maimuct1992
CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN, BÀNH TRƯỚNG TRUNG-QUỐC
ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM CHÂU Á
Thực hiện chủ nghĩa bá quyền, bành trướng sinh ra từ một đất nước có diện tích rộng đứng vào loại các nước lớn nhất trên thế giới, nhưng lại có số dân đông nhất và chiếm trên một phần năm dân số thế giới, những người theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc ôm ấp- mộng thu phục toàn thể nhân dân thế giới dưới quyền của họ.
Nhưng mộng tưởng ấy mâu thuẫn sâu sắc với khả năng thật sự có hạn “đáng bực mình” của Trung-quốc.
Là một nước vốn bị trì trệ kéo dài hàng hai mươi thế kỷ trong chế độ phong kiến tập quyền hà khắc, Trung-quốc lại là nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến, đi sau các nước tư bản phát triển hàng mấy trăm năm.
Tham vọng chiếm địa vị độc tôn của người Trung-hoa đối với thế giới ngày nay đã và đang trở thành tấn bi kịch và thảm kịch đối với nhân dân Trung-quốc hàng nửa thế kỷ nay.
Những người mang nặng đầu óc dân tộc nước lớn dù sao cũng đã ý thức được rằng, để vượt lên ngang hàng với các nước có sức mạnh về kinh tế, quân sự hiện nay còn là một vấn đề khó khăn không thể bỗng nhiên thực hiện được. Nhưng vốn nhiễm sâu trong những tính toán bá quyền nước lớn, những lực lượng phản động của Trung-quốc vẫn tìm mọi mưu mô để vươn lên vị trí ấy. Những lực lượng phản động Trung-quốc vẫn xem việc làm bá chủ thế giới là mục tiêu cơ bản và lâu dài. Nhưng trước mắt chúng tính toán đối với những khu vực có hạn hơn trên thế giới để có thể đáp ứng được bước đi của chúng.
Ngày nay, trên thế giới, những biến động thực tế là sự phát triển đi lên của ba dòng thác cách mạng. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ đang ngày càng lún sâu trong mọi mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ đế quốc chủ nghĩa không thể khắc phục được. Nhưng theo tính toán của chủ nghĩa bá quyền Trung-quốc thì trở ngại lớn nhất trên đường phát triển của họ là Liên-xô và Mỹ, và Liên-xô lại là kẻ thù số 1. Theo họ, Liên-xô án ngữ trên đường phát triển của họ ở phương Bắc và Châu Âu, còn nước Mỹ “bạn đồng minh” của họ thì lại có nhiều ảnh hưởng ở Tây Âu và châu Mỹ. Theo họ tính toán, những khu vực có ảnh hưởng nhiều của họ là Đông Nam Châu Á, châu Phi và châu Mỹ la-tinh. Họ đã nêu ngọn cờ về thế giới thứ ba và tự xưng là người cắm cờ của thế giới thứ ba này tức là của Đông Nam châu Á, châu Á, châu Phi và châu Mỹ la-tinh. Nhưng thuận lợi trước hết theo họ là khu vực Đông Nam châu Á.
Năm 1965, người cầm đầu Nhà nước Trung-quốc đã tuyên bố: “Chúng ta nhất định phải thu hồi vùng Đông Nam châu Á bao gồm Nam Việt-nam, Thái-lan, Miến-điện, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po. Đông Nam châu Á là vùng rất nhiều khoáng sản, rất đáng bỏ công sức ra để thu hồi lại. Trong tương lai, vùng này sẽ rất có lợi cho sự phát triển công nghiệp của Trung-quốc. Như vậy, sẽ có thể bù lại hoàn toàn những tổn thất. Sau khi chúng ta nhận được vùng Đông Nam châu Á, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây”(1).
Tính toán mưu đồ thâm hiểm ấy là khuynh hướng chính trị của tập đoàn thống trị đã tiêm nhiễm sâu sắc chủ nghĩa dân tộc sô-vanh phản động trong quá trình phát triển lịch sử của xã hội Trung-quốc từ đầu thế kỷ này. Tính toán ấy theo bản chất của chủ nghĩa bá quyền nước lớn, không phải là việc tự nguyện rút lui từ “đại bá” để chuyển thành “tiểu bá” hoặc bá chủ khu vực, mà trên thực tế chỉ là tính toán thâm độc về những bước đi của họ.
Là một dân tộc nước lớn, vốn có một quá khứ hùng cường của những thời xa xưa, Trung-quốc lại chịu sự xâu xé của nhiều thế lực đế quốc chủ nghĩa. Sự tủi nhục ấy không được xem xét theo những khía cạnh của giai cấp công nhân và nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác-lê-nin mà lại bị sử dụng như yếu tố kích động tinh thần dân tộc trong suy tính của những người theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc.
Những thắng lợi cách mạng đã giành được trong lịch sử đấu tranh gian khổ của nhân dân Trung-quốc, đã bị xuyên tạc đi và do đó về khách quan lại càng tôn thêm sức cho những tính toán phản động ấy. Các thế lực dân tộc chủ nghĩa Trung-quốc ý thức rằng họ “thuộc về thế giới thứ ba” tức là thế lực của các nước đang phát triển, “thế lực đang lên” trong khi thế giới “đại loạn” và các “cường quốc” khác lại đang ruỗng nát. Lớp người cuồn cuộn đi lên trong các ngày mừng chiến thắng càng xây đắp cho họ lòng tin của một “cường quốc” đang thực sự đi lên ấy. Do đó, những tính toán nham hiểm của họ, thực tế là những tính toán của chủ nghĩa bá quyền nước lớn trong “niềm tin” “bá chủ toàn cầu” với những bước đi xem như “thiết thực”, “hợp lý” và “tất thắng” là: vốn là một cường quốc trung tâm của thế giới đã bị suy yếu đi, ngày nay thế tất yếu cũng phải là từ việc giành lấy quyền bá chủ đối với khu vực Đông Nam châu Á để tiến lên bá chủ toàn cầu.
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ CỦA ĐÔNG NAM CHÂU Á VÀ MƯU ĐỒ CỦA TẬP ĐOÀN PHẢN ĐỘNG TRONG GIỚI CẦM QUYỀN BẮC-KINH.
Đông Nam châu Á là khu vực bao gồm các nước Việt-nam, Lào, Cam-pu-chia, Miến-điện, Thái-lan, Ma-lai-xi-a, Xinh-ga-po, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a,Bơ-ru-nai, Đông Ti-mo.
Các nước thuộc khu vực Đông Nam châu Á phân bổ trên hợp điềm của Thái-bình-dương và Ấn-độ-dương và trên đường đi lại của các đại châu Mỹ, Á, Úc, Phi, Âu. Toàn khu vực có diện tích khoảng 3 triệu km2 nhưng lại có nhiều đảo và quần đảo. Nước có diện tích lớn nhất là In-đô-nê-xi-a với 1.904.354 km2 và lại là nước có tới 13.677 hòn đảo lớn nhỏ, Phi-líp-pin là nước thuộc loại trung bình ở khu vực này với diện tích là 299.700 km2 nhưng cũng có trên 7.000 hòn đảo. Nước nhỏ nhất là Xinh-ga-po chỉ có 581 km2. Bờ-ru-nai có 5800 km2, Đông Ti-mo có 2 vạn km2.
Dân số của các nước trong khu vực có khoảng 300 triệu người. Nước có số dân đông nhất là In-đô-nê-xi a trên 130 triệu người, sau đó là Việt-nam (50 triệu), Phi-líp-pin (43 triệu), Thái- lan (35 triệu), Miến-điện (31 triệu). Nước có số dân ít nhất là Bơ-ru-nai (13 vạn 6), Đông Ti-mo (65 vạn)… Đặc điểm về dân số của các nước khu vực này là có nhiều dân tộc ở xen lẫn với nhau. Lào chỉ có dân số 3 triệu người nhưng người thuộc dân tộc Lào lại có số lượng tới 15 triêu người ở Thái-lan (chiếm 35% dân số Thái-lan, trong khi người thuộc dân tộc Thái cũng chỉ có 35% – 40% trong dân số).
Đông Nam châu Á là khu vực có nguồn tài nguyên phong phú trong đó có nhiều nguyên liệu chiến lược như kim loại màu, cao su thiên nhiên, thiếc tung xteng, dầu mỏ… Ma-lai-xi-a là nước đứng đầu thế giới về việc xuất khẩu 4 loại hàng hóa: cao su thiên nhiên (1,6 triệu tấn/năm), thiếc (8 vạn tấn/năm), dầu cọ (1,2 triệu tấn/năm) và hồ tiêu (3 vạn tấn/năm). Nhưng, nói chung, hầu hết các nước thuộc khu vực Đông Nam châu Á còn ở trình độ công nghiệp chưa phát triển, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Thái-lan đã sản xuất lúa được 15 triệu tấn/năm và năm 1977 đã xuất được 2,7 triệu tấn. Miến-điện, có năm cũng đã xuất được 2 triệu tấn gạo.
Khu vực Đông Nam châu Á từ lâu là khu vực dễ dàng đầu tư khai thác và nhanh chóng thu nhiều lợi nhuận, cũng như là khu vực thị trường rộng lớn đối với chủ nghĩa tư bản thế giới. Các nước tư bản sớm phát triển như Bồ-đào-nha, Hà-lan đã đặt chân lên những miếng đất thuộc khu vực này từ thế kỷ thứ 14-15. Các nước trong khu vực luôn luôn là địa bàn tranh chấp và dễ dàng hất cẳng lẫn nhau giữa các thế lực tư bản chủ nghĩa thế giới. Ví dụ như Bồ-đào-nha đã chiếm Ma-lai-xi-a từ tháng 8-1509; đến năm 1641, Hà-lan hất cẳng Bồ-đào-nha để thay thế Bồ-đào-nha thống trị Ma-lai-xi-a trong 130 năm. Đến năm 1888, Anh lại chiếm Ma-lai-xi-a cho đến khi chiến tranh thế giới lần thứ hai, phát xít Nhật lại hất cẳng Anh để chiếm đóng Ma-lai-xi-a từ 1942 đến 1945.
Đế quốc Mỹ cũng đã đặc biệt chú trọng đến vùng này. Ru-đôn-phơ A. Pi-tơ-xôn, cựu giám đốc Ngân hàng Mỹ, và nguyên là cố vấn bặc biệt của Ních-xơn về các vấn đề kinh tế quốc tế nói: “Trên thực tế, Thái-bình-dương chính là sân trước của chúng ta. Nếu chúng ta đóng một vai trò có tác dụng thúc đẩy hơn trong sự phát triển buôn bán ở trên bờ Thái-bình-dương, thì chúng ta sẽ có những thị trường mới khổng lồ để tiêu thụ sản phẩm của chúng ta và những tiềm lực mới phi thường về lợi nhuận cho các hãng của chúng ta”. Ai-xen-hao đã nói rằng: “Việc mất Đông-dương kéo theo việc mất nguồn lợi thiếc tung-xteng của Ma-lai-xi-a, cũng như mất rất nhiều nguồn lợi khác của In-đô-nê-xi-a”. Vì vậy cần phải ngăn chặn một sự kiện rất tai hại cho Mỹ, cho nền an ninh, cho sức mạnh, cho khả năng… thực hiện nhu cầu (của Mỹ) đối với những nguồn lợi ở In-đô-nê-xi-a và Đông Nam châu Á.
Với những đặc điểm địa lý và kinh tế như thế Đông Nam châu Á trở thành khu vực hoạt động chính trị sôi nổi trong thế giới hiện đại. Đó vừa là khu vực tranh chấp giữa các lực lượng đế quốc chủ nghĩa, vừa là khu vực đấu tranh cách mạng gay gắt, trước hết là phong trào đấu tranh. chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, vừa là nơi tập trung những mâu thuẫn cơ bản của thời đại: mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa dân tộc và đế quốc, giữa vô sản và tư sản, giữa các nước đế quốc chủ nghĩa với nhau. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám của Việt-nam và sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên châu Á, Đông Nam châu Á ngày càng trở thành có vị trí đặc biệt quan trọng trong các trào lưu cách mạng của nhân dân thế giới và trên mọi hoạt động quốc tế của thế giới hiện đại.
Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với sự suy sụp của thế lực phát xít Đức, Ý, Nhật, và trực tiếp là sự thất bại của chủ nghĩa phát xít Nhật; với sự phát triển của các lực lượng của các dân tộc bị áp bức trong khu vực Đông Nam châu Á càng trở thành khu vực có nhiều biến động chính trị có lợi cho các phong trào cách mạng chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Thắng lợi của Việt-nam và của các nước Lào và Cam-pu-chia, trước hết là thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt-nam ở Điện-biên-phủ đã chọc thủng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu cho quá trình suy sụp của chủ nghĩa thực dân cũ. Thắng lợi ấy vừa cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc và trước hết là phong trào độc lập dân tộc của các nước Đông Nam châu Á vừa làm cho Đông Nam châu Á càng có những biến đổi mới trở thành khu vực quan trọng của thế giới, vừa là sự thể hiện của thế đi lên của ba dòng thác cách mạng, vừa là nơi de dọa đối với những tính toán chiến lược toàn cầu của các thế lực đế quốc chủ nghĩa, trước hết là chủ nghĩa đế quốc Mỹ.
Nhiều sự kiện diễn biến trên vũ đài quốc tế mấy chục năm nay đã chứng minh rõ ràng tập đoàn phản động theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc đã tự xem mình là người lãnh đạo của “thế giới thứ ba” tức là của các nước chậm phát triển thực hiện giải phóng dân tộc, đã chú trọng trước hết đối với khu vực Đông Nam châu Á. Đó là vì những lý do như sau:
Thứ nhất là khu vực Đông Nam châu Á có vị trí địa lý, kinh tế, chính trị quan trọng, vừa là khu vực gần gũi với Trung-quốc, vừa liền biên giới với Trung-quốc vừa trong tầm hoạt động thích hợp với Trung-quốc đặc biệt là có hai công cụ quan. trọng của thế lực phản động Trung-quốc là người Hoa và các tổ chức chính trị chịu ảnh hưởng của Trung-quốc.
Thứ hai là chính khu vực Đông Nam châu Á, đế quốc Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới và mọi chính sách chèn ép, đàn áp, xâm lược các dân tộc, đã chịu thất bại nghiêm trọng ở Việt-nam, Lào và Cam-pu-chia, tạo điều kiện và cơ hội tốt để Trung quốc có thể dễ dàng thay thế. Đế quốc Mỹ, từ lâu dòm ngó các nước Đông Nam châu Á, đã lợi dụng ưu thế của quân đồng minh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai và sự suy sụp của các thế lực phát xít, sự suy yếu của các nước đế quốc đã tìm mọi cách xen chân và thay thế các nước đế quốc ở khu vực này. Về mặt quân sự, đế quốc Mỹ đã phân bố lực lượng và tăng cường lực lượng quân đội và xây dựng các căn cứ quân sự ở khu vực Thái-bình-dương và đặc biệt là Đông Nam châu Á, lập ra khối ASEAN để khống chế và thôn tính các nước. Sau thất bại ở Việt-nam và Đông-dương, ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này giảm đi nhiều và đế quốc Mỹ đã phải rút quân đội khỏi nhiều khu vực ở Đông Nam châu Á.
Thứ Ba là, khu vực Đông Nam châu Á là khu vực phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc. Núp dưới danh hiệu giả mạo về lá cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc và chống chủ nghĩa đế quốc, các lực lượng phản động Trung-quốc hy vọng có thể dễ dàng tranh giành ảnh hưởng ở khu vực này. Núp dưới những nội dung mị dân và độc lập dân tộc, họ vừa gây được ảnh hưởng ở các nước trong khu vực, vừa đẩy lùi được ảnh hưởng của các nước đế quốc chủ nghĩa đã suy yếu, kể cả ảnh hưởng của đế quốc Mỹ trên thực tế đã và đang vấp phải những đòn thất bại.
Thứ tư là Đông Nam châu Á là nơi cung cấp chủ yếu cho Trung-quốc ngoại tệ tự do và các nguyên liệu quý (như cao su, quặng kim loại…). Báo chí đã viết về tình hình Bắc-kinh đã thực hiện được việc bù đắp sự thiếu hụt hàng năm của cán cân thương mại với các nước tư bản phát triển (như năm 1971 là 460 triệu) nhờ có ngoại tệ gửi từ Hồng-kông và Đông Nam châu Á. Theo báo chí Anh cho biết thì hàng năm Trung-quốc nhận được 700 triệu đô-la ngoại tệ qua ngân hàng Hồng-kông. Việc buôn bán có lời của Trung-quốc với Xing-ga-po năm 1971 là 146 triệu (130,5 triệu đô-la xuất khẩu và 15,5 triệu đô-la nhập khẩu). Việc buôn bán với Mã-lai-xi-a năm 1971 đã mang lại cho Trung-quốc 53 triệu đô-la. Theo báo chí Xing-ga-po, tổng khối lượng buôn bán của nước này với Trung-quốc đã lên tới 456,3 triệu đô-la năm 1972, nhưng số xuất sang Cộng hòa nhân dân Trung-hoa chỉ có 54,4 triệu đô-la.
Như vậy nếu Trung-quốc kiểm soát được khu vực này, tiềm lực kinh tế và quốc phòng của họ sẽ tăng lên nhiều và thực tế họ sẽ có vị trí chiến lược và kinh tế rất lớn.
Chính vì vậy, giới lãnh đạo của Trung-quốc ngày càng nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo của họ đối với các nước trong khu vực Đông Nam châu Á và ép các nước ấy theo đường lối của họ, đi vào quỹ đạo của họ.
Trong một cuộc phỏng vấn của báo Nam-tư (báo “Đối ngoại” ngày 28-8-1971), một trong những người lãnh đạo Trung-quốc đã khẳng định “hơn bất cứ ai hết, chúng ta có quyền nói tới các vấn đề châu Á. Chúng ta tất nhiên phải chịu trách nhiệm chính ở châu Á”. Và dĩ nhiên ở đây chủ yếu và trước hết là Đông Nam châu Á.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHỦ YẾU TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG TRUNG-QUỐC ĐỐI VỚI ĐÔNG NAM CHÂU Á.
1. Từ bá quyền ở Đông Nam châu Á đi đến bá quyền trên thế giới: con đường cũ và những tính toán mới.
Thực hiện chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn, tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh đã đi theo lô-gích chủ quan như sau: là một nước lớn, đông dân nhất, vốn có nền văn minh sớm, trước đây nhiều nước đã phải chịu thán phục, Trung-quốc là nước có vị trí trung tâm và bá quyền thế giới. Ngày nay Trung-quốc phải thực hiện chủ nghĩa bá quyền đối với toàn thế giới, giành lại vị trí bá quyền đối với toàn thế giới, thực hiện bá quyền ở Đông Nam châu Á để đi đến thực hiện bá quyền đối với toàn thế giới.
Thực tế diễn biến cụ thể mấy chục năm nay đã chứng minh rằng điểm bắt đầu và kết thúc trong những tính toán theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn của các thế lực phản động Trung-quốc có mối liên hệ nhân quả với nhau. Trên lời nói và hành động, các lực lượng phản động Trung-quốc luôn luôn tự xem là thế lực bá chủ đối với toàn thế giới. Họ liên minh với Mỹ và các lực lượng phản động thế giới chống lại Liên-xô và phong trào cách mạng thế giới, thâm nhập các lục địa không phải chỉ ở châu Á, châu Úc, châu Phi, châu Mỹ-la-tinh mà cả châu Mỹ, châu Âu (kể cả Tây Âu và Đông Âu). Nhưng cũng rất rõ ràng là họ đã và phải quan tâm trước hết và nhiều hơn hết đến khu vực Đông Nam châu Á.
Tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh mưu tính thực hiện chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn ở khu vực Đông Nam châu Á theo những tính toán cơ bản là:
- Thôn tính, thu phục các nước ở Đông Nam châu Á để đi đến thực hiện chủ nghĩa bá quyền đối với toàn thế giới.
- Xây dựng liên minh với các nước đế quốc, trước hết là Mỹ và Nhật, thực hiện phân chia khu vực ảnh hưởng, nhằm chĩa mũi nhọn tấn công vào Liên-xô, chống phá chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng ở các nước trong khu vực.
- Trước hết phải nhằm vào Việt-nam, phá hoại khối đoàn kết thống nhất của ba nước Việt-nam, Lào, Cam-pu-chia để thôn tính ba nước Đông-dương.
Do bị tiêm nhiễm sâu sắc chủ nghĩa dân tộc nước lớn, những bước tiến của cách mạng các nước, trước hết là ở các nước Đông Nam châu Á không làm họ giật mình tỉnh ngộ, trái lại càng kích thích chủ nghĩa dân tộc nước lớn của họ.
Tập đoàn lãnh đạo phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh từ lâu đã xem vùng Đông Nam châu Á như “những lãnh thổ của Trung-quốc đã bị mất” và nỗ lực hoạt động để thiết lập bá quyền của mình đối với các nước trong khu vực. Năm 1939, người lãnh đạo Trung-quốc đã điểm lại tất cả “lãnh thổ đã bị mất” như sau: “Nhật đã chiếm Triều-tiên, Đài-loan, Kiu-xiu, Lữ-thuận. Anh đã chiếm Miến-điện, Nê-pan, Hồng-kông. Pháp chiếm Việt-nam, Quảng-châu-loan và ngay cả một nước nhỏ như Bồ-đào-nha cũng chiếm Ma-cao của chúng ta”(1). Năm 1954, cuốn “Lịch sử tóm tắt nước Trung-hoa hiện đại” đã được xuất bản với một bản đồ các “lãnh thổ Trung-quốc bị các đế quốc xâm chiếm từ 1840 đến 1919”. Bản đồ này đã xem các vùng đất sau đây là một phần lãnh thổ của Trung-quốc: Miến-điện, Việt-nam, Triều-tiên, Thái-lan, Mai-lai-xi-a, Nê-pan, Bu-tan, Xi-kin, các đảo An-đa-ma, quần đảo Sen-len. Bởi vậy, mỗi bước tiến của các dân tộc này trên con đường thực hiện độc lập tự do của dân tộc lại càng kích động tâm lý dân tộc nước lớn của chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc. Họ xem như những mất mát và vấn đề đặt ra đối với họ là phải nhanh chóng giành giật lại, không để nó mất đi, giữ lấy vị trí bá chủ của họ ở ngay đây và trên toàn thế giới.
2. Những tính toán của Trung-quốc và thực chất của liên minh Mỹ-Nhật-Trung-quốc.
Đông Nam châu Á là khu vực các nước tư bản chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa giành giật, phân chia quyền lợi và vùng ảnh hưởng. Và cũng ở khu vực này, chủ nghĩa thực dân đã bị những đòn tiến công quyết liệt của các lực lượng cách mạng trong phong trào giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội, đặc biệt sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với sự phát triển của phong trào cách mạng ở các nước trong khu vực, trước hết là thắng lợi của Việt-nam và các nước Lào, Cam-pu-chia, sự phát triển lịch sử của khu vực này đã đẩy lùi từng bước chủ nghĩa thực dân cũ và mới.
Chủ nghĩa thực dân Pháp đã phải ra đi với thất bại lớn trong chiến dịch Điện-biên-phủ. Chủ nghĩa thực dân Anh cũng phải từng bước rời bỏ các đất đai thuộc địa cũ của mình: Ấn Độ vào năm 1947, rồi đến Miến-điện và sau đó là Ma-lai-xi-a và Xing-ga-po.
Sau một thời gian hăm hở lợi dụng sự suy yếu của các thế lực đế quốc chủ nghĩa ở khu vực này, vị trí của các nước đồng minh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ đã thâm nhập ngày càng sâu vào các nước, hy vọng thay thế Anh, Pháp và các thế lực thực dân khác. Nhưng cũng trước thắng lợi của phong trào cách mạng của các nước Đông Nam châu Á, nhất là cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân Việt-nam, cuối cùng nay cũng đến lượt Mỹ phải rút bộ phận lớn các lực lượng quân sự Mỹ ra khỏi nhiều nước ở Đông Nam châu Á. Sau thất bại của việc ồ ạt đưa quân đổ bộ vào miền Nam Việt-nam và tiến công tàn bạo bằng không quân đối với miền Bắc Việt-nam, năm 1968 Mỹ phải chấp nhận đàm phám với Việt-nam và năm 1969 người Mỹ đã phải thông báo cho các đồng minh của mình tại hội nghị của khối SEATO họp ở Băng-cốc hiểu rằng những sự cam kết của Mỹ ở châu Á là có giới hạn sau khi giải quyết xong cuộc xung đột ở Việt-nam.
