Nhưng trong lòng y hiếm hoi lắm lại không hề tức giận, thái độ đối với Công Tôn Trác Ngọc khá ôn hòa: "Không sao, vàng bạc châu báu thấy nhiều cũng không có gì mới lạ, mau dâng lên đây xem."
Tri phủ cùng những người khác như bị trúng một cú đánh chí mạng: "......"
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy đành phải làm theo, vòng qua bàn bước ra, ra hiệu cho Thạch Thiên Thu – người đang đóng vai hộ vệ phía sau anh – mang bức tranh cuộn đến.
Bức tranh cuộn này rất dài, gần như chiếm phân nửa sảnh tiệc. Chúng nhân chỉ thấy cuộn tranh từ từ mở ra, sóng nước mênh mông của sông núi hiện ra đầu tiên trước mắt, mang khí thế "Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai". Tiếp đến là những tầng núi trùng điệp, nhấp nhô nối tiếp, cao vút tận mây. Giữa đó là tùng xanh vờn khói, thủy tạ đình đài, đường núi ngoằn ngoèo dẫn đến thôn trang, trên sông có lão ngư phủ áo tơi ngồi thuyền nhỏ câu cá, vài nét chấm phá mà ý vị vô tận. Một vầng hồng nhật điểm xuyết trên đỉnh núi, từ từ mọc lên, thắp sáng cả bức tranh thủy mặc sơn thủy.
"Thật khí thế!" Có người không kìm được mà cảm thán thành lời.
Đối với văn nhân nhã sĩ, bức họa này quả thực là tuyệt phẩm, nhưng với những tham quan ô lại thì chưa chắc. Dù sao Công Tôn Trác Ngọc cũng không phải danh gia lừng lẫy, chưa chắc đã có người thưởng thức được, chẳng hạn như Trương Cát Cát, đứng bên cạnh xem mà đầu óc rối như canh hẹ.
Công Tôn Trác Ngọc đứng bên bức họa, áo trắng phong nhã, nói: "Tại hạ thân không trường vật, chỉ có chút tài họa may mắn được vào mắt, bèn vẽ bức Sơn Xuyên Nhật Nguyệt Đồ này tặng Tư công, để hiển bày phong thổ Giang Châu."
Đỗ Lăng Xuân yên lặng thưởng thức bức tranh, còn chưa kịp mở miệng thì tri phủ đã không hài lòng vì Công Tôn Trác Ngọc đoạt mất sự chú ý, liền cất tiếng hỏi: "Đã gọi là Sơn Xuyên Nhật Nguyệt Đồ, vì cớ gì chỉ thấy nhật mà chẳng thấy nguyệt?"
Đỗ Lăng Xuân cũng nhìn sang.
Công Tôn Trác Ngọc khẽ mỉm cười, đáp: "Nguyệt tự nhiên có, chỉ là phải đến khi có đêm tối mới nhìn thấy được, xin đại nhân hãy cho dập tắt đèn nến trong sảnh."
Những người có mặt ở đây đều là chốn quan trường, hơn nữa còn có một vị Đề đốc chính nhị phẩm. Một buổi tiệc như thế này rất dễ để kẻ gian trà trộn vào, nếu dập tắt đèn, rơi vào cảnh tối đen như mực, há chẳng phải đại loạn?!
Tri phủ theo bản năng định quát: "Công Tôn Trác Ngọc, ngươi..."
"Không sao," Đỗ Lăng Xuân giơ tay, cắt lời ông ta, "Làm theo lời hắn nói đi."
Đỗ Lăng Xuân nói một câu rõ ràng có sức nặng hơn tri phủ không chỉ một bậc. Lập tức có hộ vệ dập tắt toàn bộ đèn trong sảnh, sảnh đường thoắt chốc chìm vào bóng tối mờ mịt. Mọi người bắt đầu rì rầm bàn tán: "Công Tôn Trác Ngọc định giở trò quỷ gì đây?"
"Thật là nực cười."
"Nếu xảy ra chuyện, hắn có mấy mạng mà đền nổi!"
Công Tôn Trác Ngọc không để ý, xoay người nhường chỗ, từ từ mở bức tranh ra. Nhưng ngay lúc ấy, điều thần kỳ xảy ra. Chỉ thấy trên bức họa dài dằng dặc bỗng lóe lên vài tia sáng xanh nhỏ bé, đan thành những đường nét chằng chịt, hội tụ thành hình sông núi. Nơi vốn dĩ là hồng nhật giờ đây lại là một vầng trăng lưỡi liềm, phát ra ánh sáng xanh nhạt, lơ lửng trên mây, soi sáng sông núi, khiến các dãy núi phản chiếu ánh sáng lấp lánh.
"Ồ——"
Xung quanh lập tức xôn xao, rồi nhanh chóng rơi vào tĩnh lặng vi diệu. Chúng nhân không tự chủ được mà nín thở, ánh mắt dán chặt vào bức họa tuyệt mỹ ấy, không sao dời đi nổi.
Đỗ Lăng Xuân cũng cảm thấy kinh ngạc. Y lập tức rời khỏi vị trí trên cao, bước xuống dưới cẩn thận quan sát bức tranh, một lát sau mới thu hồi ánh mắt đầy ẩn ý, quay đầu nhìn Công Tôn Trác Ngọc, chỉ thốt ra hai chữ: "Rất tuyệt!"
Công Tôn Trác Ngọc mỉm cười: "Tư công quá khen."
Thị nữ thắp lại đèn, sảnh đường sáng bừng như cũ. Chúng nhân vẫn còn lưu luyến, khe khẽ tán thưởng rằng bức họa này thật tuyệt diệu.
Ngay cả Trương Cát Cát cũng sững sờ: "Ngươi làm thế nào mà được vậy?"
Công Tôn Trác Ngọc ngồi xuống, liếc hắn một cái, làm ra vẻ cao thâm: "Bí thuật giang hồ, không thể nói."
Thực ra cũng chẳng phải bí thuật gì, chỉ là nhà Công Tôn Trác Ngọc ngẫu nhiên có vài khối dạ quang thạch, anh sai người nghiền thành bột, trộn vào màu vẽ, đến khi trời tối tự nhiên sẽ tạo nên kỳ cảnh như vậy.
Đỗ Lăng Xuân vốn cho rằng Công Tôn Trác Ngọc thanh bần, chẳng tặng được thứ gì quý giá. Ai ngờ đối phương lại dâng lên một bức họa tuyệt mỹ như thế. Y nhìn nét bút ký tên dưới góc tranh, thấy rõ bốn chữ "Công Tôn Trác Ngọc", liền tán thưởng: "Không ngờ Công Tôn đại nhân chẳng những xử án như thần, mà ngay cả thư họa cũng là một tuyệt kỹ. Triều ta có được nhân tài như vậy, thật là đại hạnh."
Đồng thời, một ý nghĩ lóe lên trong đầu y, sinh ra ý muốn lôi kéo.
Hiện nay, thế lực trong triều chia làm hai phe lớn: một phe do Tể tướng Nghiêm Phục đứng đầu, một phe do Đỗ Lăng Xuân dẫn đầu. Chỉ tiếc rằng giới văn nhân sĩ tử tự cho mình thanh liêm chính trực, đều quy phục Nghiêm Phục. Đỗ Lăng Xuân tuy quyền cao chức trọng, nhỉnh hơn một chút, nhưng dưới tay phần lớn lại là những kẻ vô tích sự, người thực sự dùng được chẳng có bao nhiêu.
Lấy được sự yêu thích của thượng cấp = có cơ hội thăng quan tiến chức!!
Công Tôn Trác Ngọc không ngờ bản thân lại may mắn đến vậy, mèo mù vớ cá rán, thế mà lại chọn đúng món quà: "Tư công thích là được."
Lúc này, dù là kẻ ngốc cũng nhìn ra được Đỗ Lăng Xuân đã đối đãi với Công Tôn Trác Ngọc bằng con mắt khác, khiến chúng nhân không khỏi sinh ra cảm giác "bồi thái tử đọc sách", mất công một chuyến. Không khí xung quanh âm thầm ngập tràn mùi vị chua xót. Chỉ có Trương Cát Cát là nháy mắt ra hiệu, bảo Công Tôn Trác Ngọc hãy nhớ chiếu cố hắn nhiều hơn.
Ba tuần rượu qua đi, yến tiệc cũng đến lúc tàn.
Dịch trạm ở Giang Châu chuyên dành cho quan viên cư trú khó tránh khỏi có phần sơ sài. Tri phủ vì lấy lòng Đỗ Lăng Xuân nên đặc biệt đem tòa biệt viện này dâng lên, coi như chỗ ở tạm cho y: "Đại nhân truy tra dư đảng loạn tặc, không khỏi vất vả, lo dịch trạm chiêu đãi không chu toàn, hạ quan kính xin đại nhân lưu lại nơi này."
Đỗ Lăng Xuân tuy xuất thân hoạn quan, nhưng hiện đã thân cư cao vị, ăn ở đi lại đều là mức vạn kim. Tòa biệt viện này, trong mắt người ngoài là phồn hoa, nhưng với y chỉ là tầm thường, song Giang Châu cũng không có chỗ nào tốt hơn, đành miễn cưỡng đáp ứng: "Cũng chỉ có thể như vậy."
Y không phải không nhìn ra ý đồ nịnh nọt của tri phủ, nhưng chỉ là một tiểu quan hèn mọn, chỉ bằng chút vàng bạc châu báu đã muốn quy phục dưới trướng y, chẳng phải quá dễ dàng sao.
Tri phủ thấy y đồng ý, không khỏi mừng rỡ ra mặt: "Hạ quan còn sai người khai thông Bích Vân Hồ tại đây, thả vào hơn trăm con cá chép, giữa hồ xây một đình nhỏ, có thể ở đó pha trà câu cá, thực là một đại thú vui của đời người."
Công Tôn Trác Ngọc không biểu lộ cảm xúc, chỉ nhướn mày, tự mình lẩm bẩm: "Lão già này cũng biết hưởng thụ ghê."
Trương Cát Cát cũng cảm thán: "Công Tôn huynh, ta thực sự tự thẹn không bằng."
Tri phủ ngày thường xa hoa còn biết kiềm chế, hôm nay Đỗ Lăng Xuân vừa đến, ông ta coi như đã đem hết gia sản phô bày ra rồi. Ba bước một cảnh, mười bước một gác, tòa biệt viện này nếu không có vài vạn lượng ngân phiếu cũng không xây nổi.
Dẫu sao thì mọi người cũng đã no say, tri phủ dẫn đầu đoàn người, đưa mọi người đi ngắm phong cảnh hậu viện, xem như tản bộ tiêu thực.
"Chậu cảnh này là giống mẫu đơn xanh hiếm thấy, hạ quan đã bỏ ra số tiền lớn mua lại từ một thương nhân hoa cảnh. Hoa lá xanh biếc như ngọc, thực sự là vật báu hiếm có trên đời. So sánh với nó, Yêu Hoàng, Ngụy Tử cũng chẳng còn gì đáng để nhắc đến nữa."
Tri huyện vừa giới thiệu, vừa biểu lộ lòng trung thành, mọi người xung quanh chỉ có thể rối rít phụ họa khen ngợi. Chỉ là đáng tiếc, Đỗ Lăng Xuân từ đầu đến cuối vẫn chẳng mảy may bận tâm. Công Tôn Trác Ngọc cũng không thấy hứng thú gì, từ xa nhìn lại, chỉ thấy một khối xanh lè lạ lẫm, chẳng khác nào cây bắp cải.
Đêm đẹp trời lành, ánh trăng đã lên tới đỉnh đầu, hậu viện trồng đầy hoa cỏ, trong không khí phảng phất chút hương thơm nhè nhẹ. Tuy nhiên, khi bước tới hành lang vòng quanh, Công Tôn Trác Ngọc đột nhiên ngửi thấy một mùi hôi thối như có như không, không khỏi giơ tay áo lên che mũi, nhíu chặt đôi mày, trong bụng nghĩ chẳng lẽ mình đã giẫm phải phân chó?
Nhưng càng đi sâu vào bên trong, mùi thối ấy càng nồng nặc, khiến người ta muốn buồn nôn. Đến lúc này, những người khác cũng bắt đầu nhận ra có điều bất thường. Đỗ Lăng Xuân vốn có thói quen sạch sẽ, sắc mặt y lập tức sa sầm lại, dùng khăn lụa che mũi, lạnh giọng hỏi:
"Thứ gì bốc mùi vậy?!"
Tri phủ cũng bị mùi hôi làm cho khổ sở, ông ta ngửi qua ngửi lại, cuối cùng phát hiện ra nguồn gốc mùi thối từ khu tiểu viện dành cho hạ nhân. Cơn giận bốc lên, hắn lớn tiếng quát: "Người đâu! Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, sao lại bốc mùi hôi thối đến thế này?!"
Từ tiểu viện lập tức có bốn, năm nha hoàn và gia đinh ùa ra, cả bọn đều quỳ rạp xuống đất, mặt mày hoảng loạn, đồng thanh cầu xin: "Đại nhân tha mạng, đại nhân tha mạng!"
Tri phủ thấy đám hạ nhân tụ tập đông đúc, âm thầm cau mày: "Sao các ngươi không ở tiền sảnh phục vụ, lại tụ tập cả ở đây?!"
Một nha hoàn áo hồng bước tới quỳ gần hơn, vừa dập đầu vừa khóc lóc nói: "Đại nhân, cái giếng ở sân sau phòng gia nhân mấy ngày nay bốc mùi hôi thối kỳ lạ, nước đục ngầu. Quản gia cho rằng là do bùn thối tắc nghẽn nên đã sai người đi thông giếng, ai ngờ... ai ngờ..."
Tri phủ nghe vậy, trong lòng dâng lên một dự cảm không lành, vội vàng dậm chân, trầm giọng quát: "Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì? Mau nói rõ!"
Nha hoàn kia nước mắt rơi như mưa: "Ai ngờ kéo lên được một thi thể nữ đã thối rữa chỉ còn trơ xương trắng, trên người còn mặc bộ giá y đỏ rực, trông thực sự đáng sợ. Chúng nô tài biết đại nhân đang khoản đãi quý nhân ở tiền sảnh, nên không dám trình báo."
Lời vừa dứt, cả đám người sửng sốt, phản ứng lớn nhất lại là tri phủ. Ông ta không thèm quan tâm mùi hôi nữa, vội vàng chạy thẳng vào tiểu viện. Chỉ thấy bên miệng giếng nằm lăn lóc một thi thể quấn trong lưới đánh cá.
Đó là một thi thể thối rữa nặng, xương trắng lộ rõ, chỉ còn lại chút ít thịt da bám vào cơ thể, nhầy nhụa không rõ hình dạng. Giòi bọ bò lổm ngổm trên thi thể, tỏa ra mùi hôi nồng nặc.
Duy chỉ có mái tóc đen rối tung vẫn còn nguyên vẹn, giữa tóc còn cài một cây trâm vàng rối ren, vướng chặt vào từng lọn tóc. Thi thể mặc bộ giá y đỏ thẫm chói mắt, bị lưới quấn chặt, phần đầu lâu trong ánh trăng lấp lánh sắc trắng lạnh lẽo. Hai hốc mắt đen ngòm trống rỗng, như đang nhìn chằm chằm mọi người, tựa hồ mỉm cười.
Khắp sân tràn ngập mùi hôi thối của xác chết, hòa lẫn với hương hoa ngọt ngào, tạo nên một thứ mùi hỗn tạp gay gắt xộc thẳng lên não.
"Ọe!"
Có người không chịu nổi cảnh tượng kinh khủng ấy, lập tức chạy ra ngoài nôn thốc nôn tháo.
Công Tôn Trác Ngọc cố gắng lờ đi mùi hôi thối nồng nặc khắp sân, hứng thú chen đến đứng cạnh Đỗ Lăng Xuân, thầm nghĩ chỉ cần y không chịu nổi mà nôn ra, anh có thể ngay lập tức đưa khăn tay đến, vừa đúng dịp tăng thêm thiện cảm.
Nhưng đợi mãi, Đỗ Lăng Xuân lại chẳng hề có phản ứng.
Y chỉ dùng những ngón tay thon dài, trắng trẻo kẹp chặt chiếc khăn tay, che kín mũi miệng, đôi lông mày đen nhánh càng nhíu chặt hơn, trong mắt lóe lên ánh nhìn lạnh lẽo. Sau đó, từng từ từng chữ lạnh giọng nói: "Tô Đạo Phủ, đây chính là biệt viện mà ngươi chuẩn bị cho bản quan sao?"
Giọng điệu như lưỡi dao bọc băng.
Chương 173
Tri phủ vừa nghe, trong lòng lập tức biết không ổn, liền "phịch" một tiếng quỳ xuống đất, mồ hôi như mưa, toàn thân run lẩy bẩy: "Đỗ đại nhân minh giám! Hạ quan dẫu có gan trời cũng không dám để ngài trú tại nơi có người chết! Nhất định là có kẻ từ trong phá rối, giếng nước sao tự nhiên lại có xác chết chứ!"
Nói đoạn, ông ta quay đầu trừng mắt nhìn đám nha hoàn gia đinh, tức đến mức toàn thân run lên: "Mau khai thật, rốt cuộc là kẻ nào giở trò quỷ?!"
Đám hạ nhân không ai dám hé răng, chỉ biết dập đầu cầu xin.
Tri phủ còn muốn hỏi tiếp, nhưng Đỗ Lăng Xuân đã chẳng còn muốn ở lại nơi này nữa. Y phất tay áo rời khỏi tiểu viện, lạnh lùng để lại một câu: "Ngày mai, tốt nhất ngươi nên cho bản quan một lời giải thích hợp lý!"
Khi đại nhân vật tức giận, không ai quan tâm tri phủ có nỗi khổ gì hay không. Lỡ làm Đỗ Lăng Xuân không vui, người đầu tiên chịu tội chính là ông ta.
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm bữa tiệc hôm nay đúng là rối rắm, nhưng không thể phủ nhận, anh đứng bên cạnh quả thật có chút khoái trá khi thấy tri phủ bị làm khó.
Nhìn Đỗ Lăng Xuân phất tay áo bỏ đi, anh lại nhấp nhổm muốn chạy theo lấy lòng, nhưng thấy không ai dám nhúc nhích, đành phải ngoan ngoãn đứng nguyên tại chỗ.
Tri phủ như con kiến trên chảo nóng, xoay quanh không ngừng: "Chuyện này... chuyện này! Phải làm sao đây!"
Trương Cát Cát đứng một bên không sợ đau lưng, liền bày ra ý kiến dở: "Đại nhân, nếu Đỗ đại nhân muốn một lời giải thích, chi bằng ngài điều tra xem nữ tử này chết thế nào. Là vô tình ngã xuống giếng hay bị người hại chết, chỉ cần tra rõ, việc sẽ dễ xử hơn."
Thậm chí, hắn nghĩ đơn giản hơn, cứ bịa ra một lý do gì đó cho qua chuyện, Đỗ Lăng Xuân cũng chưa chắc sẽ truy cứu đến cùng.
Ai ngờ tri phủ vừa nghe liền tức giận hơn, bước nhanh tới trước mặt hắn, quát lớn: "Tra? Ngươi nói bản quan phải tra thế nào đây?! Thi thể đã thối rữa thế này rồi!"
Kỹ thuật khám nghiệm tử thi của Đại Nghiệp hiện tại còn rất sơ khai, chưa đủ hoàn thiện. Những thi thể như Dư Tố Vân còn có thể miễn cưỡng tìm ra chút đầu mối, nhưng đối diện với thi thể trước mắt, vốn chỉ còn lại hai lạng thịt, tra thế nào cũng như mò kim đáy biển.
Trương Cát Cát ngẩng đầu nhìn trời, cúi đầu nhìn đất, ngượng ngùng ho khan hai tiếng, không nói gì nữa.
Tri phủ không còn cách nào khác, đành chuyển ánh mắt về phía Công Tôn Trác Ngọc, nắm chặt tay anh, tha thiết nói: "Công Tôn đại nhân!"
Công Tôn Trác Ngọc bất ngờ bị gọi tên, luống cuống hỏi lại: "Hả?!"
Tri phủ nói: "Bản quan thường ngày đã cảm thấy ngài thông minh nhanh nhạy, lúc nãy trên bàn tiệc, Đỗ đại nhân cũng không tiếc lời khen ngợi ngài là nhân trung hào kiệt. Giờ chuyện này xảy ra, bản quan chỉ có thể dựa vào ngài thôi!"
Trương Cát Cát ở bên cạnh cũng phụ họa: "Đúng đúng, Công Tôn huynh là trụ cột của triều đình ta, việc này giao cho huynh xử lý thì không còn gì hợp lý hơn nữa."
Công Tôn Trác Ngọc liếc nhìn hắn một cái, chậm rãi nói: "Nếu đã như vậy, sao ta lại thấy Trương huynh đi tra án thì thích hợp hơn? Dù sao huynh vốn là người yêu thích mỹ nhân, vụ án này giao cho huynh xử lý đúng là không còn gì hợp lý hơn."
Thi thể kia bốc mùi hôi thối nồng nặc, đầu óc Công Tôn Trác Ngọc có bị lừa đá mới đưa về điều tra, huống hồ chuyện này cũng chẳng có lợi lộc gì.
Trương Cát Cát nghe thế thì cuống lên, hắn dù yêu thích mỹ nhân đến đâu cũng đâu đến mức để ý cả thi thể đang phân hủy chứ: "Cái này, cái này... tra án thì có liên quan gì đến việc ta thích mỹ nhân chứ?!"
Tri phủ không quan tâm ai thích hợp, ông chỉ cần một người chịu nhận trách nhiệm. Ánh mắt ông đảo qua đảo lại giữa hai người bọn họ: "Vậy... hai vị ai đi điều tra đây?"
Công Tôn Trác Ngọc nhanh chóng chiếm thế thượng phong: "Tự nhiên là Trương đại nhân rồi. Huynh ấy mới thực sự là thần thám trứ danh, tại hạ mỗi lần chứng kiến đều cảm thấy bản thân kém xa."
Nói xong, anh còn nhân lúc mọi người chưa kịp phản ứng, liền hướng tri phủ khom người hành lễ: "Trời đã tối, lão mẫu tại hạ còn đang đợi ở nhà, tại hạ xin phép cáo từ trước, cáo từ, chư vị miễn tiễn."
Dứt lời liền chuồn nhanh như bôi mỡ vào chân, vừa dứt tiếng đã mất dạng.
Ở bên ngoài sân, Thạch Thiên Thu đứng canh, thấy vậy liền khẽ nhón chân, vận khí đuổi theo, thân hình hòa vào bóng đêm.
Công Tôn Trác Ngọc chạy như bay, không cần quản gia tiễn, trực tiếp leo lên xe ngựa trước cửa phủ, liên tục thúc giục phu xe rời đi. Thạch Thiên Thu ngồi khoanh chân trên càng xe, cách tấm rèm xe cất tiếng hỏi: "Đại nhân, là về phủ phải không?"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ, đương nhiên là về phủ, giờ này chỉ có thanh lâu còn mở cửa. Anh vén rèm thò đầu ra, định dặn dò vài câu, nhưng lại nghe thấy tiếng bánh xe lăn trên mặt đường từ bên cạnh vọng tới. Theo phản xạ, anh ngẩng đầu nhìn, thấy một chiếc xe ngựa trang trí lộng lẫy chẳng biết đã đỗ cạnh đó từ khi nào.
"Công Tôn đại nhân."
Màn xe bị một bàn tay trắng nõn thon dài từ từ vén lên, lộ ra gương mặt nửa nam nửa nữ của Đỗ Lăng Xuân, nụ cười của y luôn khiến người ta cảm thấy khó đoán.
Công Tôn Trác Ngọc ngẩn người, sau đó nhảy xuống xe ngựa, hành lễ: "Hạ quan bái kiến Đỗ tư công."
"Công Tôn đại nhân không cần đa lễ." Đỗ Lăng Xuân thấy chỉ mình anh bước ra, bèn hỏi, "Sao không thấy những người khác?"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm không thể để y biết mình đang lười biếng: "Gia mẫu sức khỏe không tốt, hạ quan lòng đầy lo lắng nên phải vội vàng rời tiệc trước. Tri phủ đại nhân và các vị khác hẳn là vẫn đang điều tra vụ án xác chết dưới giếng."
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy cười nhạt: "Vậy sao, bản tư công sẽ chờ xem ngày mai họ điều tra ra được điều gì."
Công Tôn Trác Ngọc nghe ngữ khí của y, trong lòng bất giác hồi hộp: "Hôm nay một buổi yến tiệc tốt lành lại khiến tư công bị kinh động, thật đáng trách. Mong tư công giữ gìn sức khỏe."
Kinh động thì không đến mức. Đỗ Lăng Xuân lớn lên trong cung cấm, thủ đoạn ghê rợn thế nào y chưa từng chứng kiến chứ. Đôi tay này trông trắng trẻo, nhưng nhìn kỹ lại thấm đẫm máu tươi. Y mỉm cười, ý tứ sâu xa: "Nếu quan viên triều đình ai cũng như Công Tôn đại nhân, bản tư công hẳn là không phải ngày ngày phiền lòng."
Những người có năng lực luôn nhận được vô số lời mời gọi, chỉ tiếc phần lớn họ kiêu ngạo, không dễ dàng chịu khuất phục. Người thức thời như Công Tôn Trác Ngọc lại chẳng nhiều.
Hôm nay liên tục được Đỗ Lăng Xuân khen ngợi, Công Tôn Trác Ngọc cảm thấy tiền đồ mình sáng lạn, trong lòng vui sướng đến mức như muốn nhảy múa, nhưng trên mặt vẫn giữ vẻ điềm tĩnh: "Tư công quá khen rồi."
Đỗ Lăng Xuân thấy anh điềm đạm không kiêu ngạo, lại càng muốn lôi kéo, nhưng không muốn vội vàng, bèn mỉm cười: "Công Tôn đại nhân không cần khiêm tốn. Ta vẫn chưa cảm tạ lần trước được đại nhân chiêu đãi, hôm nào nhất định phải thiết yến mời ngài, mong rằng đừng từ chối."
Nói xong, buông màn xe xuống, dặn: "Đi thôi."
Thị vệ đánh xe nghe vậy liền vung roi, trong đêm tối phát ra tiếng "vút" chói tai, điều khiển xe ngựa rời khỏi. Theo sau là một đội vệ binh áo giáp sáng loáng, thắt đai lưng kiếm, khí thế lạnh lùng.
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm đúng là oai phong, vừa lên xe ngựa vừa nói với Thạch Thiên Thu: "Đại sư phụ, hoàng đế ra ngoài cũng chỉ đến thế này thôi nhỉ?"
Thạch Thiên Thu liếc nhìn Đỗ Lăng Xuân và đoàn người dần khuất bóng, ánh mắt cuối cùng dừng lại trên các hộ vệ, rồi kết luận: "Đều là cao thủ hàng đầu."
Công Tôn Trác Ngọc ghen tị kiểu ra ngoài phô trương như vậy, bèn nói với vẻ hàm súc: "Đời người được vậy, còn cầu gì hơn."
Thạch Thiên Thu lại khẽ cười: "Đại nhân, đây không phải chuyện tốt gì."
Người muốn giết Đỗ Lăng Xuân nhiều hơn cả kẻ muốn giết hoàng đế.
Đáng tiếc Công Tôn Trác Ngọc vẫn chưa hiểu đạo lý này: "Nắm quyền lớn, được người hầu kẻ hạ, danh chấn thiên hạ, rõ ràng là phúc lớn trên đời."
Thạch Thiên Thu biết rõ tính cách anh, nói thêm cũng vô ích, chỉ lắc đầu, im lặng đánh xe rời khỏi phủ tri phủ.
Đỗ Lăng Xuân tuy quyền nghiêng triều dã, nhưng cũng không thể thu phục hết thảy thiên hạ. Quan ngôn chỉ trích y là kẻ gian nịnh, không ai chịu trung thành, tính khí thất thường, mất đạo ít người giúp. Nếu có trăm người, trăm người đều muốn lấy mạng y, vì vậy vệ sĩ luôn phải canh phòng cẩn mật.
Chỉ là, trên đầu ngày ngày treo gươm sắc, e rằng khó mà ngon giấc. Kẻ hiệp nghĩa dùng võ để phạm cấm, người nho sĩ dùng văn để loạn pháp. Quan tham mà dân không thể trừng trị, thường sẽ có người mang danh nghĩa hiệp khách xuất thủ, giết đi mới hả. Thạch Thiên Thu ở bên cạnh bảo vệ Công Tôn Trác Ngọc, cũng chính vì lý do này.
Trước khi rời đi, Đỗ Lăng Xuân từng nói sẽ thiết yến khoản đãi, Công Tôn Trác Ngọc chỉ nghĩ đó là lời khách sáo, không mấy để tâm. Nhưng không ngờ sáng sớm hôm sau, đã có người đến phủ gửi thiệp mời.
"Tư công nhà ta đã chuẩn bị rượu yến, muốn mời Công Tôn đại nhân đến gặp gỡ trò chuyện."
Người đến là một hộ vệ áo đen, tuổi chỉ ngoài đôi mươi. Dung mạo bình thường, hai tay ôm kiếm, bước chân nhẹ nhàng không tiếng động, rõ ràng cũng là cao thủ kiếm thuật.
Công Tôn Trác Ngọc sáng sớm vừa ra khỏi cửa, định đến hàng quán đầu ngõ ăn một bát mì, kết quả liền bị chặn lại ngay tại chỗ. Anh còn ngái ngủ, chưa tỉnh hẳn, trong lòng đầy cơn bực bội vì bị dựng dậy sớm. Nhưng vừa thấy tên Đỗ Lăng Xuân ký trên thiệp mời, anh lập tức tỉnh táo.
Hửm? Đỗ tư công cớ gì lại mời anh đi ăn uống?
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ mãi không ra, nhưng suy tính một hồi, anh vẫn không muốn bỏ qua cơ hội ôm chặt bắp đùi này: "Đã là tư công mời, hạ quan đương nhiên sẽ tới. Phiền chờ tại hạ một lát, để bổn quan chuẩn bị xe ngựa rồi sẽ đi ngay."
Hộ vệ áo đen thần sắc bình thản, nghiêng người nhường một lối: "Không cần. Tư công đã chuẩn bị sẵn xe ngựa, Công Tôn đại nhân chỉ cần theo ta đi là được."
Quả không hổ là Tư công đương triều, quả nhiên chu đáo mọi bề.
Công Tôn Trác Ngọc đành ngồi lên xe ngựa. Thạch Thiên Thu muốn theo sau, nhưng vừa bước một bước đã bị hộ vệ áo đen đưa tay ngăn lại. Giọng điệu đối phương nghe có vẻ cung kính, nhưng lại thiếu phần thân thiện: "Đỗ tư công đã nói, chỉ mời Công Tôn đại nhân một mình đến, kẻ nhàn rỗi không cần theo."
Thạch Thiên Thu hành tẩu giang hồ bao năm, sao có thể để một tiểu tử lông còn chưa mọc đủ cản lại. Nghe vậy, ánh mắt hắn lóe lên, chuôi kiếm nhanh như chớp điểm vào khuỷu tay gã. Gã liền bị buộc phải lùi lại hai bước.
Hộ vệ áo đen hiển nhiên không ngờ rằng trong phủ của một tri huyện nhỏ lại có cao thủ như vậy, sắc mặt hơi biến đổi, lập tức định rút kiếm ra khỏi vỏ. Nhưng vừa lúc đó, Công Tôn Trác Ngọc vội vàng hét lớn: "Dừng tay, cả hai dừng tay cho ta!"
Công Tôn Trác Ngọc vừa mới leo lên xe, ngoảnh lại liền thấy hai người bọn họ như sắp động thủ đến nơi. Anh cuống quýt nhảy xuống, chạy tới đứng giữa hai người, vội vàng giảng hòa: "Có gì từ từ nói, tuyệt đối không được động thủ."
Thạch Thiên Thu trầm giọng nói: "Đại nhân, hắn không cho ta theo ngài!"
Hộ vệ áo đen đáp: "Ta đưa Công Tôn đại nhân đi thế nào, sẽ đưa về thế ấy, một sợi tóc cũng không thiếu. Tư công đã có lệnh, kẻ nhàn rỗi không cần đi theo."
Công Tôn Trác Ngọc đứng giữa, trái phải đều khó xử. Thấy Thạch Thiên Thu như sắp nổi giận, anh vội đè lại, hạ giọng trấn an:
"Đại sư phụ, đã là Đỗ tư công mời, chắc hẳn sẽ không có chuyện gì đâu. Ngài hôm nay tạm ở lại trong phủ vậy."
Nói rồi, anh lục lọi trong tay áo hồi lâu, lật tung cả túi tiền trên người, cuối cùng moi được một mẩu bạc vụn đưa cho hắn: "Này, sư phụ cầm lấy, đi mua bánh bao ăn. Muốn ăn bao nhiêu thì ăn."
Thạch Thiên Thu thấy vậy, bị nghẹn một phen, một hơi nín trong ngực lên chẳng được, xuống cũng không xong. Hắn trừng mắt nhìn Công Tôn Trác Ngọc, muốn nói gì đó, nhưng rốt cuộc lại không thốt nên lời. Cuối cùng, hắn giật phắt miếng bạc, hừ lạnh một tiếng, xoay người phất tay áo đi vào trong phủ.
Tác giả có lời muốn nói:
Thạch Thiên Thu: Hừ, đi mua bánh bao!
Chương 174
Nơi Đỗ Lăng Xuân thiết yến là một biệt viện ở ngoại ô thành. Từ bên ngoài nhìn vào, tuy không có gì đặc sắc, nhưng khi Công Tôn Trác Ngọc bước xuống xe ngựa, được nha hoàn dẫn vào trong, anh mới phát hiện ra một khung cảnh khác biệt.
Bên trong có mái cong đình đài, thủy tạ lầu các, tất cả đều ẩn hiện giữa những hàng cây hoa. Hành lang dài mấy chục mét men theo hồ sen, băng qua dòng suối giả sơn, cuối cùng dẫn thẳng tới một đình giữa hồ.
Nha hoàn dẫn đường đến đây thì dừng lại, khẽ quỳ gối hành lễ với Công Tôn Trác Ngọc: "Mong đại nhân lượng thứ, tư công không thích người khác đến gần hầu hạ, bọn nô tỳ chỉ có thể đứng đợi bên ngoài."
Công Tôn Trác Ngọc nhìn đoạn hành lang ngắn còn lại, cuối hành lang là một đình nghỉ được bao quanh bởi màn lụa trắng. Khi gió thổi qua, thấp thoáng hiện lên bóng người bên trong. Anh gật đầu tỏ ý không để tâm: "Không sao, để ta tự đi."
Anh tuấn mỹ phi phàm, khiến mấy nha hoàn đỏ mặt chỉ sau vài lần liếc trộm. Các nàng che miệng cười, rồi lui ra ngoài.
Công Tôn Trác Ngọc tiến về phía đình giữa hồ, đến gần mới thấy Đỗ Lăng Xuân đang xem sách, có vẻ rất nhập tâm. Nghĩ rằng không nên làm phiền, anh đứng cách ba bước chờ đợi.
Chính giữa đình là một chiếc bàn thấp, bày đầy những loại quả quý hiếm mà thường dân khó có dịp nếm. Dưới đất trải một tấm thảm dày, e rằng cũng là hàng vạn lượng bạc. Công Tôn Trác Ngọc nhìn chằm chằm vào một dĩa nho, không khỏi thèm thuồng.
Vì đang ở trong phủ, Đỗ Lăng Xuân ăn vận khá tùy ý. Mái tóc đen buông lơi trên vai, một thân trường bào tay rộng màu đỏ tươi, làm nổi bật làn da trắng như tuyết, sự mềm mại như ngấm vào tận xương cốt.
Y cầm sách, đợi đọc xong bài thơ trên tay mới đặt sang một bên. Lúc này, y mới ngước mắt nhìn Công Tôn Trác Ngọc, cười nhẹ: "Công Tôn đại nhân quả là phong thái của quân tử. Đã để ngài đợi lâu, mời vào ngồi."
Thực ra Công Tôn Trác Ngọc cũng không đợi lâu, anh nghe vậy liền làm theo, quỳ ngồi đối diện: "Thấy Tư công đang chăm chú đọc sách, hạ quan không dám làm phiền."
Nói xong, anh kín đáo liếc qua tập thơ trên bàn. Đúng lúc đó, đập vào mắt là trang Khách trung tác của Lý Bạch, với câu thơ:
"Lan Lăng mỹ tửu uất kim hương, ngọc uyển thịnh lai hổ phách quan."
Đỗ Lăng Xuân thấy anh nhìn sách, nhướn mày, bất ngờ vung tay quét cuốn thơ sang bên: "Bản Tư công không thích đọc sách."
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ bụng: Không thích mà vẫn đọc say sưa như thế, quả là tính khí thất thường. Nhưng ngoài miệng anh lại nói: "Không thích cũng phải, Tư công là bậc đại nhân vật, tất nhiên không cần hao tổn thời gian vào mấy việc vặt này."
"Việc vặt?" Đỗ Lăng Xuân bất chợt bật cười, "Ngươi là người đọc sách đầu tiên dám nói vậy."
Đúng như Công Tôn Trác Ngọc đã nghĩ, những người nghèo khó thường phải vật lộn miếng ăn, làm gì có bạc để mà học hành. Đỗ Lăng Xuân vốn không thích cái sự văn vẻ dài dòng ấy, sách vở trong mắt y cũng giống như cái vẻ thanh cao giả tạo của đám văn nhân, thật đáng ghét.
Y lười biếng đứng dậy, đi về phía lan can nơi có gắn một cần câu. Đôi chân trần, không đi giày, ẩn hiện dưới vạt áo đỏ, một vẻ đẹp trắng ngần, thon gầy. Y cầm cần câu, tiện tay quăng xuống hồ, bất chợt hỏi: "Ta còn tưởng hôm nay Công Tôn đại nhân sẽ không đến dự tiệc."
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ: Sao lại không đến, nhất định phải đến chứ. Anh lập tức từ chỗ ngồi đứng dậy, vẻ mặt nghiêm trang đáp: "Tư công sao lại nói vậy?"
Đỗ Lăng Xuân liếc anh, nụ cười bên khóe miệng như có như không: "Chẳng phải các ngươi đều chê bản tư công là một kẻ thái giám không gốc rễ sao, hửm?"
Người ta vốn khinh thường việc kết giao với quyền hoạn, tham quan. Những ai tự cho là có danh tiết đều sẽ tránh mặt y.
Đỗ Lăng Xuân nhắc: "Ví dụ như... vị tri huyện Trương Cát Cát kia?"
Nghe vậy, tim Công Tôn Trác Ngọc giật thót. Tên Trương Cát Cát lắm mồm đó, anh đã bảo bao lần đừng ăn nói linh tinh, giờ thì hay rồi, uống rượu lỡ lời để chính chủ nghe được, chẳng phải tự rước họa sao.
Dẫu vậy, tình nghĩa bạn bè vẫn còn, Công Tôn Trác Ngọc đành bất đắc dĩ giải thích: "Trương đại nhân không phải cố ý, chỉ là say rồi buột miệng. Mong tư công rộng lượng, không cần so đo với người như vậy."
Đỗ Lăng Xuân thấy phao câu cá nhấp nhô, liền nhấc cần, kéo lên một con cá chép đang giãy dụa: "Thật sao? Nhưng người ta đều bảo, lời thật lòng là lời khi say."
Công Tôn Trác Ngọc gật đầu phụ họa: "Cũng có những lời chỉ là nói bừa khi say."
Đỗ Lăng Xuân vốn chỉ tiện miệng nói. Y quăng cần câu vào thùng, nhìn Công Tôn Trác Ngọc, khóe miệng nở nụ cười, dùng khăn lau tay, thong thả quay lại chỗ ngồi: "Thôi được rồi, nể mặt ngươi, bản tư công không so đo với hắn."
Nếu đổi lại là kẻ khác, không chết cũng phải tróc một tầng da, bởi vì chốn thế gian này, kẻ ngồi nơi cao vị, không mấy ai dám dễ dàng bàn luận.
Công Tôn Trác Ngọc nghe xong, trong lòng thoáng nhẹ nhõm, thầm nghĩ Đỗ Lăng Xuân cũng không đến mức khó gần như lời đồn đại bên ngoài, bèn quay về chỗ ngồi: "Đại nhân không câu cá nữa sao?"
Đỗ Lăng Xuân đáp: "Đám cá chép trong ao này bị nuôi đến ngốc nghếch, chẳng còn cảnh giác, vừa buông cần đã có thể kéo lên cả đám, chẳng thú vị chút nào. Hơn nữa hôm nay là mời ngươi đến dự tiệc, không nên để những chuyện khác làm mất hứng."
Nói đoạn y kéo nhẹ chiếc chuông ngọc bên cạnh, lập tức có nha hoàn và gia đinh nối nhau bước vào, dọn hết khay điểm tâm, hoa quả trên bàn, bày lên những món mỹ vị trân kỳ. Công Tôn Trác Ngọc lén đẩy đĩa nho sang bên, làm như không có gì mà ăn vài quả. Nha hoàn kia cũng rất tinh ý, không hề mang đĩa nho đi.
Đỗ Lăng Xuân phát hiện, bèn hỏi một câu: "Ngươi thích ăn nho à?"
Công Tôn Trác Ngọc nói: "Khiến đại nhân chê cười rồi, tại hạ áo vải sơ sài, nho lại đắt đỏ, chẳng mấy khi được ăn."
Đỗ Lăng Xuân lại cảm thấy anh thẳng thắn, bèn đẩy đĩa nho về phía anh: "Thích thì cứ ăn đi, nếu không đủ, mang thêm chút nữa về. Ăn no rồi, cùng ta đến biệt viện của tri phủ xem náo nhiệt."
Công Tôn Trác Ngọc khựng lại: "Hả?"
Đỗ Lăng Xuân chỉ cười đầy ẩn ý: "Bản quan rất muốn xem thử, bọn họ có thể tra ra được điều gì hay ho."
Nhờ Công Tôn Trác Ngọc hôm qua sớm biết điều mà chuồn trước, trọng trách điều tra án nữ thi trong giếng rơi vào tay Trương Cát Cát. Hắn thức trắng cả đêm, hỏi cung tất cả nha hoàn gia đinh trên dưới biệt viện, cuối cùng bàn bạc với tri phủ suốt đêm, miễn cưỡng tra ra "chân tướng".
"Hồi bẩm đại nhân, hạ quan tối qua đã điều tra, phát hiện trong biệt viện đãi tiệc hôm qua có một nha hoàn tên Đan Thu, ba ngày trước đã mất tích, đến nay không rõ tung tích, thi thể trong giếng có lẽ chính là Đan Thu."
Đỗ Lăng Xuân ngồi cao trên đầu, bên dưới là thi thể được phát hiện tối qua, phủ vải trắng, tuy đã được tẩy rửa, vẫn bốc mùi tử khí nồng nặc, nhưng không còn xộc thẳng lên đầu như đêm trước. Nghe Trương Cát Cát nói, y không tỏ thái độ: "Ồ? Làm sao biết được thi thể đó chính là Đan Thu?"
Trương Cát Cát đã chuẩn bị từ trước, bèn sai nha hoàn dâng lên một vật, hóa ra là bộ giá y trên thi thể nữ thi: "Tuy rằng thi thể ngâm lâu trong nước giếng, nhưng y phục trang sức vẫn còn nguyên vẹn. Hạ quan đã tìm mấy nha hoàn thân cận với Đan Thu nhận diện, họ đều nhận ra thêu thùa trên giá y này là do Đan Thu tự tay làm, trâm cài cũng là vật nàng thường dùng."
Nghe qua thì cũng hợp tình hợp lý.
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ Trương Cát Cát quả là đồ biến thái, ngay cả quần áo trên thi thể cũng lột ra.
Đỗ Lăng Xuân cầm lấy chén trà, nhấc nắp gạt bọt: "Người đó làm sao mà chết? Lúc chết vì sao mặc giá y?"
Trương Cát Cát nghe vậy, không chút dấu vết mà liếc tri phủ một cái, sau đó nhanh chóng thu hồi ánh mắt, khom người đáp: "Đan Thu và phó quản gia biệt viện là Lôi Toàn đã định hôn ước, dự kiến tháng sau thành thân. Trước khi chết hẳn là thử giá y, sau đó bị người ám hại, đẩy xuống giếng, nên mới thành ra thế này."
Hắn nói xong, sai người áp giải lên một nha hoàn áo hồng phấn, cả người bị trói chặt, miệng bị nhét vải, chỉ có thể không ngừng giãy giụa, nước mắt rơi đầy, làm nhòe cả phấn son.
