Truyen3h.Co

Lượm lặt lịch sử

Chế Bồng Nga

yuiparis



Chế Bồng Nga, ông là ai?

Có thời kỳ người Chiêm Thành là một nỗi đe dọa lớn cho người Việt. Đó là triều đại thứ 12 dưới quyền cai trị của một ông vua rất dũng lược trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ thứ 14. Ông vua đó người Trung Hoa gọi là Ngo-ta Ngo-cho (mà người Trung Hoa dịch âm thành A Đáp A Giả – ????) còn chúng ta gọi là Chế Bồng Nga. Chế Bồng Nga lên ngôi vào khoảng 1360 và ngay sau đó liên tiếp đem quân ra đánh Đại Việt trong suốt 30 năm liền, nhiều lần đại thắng cho đến khi ông ta bị giết vì một người đầy tớ làm phản.

Năm 1361, Chế Bồng Nga đem quân tiến đánh cửa biển Đà Lý (nay là Quảng Bình) khiến quan quân Đại Việt phải bỏ chạy. Quân Chiêm cướp phá và tàn sát dân chúng rồi quay trở ra biển. Vua Trần Dụ Tông lập tức ra lệnh cho phòng thủ. Đến năm sau, người Chăm lại sang quấy phá Hóa châu, đốt cháy nhiều nhà cửa. Vua Trần sai Đỗ Tử Bình đem binh chống giữ, củng cố và tái tổ chức các binh đội vùng Thuận Hóa.

Vài năm sau, nhân dịp nam thanh nữ tú vui chơi ngày xuân Ất Tị (1365) người Chăm đã phục kích sẵn ở các vùng đồi núi chung quanh bất ngờ xông ra bắt cóc thanh niên rồi chạy mất. Năm sau họ lại giở trò cũ nhưng tướng Phạm A Song đã dự bị nên phản công đánh đuổi được họ. Tháng giêng năm 1368, Trần Thế Hưng và Đỗ Tử Bình được lệnh đem quân đi bình Chiêm. Vừa lúc đó Chế Bồng Nga sai sứ sang cầu hòa xin trả lại đất đai đã lấn chiếm. Sứ giả bị đuổi về và Chế Bồng Nga đã chuẩn bị mai phục sẵn ở một nơi tên gọi là Chiêm Động (nay thuộc Thăng Bình), đánh tan quân nhà Trần, Trần Thế Hưng bị bắt còn Đỗ Tử Bình phải rút về.

Cũng năm đó, bên Trung Hoa Chu Nguyên Chương đánh đuổi được người Mông Cổ lập nên nhà Minh, xưng đế niên hiệu Hồng Võ, đặt thủ đô ở Nam Kinh. Chế Bồng Nga sai sứ là Hổ Đô Man (???) sang mừng đem voi, hổ và các sản vật tiến cống. Minh đế sai Ngô Dụng (??), Nhan Tông Lỗ (???), Dương Tải (??) đưa tiễn về nước, phong cho làm Chiêm Thành quốc vương, ban ấn tín, 1 quyển lịch Đại Thống và 50 tấm lụa thêu vàng (??). Trong sắc thư gửi Chiêm vương có viết:
Ngày mồng bốn tháng hai năm nay, Hổ Đô Man đem voi và hổ đến, tấm lòng thành của vương trẫm rất hoan hỉ. Thành thử Đô Man chưa đến nơi, trẫm đã sai sứ lên đường. Trẫm đang định sai sứ đến báo cho vương hay là Trung Quốc bị người Hồ chiếm cứ một trăm năm nay, di địch ở khắp mọi chốn làm hư hỏng cả luân thường. Vì thế trẫm phải phát binh đánh dẹp, mất hai mươi năm mới bình được di địch.
Nay trẫm làm chủ Trung Quốc, thiên hạ đều yên ổn, e rằng các nước phiên di chưa biết nên sai sứ đi báo cho các nước. Ngờ đâu sứ giả của quốc vương đã đến trước rồi, thành ý rất mực, trẫm quả là vui mừng. Nay ban cho một bản Đại Thống Lịch, kim ỷ, vải sa năm mươi tấm để vương biết đạo mà phụng mệnh trời, dân chúng Chiêm Thành an cư lạc nghiệp, vương cũng mãi mãi bảo tồn được lộc vị, phúc đến cháu con.
Mong thượng đế chứng giám cho, vương chớ bê trễ.27
Từ đó người Chăm hàng năm mang cống phẩm sang Trung Hoa được vua nhà Minh cho người sang tế sơn xuyên và giám khảo các kỳ thi.