Sự thật là như thế nào?
Chủ nghĩa đế quốc phải gắn liền với thuộc địa, đó là lẽ tồn tại tất yếu của chúng. Nhưng chủ nghĩa đế quốc lại là chủ nghĩa tư bản thối nát và giãy chết, là đêm trước của cách mạng vô sản. Luận điểm nổi tiếng đó của Lê-nin có sức sống mãnh lịêt trong đời sống hiện thực.
Chủ nghĩa đế quốc Mỹ ra đời sau nhưng lại là thế lực mạnh nhất trong các nước đế quốc chủ nghĩa. Không có mặt trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất nhưng lại làm giàu trong và sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đi vào chiến tranh thế giới lần thứ hai và cũng đã lợi dụng được thời cơ ấy để làm giàu. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai chủ nghĩa đế quốc Mỹ trở thành cường quốc đế quốc chủ nghĩa hùng mạnh nhất, là tên sen đầm quốc tế của chủ nghĩa đế quốc với mọi tính toán đen tối và hành động tàn bạo của nó.
Vì bản chất giai cấp và thực tế tồn tại của chủ nghĩa đế quốc, Mỹ luôn luôn xem xét Liên-xô và các nước xã hội chủ nghĩa là đối tượng tấn công, là kẻ thù số một.
Từ những năm 40 chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã thực hiện chiến lược “răn đe” đối với toàn thế giới. Song trước sự lớn mạnh của Liên-xô và ba dòng thác cách mạng trên thế giới, mất độc quyền về vũ khí hạt nhân, bản thân bị suy yếu đi trong sự suy yếu chung của chủ nghĩa đế quốc trong cuộc tổng khủng hoảng và khủng hoảng kinh tế chu kỳ của hệ thống thế giới của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là trong thất bại ở Việt-nam, đế quốc Mỹ đã phải thay đổi chiến lược của mình. Chiến lược thay đổi được đưa ra trong những năm 1960 được gọi là “chiến lược hai chiến tranh rưỡi” duy trì lực lượng của Mỹ cùng với khối Na-tô chuẩn bị cho cuộc chiến tranh lớn ở châu Âu và cuộc chiến tranh lớn ở Đông Nam châu Á hoặc Triều-tiên, và đối phó với mọi bất trắc nào đó.
Một chiến lược sửa đổi khác được Mỹ thông qua năm 1969 và Ních-xơn trình bày trong báo cáo về chính sách đối noại năm 1970 khi đã gần bắt tay được với Trung-quốc được coi là “chiến lược chiến tranh một rưỡi”, duy trì lực lượng Mỹ và đồng minh chống lại Liên-xô và đề phòng bất trắc nhỏ ở nơi nào đó.
Sự phân bố lực lượng quân sự của Mỹ được thực hiện như sau (theo đơn vị nghìn người):
1963
1973
1-1976
Ở châu Âu
380
300
303
Ở châu Á
222
198
137
Nhật
91
57
48
Triều-tiên
57
42
41
Riêng Đông Nam châu Á
74
99
46
Phi-líp-pin
14
16
14
Đài-loan
4
9
2
Nam Việt-nam
14
-
-
Thái-lan
4
42
11
Trên biển
38
32
21
Những con số trên cho chúng ta một ý niệm về ý đồ chiến lược của Mỹ đối với toàn thế giới và Đông Nam châu Á và sự phụ thuộc của chiến lược của Mỹ ở Đông Nam châu Á trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Bị thất bại, Mỹ đã phải thay đổi chiến lược, tìm kiếm một chiến lược khác thích hợp với chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đối với châu Á và Đông Nam châu Á, sau khi thất bại ở Việt-nam, Mỹ đã phải rút ra kết luận cần thiết của đế quốc Mỹ xây dựng kế hoạch khôi phục và tăng cường vị trí của chúng ở Đông Nam châu Á và châu Á theo những tính toán mới không kém phần nham hiểm. Cái gọi là “Học thuyết Thái-bình-dương” được tổng thống Pho của Mỹ đưa ra ngay từ năm 1975, sau khi thất bại ở Việt-nam để thay cho “học thuyết Gu-am” bị thất bại trước đây, phản ánh mưu đồ của Mỹ muốn bảo tồn “sự quan tâm tích cực ở châu Á và sự có mặt tại khu vực châu Á – Thái-bình-dương”, mở rộng vị trí của Mỹ ở Đông Nam châu Á.
Mỹ vẫn duy trì thực lực của chúng ở châu Á với số quân trên 10 vạn người và riêng ở Đông Nam châu Á khoảng 5 vạn. Trên vùng nước của Thái-bình-dương thường xuyên có 2 hạm đội của Mỹ hoạt dộng: ở các khu vực phía Đông và trung tâm Thái-bình-dương có hạm đội 3 hoạt động, ở khu vực phía Tây có hạm đội 7, tổng cộng ở khu vực này, có trên 280 chiến hạm, trong đó có 7 tàu sân bay, 2.100 máy bay chiến đấu. Tính đến kinh nghiệm cay đắng khi can thiệp vào Việt-nam và các nước Đông-dương, việc thành lập hệ thống liên minh với các lực lượng phản động ở các nước, “mượn tay người khác” để duy trì sự thống trị đế quốc chủ nghĩa của Mỹ.
Nhật-bản là chỗ dựa chính của Mỹ để thực hiện chính sách đế quốc chủ nghĩa ở châu Á và Đông Nam châu Á. Điểm hai của học thuyết Thái-bình-dương viết: “Một trong những chỗ dựa của chúng ta là sự hợp tác với Nhật-bản”. Ven-xơ, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Mỹ đã phát biểu tại Hội châu Á ở Nữu-ước năm 1977: “Trong số đồng minh và bạn hữu cố tri nhất của chúng ta, không ai có ý nghĩa quan trọng hơn được Nhật. Hiệp ước của chúng ta về an ninh chung là lưỡi mác hòa bình ở Đông Á”.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai được Mỹ giúp đỡ, Nhật đã nhanh chóng khôi phục lại vị trí kinh tế và ngày nay cũng đã trở thành một trong những cường quốc tư bản chủ nghĩa, là thế lực cùng với Tây Đức cạnh tranh với Mỹ. Sa-bu-rơ O-ki-ta, nhà kinh tế học của Nhật cũng đã viết: “Mặc dù Nhật nằm ở châu Á và cũng có những liên hệ lịch sử và tình cảm sâu sắc với các nước khác ở châu Á, nhưng Nhật sẽ phải hành động với tư cách là một quốc gia toàn cầu hơn là một quốc gia châu Á bị giới hạn trong phạm vi chật hẹp”.
Tuy nhiên trong thực tế, Nhật cũng đã không tránh được sự tập trung rõ ràng vào Đông Nam châu Á. Tỷ lệ vốn đầu tư của Nhật ra nước ngoài được phân bổ như sau: ở châu Phi 6%, Trung Đông 7,8%, châu Mỹ la-tinh là 6,6%. Trung Đông 7,8%, châu Mỹ la-tinh là 6,6%, trong khi đó ở châu Á là 23%, gần bằng số vốn đầu tư của Nhật sang Mỹ. Vốn đầu tư tư nhân vào châu Mỹ la-tinh đứng vào hàng thứ 2 và thấp hơn 1,5 tỷ đô-la so với vùng Đông Nam châu Á. Về mặt mậu dịch. Đông Nam châu Á là bạn hàng lớn thứ hai của Nhật sau Mỹ. Các nước thuộc tổ chức ASEAN luôn luôn chiếm 15 – 12% tổng số khối lượng mậu dịch của Nhật. Tổng số giá trị mậu dịch của Nhật với khối ASEAN năm 1976 là 14 tỷ đô-la, và với toàn bộ châu Mỹ la-tinh là 7,4 tỷ đô-la. Một chuyên gia kinh tế làm vịêc ở Bộ tài chính Mỹ đã nhận xét hồi tháng 5 năm 1974 về việc cạnh tranh đầu tư giữa Nhật và Mỹ trong khu vực khối ASEAN như sau: “Tại bất kỳ nước nào, khoảng cách giữa sự đầu tư vốn của Mỹ và Nhật đều đã thu hẹp lại, nếu không phải là đã đảo ngược vị trí”. Thực tế là số vốn đầu tư của Nhật vào vùng này đã tăng với tỷ lệ rất nhanh. Trong khoảng thời gian 1970 – 1976, vốn đầu tư của Mỹ vào Xinh-ga-po tăng 3 lần, nhưng của Nhật lại tăng tới gần 8 lần. Chỉ riêng ở In-đo-nê-xi-a, vốn đầu tư của Nhật đã hơn 2 tỷ đô-la. Theo Ủy ban đầu tư của In-đô-nê-xi-a, trong khoảng 5 tháng của năm 1976, vốn đầu tư của Nhật đã tăng thêm 50 triệu đô-la trong khi cũng trong thời gian đó số vốn của Mỹ chỉ tăng thêm có 11 triệu đô-la.
Mỹ xây dựng liên minh với Nhật, sử dụng Nhật để khống chế khu vực châu Á và Đông Nam châu Á theo chiến lược toàn cầu của Mỹ. Nhưng do bản chất cố hữu của chủ nghĩa tư bản và đế quốc, trong khi dựa vào Mỹ, Nhật vẫn có những tính toán riêng của Nhật, cạnh tranh với Mỹ và mâu thuẫn với Mỹ.
Mỹ là bạn hàng số một của Nhật, dùng tấm ô hạt nhân che chở cho Nhật. Năm 1972, Mỹ đã trả lại chủ quyền trên đảo O-ki-na-oa cho Nhật, xong vấn đề 2,5 vạn lĩnh Mỹ trên quần đảo Nhật-bản và Oa-ki-na-oa. Song sự cạnh tranh của Nhật đã làm cho Mỹ lo lắng. Cho tới năm 1975, cán cân thương mại giữa hai bên vẫn ở mức thăng bằng, nhưng từ sau đó rõ ràng cán cân đó nghiêng về phía có lợi cho Nhật, và Mỹ đã phải gây áp lực đối với nền kinh tế Nhật để đưa họ đến chỗ tự hạn chế việc bán thép, bán vô tuyến truyền hình và hàng điện tử. Về mặt quốc phòng, Nhật bản phải dựa vào ô hạt nhân của Mỹ song họ lại chính thức phản đối việc tàng trữ vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ Nhật. Đối với Nhật, nhà máy tái sinh hạt nhân ở Tô-kôn-mu-ra là một phương tiện để làm giảm bớt sự phụ thuộc của họ về mặt năng lượng, song đối với Mỹ thì điều đó có nguy cơ dẫn tới việc ứng dụng nguyên tử vào mục đích quân sự.
Vốn là một nước 100 triệu người với một thời kỳ phát triển lịch sử hùng mạnh thời Minh-Trị-Thiên-Hoàng, chủ nghĩa phát xít đã hình thành ở đây, đã thực hiện “chủ nghĩa châu Á của người châu Á”. Sau chiến trạnh thế giới thứ hai, Nhật đi vào con đường khôi phục kinh tế, phát triển mạnh về kinh tế, nhưng thế lực của Nhật cũng ngày càng tăng lên và trở thành nhân tố đe doạ đối với hòa bình ở khu vực châu Á và Đông Nam Á. Về lực lượng quốc phòng, hiện nay Nhật đang còn giữ ở mức tự vệ, phòng thủ. Chi tiêu quốc phòng năm 1975 là 4.484 tỷ đô-la, chiếm 0,84% tổng sản phẩm xã hội.
Mỹ xây dựng liên minh Mỹ-Nhật để khống chế các nước châu Á và Đông Nam Á theo công thức vũ khí Mỹ cộng với kinh tế của Nhật. Song cũng trong liên minh ấy, Nhật ngày càng trở thành lực lượng nguy hiểm với nền an ninh của các nước châu Á và Đông Nam châu Á, đồng thời mâu thuẫn giữa Mỹ-Nhật cũng tăng lên trong quá trình ấy, và Nhật trên thực tế vẫn là một lực lượng có những tính toán độc lập của nó.