Trương Cát Cát thao thao bất tuyệt giải thích: "Nha hoàn này tên Lăng Sương, theo lời người trong phủ, nàng vẫn luôn thầm mến phó quản gia Lôi Toàn, nhưng Lôi Toàn và Đan Thu hai lòng yêu thương, đối với nàng chưa từng để tâm. Vì vậy Lăng Sương sinh lòng ghen ghét, thường ngấm ngầm bài xích Đan Thu."
"Đêm trước khi Đan Thu mất tích, có kẻ trong phủ nhìn thấy hai người họ xảy ra xô xát, nghĩ rằng do oán hận tích tụ lâu ngày, Lăng Sương trong lúc tức giận đã đẩy Đan Thu xuống giếng."
Thật tuyệt vời, thật sự tuyệt vời. Công Tôn Trác Ngọc lén uống một ngụm trà, thầm nghĩ Trương Cát Cát không đi kể chuyện đúng là đáng tiếc, đồng thời không để lộ chút sơ hở mà nhìn thoáng qua thi thể—
Vì đã thối rữa chỉ còn nửa bộ xương trắng, vải trắng phủ lên trên, lờ mờ có thể thấy được hình dáng.
Công Tôn Trác Ngọc khẽ dừng ngón tay, nhíu mày, dường như phát hiện ra điều gì, nhưng nghĩ không liên quan đến mình, nên tạm thời đè xuống.
Đỗ Lăng Xuân vốn rảnh rỗi, nghe vậy liền nhìn về phía nha hoàn bị trói: "Nàng đã nhận tội chưa?"
Tri phủ xen lời: "Tiện tỳ này chết cũng không nhận, nhưng đại nhân không cần lo, chỉ cần nghiêm hình bức cung vài ngày, tất sẽ nhận tội."
Lời vừa dứt, Lăng Sương không biết lấy đâu ra sức lực, liều mạng nhào tới phía trước, nhổ miếng vải trong miệng ra, giọng bi thiết khóc thét: "Đại nhân! Nô tỳ chưa từng hại Đan Thu, đêm đó tuy có cãi nhau vài câu, nhưng quyết không vì thế mà giết người, xin đại nhân minh xét! Xin đại nhân minh xét!"
Hai tay nàng bị trói sau lưng, quỳ trên đất dập đầu mạnh mẽ, cộc cộc vang dội, chỉ vài giây sau đã thấy máu. Tóc tai bù xù, thật vô cùng thê thảm, nước mắt như mưa mà khóc: "Nhà nô tỳ còn có lão mẫu, chân tay không tiện, chỉ dựa vào nô tỳ nuôi sống. Nếu nô tỳ chết, bà ấy biết phải sống thế nào, xin đại nhân minh xét!"
Nha hoàn đứng bên cạnh thấy vậy cũng lộ vẻ không đành, tri phủ giận dữ nói: "Chẳng lẽ chỉ vì lão mẫu ngươi chân tay không tiện, liền có thể vì thế mà rửa sạch tội lỗi sao? Người đâu, mau giải tiện tỳ này xuống!"
Lập tức có nha dịch ép nàng kéo xuống, Lăng Sương giãy giụa không chịu rời đi, không ngừng dập đầu, không ngừng dập đầu, khóc đến nức nở không thành tiếng: "Đại nhân, mẫu thân ta thực sự chân tay không tiện, đến đi cũng không nổi, cầu xin ngài... cầu xin ngài..."
Trên phiến đá xanh máu bắn tung tóe, đầu đập xuống phát ra âm thanh trầm đục, cuối cùng bị mạnh mẽ kéo đi để lại một vệt máu dài.
Công Tôn Trác Ngọc thấy thế bèn không tự nhiên mà dời tầm mắt, lặng im không nói. Nào ngờ hệ thống không biết từ khi nào đã nhảy ra, dùng cánh ôm lấy vai anh mà khóc rưng rức:【Hu hu hu hu thật đáng thương, thật đáng thương, nàng nhất định không phải hung thủ.】
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ tri phủ rõ ràng chỉ muốn tìm cái cớ để kết thúc chuyện này, ai là hung thủ thì có ai thèm quan tâm, hơi ghét bỏ mà đẩy hệ thống ra:
"Ngươi tốt nghiệp nhà thờ Đức Bà Paris à? Suốt ngày thương người, cũng không thấy thương ta tí nào."
Hệ thống lau nước mắt:【Ta là học sinh ưu tú tốt nghiệp học viện cải tạo tra nam đại tinh tế.】
Công Tôn Trác Ngọc: "...."
Hệ thống tiếp tục lau nước mắt:【Ngươi thân là quan phụ mẫu, không rửa oan cho bách tính, chính là đại hôn quan.】
Mọi người nhìn thấy Lăng Sương bị mạnh mẽ kéo đi, nào ngờ ngay lúc này, Công Tôn Trác Ngọc – người từ nãy đến giờ vẫn luôn im lặng – bỗng nhiên lên tiếng: "Tri phủ đại nhân, hạ quan cho rằng vụ án này không đơn giản như vậy."
Tri phủ giận tím mặt: "Công Tôn Trác Ngọc, ngươi..."
Đỗ Lăng Xuân giơ tay ngăn lại, quay đầu nhìn Công Tôn Trác Ngọc: "Công Tôn đại nhân thấy có gì khả nghi sao?"
Có vấn đề là chuyện chắc chắn. Qua một đêm mà vội vàng tìm ra chân tướng, người nào có đầu óc cũng hiểu là không thể không có oan tình. Nhưng những người có mặt tại đây đều là lão luyện trên quan trường, chẳng ai muốn mạo hiểm đứng ra bênh vực cho một nha hoàn thấp hèn, chỉ vì muốn lấy mạng nàng để dẹp yên cơn giận của Đỗ Lăng Xuân mà thôi.
Công Tôn Trác Ngọc cắn răng, đáp: "Hạ quan chỉ có một điều thắc mắc."
Đỗ Lăng Xuân vẫn giữ thái độ điềm tĩnh: "Cứ nói đừng ngại."
Công Tôn Trác Ngọc nhìn tri phủ, lại nhìn sang Trương Cát Cát – kẻ nhát gan sợ hãi: "Theo lời của Trương đại nhân, Đan Thu chỉ mất tích ba ngày, nhưng thi thể được kéo lên từ giếng lại đã mục nát nặng nề, thậm chí còn xuất hiện dấu hiệu trắng xương. Thời gian tử vong không thể dưới mười lăm ngày."
Trương Cát Cát suy nghĩ một lát, "trí khôn lóe sáng": "Nước giếng ẩm thấp, khiến thi thể phân hủy nhanh hơn, cũng là chuyện có thể xảy ra."
Công Tôn Trác Ngọc nói: "Không, dù nước giếng có ảnh hưởng đến tốc độ phân hủy, thì ba ngày cũng không thể thối rữa đến mức này. Hơn nữa..."
Anh giơ tay, ước lượng chiều cao của bộ xương so với mặt đất: "Bộ hài cốt này rất có khả năng là của một nam nhân, chứ không phải nữ nhân."
Lời này vừa dứt, toàn trường ồn ào.
Chương 175
Nữ tử thời cổ đại thường nhỏ nhắn, chiều cao trung bình chỉ khoảng một mét năm sáu. Nha hoàn trong biệt viện tri phủ tuy được tuyển chọn kỹ lưỡng, đều xinh đẹp thanh tú, nhưng chiều cao trung bình cũng chỉ khoảng một mét sáu hai, vóc dáng cân đối hài hòa.
Mà thi thể kia, Công Tôn Trác Ngọc ước lượng sơ qua, ít nhất cũng cao một mét tám, rõ ràng quá cao lớn so với một nữ nhân.
Để chứng minh cho suy đoán của mình, anh tiện tay rút một nhánh hoa dài từ trong bình hoa gần đó, sau đó bước lên phía trước, từng chút một vén tấm vải trắng phủ trên thi thể.
Bộ hài cốt này đã thối rữa đến mức chỉ còn lại xương trắng, không thể nhận biết được những đặc điểm giới tính bên ngoài. Nhưng Công Tôn Trác Ngọc quan sát kỹ lưỡng, nhận ra xương hàm thô to, hình dạng xương chậu hẹp cao, khung chậu vừa sâu vừa hẹp, cửa dưới của khung chậu cũng nhỏ – tất cả đều là đặc trưng của nam giới.
Một người có chút kinh nghiệm khám nghiệm tử thi đều có thể nhận ra điều này.
Công Tôn Trác Ngọc đứng dậy, dùng nhánh hoa chỉ về phía tri phủ, bật ra một tiếng "chậc": "Nhìn là biết ngài chưa từng cho người khám nghiệm tử thi."
Thi thể này không hiểu vì sao lại có mùi rất khó ngửi, tri phủ bịt mũi, ghét bỏ lùi lại, giận dữ nói: "Càn rỡ, đã mục nát đến mức này thì còn khám nghiệm cái gì!"
Người xưa tin vào quỷ thần. Thi thể mặc giá y đỏ, chết trong giếng cổ, lại chết thê thảm như vậy, đương nhiên ai nấy đều muốn tránh xa, tìm một kẻ chịu tội thay là xong chuyện. Nhưng không ngờ, giữa đường lại xuất hiện một Công Tôn Trác Ngọc. Tri phủ tức giận đến mức muốn siết cổ anh.
Công Tôn Trác Ngọc ném nhánh hoa đi, phủi bụi trên tay, nói: "Bẩm Đỗ tư công, bộ hài cốt này khung chậu hẹp, chiều cao tám thước, rõ ràng là một nam nhân, tuyệt đối không thể là nha hoàn mất tích Đan Thu. Nếu không tin, cứ gọi người khám nghiệm là biết ngay."
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, ước lượng chiều cao của thi thể một lần nữa, phát hiện quả đúng như lời Công Tôn Trác Ngọc, nhíu mày, hỏi với giọng không rõ cảm xúc: "Tri phủ, ngươi giải thích sao đây?"
Đỗ Lăng Xuân không quan tâm người chết là ai, cũng không để ý họ chết như thế nào. Nhưng đám người của tri phủ lại dám qua mặt y, rõ ràng xem y như một kẻ ngốc.
Tri phủ mồ hôi lạnh ròng ròng, lắp bắp mãi không thốt nổi thành lời: "Hạ quan... hạ quan..."
Ông ta liếc mắt nhìn Công Tôn Trác Ngọc đang đứng nhìn trò hay, căm hận trong lòng, cắn răng dứt khoát quỳ xuống: "Đại nhân, là hạ quan bất tài, không thể điều tra rõ sự thật. Không bằng giao vụ án này cho Công Tôn Trác Ngọc thẩm tra, hắn thông minh tài giỏi, chắc chắn sẽ tra ra ngọn ngành!"
Lời khen "thông minh tài giỏi" này, ông ta nói mà nghiến răng nghiến lợi.
Đỗ Lăng Xuân cảm thấy nực cười, đặt chén trà xuống, dùng khăn lau lòng bàn tay, giọng nhàn nhạt hỏi: "Đã như vậy, mọi chuyện đều giao cho Công Tôn Trác Ngọc tra xét, vậy cần ngươi – tri phủ – làm gì nữa, hửm?"
Tri phủ dập đầu không dám đáp.
Công Tôn Trác Ngọc chẳng mấy bận tâm, dù sao đầu đã thò ra, thêm vài sợi tóc cũng chẳng khác biệt. Anh khom người trước Đỗ Lăng Xuân, nói: "Hạ quan dù bất tài, nhưng là phụ mẫu chi dân của một huyện, không muốn thấy người vô tội chịu oan, xin mạn phép thử một lần. Mong đại nhân cho phép."
Khắp đại sảnh, chỉ có anh đứng thẳng lưng nơi dưới đường, không chút kiêu căng, cũng chẳng hề sợ hãi. Hai chữ "chính khí" như bừng sáng trong mắt mọi người.
Đỗ Lăng Xuân chưa từng gặp người như anh, ánh mắt sâu thêm một phần. Nếu nói Công Tôn Trác Ngọc chính trực cương trực, thì anh so với những văn thần tự xưng thanh liêm lại càng biết tiến biết lùi; nếu nói anh biết lấy lòng, thì lại khác xa với những kẻ xu nịnh ô hợp xung quanh.
Đỗ Lăng Xuân nghiêm túc hỏi: "Ngươi thực sự muốn tra?"
Công Tôn Trác Ngọc cúi đầu: "Tất nhiên phải tra."
Đỗ Lăng Xuân giọng trầm xuống, hỏi một câu: "Chỉ vì một nô tài thôi sao?"
Công Tôn Trác Ngọc: "Nô tài cũng là mạng người, cũng là bách tính của Giang Châu."
Một lời này, khiến cả những kẻ đứng hầu bên cạnh cũng phải động lòng.
Đây là một triều đại xem mạng người như cỏ rác. Mỗi ngày đều có vô số người chết đi, mà nô tài lại là tầng lớp thấp hèn nhất, toàn bộ tính mạng đều nằm trên một tờ khế bán thân, sinh tử tùy ý chủ nhân.
Tri phủ vì sao lại đưa Lăng Sương ra làm kẻ chịu tội? Chẳng qua vì nàng là một nô tài, là một sinh mệnh nhỏ bé không chút sức phản kháng, là một người chết đi cũng chẳng ai quan tâm.
Kiếp này làm nô, chết cũng chẳng giữ nổi thanh danh trong sạch, há chẳng phải bi ai?
Đỗ Lăng Xuân nhìn Công Tôn Trác Ngọc thật sâu, hồi lâu mới lên tiếng: "Đã vậy, bổn chức cho ngươi tra."
Y đứng lên khỏi ghế, ống tay áo lướt qua ghế ngồi, phát ra âm thanh đặc trưng của tơ lụa, chậm rãi bước tới trước mặt Công Tôn Trác Ngọc: "Chỉ là, sau khi bổn chức tiêu diệt tàn đảng triều trước, không lâu nữa sẽ phải về kinh phục mệnh. Thời gian không nhiều, trong vòng ba ngày nếu không tìm được manh mối, nha hoàn Lăng Sương chính là hung thủ."
Đỗ Lăng Xuân sẽ không lãng phí thời gian vào một vụ án không quan trọng, hung thủ thật sự là ai cũng chẳng phải điều y bận tâm, điều y cần là một lời giải thích thỏa đáng. Nhưng y bỗng muốn thử xem Công Tôn Trác Ngọc sâu cạn thế nào, liệu anh có thể tra ra chân tướng hay không.
Đỗ Lăng Xuân tiến sát đến bên cạnh anh, hạ giọng nói: "Nhưng nếu ngươi thực sự có thể tra ra chân tướng, bổn chức tất sẽ tấu trình lên thánh thượng, khen ngợi ngươi tài năng xuất chúng, tiến kinh làm quan, ngày vinh hiển chẳng xa."
Khoảng cách gần như vậy khiến Công Tôn Trác Ngọc thậm chí có thể ngửi thấy mùi hương trầm thủy đắt tiền trên người y, thoang thoảng dễ chịu, ngấm sâu vào lòng người. Nghe lời này, ánh mắt anh sáng bừng, tinh thần phấn chấn như vừa được tiếp thêm sinh khí. Quan chức trong kinh thành đương nhiên hơn hẳn cái chốn nhỏ bé như Giang Châu này!
Trong lòng Công Tôn Trác Ngọc đầy niềm hân hoan, nhưng ngoài mặt vẫn khiêm tốn đáp: "Hạ quan chỉ muốn tra rõ chân tướng, trả lại sự trong sạch cho người đã khuất."
Đỗ Lăng Xuân lại nhìn sang phía tri phủ và các quan lại khác, lạnh nhạt nói: "Vậy vụ án này giao cho Công Tôn Trác Ngọc tra xét, các ngươi phải nghe lệnh điều phối của hắn, không được phép sai sót."
Đây rõ ràng là tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Công Tôn Trác Ngọc.
Tri phủ nhăn nhó mặt mày, trong lòng thầm nghĩ, việc này là thế nào đây? Đường đường là tri phủ mà lại phải bị một vị huyện lệnh như Công Tôn Trác Ngọc dẫm dưới chân, thật sự nghẹn khuất không chịu nổi. Nhưng vì lời của Đỗ Lăng Xuân, ông ta chỉ có thể cúi đầu cam chịu, buồn bã đáp: "Hạ quan tuân mệnh."
Muốn tra rõ chân tướng một vụ án, bước đầu tiên chính là khám nghiệm tử thi. Thi thể vô danh này rõ ràng là một nam tử, nhưng khi chết lại mặc nữ phục, hơn nữa lại là y phục của Đan Thu – người mất tích ba ngày. Chuyện này hẳn có ẩn tình.
Là do người chết có sở thích kỳ quái, hay có kẻ cố ý gây ra?
Công Tôn Trác Ngọc mượn một đôi găng tay vải từ tay ngỗ tác của nha môn, cẩn thận kiểm tra thi thể. Cuối cùng, thông qua vị trí đường cốt hóa ở hai đầu xương dài và hình thái tổng thể của khớp xương mu, anh sơ bộ đoán rằng đây là thi thể của một nam nhân trưởng thành, khoảng ba mươi hai tuổi.
Phía sau hộp sọ có một vết nứt nhẹ, giống như bị vật nặng đánh trúng. Xương mặt có nhiều vết xước sắc bén, xương cổ gãy nát, nguyên nhân tử vong khó xác định.
Có khả năng người này bị đánh chết rồi ném xuống giếng, cũng có thể bị ngã xuống giếng, đập đầu mà chết, hoặc đơn giản hơn là chết đuối.
Do thi thể khi được kéo lên có trạng thái chết rất thê thảm, không ai dám chạm vào. Trương Cát Cát chỉ lệnh người tháo y phục và trang sức ra, còn lại giữ nguyên hiện trạng. Công Tôn Trác Ngọc quan sát tóc của thi thể, phát hiện tuy có phần rối loạn nhưng vẫn nhận ra từng được chải búi cẩn thận, hơn nữa lại là kiểu búi tóc của nữ tử.
Chuyện này thật kỳ lạ...
Công Tôn Trác Ngọc chưa từng gặp vụ án nào ly kỳ đến vậy, chỉ đành loại trừ từng khả năng trong đầu.
Thứ nhất, người chết rất có khả năng không phải kẻ có sở thích kỳ quái, vì y phục của Đan Thu rõ ràng quá nhỏ so với người này. Lấy ví dụ, chiếc váy cưới này chỉ dài tới đầu gối của người chết, nếu mặc thực sự sẽ rất ngắn.
Thứ hai, hung thủ cố ý mặc y phục của Đan Thu lên người chết, vậy là để làm gì? Là để người khác tưởng rằng thi thể này là của Đan Thu sao?
Nói tới nói lui, cuối cùng vẫn không tránh được việc phải nhắm vào một người.
Công Tôn Trác Ngọc tháo găng tay, rửa tay sạch sẽ, rồi sai người triệu tập tất cả nha hoàn từng quen biết và sống cùng phòng với Đan Thu lại, lần lượt tra hỏi, cố tìm ra chút manh mối.
Nha hoàn A: "Đan Thu tỷ tỷ là người nhà sinh ra tại đây, bình thường tay chân nhanh nhẹn, đối xử tốt với những nha hoàn mới nhập phủ chúng ta, dù có lỗi lầm gì tỷ ấy cũng nhẹ nhàng chỉ bảo, chưa từng nổi nóng."
Nha hoàn B: "Đan Thu tỷ tỷ ở cùng phòng với ta, nhưng sau khi đính hôn với Lôi phó quản gia, tỷ ấy đã dọn ra ở riêng. Một hôm sáng sớm ta tìm không thấy tỷ, mới biết tỷ mất tích."
Công Tôn Trác Ngọc nhận ra có một người còn chưa được nhắc tới: "Lôi Toàn đâu?"
Lập tức có gia đinh trả lời: "Lôi phó quản gia về quê thăm thân rồi."
Công Tôn Trác Ngọc giật mình: "Hắn đi khi nào? Hắn bao nhiêu tuổi?"
Gia đinh suy nghĩ một lúc, đáp: "Khoảng ba, bốn ngày trước, phó quản gia bằng tuổi tiểu nhân, ba mươi tuổi tròn."
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ, vậy người chết không phải Lôi phó quản gia, vì dựa trên mức độ phân hủy của thi thể, người này đã chết ít nhất mười lăm ngày trước: "Hắn có nói khi nào quay lại không?"
Gia đinh lắc đầu: "Không rõ, chỉ biết hắn xin phép quản gia nghỉ sáu, bảy ngày, chắc khoảng ngày kia sẽ trở về."
Công Tôn Trác Ngọc bảo: "Khi nào hắn về, dẫn đến gặp ta. Đúng rồi, phòng của Đan Thu ở đâu, ta muốn xem qua."
Đan Thu đã mất tích, cần phải tìm ra tung tích của nàng trước.
Một nha hoàn mặc áo hồng liền lên tiếng: "Phòng của Đan Thu tỷ ở viện phía nam, đại nhân xin đi theo nô tỳ."
Nàng vừa dứt lời, đã dẫn đường đi trước. Qua hành lang, họ đến một cánh cửa viện yên tĩnh, nhẹ nhàng đẩy cửa vào. Nàng giơ tay áo che bụi bay vào mặt, vừa giải thích: "Đan Thu tỷ tỷ tuy tính tình hiền lành nhưng không thích ai động vào đồ của mình, là người có chủ ý lớn. Vì vậy, dù tỷ ấy mất tích, chúng ta cũng không dám tùy tiện quét dọn phòng của tỷ."
Công Tôn Trác Ngọc đáp: "Không sao, làm phiền cô nương rồi."
Đây là một căn phòng nữ tử bình thường, giường chiếu ngay ngắn, phảng phất mùi hương nồng đậm. Trên bàn trang điểm bày mấy lọ son phấn, trâm cài và trang sức chất trong một chiếc hộp, mọi thứ đều bình thường, không có gì lạ.
Công Tôn Trác Ngọc mở ngăn kéo, thấy bên trong có vài chiếc túi thơm tinh xảo, ngoài ra còn có một chiếc khăn tay của nam tử, thoang thoảng mùi thuốc nhè nhẹ. Anh không khỏi lên tiếng hỏi: "Sức khỏe của Đan Thu thế nào? Có phải bệnh lâu năm không?"
Nha hoàn áo hồng đáp: "Đan Thu tỷ tỷ đúng là mắc bệnh đau tim, từ lúc sinh ra đã vậy. Đại phu nói không thể chữa khỏi, chỉ có thể dùng thuốc dưỡng."
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy khẽ đáp "Ồ", như thể chỉ thuận miệng hỏi, không nói thêm gì. Anh tỉ mỉ kiểm tra giường, cuối cùng tìm thấy dưới gối một chiếc khăn tay thêu uyên ương song điệp, mép khăn hơi sờn, có vài chỗ phai màu, dường như đã cũ. Quan sát kỹ, có thể thấy vài vệt nước mắt mờ nhạt ở rìa.
Uyên ương và bướm luôn là biểu tượng của đôi lứa yêu nhau, tình cảm mặn nồng. Nhưng tại sao trên khăn lại có những dấu vết đẫm lệ? Lẽ nào nàng đau khổ vì tình?
Chương 176
Hiện giờ có hai nghi vấn đang làm Công Tôn Trác Ngọc bận tâm.
Thứ nhất, nam tử chết kia rốt cuộc là ai?
Thứ hai, Đan Thu mất tích đã lâu rốt cuộc đang ở đâu?
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ rằng vụ án này điều tra hẳn là khá nhọc nhằn, đối với một kẻ lười nhác như anh quả thật là một loại tra tấn, nhưng vừa nghĩ đến lời Đỗ Lăng Xuân nói rằng nếu tra ra chân tướng thì có thể vào kinh nhậm chức, anh lại tràn đầy hăng hái.
Anh cẩn thận lục soát một lần nữa căn phòng của Đan Thu, cuối cùng ở dưới đáy hộp trang sức phát hiện mấy tờ đơn thuốc, thấy không hiểu gì, liền gấp lại nhét vào tay áo, chuẩn bị đến y quán trong trấn để hỏi.
Giang Châu nơi này nói lớn không lớn, nói nhỏ không nhỏ, nếu muốn ra khỏi thành nhất định phải có giấy thông hành của quan phủ. Đan Thu mất tích mới ba ngày, bất luận sống chết, người chắc chắn vẫn còn ở trong thành Giang Châu. Hơn nữa nàng mắc chứng đau tim, mỗi ngày đều phải uống thuốc, điều tra từng nơi một ắt hẳn sẽ tìm được manh mối.
Công Tôn Trác Ngọc vừa bước ra khỏi cửa, không biết nghĩ tới điều gì, lại quay vào, lấy từ trong ngăn kéo của Đan Thu một chiếc khăn tay của nam nhân. Nền vải xanh thẫm, góc dưới bên phải thêu một chữ "Toàn" nhỏ.
Toàn? Chẳng lẽ là Toàn trong Lôi Toàn?
Công Tôn Trác Ngọc ra khỏi cửa, thầm nghĩ ba ngày quả thật có chút gấp gáp, thấy Thạch Thiên Thu đang đứng canh bên ngoài, liền bước lên nói:
"Đại sư phụ, có chuyện này cần nhờ ngươi chạy một chuyến."
Thạch Thiên Thu: "Đại nhân cứ việc phân phó."
Công Tôn Trác Ngọc: "Theo lời gia đinh trong phủ nói, Lôi Toàn về Tĩnh Châu thăm thân, ngày trở về chưa rõ, ta lo rằng hắn về trễ sẽ không kịp để ta giao phó với Đỗ tư công."
Thạch Thiên Thu suy nghĩ một lát, đáp: "Chuyện này không khó, Tĩnh Châu không xa, ta cùng vài sư phụ khác đi một chuyến, dẫn Lôi Toàn về đây cho đại nhân thẩm vấn là được."
Họ có khinh công, tốc độ tất nhiên nhanh hơn nha dịch bình thường nhiều.
Công Tôn Trác Ngọc cười tươi như hoa, vui mừng nhảy nhót: "Vậy thì phiền các vị sư phụ."
Trong thành Giang Châu có tổng cộng hai mươi bốn đại y quán, tiểu y quán lẻ tẻ cộng lại cũng mười lăm, mười sáu nhà. Công Tôn Trác Ngọc tìm mấy nha hoàn thường ngày thân cận với Đan Thu hỏi chuyện, biết được nàng hay lấy thuốc ở Ký Dân Đường, liền tìm tới đó.
Đã điều tra, tất nhiên không thể kinh động tới người khác.
Công Tôn Trác Ngọc giả làm công tử nhà giàu rảnh rỗi, vừa đi dạo vừa trêu chó chọc mèo trên phố, cuối cùng cũng tìm được tới trước cửa Ký Dân Đường. Anh "soạt" một tiếng mở quạt giấy trong tay, từ từ phe phẩy hai cái, thấy bên trong không đông bệnh nhân lắm, liền đi thẳng vào.
"Đại phu đâu rồi?"
Ngồi đó là một ông lão áo vải, đội mũ vuông vắn, đang dùng cối giã thuốc. Thấy Công Tôn Trác Ngọc bước vào, ông liền đứng dậy đi ra: "Lão phu đây, công tử tới khám bệnh sao?"
Công Tôn Trác Ngọc ậm ừ một tiếng: "Gần đây ta thường đau ngực."
Ông lão đáp: "Nếu vậy, mời công tử ngồi, lão phu sẽ bắt mạch cho ngài."
Công Tôn Trác Ngọc vừa nhìn ngó xung quanh vừa đặt tờ đơn thuốc trong lòng lên bàn, cố tình nói: "Không cần bắt mạch đâu, ta với biểu muội ở nhà mắc cùng bệnh, nàng dùng phương thuốc này của ông mà khỏi, ông cứ theo y đơn thuốc mà bốc là được."
Ông lão thấy anh nói chuyện khí sắc hồng hào, môi hồng răng trắng, thật không giống người mắc chứng đau ngực. Ông cầm đơn thuốc xem qua một lúc, lắc đầu vuốt râu nói: "Ồ... Quả là đơn thuốc ở chỗ ta, nhưng công tử vẫn nên để lão phu bắt mạch thì hơn, dù cùng bệnh, thuốc không thể tùy tiện uống."
Công Tôn Trác Ngọc không lộ sơ hở, bâng quơ hỏi: "Đơn thuốc này là do ngươi kê sao?"
Ông lão đáp: "Không phải, lão phu chuyên trị bệnh nhi, nếu chữa chứng đau ngực, đại phu họ Ngu mới là người xuất sắc nhất. Đơn thuốc này chính là do hắn nghiên cứu. Nhưng hắn đang cùng người khác đi thu mua dược liệu, không có trong tiệm, công tử có thể chờ một lát."
"Không sao." Công Tôn Trác Ngọc làm như vô tình hỏi: "Vậy ngươi có từng gặp biểu muội của ta chưa, nàng hay tới đây lấy thuốc, chính là phương thuốc này, lần sau nhớ bớt cho ta chút nhé."
Ông lão vuốt râu cười đáp: "Phải chăng là cô nương Đan Thu?"
Công Tôn Trác Ngọc mắt sáng rỡ: "Đúng vậy, ngươi cũng biết nàng sao?"
Ông lão nói: "Người mắc chứng đau ngực không nhiều, huống hồ cô nương ấy cách ba ngày lại tới đây lấy thuốc, lão phu tất nhiên nhận ra, chỉ là không nghe nàng nói có một người ca ca."
Công Tôn Trác Ngọc nói dối mặt không đổi sắc: "Họ hàng xa, biểu ca, biểu ca... À, gần đây Đan Thu có tới đây lấy thuốc không?"
Ông lão nghĩ một lúc rồi đáp: "Nói cũng lạ, hình như mấy ngày nay nàng không tới."
Công Tôn Trác Ngọc nghe xong thì trầm ngâm suy nghĩ, im lặng một hồi, ngẩng lên lại thấy ông lão đang nhìn mình đầy nghi ngờ, anh vội ho một tiếng, giả vờ nói: "Chắc nàng có việc bận. Vậy thì để ta thay nàng lấy vài thang thuốc về, phiền ngươi theo phương thuốc mà bốc vài liều."
"Nếu vậy, lão phu sẽ bốc ba ngày thuốc."
Ông lão đứng dậy, cầm đơn thuốc đi đến bên các tủ thuốc, lần lượt lấy thuốc theo đơn. Ai ngờ đến vị thuốc cuối cùng là địa khương hoàng thì trong hộc tủ chỉ còn lại chút xíu, không khỏi lên tiếng nghi hoặc: "Ồ, sao lại thế này..."
Công Tôn Trác Ngọc chú ý hỏi: "Lão tiên sinh, thuốc có vấn đề gì sao?"
Ông lão thu tay lại, đóng nắp tủ thuốc, đáp: "Công tử đi chuyến này xem như uổng công, địa khương hoàng này ít khi dùng tới, lão phu lần trước xem còn, ai ngờ hôm nay nhìn lại thì chỉ còn chút xíu, e là không đủ."
Công Tôn Trác Ngọc hỏi: "Địa khương hoàng không thường dùng sao?"
Ông lão nói: "Công tử không biết đó thôi, địa khương hoàng dược tính đặc biệt, người làm nghề thuốc thông thường phải rất cân nhắc, cả năm dùng chẳng được mấy lần, cho nên nhập hàng cũng không nhiều."
Công Tôn Trác Ngọc vốn không định mua thuốc: "Không sao, vậy để lần khác ta tới."
Nói xong anh xoay người rời đi, vừa lúc gặp một đoàn người đang chuyển dược liệu vào trong, thấp thoáng nghe tiếng ông lão hỏi: "Ngu đại phu, địa khương hoàng sao lại hết rồi?"
Một thanh niên đáp: "Ồ, ta thấy thuốc bị ẩm nên đã bỏ đi rồi."
Ông lão thở dài nặng nề: "Đáng tiếc, đáng tiếc! Tuy bị ẩm nhưng vẫn còn tác dụng, lần sau đừng bỏ nữa."
Công Tôn Trác Ngọc chưa đi xa, nghe thấy những lời ấy, không khỏi khựng lại, quay đầu nhìn, chỉ thấy một nam tử mặc áo vải xanh đang bị quở trách, đoán chắc hẳn là Ngu đại phu – người kê đơn cho Đan Thu.
Công Tôn Trác Ngọc đứng trước cửa tiệm, dùng quạt nhẹ gõ lên lòng bàn tay, trầm ngâm suy nghĩ. Sau cùng, anh quyết định tìm một chỗ đối diện y quán để ngồi quan sát động tĩnh của vị đại phu họ Ngu kia.
Tại quán trà bên đường, tiểu nhị nhanh nhảu dâng lên một chén trà mát: "Khách quan, hai đồng tiền một chén."
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy, khóe mắt giật giật, nhướng mày nhìn hắn, vẻ mặt đầy kinh ngạc, quạt trong tay cũng vung vẩy không ngừng: "Ngươi có biết ta là ai không mà dám đòi tiền ta?"
Đường đường là tri huyện Giang Châu, nói ra không sợ dọa chết ngươi sao!
Tiểu nhị thật thà lắc đầu: "Không biết, nhưng thưa khách quan, dù là thiên vương lão tử đến đây, uống trà cũng phải trả tiền."
Công Tôn Trác Ngọc không tin: "Nếu quan tri phủ của các ngươi đến đây uống trà, ngươi cũng dám đòi tiền sao?"
Tô Đạo Phủ vốn nổi tiếng tham lam, khét tiếng khắp vùng, danh tiếng vô cùng tệ hại.
"Ai cơ? Tri phủ?" Tiểu nhị bĩu môi, móc tai, "Đó chẳng qua là một con chó, chó uống trà, ngươi có thể đòi tiền chó sao?"
Công Tôn Trác Ngọc bật cười, tiếp lời:
"Thế còn vị tri huyện Giang Châu anh minh thần võ, phong lưu tuấn tú là ta thì sao? Nếu ta uống trà ở đây, ngươi có thu tiền không?"
Dĩ nhiên là không thu, bởi vì...
"Hắn chẳng qua là một đống phân chó thối!" Tiểu nhị vừa nói vừa phủi sạch sẽ khăn lau vai mình, "Dân không đấu với quan, ta cũng không muốn đôi co với phân chó."
"..."
Nụ cười của Công Tôn Trác Ngọc lập tức đông cứng, quạt trong tay cũng không còn vung vẩy nổi nữa. Anh thầm nghĩ: "Tên dân đen này thật to gan! Không cho vào nhà lao dạy dỗ tử tế thì đúng là không biết trời cao đất dày!" Định đập bàn quát lớn:
"Ngươi đúng là đồ gian..."
Lời còn chưa dứt, anh bỗng thoáng thấy bóng dáng quen thuộc trong sắc áo tím đi ngang qua tầm mắt. Từ ngữ nghẹn lại nơi cuống họng, Công Tôn Trác Ngọc lập tức nuốt ngược xuống, vội vàng cầm quạt đuổi theo.
Tiểu nhị nhanh tay kéo lại: "Này này này, khách quan, ngài chưa trả tiền mà!"
Công Tôn Trác Ngọc đành khựng lại, lục lọi khắp người tìm ra hai đồng tiền ném cho hắn: "Hai đồng tiền mà ngươi cũng keo kiệt tính toán, đồ hẹp hòi!"
Tiểu nhị lắc đầu, lẩm bẩm: "Người gì kỳ lạ thật."
Đỗ Lăng Xuân vừa mới hoàn thành việc thanh trừng một nhóm loạn đảng tiền triều, lại vừa thẩm vấn phạm nhân xong, định rời khỏi đại lao. Không ngờ, chưa đi được bao xa y đã gặp Công Tôn Trác Ngọc trên đường, liền bật cười nhẹ: "Công Tôn đại nhân, thật khéo quá."
Y hôm nay mặc một bộ áo bào trắng, bên ngoài khoác lớp sa tím mỏng, eo đeo đai ngọc, cả người toát lên vẻ cao quý không tả xiết. Dáng vẻ của y càng trở nên mơ hồ giữa nam và nữ, kèm theo chút yêu khí khiến người ta không thể đoán nổi.
Công Tôn Trác Ngọc vẫn trung thành với phong cách giản dị, vận bạch y tinh khôi, gọn gàng, mang dáng vẻ công tử con nhà giàu. Anh phe phẩy quạt xếp, cố ý làm như tình cờ gặp: "Ái chà, thật là trùng hợp. Không biết Đỗ đại nhân từ đâu tới?"
Đỗ Lăng Xuân không trả lời ngay, chỉ chậm rãi thu tay vào trong tay áo, nhàn nhạt đáp: "Công Tôn đại nhân thông minh như vậy, sao không thử đoán xem?"
Dường như y không muốn nói ra rằng mình vừa giết người xong.
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy, liền lặng lẽ quan sát. Anh thấy đằng sau Đỗ Lăng Xuân có một đội hộ vệ nhỏ, vài người trong số họ còn mang thương tích, rõ ràng vừa trải qua một trận ác chiến.
Họ đến từ hướng đông, mà hướng đó lại chính là nhà lao của phủ nha.
Vậy đi nhà lao làm gì?
Công Tôn Trác Ngọc khẽ ngửi, phát hiện trên người Đỗ Lăng Xuân còn vương mùi máu tanh nhàn nhạt, rất mới. Làm quan Đề Đốc, mục đích y đến Giang Châu chính là để quét sạch loạn đảng, vậy đến nhà lao dĩ nhiên không phải để vi hành dân tình.
Công Tôn Trác Ngọc mỉm cười: "Đỗ đại nhân thanh trừng loạn đảng có thuận lợi không? Đám người ấy võ công không kém, nhất định phải canh giữ cẩn thận. Ngục thất của Giang Châu hơi cũ, tốt nhất là nên gia cố sớm."
Đỗ Lăng Xuân nhướn mày, cảm thấy trước mặt Công Tôn Trác Ngọc, mình chẳng còn bí mật nào: "Sao ngươi biết được?"
Công Tôn Trác Ngọc lúc này lại tỏ vẻ khiêm tốn: "Chỉ là suy đoán bừa, đúng sai do may mắn thôi."
Đỗ Lăng Xuân khẽ động tay trong ống tay áo, nhàn nhạt cười: "Ngươi thật thông minh. Nhưng ngục thất không cần gia cố đâu."
Bọn loạn đảng đó đã chết cả rồi.
Một cơn gió nhẹ thổi qua, xua đi mùi máu tanh nhàn nhạt vương trên tay áo y.
Đỗ Lăng Xuân dường như nhớ ra gì đó, đột nhiên hỏi: "Công Tôn đại nhân không lo phá án, sao lại nhàn rỗi đi dạo ngoài đường?"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm: "Nhất định không để cấp trên nghĩ mình đang lười biếng chơi bời!" Liền vội giơ quạt, chỉ về phía cửa tiệm thuốc: "Hạ quan đang giám sát nghi phạm."
Vừa nói xong, vừa khéo thấy Ngu đại phu kia bước ra khỏi y quán. Hắn nhìn quanh một lúc rồi đi về hướng Nam, không biết định làm gì.
Công Tôn Trác Ngọc liền nói: "Người hạ quan để mắt chính là hắn."
Đỗ Lăng Xuân tỏ vẻ hứng thú: "Đó là nghi phạm sao?"
Công Tôn Trác Ngọc cẩn thận không khẳng định: "Chỉ biết hắn có liên quan đến vụ án."
Đỗ Lăng Xuân chưa từng xem người khác phá án, cảm thấy rất mới mẻ: "Vậy thì để ta cùng ngươi xem sao."
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy, mí mắt giật giật, ngập ngừng nhìn về phía đội hộ vệ sau lưng y: "Đỗ tư công, bám theo người không cần mang nhiều người như vậy..."
Đỗ Lăng Xuân phất tay áo, thản nhiên nói: "Đơn giản thôi, bảo họ không cần đi theo là được."
Một hộ vệ trong đội vội lên tiếng:
"Tư công, không thể..."
Dù loạn đảng đã bị tiêu diệt, Giang Châu vẫn không phải địa bàn của họ, nếu bị kẻ có mưu đồ để ý, chỉ e sẽ có biến lớn.
Đỗ Lăng Xuân nhàn nhạt nhìn hắn, giọng điệu thờ ơ: "Các ngươi cứ ẩn vào bóng tối. Loạn đảng đã diệt, sẽ không có chuyện gì lớn."
Hộ vệ đành nghe lệnh.
Thế là việc một người theo dõi bỗng dưng trở thành hành động tập thể một cách kỳ lạ.
Công Tôn Trác Ngọc và Đỗ Lăng Xuân giữ khoảng cách ba năm bước, lặng lẽ theo sát Ngu đại phu. Hắn đi hết ngõ này sang ngõ khác, lòng vòng không biết bao nhiêu đường, cuối cùng dừng chân trước...
... một kỹ viện.
Chương 177
Công Tôn Trác Ngọc có thể thề với trời rằng đời này anh chưa từng lâm vào cảnh ngượng ngùng đến thế. Chứng kiến vị đại phu kia bước vào chốn phong hoa tuyết nguyệt, anh đứng ở cửa, đôi chân như bị đổ chì, không sao nhấc nổi.
"Tư công..."
Công Tôn Trác Ngọc bất giác nhớ ra người bên cạnh là một hoạn quan, đôi môi vốn lanh lẹ giờ bỗng trở nên lắp bắp, hai tay cứ không ngừng vò vào nhau, do dự lên tiếng: "Nơi này... ô uế quá, chi bằng... chi bằng chúng ta về trước đi..."
Giọng nói rất nhỏ, như thể vừa phạm phải lỗi lầm nào đó.
Đỗ Lăng Xuân không đáp, chỉ nghiêng mắt liếc anh một cái, chẳng rõ đang nghĩ gì, nhưng giọng điệu nghe không rõ hỉ nộ: "Không phải muốn đuổi theo nghi phạm sao? Ngươi đứng ngoài cửa thì đuổi kiểu gì?"
Nói xong, y lạnh lùng phất tay áo, bước thẳng vào trong.
Công Tôn Trác Ngọc đành phải theo sau, trong lòng thầm tự trách: "Bảo ngươi theo, bảo ngươi theo, lại đi theo người ta đến tận thanh lâu thế này, đúng là khổ hết sức!"
Phong Nguyệt Lâu là nơi phồn hoa sa đọa, dưới lầu tiếng nhạc ngọt ngào réo rắt, các cô đào đang cất giọng ca những bài từ ngữ tr.ần tr.ụi, khiến người ta đỏ mặt tía tai.
Từ khi bước chân vào, Đỗ Lăng Xuân với dáng vẻ phong thái quý phái đã lập tức trở thành mục tiêu của các cô nương chuyên chèo kéo khách. Họ ba ba năm năm cười nói vây lấy y, cố dựa sát vào:
"Ôi chao, vị công tử này xem chừng lạ mặt, chắc là lần đầu đến đây nhỉ."
"Nô gia biết đàn ca, công tử có muốn nghe một khúc không?"
Những cô nương mềm mại như không có xương, chiếc khăn lụa trong tay không ngừng bay múa, phảng phất đầy mùi hương son phấn, hết sức khéo léo mà khơi gợi.
Khuôn mặt Đỗ Lăng Xuân lập tức tối sầm, nhìn kỹ còn thoáng có nét âm u tàn nhẫn. Y lạnh lùng buông một tiếng: "Cút!"
Cô nương không vừa lòng, bĩu môi trêu ghẹo: "Ôi trời, đã bước chân vào nơi này mà còn làm bộ chính nhân quân tử. Công tử xem mình trắng trẻo mịn màng như thế, giống hệt nữ tử, chi bằng sang phố Thanh đối diện thì hơn."
Phố Thanh là nơi dành cho tiểu quan, tụ tập toàn kẻ đoạn tụ.
Đỗ Lăng Xuân không phải người bản địa ở Giang Châu, nghe vậy liền hơi nheo mắt lại, một lúc sau mới hiểu ra ý trong lời nói. Y định nói gì đó, nhưng bỗng dưng cánh tay bị ai đó nắm lấy, cả người lập tức ngã vào một vòng ngực phảng phất mùi thanh mát của tùng hương.
Công Tôn Trác Ngọc nào dám để vị sát thần này bị chọc giận, lập tức đỡ lấy y, vừa bảo vệ vừa chắn những cánh bướm ong bay vờn: "Các vị cô nương, thật có lỗi. Bạn ta tính tình rụt rè, mong các ngươi đừng dọa y."
Cô nương phe phẩy khăn lụa: "Công Tôn đại nhân, ngài nói vậy chúng tôi tất nhiên phải nghe, chỉ mong sau này đại nhân thường xuyên đến chơi, chiếu cố cho bọn nô gia nhiều hơn."
Nghe xong câu này, chẳng khác nào ngầm bảo rằng anh thường xuyên đến đây tìm vui.
Công Tôn Trác Ngọc trừng mắt nhìn nàng, nghiêm nghị nói: "Ăn nói bậy bạ, bản đại nhân chưa từng bước chân vào chốn phong trần này!"