Về phần Đại Việt, nhân loạn Dương Nhật Lễ, mẹ y chạy sang Chiêm Thành cầu cứu, báo cáo tình hình biên giới và sự suy yếu của nước Nam. Được dịp vào tháng 3 năm 1371 Chế Bồng Nga tập trung chiến thuyền tiến vào cửa Đại An tấn công Đại Việt. Theo sử thuật lại, ông ta đi thẳng vào kinh đô "như đi chơi mát"28, không nơi nào có quân chống giữ. Vua Nghệ Tông bỏ chạy khỏi kinh đô khiến quân Chiêm vào Thăng Long lấy hết vàng bạc châu báu, bắt cả đàn bà trẻ con rồi đốt sạch cung điện, sách vở.
Năm sau, vua Chiêm lại dâng biểu lên Minh đế kể tội Đại Việt trong đó có câu:
... Ngày nay người An Nam lại đem binh sang chiếm đất chúng tôi, cướp bóc nhân dân tôi. Vì thế thần xin Bệ Hạ giúp cho chúng tôi vũ khí, nhạc khí và nhạc sư để người An Nam thấy Chiêm Thành là phiên thuộc của Bệ Hạ mà không quấy nhiễu nữa.29

Tuy nhiên theo Việt sử, nhà Trần không hề động binh trong thời kỳ này và đây là một sự vu cáo của Chế Bồng Nga, chỉ cốt sao nhà Minh để yên cho người Chiêm Thành lộng hành. Chu Nguyên Chương sau đó đã "hạ chỉ" bắt hai nước không được gây can qua và đồng ý cho người Chăm được sang "du học" về âm nhạc tại Phúc Kiến.

Cũng vào thời đó, biển đông có rất nhiều hải khấu, Chế Bồng Nga đem binh thuyền ra đánh chìm và cướp về hai mươi thuyền chở 70,000 pounds gỗ quí 30đưa sang tiến cống nhà Minh khiến vua Hồng Võ rất hài lòng, ban thưởng hậu hĩ.

Người Chiêm lại tiếp tục quấy phá khiến vua Nghệ Tông phải truyền ngôi cho em là thái tử Kính, tức vua Duệ Tông. Trần Duệ Tông quyết đoán hơn anh nhất định đem binh trả thù. Chế Bồng Nga vội vàng viết thư kể tội nhà Trần với Minh đế khiến nhà Minh lại phải xuống chiếu yêu cầu hai bên bãi binh.

Đầu năm 1374, Trần Duệ Tông quyết định thân chinh đi đánh Chế Bồng Nga nên sai Lê Quí Ly luyện tập quân sĩ, đóng chiến thuyền và tích trữ lương thảo, sửa sang đường sá. Đến tháng giêng năm 1377, Duệ Tông thân tiên sĩ tốt đem 12 vạn quân tiến sang. Chế Bồng Nga hoảng sợ vội vàng sửa soạn hai 31 mâm vàng đem tiến cống nhưng Đỗ Tử Bình dấu đi rồi dâng sớ nói dối rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, xin vua cử binh sang đánh.

Quân ta tiến theo bờ biển vào cửa Nhật Lệ, đóng tại đó hơn một tháng tập luyện để chờ Lê Quí Ly đem lương thảo theo đường thủy. Ngày 23 tháng giêng, đại quân vào đến sông Shri Banoy, đóng lại đồn Ỷ Mang sát với chiến lũy (palisade) Chế Bồng Nga dựng lên để bảo vệ kinh đô Vijaya.
Một người Chăm trá hàng đến tâu với Duệ Tông là kinh đô hiện đang bỏ trống, vua Chiêm đã bỏ chạy và nếu đánh nhanh sẽ bắt được Chế Bồng Nga. Đại tướng Đỗ Lễ hết sức ngăn cản, xin cho người đi thám thính trước nhưng vua Duệ Tông không nghe còn mắng Đỗ Lễ nhát như đàn bà.
Ngày 24, nhà vua mặc nhung phục đen, cưỡi ngựa đen, theo sau là Ngự Câu Vương Húc, mặc đồ trắng cưỡi ngựa trắng dẫn binh tiến vào. Đột nhiên phục binh người Chăm đổ ra, vua Duệ Tông giật mình ngã ngựa chết ngay tại chỗ. Đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa và hành khiển Phạm Huyền Linh bị giết. Đỗ Tử Bình và Lê Quí Ly ở hậu quân bỏ chạy về. Ngự Câu Vương bị bắt.