Đối với các nước thuộc khu vực Đông Nam châu Á, Nhật là người bạn hàng số một, người đầu tư số một, người cung cấp viện trợ nhiều nhất. Năm 1977, họ đã viện trợ 113 triệu đô-la cho In-đo-nê-xi-a (gấp hơn 2 lần viện trợ của Mỹ cho nước này). Trước tình hình thiếu ngân sách mà trước tiên là phải xin viên trợ các nước ngoài được nêu lên tại hội nghị các nguyên thủ khối ASEAN tổ chức tại Cu-a-la Lăm-pơ từ đầu tháng 8-1977, Nhật đã công nhận ASEAN là một thực thể và tham gia thực hiện 5 công trình công nghiệp với số vốn là 1 tỷ đo-la.
Ngày nay, tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh đang ngày càng lao sâu vào con đường phản động của nó, bắt tay với Mỹ và Nhật, xây dựng một liên minh mới Mỹ-Nhật-Trung-quốc để thực hiện chủ nghĩa bá quyền của mình trước hết ở Đông Nam Á. Họ đã dựa vào thời điểm Mỹ đã chịu thất bại ở Việt-nam và ngày càng mất dần uy tín ở khu vực Đông Nam châu Á, và Nhật là nước đang còn có ảnh hưởng có hạn ở các nước trong khu vực để thực hiện chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn ở Đông Nam châu Á. Họ hy vọng dựa vào liên minh này và sử dụng liên minh này để khống chế, ngăn chặn và thôn tính các nước chưa đi vào quỹ đạo của họ.
Trong quan hệ giữa Nhật và Trung-quốc, chuyến đi thăm Bắc-kinh của Ta-na-ka năm 1972 mở đầu một bước nhích lại gần nhau trước hết về mặt kinh tế. Những việc ký kết hoà ước giữa hai nước luôn phải đình hoãn vì vấp phải điều khoản chống bá quyền mà Nhật-bản không muốn chấp nhận vì sợ mất lòng Liên-xô. Trung-quốc muốn mua vũ khí của Nhật và công khai kích động Nhật tái vũ trang để chống Liên-xô, làm cho Nhật phải thận trọng. Trung-quốc bán cho Nhật dầu lửa, và Nhật bán cho Trung-quốc thép, song hai bên rất khó khăn trong việc ký kết hiệp ước dài hạn. Tuy nhiên, xu hướng phải đi đến vẫn là sự gần lại nhau. Ngày nay Nhật và Trung-quốc đã ký được hiệp ước với nhau, và chính cũng vì thế, để hiệp ước càng có hiệu lực, Trung-quốc đã công khai tuyên bố xoá bỏ hiệp ước hữu nghị Trung-Xô ký năm 1950.
Nhưng thực chất của liên minh này là liên minh được xây dựng trên mục đích thống nhất của các lực lượng đế quốc chủ nghĩa và phản động nhằm thôn tính các nước thuộc khu vực Đông Nam châu Á và do đó là liên minh có nhiều mâu thuẫn. Mỗi thành viên trong liên minh đều có những tính toán riêng theo yêu cầu và lợi ích riêng trái ngược với nhau không thể điều hoà được. Mặt khác, trong so sánh lực lượng, đế quốc Mỹ vẫn là lực lượng có thế lực mạnh chi phối nhiều hướng của liên minh. Chống Liên-xô, chống Việt-nam, là những nước đã và đang đấu tranh cho độc lập dân tộc cho tiến bộ xã hội của các nước ở Đông Nam châu Á, lực lượng phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh thực tế lại trở thành đội quân xung kích trong tính toán phản động của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ.
3) Những đối tượng chính của chính sách bà quyền, bành trướng nước lớn của Trung-quốc và qua trình thực hiện của chúng ở Đông Nam châu Á.
Căn cứ vào diễn biến của tình hình trong thời gian vừa qua, nhiều nhà nghiên cứu đã vạch ra rằng những điểm mấu chốt trong những tính toán của Trung-quốc đối với Đông Nam châu Á.
a) Nắm và thôn tính Việt-nam, Lào, Cam-pu-chia trước hết là Việt-nam, vì Việt-nam là ngọn cờ cách mạng, là nước độc lập và tự chủ và có uy tín lớn đối với thế giới, các nước đang đấu tranh cho độc lập dân tộc và trực tiếp là đối với các nước Đông Nam châu Á.
b) Độc chiếm biển Đông, vừa giữ được con đường liên lạc và vận chuyển chiến lược đối với toàn khu vực, vừa là căn cứ khai thác dầu lửa lớn làm cơ sở cho nền kinh tế của Trung-quốc, vừa có điều kiện uy hiếp và thôn tính các nước Đông Nam châu Á.
c) Lôi kéo các nước của tổ chức ASEAN, thực hiện hoà hoãn, lôi kéo, tranh thủ đi đến liên minh với các nước đế quốc trước hết là đế quốc Mỹ để vừa ngăn chặn ảnh hưởng của phong trào cách mạng thế giới đối với các nước trong khu vực, ngăn chặn phong trào cách mạng ở các nước và đi đến thay thế các nước đế quốc chủ nghĩa ở khu vực này.
d) Nắm Đông Nam châu Á tạo địa bàn sức mạnh để tiếp tục thực hiện chiến lược đối với khu vực Nam Á bao gồm các nước Ấn-độ, Pa-ki-xtan, Băng-la-đét, Áp-ga-ni-xtan…, tạo ra thế vững chắc của Trung-quốc không bị bao vây là vùng chiến lược có nhiều người và tài nguyên, chuẩn bị thế mạnh trong cuộc chiến tranh hiện đại.
Trong 30 năm qua, từ sau khi thành lập nước Cộng nhân dân Trung-hoa đến nay, Trung-quốc dần dần đi vào con đường chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn theo nhiều bước với những đặc điểm và nội dung khác nhau.
Từ năm 1945 đến 1975 là thời kỳ các thế lực cách mạng ở Trung-quốc đang còn mạnh, lại được giúp đỡ của Liên-xô và các nước khác, Trung-quốc đi vào khôi phục và phát triển kinh tế theo chủ nghĩa xã hội. Nhưng ngay trong thời kỳ này các thế lực theo chủ nghĩa sô-vanh thực hiện chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn cũng đã từng bước giành vị trí có lợi cho họ, tăng cường tiềm lực quân sự, gây ảnh hưởng đối với Đông Nam châu Á, bảo đảm an ninh cho Trung-quốc và đề phòng uy hiếp của Mỹ, lợi dụng hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông-dương, lợi dụng hội ghị Băng-dung (năm 1955) tạo thế lực cho mình. Họ ép một số Đảng ngừng đấu tranh để thực hiện mưu đồ thâm hiểm của họ. Đồng thời bắt đầu tạo thế hoà hoãn với Mỹ, thực hiện đàm phán Mỹ-Trung từ tháng 8-1955 ở Giơ-ne-vơ và sau đó chuyển sang đàm phán ở Vác-sa-va.
Từ năm 1958 đến 1965, các thế lực phản cách mạng đã thực hiện chính sách chống Liên-xô, giành quyền bá chủ thế giới. Trong nước họ tranh thủ điều kiện sản xuất bom nguyên tử và thành công trong việc thí nghiệm quả bom nguyên tử đầu tiên năm 1964. Thực hiện chủ trương “đại nhảy vọt” năm 1958-1959. Trên thế giới họ tìm cách tập hợp các lực lượng ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ la-tinh, trước hết là ở Đông Nam châu Á. Trên thực tế họ đã tiến hành hoà hoãn với Mỹ ở Đông Nam châu Á, ra sức tập hợp “lực lượng mới trỗi dậy” với cái gọi là “cương lĩnh 25 điểm” năm 1963 và giành quyền chi phối trong việc tổ chức Hội nghị Á-Phi lần thứ hai năm 1965 và ráo riết vận động họp 11 Đảng Cộng sản ở châu Á dưới sự chỉ huy của họ, tìm cách nắm In-đô-nê-xi-a, xây dựng trục Bắc-kinh-Gia-các-ta-Phnôm-pênh-Hà-nôi” theo sự chỉ đạo của họ.
Từ 1964-1969, Trung-quốc tiến hành “cách mạng văn hoá vô sản”, thực chất là cuộc đảo chính phản cách mạng, lật đổ lẫn nhau loại trừ những người không ăn cánh, chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế, xem Liên-xô là “thù địch” ngang với Mỹ trong cái gọi là “hai siêu cường”. Ở Đông Nam châu Á, họ kêu gọi vận động chống các chính quyền tư sản ở khu vực này, ra lệnh cho các đảng chịu ảnh hưởng của họ đẩy mạnh hoạt động vũ trang, sử dụng các đảng đó làm công cụ của chủ nghĩa bành trướng Trung-quốc. Hoa kiều ở khu vực này cũng được huy động thực hiện “cách mạng văn hoá” gây ra các vụ rối loạn nghiêm trọng ở Cam-pu-chia, Miễn-điện, Ma-lai-xi-a… Họ tìm cách nắm Việt-nam làm con bài mặc cả với Mỹ, nắm Cam-pu-chia và Lào, chia rẽ ba nước Đông-dương và cô lập Việt-nam.
Từ năm 1970, sau “cách mạng văn hoá” để củng cố quyền lực trong nước và đi sâu vào con đường phản động của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn, họ đẩy mạnh chính sách chống Liên-xô, coi Liên-xô là kẻ thù chính và bắt tay với Mỹ. Ở Đông Nam châu Á, lợi dụng lúc này Mỹ thất bại ở Việt-nam, họ tích cực thực hiện mọi mưu mô can thiệp vào công việc nộ bộ của 3 nước Đông-dương, đánh lạc hướng đấu tranh của Việt-nam và dùng Việt-nam và Đông-dương để mặc cả, bắt tay với Mỹ.
Tháng 2 năm 1972 họ ký thông cáo Thượng-hải với Mỹ, thoả hiệp với Mỹ trong các vấn đề ở Đông Nam châu Á, chủ yếu là thoả thuận với Mỹ về việc duy trì chế độ Nguyễn-Văn-Thiệu ở miền Nam Việt-nam để đổi lấy việc Mỹ rút quân khỏi Đài-loan và ủng hộ để Trung-quốc vào liên hiệp quốc. Sau khi hiệp định Pa-ri về Việt-nam được ký tháng 1-1973, họ khuyến khích sự có mặt của các lực lượng quân sự của Mỹ ở Đông Nam châu Á, ủng hộ tổ chức ASEAN, nhân nhượng các chính quyền thân Mỹ trong khu vực này theo mục đích của họ.
Năm 1975, Việt-nam hoàn toàn chiến thắng đế quốc Mỹ. Cùng với thắng lợi của Lào và Cam-pu-chia, thắng lợi này không chỉ là của nhân dân Việt-nam, nhân dân Lào, nhân dân Cam-pu-chia, mà là thắng lợi chung của chủ nghĩa xã hội, của phong trào giải phóng dân tộc, của cả loài người tiến bộ, mở rộng ảnh hưởng của Việt-nam đối với phong trào cách mạng và tiến bộ xã hội, đối với hoà bình và ổn định của các nước trong khu vực Đông Nam châu Á. Nhưng đối với chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn Trung-quốc, đó lại là một đòn quan trọng giáng vào những tính toán phản động của chúng. Chính vì vậy, cũng từ đây, chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn Trung-quốc đã ngày càng điên cuồng bộc lộ những mưu tính phản động của chúng. Chúng kêu gọi Mỹ không rút khỏi Đông Nam châu Á mà tăng cường sự có mặt về quân sự ở đây, kêu gọi tăng cường tổ chức ASEAN theo những mục tiêu ảnh hưởng và bá quyền của chúng, gây chia rẽ giữa các nước này đối với Việt-nam và giảm ảnh hưởng của Việt-nam đối với các nước này, đi vào con đường chống phong trào cách mạng ở khu vực này, chống ảnh hưởng cách mạng của Liên-xô và của các nước xã hội chủ nghĩa khác. Chúng dìm sâu cách mạng Cam-pu-chia trong hoạ diệt chủng, chúng phá hoại sự nghiệp cách mạng nhân dân Lào và điên cuồng chống phá Việt-nam bằng câu chuyên người Hoa, bằng cuộc chiến tranh biên giới Cam-pu-chia-Việt-nam và đến 17-2-1979 thì phát động cuộc chiến tranh xâm lược đối với Việt-nam.