Cô nương bật cười, khẽ đập tay vào ngực anh một cái, làm bộ giận dỗi: "Nô gia tháng trước còn thấy ngài ngồi đây uống rượu mà."
Rượu đó còn chưa trả tiền.
"Thật sao," Công Tôn Trác Ngọc híp mắt, nhấn mạnh từng chữ, "Tháng trước bản quan bận điều tra vụ nữ đạo tặc trộm quan ấn, chỉ gặp mặt nghi phạm. Ngươi nói gặp ta, chẳng lẽ ngươi cũng là..."
"Ôi, đại nhân!" Cô nương bị dọa vội vàng xua tay, "Là nô gia nói sai, chưa từng gặp đại nhân bao giờ, đáng đánh, đáng đánh!"
Công Tôn Trác Ngọc hừ một tiếng, thu lại ánh mắt, quay sang nhìn Đỗ Lăng Xuân, thấp giọng cung kính nói: "Tư công, chúng ta lên lầu đi. Trên đó có nhã gian, nơi này quá đông đúc hỗn tạp."
Khuôn mặt Đỗ Lăng Xuân vẫn không chút sắc hồng, nghe vậy chỉ khẽ cười lạnh: "Thật không ngờ, Công Tôn đại nhân lại là kẻ phong lưu như thế."
Công Tôn Trác Ngọc đưa tay sờ sống mũi: "Không phải hạ lưu là được rồi..."
Giọng nói rất nhỏ, chỉ mình anh nghe thấy.
Để tránh những cô nương không biết điều lại lao vào Đỗ Lăng Xuân, Công Tôn Trác Ngọc liền luôn túc trực bên cạnh, giơ tay chắn giữa y và những kẻ say xỉn đang nghiêng ngả.
Đỗ Lăng Xuân xưa nay không thích gần gũi người khác, đến cả gia nhân cũng không được phép phục vụ quá gần. Lúc này bị Công Tôn Trác Ngọc bảo vệ sát bên, không tránh khỏi va chạm.
Tránh không được, né không xong, chỉ có mùi hương thanh mát của tùng hương vấn vít quanh người, khiến lòng y bỗng chốc bồn chồn khó tả.
Đỗ Lăng Xuân nhíu mày.
Đến khi lên đến lầu hai, Công Tôn Trác Ngọc mới buông tay, nhìn quanh một lượt rồi chợt phát hiện ra một vấn đề: "Tư công..."
Đỗ Lăng Xuân hoàn hồn, nhướng mày hỏi: "Hử?"
Công Tôn Trác Ngọc nói: "Chúng ta hình như để mất người rồi..."
Trên lầu hai là những gian phòng kín mít, cửa đóng chặt. Chỉ một chút lộn xộn ở dưới lầu, Ngu đại phu kia đã biến mất không dấu vết. Chẳng lẽ lại gõ từng cửa mà hỏi?
Đỗ Lăng Xuân nhướn mày, thản nhiên nói: "Chuyện này có gì khó."
Y rút từ trong tay áo ra một thoi vàng, keng một tiếng ném vào khay của cô tỳ nữ đang bê rượu ngang qua, nhẹ nhàng hỏi: "Vừa rồi có một người áo xanh đi qua, hắn vào phòng nào?"
Thoi vàng này rõ ràng không phải dùng để tiêu xài, mà là vật thưởng cho cung nữ trong cung, chỉ nhỏ bằng ngón tay cái, chạm khắc hình chữ Phúc rất tinh xảo.
Tỳ nữ trợn to mắt, còn Công Tôn Trác Ngọc thì xót ruột đến xanh cả mặt.
Tỳ nữ lắp bắp đáp: "Bẩm đại gia, hắn... hắn vào phòng chữ Trúc."
Công Tôn Trác Ngọc xót đến mức đưa tay định lấy lại, nhưng tỳ nữ đã nhanh chóng ôm khay chạy mất, như sợ bị đổi ý.
Công Tôn Trác Ngọc nắm chặt tay: "... Đau lòng quá!"
Đỗ Lăng Xuân khoanh tay chậm rãi bước về phía phòng chữ Trúc, thản nhiên nói: "Có tiền có thể sai quỷ khiến ma, thế gian này không có chuyện gì tiền không giải quyết được. Nếu có, vậy thì là ngươi chưa trả đủ giá mà thôi."
Thật hiếm khi hai người lại có cùng một góc nhìn lệch lạc đến thế.
Công Tôn Trác Ngọc chạy theo phụ họa:
"Tư công nói chí phải, chí phải."
Ngay phòng bên cạnh phòng chữ Trúc còn trống, hai người lập tức gọi mụ tú bà đặt gian đó. Vì Đỗ Lăng Xuân ra tay hào phóng, mụ tú bà cười đến nỗi không thấy mắt đâu: "Đại gia, có cần gọi vài cô nương đến hầu rượu không?"
Công Tôn Trác Ngọc vội vàng đáp: "Không cần, không cần một ai, không có chuyện gì thì đừng quấy rầy."
Mụ tú bà đáp liền ba tiếng "được", vừa cười vừa nói: "Ngài là tri huyện, ngài nói gì cũng đúng."
Hóa ra Công Tôn Trác Ngọc rất quen thuộc với nơi này, ai ai cũng nhận ra anh.
Đỗ Lăng Xuân thấy mụ tú bà đi rồi, ngồi xuống bàn thấp bên cạnh, mỉm cười nhưng không phải cười: "Xem ra Công Tôn đại nhân là khách quen, ai cũng nhận ra ngài."
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm, chắc là vẫn còn nợ mấy trăm lượng tiền rượu ở đây, ai mà không nhớ được. Anh vừa đổ chén trà ra, vừa cười đáp: "Giang Châu này nhỏ lắm, dân chúng đương nhiên nhận ra quan phụ mẫu rồi."
Công Tôn Trác Ngọc nói xong, liền dùng khăn lau chén trà, sau đó đem đáy chén áp sát vào tường, áp tai lên nghe.
Đỗ Lăng Xuân bước tới, khom người ngồi xuống bên cạnh: "Công Tôn đại nhân làm gì vậy?"
Công Tôn Trác Ngọc ra hiệu im lặng, đặt ngón tay trước môi: "Điều tra lấy chứng cứ."
Nói trắng ra chính là nghe trộm.
Rõ ràng thời cổ đại không có kỹ thuật cách âm, tường lại mỏng, hễ đối diện nói gì, đại khái cũng có thể nghe được tám chín phần. Công Tôn Trác Ngọc vừa nghe, vừa hình dung cảnh tượng.
"Ngu công tử, mời uống trà." Một giọng nữ mềm mại, có lẽ là nữ tử chốn thanh lâu.
"Nguyệt cô nương, gần đây tại hạ bận rộn nhiều việc, không thể đến thăm, không biết phong hàn của cô đã đỡ hơn chưa?" Một giọng nam trẻ tuổi, hẳn là Ngu đại phu.
Nguyệt khẽ ho hai tiếng: "Đã đỡ nhiều rồi, đa tạ ngài công tử quan tâm."
Lời nàng vừa dứt, bỗng vang lên tiếng mở cửa, tiếp theo là giọng nói đầy châm biếm của mụ tú bà: "Ôi chao, chẳng phải Ngu đại phu đây sao, hôm nay thế nào lại rảnh đến thăm Nguyệt vậy?"
Ngu đại phu bối rối ấp úng đáp: "Tại hạ... tại hạ..."
Nguyệt hạ giọng nói: "Mụ mụ, công tử đến thăm bệnh ta."
Mụ tú bà càng thêm châm chọc: "Nơi này của chúng ta là làm ăn có tiền, không phải buôn bán lỗ vốn. Hắn đến xem bệnh cho ngươi, chẳng lẽ lại muốn ta đưa tiền khám cho hắn sao? Ngày ngày bám dính không biết xấu hổ, ếch ngồi đáy giếng mà mơ ăn thịt thiên nga, gặp giai nhân mà không cần trả bạc à!"
Câu sau rõ ràng là nói Ngu đại phu.
Ngu đại phu lúng túng, nghe tiếng động, hẳn là đã đưa bạc ra: "Mụ mụ, đây là bạc."
Mụ tú bà chống nạnh, thở dài: "Hầy, từng này bạc nhỏ nhoi, đủ làm gì chứ? Hay là học theo Công Tôn đại nhân ở phòng bên kia, người ta ra tay hào phóng, đưa hẳn một thỏi vàng đấy!"
Ngu đại phu bỗng nhiên cảnh giác, cất tiếng hỏi: "Công Tôn đại nhân?!"
Mụ tú bà: "Sao, huyện lệnh Giang Châu mà ngươi không nhận ra à?"
Hỏng rồi, bị phát hiện rồi! Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ mụ tú bà này đúng là miệng còn lỏng hơn dây lưng, lập tức ném chén trà, đang chuẩn bị kéo Đỗ Lăng Xuân rời khỏi nơi đây, nào ngờ bên ngoài đột nhiên vang lên tiếng gõ cửa: "Cộc cộc cộc——"
Đỗ Lăng Xuân nhíu mày, hạ giọng hỏi Công Tôn Trác Ngọc: "Bị phát hiện rồi?"
Công Tôn Trác Ngọc gật đầu, nhân tiện ghé mắt nhìn qua khe cửa, không thấy rõ diện mạo, chỉ thấy người đến mặc áo xanh, không tiếng động mấp máy môi: "Là nghi phạm."
Đỗ Lăng Xuân chậm rãi siết chặt đầu ngón tay, dứt khoát nói: "Bắt hắn ngay."
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ không thể bắt, manh mối còn chưa tra được, anh nghe tiếng gõ cửa bên ngoài càng lúc càng dồn dập, sốt ruột tựa như kiến bò trên chảo nóng. Chợt nhìn thấy chiếc giường bên cạnh, một ý nghĩ lóe lên trong đầu.
"Xin tư công chịu thiệt một chút."
Chịu thiệt? Thiệt thòi cái gì?
Đỗ Lăng Xuân còn chưa kịp hỏi, cổ tay bỗng dưng bị siết chặt, ngay sau đó bị người kéo lên giường. Tầm nhìn đảo lộn, rơi vào chăn gấm mềm mại, còn chưa kịp phản ứng, một chiếc chăn thêu hoa đã phủ kín người, toàn bộ chìm vào bóng tối.
Đỗ Lăng Xuân kéo chăn xuống, nhưng thấy Công Tôn Trác Ngọc đang cởi thắt lưng, sắc mặt lập tức thay đổi: "Tên khốn, ngươi định làm gì!"
"Suỵt——"
Công Tôn Trác Ngọc chỉ cởi áo ngoài và áo lót bên trong, sau đó chui vào chăn, lấy chăn phủ kín đầu Đỗ Lăng Xuân, vừa tháo búi tóc y, vừa cởi áo y: "Tư công xem như vì điều tra chân tướng mà chịu thiệt vậy."
Chuyện nhỏ như con kiến, sợ gì, đều là nam nhân cả.
Công Tôn Trác Ngọc từng luyện võ, ba lần bảy lượt đã c.ởi sạch y phục của Đỗ Lăng Xuân, khiến người sau dù vùng vẫy cũng không thoát được. Sau đó, hắn nhặt chén rượu bên cạnh, ném ra bật chốt cửa, giọng nói mất kiên nhẫn: "Ai đấy!"
Ngu đại phu đứng ngoài cửa, ló đầu vào nhìn.
Dưới chăn gấm lộ rõ hai người đang quấn lấy nhau, Công Tôn Trác Ngọc nửa thân trần, hiển nhiên đang cao hứng, trong lòng ôm chặt một "nữ tử", không thấy rõ mặt, chỉ thấy mái tóc đen dài như lụa xõa ra, để lộ nửa bờ lưng trắng nõn gầy guộc.
Màu đen sâu thẳm, màu trắng chói mắt.
Công Tôn Trác Ngọc lạnh lùng quát: "Kẻ nào không muốn sống mà gõ cửa, làm mất hứng của bản đại nhân, thì dù có mười cái đầu cũng không đủ chém đâu!"
Hẳn là chỉ đơn thuần tới tìm kỹ nữ.
Ngu đại phu cúi đầu, che mặt mình, nhỏ giọng lầm bầm: "Đại nhân thứ tội, tại hạ đi nhầm đường."
Nói xong khép cửa lại, tiếng kẽo kẹt khẽ vang lên, căn phòng lần nữa rơi vào tĩnh lặng.
Ngoại trừ thuở nhỏ chịu hình cung, cả đời Đỗ Lăng Xuân chưa từng có lúc nào nhục nhã đến vậy. Y thấy nghi phạm rời đi, cuối cùng nhịn không được tức giận quát lên: "Công Tôn Trác Ngọc, ngươi đúng là tên khốn——"
Y thân mang tàn tật, dĩ nhiên không muốn bị người khác đụng chạm hay nhìn thấy. Thậm chí người hầu hạ cũng không dám tới gần bên mình. Nhưng nay Công Tôn Trác Ngọc chẳng những tới gần, còn chạm vào, chẳng những chạm vào, mà còn dám động tay động chân!
Công Tôn Trác Ngọc đại khái hiểu được vì sao Đỗ Lăng Xuân phát giận, vội vàng giải thích: "Tư công, Trác Ngọc không hề có ý mạo phạm."
Anh xưng danh tự, không xưng "hạ quan".
Giây phút này, Công Tôn Trác Ngọc thật sự không hề có cảm giác kinh hãi vì mạo phạm thượng quan, chỉ đơn thuần cảm thấy bản thân đã vượt qua giới hạn của người khác, muốn giải thích, muốn xin lỗi.
Hai người sát gần nhau, hơi thở đan xen, quấn quýt khó phân. Trên người Đỗ Lăng Xuân vẫn còn mùi máu tanh khó xua, nhưng lại bị một mùi hương trầm áp xuống. Y bị ép nằm bên dưới, áp sát thân hình rắn chắc của Công Tôn Trác Ngọc, vừa giận, vừa thẹn, nửa ngày sau nghiến răng nói ra hai chữ: "Tránh ra!"
Công Tôn Trác Ngọc thuận thế đứng dậy, tiện tay kéo Đỗ Lăng Xuân lên. Hắn cảm thấy chuyện chẳng có gì to tát, hai nam nhân thôi mà, chạm nhau có gì đâu, nhưng không chịu được Đỗ Lăng Xuân lòng dạ mẫn cảm.
"Tư công, hạ quan đáng chết, hạ quan đáng chết."
Đỗ Lăng Xuân chẳng thèm để ý đến anh, xoay lưng lại tự mình bình ổn cảm xúc, sau đó nhanh chóng khoác áo ngoài, sắc mặt trầm đến mức có thể chảy ra nước. Nhìn kỹ thì tay phải y vẫn không khống chế được mà run rẩy, chẳng cách nào thoát khỏi sự hoảng loạn xâm chiếm mỗi khi bị ai đó chạm gần.
Bệnh cũ không thể chạm vào, chạm vào ắt tổn thương.
Không một thái giám nào có thể thản nhiên đối mặt với việc này. Dẫu cho Đỗ Lăng Xuân đã đứng ở vị trí rất cao, rất rất cao, y vẫn để tâm đến chuyện này...
Hai chữ "hoạn quan" là nỗi đau khắc cốt ghi tâm, cả đời không thể xóa bỏ của y, vậy mà những ngôn quan và ngự sử lại như đã nhìn thấu điều đó, nhắm thẳng vào chỗ đau của y mà dồn sức giày xéo. Chúng mắng y một lần, Đỗ Lăng Xuân tức giận một lần; mắng mười lần, y tức giận mười lần; mắng vạn lần, y sẽ giận vạn lần.
Chưa bao giờ sai lệch.
Tấm áo tím vội vã phủ lên thân hình. Công Tôn Trác Ngọc ban đầu chỉ lén lút quan sát Đỗ Lăng Xuân xem y có đang tức giận không, nào ngờ lại đột nhiên thấy nơi cổ y hiện lên một nốt ruồi son đỏ thẫm, nổi bật trên làn da trắng như tuyết. Một tia sáng lóe qua trong tâm trí anh, theo bản năng nắm chặt lấy bờ vai y: "Là ngươi?!"
Kiếp trước, tại ngục chiếu của năm Vĩnh Tĩnh thứ bảy, bọn họ từng gặp mặt một lần.
Chương 178
Có lẽ bởi vì đó là người cuối cùng anh nhìn thấy trước khi chết, Công Tôn Trác Ngọc vẫn nhớ rất rõ.
Anh không nhìn rõ mặt đối phương, cũng không nhớ nổi giọng nói của người ấy, chỉ trong khoảnh khắc cận kề cái chết, thấy một đoạn cổ trắng nõn, nơi dưới yết hầu hiện rõ một nốt ruồi son đỏ tươi, như máu đông, rực rỡ trong ánh sáng yếu ớt của ngục tối.
Mặc dù cuối cùng Công Tôn Trác Ngọc vẫn xui xẻo mà chết, nhưng điều đó không ngăn được anh dành chút thiện cảm cho người kia. Nay phát hiện ra đó là Đỗ Lăng Xuân, trong ngạc nhiên vui mừng lại xen lẫn vài phần không thể tin được, nhưng nghĩ kỹ thì cũng hợp tình hợp lý.
Phàm là trọng phạm triều đình, đều bị giao cho Kinh Luật Tư thẩm tra xử lý. Có thể trong một ngục giam nghiêm ngặt như vậy mà dễ dàng miễn tội cho mình, ngoài Đỗ Lăng Xuân ra, không thể là ai khác.
Bờ vai bị Công Tôn Trác Ngọc nắm đến đau nhói, Đỗ Lăng Xuân nhíu mày mà không biểu lộ ra, giọng y trầm xuống: "Công Tôn Trác Ngọc—"
Thông thường, ai gọi y bằng cả họ tên, tức là đối phương đã tức giận.
Công Tôn Trác Ngọc vô thức buông tay, phản ứng lại, chậm hơn một nhịp mà giải thích: "Ta... ta chỉ giúp tư công chỉnh sửa y phục."
Lời này vừa nói ra, không thấy chỉnh y phục đâu, chỉ thấy lột y phục là giỏi.
Đỗ Lăng Xuân nhanh chóng mặc lại áo, búi tóc tán loạn không thể chỉnh sửa, chỉ đành để xõa trên vai. Y đoán rằng mình đã ở nơi bực bội này đủ lâu, nổi giận đùng đùng đóng cửa bước ra, khi đi ngang qua Công Tôn Trác Ngọc, ống tay áo khẽ phất lên một làn gió lạnh.
Thật tai họa, rất có khả năng ảnh hưởng đến con đường làm quan.
Công Tôn Trác Ngọc cuống cuồng mặc lại áo, vừa vặn thấy trâm cài tóc của Đỗ Lăng Xuân rơi trên gối, nghĩ thầm món đồ quý thế này mà vứt đi thì phí quá, bèn tiện tay nhét vào tay áo, sau đó vội vàng đuổi theo.
"Tư công, tư công."
Đỗ Lăng Xuân vừa bước khỏi kỹ viện, lập tức nghe thấy Công Tôn Trác Ngọc đuổi theo, nhưng nhớ lại chuyện vừa rồi, lòng đầy bối rối và khó chịu. Nghe tiếng gọi, y nhíu mày, giọng lạnh lùng: "Còn việc gì?"
Công Tôn Trác Ngọc hiển nhiên không muốn chọc giận vị quý nhân vàng ngọc này, bắt đầu trút giận lên đầu kẻ khác, vẻ chính trực nghiêm nghị mà nói: "Kẻ tình nghi kia thật không biết xấu hổ, lui tới chốn kỹ viện, khiến tư công chịu uất ức như thế, thật đáng chết. Hạ quan nhất định sớm bắt hắn, trả lại công đạo cho tư công."
Nếu họ không đi kỹ viện, sao có thể xảy ra chuyện này? Xét cho cùng, đều là lỗi của kẻ họ Ngu kia. Sai trời, sai đất, nhất định không sai tới Công Tôn Trác Ngọc.
Nghe lời này, Đỗ Lăng Xuân nếu còn tiếp tục bám lấy chuyện này không buông, chẳng phải sẽ tỏ ra nhỏ nhen?
Y giữ sắc mặt lạnh nhạt, im lặng một lúc, cố gắng tự an ủi, đều là nam nhân, nói là thất lễ cũng không đến mức. Nghĩ như vậy vài lần, cuối cùng cũng thấy dễ chịu hơn. Sau cùng, y nhìn Công Tôn Trác Ngọc, giọng điệu không nghe ra cảm xúc: "Vậy bổn tư công sẽ chờ xem, ngươi làm thế nào bắt được hắn về."
Nói rồi, y xoay người rời đi.
Thị vệ vẫn âm thầm theo sát. Một người trong đó thấy búi tóc của Đỗ Lăng Xuân tán loạn không biết từ lúc nào, mái tóc đen rủ xuống hết cả hai vai, bèn do dự hỏi: "Tư công, vừa rồi đã xảy ra chuyện gì chăng?"
Đỗ Lăng Xuân ghét nhất người khác lắm lời, ánh mắt dài hẹp lạnh lùng quét qua, kẻ kia lập tức hoảng sợ cúi đầu, lui về phía sau.
Nếu nói rằng Công Tôn Trác Ngọc trước đây chỉ đơn thuần hoài nghi Ngu đại phu có liên quan tới vụ án này, thì giờ đây anh đã hoàn toàn xác định đối phương không thể thoát khỏi dính líu.
Nếu đối phương chịu yên phận ở lại gian phòng kế bên, cùng cô nương Quỳnh Nguyệt của hắn thưởng trà thì thôi, nhưng vừa nghe thấy anh ở kế bên, hắn lập tức chân không chạm đất chạy đến dò xét, chẳng phải là chột dạ tự lộ sơ hở hay sao?
Muốn hoàn thành suy luận chặt chẽ, cần thu thập lượng lớn dữ liệu thông tin. Thế nhưng Công Tôn Trác Ngọc lại biết rất ít về Ngu đại phu này. Nhìn sắc trời đã không còn sớm, anh bèn ra lệnh cho đám nha dịch dưới trướng đi điều tra thông tin của người này, còn bản thân thì trở lại biệt viện nơi phát sinh vụ án.
Hiện trường vụ án nhất định còn sót lại manh mối gì đó chưa bị phát hiện.
Công Tôn Trác Ngọc xắn tay áo lên, trong lòng không khỏi chửi thầm cái tên khốn họ Ngu kia, đã đành là đi thanh lâu, nhưng lại còn dám liên lụy đến anh. Phá án xong nhất định phải tìm hắn tính sổ, bởi vì đời này anh cái gì cũng có thể nhịn, nhưng không thể chịu thiệt thòi.
Cái giếng chôn xác nằm ngay giữa tiểu viện, dưới màn đêm càng hiện ra bầu không khí quái dị và ma quái. Đám gia nhân vốn sống trong viện này đã chuyển đến nơi khác, lúc này hoàn toàn trống không, chỉ có thỉnh thoảng vài cơn gió thổi qua, phát ra những âm thanh "vù vù" lạnh gáy.
Công Tôn Trác Ngọc thắp đèn lồng, tỉ mỉ tìm kiếm xung quanh.
Xung quanh giếng được xây một vòng gạch, chiều cao chừng dưới đầu gối nữ nhân một chút. Một người trưởng thành khỏe mạnh, mắt không mù chắc chắn sẽ không vô duyên vô cớ mà ngã vào trong giếng. Y hoặc là bị người ta đẩy xuống, hoặc là tự mình nhảy vào.
Nhưng dựa vào tình hình hiện tại, khả năng sau có thể trực tiếp bị loại trừ.
Trên phía sau đầu thi thể có vết tích bị vật nặng đánh vào. Người chết rất có thể đã bị kẻ khác dùng vật gì đó như đá tấn công từ phía sau, sau khi mất khả năng phản kháng thì bị ném xuống giếng.
Trong tiểu viện, đá núi và cây cỏ hoa lá rất nhiều, điều này phù hợp với việc hung khí có thể được tìm thấy ở đây. Nếu hung thủ dùng đá đập người, hẳn sẽ có vết máu dính trên đó. Phương pháp tốt nhất để tiêu hủy bằng chứng chính là ném nó xuống giếng hoặc hồ nước, như vậy sẽ không ai phát hiện, cũng không ai có thể mò lên được.
Nhưng cái giếng đã được người ta cẩn thận mò qua, không phát hiện ra vật khả nghi nào.
Công Tôn Trác Ngọc ước lượng sơ qua, một cái hồ gần nhất cách đây ít nhất ba bốn đoạn hành lang, lại thêm một cây cầu ngắm cảnh. Hơn nữa, trên đường chắc chắn phải đi ngang qua nhà bếp nơi người qua lại rất đông. Hung thủ không thể nào mạo hiểm lớn như vậy chỉ để xử lý một khối đá nặng nề—
Hung khí nhất định vẫn còn ở gần đây.
Công Tôn Trác Ngọc tìm một cây trúc dài, chuyên dùng để lục lọi những tảng đá lớn trong bụi cây. Mục tiêu của anh không rộng, chỉ tập trung vào khu vực xung quanh giếng nước. Khoảng chừng một canh giờ sau, cuối cùng anh cũng tìm thấy manh mối ở viện bên cạnh.
Tri phủ yêu thích phong nhã, tại góc tường biệt viện có thể thấy vài ba bụi trúc, xung quanh rải rác không ít đá tảng. Công Tôn Trác Ngọc chuyên chọn những tảng đá lớn, vừa tầm để hai tay có thể nhấc lên, cuối cùng tìm được một viên đá cuội nặng trĩu trong một góc khuất.
Dẫu rằng màn đêm phủ mờ, nhưng nhờ ánh sáng của đèn nến, vẫn lờ mờ nhìn thấy vết máu nâu sẫm trên bề mặt đá cuội. Do có nhiều khe nứt, máu đã len lỏi chảy vào bên trong, khiến việc lau rửa trở nên cực kỳ khó khăn.
Công Tôn Trác Ngọc tiến lại gần, khẽ ngửi thử, lập tức nhận ra một mùi tanh nhè nhẹ của máu, cơ bản có thể khẳng định đây chính là hung khí. Thế nhưng, khi anh đứng dậy, định xem xét nơi này thuộc viện ai, lại ngạc nhiên phát hiện đây chính là nơi ở của Đan Thu.
Ánh trăng lên đ.ỉnh trời, ánh sáng trong trẻo lạnh lẽo dịu dàng phủ xuống, khiến mặt hồ như khoác thêm một tầng ánh bạc mỏng manh. Cơn gió đêm khẽ lướt qua, như muốn xua tan những bực bội phiền muộn của ban ngày.
Đỗ Lăng Xuân ngồi xếp bằng dưới đất bên chiếc bàn thấp, vừa thưởng thức cảnh hồ nước ánh trăng, vừa tự mình châm rượu. Cách y vài bước, hai nữ tỳ đứng hai bên trái phải, nâng một bức tranh dài. Trong tranh là núi sông hùng vĩ, dòng sông lớn nhỏ lấp lánh ánh xanh nhàn nhạt, quả là một kỳ cảnh hiếm thấy.
Nhưng dẫu có kỳ lạ đến đâu, nhìn chằm chằm gần hai canh giờ, cũng đã đủ rồi chứ?
Hai nữ tỳ cánh tay mỏi nhừ, đầu óc cũng bắt đầu mệt mỏi. Song nhớ đến vẻ không vui của Đỗ Lăng Xuân khi trở về hôm nay, bọn họ lại cố gắng gượng tinh thần, sợ phạm phải sai lầm mà làm y phật ý.
Đỗ Lăng Xuân uống cạn từng chén rượu, nét mặt không chút biểu cảm, không rõ y đang nghĩ điều gì. Nhưng những kẻ ở vị trí cao thường hay ưu tư, nếu để người khác đoán được tâm ý, ấy sẽ là một điều nguy hiểm, bởi vậy y đã quen giấu đi cảm xúc thật.
"Bức tranh này đẹp chăng?"
Đỗ Lăng Xuân cuối cùng lên tiếng, giọng nói mềm mại, khẽ khàng, chẳng giống đàn ông, cũng chẳng giống đàn bà.
Bên cạnh y quỳ một thị vệ mặc áo đen, mặt đen gầy, thân hình cao lớn, chính là kiếm khách từng suýt xung đột với Thạch Thiên Thu lần trước.
Ngô Việt không hiểu nhiều về thư họa, nhưng cũng thấy bức tranh này thực sự hoành tráng, thật thà đáp: "Bẩm Tư công, đẹp lắm."
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, hạ mi mắt, khẽ "ừ" một tiếng: "Vậy người vẽ tranh thì sao?"
Người vẽ tranh? Há chẳng phải Công Tôn Trác Ngọc?
Ngô Việt cẩn thận hồi tưởng dung mạo của Công Tôn Trác Ngọc. Hắn hiếm thấy người nào có thể dung hòa khí chất thanh cao và phong lưu một cách hài hòa đến thế, nên suy nghĩ một lúc, cân nhắc từng lời rồi đáp: "Công Tôn đại nhân... phong lưu tiêu sái, tự nhiên cũng là người đẹp."
"..."
Lời này vừa thốt ra, Đỗ Lăng Xuân lập tức khép mắt lại, nơi thái dương như nổi gân xanh, y ném chiếc chén rượu bằng vàng trong tay xuống đất, lạnh lùng nói: "Đồ ngu xuẩn, ai hỏi ngươi hắn có đẹp hay không!"
Tính khí của Đỗ Lăng Xuân vốn thất thường như thế, Ngô Việt theo y đã lâu, tự nhiên cũng hiểu đôi phần. Có điều, hắn là người giang hồ, không hiểu được những ý tứ quanh co, tự nhiên cũng không đoán nổi tâm tư của y.
Ngô Việt thật thà nhận lỗi: "Thuộc hạ ngu muội."
Nói xong câu đó liền im lặng. Nói nhiều sai nhiều, nói ít sai ít, không nói sẽ không sai. Vì vậy, hắn không thích nói chuyện.
Đỗ Lăng Xuân mỗi ngày đều cảm thán một lần, rằng dưới tay y toàn là một đám vô dụng. Kẻ võ công cao thì đầu óc ngu ngốc, kẻ giỏi mưu lược lại ốm yếu bệnh tật, khó khăn lắm mới nâng đỡ được vài tâm phúc, cả ngày chỉ biết tham ô hối lộ, tất cả đều là phế vật!
Tâm trạng vốn đã chẳng tốt nay lại càng thêm tệ.
Lần này Đỗ Lăng Xuân xa xôi đến Giang Châu, môn khách, mưu sĩ trong phủ đều lưu lại kinh thành. Y vốn định chỉ lưu lại vài ngày rồi hồi kinh phục mệnh, ai ngờ tính toán đủ điều, lại không ngờ đến biến số mang tên Công Tôn Trác Ngọc. Bởi thế, ngoài Ngô Việt ra, y không còn ai tâm phúc để trò chuyện.
Đỗ Lăng Xuân phất tay áo, sai người thay chén mới, hiếm hoi kiên nhẫn hỏi lại Ngô Việt lần nữa: "Ngươi thấy Công Tôn Trác Ngọc là người thế nào?"
Ngô Việt đáp: "Thuộc hạ không rõ."
Nói xong lại cảm thấy lời này có vẻ quá đơn giản, không chắc chắn bổ sung thêm một câu: "Hẳn là một vị quan tốt."
Ngô Việt cảm thấy, Công Tôn Trác Ngọc vì rửa sạch oan khuất cho một nữ tỳ mà chấp nhận nhận lấy củ khoai nóng bỏng tay này, hẳn là một vị quan tốt... nhỉ?
Hắn cũng là kẻ hầu, lúc này khó tránh khỏi cảm thấy đồng cảm. Ở kinh thành, văn nhân sĩ tử nhiều vô số kể, quan lớn quý nhân cũng không thiếu, trong đó chẳng ít người có tiếng tốt, nhưng bao năm qua, hắn chỉ thấy duy nhất Công Tôn Trác Ngọc nói ra được câu: "Mạng kẻ hầu cũng là mạng, cũng là con dân Giang Châu."
Dù Công Tôn Trác Ngọc mang danh Giang Châu Tam Hại, nhưng Ngô Việt thầm nghĩ, một người có thể nói ra lời như vậy, có xấu cũng không thể xấu đến mức nào...
"Quan tốt?" Đỗ Lăng Xuân bỗng liếc mắt qua, từng chữ từng câu, chậm rãi hỏi: "Nếu như, bổn Tư công muốn thu hắn vào dưới trướng thì sao?"
Cá theo cá, tôm theo tôm, rùa theo ba ba. Lời này tuy thô nhưng lý lẽ lại không sai. Một vị quan tốt vì dân nếu muốn chọn một phe phái để gia nhập, tự nhiên sẽ tìm người chí hướng tương đồng, như Tể tướng Nghiêm Phục; nhưng nếu là một kẻ tham quan chỉ muốn thăng quan phát tài, tự nhiên cũng phải chọn đúng phe, như... Kinh Luật Tư Đề đốc, Đỗ Lăng Xuân.
Hiện giờ Ngô Việt nói Công Tôn Trác Ngọc là quan tốt, lời này nghe vào có vài phần khó nói thành lời. Ý tứ, Công Tôn Trác Ngọc không cùng đường với bọn họ?
Đỗ Lăng Xuân nghe xong cảm thấy không vui, y nheo mắt lại, nhưng chưa từng từ bỏ ý định lôi kéo Công Tôn Trác Ngọc.
Một giọt mực trắng rơi vào dòng nước đen, cuối cùng sẽ bị đồng hóa, hay bị nuốt chửng?
Tác giả có lời muốn nói:
Công Tôn Trác Ngọc (chống nạnh cười lớn): Không ngờ đúng không, ta là giọt mực đen đấy!
Ngô Việt: "Tư công luôn thích hỏi những câu đố khó hiểu."
"Công Tôn đại nhân phong lưu tiêu sái."
"Công Tôn đại nhân tự nhiên là người đẹp rồi."
Chương 179
Hôm qua, nha dịch được cử đi theo dõi Ngự đại phu rất nhanh đã điều tra rõ, đến giờ Ngọ liền đến bẩm báo với Công Tôn Trác Ngọc: "Bẩm đại nhân, thuộc hạ hôm qua một đường theo dõi đến chỗ hắn trú ngụ, phát hiện hắn chung sống cùng một nữ tử, chỉ là khoảng cách quá xa, không nhìn rõ dung nhan."
Công Tôn Trác Ngọc lúc này đang cúi đầu trên án thư, sắp xếp lại sơ đồ mạch lạc vụ án, nghe vậy vẫn không ngẩng đầu, liền hỏi: "Người ấy họ tên là gì, cư ngụ nơi nào, đều đã tra xét rõ ràng chưa?"
Quan sai sắp xếp lại một quyển đinh tịch rồi trình lên: "Người này tên là Ngu Sinh Toàn, năm nay hai mươi lăm tuổi, người Giang Châu bản địa, trước nay luôn làm ngự y ngồi khám tại Ký Sinh Đường, cũng có chút danh tiếng."
Công Tôn Trác Ngọc vừa nghe đến tên của hắn, bút trong tay liền khựng lại, bất giác nhớ đến chiếc khăn lau mồ hôi của nam nhân có thêu chữ "Toàn" trong phòng Đan Thu, bèn trầm ngâm hỏi: "Hắn đã thành thân chưa?"
Quan sai không biết tại sao anh lại hỏi như vậy, nhưng vẫn thành thật chắp tay đáp: "Theo như đinh tịch ghi lại, hắn chưa thành thân, trong nhà cũng không có huynh đệ tỷ muội, chỉ là không rõ thân phận nữ nhân cùng sống với hắn là ai."
Nghe thế, trong đầu Công Tôn Trác Ngọc chợt xâu chuỗi được vài manh mối.
Đan Thu vốn nhiều bệnh, quanh năm bốc thuốc ở Ký Sinh Đường, mà Ngu Sinh Toàn lại là một vị đại phu y thuật cao minh, gia thế trong sạch, dung mạo đoan chính. Nam chưa vợ, nữ chưa gả, ngày qua ngày bên nhau như thế, nếu bảo không nảy sinh tình cảm thì chẳng ai tin nổi.
Có khi nào Đan Thu vì không muốn thành thân với Lôi Toàn mà bỏ trốn khỏi phủ, rồi ẩn náu tại nhà Ngu Sinh Toàn?
Nếu tìm được Đan Thu, thì vụ án thi thể nam nhân vô danh kia hẳn cũng sẽ rõ ràng hơn.
Công Tôn Trác Ngọc lập tức đứng dậy, tiện tay vứt bút lông vào ống bút, dõng dạc ra lệnh: "Nhanh chóng tập hợp nhân mã, theo bản quan đến nhà Ngu Sinh Toàn một chuyến!"
Quan sai vâng lệnh đi ngay, nào ngờ vừa bước ra khỏi nha môn, đã thấy hơn mười đại hán khí thế hung hãn đứng chắn ngoài cửa. Kẻ thì mang đao, người thì mang kiếm, lưỡi binh khí còn vương máu, trông quả thực chẳng phải người lương thiện.
Quan sai bị luồng khí thế lạnh lẽo áp bức từ bọn họ dọa đến mức chân mềm nhũn, suýt nữa ngã lăn ra đất. Trong đầu chỉ kịp nghĩ, chẳng lẽ là bọn sơn tặc ở núi Thanh Phong xông đến rồi? Lập tức cuống cuồng vừa bò vừa chạy vào trong, vừa chạy vừa gào thét xé gan xé phổi: "Đại nhân! Chạy mau! Có cướp xông vào giết người rồi á á á á á!!!!"
Công Tôn Trác Ngọc đang ngồi trong phòng, nghe thấy tiếng kêu la như lợn bị chọc tiết thì giật bắn cả mình. Định lao ra ngoài, nhưng không hiểu nghĩ gì, lại quay lại rút thanh kiếm treo trên tường thư phòng, nghiến răng xách theo bước ra ngoài: "Bọn giặc to gan lớn mật, dám xông vào nha môn, các ngươi bảo vệ lão phu nhân cho kỹ, bản quan sẽ đi chém sạch chúng không chừa mống nào!"
Không! Chừa! Mống! Nào!
Công Tôn Trác Ngọc luyện võ nhiều năm, chỉ tiếc không có chỗ thi triển. Nay vừa nghe có cướp, trong lòng kích động không sao tả xiết, túm lấy tên quan sai đang hồn bay phách lạc hỏi: "Bọn giặc đâu?!"
Quan sai run rẩy chỉ ra ngoài cổng: "Ngay trước nha môn, hơn mười tên to con dữ tợn, ai nấy đều có binh khí, mà trên đó còn nhỏ máu tươi nữa!"
Công Tôn Trác Ngọc nghe hắn nói, cảm thấy có điều kỳ lạ. Lũ sơn tặc trên núi Thanh Phong ít nhất cũng phải hơn trăm người, nếu đã to gan dám tấn công nha môn, sao lại chỉ mang theo hơn mười người, chẳng phải tự tìm chết hay sao.
"Để bản quan ra xem, ngươi nếu dám báo tin giả, tháng này đừng mơ lĩnh lương!"
Công Tôn Trác Ngọc nói xong, lướt qua đám nha hoàn tôi tớ đang hoảng loạn, nhanh chóng lao ra cổng. Quả nhiên thấy hơn mười đại hán đứng chắn trước nha môn. Đang định lên tiếng hỏi, lại phát hiện người dẫn đầu trông có vẻ quen quen, ngẫm kỹ thì bất giác kinh ngạc: "Đại sư phụ?!"
Hóa ra đây chính là nhóm người do Thạch Thiên Thu dẫn đầu, bọn họ vừa từ Tĩnh Châu quay về. Sau lưng còn có cả nhị sư phụ, tam sư phụ, tứ sư phụ và một loạt các sư phụ lớn nhỏ.
Thạch Thiên Thu mặc áo vải thô, vạt áo dính máu, dáng vẻ phong trần mệt mỏi, thoạt nhìn không khác gì lũ cướp, khó trách quan sai nhận nhầm: "Đại nhân!"
Thạch Thiên Thu xuống ngựa, bước tới chắp tay nói: "Chúng ta từ Tĩnh Châu quay về."
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ, người biết là các người từ Tĩnh Châu quay về, người không biết còn tưởng các người vừa chui ra từ đống xác chết nữa kia. Nhịn không được mà hít một hơi, lúng túng hỏi: "Các sư phụ vất vả rồi, chỉ là... tại sao lại ăn mặc thế này?"
Trên mặt, trên người, trên kiếm đều vấy máu, mà lượng cũng không ít, chẳng lẽ đi Tĩnh Châu giết gà cả sao?
Thạch Thiên Thu còn chưa kịp trả lời, nhị sư phụ thân hình cường tráng đã gỡ từ lưng ngựa xuống một cái túi vải đen nặng nề, "bịch" một tiếng quăng xuống đất, bụi bay mù mịt, thô giọng nói: "Đại nhân chớ nhắc, thật là xui xẻo, chúng ta đến Tĩnh Châu dò la, kết quả nhà Lôi Toàn nói hắn chưa quay về."
Công Tôn Trác Ngọc thử thăm dò: "Sau đó thì sao?"
Nhị sư phụ lấy chân đá túi vải: "Chúng ta lo đại nhân gấp gáp, nên đi đường tắt qua núi. Ai ngờ tối qua nghỉ lại trong rừng Mật Tử, thì con hổ lớn này lao ra định ăn chúng ta, ta bực mình liền đánh chết nó luôn."
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Công Tôn Trác Ngọc im lặng không nói, chậm rãi vén vạt áo, cúi xuống mở túi vải. Lập tức một luồng mùi tanh tưởi nồng nặc xộc thẳng vào mũi, suýt nữa làm anh bất tỉnh. Định thần nhìn kỹ, quả nhiên là một con hổ trưởng thành.
Trời ơi, đây là động vật cần bảo vệ mà!
Công Tôn Trác Ngọc sững sờ: "Nhị sư phụ, ngươi cứ thế đánh chết nó luôn à?"
Nhị sư phụ luyện môn võ công có chút liên quan đến Kim Cương Môn, da đồng xương sắt, lực quyền mạnh mẽ, bảo là đao thương bất nhập thì hơi quá, nhưng cũng không cách biệt là bao.
Nhị sư phụ liếc anh: "Ai nói là một mình ta đánh chết, đại sư phụ của ngươi còn đâm vài nhát kiếm nữa đấy."
Thạch Thiên Thu khoanh tay, bước lên bậc thềm: "Đại nhân yên tâm, đâm vào mắt, không làm tổn hại da lông, đến lúc đó có thể lột da làm áo, hổ cốt ngâm rượu, hổ cốt chế thuốc, còn thịt thì đem hầm ăn."
Công Tôn Trác Ngọc sờ ngực bụng con hổ, phát hiện nội tạng đã vỡ nát. Lại mở miệng nó ra xem, thấy máu đen chảy ra, liền chậm rãi nói: "...Con hổ này còn bị trúng độc?"
Tam sư phụ vốn tính điên điên khùng khùng, luyện được một thân độc công Tây Vực, nghe thế thì vuốt râu đắc ý: "Tất nhiên là ta hạ độc. Thịt này đại nhân chớ ăn... Nếu thật sự muốn ăn thì cũng được, ăn xong giải độc là xong."
Thạch Thiên Thu trước giờ ít nói, nghe vậy chỉ thốt bốn chữ: "Phí phạm của trời."
Công Tôn Trác Ngọc đã không biết nên nói gì, con hổ lớn ăn thịt vô số người trong rừng Mật Tử lại cứ thế mà chết sao?! Anh chậm rãi từ dưới đất đứng lên, bỗng nhận ra điều gì đó không đúng, giết một con hổ cũng không đến mức khiến cả mười mấy người bọn họ toàn thân đều vấy đầy máu thế này chứ?
Công Tôn Trác Ngọc bỗng nhiên cảm thấy bất an: "Các vị sư phụ... chỉ giết hổ thôi sao?"
Nhị sư phụ đang bước vào trong, nghe vậy liền hừ lạnh một tiếng đầy tức giận: "Đám thổ phỉ trên núi Thanh Phong cướp bóc khắp nơi, đúng là có mắt không tròng, lại dám chặn đường cướp của chúng ta! Chúng ta lấy đâu ra bạc mà nộp cho bọn chúng! Một đám ô hợp, tiện tay quét sạch luôn."
Thực tế là đám thổ phỉ đó thấy họ tuổi đã lớn, cứ nghĩ là mấy ông cụ không đi nổi đường, bèn dẫn người ra chặn đường cướp của. Ai ngờ được, từng người trong họ đều là cao thủ võ lâm.
Phịch một tiếng, Công Tôn Trác Ngọc quỳ sụp xuống đất.
Thạch Thiên Thu mắt nhanh tay lẹ đỡ lấy anh: "Đại nhân, ngài làm sao vậy?!"