Chế Bồng Nga đem quân đánh đuổi đến tận Thanh Nghệ, đánh tan quân nhà Trần rồi vào kinh đô cướp phá suốt một ngày. Đến khi ra khơi, chiến thuyền của Chiêm Thành bị bão đắm mất nhiều nhưng những đồ cướp được cũng đủ để tiến cống nhà Minh trong năm đó. Chế Bồng Nga lại gả con gái cho Ngự Câu Vương Húc rồi tháng 5 năm 1378 đưa y về Nghệ An phong làm trấn thủ. Đến tháng 6 Chế Bồng Nga lại đem binh vượt sông Đại Hoàng đánh tan quân của Đỗ Tử Bình, chiếm lấy kinh đô Thăng Long hạ nhục quân Nam bằng cách bắt quan kinh doãn là Lê Giốc phải sụp lạy32 nhưng Lê Giốc không chịu nên bị giết. Lần này quân Chiêm lại cướp bóc được rất nhiều. Vua Nghệ Tông chỉ còn nước đem các vàng bạc châu báu dấu trong núi Thiên Kiến và động Khả Lăng.

Năm 1380, Chế Bồng Nga lại đem quân ra đánh, tuyển binh ngay tại Tân Bình và Thuận Hóa, chiếm Nghệ An vào tháng 3, chiếm Thanh Hóa vào tháng tư. Vua Nghệ Tông (lúc này tuy nước ta đã có vua mới con vua Duệ Tông, tức Phế Đế Hiễn nhưng quyền hành vẫn nằm trong tay Nghệ Tông) sai Lê Quí Ly, Đỗ Tử Bình đem quân đón đánh quân Chiêm. Tuy lúc đầu có một số tướng lãnh hèn nhát bỏ chạy nhưng về sau quân nhà Trần quyết chí nên đánh bại được quân Chiêm khiến Chế Bồng Nga phải rút về.

Tuy Chế Bồng Nga bị thua nhưng ở thời kỳ này các châu Nghệ An, Thuận Hóa, Tân Bình vẫn thuộc về người Chăm, thành thử triều đình lâm vào cảnh túng quẫn phải đặt ra thuế thân, tuyển đến cả sư sãi và những dân sắc tộc để đủ người chống giặc. Từ đó triều đình lúc nào cũng nơm nớp đến nỗi các bài vị, thần tượng của các bậc tiên vương ở các lăng Quắc Hương, Thái Đường, Long Hưng, Kiến Xương cũng phải đem dấu đi sợ địch phá.

Mùa xuân năm 1382, Chế Bồng Nga lại đem quân vào Thanh Hóa. Phục binh của Nguyễn Đa Phương đổ ra đánh đốt được chiến thuyền của Chế Bồng Nga khiến quân Chiêm phải lên bộ chạy vào trong núi. Quân ta truy kích trong ba ngày đến tận Nghệ An, vô số quân Chiêm bị chết đói. Thừa thắng, vua Nghệ Tông sai Lê Quí Ly đem chiến thuyền đánh vào Chiêm Thành nhưng bị bão phải quay về.
Chế Bồng Nga cùng tùy tướng La Khải liền chuẩn bị một trận tấn công táo bạo. Trước đây quân Chiêm vẫn chỉ đánh vào kinh đô theo đường thủy, lần này – với sự chiếm giữ Thanh Hóa đến sát Ninh Bình – Chế Bồng Nga liền sai một đạo quân vượt đường rừng qua phía Lào đánh vòng xuống Quảng Oai, phía bắc kinh đô. Vua Nghệ Tông kinh hãi sai Lê Mật Ôn chống giữ. Lê Mật Ôn chia binh ra giữ các cửa Khổng Mục, Tam Kỳ nhưng bị tượng binh của quân Chiêm bất thần xông ra đánh tan nát, Mật Ôn bị giặc bắt. Thượng hoàng vội vàng sai Nguyễn Đa Phương bảo vệ kinh thành còn mình thì bỏ chạy ra Đông Ngàn (1383).