4) Về cái gọi là ngọn cờ của thế giới thứ ba ở khu vực Đông Nam châu Á.
Để tranh giành ảnh hưởng gây thanh thế của mình, trước hết là đối với các nước chậm phát triển, đặc biệt là các nước thuộc Đông Nam châu Á, từ lâu những người theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc đã mạo nhận là người cầm cờ của phong trào giải phóng dân tộc.
Phong trào giải phóng dân tộc là một trong ba dòng thác cách mạng của thời đại. Trong thời đại của chúng ta đó là xu hướng tất yếu của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới cũng như của mỗi dân tộc ở Đông Nam châu Á. Nhưng những người theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc đã mạo nhận là người đại diện của phong trào ấy, thực tế là để nắm lấy phong trào ấy, xuyên tạc nó, hướng phong trào ấy bỏ con đường cách mạng của nó để đi vào con đường phục vụ cho những ý đồ bá quyền, bành trướng của họ.
Trong những năm 50, lợi dụng phong trào đang phát triển mạnh, trong khi chủ nghĩa đế quốc ngày càng lâm vào cuộc khủng hoảng gay gắt, họ nêu ngọn cờ “chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ”, “đấu tranh vũ trang” trong bất kỳ điều kiện nào. Thức tế như thế họ đã gây tác hại cho phong trào các nước, vì cách mạng là vấn đề khoa học, đòi hỏi phải có đường lối chính xác với những hình thức vận động và đấu tranh thích hợp trong điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi nước.
Vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 họ lại chuyển theo hướng khác. Từ quan điểm giai cấp và dân tộc, thực chất là tư sản, những người dân tộc sô-vanh Trung-quốc xem không phải chỉ có phong trào giải phóng dân tộc mà tất cả các nước nằm trong khu vực phong trào giải phóng dân tộc, không kể chiều hướng của nước ấy như thế nào, đều là đồng minh của họ để chống “hai siêu cường” trước hết là chống Liên-xô. Như vậy họ đã lột mặt nạ cách mạng của họ, bỏ rơi tấm biển “người đại diện cho các giai cấp bị bóc lột” để bắt tay với các lực lượng thực chất là những đại diện của các giai cấp bóc lột. Đầu những năm 70, khi họ đã công khai xem Liên-xô là kẻ thù, họ giơ cao khẩu hiệu chống chủ nghĩa đế quốc, kêu gọi lập “mặt trận thống nhất của tất cả các quốc gia nhỏ và vừa” để đấu tranh chống “hai siêu cường” trước hết là chống chủ nghĩa đế quốc xã hội. Đây lại là một bước mới, các lực lượng phản động đã tự phơi bầy bộ mặt thật của nó.
Thế giới với trào lưu cách mạng ngày càng lớn mạnh đã chứng kiến sự chuyển dịch dần, sự bộc lộ ngày càng rõ lập trường của các thế lực dân tộc sô-vanh Trung-quốc đi gần tới lập trường của các thế lực đế quốc chủ nghĩa và tư sản phản động.
Cuối những năm 60, đầu những năm 70, các thế lực sô-vanh Trung-quốc đã xích dần lại với các thế lực của chủ nghĩa đế quốc trước hết là đế quốc Mỹ, họ tuyên bố Liên-xô là kẻ thù số 1. Các nước thuộc khu vực phong trào giải phóng dân tộc, cũng như nhân dân toàn thế giới đã dần dần thấy rõ bộ mặt thật chống phá cách mạng, chống lại phong trào giải phóng dân tộc của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc.
Một trong những mục đích khi các thế lực theo chủ nghĩa sô-vanh cố nặn ra cái gọi là thuyết ba thế giới, giương ngọn cờ lãnh đạo trong thế giới thứ ba, chính là để lừa bịp phong trào giải phóng dân tộc, nắm lấy các lực lượng đấu tranh cho độc lập dân tộc để thực hiện chủ nghĩa bá quyền, bành trướng của họ. Nhiều năm đóng vai trò là “người che chở và lãnh tụ” của các nước thuộc khu vực “cái bụng lép của châu Á”, ngày nay giương ngọn cờ lãnh đạo của thế giới thứ ba, bè lũ theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc hy vọng củng cố vị trí của chúng đối với khu vực này với những tính toán nham hiểm mới. Đáng lưu ý là các nước trong khu vực này, và nhất là các nước thuộc khu vực Đông Nam châu Á ngày càng thấy sự cần thiết có lợi trong việc xác lập quan hệ với các nước thuộc hệ thống thế giới của chủ nghĩa xã hội. Vấn đề đặt ra đối với các thế lực sô-vanh Trung-quốc là phải ngăn chặn được chiều hướng phát triển ấy, nhất là chiều hướng muốn đặt quan hệ với Liên-xô. Nhưng cũng trong vấn đề này, các nước đế quốc chủ nghĩa cũng có nhu cầu ngăn chặn ảnh hưởng của Liên-xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Điểm quan trọng nhất đối với các lực lượng sô-vanh Trung-quốc là phải nắm lấy vấn đề này để tạo ra thế lực quan trọng và chủ bài trong việc mặc cả chính trị với bọn đế quốc, trước hết là đế quốc Mỹ.
Các thế lực sô-vanh Trung-quốc thực hiện việc làm bá chủ đối với khu vực các nước chậm phát triển trước hết là khu vực Đông Nam châu Á “bão táp cách mạng” không phải chỉ bằng những lời kêu gọi, lừu bịp, lôi kéo. Mấy chục năm nay, trên các quan hệ quốc tế, đặc biệt là các quan hệ quốc tế của các nước trong khu vực Á-Phi-Mỹ la-tinh, các thế lực sô-vanh Trung-quốc luôn luôn tìm mọi cách để xây dựng, củng cố và phát triển vị trí bá chủ của họ đối với các nước trong khu vực bằng nhiều biện pháp.
Năm 1955, năm nước Cô-lôm-bô (Ấn-độ, Miễn-điện, Xri-lan-ca, In-đô-nê-xi-a và Pa-ki-xtan) đã có sáng kiến triệu tập 29 nước Á Phi dự hội nghị Băng-dung để bàn về quan hệ giữa các nước xây dựng thế lực mới lập ra khối các nước không liên kết đẩy lùi ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc. Các nước này cũng đã tỏ ý nghi ngờ đối với những tính toán xấu xa của các thế lực sô-vanh Bắc-kinh, nên lúc đầu họ đã không định mời Trung-quốc tham gia (3 nước Xri-lan-ca, Pa-ki-xtan, In-đô-nê-xi-a phản đối). Nhưng với đề nghị của Ấn-độ, Trung-quốc được mời tới. Những người theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc liền nắm lấy thời cơ này làm như họ là người đề ra sáng kiến về 5 nguyên tắc chung sống hoà bình phát triển từ khi ký kết giữa Trung-quốc và Ấn-độ trong việc tranh chấp về vùng Ca-sơ-mia để đưa thành tinh thần Băng-đung. Từ đó họ luôn luôn tỏ ra là người đại diện của tinh thần Băng-đung “đấu tranh cho hoà bình và tiến bộ của các dân tộc” để củng cố vị trí của họ đối với khu vực và đối với các nước không liên kết trong khi thực tế họ lại luôn luôn là kẻ xâm phạm và phá hoại 5 nguyên tắc chung sống hoà bình giữa các nước, xúi giục và gây chia rẽ các nước trong khối không liên kết.
Như vậy, cũng thật là rõ ràng, trong khi luôn luôn lớn tiếng ngọt xớt về cái gọi là ngọn cờ của thế giới thứ ba, những thế lực cầm quyền ở Bắc-kinh thực tế lại thực hiện chủ nghĩa bá quyền đối với các nước.
Là nước vốn đã có thời kỳ hầu hết các nước xung quanh đã phải thần phục, họ xem các nước Đông Nam châu Á là đất đai và khu vực ảnh hưởng cũ lâu đời, tự nhiên, tất yếu của họ.
Là nước lớn, họ xem các nước Đông Nam châu Á chậm tiến, lạc hậu “cái bụng đói của Châu Á”. Là khu vực phải chịu dưới sự bảo hộ và dìu dắt của họ.
Là một nước với mưu đồ bá chủ thế giới họ xem các nước Đông Nam châu Á là chỗ dựa tự nhiên, lực lượng dễ bảo, phục vụ cho mục tiêu bá quyền thế giới của họ.
III – NHỮNG CÔNG CỤ VÀ THỦ ĐOẠN CỦA TẬP ĐOÀN PHẢN ĐỘNG BẮC-KINH Ở ĐÔNG NAM CHÂU Á.
III – NHỮNG CÔNG CỤ VÀ THỦ ĐOẠN CỦA TẬP ĐOÀN PHẢN ĐỘNG BẮC-KINH Ở ĐÔNG NAM CHÂU Á.
Thực hiện chủ nghĩa bá quyền bành trướng nước lớn trong điều kiện một nước kinh tế chậm phát triển, tiềm năng có hạn, tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh đã dùng những công cụ và thủ đoạn vô cùng xảo quyệt, thâm độc và tàn nhẫn đối với các nước Đông Nam châu Á.
1) Người Hoa, đội quân thứ 5 của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn Trung-quốc.
Người Hoa có mặt ở nhiều nước trên thế giới. Theo nhiều bản thống kê khác nhau, ở châu Âu có khoảng 10 vạn, châu Phi có khoảng 6 vạn, châu Mỹ khoảng 1.5 triệu. Ở các nước châu Á, và đông hơn cả là ở khu vực Đông Nam châu Á, số lượng Hoa kiều có khoảng 20 triệu. Riêng ở Thái-lan có khoảng 4 triệu, Xing-ga-po 1.6 triệu, Miến-điện 1.5 triệu, In-đo-nê-xi-a 3.7 triệu, Mai-lai-xi-a 3.5 triệu, Việt-nam 1 triệu, Phi-líp-pin 40 vạn, Cam-pu-chia trước đây có 30 vạn, Lào 5 vạn…
Trong qua trình phát triển lịch sử của các dân tộc các giai cấp và các nhà nước, việc đi lại của nhân dân các nước và di dân của từng bộ phận dân cư là việc bình thường với những đặc điểm lịch sử, giai cấp và dân tộc của nó. Ở Việt-nam, người Hoa sang Việt-nam từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên và đến nay tập trung chủ yếu ở Chợ-lớn, thành phố Hồ-Chí-Minh thuộc miền Nam Việt-nam. Trước đây dưới thời kỳ Mỹ-nguỵ , Chợ-lớn hầu như là thành phố của người Hoa. Ở Thái-lan chỉ có khoảng 10% nhưng có tác giả nghiên cứu về dân tộc ở Thái-lan lại rút ra kết luận là hầu như cứ trong 4 người Thái-lan thì có 1 người mang trong mình dòng máu Trung-quốc. Ở Ma-lai-xi-a người Hoa với tỷ lệ gần 40% trong khi người Ma-lai-xi-a cũng chỉ có 40% và người Ấn-độ có tỷ lệ 14% trong dân số đã đặt Mã-lai trước tình hình như có tác giả đã nhận xét:…”gây ra ở Ma-lai-xi-a vấn đề dân tộc có tính chất bùng nổ nhất ở trong vùng”. Ở Xinh-ga-po, mỏm bán đảo Mã-lai, người Hoa chiếm tỷ lệ tới gần 80%. Có tác giả nghiên cứu nhận xét: “đây là quốc gia Trung-quốc thật sự mà phương hướng chính trị và sự thống nhất về kinh tế làm cho nhiều nước láng giềng và ngay cả những người châu Âu và người Mỹ cũng phải bận tâm”. Gien Clao-de Pô-môn-ti viết: “Thành phố quốc gia đang trong đà phát triển mạnh mẽ này có khả năng thay thế Hương-cảng đóng vai trò thủ đô của các cộng đồng hải ngoại của người Trung-hoa”.