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Không có gì, chỉ là hơi kinh hãi...
Anh nắm lấy cánh tay Thạch Thiên Thu, miễn cưỡng đứng dậy, cố ngửi mùi máu tanh trên người họ, rồi áng chừng số người chết:
"Giết hết rồi à?"
Thạch Thiên Thu đáp: "Giết một nửa, một nửa chạy thoát."
Công Tôn Trác Ngọc chẳng biết có nên cảm thấy may mắn thay cho đám thổ phỉ đó hay không. Anh mất khá lâu mới tiêu hóa được cái tin tức kinh thiên động địa này. Sau khi lấy lại tinh thần, vừa gọi người tới khiêng con hổ đi, vừa nói với Thạch Thiên Thu và những người khác: "Các vị sư phụ vất vả rồi, vừa đánh hổ lại vừa trừ giặc, mau đi tắm rửa thay quần áo đi, ta sẽ sai người chuẩn bị rượu thịt thịnh soạn, để đón gió tẩy trần cho mọi người."
Thạch Thiên Thu hỏi: "Vậy còn đại nhân thì sao?"
Công Tôn Trác Ngọc đáp: "Ta à? Ta đi thu dọn xác mấy tên thổ phỉ đó..."
Thạch Thiên Thu nhận ra anh có vẻ không vui: "Đại nhân dường như không vui, trừ được hai tai họa lớn cho dân, vốn là việc tốt cơ mà."
"Là việc tốt," Công Tôn Trác Ngọc thở dài, "Bây giờ tam hại Giang Châu chỉ còn lại mỗi ta..."
Đây chẳng lẽ chính là cảm giác cô độc không ai thấu hiểu của kẻ đứng trên cao mà người đời vẫn nói sao?
Xảy ra chuyện này, Công Tôn Trác Ngọc chỉ còn cách cử một đội nha dịch lên núi kiểm tra tình hình, còn bản thân thì dẫn một đội khác tới nhà của Ngu Sinh Toàn. Giang Châu hiếm khi thấy động tĩnh lớn như vậy, dân chúng không khỏi xôn xao bàn tán: "Có chuyện gì vậy, sao nhiều nha dịch thế?"
"Nghe nói mấy hôm trước, người ta tìm thấy một xác chết mặc đồ đỏ bị ném xuống giếng cổ trong biệt viện của tri phủ. Công Tôn đại nhân đang điều tra án, vì muốn minh oan cho một nữ tỳ đó."
"Thật hay giả, hôm qua ta còn thấy ngài ấy đi dạo kỹ viện cơ mà."
"Kệ chứ, chúng ta dân thường thì chỉ hóng cho vui thôi."
Công Tôn Trác Ngọc dẫn người thẳng tới nhà Ngu Sinh Toàn. Tường trắng mái ngói xanh, bên trong có một cây hạnh hoa thò nửa cành ra ngoài, trông cũng khá thanh tịnh.
Nha dịch nhận được ánh mắt ra hiệu của Công Tôn Trác Ngọc, bèn tiến lên dùng sức gõ cửa: "Ngu Sinh Toàn có ở nhà không?"
Bên trong im ắng lạ thường, không hề có động tĩnh gì.
Nha dịch đành gõ tiếp: "Ngu Sinh Toàn có ở nhà không?!"
Vẫn không có tiếng đáp.
Công Tôn Trác Ngọc thiếu kiên nhẫn, cau mày nói: "Đạp cửa đi, hỏng thì tính của ngươi."
Nha dịch nghe lệnh đành phải xông lên đạp cửa. Nhưng chân còn chưa chạm vào cửa, cánh cửa gỗ đã cọt kẹt mở ra từ bên trong. Người mở cửa chính là Ngu Sinh Toàn.
Chỉ thấy hắn mặc một bộ quần áo thường ngày, tóc tai có phần bù xù, trông như vừa ngủ trưa dậy: "Ai vậy?"
Nha dịch lạnh lùng nói: "Tự nhiên là người của nha môn. Sao lâu như thế mà không ra mở cửa?"
Ngu Sinh Toàn vừa nhìn thấy nhiều bổ khoái đeo đao như vậy, dường như bị dọa sợ, vô thức lùi về sau một bước, mặt mày hoảng hốt: "Tiểu nhân hôm qua uống nhiều rượu quá, đêm qua vừa nằm xuống đã ngủ say, giờ mới tỉnh, thực sự không nghe thấy các vị quan gia gõ cửa."
Nói xong lại chần chừ hỏi: "Không biết quan gia tìm tiểu nhân có việc gì?"
Công Tôn Trác Ngọc trực tiếp dẫn người đi vào trong nhà, nhìn đông ngó tây, giống như đang đi dạo trong nhà mình: "Ở đây từng có nữ nhân nào ở không?"
Ngu Sinh Toàn lắc đầu: "Đại nhân, tiểu nhân vẫn luôn sống một mình, cha mẹ đều ở quê cả."
Hắn đang nói dối, muốn giấu đi thân phận của người phụ nữ đó.
Công Tôn Trác Ngọc lại đi vào trong nhìn, quả nhiên thấy chăn đệm trong phòng ngủ rất lộn xộn. Anh thản nhiên ngồi xuống mép giường: "Ngươi có quen Đan Thu không?"
Ngu Sinh Toàn khựng lại một lúc mới đáp: "Quen, tiểu nhân là đại phu của Ký Sinh Đường, cô nương Đan Thu thường xuyên đến đó xem bệnh."
Công Tôn Trác Ngọc cười nhạt: "Các ngươi lưỡng tình tương duyệt?"
Ngu Sinh Toàn vội giải thích: "Đại nhân sao lại nói thế, tiểu nhân và Đan Thu cô nương chỉ là giao tình sơ sài."
Công Tôn Trác Ngọc khẽ vuốt giường, nói: "Ngươi mà còn nói dối nữa, bổn quan chỉ có thể tạm bắt ngươi vào đại lao, đánh ba mươi trượng trước đã."
Ngu Sinh Toàn nghe vậy thì sửng sốt, lại nghe anh nói tiếp: "Trên người ngươi không có mùi rượu, chứng tỏ hôm qua không hề uống rượu. Chăn đệm trên giường tuy lộn xộn, nhưng không còn hơi ấm, nghĩa là không có người ngủ. Từ lúc bổn quan bước vào, ngươi đã nói rất nhiều lời dối trá."
Công Tôn Trác Ngọc nói xong thì đứng dậy đi lòng vòng, rồi tiện tay mở tủ quần áo ra xem. Anh lục lọi một lúc, lấy ra mấy bộ váy áo của nữ nhân ném lên giường: "Chỗ này nếu không có nữ nhân nào ở, thì tại sao lại có váy áo? Chẳng lẽ là Ngu đại phu ngươi mặc? Nhưng e là nhỏ quá rồi."
Ngu Sinh Toàn không biết phải đáp lại thế nào, bàn tay giấu trong tay áo siết chặt, sắc mặt lộ rõ vẻ căng thẳng.
Công Tôn Trác Ngọc tìm kiếm khắp nơi, khẽ ngửi, rồi lần theo mùi thuốc nhàn nhạt trong không khí mà bước vào nhà bếp. Chỉ thấy trên bếp đang sắc một nồi thuốc, bên cạnh chiếc bàn thấp còn đặt một bát thuốc đen sì.
Anh sờ thử thành bát, vẫn còn ấm.
Ngu Sinh Toàn vội vàng đuổi theo: "Đại nhân, tiểu nhân bị cảm lạnh, đây là thuốc trị bệnh."
Công Tôn Trác Ngọc nói: "Vậy à, nhưng bổn quan sao lại cảm thấy đây là thuốc trị bệnh đau tim nhỉ?"
Câu này vừa dứt, cả gian phòng chìm trong im lặng.
Công Tôn Trác Ngọc thấy cơ thể Ngu Sinh Toàn cứng đờ, bèn nhếch môi cười không chút thiện ý: "Ngu đại phu cần gì phải nói dối, chỉ cần tìm một đại phu có kinh nghiệm đến xem xét bã thuốc, là có thể biết ngay đây là thuốc trị bệnh gì. Nói thẳng đi, cô nương Đan Thu đang trốn ở đâu?"
Ngu Sinh Toàn nghiến chặt răng, kiên quyết không nói: "Tiểu nhân không hiểu đại nhân đang nói gì."
Đúng lúc này, nha dịch phụ trách lục soát bước tới bẩm báo: "Bẩm đại nhân, trong nhà ngoài sân đều đã lục soát kỹ, không phát hiện người trốn, cũng không tìm thấy mật đạo."
Không thấy tăm tích của người, vậy chắc chắn là đã chạy trốn rồi. Sân nhỏ này không có cửa sau, muốn ra ngoài chỉ có thể trèo tường.
Công Tôn Trác Ngọc nghe xong liền đi ra gian ngoài, men theo mép tường quan sát một vòng, cuối cùng phát hiện trên một viên ngói có dấu chân màu xám, bên cạnh còn có một sợi tơ màu lam khó nhận ra, bị móc rách từ y phục: "Nàng đã trèo tường bỏ trốn."
Nha dịch lo lắng lên tiếng: "Đại nhân, thuộc hạ lập tức đuổi theo!"
Công Tôn Trác Ngọc không thích làm những chuyện vô ích, anh luôn giỏi dùng ít công sức nhất để đạt được hiệu quả cao nhất, đuổi cũng phải đúng hướng: "Thuốc còn ấm, chứng tỏ vừa mới rời đi không lâu. Hơn nữa, Đan Thu mắc chứng đau tim, thân thể yếu ớt, không chạy được xa. Các ngươi để lại hai người canh giữ Ngu Sinh Toàn, những người còn lại theo ta."
Công Tôn Trác Ngọc nói xong, dẫn người đi thẳng đến bức tường bên ngoài, phát hiện đó là một con hẻm, bên trái và bên phải đều có hai hướng.
Nha dịch nói: "Đại nhân, chúng ta chia ra hai đường."
Công Tôn Trác Ngọc lắc đầu, khi nghi phạm bỏ trốn sẽ bản năng tránh né quan phủ: "Con đường bên trái đi thẳng qua nha môn, nàng sẽ chạy về hướng bên phải."
Mọi người nghe lệnh, đuổi theo hướng bên phải, nào ngờ không đi được bao xa lại gặp thêm một ngã ba. Con đường phía nam rộng rãi, náo nhiệt, còn phía bắc quanh co uốn khúc với nhiều ngõ hẻm.
Nha dịch lên tiếng: "Đại nhân, phía bắc dễ ẩn náu, nàng chắc chắn sẽ chạy về hướng đó."
Công Tôn Trác Ngọc không nói gì, nghĩ thầm "đại ẩn ẩn nơi phố thị," nếu muốn trốn thì nhất định phải tìm nơi đông người. Tuy phía bắc ngõ hẻm nhiều, nhưng thông suốt bốn phía, chỉ cần sơ ý một chút là bị chặn đường: "Không, đi về phía nam."
Anh nhớ lại sợi tơ mắc trên viên ngói có màu lam, liền căn dặn nha dịch: "Chú ý tìm nữ tử mặc y phục màu lam."
Đan Thu mắc chứng đau tim, tất nhiên sẽ thở d.ốc, không chạy lâu được, thế nào cũng phải tìm chỗ nghỉ chân. Công Tôn Trác Ngọc phát hiện gần đó có một quán trà, địa thế cao, anh lập tức chạy lên, từ gian ngoài nhìn xuống con phố bên dưới.
Dưới đường, người qua lại đa phần đều chậm rãi, nếu có ai đột nhiên chạy nhanh sẽ lập tức nổi bật.
Công Tôn Trác Ngọc vốn là người chẳng biết xấu hổ, anh đặt một chân lên lan can, xắn tay áo, hít một hơi rồi bất thình lình hét lớn xuống phía dưới: "Đan Thu mau chạy đi, nha dịch đuổi tới rồi!"
Giọng anh vang dội, khiến bách tính bên dưới đồng loạt dừng bước ngẩng đầu nhìn lên. Công Tôn Trác Ngọc chú ý thấy bên lề đường thoáng qua một bóng dáng màu lam, đang nhanh chóng bỏ chạy, ánh mắt anh lạnh lại, ngay khi tiếng kinh hô của đám đông còn chưa kịp tan, đã nhảy thẳng xuống từ lầu hai.
"Đan Thu cô nương, ngươi để bản quan tìm thật khổ."
Đan Thu chạy đến kiệt sức, đang hoảng hốt trốn bên quán trà ven đường thì nghe thấy có người hô cô mau chạy, trong lúc bối rối đã để lộ tung tích. Chỉ trong nháy mắt, trước mặt cô đã xuất hiện một công tử trẻ tuổi, miệng nở nụ cười nhàn nhạt từ lúc nào không hay.
Đan Thu mặc một bộ y phục vải thô màu lam, dáng người nhỏ nhắn gầy gò, thoạt nhìn có vài phần bệnh tật như Tiểu Muội. Hiển nhiên nàng nhận ra Công Tôn Trác Ngọc, vừa ho khẽ vừa dùng khăn tay che miệng, lại vừa sợ hãi lùi về phía sau. Công Tôn Trác Ngọc nhìn không khác gì một ác bá bắt nạt phụ nữ nhà lành.
Đan Thu cắn chặt môi, gương mặt kiều diễm tái nhợt, lên tiếng: "Ngươi làm thế nào tìm được ta?"
Công Tôn Trác Ngọc nâng tay chỉ lên lầu: "Cô nương, đứng trên cao, tất nhiên nhìn rõ hơn. Hơn nữa, ngươi bệnh nặng lại không ai giúp đỡ, tuyệt đối không thể thoát khỏi Giang Châu này."
Thấy anh chắn đường, sắc mặt Đan Thu lập tức xám ngoét, lặng lẽ siết chặt đầu ngón tay. Mắt nàng ngấn lệ, tựa như muốn khóc, nhưng không hiểu sao lại cố nén không rơi nước mắt.
Công Tôn Trác Ngọc không biết phải làm gì với cô gái này, may sao không lâu sau, nha dịch đã dẫn người tìm đến: "Đại nhân."
Công Tôn Trác Ngọc ừ một tiếng, hơi nâng cằm, ý bảo: "Người này chính là Đan Thu, bắt lại."
Bọn họ làm ầm ĩ đến thế, không ít bách tính đã vây lại xem. Nhưng nhìn mãi, một nhóm đại hán cao tám thước lại chỉ bắt một nữ tử yếu ớt không sức kháng cự, còn có thêm cả Ngự đại phu của Ký Sinh Đường – Ngu Sinh Toàn.
Một vị đại phu chuyên cứu người, một vị quan lại tham ô hủ bại, dùng đầu nghĩ cũng biết dân chúng sẽ đứng về phía ai.
Một người từng được Ngu Sinh Toàn cứu chữa không nhịn được lên tiếng: "Các ngươi dựa vào đâu mà bắt Ngu đại phu? Dù là quan phủ cũng không thể ức hiếp người như thế!"
Lời vừa nói ra, bốn phía lập tức xôn xao.
"Đúng vậy, Ngu đại phu trị bệnh cứu người, làm sao có thể phạm pháp được? Các ngươi dựa vào đâu mà bắt hắn?"
"Phải cho chúng ta một lời giải thích!"
Nha dịch thấy lòng dân phẫn nộ, có chút xấu hổ nói với Công Tôn Trác Ngọc: "Đại nhân, đều là những bách tính không hiểu biết, ngài đừng chấp nhặt với họ."
Công Tôn Trác Ngọc sớm đã luyện được bản lĩnh miễn nhiễm với mọi thị phi, anh phủi nhẹ tay áo, quay về phía bách tính bốn phía chắp tay hành lễ, cười nói: "Bản quan là Công Tôn Trác Ngọc, không may giữ chức Tri huyện Giang Châu, gần đây có vụ án xác chết dưới giếng cổ, nay đã bắt được hung thủ, nếu các vị còn điều gì không rõ, xin mời đến nghe xử án."
Nói xong, anh thấp giọng căn dặn người bên cạnh: "Đi, mời Đỗ Tư Công và lão rùa già Tô Đạo Phủ đến."
Tác giả có lời muốn nói: Tô Đạo Phủ: Lão rùa già ngươi mắng ai?
Công Tôn Trác Ngọc: Mắng ngươi, mắng ngươi, mắng ngươi đấy!
Chương 180
Tương truyền Tần Hoàng có chiếc gương, có thể soi thấy lòng người, thấu tỏ thế sự, sau dùng để ví quan lại công chính nghiêm minh, xử án như thần, gọi là "Minh Kính Cao Huyền."
Trong đại đường của phủ nha nơi nào cũng có, phía sau quan ỷ luôn treo một bức "Hải Thượng Triều Nhật," thể hiện sự ngay thẳng chính trực. Công Tôn Trác Ngọc mặc quan phục, ngồi trên cao đường, phía trên đầu chính là tấm biển có dòng chữ "Minh Kính Cao Huyền."
Đỗ Lăng Xuân và tri phủ đến để nghe xử án, y ngồi một bên, tri phủ ngồi bên còn lại. Một người đợi xem tình hình, một người đợi bắt lấy nhược điểm, bên ngoài dân chúng còn bao vây chật kín, dõi cổ muốn xem Công Tôn Trác Ngọc xử án thế nào.
Đan Thu và Ngu Sinh Toàn quỳ dưới đường, sắc mặt đều tái nhợt. Đặc biệt, Công Tôn Trác Ngọc còn lệnh người khiêng thi thể vào, giữa trời quang đãng, khiến người ta hồn vía bay mất.
Công Tôn Trác Ngọc liếc nhìn về phía Đỗ Lăng Xuân, hơi gật đầu: "Tư công, bản quan muốn bắt đầu thẩm án."
Đỗ Lăng Xuân lúc nào cũng như một kẻ lười nhác bị rút hết xương cốt, nghe vậy nhấc nắp chén trà, ngón tay thon dài trắng trẻo hơi cong, lộ vẻ âm nhu. Y lạnh nhạt nói: "Công Tôn đại nhân cứ thẩm, bản tư công chỉ nghe, sẽ không tùy tiện can thiệp, hẳn tri phủ đại nhân cũng vậy."
Tri phủ chỉ đành đáp lời, cười gượng mấy tiếng.
Công Tôn Trác Ngọc thấy thế liền thu hồi ánh mắt, tay vung mạnh tấm gỗ kinh đường, âm thanh vang dội, chấn động quỷ thần. Hai bên nha dịch dùng thủy hỏa côn dậm mạnh xuống đất, đồng thanh hô to: "Uy vũ!"
Công Tôn Trác Ngọc nghiêm giọng: "Án phạm Đan Thu, Ngu Sinh Toàn, bản quan hiện trạng cáo các ngươi hai người mưu hại quản gia Lôi Toàn của biệt viện tri phủ. Các ngươi nhận hay không nhận tội?"
Đan Thu dường như bị khí thế bức người này dọa cho khiếp sợ, sắc mặt trắng bệch, không thốt nên lời. Ngu Sinh Toàn thì ngẩng đầu lên, chỉ thốt ra tám chữ:
"Muốn vu tội người, đâu sợ thiếu cớ."
Rõ ràng là định sống chết không nhận tội, cố thủ đến cùng.
Công Tôn Trác Ngọc không mảy may bận tâm, theo trình tự bắt đầu thuật lại quá trình vụ án: "Ba ngày trước, trong giếng cổ của biệt viện tri phủ phát hiện một xác chết vô danh, lúc chết mặc hồng y cô dâu, búi tóc nữ tử, cài trâm vàng của nữ nhân. Qua nhận diện từ các tỳ nữ trong phủ, toàn bộ đều là đồ vật của Đan Thu – nữ tỳ đã mất tích lâu nay trong phủ."
Nói xong, anh cố tình liếc mắt nhìn Đan Thu một cái, sau đó mới tiếp lời: "Do thi thể bị phân hủy nghiêm trọng, không rõ diện mạo, ban đầu mọi người đều cho rằng đó là thi thể của Đan Thu. Nhưng qua bản quan tra chứng, xác chết này chính là quản gia Lôi Toàn của biệt viện tri phủ, cũng là vị hôn phu của Đan Thu cô nương."
Lời này vừa dứt, lập tức khiến người dân bàn tán xôn xao. Theo tình thế này, chẳng phải là nữ nhân độc ác cấu kết với gian phu mưu hại vị hôn phu sao? Nhưng nhìn vị cô nương này yếu đuối, dịu dàng, còn Ngu đại phu luôn có tiếng tốt, thế nào cũng không giống những kẻ có thể làm ra chuyện ác như vậy.
Chắc hẳn là vị huyện lệnh ngốc nghếch kia xét xử nhầm người rồi, dân chúng thầm nghĩ như thế.
Công Tôn Trác Ngọc quyết định mở đường đột phá từ Đan Thu: "Đan Thu cô nương, có phải ngươi đã giết Lôi Toàn?"
Nghe vậy, Đan Thu theo bản năng nhìn về phía Ngu Sinh Toàn. Người sau bất động thanh sắc khẽ lắc đầu với nàng. Đan Thu nhắm mắt đau khổ, cắn chặt môi, hồi lâu sau mới khó nhọc thốt lên mấy lời: "Ta không... không giết người..."
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ bụng, thẳng thắn nhận tội chẳng phải tốt hơn sao, lần nào cũng phải hao tổn sức lực thế này. Anh dứt khoát bước xuống công đường, mang theo đôi bao tay vải do sư gia đưa tới, giữa tiếng kinh hô của mọi người, thình lình vén tấm vải trắng phủ trên xác chết lên—
Thi thể đã được làm sạch phần thịt phân hủy, giờ chỉ còn lại bộ xương trắng toát.
Công Tôn Trác Ngọc cầm đầu lâu của thi thể lên, xoay phần khe nứt sau hộp sọ hướng về phía Đan Thu: "Lôi Toàn bị người dùng vật nặng đánh vào sau đầu, chết rồi mới bị vứt xuống giếng. Thật khéo, bản quan đã tìm được hung khí."
Vừa nói, anh vừa lệnh cho nha dịch mang ra một hòn đá cuội: "Đan Thu cô nương, trong rừng trúc bên sân viện của ngươi, bản quan phát hiện ra hòn đá này, trên đó còn vương máu của Lôi Toàn. Ngươi có muốn nhìn kỹ không?"
Vừa dứt lời, Công Tôn Trác Ngọc nhấc hòn đá đưa lên trước, Đan Thu lập tức mặt mày tái nhợt. Đỗ Lăng Xuân ngồi bên cạnh uống ngụm trà, thầm nghĩ Công Tôn Trác Ngọc đúng là kẻ bụng dạ hẹp hòi.
Đan Thu không dám nhìn thi thể, càng không dám nhìn hòn đá, lấy khăn tay che mặt, quay người lại, run rẩy lắc đầu: "Không... ta... ta không có... ta sao phải giết hắn..."
Công Tôn Trác Ngọc lạnh lùng đáp: "Vì ngươi đã có người trong lòng, không muốn gả cho Lôi Toàn."
Nói xong, anh lại lấy ra một chiếc khăn thấm mồ hôi: "Đây là khăn tay tìm thấy trong ngăn kéo phòng ngươi, phía dưới thêu chữ 'Toàn.' Ban đầu bản quan còn tưởng là chữ 'Toàn' trong Lôi Toàn, nhưng sau đó mới biết, hóa ra là chữ 'Toàn' trong Ngu Sinh Toàn."
Toàn bộ manh mối liên kết với nhau, thực ra đã đủ để suy luận ra toàn bộ vụ án.
Công Tôn Trác Ngọc khẽ phất tay áo, bước đi thong thả trước mặt Đan Thu: "Bản quan từng tìm thấy một chiếc khăn tình dưới gối của ngươi, trên đó đầy dấu vết nước mắt, khiến người ta phải đau lòng. Nhưng ngươi sắp sửa cùng vị hôn phu Lôi Toàn thành hôn, vì sao lại khóc? Là bởi ngươi đã sớm có người trong lòng."
Vừa nói, anh vừa bước đến trước mặt Ngu Sinh Toàn, trong lòng thầm ghi hận chuyện lần trước ở thanh lâu, không nhịn được dùng sức đá hắn một cái: "Và người đó chính là vị tọa quán đại phu của Ký Sinh Đường – Ngu Sinh Toàn!"
Ngu Sinh Toàn bị đau, hừ một tiếng, nhưng chỉ có thể nuốt giận vào bụng.
Đám người vây xem phía sau ăn dưa sung sướng.
Công Tôn Trác Ngọc luôn nhìn chằm chằm Đan Thu: "Nhưng ngươi là tỳ nữ sinh ra trong gia đình nô bộc của phủ tri phủ, bán thân bất toại, không thể tự mình quyết định chuyện hôn nhân. Buộc phải gả cho quản gia Lôi Toàn."
Nghe vậy, Đan Thu như nhớ lại hồi ức đau thương nào đó, đôi mắt dần đỏ lên, toàn thân run rẩy.
Công Tôn Trác Ngọc như thể tận mắt chứng kiến tất cả, giọng nói êm ái nhưng tựa kim đâm vào lòng: "Vì vậy ngươi cùng Ngu Sinh Toàn hợp mưu, gi.ết ch.ết Lôi Toàn."
Đan Thu hoảng sợ la lên: "Không! Chúng ta không có! Chúng ta không giết người!"
Công Tôn Trác Ngọc cầm hòn đá cuội dính máu trong tay, cảm thấy nó nặng nề: "Ngu Sinh Toàn dùng hòn đá này tập kích từ sau lưng Lôi Toàn, khiến hắn tử vong tại chỗ. Các ngươi lo bị phát hiện, liền ném xác xuống giếng. Nhưng dù Lôi Toàn chết, Đan Thu vẫn là thân phận nô bộc, không thể tránh khỏi sự điều tra của quan phủ, cũng không thoát khỏi thành. Thế nên các ngươi đã nghĩ ra một kế hoạch."
Nha dịch bên cạnh lần lượt trình lên vật chứng: bộ hồng y nhuốm máu, cây trâm vàng rơi lại.
Công Tôn Trác Ngọc còn cố ý so sánh kiểu tóc của Đan Thu, phát hiện tương đồng với thi thể:
"Các ngươi mặc nữ trang cho Lôi Toàn, dùng trang sức thường dùng của Đan Thu, để đảm bảo nếu thi thể bị phát hiện, người ta sẽ nhận định ngay đây là xác của 'Đan Thu.' Mà đúng lúc đó, Lôi Toàn trở về quê thăm thân, mấy ngày không có mặt trong phủ, nên chẳng ai phát hiện."
Dù thế nào, Đan Thu cũng không thoát khỏi tội danh. Nàng bị bắt tại nhà của Ngu Sinh Toàn giữa thanh thiên bạch nhật, dù có trăm miệng cũng khó bề biện minh. Nàng cắn răng, quyết tâm nhận hết tội lỗi:
"Phải! Lôi Toàn là ta giết!"
Nàng rõ ràng là một nữ tử yếu đuối, nhưng khi thốt lên lời này, đôi mắt ngoài nước mắt còn chứa đựng một tia tàn nhẫn khiến người ta kinh tâm, làm đám đông xung quanh xôn xao.
Đan Thu nhắm mắt, khóe miệng run rẩy: "Ta là nô bộc sinh ra trong phủ, chuyện hôn nhân chỉ có thể nghe chủ tử sắp đặt. Lôi Toàn biết rõ ta đã có người mình thương, nhưng vẫn cầu xin tri phủ đại nhân ban ta cho hắn..."
Nói đến đây, nàng nghẹn ngào, ngừng lại một lát rồi mới tiếp tục: "Ta đã cầu xin hắn, muốn chuộc lại bán thân, nhưng hắn nhất quyết không chịu. Không còn cách nào khác, ta đành muốn nhờ Sinh Toàn ca đưa ta cùng rời đi."
Ngu Sinh Toàn quỳ bên cạnh, lòng bất an, sắc mặt khó coi.
"Ngày ấy, khi Lôi Toàn về quê thăm thân, ta cảm thấy đây là cơ hội tốt, bèn thu dọn chút tư trang, định cùng Sinh Toàn ca bỏ trốn. Nhưng nào ngờ, Lôi Toàn lại quên mang theo lộ dẫn, giữa đường quay trở lại. Hắn bắt gặp ta và Sinh Toàn ca đang chuẩn bị tư thế bỏ trốn, lập tức lao vào đánh nhau với Sinh Toàn ca..."
Ngu Sinh Toàn căng thẳng đến mức mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm lưng, muốn mở miệng nói điều gì đó nhưng lại không dám, cho đến khi Đan Thu thốt lên những lời tiếp theo, hắn mới thở phào nhẹ nhõm mà không để lộ ra vẻ gì.
Đan Thu: "Ta sợ Sinh Toàn ca bị thương, liền cầm hòn đá đập Lôi Toàn, nào ngờ lỡ tay khiến hắn mất mạng. Ta bèn mặc cho hắn bộ đồ của mình, búi tóc giả làm nữ nhân, rồi đẩy hắn xuống giếng, trốn khỏi phủ và nấp trong nhà Sinh Toàn ca."
Nàng vậy mà nhận hết mọi tội trạng về mình. Không rõ là vì chán nản mà phó mặc tất cả, hay đơn thuần đã hết đường lui. Kỳ lạ thay, nàng không hề khóc nữa, chỉ nhắm mắt chờ chết.
Ngu Sinh Toàn nghe xong, trên mặt thoáng hiện vẻ áy náy, nhưng hắn cũng không nói thêm lời nào, hiển nhiên là đã ngầm thừa nhận.
Công Tôn Trác Ngọc bật cười khẽ, nói: "Cô nương quả thực là một kẻ si tình, chỉ tiếc là đã trao nhầm người."
Hôm nọ, anh còn thấy Ngu Sinh Toàn đi dạo thanh lâu, uống trà cùng hoa khôi đấy.
Vốn dĩ đã có người nhận tội, Công Tôn Trác Ngọc cũng không muốn phí công điều tra thêm. Kết án sớm chính là phong cách của anh. Chỉ là, Ngu Sinh Toàn đáng ghét đến thế, nếu dễ dàng bỏ qua thì thật không cam tâm.
Công Tôn Trác Ngọc quay sang Đan Thu, hỏi: "Trong phòng ngươi có mùi hương nồng nặc, vì nơi đó chính là hiện trường đầu tiên khi Lôi Toàn bị giết. Ngươi đã thắp hương để che lấp mùi máu tanh, đúng không?"
Đan Thu gật đầu: "Đúng vậy..."
Công Tôn Trác Ngọc hừ một tiếng: "Đã như vậy, chứng tỏ Lôi Toàn không chết ở bên giếng. Nhưng ngươi thân thể yếu đuối, khí lực không đủ, còn Lôi Toàn thì cao tám thước. Ngươi làm thế nào nhấc được một hòn đá nặng đến thế để đập chết hắn, rồi lại làm sao kéo hắn từ phòng đến giếng mà phi tang?"
Đây là một câu hỏi hết sức thực tế. Đan Thu căn bản không thể nâng nổi hòn đá đó, lại càng không đủ sức kéo lê một người như Lôi Toàn.
Nói xong, Công Tôn Trác Ngọc tiện tay đặt hòn đá xuống đất. Tiếng động nặng nề vang lên, đủ để thấy trọng lượng của nó.
Đan Thu nhận ra mình lỡ lời, sắc mặt lập tức tái nhợt. Ngu Sinh Toàn ngồi bên cạnh như bị rút hết hồn vía, ngã ngồi xuống đất, bất lực.
Công Tôn Trác Ngọc thản nhiên kết luận, chỉ vào hai người họ: "Người giết Lôi Toàn là Ngu Sinh Toàn. Đan Thu, ngươi chỉ là đồng phạm."
Cả hai không ai phản bác, thần sắc đều xám xịt.
Bên ngoài, bách tính lập tức xôn xao. Không ngờ Ngu Sinh Toàn lại chính là hung thủ, kẻ tin thì đầy phẫn nộ, người nghi ngờ thì kinh ngạc, nhưng phần đông đều kinh thán tài năng phá án của Công Tôn Trác Ngọc.
Đỗ Lăng Xuân chống cằm, không nói một lời. Nhưng qua ánh mắt hài lòng, rõ ràng y đang rất thỏa mãn.
Tri phủ thấy Công Tôn Trác Ngọc giành hết công lao, trong lòng không khỏi bực bội. Ông ta chợt nhớ ra một điểm nghi vấn, liền hỏi: "Bổn quan nhớ rằng Công Tôn đại nhân từng nói thi thể đã chết hơn mười lăm ngày. Nếu như đây là thi thể của Lôi Toàn, tại sao chỉ vài ngày ngắn ngủi lại phân hủy nhanh đến vậy?"
Công Tôn Trác Ngọc đã nghĩ đến chuyện này. Tốc độ phân hủy của thi thể thường bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Ban đầu, anh còn tưởng do nước trong giếng, nên cố tình thả một con chuột chết xuống để thử nghiệm. Kết quả cho thấy tốc độ phân hủy rất bình thường. Mãi đến sau đó, anh mới phát hiện ra đầu mối.
Công Tôn Trác Ngọc cười nhạt, chỉ vào Ngự Sinh Toàn: "Về chuyện này, tri phủ đại nhân nên hỏi hắn."
Chương 181
Làm thế nào để thi thể phân hủy nhanh nhất trong thời gian ngắn?
Người hiện đại sẽ nói, dùng nước cường toan. Nhưng trong thời cổ đại, khi kỹ thuật chưa phát triển, họ phải tìm đến một thứ khác, đó là lục phàn. Lục phàn vốn là một vị thuốc đông y, dùng để sát trùng hóa đờm. Nhưng nếu đun nóng, nó sẽ biến thành chất lỏng ăn mòn tương tự như axit sulfuric, thường được trộm cướp sử dụng để phá khóa.
Khi kiểm tra thi thể, Công Tôn Trác Ngọc từng ngửi thấy một mùi rất hăng, lúc đó không để ý. Mãi đến khi xác định thi thể là Lôi Toàn, anh mới lập tức hiểu ra.
Đặc biệt, với thân phận là đại phu của dược phường, Ngu Sinh Toàn hoàn toàn có thể lợi dụng chức vụ để chế tạo hóa thi thủy từ lục phàn.
Công Tôn Trác Ngọc chậm rãi quay lại, cầm lấy hộp sọ của thi thể, chỉ vào vết thương trên đó và nói với mọi người: "Xương gò má của hộp sọ có nhiều vết cắt sắc nhọn, rất có thể do dao nhỏ hoặc trâm cài gây ra. Mục đích là để phá hủy diện mạo thi thể, khiến người ta không nhận ra dung mạo. Nhưng chỉ làm vậy thôi chưa đủ để che giấu thân phận và giới tính của Lôi Toàn."
Anh bước đến bên Ngu Sinh Toàn, kín đáo đá hắn một cái, rồi tiếp tục: "Vì thế, hung thủ đã dùng lục phàn chế thành hóa thi thủy để ăn mòn thi thể Lôi Toàn. Sau đó, ngâm trong nước giếng ba ngày, khiến vết thương lở loét, thi thể phân hủy sinh giòi, tạo ra cảm giác đã chết mấy chục ngày."
Toàn bộ bí mật của Ngu Sinh Toàn bị phơi bày, khiến hắn sợ hãi ngẩng đầu lên. Hắn cảm giác như mình bị lột sạch quần áo, tr.ần tr.ụi dưới ánh nắng gay gắt, không còn nơi nào để che giấu.
Với một đại phu, lẽ ra phải lấy lòng nhân từ làm gốc. Nhưng hắn lại sát nhân diệt khẩu, tâm địa thật độc ác. Bách tính xung quanh thấy hắn im lặng không phản bác, càng thêm phẫn nộ, tiếng la ó vang dội khắp nơi.
Công Tôn Trác Ngọc bước lên công đường, gõ mạnh kinh đường mộc, trầm giọng hỏi lại lần cuối: "Đan Thu, Ngu Sinh Toàn, hai người có nhận tội hay không?"
Cả hai đều cúi đầu, bất lực gật nhẹ, hoàn toàn tuyệt vọng.
Giọng nói của Công Tôn Trác Ngọc không lớn, nhưng đủ để mọi người nghe rõ: "Đã vậy, vụ án giếng cổ vứt xác đến đây coi như kết thúc. Nam nhân Giang Châu là Ngu Sinh Toàn cấu kết với nha hoàn Đan Thu, sát hại quản gia tri phủ Lôi Toàn, phi tang xuống giếng. Tội ác tày trời, nay áp giải vào đại lao chờ phán quyết. Nghi phạm Lăng Sương vô tội, thả tự do. Lui đường!"
Theo tiếng "Uy vũ" vang lên từ hai bên nha dịch, Đan Thu và Ngu Sinh Toàn mặt trắng bệch bị áp giải ra ngoài. Bách tính xung quanh thấy kỳ án được phá, không kìm được vỗ tay tán thưởng, tiếng khen ngợi vang dội không ngớt.
Sau khi thẩm án xong, Công Tôn Trác Ngọc hí hửng chạy đến bên Đỗ Lăng Xuân, nghiêm túc chắp tay nói: "Tư công, hạ quan may mắn không làm nhục mệnh."
Đầu óc toàn bộ bị công danh lợi lộc chiếm lĩnh.
Thăng quan! Phát tài! Tiến kinh thành!
Hôm ấy, tuy Đỗ Lăng Xuân chỉ cho Công Tôn Trác Ngọc ba ngày điều tra vụ án, có chút ý làm khó, nhưng người kia lại hoàn thành trước hạn một ngày, thừa ra thời gian dư dả, quả thực thông minh tuyệt đỉnh.
Đỗ Lăng Xuân tuy vẻ ngoài không biểu lộ, nhưng trong lòng đã hài lòng lắm, ý tứ sâu xa mà nói: "Công Tôn đại nhân xử án như thần, thật là rường cột nước nhà. Sau khi bổn tư công về kinh, nhất định sẽ tấu trình Hoàng thượng để khen thưởng."
Y nói xong, lại liếc mắt nhìn Tri phủ Tô Đạo Phủ đang sợ hãi bất an, như đùa mà rằng: "Tô đại nhân, nếu tinh thần không đủ minh mẫn, chẳng bằng sớm nhường chức vị lại cho người tài trẻ tuổi, cũng không phải chuyện xấu."
Công Tôn Trác Ngọc đứng bên gật đầu lia lịa, trong lòng nghĩ đúng là nên nhường cho người trẻ, chẳng hạn như anh, người vừa trẻ vừa có tài!
Làm quan vốn là vì công danh lợi lộc, Tô Đạo Phủ đã bò lên vị trí tri phủ này tất nhiên là kẻ có chút khôn khéo. Làm sao nghe không ra ẩn ý trong lời của Đỗ Lăng Xuân, tim liền run bắn một cái, suýt chút nữa ngã khỏi ghế, cả người như bị sét đánh:
"Tư công... hạ quan... hạ quan..."
Đỗ Lăng Xuân chẳng buồn để tâm, vung tay áo, xoay người rời đi. Trước khi rời khỏi, y quay đầu, liếc nhìn Công Tôn Trác Ngọc, nói:
"Ngày mai bổn tư công áp giải phản đảng hồi kinh phục mệnh, tối nay tại Lạc Thủy đình tổ chức yến tiệc, Công Tôn đại nhân nhất định phải đến uống một chén mọn."
Công Tôn Trác Ngọc lập tức chắp tay thi lễ:
"Hạ quan nhất định đến đúng giờ."
Nghe vậy, Đỗ Lăng Xuân khẽ nhếch khóe môi, dường như tâm trạng rất tốt, không nói thêm gì nữa, dẫn theo hộ vệ rời khỏi nha phủ.
Công Tôn Trác Ngọc cứ thế đứng tiễn y đi, mãi đến khi không còn thấy bóng người, anh mới đứng thẳng dậy, trong lòng âm thầm hưng phấn. Nghe ý tứ của Đỗ Lăng Xuân, tám phần là muốn đề bạt anh, sau này còn sợ gì không có tiền đồ?
"Công Tôn đại nhân..."
Có người đang kéo tay áo anh.
"Công Tôn đại nhân..."
Vẫn tiếp tục kéo.
Công Tôn Trác Ngọc cuối cùng lấy lại tinh thần, nhìn xuống, chỉ thấy Tô Đạo Phủ đang cười nịnh bợ, lén lút tiến lại gần, anh nhướng mày hỏi: "Đại nhân có việc gì sao?"
Tô Đạo Phủ khom lưng, cúi gập người vài phần: "Trước đây là hạ quan có mắt không tròng, nhiều lần mạo phạm Công Tôn đại nhân, mong ngài rộng lượng bỏ qua. Còn nữa, mong ngài nói vài lời tốt đẹp với tư công giúp hạ quan..."
Hắn vừa nói vừa cười xòa, đồng thời nắm lấy tay Công Tôn Trác Ngọc, kín đáo nhét vào một xấp ngân phiếu dày cộp: "Chút lòng thành nhỏ nhoi, chẳng đáng gì."
Công Tôn Trác Ngọc mắt sáng lên, đương nhiên là vui vẻ nhận lấy. Nhưng đúng lúc này, lại có một kẻ ngang ngược xen vào giữa.
Hệ thống bỗng chốc đáp xuống, ngồi ngay lên tay hai người: [Thân ái, tiền bẩn thì chúng ta không lấy đâu nhé~]
Công Tôn Trác Ngọc cảm thấy tiền này rất sạch, ngân phiếu đều là loại mới tinh, không dính lấy một hạt bụi. Nhưng vì từng bị điện giật tạo thành bóng ma tâm lý, anh đáp mà không có chút khí thế nào:
"Ngươi không lấy, nhưng ta muốn."
Hệ thống phe phẩy cánh: [Thân ái, bị điện giật đau lắm đó nha~]
Công Tôn Trác Ngọc: "..." Thật sự rất đau.
Tô Đạo Phủ vốn đang chờ Công Tôn Trác Ngọc trả lời, nào ngờ đối phương im lặng thật lâu, bỗng dưng sắc mặt sa sầm, trả ngân phiếu lại, giận dữ nói: "Bản quan là người thanh liêm chính trực, sao có thể nhận hối lộ? Tri phủ đại nhân xin hãy mang về đi!"
Công Tôn Trác Ngọc nói lời này mà lòng đau như cắt. Lão cáo già Tô Đạo Phủ kia ra tay hào phóng như thế, xấp ngân phiếu vừa rồi ít nhất cũng ba nghìn lượng bạc, phải kiếm bao lâu mới được chừng ấy chứ. Anh vậy mà trả lại hết?
Không chỉ anh, ngay cả Tô Đạo Phủ cũng không thể tin nổi. Công Tôn Trác Ngọc là kẻ nổi danh chẳng thứ gì không dám nhận, nay lại đẩy hết đống ngân phiếu trắng phau ấy đi?
Tô Đạo Phủ chỉ vào anh, lắp bắp mãi chẳng thốt nên lời: "Công Tôn Trác Ngọc, ngươi!"
Tô Đạo Phủ giờ đã thất thế, Công Tôn Trác Ngọc nào còn sợ, chỉ hừ nhẹ một tiếng, quay người bỏ đi.
Lão cáo già này còn tham lam hơn cả anh, sớm muộn gì cũng phải vào đại lao ngồi.
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ bụng, tối nay Đỗ Lăng Xuân mở yến tiệc, chắc là các quan viên bên dưới muốn nịnh nọt, đến lúc đó hẳn sẽ có màn ca múa nối tiếp không ngừng, không ồn ào đến tận nửa đêm e rằng không chịu dừng. Anh đang định về phòng nghỉ ngơi, ai ngờ quản gia đột nhiên chạy ào đến cản đường.
"Đại nhân, xin dừng bước!"
Công Tôn Trác Ngọc mỗi lần nghe thấy quản gia gọi mình đều cảm thấy chẳng có chuyện tốt lành gì, liền lùi lại mấy bước, ánh mắt cảnh giác: "Lại thiếu bạc ở đâu nữa?!"
Quản gia sửng sốt, nhanh chóng giải thích: "Đại nhân hiểu lầm rồi, không phải trong phủ hết bạc, mà là dân chúng bên ngoài đang tụ tập, muốn gặp ngài!"
Công Tôn Trác Ngọc ngẩn ra một lúc: "Tụ tập bên ngoài? Muốn đánh ta à?"
Gần đây anh đâu có gây họa gì.
Quản gia vội vã nói rõ: "Đại nhân, không phải đánh ngài, là muốn gặp ngài thật sự!"
"Gặp rồi sẽ đánh," Công Tôn Trác Ngọc phất tay áo chán ghét, "Không đi, không đi, bảo bọn họ bản quan có việc gấp, không rảnh gặp."