... Có người học trò tên Nguyễn Mộng Hoa thấy vậy tức lắm, liều mạng mặc nguyên áo mũ mà lội xuống nước, đưa tay giữ thuyền ngự, khẩn thiết xin thượng hoàng Nghệ Tông ở lại chỉ huy quan quân đánh giặc, chớ nên vội đi lánh nạn mà làm nản lòng người. Thượng Hoàng Nghệ Tông vẫn cho thuyền đi gấp, không đếm xỉa gì đến lời của Nguyễn Mộng Hoa.33

Chế Bồng Nga chiếm kinh đô ở đó tới tận đầu năm 1384 mới rút về. Vua nhà Minh năm nào cũng được Chiêm Thành tiến cống hậu hĩ nên chẳng buồn can thiệp. Đến năm 1386, vua Minh viết thư cho Nghệ Tông cho hay sắp đem quân bình định Chiêm Thành và ra lệnh cho Đại Việt sửa soạn 100 voi trận cùng các trạm lương thực suốt từ Vân Nam tới Nghệ An. Nhà Trần không lấy gì làm phấn khởi trước đề nghị này, lại sợ quân Minh có ý đồ xâm chiếm nước ta nên vội vàng thoái thác.34 Vả lại xưa nay vua Minh vẫn trọng đãi Chế Bồng Nga, ngay năm đó cũng đã cho sứ giả đưa con trai Chế Bồng Nga (sang tiến cống 54 con voi) về nước. Năm sau người Chăm lại đem sang Tàu 51 con voi, trầm hương (eaglewood) và sừng tê và được tiếp đãi rất trọng thể.

Thuỷ quân Chăm và Khmer giao chiến trên hồ Tonlé Sap Angkor, Splendors of the Khmer Civilization, 2002 tr. 236
Cuối năm 1386, vua Minh rất bực mình khi hay tin voi của Chân Lạp đem tiến cống đi ngang địa phận Chiêm Thành bị Chế Bồng Nga giữ lại ¼ nên gửi thư khiển trách nhưng thư chưa tới thì sứ bộ Chiêm Thành đã tới dâng lễ vật và lại được tiếp đón rất nồng hậu.

Về phần nước ta, tình hình càng ngày càng đen tối. Thấy Lê Quí Ly được thượng hoàng tin dùng, Đế Hiễn tâu vua xin trừ đi nhưng lại bị giáng xuống làm Minh Đức đại vương rồi bị thắt cổ chết, những người đồng mưu đều bị hại. Con út vua Nghệ Tông lên ngôi tức vua Thuận Tông, triều chính đổ nát, giặc giã nổi lên khắp nơi.

Năm 1389, quân Chiêm lại sang đánh nước ta. Vua sai Lê Quí Ly cầm quân chống giặc. Lê Quí Ly nghinh địch hơn 20 ngày, kéo hết thuyền lên bờ để đợi. Chế Bồng Nga đóng ở thượng nguồn sông Lương, giả vờ bỏ đi, Lê Quí Ly đem quân truy kích. Trước khi quân ta có thể lập phòng tuyến chống giữ thì đã bị quân Chiêm phục kích sẵn xông ra chém giết. Chế Bồng Nga thừa cơ phá đập nước, nước tràn xuống khiến quân nhà Trần mất rất nhiều thuyền bè. Lê Quí Ly thấy quân tan vỡ vội vàng bỏ chạy, giao quyền cho tì tướng Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương ở lại chống giặc. Thấy thế yếu, các tướng giả vờ bày trận rồi cũng phải chạy theo.

Chế Bồng Nga đuổi theo đến Hoàng giang, thượng hoàng sai đô tướng là Trần Khát Chân đem binh chống giữ. Vua tôi ôm nhau khóc mà từ biệt đủ biết khiếp sợ đến chừng nào. Trần Khát Chân đem quân đóng ở Hải Triều và Tiên Lữ. Đến tháng giêng năm 1390, Chế Bồng Nga đem hơn 100 chiến thuyền đến thị sát. Hoàng đệ là Trần Nguyên Diệu đem quân bản bộ ra hàng giặc hi vọng được người Chăm đưa lên làm vua. Cùng lúc đó, một nhà sư là Phạm Sư Ôn nổi lên đánh chiếm kinh đô, thượng hoàng và vua phải bỏ kinh đô mà chạy, cho triệu tướng Hoàng Thế Phương đang đóng ở Hoàng Giang ra cứu.

May làm sao, một tiểu tướng của Chế Bồng Nga bị tội sợ nên ra hàng, báo cho Trần Khắc Chân biết là thuyền ngự của vua Chiêm sơn màu xanh lục. Khi mấy trăm chiến thuyền của Chế Bồng Nga và Nguyên Diệu kéo tới, Khắc Chân cho tập trung súng bắn xối xả vào chiếc thuyền ngự, Chế Bồng Nga bị trúng đạn chết. Nguyên Diệu liền cắt đầu y chèo thuyền trở về bên quân Nam. Quân Chiêm thấy chủ tướng đã tử trận vội vàng chạy về Hoàng giang hợp với phó tướng của Chế Bồng Nga là La Khải.