Người Hoa ở các nước thường sống trong những cộng đồng khu vực có tính chất địa phương ràng buộc chặt chẽ các quan hệ kinh tế, che giấu các quan hệ giai cấp dưới những quan hệ gia đình và huyết thống. Trong thực tế, theo sự phân tích của nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề người Hoa ở Đông Nam châu Á, trong số người Hoa, tư sản chiếm 5 đến 10% tổng số Hoa kiều và chi phối toàn bộ hoạt động của cộng đồng, và như vậy đại bộ phận người Hoa khác lại bị giai cấp tư sản người Hoa chi phối trong cái cộng đồng có tính huyết thống và địa phương ấy.
Ở Việt-nam trước đây Hoa kiều sống thành từng bang phân chia theo đặc điểm địa phương và nội dung kinh tế nhất định. Chế độ bang được đặt ra từ năm 1814, thời Gia-Long, vào lúc đó chia thành 7 bang: Quảng-đông, Phúc-kiến, Triều-châu, Hải-nam, Khánh-gia, Phúc-châu và Quỳnh-châu. Đầu năm 1885 bang Phúc-châu nhập vào bang Phúc-kiến và Quỳnh-châu sát nhập vào bang Hải-nam. Mỗi bang gần như có đời sống riêng: có nhà thờ, nhà thương, trường học riêng. Có bang trưởng và bang phó chịu trách nhiệm về giáo dục, y tế, pháp lý… đối với Hoa kiều trong bang, săn sóc đến những người mới di cư sang và giúp đỡ họ cho đến khi họ tự túc được.
Vấn đề người Hoa có thể giải quyết đúng đắn theo những nguyên tắc về sự phồn thịnh của nhân dân các nước cũng như bảo đảm quan hệ hữu nghị và sự ổn định của các Nhà nước trong khu vực Đông Nam châu Á và trên thế giới. Trong quan hệ về mặt dân tộc, có người đi theo Đài-loan, có người hướng về Trung-hoa lục địa, Nhưng từ lâu tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh đã lợi dụng vấn đề người Hoa, khai thác các khía cạnh chủng tộc và dân tộc tư sản thực hiện mục đích bá quyền, bành trướng nước lớn của họ.
Họ sử dụng người Hoa, trước hết là giai cấp tư sản Hoa kiều để bòn rút của cải của nhân dân các nước Đông Nam châu Á. Từ năm 1950, trung bình số tiền của Hoa hiều gửi về nước hàng năm 120 triệu đô-la, trong đó tiền của thành phần lao động chỉ chiếm 1/3. Cuối những năm 1960, số tiền gửi về nước hàng năm đã lên tới 180 triệu đô-la, trong đó tiền của thành phần lao động chiếm chưa tới 10%. Hiện nay nhiều tài liệu cho biết rằng tỷ lệ thu của những người lao động thực tế không còn nữa mà chỉ còn của những người tư sản Hoa kiều. Có tài liệu tính được từ năm 1950 đến 1970, Hoa kiều ở Đông Nam châu Á đã chuyển về Trung-quốc 3.5 tỷ đô-la, đại bộ phận là của tư sản Hoa kiều thu nhập từ các biện pháp bóc lột nhân dân các nước sở tại.
Theo đường lối của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn, tập đoàn phản động Trung-quốc còn sử dụng người Hoa làm cộng cụ lũng đoạn về kinh tế và chính trị, mua chuộc cán bộ trong bộ máy nắm chính quyền ở các nước sở tại thực hiện mưu đồ phản động của họ. Tư sản Hoa kiều ở một số nước ở Đông Nam châu Á đã nắm được những vị trí then chốt trong nền kinh tế. Ở Ma-lai-xi-a, Hoa kiều kiểm soát 350 trong số 400 công ty công nghiệp . Ở Cam-pu-chia trước đây, tư sản Hoa kiều kiểm soát 80% ngành xuất nhập khẩu và 90% công nghiệp. Ở Thái-lan, các ngân hàng chính, 90% việc xuất khẩu lúa gạo, thiếc, cao su và gỗ nằm trong tay tư sản Hoa kiều. Ở In-đo-nê-xi-a, khoảng 30 “ông chủ” Hoa kiều kiểm soát một bộ phận lớn của nền kinh tế. Ở miền Nam Việt-nam trong thời kỳ Mỹ-nguỵ , tư sản Hoa kiều nắm trong tay 80% các ngành buôn bán thực phẩm, toàn bộ nền công nghiệp dệt 85% và ngành nhập khẩu. Nói chung ở các nước Đông Nam châu Á, tư sản Hoa kiều hoạt động mạnh trong xuất khẩu nông phẩm, trong nhập khẩu thực phẩm và các hàng chế biến phục vụ sản xuất tiêu dùng. Trong các ngành kinh tế khác như công nghiệp mỏ, xây dựng, vận tải và dịch vụ công cộng, họ cũng chiếm một phạm vi hoạt động khá quan trọng. E-li-Fran-tíc đã viết trong tạp chí “Quốc phòng” tháng 4-1977 như sau: “Số vốn đầu tư của những người Hoa kiều quan trọng hơn bất cứ số vốn của một người nước ngoài nào vào Đông Nam châu Á. Năm 1974, công ty ở Mai-lai-xi-a và Xinh-ga-po, chỉ còn 2% là của người Mã-lai và 62% là thuộc người nước ngoài. Ngay cả ở In-đô-nê-xi-a, cộng đồng người Hoa đóng một vai trò quyết định trong việc đầu tư vốn vào các khu vực kinh tế tư nhân và chiếm 70 đến 80% số vốn của tư nhân”. Tờ tạp chí I-lít của Ấn-độ viết: “Vị trí của Hoa kiều trong nền kinh tế bản xứ vững chắc đến mỗi như In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a và một phần nào ở Phi-líp-pin, chẳng hạn, hoàn toàn chỉ trong vài ngày đám Hoa thương có thể làm cho một trong những nước này bị hỗn loạn về kinh tế”. Dựa vào thế mạnh ấy của những tư sản Hoa kiều, với những mối quan hệ khác, tập đoàn phản động Bắc-kinh đã thực hiện việc mua chuộc và lũng đoạn bộ máy Nhà nước của các nước trong khu vực. Ngay ở miền Nam Việt-nam, bộ máy nguỵ quyền do Mỹ thành lập, nhưng trên thực tế có những bộ phận, những nhân viên nguỵ quân nguỵ quyền cao cấp lại do các nhà tư sản Hoa kiều chi phối. Nhiều tướng tá, một số thứ trưởng, và kể cả tổng thống, phó tổng thống thời nguỵ quyền đều thực tế do sự cất nhắc và chỉ định của các vua sắt, thép, gạo, thầu khoán, tiệm ăn, hộp đêm ở Chợ-lớn … theo khuynh hướng của Đài-loan hoặc Bắc-kinh.
Tập đoàn phản động Bắc-kinh còn lợi dụng Hoa Kiều tổ chức thành mạng lưới hoạt động gián điệp, cung cấp mọi tin tức bí mật của nước sở tại, tổ chức thành lực lượng kìm kẹp và khủng bố quần chúng các nước sở tại kể cả những người Hoa chân thực đã có giác ngộ. Khi cần thiết họ lại chuyển thành những lực lượng gây rối ở các nước sở tại. năm 1975 In-đô-nê-xi-a đã khám phá ra một nghiệp đoàn bí mật chuyên làm việc dẫn đường và chuyên chở bọn gián điệp thân Bắc-kinh từ Trung-quốc luồn vào In-đô-nê-xi-a, bọn cầm đầu đó bị tóm gọn. Tháng 10 và tháng 11, nhà đương cục Gia-các-ta bắt giam 30 công dân Trung-quốc đã từ Trung-quốc bí mật thâm nhập vào In-đô-nê-xi-a để hoạt động phá hoại. Tờ tạp chí Kinh tế Viễn-đông xuất bản ở Hồng-kông viết: “Bắc-kinh có thể dùng Hoa kiều để lật đổ các chính phủ hoặc gây ra tình trạng lộn xộn cho phép các lực lượng thân Bắc-kinh được sự giúp đỡ và kiểm soát chặt chẽ của Hoa Kiều, cướp lấy chính quyền. Hoa kiều còn được sử dụng nhằm động viên dư luận xã hội để chống chính phủ hoặc gây sức ép chống lại các chính phủ nào bị coi là có hại cho các lợi ích của Trung-quốc”.
Các nước thuộc khu vực Đông Nam châu Á cũng như những nước có người Hoa tới ở đều đã nhận rõ những thủ đoạn nham hiểm của những người theo chủ nghĩa sô-vanh Bắc-kinh. Người Hoa trong thực tế phải chịu đựng tai hoạ đau khổ là con bài chính trị trong tay các thế lực theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Bắc-kinh.
Những sự kiện về vấn đề người Hoa rộ lên trong những năm 1977-1978 ở Việt-nam là sự thể hiện cụ thể của những âm mưu thủ đoạn ấy của tập đoàn phản động Bắc-kinh. Cùng với việc dùng bọn tay sai phản động Pôn Pốt-Iêng Xa-ry gây cuộc chiến tranh biên giới Cam-pu-chia-Việt-nam để chống Việt-nam, bọn phản động Bắc-kinh đã sử dụng lực lượng có tổ chức sẵn có trong người Hoa do sứ quán Bắc-kinh ở Hà-nội chỉ huy, vận động, xúi giục người Hoa kéo về tổ quốc, định dựa vào đó để làm mất an ninh và rối loạn trong nội bộ Việt-nam kết hợp với việc gây rối ở biên giới phía Bắc. Việc đàm phán về người Hoa được mở ra giữa Việt-nam và Trung-quốc thực tế cũng không tiến triển được chỉ vì về phía Trung-quốc, thực chất không phải là vấn đề người Hoa mà là vấn đề âm mưu và thái độ bá quyền, bành trướng của chủ nghĩa dân tộc phản động Trung-quốc sử dụng người Hoa làm công cụ thực hiện ép buộc, thôn tính các nước khác đi theo và phục tùng đường lối phản động của họ.
2) Các tổ chức chính trị phản động thân Bắc-kinh và chính sách nhiều con bài của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc.
Khi xâm nhập vào các nước, do bộ mặt đế quốc thực dân của nó, chủ nghĩa đế quốc có thể dưới nhiều hình thức khác nhau tạo chỗ dựa về mặt chính trị trong các giai cấp phản động. Ngay chủ nghĩa đế quốc Mỹ, với chính sách thực dân kiểu mới, che giấu bộ mặt thật của nó dưới các hình thức viện trợ kinh tế và viện trợ quân sự, cũng vẫn phải xây dựng bộ máy nguỵ quân, nguỵ quyền cùng với các tổ chức đảng phái chính trị, tôn giáo, văn hoá… làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân của chúng. Tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh, dưới chiêu bài của “chủ nghĩa dân tộc chống đế quốc”, của “cách mạng” có thể có điều kiện che giấu, lừa bịp nham hiểm hơn để tạo ra những thế lực và những con bài chính trị khác nhau phục vụ cho mưu đồ thôn tính các dân tộc trong khu vực của chúng.
Về mặt tư tưởng, chúng đã sử dụng mọi phương tiện và điều kiện thông tin tuyên truyền, kích động dân tộc theo các nội dung “chủ nghĩa dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc” , “cách mạng của người nghèo”, “chủ nghĩa Mác dân tộc” theo gương của cách mạng Trung-quốc và về xã hội của “những người nghèo” thuộc các dân tộc bị áp bức, “chống đế quốc trước là chống siêu cường, chống xét lại”.
Về tổ chức, họ ra sức gây ảnh hưởng trong các Đảng cộng sản đã được thành lập ở Đông Nam châu Á, lôi kéo, chia rẽ và tạo ra những tổ chức, các nhóm, các đảng chính trị lấy các “tư tưởng” trên làm kim chỉ nam và làm mục tiêu hành động và thân với Trung-quốc. Họ gán cho các nhóm, các tổ chức này và tạo điều kiện trong nước và ngoài nước thừa nhận các tổ chức này đóng vai trò là “các đảng mác-xít-lê-nin-nít”, làm ra vẻ như bảo vệ quyền lợi của những người lao động, chống đế quốc và các giai cấp bóc lột, đòi tự do dân chủ, nhưng thực tế các tổ chức này lại chống lại lợi ích của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân khác, gây chia rẽ nội bộ các nước và các dân tộc làm cho họ đi trệch khỏi các mục tiêu đấu tranh chủ yếu.
Tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh đã phá hoại các Đảng cộng sản và phong trào cộng sản ở các nước Đông Nam châu Á, lập ở khu vực này các tổ chức chính trị thân Trung-quốc và thực hiện những mưu đồ bá quyền, bành trướng nước lớn của Trung-quốc.
Các tổ chức chính trị thân Bắc-kinh vừa có mối liên hệ chặt chẽ về tư tưởng chính trị, kinh tế và quân sự với Bắc-kinh bằng các đường dây liên lạc bí mật khác nhau vừa hoạt động một cách độc lập thông qua các tổ chức “chiến đấu” và “mặt trận” có những tên gọi khác nhau theo điều kiện của từng nước. Trung-quốc còn giúp các tổ chức này mọi phương tiện hoạt động như lập đài phát thanh “tiếng nói cách mạng Mã-lai”, “tiếng nói nhân dân Miến-điện”, “tiếng nói nhân dân Thái-lan”, đặt trên các đất của Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, hàng ngày phát đi tiếng nói có hại cho sự ổn định và mục đích đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các nước ấy, Đi đôi với lực lượng người Hoa, các tổ chức chính trị này được những người theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc sử dụng để cưỡng ép và chi phối các nước ấy đi theo đường lối phản động của họ.
Cùng với việc xây dựng các tổ chức chính trị theo ảnh hưởng của mình, tập đoàn phản động Bắc-kinh đã đặt quan hệ với giai cấp tư sản và các lực lượng phản động khác ở các nước Đông Nam châu Á, thông qua việc mua chuộc và ràng buộc các nhà tư sản người Hoa để thúc đẩy các hoạt động có lợi cho những tính toán bá quyền, bành trướng của chúng. “Những người lãnh đạo Bắc-kinh còn sử dụng cả những phần tử phong kiến ly khai vào các mục đích của chính sách bành trướng ở Đông Nam châu Á của họ. Như các bộ lạc người Kha-chin ở Miến-điện, bọn ly khai Hồi giáo ở Phi-líp-pin đều nhận được các khoản trợ cấp tiền bạc của Bắc-kinh được trang bị bằng vũ khí của trung-quốc,và nhiều khi còn có cả các sỹ quan Trung-quốc làm cố vấn” (1).
Ở đây, khác với thế lực đế quốc chủ nghĩa, tập đoàn phản động Bắc-kinh đã tạo điều kiện thuận lợi hơn thực hiện chính sách nhiều con bài chính trị khác nhau để có thể dễ dàng thực hiện các mưu đồ thâm hiểm của họ.
Ở hầu hết các nước Đông Nam châu Á có quan hệ với Trung-quốc, các thế lực sô-vanh Bắc-kinh đều thực hiện việc liên kết với nhiều nhân vật chính trị đại diện cho khuynh hướng chính trị khác nhau vừa kiềm chế lẫn nhau một cách có lợi cho Bắc-kinh, vừa có thể là sự chuẩn bị cần thiết để thực hiện nhiều âm mưu nham hiểm của họ. Ví dụ ở Cam-pu-chia trước đây, cùng một lúc Trung-quốc có liên hệ cả với Xi-ha-lúc. Lon-non và Pôn-pốt-Iêng Xa-ri.
Ở một số nước khác như Thái-lan, Miến-điện, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, thế lực theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều nhân vật có thế lực trong bộ máy Nhà nước và kinh tế như thế.
Tờ báo Ấn-độ “Hindusten Standard” đã viết: “Ở Đông nam châu Á, Trung-quốc đã sử dụng những biện pháp cụ thể lật đổ các chính phủ hiện đang cầm quyền, vừa cố gắng thiết lập lại các mối quan hệ về chính trị đã bị đứt trong thời gian cách mạng văn hoá, Trung-quốc luôn luôn dựa vào các phong trào nổi dậy của các bộ tộc Chan và Kat-chan để chống lại chính phủ Nê-uyn ở Miễn-điện” (2).
Dựa vào các tổ chức chính trị, những lực lượng theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc đã gây ra các sự kiện đẫm máu ở Xri-lan-ca, các cuộc xung đột giữa các giáo đoàn Thiên chúa giáo và Hồi giáo ở Phi-líp-pin (3). Tổng thống Phi-líp-pin Mác-cốt đã tuyên bố trước một phóng viên Mỹ rằng “Bắc-kinh đang chuẩn bị người để đưa sang Phi-líp-pin”.
Nói chung, mấy chục năm nay, đối với các nước trong khu vực Đông Nam châu Á, với những tổ chức chính trị và các mối liên hệ khác nhau với các nhân vật có thế lực trong các Nhà nước của từng nước, cũng như với các lực lượng phản động thuộc giai cấp bóc lột thống trị, những người theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn Trung-quốc đã thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để ép các nước đi theo quỹ đạo của mình, thực hiện các ý đồ chính trị phản động của họ.
“Chiến tranh cách mạng” là biện pháp thông thường được sử dụng đối với nước nào họ xem là địch thủ vì chưa đi theo đường lối của họ. Lợi dụng tình hình kinh tế còn thấp, xã hội có nhiều mâu thuẫn giai cấp và dân tộc, những người theo chủ nghĩa sô-vanh Trung-quốc đã xúi giục những cuộc lật đổ, thôi thúc các phong trào “cách mạng theo lối của họ, phát động du kích chiến tranh, giúp việc huấn luyện về quân sự và chính trị cho các lực lượng chống đối, cung cấp cho các tổ chức ấy vũ khí, vật tư, phương tiện vận chuyển và thuốc men. Còn họ thì chỉ ủng hộ từ bên ngoài, thực hiện chiến thuật thu lượm kết quả khi thời gian đã chín muồi như “sung sẽ chín rụng”.
Đối với các nước đã chịu khuất phục, đi theo đường lối của họ thì họ đặt chế độ cố vấn về chính trị, viện trợ kinh tế và trang bị quân sự, đồng thời với việc xúc tiến xây dựng mọi tổ chức chính trị thích hợp bảo đảm quyền bá chủ vững chắc của họ đối với các nước ấy.
Những mưu đồ đen tối của họ rõ ràng khi họ đề nghị với Việt-nam triệu tập hội nghị 11 Đảng năm 1963 bao gồm Đảng Cộng sản Trung-quốc, Đảng Cộng sản Việt-nam, Đảng Lao động Triều-tiên, Đảng nhân dân Cách mạng Lào, Đảng nhân dân Cách mạng Cam-pu-chia, Đảng Cộng sản Thái-lan, Đảng Cộng sản Miến-điện, Đảng Cộng sản Nhật-bản, Đảng Lao động An-ba-li. Như vậy đâu có phải vì mục đích đấu tranh của nhân dân các dân tộc thuộc khu vực Đông Nam châu Á? Đó chỉ là vì mục đích họ muốn xây dựng lực lượng quốc tế, chống lại các Đảng anh em khác. Đó chỉ vì mục đích họ muốn xây dựng quyền bá chủ của họ đối với các nước Đông Nam châu Á giả danh dưới nhãn hiệu của các tổ chức cộng sản quốc tế.
Ngọn cờ lãnh đạo theo tập đoàn phản động Bắc-kinh đối với khu vực thế giới thứ ba không có thể có nội dung nào khác ngoài nội dung của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn Trung-quôc.
3) Những biện pháp và thủ đoạn bá quyền, bành trướng nước lớn của Trung-quốc ở Đông Nam châu Á.
Ngay từ những năm 1950, thế lực theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn của Trung-quốc cũng đã xem khu vực Đông Nam châu Á là khu vực ảnh hưởng của mình. Năm 1953, Trung-quốc đã tuyên bố cách mạng Trung-quốc là cái mẫu chung cho tất cả các nước ở Đông Nam châu Á. Họ công bố bản đồ địa lý của Trung-quốc kéo dài biên giới của Trung-quốc xuống quá Ma-lai-xi-a, khiến cho nhiều nước lo lắng. Trong khi phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những ý kiến khác nhau trước sự phát triển mới của phong trào cách mạng các nước và khủng hoảng sâu sắc của các nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, họ liền lợi dụng thời cơ giương cao ngọn cờ chống đế quốc tác động mạnh mẽ vào các nước trong khu vực Đông Nam châu Á đang sục sôi cách mạng.
Về mặt kinh tế, tập đoàn phản động theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc đã dùng viện trợ kinh tế và tài chính để lôi kéo các nước trong khu vực đi vào quỹ đạo của họ. Lợi dụng lúc chủ nghĩa đế quốc đang khủng hoảng và các nước trong khối ASEAN gặp khó khăn, họ đã bán dầu cho các nước này và mua lại hàng hoá ế của các nước ấy. Một công cụ đáng sợ khác của các thế lực Bắc-kinh về kinh tế là các chi nhánh ngân hàng đặt ở các nước trong khu vực Đông Nam châu Á.
Noi theo gương những người La-mã đã đặt ách thống trị dựa trên hệ thống đường sá 20 thế kỷ trước đây, đối với một số nước khác có cùng biên giới với Trung-quốc họ tìm cách xây dựng các mạng lưới đường sá chuẩn bị cho việc thâm nhập vào các nước và các hoạt động quân sự của họ. Mạng lưới đường sá quan trọng nhằm nối liền Tân-cương với Pa-kít-xtan, từ Tân-cương đến Nê-pan, từ Tây-tạng đến Nê-pan, từ Vân-nam đến sông Mê-công xuyên Lào…tương tự như các con đường Tân-cương-Tây-tạng đi xuyên qua miền đông Ca-sơ-mia. Con đường này có hai nhánh vượt các núi cao Kác-xkô-run, một nhánh đi qua Min-ka ở phía đông Khan-dơ-ma-be và phải dùng tới 12.000 nhân công, thực chất là binh lính không vũ trang. Một con đường được khai thông năm 1953, hai con đường khác khai thông năm 1956. Các con đường này đã đóng vai trò hàng đầu trong cuộc xung đột Trung-Ấn năm 1962 trong tỉnh La-đắc của Ấn-độ. Các con đường này cho phép di chuyển nhanh chóng quân đội từ Tân-cương đến vùng biên giới phía Tây Ấn-độ.
Các con đường qua Lào và một số đường xây dựng cho Việt-nam cũng có cùng một ý đồ như thế. Lợi dụng việc Lào cần xây dựng đường, các đơn vị của Trung-quốc (thực sự là các đơn vị quân đội) có ý định xây dựng con đường chiến lược đi từ biên giới Trung-quốc chạy qua Việt-nam và Thái-lan, tạo ra con đường chạy xuyên suốt đi xuống vung Đông Nam châu Á.
Trung-quốc cũng đã thấy rõ quyền lợi của Trung-quốc ở eo biển Ma-la-ca, một con đường quan trọng của quốc tế và đường giao thông ngắn nhất giữa Ấn-độ-dương và Thái-binh-dương. Bằng việc cố gắng thiết lập sự kiểm soát các biển bao quanh Cộng hoà nhân dân Trung-hoa và Ấn-độ-dương, Bắc-kinh cố gắng áp đặt những biện pháp hạn chế đi lại tự do qua Ma-la-ca.
Đối với các nước có chung biên giới, tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc-kinh còn dùng việc khiêu khích, gây rối, tranh chấp đất đai, gây chiến tranh biên giới để gây sức ép, thực hiện chủ nghĩa bá quyền, bành trướng. Cũng như đối với các nước khác có chung biên giới như Liên-xô, Mông-cổ , Ấn-độ, Pa-ki-xtan, đối với các nước ở Đông Nam châu Á có chung biên giới như Miến-điện, Lào, Việt-nam, bọn phản động Bắc-kinh đã dùng thủ đoạn ấy.