Quản gia thấy mình nói không rõ, vội giữ anh lại, giải thích cặn kẽ: "Đại nhân, dân chúng ở các thôn lân cận đều cử người đến, nói cảm ơn ngài đã diệt trừ sơn tặc trên núi Thanh Phong, hổ dữ trong rừng Mật Tử, còn làm một tấm biển muốn tạ ơn ngài! Mau theo tiểu nhân ra ngoài xem đi!"
Nói xong không đợi Công Tôn Trác Ngọc phản ứng, quản gia đã kéo anh ra ngoài. Quả nhiên, bên ngoài tụ tập rất nhiều dân chúng. Người thì đánh chiêng gõ trống, thậm chí còn mời đội múa lân. Khi Công Tôn Trác Ngọc xuất hiện, không biết ai đã châm dây pháo, lập tức pháo nổ đì đùng khắp nơi.
Công Tôn Trác Ngọc lần đầu tiên thấy cảnh tượng thế này, giật mình hoảng sợ, theo phản xạ nép sau lưng quản gia. Anh đang định nói gì đó, thì trong đám đông bỗng bước ra một lão giả tóc bạc, chống gậy, vận áo vải thô, hành lễ với anh: "Lão hủ là Lưu Quan Sơn, bái kiến đại nhân."
Ngàn năm thế gia, trăm năm vương triều, mỗi gia tộc ít nhiều đều có một người cao niên như cây cổ thụ che mưa chắn gió, Lưu Quan Sơn chính là nhân vật như vậy.
Ông từng đỗ cử nhân khi còn trẻ, nhưng không chịu nổi hiểm ác chốn quan trường nên lui về mở trường dạy học. Văn chương của ông nổi tiếng khắp nơi, được coi là một đời danh sĩ.
Lưu Quan Sơn nay đã bảy mươi tuổi, cả đời thanh liêm chính trực, nhân hậu thiện lương, được dân chúng Giang Châu vô cùng kính trọng. Tuy không có chức vị, nhưng không ngoa khi nói rằng lời ông nói còn có trọng lượng hơn cả quan huyện. Dù là tri phủ Tô Đạo Phủ, đến đây cũng phải nể ông vài phần.
Công Tôn Trác Ngọc tự nhiên là nhận ra được Lưu Quan Sơn, lúc nhỏ anh còn từng học trong học đường của ông ta. Thấy vậy, anh vội từ sau lưng quản gia bước ra, đỡ lấy Lưu Quan Sơn: "Lưu lão gia khách sáo rồi. Ông đường xa mà đến, không biết là có việc gì vậy?"
Lưu Quan Sơn vuốt vuốt chòm râu bạc: "Giang Châu tuy là nơi dựa núi kề sông, phong cảnh hữu tình, nhưng vẫn luôn có hai đại nạn: Một là bọn thổ phỉ trên núi Thanh Phong, chúng đi cướp bóc khắp nơi, không chỉ chặn đường quan đạo mà còn cắt đứt đường thông thương. Hai là hổ dữ trong rừng Mật Tử, con vật hung tợn này luôn rình rập, gây nguy hiểm, khiến dân chúng kinh hãi khôn nguôi."
Công Tôn Trác Ngọc đại khái đã hiểu bọn họ vì sao mà đến, chỉ nghe Lưu Quan Sơn nói tiếp: "Thế nhưng, đại nhân mấy ngày trước chẳng những đã phái người lên núi tiễu trừ bọn thổ phỉ, mà còn bắt được cả con ác hổ ăn thịt người kia. Quả thật là giúp bá tánh Giang Châu trừ được đại họa. Chúng tôi đều là kẻ nghèo hèn, chẳng có gì đáng giá để dâng tặng, chỉ có thể làm một tấm biển mang đến tạ ơn đại nhân. Mong ngài đừng chối từ."
Lời vừa dứt, liền có hai tráng hán bước lên, tay nâng một tấm biển được phủ bằng lụa đỏ. Khi tấm lụa được vén lên, bốn chữ lớn dát vàng sáng chói liền hiện ra——
"Vì dân trừ hại."
Công Tôn Trác Ngọc đừng nói là kiếp này, kiếp trước cũng chưa từng được trải nghiệm đãi ngộ như vậy. Anh vì sao lại bái nhiều sư phụ đến thế? Chính là vì đi dạo một vòng cũng có thể bị dân chúng nhổ nước bọt hoặc ném đá, an nguy cá nhân chẳng được đảm bảo.
Thế nhưng không ngờ, chuyện được tặng biển này lại có ngày rơi xuống đầu anh?
Công Tôn Trác Ngọc đi trước đi sau, trái nhìn phải ngắm tấm biển ấy một lượt, luôn cảm thấy như đang nằm mơ. Thấy Lưu Quan Sơn cười hiền hậu nhìn mình, anh vội chỉnh lại sắc mặt, nghiêm túc nói: "Lưu lão gia nói vậy là quá lời. Bản quan làm quan ở một huyện, tất nhiên phải lo cho dân chúng dưới quyền. Việc trừ hổ dữ, diệt đạo tặc chẳng qua là bổn phận, thực sự không dám nhận sự ca ngợi này của mọi người."
Ánh mắt Lưu Quan Sơn hiền từ, giọng nói già nua chậm rãi: "Lão hủ mạn phép nói một câu, cũng coi như là nhìn đại nhân lớn lên. Chuyện trước kia không nhắc đến làm gì, nhưng nếu ngài thực tâm vì dân cầu phúc, vậy thì xứng đáng với hai chữ phụ mẫu mà dân chúng dành cho quan. Xin hãy nhận một lạy của chúng ta."
Lời vừa dứt, đám dân chúng phía sau ông đồng loạt quỳ xuống, tiếng hô như sấm: "Đa tạ Công Tôn đại nhân vì dân trừ hại!"
Công Tôn Trác Ngọc dù đã cố gắng kiềm chế, nhưng cả người vẫn sung sướng đến nỗi nở hoa, đẹp đẽ đến mức suýt chảy cả nước mũi, trên mặt lại cố duy trì vẻ bình thản, bước lên nâng mọi người đứng dậy: "Đây là việc nên làm, là việc nên làm mà!"
Công Tôn Trác Ngọc luôn nghĩ, thiên hạ này hợp rồi tan, tan rồi hợp. Trải qua hàng trăm triều đại, nhìn lại hậu thế, quân vương không dưới trăm vị, đất đai mênh mông tràn khắp, bách tính đông đúc đến hàng ngàn. Một người mang đầy tai tiếng như anh, cũng chẳng thiếu trong số đó.
Lưu Quan Sơn tuy danh tiếng vang vọng Giang Châu, nhưng uy vọng ấy là bảy mươi năm tích lũy, một đời thanh liêm mà đổi lấy. Công Tôn Trác Ngọc tự biết bản thân không thể làm được như ông, cho nên chọn một con đường khác biệt. Chỉ là, dù đã chuẩn bị tinh thần mang đầy tiếng xấu, anh vẫn không ngăn được lòng mình vui vẻ khi nghe dân chúng khen ngợi.
Mấy vị sư phụ của anh trốn ở phía sau cửa, hai tay khoanh lại, cười nhìn trò vui.
"Đây là lần đầu tiên đại nhân được người ta khen ngợi nhỉ, nhìn xem hắn vui đến nỗi mắt cũng híp lại rồi."
Tác giả có lời muốn nói:
Công Tôn Trác Ngọc: "Khoảnh khắc huy hoàng nhất trong đời!!!!!!"
Chương 182
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ rằng Đỗ Lăng Xuân mở tiệc khoản đãi, nhất định sẽ có rất nhiều khách khứa, nhưng thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Đối phương dường như chỉ mời mỗi mình anh.
Bốn phía của đình giữa hồ đều thả rèm lụa, từ xa nhìn lại, bên trong có chút mông lung mờ ảo. Một vầng trăng tròn soi bóng dưới nước, cành lá in bóng xiêu vẹo, hương thơm thoang thoảng. Đỗ Lăng Xuân ngồi trong đình.
Thấy vậy, Công Tôn Trác Ngọc trong lòng âm thầm thắc mắc. Anh bước tới hành lễ, rồi quỳ ngồi xuống đối diện Đỗ Lăng Xuân, nhìn quanh một lượt, phát hiện nơi đây ngoài thị nữ và hộ vệ, dường như chỉ có hai người bọn họ:
"Tư công không mời người khác sao?"
"Người khác mà ngươi nói là ai?" Đỗ Lăng Xuân lại tự mình rót cho anh một chén rượu, cười như không cười hỏi: "Là Tô Đạo Phủ ư?"
Trong mắt Đỗ Lăng Xuân, cả thành Giang Châu này, chỉ có mỗi Công Tôn Trác Ngọc đáng để y bận tâm kéo về phe mình, những kẻ khác đều không đáng gặp.
Công Tôn Trác Ngọc nhận lấy chén rượu, nghe ra ý chán ghét Tô Đạo Phủ trong lời nói của y, liền thức thời không nhắc thêm, chỉ cười: "Đa tạ tư công."
Áo của người kia lúc nào cũng là sắc đỏ hoặc tím, nhưng hôm nay hiếm thấy lại vận một bộ trường sam màu trắng, mái tóc dài đen nhánh được cố định bằng trâm ngọc. Dưới yết hầu không rõ ràng lắm, có một nốt chu sa đỏ rực, vô cùng nổi bật.
Đỗ Lăng Xuân không phải người lương thiện, từ triều đình đến chốn dân gian đều đồn như vậy.
Cho nên Công Tôn Trác Ngọc lại càng tò mò, kiếp trước y vì sao lại giúp anh? Là bởi quan hệ thân thích sao? Muốn hỏi, nhưng lại không biết mở lời thế nào, bèn chỉ có thể vòng vo, bịa chuyện lung tung: "Lần đầu gặp đại nhân, hạ quan đã cảm thấy rất thân thiết, mơ hồ nhớ rằng nhà mình có một người thân xa cũng họ Đỗ. Nói không chừng trăm năm trước vẫn còn là thân thích."
Đỗ Lăng Xuân uống một chén rượu, nhướng mắt nhìn anh: "Ai nói cho ngươi biết, họ của ta là Đỗ?"
Những kẻ nô tài vào cung hầu hạ phần lớn đều xuất thân bần hàn, có kẻ còn không cha không mẹ, chỉ là những đứa trẻ lớn lên trong ổ ăn mày. Cặp chị em họ Đỗ này bị các triều thần công kích, đả phá cũng chỉ vì xuất thân thấp kém.
Đỗ Lăng Xuân khẽ lay ly rượu, ánh sáng lấp lánh phản chiếu trên những đường hoa văn tinh xảo: "Họ này là do tỷ tỷ ta chọn."
Tỷ tỷ? Vậy chính là quý phi đương triều, Đỗ Thu Vãn.
Khi họ còn nhỏ vào cung, thậm chí đến họ cũng không có, thái giám quản sự hỏi đến, Đỗ Thu Vãn liền tùy tiện chọn chữ "Đỗ" làm họ. Đương nhiên không thể nào là họ hàng của Công Tôn Trác Ngọc.
Đỗ Lăng Xuân nói xong, như thể hồi tưởng lại chuyện cũ, y khẽ vung tay áo: "Vật đổi sao dời, Giang Châu này cũng không còn quang cảnh như xưa nữa."
Công Tôn Trác Ngọc nghe ra được một chút ý tứ ẩn sau lời y: "Tư công trước kia từng đến đây?"
Đại khái là vào lúc đêm khuya chỉ có hai người, con người thường dễ dàng buông lỏng tâm phòng bị. Đỗ Lăng Xuân chống cằm, lười biếng ậm ừ một tiếng: "Đã đến một lần, hai mươi mấy năm trước."
Nhưng khi ấy y chưa có được vẻ vang như bây giờ. Khi đó, thiên hạ đang trong thời loạn lạc, nạn đói kéo dài năm này qua năm khác. Y cùng Đỗ Thu Vãn chỉ là hai đứa trẻ ăn xin đói khát, không đủ ăn mặc, vừa đi xin vừa lần theo đường mà vào kinh, có lần từng đi ngang qua Giang Châu.
Mặc dù đó đã là chuyện từ rất lâu rất lâu về trước, nhưng cảm giác đói khát ấy vẫn như một thứ độc dược bám chặt vào tận xương tủy, không cách nào xua đi được. Huống chi khi đó là tiết đông giá rét, cái lạnh thấu tận xương, trên nền tuyết trắng xóa phủ đầy đất không chỉ có đá, mà còn có cả thi thể người chết.
Đỗ Lăng Xuân và Đỗ Thu Vãn mặc đồ rách rưới, giữa trời tuyết rơi dày, quần áo không che kín thân. Bọn họ tuổi nhỏ, cơ thể yếu đuối, không thể tranh giành thức ăn với những kẻ ăn mày khác, chỉ có thể ôm bụng đói. May mắn thay, có một vị phu nhân tốt bụng, ở trước cửa nhà phát cháo cứu giúp dân nghèo.
"Đệ đệ, mau ăn đi!"
Đỗ Thu Vãn bưng một bát cháo nóng tới, đút cho Đỗ Lăng Xuân ăn. Trời gió lạnh buốt, y cũng không biết mình nếm được vị gì, chỉ cảm thấy nóng bỏng, cứ như đang thiêu đốt trong dạ dày. Hai người co ro ở góc tường, đút qua lại, nhanh chóng uống hết bát cháo đó.
Phía sau họ có một hộ gia đình, cánh cửa lớn đột nhiên kêu "két" một tiếng mở ra, từ bên trong bước ra một vị lão gia nho nhã khoảng ba mươi tuổi. Ông ôm trong lòng một tiểu công tử, mặc đồ kín đáo, sạch sẽ, khác biệt hoàn toàn với những người tị nạn bẩn thỉu ngoài kia.
Phu nhân phát cháo nhìn thấy họ, bước tới nói: "Phu quân sao lại ra đây, chàng cảm lạnh chưa khỏi, mau vào trong đi."
"Không sao," vị lão gia nho nhã đặt tiểu công tử xuống đất, nhìn cảnh tuyết trắng xóa trước mắt thở dài, "Năm nay tuyết rơi lớn quá..."
Tiểu công tử vui vẻ chạy ra ngoài, tuy thông minh lanh lợi, nhưng lại có chút hồn nhiên vô tư: "Tuyết rơi thật là vui."
Vị lão gia nho nhã lại bế hắn lên, đi xuống hai bậc thềm đá, xung quanh toàn những kẻ ăn mày hôi hám, trong góc còn co ro hai đứa trẻ nửa lớn nửa nhỏ, tóc tai bù xù, chia nhau ăn bát cháo loãng.
Càng thấp hèn, càng thấy thấp hèn, thấp hèn đến tận cùng.
Vị lão gia nho nhã cúi đầu, nói với tiểu công tử: "Trác Ngọc, ngươi sau này phải học hành chăm chỉ, trở thành một quan tốt, đừng để những người dân này thiếu thốn quần áo, không có chỗ che mưa tránh gió."
Tiểu công tử tuy còn nhỏ, nhưng rất trưởng thành, gật đầu nói: "Hài nhi biết rồi."
Hắn nói xong, dường như thấy hai tiểu ăn mày thật đáng thương, từ trong lòng cha lấy hai cái bánh bao đưa cho họ. Hơi nóng bốc lên, cầm trong tay mà thấy nóng rát.
Đỗ Lăng Xuân đói quá, ăn ngấu nghiến. Vị tiểu công tử đứng đó nhìn họ, một lát sau mới quay người rời đi.
Thỉnh thoảng có dân đến cảm ơn vì được phát cháo, quỳ dưới đất gọi vị lão gia nho nhã là "Công Tôn đại nhân".
Giang Châu là một nơi tốt, họ Công Tôn cũng không nhiều. Chỉ tiếc rằng sau này vị Công Tôn đại nhân ấy sớm qua đời, tiểu công tử cũng quên đi những lời đã nói, lời hứa đã thề thuở bé.
Nói cho cùng, đều là nhân quả luân hồi...
Suy nghĩ dần trở về hiện tại, họ vẫn ở trong đình giữa hồ. Gió từ thủy điện thổi tới, màn lụa nhẹ bay, trên bàn đầy thức ăn ngon, không phải là thời gian tuyết lớn mùa đông ở Giang Châu năm xưa.
Đỗ Lăng Xuân bất chợt nhớ lại chuyện cũ, tâm trạng xáo trộn, vô thức uống nhiều rượu. Y nhíu chặt mày, cảm thấy những ngày tháng nghèo khổ đó như cái gai đen tối chôn sâu trong lòng, khó chịu và đáng ghét, ngực phập phồng một lúc, bỗng nhìn chằm chằm Công Tôn Trác Ngọc nói: "...Có lẽ, chúng ta thực sự đã gặp nhau từ trước."
Công Tôn Trác Ngọc đã không còn nhớ nữa, anh ta chỉ nhìn bình rượu nghiêng trên bàn, muốn nói lại thôi: "Tư công, ngươi uống nhiều rồi..."
Đỗ Lăng Xuân không biết mình có uống nhiều không, đầu óc mơ màng, không rõ là tỉnh hay say. Y lảo đảo đứng dậy, cố gắng bám vào lan can. Bên cạnh là hồ nước, Công Tôn Trác Ngọc sợ y rơi xuống, vội vàng đỡ lấy cánh tay y: "Tư công..."
Đỗ Lăng Xuân đã có chút men say, hơi thở toàn mùi rượu nhạt nhòa, mắt đảo qua, chậm rãi nhìn Công Tôn Trác Ngọc, giọng thấp trầm: "Công Tôn Trác Ngọc..."
Giọng nói vẫn mềm mại như vậy, nhưng so với thường ngày lại thêm vài phần khàn khàn.
Công Tôn Trác Ngọc đối diện ánh mắt của y, tim bỗng lỡ một nhịp, bỗng nhiên thấy tay chân luống cuống, phản xạ có điều kiện rút tay lại. Tuy nhiên, ngay giây sau Đỗ Lăng Xuân vì mất điểm tựa, bước chân loạng choạng ngã vào lòng anh.
Tiêu đời!
Công Tôn Trác Ngọc chỉ có thể đỡ lấy y, nhìn quanh một vòng, phát hiện nha hoàn đều chờ ở xa, giữa là một hành lang dài dằng dặc. Có ý muốn gọi, nhưng lại cảm thấy chỉ là say rượu, không cần làm to chuyện.
Đỗ Lăng Xuân là thái giám, thân hình mảnh mai hơn người đàn ông bình thường, cũng mềm mại hơn. Trên áo có mùi hương trầm thoang thoảng. Vải áo có cảm giác mát lạnh và mịn màng đặc trưng của lụa.
Công Tôn Trác Ngọc bỗng nhiên thấy ngượng ngùng, như thể trong lòng anh không phải là một người đàn ông, mà là một cô gái, giọng cũng lắp bắp: "Tư... Tư công, không bằng để hạ nhân hầu ngươi về phòng nghỉ ngơi?"
Đỗ Lăng Xuân lắc đầu, mày nhíu chặt chưa từng giãn ra, y không thích người khác hầu hạ sát bên. Nghĩ đến ngày mai sẽ về kinh, y nắm chặt vai Công Tôn Trác Ngọc, thấp giọng hỏi: "Ngươi có nguyện ý vì ta mà cống hiến không?"
Cành ô liu chìa ra quá nhanh, có người chưa nghe rõ.
Công Tôn Trác Ngọc: "A?"
Đỗ Lăng Xuân nheo mắt dài, men say lên đầu, lại thấp giọng lặp lại lần nữa: "Công Tôn Trác Ngọc, nếu ngươi theo ta, ngày sau vào nội các, bước lên mây xanh, chỉ là chuyện một câu nói của ta."
Y vừa nói xong, đối với Công Tôn Trác Ngọc, như thể từ trên trời rơi xuống một chiếc bánh vàng, khiến anh choáng váng, nửa ngày cũng không phản ứng lại. Mà Đỗ Lăng Xuân lâu không nghe thấy câu trả lời, tưởng anh còn đang do dự, ánh mắt u ám một lát: "Chẳng lẽ ngươi cũng như bọn họ, chê ta là một thái giám?"
Công Tôn Trác Ngọc theo bản năng nói: "Sao có thể."
Anh từ trước đến nay không phân biệt đối xử.
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy không nói, không nhúc nhích nhìn chằm chằm vào mắt anh, dường như muốn phân biệt anh nói thật hay nói dối, tuy nhiên Công Tôn Trác Ngọc vẻ mặt bình thản, không giống nói dối.
"Công Tôn Trác Ngọc," Đỗ Lăng Xuân trong đêm tối mênh mông, trầm giọng, "Hạc sinh ở cửu cao, phượng đậu trên cây ngô đồng, ta có thể cho ngươi quyền thế giàu sang mà người đời khao khát mà không thể với tới, ngươi là người thông minh, nên chọn cành tốt mà đậu."
Trong đình bốn góc đặt lư hương thú linh, miệng thú bốc lên một làn khói lượn lờ, nhưng không lâu sau lại bị gió thổi tan. Mặt hồ yên tĩnh dậy lên gợn sóng, làm vỡ tan ánh trăng lạnh lẽo, lấp lánh sáng ngời.
Công Tôn Trác Ngọc đáp...
"Nguyện vì Tư công, cống hiến hết sức."
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy nheo mắt, khóe miệng khẽ nhếch, dường như rất hài lòng với câu trả lời này, còn muốn nói thêm gì đó, nhưng đã mờ mắt, đầu nặng chân nhẹ, trực tiếp say ngã vào lòng Công Tôn Trác Ngọc.
Đôi môi ấm áp mềm mại của y vô tình lướt qua bên má đối phương, cuối cùng lại rơi xuống cổ. Cảm giác ẩm ướt nhẹ nhàng như chuồn chuồn lướt nước chỉ thoáng qua, nhưng đủ để khiến người trong cuộc cứng đờ cả người, vành tai lập tức đỏ bừng.
Công Tôn Trác Ngọc thực sự muốn gọi nha hoàn tới, lưỡi như bị thắt lại: "Mau... mau... mau... mau tới đây!"
Lập tức có một nha hoàn chạy vào trong đình: "Công Tôn đại nhân có gì sai bảo?"
Công Tôn Trác Ngọc đỡ Đỗ Lăng Xuân, như thể đang cầm một củ khoai nóng bỏng tay: "Tư công uống say rồi, các ngươi mau đưa y về phòng nghỉ ngơi."
Nha hoàn nghe vậy vô thức đưa tay ra, muốn giúp đỡ, nhưng chưa chạm tới tay áo Đỗ Lăng Xuân, chẳng biết nghĩ tới điều gì, lại nhanh chóng rút tay về: "Đại nhân thứ lỗi, Tư công không thích chúng nô tỳ hầu hạ gần gũi, nếu phạm phải quy tắc, e rằng khó giữ mạng."
Nếu Đỗ Lăng Xuân là một nam nhân bình thường, có lẽ còn có nha hoàn liều mạng, mạo hiểm leo lên giường. Nhưng tình hình hiện tại là, giúp đỡ Đỗ Lăng Xuân không chỉ không có lợi gì, mà còn có thể mất đầu.
Công Tôn Trác Ngọc sững sờ: "Vậy phải làm sao?"
Nha hoàn cắn môi, khó xử lắc đầu.
Công Tôn Trác Ngọc dỗ dành nàng: "Tư công hiện giờ đang say, các ngươi tìm hai người đưa y về, y sẽ không biết đâu."
Nha hoàn thấy anh đỡ Đỗ Lăng Xuân, do dự nói: "Không bằng làm phiền đại nhân, đưa Tư công về phòng nghỉ ngơi?"
Công Tôn Trác Ngọc: "......"
Nhiệt độ ở tai Công Tôn Trác Ngọc vừa hạ xuống một chút, nghe vậy lại bùng lên. Nhưng đối diện ánh mắt nha hoàn, anh chỉ có thể cắn răng, đỡ Đỗ Lăng Xuân lên lưng: "Cô nương đi trước dẫn đường."
Tác giả có lời muốn nói: Công Tôn Trác Ngọc: Ôi, ngượng quá.
Chương 183
Công Tôn Trác Ngọc vẫn là lần đầu tiên thấy vị Đỗ công công quyền nghiêng triều đình này lộ ra bộ dạng như thế, nhìn tay mình, cũng không rút lại. Anh cúi đầu ghé sát bên môi Đỗ Lăng Xuân, muốn nghe rõ y đang nói gì.
"Đừng..."
Giọng nói căng thẳng sợ hãi.
"Đừng chạm vào ta..."
Mang theo một chút phẫn hận không cam lòng.
Bị thiến từ nhỏ, có lẽ đó là cơn ác mộng suốt đời của Đỗ Lăng Xuân. Dù sau này quyền cao chức trọng, y vẫn luôn khắc khoải trong lòng. Hơi thở y dồn dập, thân hình không tự giác co lại, áo lụa trắng nhăn nhúm thành một khối, đầu ngón tay gần như cắm vào thịt của Công Tôn Trác Ngọc.
Công Tôn Trác Ngọc chậm một nhịp mới hiểu y vì sao như vậy, không tiếp tục động tác vừa rồi. Chỉ là kéo tấm chăn bên cạnh, đắp kín Đỗ Lăng Xuân, thuận theo lời y nói ban nãy: "Được, không chạm vào ngươi."
Năm đó Công Tôn Trác Ngọc rơi vào ngục giam, cũng từng sợ hãi cung hình, huống chi Đỗ Lăng Xuân bị tịnh thân khi chỉ là một đứa trẻ, ác mộng khó tránh khỏi.
Kẻ ác cũng không phải không có báo ứng, có lẽ khi con đường này còn chưa bắt đầu đi, ông trời đã sớm giáng xuống trừng phạt. Đỗ Lăng Xuân có được cuộc sống phú quý vinh hoa đầy trời, cái giá phải trả cũng đã đủ.
Công Tôn Trác Ngọc thấy Đỗ Lăng Xuân vẫn đang run rẩy, kéo chăn đắp chặt thêm cho y, như đang dỗ dành trẻ con mà vỗ nhẹ vài cái. Sau đó vén lọn tóc đen ướt mồ hôi của y ra, chỉ thấy gương mặt y tái nhợt, môi nhạt màu, mỏng manh như tờ giấy, chỉ có hai hàng lông mày dài mảnh kéo dài tới tận tóc mai, sinh ra vài phần âm trầm độc ác.
Nhìn một cái đã biết không phải người hiền lành, nhất định đầy mưu kế.
Nhưng điều đó không quan trọng, Công Tôn Trác Ngọc nhún vai, dù sao anh cũng chẳng phải người tốt lành gì.
Anh ở trong phòng đến tận nửa đêm, đợi Đỗ Lăng Xuân thực sự ngủ say mới lặng lẽ rút tay mình ra đi, trên cổ tay in hằn bốn vết bầm tím, có thể thấy y đã nắm chặt đến mức nào.
Tuy nhiên, Công Tôn Trác Ngọc lại quên mất một chuyện, anh đã cởi áo của Đỗ Lăng Xuân, còn chưa kịp thay áo mới cho y đã vỗ mông bỏ đi.
Trăng đã lên cao, người trong phủ nha đều ngủ say. Công Tôn Trác Ngọc ngáp dài, cũng chui vào chăn, chẳng mấy chốc đã ngủ, và mơ một giấc mộng mơ hồ, ám muội.
Trong mơ, anh ôm một thân thể, không thấy rõ mặt.
Mảnh mai, trắng trẻo, mang theo hương trầm nhạt nhòa, tựa như thuốc phiện khiến người ta mê đắm.
Công Tôn Trác Ngọc cảm thấy nóng bừng mặt, bản năng muốn tránh né, nhưng đối phương lại cứ quấn lấy anh không buông. Mái tóc dài đen như lụa đổ xuống, chạm vào lạnh lẽo, mềm mại như rắn. Y khẽ cười bên tai anh.
Công Tôn Trác Ngọc như bị mê hoặc, không kiềm chế được mà hôn đối phương. Năm ngón tay đan vào tóc đen, ánh mắt trượt xuống, dừng lại nơi cổ trắng trẻo, cuối cùng nhẹ nhàng hôn lên một nốt ruồi son.
Đỏ như máu, cuốn hút lòng người.
Công Tôn Trác Ngọc mơ hồ cảm thấy có gì đó không đúng, lý trí đã sớm bỏ đi. Anh dùng đầu ngón tay chà xát nốt ruồi son đó, dường như nghe thấy đối phương khẽ rên rỉ, âm thanh vừa âm u vừa mang theo tiếng thở dài.
Núi lửa lặng im, cuối cùng bất ngờ phun trào, lại như mặt biển sóng gió đột nhiên yên bình, trở lại với gió êm sóng lặng.
Công Tôn Trác Ngọc thở hổn hển, cố gắng nhìn rõ mặt người đó, nhưng trong đầu đột nhiên hiện lên một đôi mắt dài hẹp, quen thuộc vô cùng, rõ ràng là của Đỗ Lăng Xuân. Một sợi dây bất ngờ đứt phựt, anh lập tức giật mình ngồi bật dậy.
Trời ạ!
Công Tôn Trác Ngọc trừng lớn mắt, ngực phập phồng, hơi thở dồn dập, không thể nào tưởng tượng nổi mình lại mơ thấy Đỗ Lăng Xuân. Anh đưa tay sờ, mồ hôi đầy đầu, theo bản năng nhìn quanh, mới phát hiện trời đã sáng.
Anh ngẩn người một lát, vén chăn, chậm chạp định dậy, nhưng không biết phát hiện gì, cúi đầu nhìn quần, rồi vội vàng ngồi xuống.
Công Tôn Trác Ngọc đỏ bừng mặt, lúc này trong đầu chỉ có hai chữ rõ ràng—
Mất mặt!
Người trong phủ đều biết, huyện thái gia của họ, không ngủ đến khi mặt trời lên cao thì sẽ không dậy. Nhưng hôm nay, khi nha hoàn vào bếp lấy bữa sáng, lại hiếm thấy thấy Công Tôn Trác Ngọc đã dậy, đang ngồi bên giếng kỳ cọ quần áo, lén lút như kẻ trộm.
Nha hoàn nghi ngờ mình nhận nhầm người, bước chân xoay chuyển, đi lên phía trước, thăm dò gọi một tiếng: "Đại nhân?"
Công Tôn Trác Ngọc lập tức cảnh giác quay đầu: "Ai!"
Nha hoàn giật mình: "Đại nhân, ngài đang làm gì ở đây?"
Nói xong thấy anh ngâm quần áo trong chậu, dưới đất còn chất đống một đống, vội vàng bước tới ngăn lại: "Đại nhân, sao ngài có thể làm việc nặng nhọc như giặt quần áo được, vẫn nên để nô tỳ làm cho."
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy lập tức che chậu nước: "Không cần, hôm nay ta vừa hay rảnh rỗi, hoạt động gân cốt, ngươi làm việc của mình đi."
Nha hoàn nghĩ Công Tôn Trác Ngọc nếu hoạt động gân cốt thì cũng nên tập kiếm trong sân, sao lại chạy tới đây giặt quần áo. Tuy thấy lạ nhưng không dám hỏi nhiều, chỉ đành thu tay lại, ba bước quay đầu rời đi.
Cô có lẽ nghĩ Công Tôn Trác Ngọc có bệnh.
Công Tôn Trác Ngọc mặc kệ cô, bưng chậu nước trốn vào một góc hẻo lánh, tiếp tục ngồi xổm giặt. Vừa giặt vừa không ngừng nhớ lại chuyện hôm qua, nghĩ chẳng lẽ vì Đỗ Lăng Xuân quá giống nữ tử nên mình mới mơ giấc mơ hỗn độn đó?
Công Tôn Trác Ngọc là kẻ tham công tiếc việc, thỉnh thoảng cũng thích nhìn ngắm mỹ nhân. Nhưng thời này nam nữ phòng bị nghiêm ngặt, không làm gì được. Nữ tử thanh lâu tuy cởi mở, Công Tôn Trác Ngọc cũng không dám tùy tiện, lỡ như dính phải bệnh hoa liễu, thời cổ đại này không có chỗ chữa trị.
Anh hơi mơ màng, đến mức không nhận ra có một bóng người đang tiến lại gần, cho đến khi tiếng bước chân gần hơn, mới theo phản xạ ngẩng đầu, sau đó như lửa đốt nhảy dựng lên: "Nương...nương ... nương... sao nương lại tới đây!"
Lão phu nhân chống gậy, trong tay có một chuỗi tràng hạt đen bóng, đôi mắt bà có bệnh, không nhìn thấy Công Tôn Trác Ngọc đang giặt gì, nghe thấy động tĩnh, hỏi một câu: "Là Trác Ngọc sao?"
Công Tôn Trác Ngọc lắp bắp: "Nương... là là là ta."
Lão phu nhân nhạy bén nghe ra sự chột dạ trong giọng anh, hỏi một câu: "Ngươi đang làm gì đấy?"
Công Tôn Trác Ngọc không động thanh sắc đá chiếc chậu nước ra xa: "Nương, ta không làm gì cả, sao nương lại ra đây một mình, không có a hoàn đỡ?"
Lão phu nhân khẽ gẩy chuỗi hạt Phật trong tay: "Ngày mai là ngày giỗ của cha ngươi, ta bảo a hoàn đi lấy hương nến đã xếp sẵn, nên không có ai ở bên cạnh."
Công Tôn Trác Ngọc suy nghĩ kỹ một lúc, nhận ra ngày mai quả thực là ngày giỗ của phụ thân, vỗ trán một cái: "Ngày mai ta sẽ bảo người chuẩn bị xe ngựa, cùng đi thắp hương cho cha."
Lão phu nhân không nói gì, dùng gậy dò dẫm trên mặt đất, cuối cùng chạm vào mép chậu gỗ, bên trong ngâm đầy quần áo: "Đây là gì?"
Công Tôn Trác Ngọc giật mình: "Nương nương nương! Đừng động vào, đây là quần áo bẩn."
Lão phu nhân càng nghi hoặc: "Ngươi đang giặt quần áo ở đây sao?"
Công Tôn Trác Ngọc vừa bê chậu đi xa vừa nói: "Ta là quan phụ mẫu, tất nhiên không thể hưởng lạc, có việc gì cũng nên tự mình làm, hơn nữa trong nhà thiếu người, nên ta tự giặt."
Lão phu nhân mỉm cười, không rõ là tin hay không: "Thật không giống lời ngươi thường nói, vậy ngươi giặt đi, ta về Phật đường tụng kinh."
Công Tôn Trác Ngọc thở phào nhẹ nhõm, mồ hôi đổ đầy lưng vì căng thẳng: "Nương, nương đi một mình không tiện, để ta gọi a hoàn đỡ nương đi."
Nói xong anh gọi lớn trong viện: "Có ai không... à không, mau lại đây, đưa lão phu nhân về Phật đường."
Công Tôn Trác Ngọc kỳ cọ sạch sẽ chiếc quần, rồi phơi lên. Ban đầu anh định về phòng ngủ thêm, nhưng đã hết buồn ngủ. Anh chợt nhớ ra hôm nay Đỗ Lăng Xuân sẽ áp giải phản đảng về kinh, dù sao cũng nên tiễn một chút, liền bảo người chuẩn bị xe ngựa, đến biệt viện hôm qua, nhưng không ngờ lại không gặp ai.
"Đại nhân đến muộn một bước," a hoàn coi nhà nói, "sáng nay tư công đã dẫn theo đại đội nhân mã lên đường, ước chừng bây giờ đã ra khỏi địa phận Giang Châu."
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ sao lại đi rồi, anh vén rèm, nhìn a hoàn hỏi: "Tư công không để lại lời nào sao?"
Nói gì đến việc thăng chức cho anh? Nói gì đến việc đưa anh vào kinh làm quan? Sao lại đi rồi?
Đại lừa đảo!
A hoàn bị anh nhìn đến đỏ mặt, dùng tay áo che mặt lắc đầu: "Không để lại một lời nào."
Nhưng không nói sáng nay Đỗ Lăng Xuân từ phòng tỉnh lại, không biết vì sao, nổi một trận lôi đình, vẻ mặt âm trầm đáng sợ. Đồ đạc trong phòng bị đập tan tành, còn phạt mấy gia nhân.
Toàn phủ im thin thít, gan mật như muốn vỡ tung. May mà đại a hoàn Chi Hà giải thích rằng tối qua Công Tôn Trác Ngọc luôn ở bên, mới miễn cưỡng làm nguôi giận tư công, bằng không không biết bao nhiêu người sẽ mất mạng.
Công Tôn Trác Ngọc phe phẩy quạt trong tay, lòng vô hạn bồi hồi. Tư công lừa đảo, dối trá, hôm qua còn uống rượu thề thốt sẽ đưa anh vào nội các, thăng quan tiến chức, một đêm mà đã đi mất.
Thôi thôi, đều tại mình quá ngây thơ.
Công Tôn Trác Ngọc buông rèm, dùng quạt nhẹ gõ cửa xe, nói với Thạch Thiên Thu: "Sư phụ, về thôi."
Thạch Thiên Thu vung roi ngựa, tò mò quay đầu lại nhìn, thấy Công Tôn Trác Ngọc nằm bên trong, bộ dạng ủ rũ, ấm ức, không khỏi cười: "Đại nhân làm gì vậy, trông như bị ai bắt nạt."
Công Tôn Trác Ngọc thở dài một hơi, chỉ nói năm chữ: "Gặp người không tốt."
Tưởng rằng tiền đồ sáng lạn, không ngờ giờ thật sự tiền đồ vô vọng.
#Đỗ_Lăng_Xuân_đại_lừa_đảo#
Thạch Thiên Thu đã quen với dáng vẻ thần thần bí bí của anh, vừa lái xe trở về, vừa nói: "Đại nhân hà tất phải như thiếu nữ, nam nhi đại trượng phu, có gì mà không vượt qua được."
Công Tôn Trác Ngọc mắt lộ vẻ buồn bã: "Ngươi không hiểu."
Thạch Thiên Thu: "..."
Họ lái xe về phủ nha, Công Tôn Trác Ngọc vừa từ xe ngựa bước xuống, không xa đột nhiên có tiếng vó ngựa dồn dập. Anh theo phản xạ nhìn, thấy một nam tử mặc áo đen mang kiếm phi ngựa đến, kéo cương dừng lại trước mặt mình.
Không ai khác chính là thị vệ thân cận của Đỗ Lăng Xuân, Ngô Việt.
Hắn cưỡi ngựa, kéo cương nói: "Công Tôn đại nhân chủ nhân của ta có lời nhắn cho ngài."
Công Tôn Trác Ngọc ngẩng đầu: "Lời gì?"
Ngô Việt trầm giọng nói: "Hạc sinh nơi cửu cao, phượng đậu chốn ngô đồng, Công Tôn đại nhân đã chọn cành tốt, không thể đổi ý. Ngày tái ngộ sẽ là dưới chân thiên tử, sớm chuẩn bị."
Nói xong ném một hộp gấm vào lòng anh, rồi thúc ngựa phi đi, thoáng chốc đã mất dạng.
Công Tôn Trác Ngọc theo phản xạ đón lấy hộp, rồi dùng tay áo quạt bụi trước mặt, nghĩ thầm "ngày tái ngộ sẽ là dưới chân thiên tử", chẳng lẽ Đỗ Lăng Xuân sẽ thăng chức cho mình vào kinh?!
Anh cúi đầu nhìn hộp gấm trong tay, mở ra, thấy bên trong là một tấm thẻ bài làm bằng huyền thiết đen, khắc chữ "Đỗ" lớn, chính là thẻ bài riêng của Đỗ Lăng Xuân.
Thạch Thiên Thu bên cạnh nhìn, sợ hộp có ám khí: "Đại nhân, đây là vật gì?"
Công Tôn Trác Ngọc cầm thẻ bài, ngụ ý nói: "Có vật này, có thể ngang dọc kinh thành, tự nhiên là thứ tốt."
#Tư_công_tuyệt_thế_nam_nhân#
#Không_chấp_nhận_phản_đối#
Còn ở ngoài thành năm dặm, một đoàn người ngựa đang phi nhanh, Ngô Việt đuổi kịp đại đội, rồi thấp giọng nói với người trong xe ngựa: "Bẩm Tư công, lời đã truyền đạt."
Rèm xe được một bàn tay thon dài vén lên, lộ ra gương mặt âm nhu của Đỗ Lăng Xuân, thần sắc hơi âm trầm——
Có lẽ vì sáng sớm nổi giận.
Đỗ Lăng Xuân mặt không biểu cảm: "Hắn có nói gì không?"
Ngô Việt: "..."
Ngô Việt hình như chưa đợi Công Tôn Trác Ngọc nói đã thúc ngựa đi, hắn cúi đầu, nắm chặt dây cương, lúng túng nói: "Công Tôn đại nhân trông rất vui."
Đỗ Lăng Xuân cười lạnh một tiếng, nặng nề buông rèm: "Hắn lại vui rồi."
Đỗ Lăng Xuân nhớ lại dáng vẻ mình buổi sớm mai thức dậy, y phục không chỉnh tề, trong lòng vẫn dâng lên một ngọn lửa vô danh. Ngoài phẫn nộ, còn có bất an và kinh hãi. Y không dám chắc hôm qua Công Tôn Trác Ngọc đã làm gì, hoặc nhìn thấy những gì.
Y chỉ nhớ mang máng có người cách chăn ôm lấy mình, ở lại rất lâu, rất lâu...
Đoàn xe di chuyển rất nhanh, thành Giang Châu đã bị bỏ lại xa tít phía sau, dần hóa thành một chấm đen nhỏ, chỉ còn hai bên đường, hoa vàng nở rộ. Đỗ Lăng Xuân vén rèm xe, nhìn ra bên ngoài, rồi lại trầm ngâm buông mắt xuống.
Công Tôn Trác Ngọc, chúng ta sẽ sớm gặp lại thôi...
Thời gian như dòng nước trôi, ngày đêm không ngừng. Công Tôn lão đại nhân đã khuất nhiều năm, mọi thứ xung quanh đều thay đổi, chỉ có ông là nằm yên dưới đất sâu, dùng cái chết chống chọi lại sự thay đổi mà thời gian mang đến.
Công Tôn lão đại nhân cả đời thanh bạch, nơi an nghỉ cũng chẳng phải huyệt địa phong thủy tốt đẹp gì, chỉ là một vị trí cao hơn một chút trên núi hoang, dựng một tấm bia đá trông còn có phần tươm tất.
Con đường núi gập ghềnh, xe ngựa đi đến chân núi thì không thể tiến thêm, mọi người đành xuống xe. Lão phu nhân chân yếu tay mềm, không cho Công Tôn Trác Ngọc cõng, chỉ chống gậy tự mình đi. Thạch Thiên Thu đi theo phía sau, cầm một gói hành lý, bên trong chứa hương nến cùng các vật phẩm cúng bái.
Hắn cũng đến để tế bái Công Tôn đại nhân.
Công Tôn Trác Ngọc đỡ lão phu nhân, thấy bà đi từng bước loạng choạng, không khỏi nói: "Nương, để ta cõng nương nhé."
Lão phu nhân lắc đầu: "Mắt ta không tốt, mỗi năm chỉ có lúc này đến thăm cha ngươi, không cần vội, cứ đi chậm thôi."
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ, bà luôn nhốt mình trong Phật đường, bình thường cũng không mấy khi ra ngoài, coi như nhân dịp này thư giãn một chút, bèn đồng ý. Hai mẹ con vừa đi vừa trò chuyện dọc đường.
Lão phu nhân hỏi: "Xung quanh đây đều là ruộng đồng sao?"
Công Tôn Trác Ngọc nhìn quanh rồi đáp: "Dưới chân núi thì có, trên núi thì không nhiều."
Lão phu nhân tuy mắt kém, nhưng ánh nhìn vẫn hiền từ: "Mong rằng năm nay bá tánh có được một vụ mùa bội thu, gia đình thường dân chỉ cầu no ấm, chẳng mong gì hơn."
Đường núi lởm chởm đá vụn, càng đi sâu thì lại dần bằng phẳng hơn. Lão phu nhân như có cảm giác, bỗng hỏi: "Trác Ngọc, có phải đã gần đến mộ cha ngươi rồi không?"
Công Tôn Trác Ngọc ngạc nhiên, nghĩ bụng bà làm sao biết được, nhìn về phía tấm bia mộ phía trước, đáp: "Nương, mắt nương khỏi rồi sao?"
Lão phu nhân lắc đầu: "Mắt ta vẫn mù, sao mà khỏi được. Chỉ là mắt mù, nhưng lòng ta thì không."
Đang nói, họ đã đến trước mộ.
Bà dò dẫm đưa tay chạm vào tấm bia đá lạnh buốt, từ từ vuốt xuống, lần lượt lướt qua hai chữ "Công Tôn", tiếp tục hạ tay, cuối cùng dừng lại ở hai chữ "Liêm Kính". Bà khẽ v.uốt ve hai chữ ấy một lúc lâu, đầy yêu thương.