Sử kể rằng khi đầu Chế Bồng Nga được phó tướng Phạm Như Lạt đem vào trình giữa canh ba, thượng hoàng hoảng hốt nhỏm dậy tưởng mình đã bị vây bắt. Đến khi nghe được tin thắng trận, thượng hoàng vui mừng dương dương ví mình như Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ.

Tới đời nhà Lê, lịch sử chép nhiều cuộc giao binh đẫm máu giữa Đại Việt và Chiêm Thành, không ít lần có màu sắc của những cuộc chiến tranh diệt chủng. Cuộc tàn sát qui mô nhất có lẽ là chiến thắng của vua Lê Thánh Tông năm 1471, có đến 60,000 người bị giết, 30,000 người bị bắt làm tù binh trong đó có cả vua Chiêm và nhiều người thuộc hoàng tộc.

Vua Lê Thánh Tông cũng ra lệnh tàn phá kinh thành Vijaya thành bình địa và phá huỷ toàn bộ những gì liên quan đến văn hoá Ấn-Chàm. Có thể nói nguyên khí của vương quốc Champa gần như hao kiệt, người Chăm nếu không bị giết hay bị bắt cũng bị đẩy lùi về cao nguyên giao lại vùng đồng bằng cho đối phương. Cuộc xâm thực văn hoá và chủng tộc đã vùi văn minh Chiêm Thành xuống để phủ lên trên một nền văn minh hoàn toàn khác biệt.

Po Dharma đã nhận định là xung đột này "ket thúc mot cuoc đau tranh dài hơn nam the kỷcủa van minh An Đo khang cư lai nen van minh của Viet toc mang màu sac Trung Hoa khi ho khong ngừng tien ve phương nam. Cuoc đau tranh đóđeu làđau tranh đe song còn của cảhai ben vàtừnhưng nam cuoi the kỷthứ10 người ta chưng kien người Cham phải lien tuc rút lui trước sức ép khong lo của người Viet. Nam 1471 chính là thời khac đanh dau sư chien thang rot ráo của mot nen van hoá có cội nguon là Trung Hoa tren mot xa hoi An hoá đa ngư trị tren bán đảo Đong Dương từ the kỷ thứ tư ".35

Nhiều nhà nghiên cứu cận đại lại không đồng ý đây là biến cố đánh dấu sự kết thúc của vương quốc Champa vì tới tận thế kỷ 19, triều đình Đại Việt vẫn còn công nhận cho người Chăm tự trị ở một vài nơi, có thể coi như một tiểu quốc – một khu vực bán độc lập có tổ chức hành chánh và tập quán riêng biệt – thần phục Đại Việt như nhiều sắc dân thiểu số khác ở cao nguyên miền Trung và thượng du miền Bắc36. Chính sách của nhà Nguyễn đã mô phỏng theo chủ trương "ky mi" (lỏng dây cương) và "cải tho qui nguyen" của nhà Thanh, dùng người bản xứ cai trị địa phương rồi dần dần đưa người vào thay thế.

Tới cuối thế kỷ thứ 17, trên sách vở và bản đồ của người Âu Châu vẽ vùng Đông Nam Á chúng ta vẫn thấy ghi một tiểu quốc dưới tên R. (Royaume) de Champa, Tsiompa, Chiam, Chiam-pa ... chứng tỏ rằng ở một qui mô nào đó, vương quốc Chăm vẫn hiện diện mặc dù theo chính sách tằm ăn dâu, người Việt đã di cư đến các tỉnh phía nam sống lẫn với dân địa phương, làm chủ một phần đất đai của họ dọc theo duyên hải.37

Nhận định của Danny Wong Tze Ken tương đối khách quan khi cho rằng "tuy người Cham van đe cap đen vương quoc của ho trong vung Pho Hai-Phan Rang-Phan Ri dưới cái ten Panduranga, thưc ra đay chỉ làmot khu vưc bị chiem đong. Quan he Viet – Cham sau nam 1697 dưới thời chúa Nguyen Phúc Chu dưa tren tương quan trung ương – địa phương; vai trò của giới cai trị người Cham nang phan van hoá và kinh te hơn là mot lanh tu chính trị".

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co