Trước đây Tôn-Dật-Tiên đã coi Thái-lan, Miến-điện, Nê-pan, Tây-tạng, Việt-nam v.v… và các vùng châu thổ các sông lớn ở phía Bắc, về lịch sử đều thuộc “về Trung-quốc”. Khi nói tới Trung-quốc trong cuốn “chủ nghĩa Tam Dân”, Tôn-Dật-Tiên thực ra nghĩ tới một đại Trung-quốc bao gồm toàn bộ lãnh thổ của các nước trước đây các hoàng đế Trung-hoa đã xâm chiếm. Tôn-Dật-Tiên nói: “Hiện nay Trung-quốc chưa đủ mạnh để lấy lại những vùng đất đai đã mất… Nền văn hoá của chúng tôi lâu đời hơn nền văn hoá phương Tây tới 2000 năm. Chúng tôi sẵn sàng chờ đợi các ngài tiến lên và đuổi kịp chúng tôi, nhưng chúng tôi không thể lùi bước và không thể để các ngài kéo chúng tôi lại”…
Những người kế tục sự nghiệp của Tôn-Dật-Tiên kể cả Tưởng-Giới-Thạch lẫn những người tự xưng là cộng sản sau này, tuy bất đồng ý kiến về các vấn đề chính trị và tư tưởng nhưng đều thống nhất với quan điểm của Tôn-Dật-Tiên về “thuyết bành trướng do định mệnh” (Manifest Destiny) – Một học thuyết của Mỹ vào thế kỷ 19, theo thuyết này Mỹ có quyền và có nghĩa vụ phải bành trướng ra khắp lục địa Bắc Mỹ.
Tưởng-Giới-Thạch trước đây cũng đã thấy lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung-quốc vượt khỏi biên giới hiện nay của Trung-quốc tới tận giữa châu Á. Dưới thời Tưởng-Giới-Thạch bọn chúng đã tuyên bố : diện tích “đất đai đã mất” của Trung-quốc lên tới con số 4.009.093 km2 do các nước Nga, Nhật, Pháp và Anh chiếm đóng.
Chịu ảnh hưởng của sức mạnh văn hoá cổ đại của Trung-quốc, các nhà lãnh đạo trong giới cầm quyền ở Bắc-kinh luận “Trung-quốc ngày nay phát triển lên từ nước Trung-hoa trong lịch sử…nên chúng ta không thể tách rời toàn bộ quá khứ lịch sử của mình. Chúng ta phải tổng kết lại từ Khổng-Tử đến Tôn-Dật-Tiên và kế thừa di sản quý báu này”. Họ đã nêu cao quan điểm dân tộc của Tôn-Dật-Tiên. Năm 1936 khi nói chuyện với E.Xnâu, người lãnh đạo của Trung-quốc đã nói: “Nhiệm vụ cấp thiết của Trung-quốc là giành lại lãnh thổ đã mất…Cộng hoà ngoại Mông sẽ đương nhiên trở thành một bộ phận của Liên bang Trung-hoa, theo nguyện vọng của họ. Các dân tộc A-xba-mét và Tây-tạng sẽ hình thành những nước Cộng hoà tự trị, trực thuộc Liên bang Trung-hoa.
Những vụ xung đột biên giới , xâm phạm chủ quyền của các nước là sự minh hoạ hoàn toàn rõ ràng cho chủ nghĩa bá quyền và là một biểu hiện khá tiêu biểu cho thực chất quan điểm của Trung-quốc đối với các quan hệ quốc tế. Người ta đã tính rằng trong khoảng 20 năm gần đây, số lượng những vụ tranh chấp, va chạm và xung đột vũ trang ở biên giới với những mục đích ấy trên tất cả các biên giới của Trung-quốc đã vượt quá tổng số những vụ rắc rối tương tự trên toàn thế giới.
Những cuộc xung đột biên giới Trung-quốc – Ấn-độ năm 1956 và 1962, những cuộc xung đột biên giới Xô-Trung năm 1969 đều có nguyên nhân về lãnh thổ như thế. Những năm gần đây việc các lực lượng vũ trang Trung-quốc chiếm quần đảo Hoàng-sa và mưu toan chiếm quần đảo Trường-sa của Việt-nam, việc yêu sách lãnh thổ đối với Cộng hoà nhân dân Mông-cổ và việc các “tàu đánh cá” vũ trang của Trung-quốc tiến vào vùng đảo Sen-ka-ku của Nhật-bản… đều nói lên đầy đủ tham vọng nước lớn của những người lãnh đạo Trung-quốc.
Để chứng minh cho những yêu sách về lãnh thổ đối với các nước khác, hiện nay cũng như những năm trước đây, ban lãnh đạo Trung-quốc đã sử dụng rộng rãi những luật điệu do chính họ bày đặt về sự “bất công lịch sử” của các biên giới Trung-quốc và về cái gọi là “các vùng tranh chấp”. Trong trường hợp thứ nhất, họ tuyên bố rằng xưa kia những vùng đất này hay đất khác dường như thuộc về Trung-quốc nhưng sau đó bị tách ra khỏi nước này. Trong trường hợp thứ hai, Bắc-kinh ghi lên những bản đồ của mình một bộ phận lãnh thổ nào đó các nước láng giềng như là của mình, mà phía khác tất nhiên không thể đồng ý được. Nói cách khác, những kẻ bành trướng Bắc-kinh đang hành động theo nguyên tắc của tất cả những kẻ xâm lược: “Phải đưa cho ta cái mà mày có, bởi vì ta coi cái đó là của ta”.
4) Mô hình Bắc kinh và những dã tâm của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc.
Chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc bộc lộ nguyên hình và đầy đủ trong hình mẫu nó đã thực hiện được đối với Cam-pu-chia trong những năm 1975-1978.
Nhân loại lại một lần nữa chứng kiến sự tàn bạo của thế lực phản động đối với đời sống của con người và các dân tộc trước những đau khổ do chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc đã gây ra đối với nhân dân Cam-pu-chia.
Cam-pu-chia là một dân tộc chỉ có gần 8 triệu người trên bán đảo Đông-dương. Nhưng dân tộc Cam-pu-chia đã có thời kỳ lịch sử huy hoàng của nền văn minh Ăng-co, một trong “7 kỳ tích của thế giới” như nhân dân thế giới đã đặt tên một cách tự hào.
Cùng với các nước Việt-nam và Lào, nhân dân Cam-pu-chia cũng có những trang lịch sử kề vai sát cánh với nhau chống lại chủ nghĩa thực dân Pháp, và chủ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ.
Ngày 17-4-1975 cùng với thắng lợi của nhân dân Việt-nam và nhân dân lào, nhân dân Cam-pu-chia đã đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ, giành được độc lập và tự do hoàn toàn cho dân tộc.
Nhưng đau đớn thay, cũng chính từ ngày ấy, đáng lẽ là sự bắt đầu của một thời kỳ mới về đời sống hạnh phúc thật sự của nhân dân vừa giành được độc lập tự do, nhân dân Cam-pu-chia lại bị bọn phản động tay sai của các thế lực bá quyền, bành trướng Trung-quốc dìm sâu trong những thí nghiệm về một chế độ xã hội theo kiểu của bọn phản động Bắc-kinh.
Đó là một chế độ hà khắc, mà uy quyền chỉ có trong tay Ăng-ka, chuyên quyền, độc đoán muốn sao được vậy, bất chấp mọi quy luật khách quan của xã hội, của kinh tế, chính trị của đời sống thực tế của con người ngoài những quy định hà khắc và độc đoán của Ăng-ka. Chính vì vậy từ một dân tộc có gần 8 triệu người, chỉ với thời gian từ năm 1975 đến khi cách mạng thành công ngày 7-1-1979 nhân dân Cam-pu-chia thực tế không còn nổi trên 4 triệu người. Ba triệu con người đã bị giết thảm hại quẳng trong những hố chung hàng nghìn người, hoặc chăm bón cho những cây cao su làm giàu cho bọn bá quyền Trung-quốc.
Với cái tên gọi đẹp đẽ “công xã nhân dân”, đó thực tế chỉ là những trại giam của những người nô lệ. Với những mục tiêu “thực hiện triệt để chủ nghĩa cộng sản, chống triệt để mọi tư hữu”, đó là chế độ xoá bỏ tiền tệ, chợ búa, thực tế chỉ là chế độ lao động nô lệ, hà khắc, bất chấp mọi quy luật kinh tế, chính trị và xã hội. Bọn phản động theo chủ nghĩa bá quyền, bành trướng đã thí nghiệm ở đây một chế độ xã hội hoàn toàn không còn đời sống bình thường của xã hội vốn rất phức tạp và nhiều hình, nhiều vẻ. Từ chủ nghĩa tư bản, loài người đã muốn thoát khỏi sự áp bức bóc lột giai cấp, đã ra đời chủ nghĩa xã hội không tưởng. Chủ nghĩa Mác đã tìm ra được quy luật và xác định rõ quá trình chuyển biến từ xã hội tư bản sang chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản với mọi quy luật khách quan của nó. Bọn phản động bá quyền, bành trướng Trung-quốc ngày nay lại muốn tìm ra một thứ “chủ nghĩa xã hội triệt để” khác với chủ nghĩa Mác, thực tế chỉ là sự độc đoán chuyên quyền của thế lực độc quyền phản động nhất theo kiểu “Nhà nước độc quyền đế quốc chủ nghĩa”, “Nhà nước chuyên chế phong kiến và Nhà nước tàn bạo của chủ nô”, đưa con người trở lại cuộc sống nguyên thuỷ dưới sự thống trị của các thế lực độc đoán, chuyên quyền.
Đó là chế độ xã hội mà trong đó con người hoàn toàn bị chà đạp, không có đời sống riêng, không có hạnh phúc, không có gia đình, vợ chồng, con cái…con người thực tế chỉ là những công cụ lao động khắc khổ không khác gì “công cụ biết nói dưới thời nô lệ”.
Đó là những trang sử đen tối của dân tộc Cam-pu-chia dưới sự thống trị của chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc. Đây là bài học nhớ đời của dân tộc Cam-pu-chia đấu tranh vì độc lập tự do của mình. Đối với nhân dân thuộc khu vực Đông Nam châu Á, đây là một hình ảnh sinh động kêu gọi sự thức tỉnh của mỗi dân tộc, mỗi con người biết tôn trọng nền độc lập tự do của mình và của người khác phải biết cảnh giác trước những lời ngon ngọt của bọn bá quyền, bành trướng Bắc-kinh.
Mô hình Bắc-kinh ở Cam-pu-chia là sự thể hiện đầy đủ chủ nghĩa bá quyền, bành trướng nước lớn của Trung-quốc, được thực hiện đối với một dân tộc. Mọi hậu quả nghiêm trọng của nó đối với dân tộc ấy, tuy rằng ngày nay loài người mới biết một phần của nó cũng đã đủ vạch trần bộ mặt thật phản động và tàn ác của tập đoàn theo chủ nghiã bá quyền, bành trướng Trung-quốc.
Với những đầu óc tiêm nhiễm nặng nề chủ nghĩa dân tộc bá quyền nước lớn, mọi dân tộc khác chỉ có thể là lực lượng phải chịu sự đồng hoá và thuần phục. Đời sống của con người và cả một dân tộc cũng chẳng có ý nghĩa gì trong mọi tính toán điên cuồng và tàn nhẫn của họ. Chế độ xã hội loài người trên trái đất chẳng có thể có quy luật gì ngoài quyền lực sắt thép của họ: đời sống của loài người với chế độ xã hội theo tính toán của họ chỉ có thể là bá quyền của nước Trung-hoa trung tâm của thế giới và chủ nghĩa dân tộc nước lớn của họ.
Mỗi dân tộc đều có độc lập chủ quyền và nguyện vọng chân chính của mình chăm lo đến đời sống ấm no hạnh phúc của dân tộc mình tự quyết định lấy hiện tại và tương lai của dân tộc mình với sự giúp đỡ chân thật của các dân tộc anh em phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại ngày nay, chống lại mọi sự can thiệp thô bạo của các thế lực nước ngoài.
Đó là vấn đề nóng hổi của các nước trong khu vực Đông Nam châu Á cũng như của các dân tộc đang đấu tranh vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.
Song, cũng rất rõ ràng là với chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc, không thể có ổn định và tiến bộ xã hội của các nước trong khu vực Đông Nam châu Á, nếu không chống lại chủ nghĩa bá quyền, bành trướng Trung-quốc, thực tế đã và đang tạo ra những tác hại nguy hiểm đối với đời sống các dân tộc trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co