Công Tôn Liêm Kính, đó là danh tự của lão đại nhân. Cuộc đời ông, quả thực xứng đáng với cái tên này.
Lão phu nhân khẽ thở dài: "Trác Ngọc, cạnh bia mộ có cỏ dại không?"
Công Tôn Trác Ngọc nhìn quanh một lượt, đáp: "Nương, không có."
Lão phu nhân không nói gì thêm, quỳ xuống chiếc bồ đoàn, cắm ba nén hương vào lò đã đầy tro hương, lạy hai lạy, rồi nói: "Trác Ngọc dạo này đã có chút tiền đồ, nghe các nha hoàn bảo ngươi phá được hai vụ án lớn, sau này nói không chừng cũng sẽ được bá tánh yêu mến như cha ngươi."
Công Tôn Trác Ngọc không mấy bận tâm đến câu "được bá tánh yêu mến". Anh nghĩ, sau này mình chết đi, nhất định không muốn bị chôn ở nơi núi rừng hẻo lánh, chim không thèm ghé, gà chẳng buồn gáy thế này. Ai còn nhớ đến một người như vậy chứ?
Khi xưa Bao Công từng nói, hậu thế con cháu làm quan có phạm tội tham nhũng, không được quay về quê quán, không được chôn trong lăng tẩm tổ tiên. Không tuân theo ý ta, không phải con cháu ta. Vì thế mới có câu "Bất hiếu tử tôn, bất đắc nhập mộ".
May mà Công Tôn lão đại nhân không để lại lời như vậy, nếu không, Công Tôn Trác Ngọc chết rồi e rằng cũng chẳng được chôn trong phần mộ tổ tiên.
Lão phu nhân lâu không nghe thấy anh nói gì, ngước nhìn xa xăm, trầm ngâm nói: "Trác Ngọc, cha ngươi tuy nản lòng với quan trường, nhưng lúc qua đời chưa từng hối hận về con đường ông ấy đã chọn. Ngươi rất thông minh, chỉ là nườn không biết ngươi sẽ đi theo con đường nào..."
Công Tôn Trác Ngọc lập tức nói lời lấy lòng: "Tự nhiên là lưu danh sử sách, không phụ kỳ vọng của nương."
"Danh?" Lão phu nhân nhẹ nhàng xoay chuỗi tràng hạt trong tay: "Ngươi và cha ngươi không giống nhau. Ngươi cầu danh vọng trên giấy, cha ngươi cầu sự bình an trong lòng. Cái trước chỉ tồn tại trên sách vở, cái sau lại sống mãi trong lòng người..."
Bà vừa nói vừa chạm tay vào tấm bia lạnh giá: "Bá tánh vẫn còn nhớ cha ngươi..."
Trên núi hoang vu, cỏ dại mọc đầy, nhưng xung quanh mộ phần lại sạch sẽ, không chút tạp nhạp. Lò hương đầy tro, chứng tỏ thường xuyên có người đến tế bái. Ngay cả con đường dẫn lên núi, càng gần mộ phần lại càng bằng phẳng dễ đi.
Trên đời này, ai rồi cũng sẽ rời đi, sau đó bị thế nhân lãng quên. Bá tánh không còn nhắc đến Công Tôn đại nhân nữa, Công Tôn Trác Ngọc cho rằng họ đang dần quên lãng ông, nhưng không biết rằng tất cả đều đang được lưu giữ, tồn tại bằng một cách khác.
Anh cầu danh trên giấy, còn cha anh lại để lại tiếng thơm muôn đời.
Công Tôn Trác Ngọc dường như cũng nhận ra điều gì đó, nhìn quanh một lượt, muốn phản bác nhưng lại không tìm được lời, đành mím môi im lặng.
Thạch Thiên Thu đốt nến trắng, hóa tiền giấy, quỳ xuống trước bia mộ, chắp tay nói: "Đại nhân thiên cổ."
Con đường xuống núi đi nhẹ nhàng hơn lúc lên, nhưng Công Tôn Trác Ngọc lại hiếm khi giữ im lặng, không nói một lời, trầm mặc vô cùng. Trong mắt anh thoáng hiện lên vẻ mờ mịt, có lẽ anh bắt đầu do dự về con đường mình sẽ đi trong tương lai.
Nhưng bản tính anh thích hưởng nhàn, tránh khổ, chắc chắn không thể trở thành một vị quan tốt. Nhà này mất bò, nhà kia mất chó, anh còn có thể cố sức mà giúp đỡ, nhưng nếu vụ án liên quan đến quyền quý, thì chỉ có lòng mà bất lực.
Công Tôn Trác Ngọc là một người ích kỷ, khi đại nạn ập đến, anh chỉ biết chọn bản thân, không thể lo được cho người khác, thiếu đi khí độ hy sinh vì dân, rõ ràng còn xa mới xứng với hai chữ "thanh quan".
Anh chìm vào suy tư, vô cùng bối rối, muốn biết mình sau này nên đi con đường nào. Nhưng còn chưa nghĩ thông, một đạo thánh chỉ từ Lại Bộ đã đánh anh choáng váng.
"Hoàng thượng có chỉ, lệnh Giang Châu tri huyện Công Tôn Trác Ngọc lập tức tiến kinh, trợ giúp Hình Bộ phá án!"
Đây là một vụ án mạng liên hoàn liên quan đến triều thần cấp cao...
Tác giả có lời muốn nói: Công Tôn Trác Ngọc (lập tức không còn bối rối): Kinh thành, ta tới đây, xông xông xông!
Chương 184
Từ bộ Hộ truyền xuống một tờ điều lệnh, chỉ ngắn ngủi vài dòng chữ, nhưng Công Tôn Trác Ngọc lại ngửi ra một chút hương vị bất thường từ giữa những con chữ đó.
Hỗ trợ bộ Hình phá án?
Vậy thì chắc hẳn kinh thành đã xảy ra chuyện. Nhưng thời cổ đại thông tin liên lạc không phát triển, nếu có tin tức gì cũng phải mất mười ngày nửa tháng mới có thể nhờ các thương nhân qua lại mang về, vì vậy Công Tôn Trác Ngọc hoàn toàn không biết kinh thành rốt cuộc đã xảy ra vụ án gì nghiêm trọng.
Nhưng đã nhận được điều lệnh thì dù sao cũng là chuyện tốt, ít nhất anh không phải cả đời co ro ở cái nơi hoang tàn như Giang Châu này nữa.
Công Tôn Trác Ngọc không trì hoãn, lập tức thu dọn hành lý để lên đường. Chuyện này không giống đời sau, đi làm trễ cùng lắm chỉ bị trừ lương hay đuổi việc, nhưng chọc giận thiên tử thì đầu lìa khỏi cổ chỉ trong nháy mắt.
Thạch Thiên Thu biết Công Tôn Trác Ngọc phải đi kinh thành, bèn đề nghị cùng đi: "Chốn kinh kỳ phức tạp, hiểm ác khôn lường. Tại hạ lo lắng đại nhân đi một mình, nguyện xin theo hầu, bảo vệ đại nhân trên đường."
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ thầm: Đại sư phụ, vốn dĩ ta định dẫn theo ngươi mà. Trong mười mấy sư phụ thì ngươi là người lợi hại nhất, không dẫn ngươi thì dẫn ai đây.
Anh vừa đếm lại ngân phiếu vừa đáp: "Nếu đã vậy, đại sư phụ cùng ta vào kinh, làm phiền ngươi đi mua hai con ngựa tốt ở phố Đông, chúng ta ngày đêm lên đường, sớm đến nơi thì tốt hơn."
Thạch Thiên Thu lĩnh mệnh: "Tuân lệnh, đại nhân."
Nhưng lại đứng im không nhúc nhích.
Công Tôn Trác Ngọc ngẩng đầu: "Đại sư phụ còn gì nữa?"
Thạch Thiên Thu đáp: "Đại nhân, ngài chưa đưa ngân lượng."
Công Tôn Trác Ngọc: "Ồ..."
Nếu đã rời nhà, dĩ nhiên Công Tôn Trác Ngọc không yên tâm để lão phu nhân ở lại một mình, nên căn dặn các sư phụ còn lại chăm sóc bà thật chu đáo, sau đó mới bắt đầu kiểm tra lại tiền bạc. Tất cả cộng lại chỉ có hơn bốn mươi tờ ngân phiếu mệnh giá nhỏ. Anh đưa một tờ cho Thạch Thiên Thu đi mua ngựa, còn lại thì nhét vào trong ngực mình.
Công Tôn Trác Ngọc chưa bao giờ thấy mình nghèo đến thế. Ngẩng đầu nhìn trời, anh không khỏi hoài niệm những ngày tháng làm quan tham trước đây: "Haizz..."
Hệ thống không biết từ đâu nhảy ra, "boing" một cái ngồi lên đầu anh: [Thân ái, suy nghĩ này rất nguy hiểm nha~]
Cái thân mình của nó giống như chất nhầy, vừa mềm vừa lạnh, Công Tôn Trác Ngọc luôn cảm thấy mình đang đội một thứ không thể nói ra trên đầu: "... Ngươi có thể xuống được không? Ta cứ thấy trên đầu mình có một bãi phân."
Hệ thống nghe vậy thì sững người, dường như trong một thời điểm xa xưa nào đó, từng có một ký chủ cũng nói câu tương tự. Nó lấy lại tinh thần, dùng đôi cánh của mình vỗ vỗ đầu Công Tôn Trác Ngọc: [Ngươi mới là phân, ngươi mới là phân.]
Công Tôn Trác Ngọc né tránh hai cái, thấy không đau gì cả thì mặc kệ nó luôn. Anh khoanh tay đứng dựa vào cửa, chờ Thạch Thiên Thu mua ngựa trở về, nhìn mặt trời mọc mà thầm nghĩ: "Ta sắp phải vào kinh thành rồi."
Nơi đây là trung tâm của phồn hoa thiên hạ, cũng là nơi anh mất mạng ở kiếp trước.
Hệ thống vẫn nói câu cũ: [Phải làm một vị quan tốt.]
Lần này nó không đánh anh nữa, chỉ nhẹ nhàng dùng cánh vuốt đầu anh.
Công Tôn Trác Ngọc nghe câu đó đến mức tai mọc kén. Anh thấy nha hoàn đã thu dọn xong hành lý, bèn quay vào tiểu Phật đường, từ biệt lão phu nhân, nói rõ với bà chuyện mình phải đi xa.
Lão phu nhân không nói nhiều, chỉ dặn: "Đi đi, nhưng phải sớm trở về, Giang Châu mới là nhà của ngươi."
Công Tôn Trác Ngọc cúi đầu: "Hài nhi đến kinh thành sẽ gửi thư về báo bình an, nương cũng phải bảo trọng thân thể."
Không lâu sau, Thạch Thiên Thu trở về. Hai con ngựa tốt màu hồng tía, tốn không ít ngân lượng, ở hiện đại thì cũng tương đương siêu xe. May mà chỉ đi hai người, thêm vài người nữa thì Công Tôn Trác Ngọc đành đi bộ.
Hai người lên đường đến kinh thành. Tính cả thời gian nghỉ chân tại các khách điếm vào ban đêm, phải mất đúng mười lăm ngày mới tới nơi.
Đây là nơi phồn hoa nhất thiên hạ, cũng là trung tâm quyền lực.
Tường thành cao lớn uy nghi, thương nhân qua lại ăn mặc sang trọng. Chưa vào hẳn bên trong mà tiếng ồn ào náo nhiệt đã vọng tới tai. Hồ cơ trong tửu quán đang nhảy múa, nô lệ da đen từ Côn Luân biểu diễn tạp kỹ bên đường, quả thật là những điều trước nay chưa từng thấy.
Thạch Thiên Thu dắt ngựa, qua cửa thành bị binh lính tra xét, nhìn cảnh tượng cũng không khỏi cảm thán: "Đại nhân, kinh thành thật sự rất phồn hoa."
Hắn là người trong giang hồ, không câu nệ tiểu tiết, mặc bộ y phục đơn giản, phong trần bụi bặm, trên người giá trị nhất chính là thanh kiếm.
Công Tôn Trác Ngọc thì khác. Anh mặc trường sam lụa thêu họa tiết trúc đen, bên ngoài khoác áo sa trắng, thắt đai ngọc, tay cầm quạt xếp phe phẩy, cộng thêm đôi mắt đa tình, chỉ khiến người ta nhớ đến bốn chữ: Phong lưu phóng khoáng.
Từ lúc vào cổng thành, không ít cô nương nhìn anh đỏ cả mặt.
Công Tôn Trác Ngọc đi đông ngó tây: "Dưới chân thiên tử, sao có thể không phồn hoa? Chỗ này quả thực tốt hơn Giang Châu rất nhiều."
Thạch Thiên Thu thấy anh đi dạo tứ tung, trông như kẻ lãng tử: "Đại nhân, chúng ta có nên đến bộ Lại trước không?"
"Không vội." Công Tôn Trác Ngọc lắc đầu. "Chơi vài ngày trước, nghe ngóng tình hình."
Nếu đã tới bộ Lại, chắc chắn sẽ bị chuyện vụn vặt quấn thân. Bọn họ đã vất vả suốt dọc đường, dĩ nhiên phải nghỉ ngơi dưỡng sức. Với lại cũng cần bái lạy vài nơi, chẳng hạn đến phủ Tư Công gửi danh thiếp.
Công Tôn Trác Ngọc từng đến kinh thành một lần khi còn tại chức ở kiếp trước, nên cũng coi như quen thuộc. Ở đây có một tửu lâu lớn nhất tên là Tụ Hiền Các, dù là nơi ăn uống nhưng phong nhã vô cùng. Nhiều văn nhân sĩ tử tụ tập ở đó, chuyện trò tứ phương, cũng là nơi có tin tức nhiều nhất.
Công Tôn Trác Ngọc hiếm khi hào phóng: "Đi thôi, đại sư phụ, ta mời ngươi ăn bữa ngon."
Hành lý của họ không nhiều, chỉ có hai con ngựa, tìm chỗ buộc lại là xong. Cả hai men theo đường đến Vĩnh Bình Phường, chẳng mấy chốc đã thấy một tửu lâu khí phái sừng sững ở đó, bảng hiệu đề ba chữ lớn: Tụ Hiền Các.
Tầng một uống rượu ăn cơm, tầng hai nói chuyện luận đạo. Công Tôn Trác Ngọc đứng dưới lầu đã có thể nghe thấy mấy văn nhân phun nước miếng bay tán loạn.
Một tiểu nhị thấy bọn họ, lập tức chạy tới nghênh đón: "Khách quan, ngài muốn ăn cơm hay uống trà?"
Ăn cơm ở tầng một, uống trà lên tầng hai.
Công Tôn Trác Ngọc thu quạt lại, theo y vào trong: "Tất nhiên là ăn cơm."
Tiểu nhị dẫn bọn họ đến một chiếc bàn sạch sẽ, chỉ vào thực đơn treo trên tường rồi nói: "Khách quan muốn ăn món gì, cứ việc gọi. Nhưng món gà vàng trứ danh của quán, nhất định phải thử một lần."
Công Tôn Trác Ngọc thành thạo gọi vài món ăn, trong đó có cả món gà vàng nổi danh, cuối cùng nói thêm: "Lại thêm một ấm trà ngon nữa."
Anh những ngày qua gió bụi dặm trường, chỉ toàn ăn lương khô bánh mì, cả người gầy đi trông thấy, nên giờ muốn được thoải mái ăn uống, tạm thời gác chuyện tiền bạc sang một bên.
Tiểu nhị đáp: "Được rồi, khách quan chờ một lát, lập tức có món ngay."
Công Tôn Trác Ngọc ngồi xuống, vừa uống trà vừa lắng nghe động tĩnh xung quanh, tiếng trò chuyện của bàn bên cạnh lác đác vọng lại.
"Chà, không biết triều đình bao giờ mới bắt được hung thủ, đã chết ba người rồi, tuy đều là quan lại, nhưng ai biết được có ngày nào đó đến lượt chúng ta hay không."
"Gì mà sốt sắng thế, nghe nói Hoàng thượng đã triệu tập các cao thủ phá án khắp nơi về kinh, ngay cả Đường Phi Sương cũng đã nghe tin mà đến đây rồi. Người đó chính là một thiếu niên kỳ tài, phá vô số kỳ án, chức quan đưa tới trước mặt mà còn không thèm nhận."
Dân chúng kinh thành lúc rảnh rỗi cũng không thiếu thói quen hâm mộ người tài, Đường Phi Sương là một nhân vật nổi tiếng. Ông nội hắn là các lão đương triều, địa vị cực kỳ quan trọng, bản thân hắn cũng là người xuất sắc. Khi còn trẻ đã thi đỗ trạng nguyên, nhưng lại không muốn làm quan, thay vào đó chu du thiên hạ, phá không ít vụ án lớn.
Người bình thường thấy nhân vật như vậy, khó tránh khỏi thêm phần ca tụng. Nhưng Công Tôn Trác Ngọc lại cảm thấy Đường Phi Sương quá mức kiêu ngạo, tự cao tự đại. Không muốn làm quan thì thi cử làm gì, thật là nhàn rỗi không có việc gì làm.
#Ta chua xót, nhưng không muốn thừa nhận#
Cách một chiếc bàn, Thạch Thiên Thu cũng ngửi được trên người Công Tôn Trác Ngọc một mùi chua nồng. Hắn biết rõ nguyên nhân, bèn an ủi: "Đại nhân cơ trí hơn người, ngày nào đó tất cũng sẽ nổi danh thiên hạ như vậy."
Công Tôn Trác Ngọc: "Không, ngươi không hiểu."
#Người ta có ông nội tốt, còn ta cha mất sớm#
Đang nói, tiểu nhị bưng đồ ăn lên: "Khách quan, món gà vàng trứ danh của ngài đây—"
Công Tôn Trác Ngọc không có tâm trí đâu mà quan tâm gà hay không gà, thản nhiên ra hiệu cho tiểu nhị lại gần, đồng thời đặt một xâu tiền nhỏ lên bàn: "Ta là thương nhân từ nơi khác tới, gần đây ở quý thành có sự việc gì mới mẻ, kể ta nghe xem."
Tiểu nhị cầm tiền lên, lắc lắc, vui mừng cười toe toét: "Nếu nói chuyện mới mẻ, tất nhiên là có, chỉ e dọa khách quan sợ thôi."
Công Tôn Trác Ngọc: "Cứ nói đừng ngại."
Tiểu nhị nói: "Thực ra đây cũng không phải chuyện bí mật gì. Chừng nửa tháng trước, viên Thứ sử Lương Châu trên đường về kinh đột nhiên chết bất đắc kỳ tử, chết trạng rất thảm. Bộ Hình đến nay vẫn chưa tra ra manh mối, ngay sau đó lại đến lượt một Thị lang Bộ Hộ mất mạng. Hề, khách quan nói xem có trùng hợp không, toàn là quan lớn cả."
Tiểu nhị hạ giọng: "Hoàng thượng giận lắm, lệnh phải điều tra triệt để, vậy mà chưa được bao lâu, Kinh Triệu Doãn lại chết một cách kỳ lạ tại nhà. Hiện nay mọi người trong thành đều hoảng sợ, Bộ Hình và Kinh Luật Tư bắt bớ khắp nơi, đã nhốt không ít người rồi."
Công Tôn Trác Ngọc trầm ngâm: "Vậy Hoàng thượng có động thái gì chăng?"
Tiểu nhị đúng là thính tai nhanh nhẹn, đáp ngay: "Hoàng thượng tức đến phát bệnh nặng, trong triều nghị luận ầm ĩ. Tể tướng Nghiêm Phục đã tiến cử công tử nhà họ Đường, Đường Phi Sương, đến kinh điều tra án này. Còn Kinh Luật Tư đề đốc Đỗ Lăng Xuân thì tiến cử một người khác, nghe đâu là kỳ tài phá án Giang Châu, tên Công Tôn Trác Ngọc gì đó."
Nghe đến đây, Công Tôn Trác Ngọc chỉ khẽ phe phẩy quạt, chưa nói gì, tiểu nhị đã tiếp lời: "Nhưng theo tôi thấy, muốn phá án này, vẫn phải dựa vào công tử Đường. Hoàng thượng từng triệu không ít nhân tài vào cung, nhưng tiếc là ai cũng không ra gì."
Công Tôn Trác Ngọc cười lạnh, không chút ý tứ: "Sao ngươi dám khẳng định Công Tôn Trác Ngọc bất tài vô dụng?"
Tiểu nhị cười cười: "Người vô danh tiểu tốt, làm sao so được với công tử Đường? Người ta mười bảy tuổi đã đỗ trạng nguyên, kỳ tài ngút trời kia mà."
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy liền lấy lại tiền trên bàn. Tiểu nhị vội vàng giữ chặt: "Ấy ấy ấy, công tử, ngài làm gì vậy, sao lại lấy tiền của tiểu nhân?"
Công Tôn Trác Ngọc, với bản tính nhỏ nhen, giật mạnh lại xâu tiền: "Cái gì mà của ngươi? Đây là tiền của ta, ta đặt tử tế trên bàn, sao lại vào tay ngươi?"
Tiểu nhị kinh hãi, cả đời chưa gặp ai trơ trẽn đến thế: "Ngài, ngài, ngài..."
Công Tôn Trác Ngọc: "Ngài cái gì mà ngài, đi dọn đồ ăn đi."
Thạch Thiên Thu đã quen nhìn cảnh này, bình thản quay mặt sang hướng khác, giả bộ không quen anh.
Công Tôn Trác Ngọc nổi nóng, phe phẩy quạt nghe phành phạch, đến nỗi chẳng còn tâm trạng ăn uống. Nếu không phải khi xưa lười học bát cổ văn, anh đã sớm đỗ trạng nguyên, đâu đến lượt Đường Phi Sương lên mặt.
Từ trên các nhã gian tầng lầu, cách lan can vọng lại tiếng các thư sinh tranh luận sôi nổi. Càng nói lớn tiếng, càng hy vọng các quan to quyền quý trong tửu lầu nghe thấy.
Phú hào thường tìm rể quý ở bảng công danh, còn quyền quý tới đây để chiêu hiền tài.
Chương 185
"Năm xưa Hoàng thượng đăng cơ xưng đế, ban chiếu khắp thiên hạ, chiêu mộ hiền tài làm quan, không bỏ sót người nào. Vậy mà nay quyền gian nắm quyền, triều đình loạn lạc, khiến chúng ta chỉ đành u uất mà thôi, thật khiến người ta đau lòng!"
Một thư sinh say rượu tức giận vỗ lan can: "Đỗ Lăng Xuân chỉ vì chút lỗi nhỏ mà trừng phạt không ngừng, bao nhiêu năng thần vô tội bị liên lụy, kẻ thì thắt cổ, người thì bị chém, thậm chí cả lão thần như Bùi công cũng bị giáng chức đi Mặc Châu. Loại tai họa này, để thêm một ngày là thêm một ngày hại nước!"
Bùi công vốn là lão thần triều đình, phụng mệnh đi phương Nam trị thủy, không đành lòng nhìn dân đói khổ, bèn mở cửa thành cho dân chạy lánh nạn. Vì việc này, ông bị phe Đỗ Lăng Xuân buộc tội, giáng chức đi Mặc Châu.
Khi còn trẻ, Bùi công từng chủ trì khoa cử, bồi dưỡng không ít nhân tài, sĩ tử cả thiên hạ đều kính trọng ông như thầy. Có thể tưởng tượng được, chuyện này chẳng khác nào đụng vào tổ ong vò vẽ.
Vụ việc từng gây ra làn sóng tranh cãi không nhỏ, ngay cả Công Tôn Trác Ngọc kiếp trước cũng có nghe phong thanh. Nhưng đứng giữa thanh thiên bạch nhật, ở Tụ Hiền Các công khai phản đối, đúng là quá mức l.ỗ m.ãng, cũng chẳng sợ chết chút nào.
Hơn nữa, nghe một tiếng "hoạn quan" lại một tiếng "hoạn quan", Công Tôn Trác Ngọc cảm thấy không thoải mái.
"Các hạ nói vậy sai rồi. Bùi công bị giáng chức là vì thả dân lánh nạn, chuyện này thì có liên quan gì đến Đỗ đại nhân?"
Mọi người chỉ nghe một giọng nam trong trẻo từ phía dưới vọng lên, bất giác nhìn theo. Chỉ thấy một công tử áo trắng đang ngồi bên dưới, tay phe phẩy chiếc quạt giấy. Phong thái chính trực là thế, nhưng lời vừa nói lại không dễ chịu chút nào.
Có người lạnh lùng chất vấn: "Ngươi chẳng phải là chó săn dưới trướng của Đỗ Lăng Xuân sao?"
Công Tôn Trác Ngọc nhấp một ngụm trà, đáp lời: "Không phải, tại hạ chẳng qua chỉ nói đúng sự thật."
Vị thư sinh vừa giận dữ lên tiếng lập tức bước đến cạnh lan can, lớn tiếng: "Bùi công cho dân chạy nạn vào thành, là vì nghĩ cho bách tính, vì nghĩ cho thiên hạ! Nếu không phải đám người trong phe cánh của Đỗ đại nhân dâng lời gièm pha lên Hoàng thượng, ông ấy làm sao bị giáng chức đến nơi xa xôi ngàn dặm?"
Lời này vừa dứt, cả tửu lâu rúng động, ngay cả những thực khách đang ăn uống cũng đồng loạt ngoảnh đầu nhìn. Rốt cuộc, dân chúng thường có xu hướng đồng cảm với kẻ yếu thế.
Công Tôn Trác Ngọc không chút hoang mang, từ tốn đáp: "Hoàng thượng vốn không ban chỉ dụ cho phép dân chạy nạn vào thành. Bùi công tuy có ý tốt, nhưng lại tự ý làm chủ. Quốc gia không thể thiếu phép tắc, cho nên bị giáng chức ba ngàn dặm cũng là đúng luật định."
Vị thư sinh nhìn Công Tôn Trác Ngọc với ánh mắt chẳng khác gì nhìn phân chó: "Chẳng lẽ ngươi đành mắt thấy dân chạy nạn đói khát mà khoanh tay đứng nhìn hay sao?"
Công Tôn Trác Ngọc dứt khoát đứng dậy, phẩy nhẹ tay áo, nói: "Huynh đài nói sai rồi. Ngươi chỉ biết dân chạy nạn đói rét, nhưng đã nghĩ đến hậu quả nếu để họ vào thành chưa?"
Nói xong không đợi đối phương trả lời, anh tiếp lời: "Những dân chạy nạn đó không có lộ dẫn, nếu để họ vào thành, rất dễ lẫn lộn với kẻ có mưu đồ bất chính. Hơn nữa, bọn họ đều là những người già yếu, phụ nữ và trẻ em, nếu chẳng may mang theo dịch bệnh, thì chẳng phải sẽ gây họa cho cả một huyện hay sao? Ngươi nếu chịu hỏi Bùi công, sẽ biết sau khi ông ấy cho dân chạy nạn vào thành, toàn bộ mười sáu tiệm lương thực trong huyện đều bị họ cướp sạch, loạn lạc đến nhường nào."
Khi đám dân chạy nạn mất kiểm soát mà tràn vào thành phố, tỷ lệ tội phạm chắc chắn sẽ gia tăng chóng mặt. Lương thực của một huyện không thể nào nuôi đủ hai huyện, khi vượt quá giới hạn, hệ thống sẽ ngay lập tức sụp đổ.
Góc nhìn của Công Tôn Trác Ngọc rất sắc bén. Lời anh vừa nói ra khiến đối phương nghẹn họng, mặt đối mặt nhìn nhau mà không ai dám lên tiếng.
Công Tôn Trác Ngọc từ dưới lầu ung dung nói tiếp: "Việc làm của Bùi công đã là sai, nếu sai thì nên chịu phạt. Việc bị giáng chức đến Mặc Châu cũng là điều ông ấy đáng nhận. Ta nghe các vị ở đây xôn xao phẫn nộ, không hỏi nguyên do mà đổ lỗi cho người khác, thật không nhịn được mới lên tiếng nói vài lời công đạo. Mong các vị đừng trách."
Vị thư sinh kia bị mất mặt một cách ê chề, đứng bên lan can ngắm nhìn Công Tôn Trác Ngọc, phát hiện chưa từng gặp anh ở kinh thành bao giờ, chắc chắn không phải hạng quyền quý gì, liền lạnh lùng nói: "Bùi công dù có sai lầm, nhưng xuất phát điểm của ông ấy là vì điều tốt. Đỗ Lăng Xuân là hoạn quan, ỷ thế lộng hành, bài trừ phe cánh đối lập, thâu tóm tài sản, ức hiếp kẻ sĩ như chúng ta, đây chẳng phải là sự thật hiển nhiên sao? Các hạ sao lại không phân rõ trắng đen?"
Mọi người xung quanh nghe vậy đều âm thầm gật đầu đồng tình.
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ, quan trường vốn đã vẩn đục, ngươi đấu không lại người ta thì trách ai được. Anh ngước nhìn đối phương, cười nhẹ: "Ồ, vậy tại sao huynh đài không dâng tấu lên Hoàng thượng? Hoàng thượng thánh minh, chắc chắn sẽ xử lý đám người của Đỗ đại nhân."
Thư sinh muốn nói rằng Hoàng đế căn bản sẽ không nghe, nhưng làm sao có thể nói Hoàng thượng không thánh minh? Đành nghiến răng đáp: "Tại hạ không có quan chức trong người!"
Công Tôn Trác Ngọc bật cười: "Hóa ra ngay cả chức quan cũng không có, vậy chẳng phải đến kỳ thi Hương còn chưa qua, cũng không biết ngài đã làm được việc thực tế nào cho bách tính? Huynh đài ở đây khua môi múa mép hùng hồn như vậy, nếu gan lớn thật, sao không đến cửa cung đập đầu chết tại chỗ, hoặc đứng trước phủ Đỗ đại nhân mà nói mấy lời vừa rồi? Lúc đó ta còn khâm phục ngươi vài phần."
Nói đoạn, anh dùng quạt chỉ thẳng vào thư sinh: "Tư Mã Thiên viết Sử Ký, Thái Luân phát minh thuật chế giấy, Dương Tư Úc bình định Tây Nam man, Đồng Quán kinh lược U Yên, ngay cả Đỗ đại nhân cũng từng liều mình hộ giá cứu giá. Còn huynh đài ở đây một lời lại một lời hoạn quan mà rủa, e rằng bản thân còn chẳng bằng hoạn quan, đúng là nực cười!"
Lời lẽ của Công Tôn Trác Ngọc lúc này quả thật là lưỡi dao sắc bén, thẳng thừng đâm vào chỗ đau của đối phương, chẳng khác nào tát hai cái thật mạnh ngay giữa đám đông.
Thư sinh tức giận đến mức run tay, cả buổi không nói nên lời. Không phải vì gì khác, mà bởi Công Tôn Trác Ngọc nói toàn là sự thật. Quan lớn quyền quý khâm phục người có tài, còn kẻ dám nói thẳng thường khiến họ nhìn bằng con mắt khác. Thư sinh thao thao bất tuyệt chẳng qua chỉ mong thu hút sự chú ý của kẻ quyền thế để trèo cao mà thôi.
Công Tôn Trác Ngọc châm chọc một hồi, cơn bực bội vì bị tiểu nhị mỉa mai ban nãy rốt cuộc cũng tan biến đôi phần. Anh liếc qua bàn ăn, thấy thức ăn đã bị Thạch Thiên Thu ăn gần hết, vừa định mở miệng bảo rời đi, không ngờ bên ngoài chợt vang lên tiếng bước chân dồn dập. Ngay sau đó, một toán người mặc áo đen bước vào, ai nấy đều mang đao bên hông, khiến mọi người xung quanh hoảng sợ.
Nếu nói kinh thành này có nơi nào khiến người ta vừa nghe đã kinh hồn bạt vía, thì chắc chắn phải là Kinh Luật Tư. Đám người áo đen này toàn là những kẻ giết người không chớp mắt, đã vào bên trong thì không có ai sống sót trở ra.
Chưởng quầy giật nảy mình, vội vã bước ra, chắp tay cúi người với người dẫn đầu nhóm Huyền Y Vệ: "Không biết quan gia đến đây có việc gì vậy ạ?"
Công Tôn Trác Ngọc vừa nhìn liền nở nụ cười, hóa ra là Ngô Việt.
Ngô Việt vẫn giữ nguyên vẻ mặt lạnh tanh, bên hông đeo lệnh bài Phó sứ Kinh Luật Tư, trầm giọng nói: "Phụng mệnh Đỗ Tư Công, đến đây truy bắt nghi phạm triều đình."
Chưởng quầy sợ hãi:b"Quán nhỏ của tiểu nhân vốn làm ăn lương thiện, chưa từng có nghi phạm nào ghé qua. Vả lại... vả lại chủ nhân của chúng tôi... mong Đỗ Tư Công nể chút thể diện mà châm chước."
Cái quán này tên Tụ Hiền Các, đặt ngay tại nơi sầm uất nhất kinh thành, nơi mà các văn nhân nho sĩ có thể tha hồ luận bàn cao xa. Chủ nhân đứng sau tất nhiên là có chút bối cảnh, nhưng Ngô Việt chẳng hề nể mặt, lạnh nhạt đáp: "Vậy thì bảo chủ nhân nhà ngươi tự đến gặp Đỗ Tư Công nói chuyện, lục soát!"
Lời vừa dứt, thuộc hạ lập tức phong tỏa cửa trước cửa sau, lần lượt kiểm tra từng thực khách. Ngô Việt đi thẳng lên lầu hai, hướng tới mục tiêu là thư sinh vừa nãy lên tiếng.
"Dạo gần đây, quan viên triều đình bị ám sát, Đỗ Tư Công hạ lệnh nghiêm tra những kẻ khả nghi. Các người có mang thân thiết* không? Lấy ra để kiểm tra."
*(Thân thiết: Loại giấy tờ giống chứng minh nhân dân thời hiện đại).
Thư sinh khi nãy vừa nói xấu Đỗ Lăng Xuân nên trong lòng thấp thỏm lo sợ, lắp bắp đáp: "Có... có mang theo..."
Hắn rút thân thiết ra đưa, Ngô Việt chỉ liếc qua rồi lạnh lùng phán: "Không phải người bản địa kinh thành, bắt đi!"
Thư sinh nghe xong tái mặt, thần thái hào hùng lúc nãy đã tan biến sạch, vội vàng biện bạch: "Ta... ta... ta là tú tài, sao có thể là nghi phạm triều đình được?!"
Huyền Y Vệ chẳng buồn nghe, lôi y xuống lầu như lôi một con chó chết. Công Tôn Trác Ngọc giơ quạt che mặt, đứng bên cạnh cười không chút nể nang.
"Đáng đời! Ngươi muốn trèo cao, kết quả lại bám vào nhầm sói dữ mà thôi!"
Thư sinh bất giác liếc thấy Công Tôn Trác Ngọc qua khóe mắt, đột nhiên vùng vẫy dữ dội, chỉ vào anh mà hét lớn: "Hắn mang theo hành lý, hành tung khả nghi, chắc chắn là người từ nơi khác tới. Quan gia, nếu phải tìm nghi phạm thì chính là hắn!"
Công Tôn Trác Ngọc ngây người, chuyện này sao lại dính dáng đến anh nữa rồi. Còn chưa nghĩ ra cách đối phó, đã thấy Ngô Việt nhìn về phía mình, đồng thời trên đầu vang lên một giọng nói không mang theo chút cảm xúc nào: "Công Tôn đại nhân."
Ngô Việt từ lúc bước vào tửu lâu đã nhìn thấy anh.
Công Tôn Trác Ngọc chỉ còn cách gấp quạt lại, đưa tay gãi gãi chóp mũi, chỉ vào Ngô Việt nói: "Ngươi không phải là... là cái người đó... Ngô Thị vệ?"
Ngô Việt tự báo danh: "Tại hạ Ngô Việt. Tư công đã chờ đại nhân từ lâu, xin hãy theo tại hạ đi một chuyến."
Các thực khách xung quanh thấy vậy đều đưa mắt nhìn nhau, âm thầm suy đoán thân phận của Công Tôn Trác Ngọc, không ngờ người này lại có thể được nhất đẳng hộ vệ bên cạnh Đỗ Lăng Xuân đối đãi khách sáo như thế.
Công Tôn Trác Ngọc ngẩn người: "Chờ từ lâu?"
Ngô Việt không trả lời. Đỗ Lăng Xuân ở kinh thành tay mắt thông thiên, bất kỳ động tĩnh nào y đều nắm rõ. Từ khi Công Tôn Trác Ngọc đặt chân đến địa phận kinh thành, nhất cử nhất động của anh đã bị Đỗ Lăng Xuân hoàn toàn nắm trong lòng bàn tay.
Ngô Việt vừa phân phó huyền y vệ mang thư sinh kia đi, vừa đơn giản nói: "Xe ngựa đã đợi bên ngoài, xin Công Tôn đại nhân."
Công Tôn Trác Ngọc rất hưởng thụ cảm giác "oai phong lẫm liệt" này, nghe vậy thì khẽ hắng giọng, âm thầm ra hiệu cho Thạch Thiên Thu lấy đồ rồi đi theo, cứ thế mà rời khỏi Tụ Hiền Các.
Công Tôn Trác Ngọc bụng dạ hẹp hòi, ghét nhất bị người khác chơi xỏ. Thấy thư sinh kia bị mang đi, anh lén nhặt một viên đá, vèo một tiếng ném ra, không lệch không chệch trúng ngay đầu gối đối phương. Chỉ nghe "bịch" một tiếng, người nọ ngã nhào xuống đất như chó ăn phân.
Công Tôn Trác Ngọc phe phẩy cây quạt tạo ra âm thanh phần phật, đắc ý nói đúng ba chữ: "Đánh chó rớt."
Thư sinh kia lộ vẻ phẫn hận, cố sức đứng dậy: "Có gan thì để lại tên!"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ bụng, cái gì chứ, còn định tìm anh báo thù, không được, anh không có thói quen kết thù với người khác. Cất giọng vang dội: "Ta chính là Trương Cát Cát ở Giang Châu, có gan thì tới tìm ta mà tính sổ!"
#Anh có thói quen kết thù với người khác#
Ngô Việt liếc nhìn anh một cái: "Công Tôn đại nhân?"
Công Tôn Trác Ngọc hoàn hồn, ngượng ngùng hắng giọng hai tiếng, tươi cười giải thích: "À thì, ta còn có tiểu danh là Cát Cát, Công Tôn Cát Cát, người quen đều gọi ta như vậy."
Nói xong, anh vội vàng trèo lên xe ngựa.
Ngô Việt không nói thêm, ngồi lên càng xe ngựa, vung roi thúc ngựa chạy về phía Tư công phủ.
Phía đông thành gần hoàng thành, địa thế đắt đỏ, phủ đệ của quan lại cũng tập trung đông đúc. Phủ nào càng gần hoàng thành, càng cho thấy được ân sủng của hoàng thượng. Mà Tư công phủ của Đỗ Lăng Xuân chính là phủ đệ rộng rãi và xa hoa nhất trong số đó.
Trước thư phòng treo một chiếc lồng chim, bên trong nuôi một con vẹt biết nói. Đỗ Lăng Xuân dùng lông chim đùa nghịch với nó một lát, liếc mắt nhìn thấy thị nữ tiến đến, bèn đặt lông chim xuống: "Người đâu?"
Thị nữ bước lên một bước, cung kính đáp: "Hồi Tư công, xe ngựa đã tới trước phủ, Ngô Thị vệ đang dẫn người đến đây."
Đỗ Lăng Xuân nghe xong không nói gì, phất tay ra hiệu nàng lui xuống, bản thân lại xoay người vào trong thư phòng. Y vốn định ngồi đợi, nhưng đi qua đi lại trong phòng nửa ngày vẫn không yên lòng.
Chương 186
Trên bức tường phía đông thư phòng có treo một bức tranh thủy mặc, núi non trùng điệp, nhật nguyệt luân phiên, chính là bức Sơn Xuyên Nhật Nguyệt Đồ mà năm xưa Công Tôn Trác Ngọc dâng lên. Đỗ Lăng Xuân không phải người yêu thi thư, nhưng lại đặc biệt yêu thích bức tranh này, mang nó về tận kinh thành.
Chuyện như vậy thật trái với tác phong thường ngày của y.
Khi Đỗ Lăng Xuân đang ngồi lặng trong thư phòng, Công Tôn Trác Ngọc cũng được Ngô Việt dẫn đến trước cổng Tư công phủ. Đám nha hoàn đã chờ sẵn từ lâu, thấy vậy liền tiến lên nói: "Tư công có lệnh, mời Ngô Thị vệ dẫn Công Tôn đại nhân đến thư phòng."
Thư phòng là trọng địa, ngày thường trừ vài tâm phúc mưu sĩ của Đỗ Lăng Xuân, người khác không được tùy tiện ra vào.
Ngô Việt biết rõ sự coi trọng của Đỗ Lăng Xuân đối với Công Tôn Trác Ngọc nên cũng không lấy làm ngạc nhiên, chỉ khẽ gật đầu tỏ ý đã hiểu.
Tư công phủ rất lớn, đi qua mấy cổng nhỏ, rồi qua một khu vườn cảnh, cuối cùng đến một hành lang ngoằn ngoèo. Đình đài lầu các, non bộ suối chảy, thậm chí nuôi không ít dị thú quý hiếm, hoàn toàn khiến Công Tôn Trác Ngọc được mở mang tầm mắt về hai chữ "xa hoa."
Anh cảm thấy bản thân chẳng khác gì bà cụ Lưu vào Đại Quan Viên, một kẻ quê mùa lên kinh thành, nhìn gì cũng thấy mới lạ.
Công Tôn Trác Ngọc kín đáo thăm dò: "Ngô Thị vệ, tư công nuôi dưỡng dị thú ở đây, chẳng sợ dọa đến nữ quyến trong phủ sao?"
Ngô Việt nghiêm túc trả lời: "Trong phủ không có nữ quyến."
Công Tôn Trác Ngọc thở dài: "Tráng lệ là thế, nhưng nơi lớn như vậy chỉ có mỗi tư công ở, thật khó tránh khỏi quạnh quẽ."
Không biết có tiện để mang thêm anh vào ở không, khách điếm kinh thành hơi mắc.
"Không quạnh quẽ," Ngô Việt nói, "còn có nha hoàn, gia nhân, hộ vệ, môn khách."
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Họ lại đi thêm nửa nén nhang, cuối cùng mới đến trước thư phòng. Ngô Việt tiến lên gõ cửa, giọng cung kính: "Bẩm tư công, Công Tôn đại nhân đã tới."
Đỗ Lăng Xuân nghe thấy tiếng động, theo bản năng đứng dậy, nhưng không biết nhớ tới điều gì, lại ngồi xuống, dừng một lát mới nói: "Vào đi."
Hai chữ này rõ ràng chỉ dành cho Công Tôn Trác Ngọc.
Ngô Việt nghiêng người nhường đường: "Mời Công Tôn đại nhân vào."
Công Tôn Trác Ngọc thực ra hơi căng thẳng, không rõ nguyên do. Anh đứng ngoài chuẩn bị tâm lý một lúc lâu mới đẩy cửa bước vào. Chính giữa thư phòng đặt một lư hương chạm trổ hình thú nửa người cao, bên dưới trải thảm hoa văn, giữa phòng dùng một tấm bình phong họa chim hoa ngăn cách.
Công Tôn Trác Ngọc nhìn quanh một vòng, cuối cùng dừng ánh mắt trên tấm bình phong, thử thăm dò cất tiếng: "Tư công?"
Đỗ Lăng Xuân cầm trong tay chén trà, nghe thấy giọng nói của Công Tôn Trác Ngọc, khó tránh nhớ lại chuyện lần trước, nắp chén trên tay kêu "cạch" một tiếng ném xuống bàn.
Y từ trên ghế đứng dậy, vạt áo cọ nhẹ mặt đất, vang lên tiếng lụa sột soạt. Y đi đến trước bình phong, rồi dừng lại, giọng lạnh lùng hỏi: "Công Tôn Trác Ngọc, ngươi có biết tội không?"
Công Tôn Trác Ngọc đứng sau bình phong, nghe vậy ngẩn ra, trong đầu lập tức nhớ lại xem mình đã làm gì đắc tội Đỗ Lăng Xuân, nhưng kết quả lại chẳng có gì cả. Trừ... trừ lần trước nằm mộng...
Công Tôn Trác Ngọc không dám nghĩ đến giấc mộng kia, mỗi lần nghĩ tới, tai anh lại nóng bừng lên. Anh vô thức bóp bóp vành tai, qua bình phong nói: "Thưa tư công, hạ quan không rõ mình đã phạm lỗi gì..."
Đỗ Lăng Xuân qua những hoa văn chạm khắc trên bình phong, thấy Công Tôn Trác Ngọc gấp đến mức mồ hôi túa ra. Y nghĩ người này vừa nãy ở Tụ Hiền Các còn đấu khẩu với thư sinh kia miệng lưỡi sắc bén như thế, sao đứng trước mặt mình lại lắp ba lắp bắp đến đáng thương.
Một mảnh tĩnh lặng.
"..."
Đỗ Lăng Xuân hạ mắt, giọng y khó đoán, không rõ là vui hay giận: "Việc lần trước ngươi làm, bản thân ngươi không rõ sao?"
Công Tôn Trác Ngọc càng mơ hồ hơn. Chẳng phải anh chỉ giúp Đỗ Lăng Xuân thay bộ y phục thôi sao, có làm gì khác đâu. Anh chịu không nổi, thò đầu ra khỏi bình phong, nói: "Tư công, hạ quan chỉ thay áo cho ngài, thật sự không làm gì khác."
Anh không biết rằng, chỉ hai chữ "thay áo" đã vô tình nhảy múa trên điểm mấu chốt trong lòng Đỗ Lăng Xuân.
Đỗ Lăng Xuân trừng mắt: "Nghịch thần, ngươi còn dám nhắc đến!"
Y không hiểu tại sao, nghĩ đến việc Công Tôn Trác Ngọc có khả năng đã nhìn thấy vết sẹo xấu xí không nên thấy trên người mình, đầu ngón tay y run rẩy. Y không rõ là vì giận dữ hay vì xấu hổ, đến mức cả người cứng đờ, không nhúc nhích nổi.
Công Tôn Trác Ngọc lập tức giơ tay đầu hàng, ngoan ngoãn ngậm miệng: "Không nhắc nữa, không nhắc nữa."
Nhìn dáng vẻ vô tội của anh, Đỗ Lăng Xuân làm thế nào cũng không phát được cơn giận. Y đành phất tay áo quay lưng lại, im lặng không nói lời nào. Một lát sau, nhận ra bản thân vừa rồi phản ứng hơi quá, không giống thái độ nên có khi muốn kéo người về phe mình.
Đỗ Lăng Xuân hạ giọng, ôn hòa hỏi: "Ngươi đến kinh thành từ bao giờ?"
Công Tôn Trác Ngọc bắt ngay cơ hội, đáp: "Hồi tư công, hạ quan đến kinh sáng nay."
Đỗ Lăng Xuân liếc nhìn sắc trời bên ngoài, đã là giờ Ngọ, nhíu mày hỏi: "Tại sao không tới tìm ta?"
Công Tôn Trác Ngọc đưa tay gãi mũi, đáp: "Ban đầu định tìm chỗ ở trước, sau đó mới đến bái kiến tư công."
Không biết có phải ảo giác không, nhưng Đỗ Lăng Xuân dường như gầy hơn so với lúc ở Giang Châu, dung mạo vốn âm nhu nay lại thêm phần đơn bạc, không giống nam tử bình thường mạnh mẽ, đầy sức sống.
Nghe Công Tôn Trác Ngọc giải thích, tâm tình Đỗ Lăng Xuân dịu đi đôi chút. Y nhướng mày hỏi: "Tìm chỗ ở? Hay là tư công phủ ta không chứa nổi Công Tôn đại nhân đây?"
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy thì cười tươi như hoa, trong lòng nghĩ: Đợi ngài nói câu này lâu lắm rồi. Anh tiến thêm một bước, nói: "Vậy thì làm phiền tư công, hạ quan quấy rầy."
Là một nam tử đường hoàng, dáng người anh cao lớn khỏe mạnh. Khi anh tới gần, khí tức quanh anh tràn ngập áp lực, dễ khiến người đối diện bị bao phủ trong cảm giác bị đe dọa. Đỗ Lăng Xuân khẽ cứng người, muốn né đi nhưng không hiểu sao lại không nhấc chân nổi.
Thái giám trong cung dù đã mất đi nam tính nhưng đa phần vẫn yêu nữ tử, ít ai có thói đoạn tụ. Đỗ Lăng Xuân từ trước đến nay luôn vô tâm với chuyện nam nữ, nhưng khi đối diện Công Tôn Trác Ngọc, y lại không dám chắc nữa.
Đỗ Lăng Xuân ngồi xuống sau án thư, kéo giãn khoảng cách giữa hai người một cách kín đáo, đôi mày dài nhíu chặt, rồi đổi sang đề tài khác: "Ngươi có biết vì sao bệ hạ triệu ngươi vào kinh không?"
Công Tôn Trác Ngọc đáp: "Hạ quan có nghe qua, triều đình gần đây vô cớ có ba quan viên chết thảm, bệ hạ muốn chúng ta điều tra rõ sự thật."
Đỗ Lăng Xuân lại nói: "Đây chỉ là một phần."
Y vừa nói, vừa nghiến răng nghiến lợi, ngón tay chậm rãi v.uốt ve: "Đô úy kinh thành bị ám sát, vị trí đó liền bỏ trống. Ta vốn định dâng tấu lên bệ hạ, để ngươi từ Giang Châu điều về thay thế vị trí ấy. Nhưng ai ngờ lão hồ ly Nghiêm Phục lại chen ngang, nói ngươi tư lịch còn cạn, cần phải rèn luyện thêm, trực tiếp bác bỏ."
"Hả?"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ bụng: Mình cũng thảm quá rồi đi, miếng thịt béo đến miệng còn bị bay mất? Nghiêm Phục đúng là đồ đáng ghét!
Đỗ Lăng Xuân như nhìn thấu suy nghĩ của anh, lạnh giọng: "Ngươi cũng không cần lo lắng. Trước mắt cứ ở lại kinh thành, phụ giúp tra án, sớm muộn ta cũng để ngươi bước lên vị trí đó."
Công Tôn Trác Ngọc dù phá được vài vụ án nhưng cũng chỉ là mấy chuyện của bách tính thường dân. Vụ này lại liên quan đến quan chức triều đình, ắt hẳn không đơn giản. Anh không dám chắc bản thân có thể phá án, liền liếc nhìn Đỗ Lăng Xuân, hỏi: "Vậy nếu hạ quan không tra được..."
Đỗ Lăng Xuân ngẩng lên: "Không tra được thì không tra được, chẳng lẽ bản tư công ăn thịt ngươi chắc?"
Lời này nghe qua thì có lý, nhưng ngẫm lại lại chẳng hợp lý chút nào. Y đã muốn bồi dưỡng Công Tôn Trác Ngọc, tất nhiên là vì coi trọng năng lực của anh. Nếu vụ án này anh không tra ra được, chẳng khác nào trở thành quân cờ vô dụng, không cần phí công bồi dưỡng.
Nhưng bản thân Đỗ Lăng Xuân hoàn toàn không nhận ra rằng, ý nghĩ muốn Công Tôn Trác Ngọc thăng tiến còn lớn hơn cả kỳ vọng đối với năng lực trợ giúp của anh.
Công Tôn Trác Ngọc cười nhẹ: "Hạ quan nhất định không để tư công thất vọng."
Đỗ Lăng Xuân muốn tiến cử anh, còn Nghiêm Phục lại tiến cử Đường Phi Sương. Nếu đến lúc đó Công Tôn Trác Ngọc không phá được án, chẳng phải khiến cả y mất mặt, còn bị Nghiêm Phục đè bẹp.
Nghĩ đến đây, Công Tôn Trác Ngọc không khỏi hỏi: "Vậy những thông tin về ba người chết đó có hồ sơ chi tiết không?"
Đỗ Lăng Xuân sớm đoán được anh sẽ hỏi vậy, bèn đưa tập hồ sơ trên bàn cho anh: "Đây là hồ sơ từ hình bộ, ngươi cứ xem qua. Đợi Đường Phi Sương nhập kinh, các ngươi sẽ cùng diện thánh, phối hợp phá án."
Người đầu tiên chết là Đổng Thiên Lý, thứ sử Lương Châu. Trên đường về kinh báo cáo, ông ta nghỉ lại tại một khách điếm. Sáng hôm sau, người ta phát hiện ông chết thảm trên giường, mặt bị lột sạch da, thân mình nằm trong vũng máu.
Trên bàn gần đó, hung thủ để lại một tờ giấy. Theo lời nha hoàn quét dọn, tờ giấy đó được gửi đến vào đêm trước khi Đổng Thiên Lý chết.
Trên giấy viết một bài thơ Biệt Đổng Đại của Cao Thích:
"Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân,
Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.
Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,
Thiên hạ thùy nhân bất thức quân."
[*] Dịch thơ by Kally
"Ngàn dặm mây vàng, nắng trắng phai,
Gió bấc đưa nhạn, tuyết bay đầy trời.
Chớ buồn đường trước thiếu tri âm,
Trong thiên hạ, ai chẳng người hiểu ta!"
Công Tôn Trác Ngọc cảm thấy thú vị, tiếp tục lật hồ sơ.
Người thứ hai chết là Quách Hàn, thị lang bộ hộ. Ông ta bị ám sát trong một khuê phòng hoa khôi ở thanh lâu, thân thể bị cắt đôi từ phần eo, ruột gan đổ cả ra ngoài.
Trước khi chết một ngày, ông cũng nhận được một tờ giấy. Trên đó viết nửa đầu bài từ Thiên thu tuế. Thuỷ biên sa ngoại của Tần Quan:
"Thủy biên sa ngoại,
Thành quách xuân hàn thoái.
Hoa ảnh loạn, oanh thanh toái.
Phiêu linh sơ tửu trản,
Ly biệt khoan y đái.
Nhân bất kiến,
Bích vân mộ hợp không tương đối."
[**] Dịch thơ by Kally
Bên bờ nước, ngoài đồng xa,
Xuân tàn, thành quách nhạt nhòa gió bay.
Hoa rơi bóng loạn vơi đầy,
Oanh ca khúc vỡ, chuỗi ngày tiêu dao.
Chén rượu nhạt, áo xiêm xao,
Biệt ly khoan nhẹ xiết bao não nùng.
Người đâu thấy bóng trùng phùng,
Chiều buông mây biếc mịt mùng trời xa.
Công Tôn Trác Ngọc nhìn đến đoạn này, đã phát hiện điều gì đó, nhưng để xác nhận, anh tiếp tục lật sang trang tiếp theo.
Người chết thứ ba là Kinh Triệu Doãn Sở Liên Giang. Ông bị hung thủ móc đi đôi mắt, thi thể treo lơ lửng giữa đại sảnh nha môn, bên dưới kinh đường mộc có đè một tờ giấy. Trên giấy là bài thơ Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm của Vương Xương Linh:
"Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô,
Bình minh tống khách Sở sơn cô.
Lạc Dương thân hữu như tương vấn,
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ."
[*] Dịch thơ by Kally:
Mưa lạnh sông dài đêm tới Ngô,
Sớm mai tiễn khách, bóng Sở mờ.
Bạn hiền Lạc Dương nếu ai hỏi,
Xin gửi lòng trong ngọc sáng tơ.
Công Tôn Trác Ngọc nhìn về phía Đỗ Lăng Xuân:
"Tên hung thủ này quả thật quá ngông cuồng."
Đỗ Lăng Xuân nhướng mày: "Ngươi nhìn ra điều gì rồi?"
Công Tôn Trác Ngọc mỉm cười: "Hạ quan cho rằng, tên hung thủ này là một kẻ yêu thích sách vở. Chỉ là chưa tận mắt thấy thi thể và chứng vật, nên hạ quan không dám tùy tiện phán đoán."
Hiện tại, ba vị quan viên triều đình đã chết, mà trước khi chết, hung thủ đều đặc biệt gửi đến một tờ giấy có bài thơ liên quan đến tên họ của họ. Xét về một khía cạnh nào đó, hung thủ này võ công cao cường, tính cách ngông cuồng, dường như đang trêu chọc, chế giễu sự bất lực của triều đình.
Vụ án liên hoàn này có một quy luật rõ ràng: kẻ tiếp theo nhận được bài thơ sẽ trở thành mục tiêu của hắn. Có thể tưởng tượng được, trong triều từ văn thần đến võ tướng, người người đều lo sợ bất an, chỉ sợ chính mình bị cuốn vào.
Đỗ Lăng Xuân tất nhiên muốn Công Tôn Trác Ngọc nắm bắt thêm nhiều thông tin, để tránh bị Đường Phi Sương đoạt mất công lao. Y nói: "Ngày mai ta đưa ngươi tới Hình Bộ một chuyến, thi thể của ba người kia hiện đang được đặt ở đó. Ngươi muốn điều tra thế nào cũng được, có ta ở đây, người khác không dám nhiều lời."
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ, đây chính là cảm giác có chỗ dựa sao? Anh lặng lẽ quan sát dung nhan mày kiếm mắt phượng của Đỗ Lăng Xuân, bất giác mỉm cười, nhưng lại buột miệng nói một câu chẳng liên quan: "Tư công dường như gầy đi đôi chút..."
Giọng nói trầm thấp, mang theo sự quan tâm chân thành, hoàn toàn khác với vẻ cợt nhả ngày thường.
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, theo bản năng ngẩng lên, không ngờ lại bắt gặp ánh mắt anh đang nhìn mình, nhất thời tay run lên, suýt chút nữa làm rơi chén trà. Công Tôn Trác Ngọc nhanh tay đỡ lấy chén trà, sau đó đặt vững trên tay y, thấp giọng nói: "Tư công cẩn thận."
Tác giả có lời muốn nói: Công Tôn Trác Ngọc: Ôi, chạm tay rồi này!
Chương 187
Ngón tay hai người khẽ chạm vào nhau, thoạt nhìn như một tư thế nắm lấy tay nhau. Nhưng Đỗ Lăng Xuân lại cảm thấy lòng bàn tay Công Tôn Trác Ngọc còn nóng hơn cả chén trà, may mắn thay người kia chỉ chạm vào một lát đã lập tức thu tay lại, không để tình cảnh thêm lúng túng.
"..."
Đỗ Lăng Xuân liếc nhìn Công Tôn Trác Ngọc một cái, cố gắng phớt lờ cảm giác khác thường ban nãy, đặt chén trà xuống bàn: "Ngươi cứ ở lại viện phía đông, tối nay ta mở tiệc, giới thiệu ngươi với vài người."
Đỗ Lăng Xuân có thể đi đến địa vị ngày hôm nay, tất nhiên không phải nhờ vào một nhóm người bất tài vô dụng. Dưới trướng y có nhiều mưu sĩ, trong đó nổi bật nhất là Tống Khê Đường và Lãnh Vô Ngôn, đều là những danh sĩ đầy mưu lược.
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy hơi sững sờ, nghĩ rằng Đỗ Lăng Xuân đây là muốn đưa mình vào nhóm thân cận nhất hay sao? Trong lòng khó tránh khỏi kinh ngạc. Tuy đều là môn hạ, nhưng cũng có sự phân biệt về đẳng cấp, thân sơ. Nhất là đối với người ở vị trí cao như Đỗ Lăng Xuân.
Thử phá tan lớp giấy mỏng kia, quan lại ai mà không kết bè kết đảng, ai mà không nhận hối lộ, ai mà không làm chuyện không thể để lộ ra ngoài? Và những chuyện này đều cần giao cho tâm phúc xử lý. Nếu chẳng may gặp kẻ lòng dạ hiểm ác, bị đối thủ chính trị nắm được nhược điểm, chẳng khác nào nguy hiểm đến tính mạng, bởi vậy càng phải thận trọng.
Nhìn phim truyền hình không thấy sao? Nhân vật chính muốn được lòng tin của phản diện, thường phải mất mấy chục năm ẩn nhẫn, liều mạng. Công Tôn Trác Ngọc là người đầu tiên trực tiếp được đưa vào trung tâm thế lực.
Anh nghĩ Đỗ Lăng Xuân liệu có quá mức tin tưởng mình không, không nhịn được hỏi: "Tư công không sợ..."
Đỗ Lăng Xuân hỏi ngược lại: "Sợ gì?"
Công Tôn Trác Ngọc không hiểu sao nuốt lời định nói vào, lắc đầu đáp: "Không có gì."
Buổi tối, tiệc được mở tại gác lầu Phong Lai Thủy Tạ. Tống Khê Đường đi ngang qua hồ Lạc Nguyệt, vừa khéo gặp Lãnh Vô Ngôn, hắn vuốt vuốt bộ râu ngắn chưa tới tấc của mình, mỉm cười tiến lại gần:
"Lãnh tiên sinh, thật là trùng hợp."
Lãnh Vô Ngôn là một người mang bệnh lao, sắc mặt xanh xao, nói hai câu phải ho mười tiếng, nhưng lại đầy bụng kinh luân, mưu lược hơn người, bởi vậy được Đỗ Lăng Xuân thu nhận làm môn hạ. Hắn nhìn thấy Tống Khê Đường, che miệng ho hai tiếng, giọng khàn khàn: "Tống tiên sinh."
Tống Khê Đường đi cùng hắn, vừa tiến về phía Phong Lai Thủy Tạ vừa trò chuyện: "Không biết Công Tôn Trác Ngọc này là người thế nào, có thể khiến Tư công coi trọng đến vậy, hôm nay rốt cuộc cũng được gặp rồi."
Hắn cả đời không có sở thích nào khác, chỉ thích đồ cổ tranh họa, đối với bức Sơn Xuyên Phong Nguyệt Đồ mà Đỗ Lăng Xuân mang về từ Giang Châu thì trầm trồ kinh ngạc, không thể rời mắt. Chỉ tiếc đã nhiều lần xin mà không được, bởi vậy trong lòng rất có cảm tình với Công Tôn Trác Ngọc.
Lãnh Vô Ngôn lại ho thêm hai tiếng, thản nhiên nói:
"Ta nghe nói người này ở Giang Châu phá được nhiều kỳ án, kêu oan cho dân, thanh danh không tệ."
Ngụ ý là, vốn không cùng đường với bọn họ, đột nhiên đầu nhập vào dưới trướng Đỗ Lăng Xuân, chỉ e tâm tư không thuần.
Tống Khê Đường là người thông minh, lập tức hiểu ra ý tứ trong lời y, nhưng không để tâm: "Tư công xưa nay thận trọng, đã làm vậy chắc chắn có an bài."
Trong lúc nói chuyện, hai người đã đến yến đình. Tống Khê Đường chỉ thấy Đỗ Lăng Xuân ngồi ở vị trí chính, bên dưới là một vị công tử áo gấm, đai ngọc trắng, phong thái thanh chính, đoán rằng chính là Công Tôn Trác Ngọc.
Tống Khê Đường hành lễ với Đỗ Lăng Xuân: "Tư công thứ tội, tại hạ đến muộn."
Hắn đã đến sớm hơn nửa chung trà, nhưng không ngờ Đỗ Lăng Xuân lại phá lệ đến sớm hơn, bởi vậy xin tội.
Lãnh Vô Ngôn cũng chắp tay hành lễ, sau đó không nhịn được mà ho khan hai tiếng.
Công Tôn Trác Ngọc âm thầm quan sát hai vị mưu sĩ thân cận này. Chỉ thấy họ đều khoảng trên dưới ba mươi tuổi, Tống Khê Đường để râu đen, mang khí chất văn nhân, còn Lãnh Vô Ngôn thì thân hình tiều tụy, ba phần giống ma, bảy phần giống người, rõ ràng là mang bệnh lâu ngày.
Đỗ Lăng Xuân phất tay áo: "Không sao, tiên sinh mời ngồi."
Nói xong, y lại giới thiệu với Công Tôn Trác Ngọc:
"Đây là Tống tiên sinh Tống Khê Đường, vị kia là Lãnh tiên sinh Lãnh Vô Ngôn."
Tống Khê Đường là người tinh ý, khi ngồi xuống, liền chắp tay nói với Đỗ Lăng Xuân: "Xin hỏi Tư công, vị này chính là Công Tôn đại nhân?"
Công Tôn Trác Ngọc vội đứng dậy: "Không dám nhận tiếng đại nhân, cứ gọi ta là Trác Ngọc được rồi."
Hai người đều là bậc thông đạt nhân tình, trên môi thoáng ý cười.
Đỗ Lăng Xuân trong lòng nghĩ, cũng không thấy Công Tôn Trác Ngọc đối với mình thân cận đến mức nào, khi gặp mặt vẫn là một câu "hạ quan", một câu "Tư công". Y cúi đầu uống một ngụm trà, giọng điệu không nghe ra cảm xúc: "Công Tôn Trác Ngọc phá án vô song, ta điều hắn vào kinh, có ý định bổ nhiệm chức vị Kinh Triệu Doãn, tiên sinh thấy thế nào?"
Tống Khê Đường nói: "Kinh Triệu Doãn quản lý kinh kỳ, là một chức vị quan trọng. Nếu có thể sắp xếp được, tự nhiên là tốt, chỉ e rằng những người như Nghiêm tướng sẽ gây trở ngại."
Hơn nữa, Công Tôn Trác Ngọc hiện chỉ là tri huyện, nay một bước thăng lên làm Kinh Triệu Doãn, quả thật có phần quá nhanh. Trừ phi lập được đại công, nếu không rất khó dập tắt lời đàm tiếu.
Đỗ Lăng Xuân đáp: "Không sao. Dạo gần đây triều đình xảy ra nhiều vụ quan viên bị giết, Hoàng thượng đã hạ chỉ để Công Tôn Trác Ngọc phối hợp Bộ Hỉnh điều tra vụ án. Đợi khi hắn phá được án, lập được đại công, việc thăng chức tự nhiên cũng thuận lý thành chương."
Kẻ luôn trầm mặc như Lãnh Vô Ngôn bỗng lên tiếng: "Công Tôn đại nhân giỏi phá án sao?"
Công Tôn Trác Ngọc nhìn sang, không rõ tại sao hắn lại hỏi vậy: "Chỉ hiểu sơ qua chút kỹ thuật vụn vặt."
Lãnh Vô Ngôn là một người mưu kế thâm sâu, bất kể việc gì cũng phải tính toán kỹ lưỡng. Hắn trầm ngâm một hồi rồi nói: "Nếu có thể làm giả chút chứng cứ, dẫn họa tới chỗ Nghiêm Phúc, làm gãy vài cánh tay của hắn, chẳng phải là nhất cử lưỡng tiện sao?"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ, quả thật Lãnh Vô Ngôn danh xứng với cái tên "Quỷ Diện Thanh Xà", tâm tư như rắn độc. Nhưng thật đáng tiếc, phá án anh làm được, chứ chuyện giả mạo chứng cứ thì thật sự không biết, vì vậy không nói lời nào.
Lãnh Vô Ngôn ho nhẹ một hồi, ngước mắt nhìn Công Tôn Trác Ngọc, ánh mắt như thể có thể nhìn thấu suy nghĩ trong lòng anh: "Công Tôn đại nhân không muốn?"
Mấy chữ đơn giản rơi vào tai người khác không khỏi khiến họ nghĩ ngợi nhiều hơn. Nhất là Đỗ Lăng Xuân vốn tính đa nghi, không chừng sẽ nghĩ rằng Công Tôn Trác Ngọc có hai lòng. Rõ ràng, đây là Lãnh Vô Ngôn đang khéo léo đào hố.
Tống Khê Đường đứng một bên không khỏi lo lắng.
Công Tôn Trác Ngọc lại thẳng thắn nói: "Quả thực không muốn."
Lãnh Vô Ngôn không ngờ anh lại nói thẳng như vậy, theo bản năng nhìn về phía Đỗ Lăng Xuân. Thế nhưng y chẳng thấy chút giận dữ nào, chỉ nhàn nhạt đáp: "Hắn đến đây là để phá án, mấy chuyện lộn xộn này không làm được."
Trong lời nói rõ ràng mang theo sự thiên vị, ai nghe cũng hiểu được.
Lãnh Vô Ngôn lần đầu tiên trong đời đoán sai phản ứng của Đỗ Lăng Xuân. Hắn vốn nghĩ đối phương sẽ giận dữ hoặc âm thầm nghi ngờ khi nghe câu trả lời của Công Tôn Trác Ngọc. Nhưng kết quả lại hoàn toàn ngược lại, nhẹ nhàng cho qua chuyện như thế.
"Tư công nói phải."
Lãnh Vô Ngôn đành lên tiếng, nhưng lòng vẫn không giảm nghi ngờ. Hắn nghĩ, hành xử của Công Tôn Trác Ngọc rõ ràng không cùng một đường với bọn họ. Nếu anh là mật thám do Nghiêm Phục cài vào thì sao?
Công Tôn Trác Ngọc thực ra sau khi nói câu đó liền có chút hối hận, nếu lỡ làm Đỗ Lăng Xuân không vui thì sao. Anh nhấp một ngụm rượu, lén liếc nhìn lên ghế trên, lại bất ngờ bắt gặp ánh mắt Đỗ Lăng Xuân cũng đang nhìn mình, lập tức cúi đầu, sau đó không dám ngẩng lên nữa.
Rượu qua ba tuần, yến tiệc cũng tan.
Tống Khê Đường lại bất ngờ phát hiện ra hắn và Công Tôn Trác Ngọc rất hợp ý, chẳng hạn như cả hai đều yêu thích cổ vật, thư họa, kỳ trân dị bảo, nên trò chuyện rất hợp nhau.
Tống Khê Đường khi chia tay còn tỏ vẻ tiếc nuối:
"Công Tôn đại nhân, ngày khác nhất định tại hạ sẽ thỉnh giáo ngươi về thư họa, mong ngươi không tiếc lòng chỉ giáo."
Công Tôn Trác Ngọc: "Đâu dám, chỉ là cùng nhau trao đổi mà thôi."
Lãnh Vô Ngôn đi ngang qua anh, ho khan vài tiếng, giọng nói lịch sự mà không lộ chút sơ hở: "Công Tôn đại nhân, tại hạ không chịu được gió, xin cáo từ trước."
Công Tôn Trác Ngọc tươi cười đáp: "Lãnh tiên sinh bảo trọng."
Quay đầu lại, anh phát hiện Đỗ Lăng Xuân đã rời đi. Y đi qua nửa hành lang quanh co, phía trước có nha hoàn cầm đèn dẫn đường. Anh vội vã chạy theo: "Tư công, tư công!"
Đỗ Lăng Xuân dừng chân một chút nhưng không dừng hẳn. Chờ Công Tôn Trác Ngọc đuổi kịp, y mới cất giọng lãnh đạm: "Có việc?"
Công Tôn Trác Ngọc nhạy bén nhận ra y có gì đó không vui, anh nhận lấy chiếc đèn lồng từ tay nha hoàn bên cạnh, cười nói: "Ta sẽ cầm đèn soi đường cho tư công."
Hành lang quanh co nằm ngay cạnh hồ sen. Dưới ánh trăng, bóng hoa sen thấp thoáng. Trong tay Công Tôn Trác Ngọc cầm một chiếc đèn lồng lưu ly chế tác tinh xảo, ánh sáng vàng nhạt khiến con đường phía trước thêm phần mờ ảo, bóng sáng đổ dài trên mặt đất.
Anh lên tiếng hỏi: "Tư công có phải đang giận?"
Đỗ Lăng Xuân nghĩ, chẳng phải Công Tôn Trác Ngọc vừa trò chuyện vui vẻ với Tống Khê Đường sao, giờ lại chạy đến tìm mình làm gì. Y khẽ vung tay áo, đôi mày nhíu lại, khóe môi hơi nhếch, đáp ngược: "Ta giận gì?"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ, rõ ràng y đang giận, bèn thấp giọng đáp: "Nếu tư công muốn hạ bệ Nghiêm Phục, tại hạ nhất định sẽ tận tâm tận lực. Chỉ là ta vụng về, biết phá án, nhưng không giỏi chuyện giả mạo chứng cứ, sợ làm hỏng việc lớn của tư công."
Anh nghĩ Đỗ Lăng Xuân vì chuyện này mà giận.
Đỗ Lăng Xuân híp mắt lại, nghiêng đầu nhìn anh:
"Vậy ngươi đúng là vụng về."
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
QAQ, anh rõ ràng rất thông minh mà!
Đỗ Lăng Xuân nhìn không nổi dáng vẻ vô tội của anh, phất tay áo ra hiệu cho nha hoàn lui ra xa, sau đó mới nói: "Ngươi chỉ cần lo phá án, tra ra chân tướng, những chuyện khác không cần ngươi bận tâm, đã có ta lo."
Ở kinh thành, muốn đứng vững không chỉ cần có tiền bạc và quyền thế, mà còn cần có chỗ dựa. Công Tôn Trác Ngọc chỉ là một tri huyện nhỏ, nếu không có Đỗ Lăng Xuân che chở, chỉ e rằng đã bị người ta xé sạch không còn mảnh vụn.
Anh tự biết điều này, trong lòng không rõ cảm xúc ra sao, chỉ đơn thuần cảm thấy... có người bảo vệ... thật tốt.
Công Tôn Trác Ngọc nhìn bóng dáng Đỗ Lăng Xuân dưới ánh trăng, gầy gò và đơn bạc, không nhịn được mà lại gần hơn một chút, thấp giọng nói:
"Đa tạ tư công."
Trong tay Công Tôn Trác Ngọc cầm chiếc đèn lồng, đột nhiên tiến lại gần, như một đốm sáng mờ nhạt, khiến người ở trong bóng tối khó thích ứng. Đỗ Lăng Xuân theo bản năng lùi lại, nhưng không ngờ dưới chân là ba bậc đá xanh, liền bước hụt —
"Tư công cẩn thận!"
Công Tôn Trác Ngọc nhanh tay giữ lấy cổ tay y, giúp y đứng vững, Đỗ Lăng Xuân lúng túng đáp: "Không sao."
Hành lang này y đã đi qua không dưới nghìn lần, vậy mà hôm nay lại bị trượt chân, quả thực mất mặt.
Công Tôn Trác Ngọc vốn định buông tay y ra, nhưng do dự trong chốc lát, cuối cùng lại siết chặt cổ tay của y thêm lần nữa: "Trời tối đường trơn, để ta đỡ tư công vậy."
Đỗ Lăng Xuân không biết vì sao lại không từ chối. Qua lớp áo, y mơ hồ cảm nhận được đầu ngón tay mạnh mẽ của Công Tôn Trác Ngọc, thậm chí cả lòng bàn tay ấm áp. Như muốn xua tan không khí ngượng ngùng, y hỏi bâng quơ: "Ngươi tên là Trác Ngọc?"
Công Tôn Trác Ngọc gật đầu như gà mổ thóc: "Ừm ừm, phụ thân nói rằng, quân tử như ngọc, trước phải mài giũa, sau mới thành khí, vì thế đặt tên là Trác Ngọc."
Đỗ Lăng Xuân ừ một tiếng, không nói gì thêm. Một lát sau, y lại bất ngờ mở miệng: "Bức tranh ngươi tặng ta..."
Công Tôn Trác Ngọc theo bản năng ngẩng đầu: "Tranh? Làm sao vậy?"
Đỗ Lăng Xuân mím môi: "Tại sao không sáng nữa?"
Bức tranh đó ban ngày là cảnh mặt trời chiếu sáng núi non, ban đêm lại là trăng rằm soi bóng giang hà, nhưng theo thời gian, những phần phát sáng dần mờ nhạt.
Công Tôn Trác Ngọc bừng tỉnh: "Tư công hãy mang tranh ra phơi nắng thường xuyên, nó sẽ sáng trở lại."
Loại khoáng thạch đó vốn không tự phát sáng, chỉ mang đặc tính huỳnh quang, phải được ánh mặt trời kí.ch thích mới có thể phát sáng trong một khoảng thời gian.
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, hơi thở phào nhẹ nhõm. Y còn muốn nói thêm điều gì đó, nhưng đã đến trước cửa phòng ngủ, bất giác dừng bước.
Công Tôn Trác Ngọc không kiềm được, đầu ngón tay khẽ vuốt nhẹ cổ tay của Đỗ Lăng Xuân, chỉ cảm thấy vô cùng mảnh mai, tựa như chỉ cần dùng thêm chút lực là có thể làm gãy. Anh khẽ nói: "Tư công, nghỉ ngơi sớm đi."
Không hiểu sao, anh lại không nỡ buông tay y ra.
Mà Đỗ Lăng Xuân dường như cảm giác được điều gì, trái tim bỗng nhiên lỡ nhịp, sau đó đập dồn dập như muốn nhảy ra khỏi lồng ng.ực. Trong bóng tối, y nhìn về phía Công Tôn Trác Ngọc, cổ họng nghẹn lại, hồi lâu mới đáp với giọng điệu cứng ngắc: "Biết rồi."
Rồi từ từ rút tay về.
Ống tay áo lạnh lẽo tựa nước trôi qua đầu ngón tay, chỉ để lại chút dư âm ấm áp. Công Tôn Trác Ngọc chậm rãi thu tay lại, nhìn Đỗ Lăng Xuân một cái, khẽ nói: "Vậy... hạ quan xin về phòng trước."
Đỗ Lăng Xuân đáp: "Về đi, ngày mai ta đưa ngươi đến Hình Bộ."
Trăng đã lên đ.ỉnh trời, sáng trong như ngọc.
Do vụ án mạng liên hoàn này liên quan đến nhiều người, thi thể các quan viên bị hại đều đang được bảo quản trong phòng lạnh, chưa được an táng. Theo lý, nếu không có đặc cách thì không ai được phép vào, nhưng nếu là Đỗ Lăng Xuân muốn xem, tự nhiên chẳng ai dám cản.
Người trông coi phòng lạnh là một ông lão khoảng năm mươi tuổi, ông dùng chìa khóa mở cửa, chỉ vào ba thi thể được phủ vải trắng bên trong, nói:
"Đều ở đây, đại nhân chớ ở lâu, dễ nhiễm phong hàn."
Công Tôn Trác Ngọc bước vào trước, lập tức bị khí lạnh bao trùm. Nhưng nhờ từng tập võ, anh vẫn chịu được. Anh vén tấm vải trắng lên, nhìn vào thi thể đầu tiên. Đập vào mắt là khuôn mặt máu thịt lẫn lộn của Đổng Thiên Lý, Thích Sử Lương Châu. Anh không khỏi hỏi: "Da mặt của ông ấy đâu?"
Tác giả có lời muốn nói: Đổng Thiên Lý: Ta không cần nữa được không?
Chương 188
Ông lão đứng bên cạnh giải thích: "Đổng đại nhân chết quá lâu, da mặt ông ấy lại mỏng, đã mục nát không còn hình dạng, chỉ còn thi thể này."
Công Tôn Trác Ngọc đã chuẩn bị sẵn một đôi găng lụa. Anh cúi xuống quan sát kỹ khuôn mặt của Đổng Thiên Lý, phát hiện vết cắt trên da vô cùng gọn gàng, cơ bắp trên mặt bị tổn hại đồng đều, rõ ràng hung thủ có kỹ thuật dùng dao rất cao.
Một kẻ cực kỳ theo đuổi sự hoàn hảo...
Công Tôn Trác Ngọc tiếp tục nhìn xuống, phát hiện trên người Đổng Thiên Lý có nhiều vết kiếm, đây là nguyên nhân khiến ông mất máu quá nhiều mà chết. Vết kiếm dày đặc, nhưng độ sâu và vết cắt đều đồng nhất, cho thấy hung thủ có võ công cao cường, am hiểu kiếm thuật nhanh.
Đỗ Lăng Xuân đứng bên cạnh, dùng khăn che miệng mũi. Từ khi vào phòng lạnh, chân mày y luôn cau lại không giãn ra: "Sao rồi, có phát hiện gì không?"
Công Tôn Trác Ngọc lắc đầu, nhận ra vụ án này rất khó nhằn: "Hung thủ võ công cực cao, dù tra được, e rằng cũng không dễ bắt."
Đỗ Lăng Xuân không cho rằng đây là vấn đề, nghe vậy thì lộ vẻ khinh thường, khẽ hừ một tiếng: "Kinh Luật Tư cao thủ vô số, chẳng lẽ không bắt được một tên tội phạm?"
Công Tôn Trác Ngọc lập tức cười rạng rỡ, thấy rất có lý: "Tư công nói phải."
Dù y nói gì, anh cũng cảm thấy đúng.
Đỗ Lăng Xuân nghe xong, khẽ cụp mắt xuống, tuy không nói gì, nhưng vẻ hài lòng trên mặt không khó để nhận ra. Hiển nhiên rất hưởng thụ sự đồng thuận của anh.
Công Tôn Trác Ngọc tiến đến thi thể thứ hai. Nạn nhân là Thị Lang Bộ Hộ Quách Hàn, chết trong khuê phòng của hoa khôi, bị người ta chém đứt ngang lưng mà chết. Anh vén vải trắng lên xem, phát hiện vết thương ở eo rất gọn gàng, trên người cũng có những vết kiếm giống hệt của Đổng Thiên Lý.
Công Tôn Trác Ngọc thích thu thập manh mối từ hiện trường vụ án, nhưng hai người này đã chết được một thời gian, một người chết ở khách điếm, một người chết ở thanh lâu, ngoài việc xem xét thương tích ra, không thể thu thập thêm quá nhiều thông tin.
Anh đắp lại vải trắng, rồi bước đến thi thể thứ ba. Kinh Triệu Doãn Sở Liên Giang là người có thời gian tử vong gần đây nhất, thi thể vẫn còn được bảo quản khá tốt. Ông bị giết bởi kiếm nhanh, sau đó bị treo trên công đường của nha môn.
Loại vụ án này phiền phức nhất. Hung thủ võ công cao cường, xuất quỷ nhập thần, rất có khả năng không liên quan gì đến nạn nhân, tra xét chẳng khác nào mò kim đáy bể.
Công Tôn Trác Ngọc tháo găng tay ra, hỏi ông lão:
"Ba người này trước khi chết đều nhận được một bài thơ, vật đó vẫn còn chứ?"
Ông lão đáp: "Tất nhiên còn, đại nhân chờ một chút, lão phu sẽ đi lấy."
Nói xong, ông lão bước chậm rãi ra khỏi phòng lạnh.
Công Tôn Trác Ngọc tranh thủ nhìn về phía Đỗ Lăng Xuân, thấy môi y đã tái nhợt, không nhịn được cất tiếng hỏi: "Tư công lạnh rồi sao?"
Đỗ Lăng Xuân đương nhiên rất lạnh. Y là hoạn quan, sức khỏe không được như nam tử bình thường, ở đây lâu thì lạnh thấm vào toàn thân, khó mà chịu đựng nổi. Nghe hỏi, y hơi cau mày, đang định nói không sao, thì một bàn tay lạnh băng bỗng bị ai đó nắm lấy.
"..."
Công Tôn Trác Ngọc có chút ngượng ngùng cúi đầu, nắm lấy một tay của Đỗ Lăng Xuân, khẽ nói:
"Hạ quan tập võ nhiều năm, khí huyết dồi dào, tự nhiên không sao. Nơi này rất lạnh, tư công đừng để nhiễm phong hàn."
Anh có nội lực trong người, chỉ trong chốc lát đã khiến tay của Đỗ Lăng Xuân ấm lên. Ban đầu chỉ đơn thuần muốn làm ấm tay, nhưng chẳng hiểu sao, dưới sự che chắn của tay áo, lại bất giác biến thành tư thế mười ngón tay đan xen vào nhau.
Đỗ Lăng Xuân khẽ giãy giụa hai lần nhưng không thoát được, trong lòng bỗng trào lên một cảm giác khác thường. Y nghiêng đầu dời tầm mắt, trong lòng vừa thẹn vừa giận, thầm mắng: "Công Tôn Trác Ngọc cái tên khốn kiếp này, vừa sờ xác chết xong đã đến sờ tay của y!"
Công Tôn Trác Ngọc không biết trong đầu Đỗ Lăng Xuân đang nghĩ gì, chỉ cảm thấy hai tai nóng bừng, bàn tay lặng lẽ m.ơn tr.ớn đầu ngón tay thon dài mảnh mai của đối phương dưới tay áo, cảm thấy bàn tay này thực sự quá đẹp.
Cho đến khi ông lão cầm vật chứng đi đến, hai người họ mới như bị điện giật mà lập tức buông ra, cứ như vừa làm chuyện gì mờ ám vậy.
Ông lão nói: "Đại nhân, đây chính là bài thơ mà hung thủ để lại."
Công Tôn Trác Ngọc ho khan một tiếng che giấu sự lúng túng, cất lời cảm ơn rồi nhận lấy. Anh vốn nghĩ bài thơ này là do hung thủ tự tay viết, nhưng nhìn kỹ thì phát hiện nó được xé ra từ một tập thơ thông thường. Góc giấy vuông vức, chữ viết kiểu khải chính vuông vắn, trên đó còn loang lổ những vết máu.
Trong đầu Công Tôn Trác Ngọc bắt đầu hiện lên một vài nét phác thảo mơ hồ về chân dung hung thủ:
1. Là một người theo chủ nghĩa hoàn mỹ cực đoan.
2.Đã đọc sách thánh hiền, có tài văn chương, khác biệt với hạng dân đen tầm thường.
3.Có ý thức về nghi lễ, giết người với một quy tắc và logic riêng.
4.Võ công cao cường, am hiểu kiếm pháp nhanh.
5.Căm ghét quan phủ, hoặc có lẽ là căm ghét loại người như nạn nhân. Hắn rõ ràng có thể một kiếm đâm chết người, nhưng lại cố tình chọn phương pháp rườm rà nhất.
6.Hắn đang âm thầm khiêu khích triều đình, và rất có thể sẽ tiếp tục ra tay...
Công Tôn Trác Ngọc suy nghĩ chốc lát, cuối cùng trả lại tờ giấy, nhưng giữ lại một tờ cho mình, rồi hỏi ông lão: "Có thể để tờ này lại cho tại hạ nghiên cứu một chút không?"
Ông lão vốn hơi do dự, định nói vật chứng không được phép mang ra ngoài, nhưng thấy ánh mắt âm trầm của Đỗ Lăng Xuân nhìn mình, ông lập tức đổi giọng: "Đại nhân cứ cầm lấy."
Dù sao cũng chỉ là một tờ giấy.
Công Tôn Trác Ngọc cười, chắp tay cảm tạ: "Đa tạ."
Những người bị giết trong vụ án giết người liên hoàn này chắc chắn phải có một điểm tương đồng nào đó, nên mới bị hung thủ chọn làm mục tiêu. Việc cấp bách hiện tại là tìm ra điểm chung giữa ba người này. Nhưng trước mắt, ngoài việc đều là quan lại, thì về đặc điểm ngoại hình lại chẳng có gì giống nhau.
Công Tôn Trác Ngọc cùng Đỗ Lăng Xuân rời khỏi hình bộ, nhưng không ngờ vừa bước ra khỏi cổng lớn, đã thấy một nam tử áo xanh cưỡi ngựa phi như bay tới, rồi bất ngờ ghìm cương lại trước mặt hai người họ.
Các cấm vệ mặc áo đen xung quanh lập tức đứng chắn trước Đỗ Lăng Xuân, rút kiếm ngăn cản:
"Láo xược, dám thúc ngựa xông vào!"
Nam tử áo xanh lại gan to tày trời, trực tiếp nhảy xuống ngựa, cười khẩy nói: "Đường lớn mọi người đều có quyền đi, chẳng lẽ đường phố kinh thành đều thuộc về kinh luật tư các ngươi, tay dài cũng nên biết chừng mực."
Dứt lời, hắn như chẳng hề thấy Đỗ Lăng Xuân, trực tiếp đẩy cấm vệ trước mặt mình ra, lạnh lùng nói: "Ta phụng chỉ điều tra án, kẻ nào cản trở, giết không tha."
Dứt lời, liền bước thẳng vào Hình Bộ.
Hộ vệ áo đen vốn chỉ để bảo vệ an toàn cho Đỗ Lăng Xuân, thấy vậy cũng không ngăn cản, lần lượt thu kiếm vào vỏ.
Công Tôn Trác Ngọc quay đầu nhìn, nghĩ bụng: Người này đã biết hộ vệ là người của Kinh Luật Tư, nhưng lại chẳng tỏ vẻ e dè, có lẽ là xuất thân giàu sang hoặc quyền quý. Vừa rồi còn nói phụng chỉ điều tra án, anh lờ mờ đoán ra thân phận đối phương, liền cất lời hỏi: "Người này là Đường Phi Sương?"
Đỗ Lăng Xuân thản nhiên cúi mắt, cười mà như không cười, đáp: "Chính là tên ngốc nhà họ Đường."
Hắn đã nhập kinh, vậy có lẽ ngày mai Hoàng thượng sẽ triệu kiến hắn và Công Tôn Trác Ngọc.
Đường Phi Sương là người cậy tài khinh người, ngang dọc trong kinh thành, chẳng qua cũng nhờ vào thế lực của ông nội hắn. Nhưng hắn lại không có chí làm quan, Đường các lão tuổi đã cao, e rằng chẳng còn mấy ngày vinh quang nữa.
Đường các lão mà mất, chính là ngày nhà họ Đường suy tàn. Đường Phi Sương lại phóng túng cuồng ngạo, trắng trợn đắc tội với Đỗ Lăng Xuân – một quyền thần như y, dùng hai chữ "tên ngốc" để chỉ hắn quả thực rất chuẩn xác.
Bên đường, hoa dại mọc đầy, cao đến tận đầu gối. Đỗ Lăng Xuân tiện tay ngắt một đóa, ẩn ý nói với Công Tôn Trác Ngọc: "Ngươi xem, hoa này hiện tại rực rỡ là thế, nhưng khi qua thời, chỉ còn là cát bụi, mặc người giẫm đạp."
Dứt lời, y vứt bông hoa đi, từ tốn lấy khăn lau đầu ngón tay, rồi lên xe ngựa. Công Tôn Trác Ngọc hiểu ý tứ trong lời nói của y, nghĩ bụng Đường Phi Sương mà là hoa ư? Rõ ràng là một ngọn cỏ đuôi chó.
Hai người ngồi xe trở về phủ. Công Tôn Trác Ngọc đang định về phòng nghiên cứu mục tiêu tiếp theo của hung thủ, ai ngờ vừa cùng Đỗ Lăng Xuân bước đến cửa thư phòng đã thấy Tống Khê Đường và Lãnh Vô Ngôn đứng đó, mặt mày tái mét, người run rẩy, trông vô cùng đáng thương.
Đỗ Lăng Xuân thấy vậy, không khỏi dừng bước:
"Nhị vị tiên sinh cớ sao đứng đây?"
Công Tôn Trác Ngọc đứng phía sau cũng gật đầu, tỏ vẻ nghi hoặc.
Lãnh Vô Ngôn nghe hỏi, xúc động muốn nói điều gì, nhưng vừa mở miệng đã ho sù sụ. Tống Khê Đường vội vàng giành lời, mặt mày u ám, giọng nói đầy lo lắng thưa với Đỗ Lăng Xuân: "Thưa Tư công, đại sự chẳng lành rồi!"
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, nhíu mày, tưởng rằng triều đình xảy ra biến cố: "Chuyện gì?"
Nào ngờ, Tống Khê Đường run rẩy lấy từ tay áo ra một tờ giấy: "Tư công, hôm nay ta cùng Lãnh tiên sinh đến trà lâu bàn việc với quan viên Lễ bộ, đang bàn dở thì không biết ai đã để tờ giấy này lên bàn. Trên đó viết một bài thơ..."
Nhắc đến chuyện này, lòng người lập tức hoang mang. Ai ở kinh thành mà không biết, mỗi khi tên hung thủ liên hoàn kia giết người, đều để lại một bài thơ kèm theo tên người chết. Mà người nhận được bài thơ, trong vòng ba ngày chắc chắn phải chết!
Công Tôn Trác Ngọc nghe xong không khỏi kinh hãi, nghĩ bụng: Không phải trùng hợp vậy chứ? Vừa rồi anh còn nghĩ kẻ xui xẻo tiếp theo là ai, không ngờ lại ứng nghiệm ngay, mà lại xảy ra trong Tư công phủ?!
Sắc mặt Đỗ Lăng Xuân hơi biến, lập tức rút lấy tờ giấy, chỉ thấy trên đó chép bài "Giá Cô Thiên – Nga Hồ Quy Bệnh Khởi Tác Kỳ" của Tân Khí Tật:
Chẩm tiệm khê đường lãnh dục thu, đoạn vân y thủy vãn lai thu.
Hồng liên tương ỷ hồn như túy, bạch điểu vô ngôn định tự sầu.
Thư đột đột, thả hưu hưu. Nhất khâu nhất hác dã phong lưu.
Bất tri cân lực suy đa thiểu, đã giác tân lai lãn thượng lâu.
[*] Dịch thơ by Kally:
Gối đệm nhà bên lạnh đón thu,
Mây tan bên nước ánh chiều thu.
Sen hồng nghiêng ngả như say ngủ,
Chim trắng lặng im ngẫm nỗi sầu.
Viết dăm ba chữ, thôi đừng chấp,
Một cõi thanh nhàn vốn phong lưu.
Không biết sức mình hao tổn mấy,
Chỉ thấy giờ đây ngại bước lầu.
Hóa ra bài thơ lại vừa khéo trùng khớp với tên của hai người bọn họ!
...Vậy thì vấn đề đặt ra là, hung thủ muốn giết ai trong số họ?
Đã là người thì không ai không sợ chết. Tống Khê Đường dĩ nhiên cũng sợ, nghĩ đến cái chết thảm khốc của ba người trước đó, hắn càng thêm hoảng loạn, cố gắng trấn an bản thân, đồng thời tìm người xác nhận: "Tư... Tư công... tại hạ cho rằng bài thơ này nhắm đến Lãnh tiên sinh, chúng ta phải sớm chuẩn bị thôi."
Lãnh Vô Ngôn vốn đã mắc bệnh, nghe vậy liền giận đến mức suýt thổ huyết. Hắn khàn giọng nhắc nhở: "Bài thơ này cũng có tên của ngươi đó, Tống tiên sinh!"
Tống Khê Đường lắp bắp giải thích, cố gắng tìm một tia hi vọng sống: "Chỉ... chỉ có tên, không có họ."
Công Tôn Trác Ngọc ngẫm nghĩ rồi nói: "Tân Khí Tật hình như là người thời Tống?"
Tống Khê Đường nghe vậy suýt bật khóc, thiếu chút nữa quỳ xuống trước anh: "Trác Ngọc huynh, xin ngươi cứu ta với!"
Công Tôn Trác Ngọc vội đỡ hắn dậy, muốn nói rằng bản thân bây giờ cũng không có manh mối gì. Nhưng bài thơ này đúng là phiền phức, chẳng lẽ cứ trơ mắt nhìn hai người bọn họ đi chịu chết?
Đỗ Lăng Xuân cũng không tỏ vẻ dễ chịu hơn.
Công Tôn Trác Ngọc cau mày, suy nghĩ một lúc, chần chừ nói: "Hung thủ võ nghệ cao cường, nếu muốn giữ mạng, hiện tại chỉ còn một cách có thể thử."
Tống Khê Đường nghe vậy liền túm lấy tay anh, ánh mắt đầy hi vọng: "Cách gì?"
Công Tôn Trác Ngọc: "Mau về nhà nhờ mẫu thân ngươi đổi tên cho ngươi đi, càng nhanh càng tốt."
Tống Khê Đường: "..."
Thời xưa, mọi người đặt tên thường văn vẻ, hay dẫn thơ trích điển, vì thế có cả đống tên trùng với thơ ca. Lần này thì rước họa vào thân rồi! Nếu trực tiếp đổi tên thành Tống Cẩu Đản hay Lãnh Thúy Hoa, anh không tin hung thủ còn tìm được bài thơ nào.
Tác giả có lời muốn nói: Tống Khê Đường: Ta rủa cả nhà ngươi.
Chương 189
Tống Khê Đường nghe vậy sững sờ, ý nghĩ đầu tiên lóe lên trong đầu là Công Tôn Trác Ngọc đang đùa cợt mình. Vừa thẹn vừa giận, hắn tức tối dậm chân: "Công Tôn đại nhân, giờ là lúc nào rồi mà ngươi còn đùa cợt tại hạ!"
Chẳng lẽ hôm nay hắn đổi tên, ngày mai lại phải gõ trống khua chiêng thông báo khắp phố phường sao?!
Công Tôn Trác Ngọc khẽ chạm mũi, cũng cảm thấy cách này hơi lố. Anh chỉ đơn giản nghĩ rằng hung thủ là kẻ theo chủ nghĩa hoàn hảo, thậm chí có chút ám ảnh cưỡng chế. Đổi tên có khi thật sự hữu hiệu.
"Ta muốn xem hắn dám đến đây không." Đỗ Lăng Xuân cười lạnh, siết chặt tờ giấy trong tay, ra lệnh cho Ngô Việt: "Điều toàn bộ Huyền Y Vệ nhất đẳng của Kinh Luật Tư đến đây canh giữ. Nếu hung thủ xuất hiện, có thể bắt thì bắt, không thì giết không tha!"
Trừ cỏ tận gốc, ấy là phong cách của y.
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy, liền đồng cảm nhìn Tống Khê Đường và Lãnh Vô Ngôn. Theo kịch bản phim truyền hình, thường thì dù có bao nhiêu vệ binh cũng vô ích, cuối cùng người vẫn sẽ bị gi.ết ch.ết bằng những cách kỳ lạ trong phòng.
#Công Tôn Trác Ngọc: Nhìn người chết bằng ánh mắt đồng cảm.jpg#
Tống Khê Đường bị Công Tôn Trác Ngọc nhìn chằm chằm đến mức mồ hôi lạnh chảy ròng, toàn thân nổi da gà: "Trác Ngọc huynh, tại sao lại nhìn ta như vậy?"
Lãnh Vô Ngôn khàn giọng hỏi: "Công Tôn đại nhân có phải cho rằng chúng ta không thoát được kiếp nạn này?"
Công Tôn Trác Ngọc nghĩ bụng câu này quá dễ chuốc oán: "Không phải, không phải. Tại hạ chỉ đang lo lắng thay hai vị mà thôi."
Nói xong, anh lén lút nhìn Đỗ Lăng Xuân, rồi từng chút, từng chút, rút tờ giấy nhăn nhúm từ tay y ra, đem so với tờ giấy lấy từ Hình Bộ. Quan sát hồi lâu, anh phát hiện chất giấy, đường cắt, nét chữ, độ mới cũ của mực đều giống nhau, rõ ràng được xé ra từ cùng một quyển sách.
Điều đó có nghĩa, bài thơ này đúng là của hung thủ gửi đến.
Công Tôn Trác Ngọc trầm ngâm, chợt như nhìn thấy manh mối nào đó. Nhưng khi còn chưa kịp nghĩ thông, đã nghe Đỗ Lăng Xuân nói: "Các ngươi ở đây chờ tin. Công Tôn Trác Ngọc theo ta vào cung, diện kiến Thánh thượng."
Công Tôn Trác Ngọc kinh hãi: "Cái gì?!"
Cả đời trước lẫn đời này cộng lại, anh e rằng chưa vào cung được mấy lần. Không ngờ lần này vào cung, lại trong tình cảnh như thế.
Xe ngựa của Tư công phủ lao như bay trong đêm, cuối cùng dừng trước Sùng Vũ Môn. Thống lĩnh Cấm quân trực ca tiến lên chặn xe: "Trên xe là ai?!"
Đỗ Lăng Xuân vén rèm, ánh mắt u ám: "Mau nhường đường."
Thống lĩnh Cấm quân thấy y, sững người, vội vàng hạ tay: "Hóa ra là Tư công."
Nói đoạn, hắn ra hiệu cho thuộc hạ nhường đường, đồng thời hạ giọng nói nhanh một câu: "Nghiêm tướng vừa dẫn Đường Phi Sương vào cung nửa canh giờ trước, đang cùng bệ hạ nghị sự tại Vô Cực Điện."
Nghe vậy, Đỗ Lăng Xuân thoáng suy tư, lạnh lùng buông rèm xuống, lòng thầm nhủ Nghiêm Phục thật gian xảo. Giờ này mang Đường Phi Sương vào cung, chẳng qua muốn chiếm thế thượng phong.
Y nghĩ đến đây, không khỏi liếc nhìn đối diện.
Công Tôn Trác Ngọc đang ngồi nghiên cứu hai tờ giấy, lật qua lật lại, dường như chìm đắm trong suy nghĩ, toàn bộ sự chú ý đều tập trung vào đó.
"Công Tôn Trác Ngọc." Đỗ Lăng Xuân đột ngột gọi.
"Hử?" Người kia lập tức ngẩng đầu, đôi mắt sáng rỡ: "Tư công có gì căn dặn?"
Đỗ Lăng Xuân vốn không có việc gì, chỉ đơn giản muốn gọi một tiếng. Y nghiêng đầu, dời ánh mắt đi:
"Không có gì."
Hoàng cung tường cao sừng sững, con đường lát đá kéo dài đến tận cùng, nhìn mãi không thấy điểm dừng. Hoàng hôn nhuốm đỏ một góc trời, chuyển thành sắc tím nhạt pha lẫn vàng kim, tựa máu đọng. Trên mái điện, các con thú trang trí đứng uy nghi, đầu ngẩng hướng Đông, dưới bầu trời chỉ còn là bóng đen cắt hình rõ rệt.
Bánh xe lăn chầm chậm trên đá xanh, cung nữ thái giám qua lại đều lặng lẽ tránh sang hai bên, chờ xe đi qua mới tiếp tục di chuyển.
Đỗ Lăng Xuân khép mắt, tay chống đầu, không biết nghĩ gì. Những ngày tháng thấp hèn nhất đời y trôi qua ở nơi đây, những ngày tháng hiển hách nhất cũng ở đây. Cùng với tỷ tỷ từng bước, từng bước trèo lên bậc thang trời ấy. Nhưng trong lòng vẫn không nói nên cảm giác vui sướng.
Họ đã đi rất cao, nhưng vẫn chưa đủ cao...
Đỗ Lăng Xuân chầm chậm mở mắt, bất giác phát hiện Công Tôn Trác Ngọc chẳng biết từ lúc nào đã ngồi xuống cạnh mình, tay cầm hai tờ giấy, ánh đèn chiếu vào tạo nên một quầng sáng mờ ảo, trông vô cùng chăm chú.
Đỗ Lăng Xuân bất giác ngồi thẳng lưng, ngón tay khẽ vuốt phẳng nếp áo, nghiêng mắt nhìn Công Tôn Trác Ngọc: "Ngươi ngồi sang đây làm gì?"
Công Tôn Trác Ngọc nghe vậy ngẩng đầu, khẽ cười với y, trong đôi mắt chứa chan tình ý, mang theo chút phong lưu vô tội: "Nơi này ánh sáng tốt hơn."
Nói xong, anh xếp hai tờ giấy lại, cất vào tay áo, không tiếp tục xem nữa.
Công Tôn Trác Ngọc thực ra có phần lo lắng, sợ Đỗ Lăng Xuân đuổi mình về chỗ đối diện ngồi, nhưng chờ một hồi lâu, thấy đối phương dường như không có ý này, anh mới hơi thả lỏng.
Một cơn gió chiều thổi qua, nhấc bổng rèm xe ngựa.
Công Tôn Trác Ngọc bất giác nhích người, nhưng phát hiện bản thân đã ngồi rất gần Đỗ Lăng Xuân, liền khựng lại. Vai họ chạm vai, chân chạm chân, chỉ cách một lớp áo mỏng manh, không thể ngăn cản hơi ấm từ cơ thể đối phương truyền đến.
Đỗ Lăng Xuân nắm chặt đầu ngón tay, thầm nghĩ Công Tôn Trác Ngọc thật là đồ vô lại, sao càng ngồi càng sát. Y cảm thấy bối rối, không để lộ dấu hiệu nào, khẽ nhích người ra ngoài, nhưng chưa bao lâu, đối phương lại nghiêng sát vào.
Đỗ Lăng Xuân trừng mắt nhìn anh: "Ngươi làm gì?"
Công Tôn Trác Ngọc nói năng lắp bắp: "Hạ quan... hạ quan lần đầu tiên diện thánh, có chút hồi hộp..."
Anh vừa nói vừa xòe bàn tay phải, các ngón tay thon dài, lòng bàn tay trắng nõn phơi ra trong không khí: "Tư công không tin thì sờ thử xem, mồ hôi lạnh đã túa ra rồi."
Đỗ Lăng Xuân nghĩ bụng có gì mà hồi hộp, nhưng thấy ánh mắt Công Tôn Trác Ngọc vô tội nhìn mình, không hiểu sao lại làm theo, nhẹ nhàng chạm vào lòng bàn tay anh. Cảm giác ẩm ướt, mát lạnh, quả thực có mồ hôi. Y định rút tay về thì Công Tôn Trác Ngọc đột nhiên nắm lấy, thấp giọng gọi:
"Tư công..."
Đỗ Lăng Xuân bị hành động của anh làm cho tim đập loạn nhịp: "Ngươi làm gì?"
Có vẻ như y chỉ biết nói mỗi câu này.
Công Tôn Trác Ngọc hơi mấp máy môi, định nói điều gì đó, nhưng chưa kịp mở miệng thì bên ngoài chợt vang lên tiếng bẩm báo: "Tư công, đã đến bên ngoài Thái Cực điện."
Nghe vậy, Đỗ Lăng Xuân miễn cưỡng trấn tĩnh lại: "Biết rồi."
Nói xong, y không thèm nhìn Công Tôn Trác Ngọc, hơi lúng túng rút tay ra, xuống xe trước. Công Tôn Trác Ngọc thấy vậy cũng chỉ đành đi theo.
Thái Cực điện lớn tựa quảng trường, bên ngoài vây quanh bằng tường đỏ, xe ngựa chỉ có thể dừng ở ngoài tường, đoạn đường còn lại phải tự mình đi bộ vào.
Trong điện đèn đuốc sáng trưng, hoàng đế ngồi sau ngự án, dáng vẻ không giận mà uy nghiêm. Dưới bậc thềm vàng đứng hai người. Một người tóc bạc râu trắng, mặc quan bào màu đỏ thẫm, rõ ràng là tể tướng đương triều Nghiêm Phục. Người còn lại khoảng chừng hai mươi tuổi, vận áo xanh, chính là Đường Phi Sương đã đột nhập Hình Bộ hôm nay.
Nghiêm Phục từ khi vào điện đã bẩm báo hoàng đế vài việc về tình hình xử lý nạn lũ lụt ở phương Nam, sau đó mới như vô tình nhắc đến vụ án giết người liên hoàn: "Hung thủ thực sự quá ngông cuồng, khiến triều đình bất an. May thay Đường công tử đã vào kinh, chắc không lâu nữa sẽ tra ra chân tướng."
Nhắc đến việc này, hoàng đế cũng nhíu mày, nhìn Đường Phi Sương với ánh mắt yêu mến dành cho người tài: "Đường Phi Sương, ngươi dù không có chức vị, nhưng trẫm đặc biệt cho phép ngươi điều tra vụ án này. Đừng để người ngoài xem thường."
Đường Phi Sương chắp tay nói: "Thưa bệ hạ, thảo dân hôm nay đã đến Hình Bộ xem qua thi thể, ba vị đại nhân đều chết dưới kiếm pháp nhanh như chớp. Hung thủ xem ra võ công không tầm thường. Tuy khó đối phó nhưng không phải không có manh mối. Giờ chỉ cần đợi hắn gửi bài thơ thứ tư, chúng ta có thể âm thầm mai phục, bắt hắn tại trận."
Quan viên triều đình liên tục bị sát hại, hoàng đế cảm nhận rõ sự thách thức của hung thủ, giọng nói trầm hẳn xuống: "Các ngươi nhất định phải bắt được kẻ này, nếu không, truyền ra ngoài, hoàng thất sẽ trở thành trò cười, quan viên Đại Yến cũng thành trò cười. Sau này làm sao có uy tín trong dân chúng mà trị quốc?"
Lời vừa dứt, tổng quản thái giám bỗng vội vàng chạy vào, cúi người nói nhỏ bên tai hoàng đế: "Thưa bệ hạ, Đỗ Tư công cầu kiến."
Hoàng đế rất tin tưởng Đỗ Lăng Xuân, huống hồ vì có quý phi Đỗ Thu Vãn, nên cũng yêu ai yêu cả đường đi. Ngài cười, ném tấu chương trong tay sang một bên: "Hắn thật biết chọn thời điểm, vừa khéo chạm mặt Nghiêm tướng."
Như thể không hề hay biết cuộc tranh đấu ngầm giữa hai phe Nghiêm-Đỗ.
Thái giám lại thì thầm: "Đỗ Tư công còn mang theo một người trẻ tuổi."
Hoàng đế suy nghĩ một chút, dường như biết là ai, phất tay nói: "Không sao, đó là người trẫm triệu đến hỗ trợ điều tra. Bảo họ vào đi."
Đường Phi Sương thoáng nhìn ra ngoài, hoàng đế bắt được động tác nhỏ này, bèn nói: "Người đó tên Công Tôn Trác Ngọc, tuy chỉ là một tri huyện, nhưng rất giỏi phá án. Theo trẫm thấy, tài năng không thua kém ngươi. Trẫm thật tò mò, hai người các ngươi ai sẽ phá án trước."
Đường Phi Sương quả thực có tài, mà người tài thường ít nhiều kiêu ngạo. Huống hồ từ nhỏ đã được tung hô, khó tránh tự phụ. Nghe vậy, hắn nở nụ cười như có như không: "Thảo dân cũng rất muốn thử sức với vị Công Tôn đại nhân này."
Thần thái lại tỏ ra hờ hững.
Bên ngoài, Công Tôn Trác Ngọc theo Đỗ Lăng Xuân vào điện, giữ đúng nguyên tắc "thêm một việc không bằng bớt một việc", ngoan ngoãn cúi đầu nhìn thảm gấm hoa văn dưới chân, không dám nhìn nhiều thứ xung quanh.
Đỗ Lăng Xuân bước đến bậc cửa, quay đầu liếc anh một cái: "Đi theo ta, không cần lo lắng."
Công Tôn Trác Ngọc ngẩn ra một chút, rồi mới phản ứng kịp rằng y đang nói với mình, thấp giọng đáp: "Có Tư công ở đây, dĩ nhiên không sợ."
Đỗ Lăng Xuân lúc này mới khẽ vung tay áo, bước vào đại điện. Y nhìn thấy Nghiêm Phục, lạnh lùng cười một tiếng, sau đó thu lại ánh mắt, chắp tay hành lễ trước hoàng đế: "Vi thần bái kiến bệ hạ."
Công Tôn Trác Ngọc làm theo: "Vi thần bái kiến bệ hạ."
Hoàng đế phất tay:b"Ái khanh miễn lễ. Đêm khuya cầu kiến, không biết có việc gì quan trọng?"
Đỗ Lăng Xuân thưa: "Hôm nay trong lúc các mưu sĩ phủ vi thần tụ họp tại trà lâu, vô tình nhận được bài thơ thứ tư do hung thủ gửi tới. E rằng hắn sắp ra tay lần nữa, vi thần không dám trì hoãn, đặc biệt đến bẩm báo bệ hạ."
Nói xong, y dâng tờ giấy thứ tư lên.
Mọi người nghe tin, ít nhiều đều tỏ ra kinh ngạc. Hoàng đế nhíu mày nhận lấy tờ giấy, sau đó truyền cho Nghiêm Phục và Đường Phi Sương xem, sắc mặt lạnh lùng nói: "Kẻ này sát ý không nhỏ."
Đã giết ba người, giờ đến người thứ tư, không biết hắn định giết bao nhiêu mới chịu dừng tay.
Đường Phi Sương cũng từ Hình Bộ mang theo một tờ giấy, y lấy ra từ trong áo, so sánh hai tờ với nhau, một lát sau mới nói: "Chất giấy giống nhau, nét chữ giống nhau, quả nhiên đều cùng một người viết."
Đỗ Lăng Xuân tâu với hoàng đế: "Vi thần đã điều người của Kinh Luật Tư nghiêm ngặt canh gác, tên hung thủ chỉ cần dám đến, nhất định sẽ khó lòng thoát thân."
Công Tôn Trác Ngọc thầm nghĩ: Tư công, chúng ta đừng nói chắc như vậy, đến lúc bị vả mặt thì khó coi lắm. Anh cuối cùng không nhịn được, ngẩng đầu nhìn lên, lại thấy hoàng đế đang ngồi trên ngai rồng, hứng thú nhìn mình.
Hoàng đế vốn có ấn tượng sâu sắc với Công Tôn Trác Ngọc, bỗng nhiên hỏi: "Công Tôn Trác Ngọc, ngươi còn nhớ trẫm chăng?"
Công Tôn Trác Ngọc: "..."
Đây chẳng phải là ông già lắm lời mình gặp lúc xử án nhà họ Dư sao?
Công Tôn Trác Ngọc không ngờ ông lão ấy lại là hoàng đế. Sau khi kinh ngạc, anh ngượng ngùng cười hai tiếng: "Có lẽ đã từng gặp qua một lần, trông bệ hạ rất thân thiện."
Hoàng đế nói: "Khi trẫm vi hành đến Giang Châu, từng chứng kiến ngươi xử án, rất là xuất sắc. Đối với vụ án này, ngươi có nhận xét gì chăng?"
Đỗ Lăng Xuân nhìn Công Tôn Trác Ngọc, khẽ gật đầu, cằm hơi nhếch, ra hiệu anh cứ mạnh dạn nói, đây là cơ hội tốt để thể hiện.
Công Tôn Trác Ngọc bước lên một bước, chắp tay bẩm: "Vi thần đã đến Hình Bộ xem qua thi thể, phát hiện trên cơ thể bọn họ đều có những vết kiếm dày đặc. Hình dạng và kích thước vết thương đồng nhất, chứng tỏ hung thủ võ công cao cường, sở trường dùng trường kiếm, và có mối hận thù sâu đậm với các nạn nhân..."
Hoàng đế nhíu mày: "Hận thù? Làm sao nhận ra?"
Công Tôn Trác Ngọc tâu: "Hung thủ võ công cao cường, vốn có thể gi.ết ch.ết bọn họ chỉ với một nhát kiếm, nhưng lại sử dụng các phương pháp như rạch mặt, chém ngang lưng, treo cổ để hành hạ đến chết. Nếu không phải vì thù hận, thì là kẻ sinh tính hung bạo."
Nghiêm Phục đứng bên liếc nhìn anh, khẽ gật đầu, trên mặt lộ vẻ tán thưởng. Rõ ràng ông không ngờ trong hàng môn hạ của Đỗ Lăng Xuân lại có người làm được việc.
Công Tôn Trác Ngọc nói tiếp: "Trước khi giết người, hung thủ nhất định gửi một bài thơ có tên của nạn nhân. Điều này cho thấy hắn làm việc rất có quy luật, và những người bị giết ắt hẳn phải có điểm chung nào đó để hắn nhắm đến. Chỉ là vi thần ngu muội, tạm thời chưa tìm ra điểm chung ấy."
Đường Phi Sương bất chợt mở miệng, giọng điệu như có ý chỉ trích: "Điều đó chẳng phải rất dễ thấy sao? Đổng Thiên Lý cùng ba người kia tai tiếng lẫy lừng, đều là kẻ chuyên ức hiếp bá tánh. Bị hung thủ nhắm đến cũng không có gì lạ. Còn về việc vì sao hai mưu sĩ của Đỗ Tư công lại nhận được bài thơ, thì e rằng phải hỏi chính họ."
Lời này hàm ý, Tống Khê Đường và Lãnh Vô Ngôn là hạng người cá mè một lứa, tay dính đầy tội ác, ngay cả Đỗ Lăng Xuân cũng bị kéo vào vũng bùn.
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, đôi mắt khẽ nheo lại, trong lòng đã dấy lên sát ý đối với Đường Phi Sương, nhưng chỉ cười nhạt: "Đường công tử nói vậy là có ý gì?"
Đường Phi Sương nhún vai: "Không có ý gì cả."
Công Tôn Trác Ngọc đứng bên, khẽ nhíu mày, cảm thấy mục tiêu của hung thủ không nên là hai vị mưu sĩ hành sự thận trọng kia. Nhưng tạm thời anh vẫn chưa nghĩ ra mấu chốt vấn đề.
Tác giả có lời muốn nói: Công Tôn Trác Ngọc: Lão già này miệng nhỏ, nói nhiều.
Hoàng đế:......
Chương 190
Đêm đã khuya, Hoàng đế không lưu họ lại lâu hơn. Sau khi hạ lệnh nghiêm tra hung thủ, ngài liền được cung nữ và thái giám vây quanh, quay về tẩm cung nghỉ ngơi.
Đỗ Lăng Xuân hai tay đút vào trong ống tay áo, lười nhác liếc nhìn Nghiêm Phục một cái. Thấy ông ta tóc bạc râu trắng, lưng còng già nua, sớm không còn là vị tể tướng từng hô một tiếng là trăm quan hưởng ứng năm nào, khóe môi y khẽ nhếch, không giấu được vẻ châm biếm: "Nghiêm tướng thân là thủ lĩnh trăm quan, xưa nay luôn coi trọng quy củ nhất. Đường Phi Sương vốn không phải thân quan, vốn không nên can dự vào chuyện triều chính. Ngài tiến cử hắn, chẳng lẽ không sợ phá vỡ quy củ sao?"
Khi Đỗ Lăng Xuân tiến cử Công Tôn Trác Ngọc tạm giữ chức Kinh Triệu Doãn trước đây, Nghiêm Phục một câu là "không đủ tư cách," một câu là "không hợp quy củ." Nay đến lượt ông ta, lại sẵn sàng phá lệ.
Nghiêm Phục đã già, phần lớn thời gian ông đã bắt đầu tránh đối đầu trực diện với Đỗ Lăng Xuân. Huống chi, ông lăn lộn chốn quan trường bao năm, tự nhiên không phải người hành động bồng bột, cũng chẳng tranh hơn thua đôi lời miệng lưỡi. Chỉ vuốt râu, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim mà nói: "Chuyện gấp thì phải dùng quyền biến, văn võ trong triều thật sự không tìm ra người thứ hai có thể phá án. Lão phu chỉ có thể làm vậy, Đỗ Tư công chắc hẳn hiểu được đạo lý này."
Nói xong liền hơi cúi đầu: "Trời đã khuya, lão phu xin cáo lui trước."
Đường Phi Sương vốn có ý muốn đến phủ Tư công xem tình hình, nhưng cao thủ của Kinh Luật Tư đã tập trung tại đó cả rồi. Võ công của hắn không thuộc hạng nhất, dù đến cũng không làm được gì. Huống chi nơi đó là địa bàn của Đỗ Lăng Xuân. Nghĩ rằng sáng mai dậy sớm xem tình hình, hắn liền quay người rời đi.
Gió trong hoàng cung luôn lạnh hơn bên ngoài, có lẽ vì điện các quá trống trải, hành lang quá dài, vĩnh viễn không ở đầy người, vĩnh viễn cũng chẳng đi đến điểm cuối.
Đỗ Lăng Xuân mặc mỏng manh, gió đêm thổi tung tà áo của y, khiến bóng lưng y càng thêm mảnh mai. Khi y bước đi chậm rãi, lại phảng phất vài phần lười nhác, ung dung.
Công Tôn Trác Ngọc đi theo phía sau, bước xuống bậc đá. Tà áo trắng của hắn bị gió thổi tung bay không ngừng. Hắn thấp giọng hỏi y: "Tư công có lạnh không?"
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, nhìn hắn bằng ánh mắt kỳ lạ, thầm nghĩ lạnh thì đã sao, nơi này là hoàng cung, Công Tôn Trác Ngọc chẳng lẽ dám ngay trước mặt mọi người mà sưởi tay cho y? Nhướn mày nhắc nhở: "Nơi này là hoàng cung."
"Ta biết," Công Tôn Trác Ngọc tiến lên một bước, nghiêng người chắn gió lạnh thổi đến cho y, rồi khẽ cười: "Nếu Tư công lạnh, ta sẽ chắn gió cho ngài."
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy khựng lại một chút, sau đó quay đầu né tránh ánh mắt hắn: "Tùy ngươi."
Tay giấu trong ống tay áo, đầu ngón tay khẽ v.uốt ve trong chốc lát, mang theo chút căng thẳng mơ hồ cùng mồ hôi không rõ ý tứ.
Họ chưa đi được mấy bước, liền thấy không xa có một cung nữ áo xanh đang chờ, trong tay mang theo một hộp thức ăn. Cung nữ đó thấy họ bước ra khỏi Vô Cực điện, lập tức chạy nhanh đến, hành lễ với Đỗ Lăng Xuân: "Nô tỳ tham kiến Tư công."
Nàng là cung nữ thân cận bên cạnh Quý phi.
Đỗ Lăng Xuân nhận ra nàng: "Quý phi có chuyện gì sao?"
Cung nữ lắc đầu: "Nương nương nghe nói Tư công nửa đêm cầu kiến bệ hạ, lo rằng ngài chưa dùng bữa tối, nên sai nô tỳ mang chút bánh nóng đến cho ngài."
Dù Đỗ Thu Vãn sủng ái ngập trời, nhưng dẫu sao cũng là hậu phi, bình thường khó gặp Đỗ Lăng Xuân. Nghe tin y vào cung, đôi khi sẽ sai người mang chút đồ đến.
Đỗ Lăng Xuân nghe vậy, đang định vươn tay nhận lấy, thì Công Tôn Trác Ngọc đã nhanh hơn một bước mà nhận lấy trước. Hắn còn khẽ mỉm cười với cung nữ: "Làm phiền cô nương, ta sẽ cầm thay Tư công."
Cung nữ chưa từng gặp qua anh, nhưng đoán rằng đã có thể ở bên cạnh Đỗ Lăng Xuân, nhất định là tâm phúc. Lại thấy Công Tôn Trác Ngọc tuấn tú nhã nhặn, nàng không dám nhìn lâu, vội vàng hành lễ rồi rút lui nhanh chóng.
Đỗ Lăng Xuân chỉ có thể rút tay về, khẽ vỗ vỗ ống tay áo, cười mà như không cười nói: "Không ngờ, Công Tôn đại nhân lại là người biết thương hoa tiếc ngọc."
Y mỗi lần gọi Công Tôn Trác Ngọc là "Công Tôn đại nhân" thì trong lòng nhất định đang châm chọc, mỉa mai.
Công Tôn Trác Ngọc sờ vào hộp thức ăn, vẫn còn ấm, nghe vậy vô thức đáp: "Rõ ràng là ta thương Tư công."
Chẳng phải là sợ Đỗ Lăng Xuân cầm lâu sẽ mỏi tay sao.
Anh vốn không có ý, chỉ thuận miệng nói một câu, nhưng nói xong lại ngẩn người, nhận ra liền lập tức ngẩng lên nhìn, chỉ thấy Đỗ Lăng Xuân cũng đang sững sờ nhìn anh.
Công Tôn Trác Ngọc mấp máy môi, luống cuống định giải thích: "Tư công, ta..."
"Ngươi cái gì mà ngươi," Đỗ Lăng Xuân phất tay áo xoay người, "còn không mau trở lại xe ngựa."
Đỗ Lăng Xuân đi phía trước, trong lòng thầm mắng Công Tôn Trác Ngọc đúng là khúc gỗ. Nghe câu nói ấy vốn dĩ y phải tức giận, nhưng giờ đây giận thì có giận, lại không thấy tức, trong lòng lại tràn lên một cảm xúc khó tả, vừa xao xuyến vừa hơi nóng ran.
Công Tôn Trác Ngọc xách hộp thức ăn theo sau, tự mắng mình miệng lưỡi vụng về. Lên xe ngựa, thấy Đỗ Lăng Xuân ngồi ở vị trí sâu nhất bên trong, anh thử thăm dò, từng chút từng chút dịch lại gần y:
"Tư công..."
Vai chạm vai, chân chạm chân.
Tay Đỗ Lăng Xuân trong ống tay áo khẽ động, nhưng không né tránh, chỉ xem như không thấy.
Công Tôn Trác Ngọc mở hộp thức ăn, thấy bên trong là một đĩa bánh gạo, không khỏi sững sờ. Anh nghĩ rằng điểm tâm mà Quý phi gửi đến ắt phải tinh xảo, đắt giá, không ngờ lại là loại bánh gạo rẻ tiền nhất, chỉ vài đồng là có thể mua được cả một tảng lớn.
Công Tôn Trác Ngọc đưa hộp thức ăn qua phía y:
"Tư công có muốn dùng chút không?"
Đỗ Lăng Xuân liếc mắt nhìn, lấy một miếng nhỏ từ trong hộp, cắn một miếng, ba hai lượt đã ăn xong.
Khi còn nhỏ, y và Đỗ Thu Vãn nghèo khó, thứ ngon nhất mà họ có thể ăn chính là bánh gạo. Sau này vào cung, tuy được thưởng thức mỹ vị cao lương, nhưng y vẫn chỉ thích duy nhất loại điểm tâm này.
Có lẽ Đỗ Lăng Xuân cũng là người hoài niệm những gì đã qua...
Công Tôn Trác Ngọc hỏi: "Tư công thích ăn bánh gạo sao?"
Đỗ Lăng Xuân hờ hững nhướng mắt: "Sao hả, thấy kỳ lạ lắm sao?"
Công Tôn Trác Ngọc lắc đầu mỉm cười: "Ta cứ nghĩ... Tư công sẽ thích ăn những món tinh xảo, cầu kỳ hơn."
Đỗ Lăng Xuân nhắm mắt lại, tựa vào vách xe nghỉ ngơi:b"Ngày xưa nghèo, không ăn được những món tinh tế, bánh gạo là thứ rẻ nhất."
Công Tôn Trác Ngọc lần đầu tiên nghe y nói những lời này, khựng lại một chút rồi đáp: "Ta nhớ rồi."
Đỗ Lăng Xuân mở mắt: "Nhớ cái gì?"
"Nhớ Tư công thích ăn bánh gạo," Công Tôn Trác Ngọc mím môi cười, "sau này ta sẽ mua cho Tư công."
Ngốc nghếch...
Trong lòng Đỗ Lăng Xuân bỗng nhiên xuất hiện hai chữ này. Y có vàng bạc đầy nhà, giàu có sánh ngang quốc khố, chẳng lẽ còn thiếu một miếng bánh gạo sao? Nhưng khi liếc nhìn ánh mắt tươi cười của Công Tôn Trác Ngọc, y lại chẳng nói gì, cảm giác xao xuyến kỳ lạ kia lại trào lên, khiến y bối rối không thôi.
Dưới ánh nến mờ trong xe ngựa, Công Tôn Trác Ngọc chăm chú ngắm nhìn đường nét mày mắt sắc sảo của Đỗ Lăng Xuân, cuối cùng phát hiện khóe môi y dường như còn dính lại chút vụn bánh gạo. Do dự một hồi, anh khẽ lên tiếng: "Tư công..."
Đỗ Lăng Xuân còn chưa kịp phản ứng, má y đã cảm nhận được một bàn tay ấm áp. Đồng tử y co lại, chỉ thấy Công Tôn Trác Ngọc cúi người lại gần, dùng đầu ngón tay nhẹ nhàng lau hai lần ở khóe môi y, giải thích: "Mặt Tư công dính chút đồ."
Đỗ Lăng Xuân đành ngồi yên, chờ anh làm sạch.
Công Tôn Trác Ngọc lúc đầu chỉ đơn thuần lau giúp y, nhưng khi thấy đôi môi đỏ thắm, mềm mại của y, anh không tự chủ được mà khẽ v.uốt ve thêm một lát. Ánh mắt anh dần hạ xuống, dừng lại ở một nốt ruồi son nơi cổ y.
"..."
Công Tôn Trác Ngọc bỗng thấy miệng khô lưỡi khát, không rõ vì dục niệm hay điều gì khác, chỉ biết rằng anh chưa từng có cảm giác này với bất kỳ ai. Dưới ánh nến lập lòe trong xe ngựa, anh từ từ nghiêng người lại gần Đỗ Lăng Xuân, giọng nói đột nhiên trở nên khàn khàn: "Tư công..."
Hơi thở của cả hai hòa quyện, mờ ám không rõ, chẳng thể phân biệt ngươi ta.
Đỗ Lăng Xuân siết chặt tấm đệm lông dưới thân, không biết anh định làm gì, ngoài căng thẳng vẫn là căng thẳng.
Ngay lúc này, xe ngựa bỗng nhiên lắc mạnh, khiến cả hai không đứng vững, Đỗ Lăng Xuân suýt nữa ngã ra ngoài. Công Tôn Trác Ngọc lập tức nắm lấy tay y: "Tư công cẩn thận!"
Bên ngoài truyền đến giọng nói lắp bắp đầy lo lắng của xa phu: "Tư công, vừa nãy ven đường có chỗ lún, tiểu nhân không nhìn thấy. Không làm ngài bị xóc chứ?"
Đỗ Lăng Xuân theo bản năng cau mày, định phát giận, nhưng nghĩ đến Công Tôn Trác Ngọc bên cạnh, không hiểu vì sao lại nhịn xuống. Lạnh lùng nói: "Đi đứng cẩn thận, mắt ngươi để làm cảnh à!"
Nhưng cũng may nhờ cú xóc này mà bầu không khí mờ ám, ngượng ngùng vừa rồi đã tan biến.
Công Tôn Trác Ngọc trấn an Đỗ Lăng Xuân: "Tư công đừng giận."
Anh chỉ nói một câu này, cũng không thay xa phu giải thích gì. Thấy Đỗ Lăng Xuân ngồi ổn định, anh mới chậm rãi buông tay. Lúc rảnh rỗi, anh chợt nhớ lại vụ án.
Nếu dựa theo lời Đường Phi Sương khi nãy, hung thủ giết người đều nhằm vào những quan lại tham ô, ức hiếp dân chúng. Nhưng Tống Khê Đường và Lãnh Vô Ngôn lại chẳng khớp với điều kiện này. Dù họ làm việc dưới trướng Đỗ Lăng Xuân, có tiếp xúc nhiều với quan lại, nhưng thân phận của họ chỉ là mưu sĩ, nhiều việc đều không thể công khai, lặng lẽ tiến hành trong bóng tối, danh tiếng bên ngoài cũng không đến mức tồi tệ.
Nhưng tờ giấy ấy, Công Tôn Trác Ngọc đã cẩn thận đối chiếu, quả thực do hung thủ gửi đến, không thể giả mạo.
Vậy rốt cuộc nguyên nhân là gì...
Theo lời Tống Khê Đường kể, hắn và Lãnh Vô Ngôn đi đến trà lâu bàn chuyện với quan viên Lễ bộ, lúc uống trà, trên bàn bỗng dưng xuất hiện một tờ giấy, ngay dưới đáy khay trà. Bọn họ vừa lấy lên xem, liền phát hiện trên đó ghi đúng tên của hai người, dọa đến mặt cắt không còn giọt máu, lập tức trở về phủ Tư công.
Dưới đáy khay trà...
Vậy thì hung thủ rất có khả năng giả làm tiểu nhị dâng trà, lặng lẽ đặt tờ giấy lên...
Mấy người bàn chuyện nhất định ngồi chung một bàn, lại có cả quan viên Lễ bộ...
Hả?
Viên chức của Bộ Lễ? !
Công Tôn Trác Ngọc không biết nghĩ tới điều gì, đột nhiên ngồi thẳng dậy, vẻ mặt có chút nghi hoặc. Đỗ Lăng Xuân thấy vậy cũng ngồi thẳng theo, nhíu mày hỏi: "Ngươi làm sao vậy?"
Công Tôn Trác Ngọc muốn nói ra suy đoán của mình, nhưng hiện tại lại không có chứng cứ gì, đành thấp giọng nói: "Về phủ rồi ta sẽ thưa chuyện với Tư công."
Phủ Tư công cách hoàng thành không xa, chẳng mấy chốc đã đến nơi. Bên ngoài phủ bị bao vây kín mít, ba vòng trong, ba vòng ngoài đều là cao thủ nhất đẳng của Kinh Luật Tư, ngay cả trên nóc nhà cũng ẩn náu những cung thủ.
Công Tôn Trác Ngọc lo sợ hung thủ xảo quyệt, đặc biệt để Thạch Thiên Thu ở lại trong phủ. Anh nhảy xuống xe ngựa, quay lại đỡ Đỗ Lăng Xuân xuống, hai người vừa đi vào phủ vừa nhỏ giọng trò chuyện.
Công Tôn Trác Ngọc hỏi: "Tư công có biết hôm đó Tống tiên sinh gặp những ai không?"
Đỗ Lăng Xuân đương nhiên không rõ: "Đại khái là một số người ở Lễ bộ, cụ thể là ai, ngươi phải hỏi bọn họ."
Công Tôn Trác Ngọc bước nhanh vào phủ, thấy xung quanh không có dấu vết đánh nhau, đoán rằng hung thủ vẫn chưa tới. Anh băng qua hành lang dài ngoằn ngoèo, thẳng tới phòng nơi Tống Khê Đường và Lãnh Vô Ngôn ở.
Bởi không rõ hung thủ muốn giết ai trong số họ, dứt khoát để cả hai ở chung một chỗ, dễ dàng tập trung bảo vệ hơn.
Công Tôn Trác Ngọc đẩy cửa vào, thấy cả hai đều chưa ngủ. Lãnh Vô Ngôn ngồi bên bàn uống trà, Tống Khê Đường thì cầm một con dao ngắn, ngồi trên mép giường, cả người run rẩy, hai mắt trợn trừng, rõ ràng đã sợ đến mức chim sợ cành cong.
Tác giả có lời muốn nói: Công Tôn Trác Ngọc: Ồ, hai người các ngươi vậy mà chưa chết à.
Tống Khê Đường & Lãnh Vô Ngôn: ...
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co