Chương 2
Thu về. Gió heo may hiu hiu thổi, hanh khô, se se lạnh. Từ nhỏ thể trạng Cúc đã ngại lạnh. Nhưng cũng không vì thế mà rúc mãi trong chăn. Cúc chớp chớp hàng mi mỏng. Mặc đôi mắt lim dim còn đọng cơn ngái ngủ, nàng cố thức dậy, với tay lấy thêm chiếc áo ngoài. Mỗi ngày khi thức giấc, theo thói quen nàng đều sẽ ngược mạn đông bắc quả núi khoảng bốn dặm có hơn để mang nước về tưới tắm cho đủ loại cây thuốc trồng quanh nhà.
Nói Cúc sống khu biệt thì hơi chưa đúng, mà nói sống hòa nhập lại càng sai. Cúc quen với cuộc sống ẩn dật trong núi rừng đến độ chỉ có thể gắn mình với nơi đây, hít thở không khí ở nơi đây. Mặc cho bao lời khuyên gỡ rằng hãy xuống miền xuôi mà sống. Chắc có lẽ biết ý muốn của nàng khó lòng lay chuyển nên những lời khuyên cũng dần vơi đi.
Uống một bát nước, Cúc nhẩm tính không biết hôm nay bác Phát có mang cung lên săn thú hay chăng? Để mà nàng còn chuẩn bị thêm một phần cơm, một ít nước để bác nghỉ chân cho khỏe. Tính ra hết, hẳn là ngày mai bác mới đi săn nhưng nhỡ đâu bác đi sớm ngay hôm nay. Nghĩ cẩn thận mãi, cuối cùng Cúc quyết định cứ chuẩn bị sẵn đã. Cùng lắm nếu không ai đến thì nàng ăn thêm một phần.
Thay một bộ y phục mới toanh màu hồng phớt, Cúc vấn lại tóc, chải chuốt gọn gàng. Nàng cắp cái nón thúng đội đầu đỡ nắng, khoác thêm một cái áo ngoài nâu gụ. Đoạn mở cửa ra sân đặt cố định một miếng đệm vải lên vai trái rồi để đòn gánh lên trên móc hai cái thùng rỗng vào.
Trước đây, khi Cúc mới đến ở, xung quanh đều không có đường, chỉ toàn những cây là cây. Nhưng đến bây giờ, những hướng mà nàng quen thuộc, đi nhiều đi miết thành ra trông như cỏ giạt ra hai bên, chính giữa là con lối rõ ràng.
Cả trồng thảo dược, cả sắc thuốc, cả gánh nước bên suối, Cúc đều sẽ dành ra một sự cần mẫn nhất định để làm. Nói không ngoa thì Cúc cần mẫn đến độ thành thục sự cần mẫn.
Đến con suối ở phía đông bắc, nước cũng đã múc xong hai thùng nhưng nàng chưa vội về ngay. Men ngược theo dòng nước, nàng đến thượng nguồn nơi thác đổ. Lúc nào nàng cũng sẽ ngồi đây thêm ít lâu để nghe tiếng róc rách suối chảy vang vọng cả cánh rừng. Người vội vã hoặc cả giận nghe tiếng suối kêu như thế chắc hẳn sẽ cảm thấy ầm ầm inh tai. Còn người thong dong thanh tâm tĩnh như Cúc thì lại thấy thứ tiếng ấy trong trẻo và tràn đầy sức sống. Nếu có thể Cúc ước mình trở thành một giọt nước, để hòa vào đây, để luồn nước đưa nàng vi vu đại ngàn mà thăm thú.
Tán lá của những cây bạch đàn xanh um, chồng lấn lên nhau giành ánh sáng. Những sắc xanh dày đặc tầng tầng lớp lớp khiến tia nắng len lỏi lắm mới tìm được một khe hở mà rọi xuống đất rừng. Sống ở đây nhờ thu mình dưới những tán lá mà mùa hè dẫu nắng có đổ lửa như thế nào cũng chẳng mảy may ảnh hưởng.
Chợt, Cúc nghe một tiếng nước đặc rơi từ trên cao xuống. Ngó nghiêng xung quanh mới phát hiện thì ra là con chim ất ơ nào đó vừa thả "hoàng kim" xuống đây. Như để tạ lỗi cho hành động thất thố của mình, một bầy chim ríu rít hót vang. Chúng vừa đập cánh, vừa chi chít hót. Chúng vờn đuổi nhau trên những tán lá rộng, rồi lại vút hẳn qua tầng cây bay lên bầu trời. Một con thích đuổi, một con thích khích, hành động đó như thể trêu ghẹo nhau cho thỏa thích vậy. Trông chẳng khác nào bọn trẻ con cùng nhau chơi đùa trên một bãi đất hoang.
Trong rừng cũng có vài cây cổ thụ, rễ mọc gồ ghề cả lên mặt đất. Khi chưa quen Cúc còn hay bị vướng phải, rồi lại quàng phải dây leo chằng chịt. Hẳn là lúc đó trông gàn dở không gì bằng. Cũng may quen rồi nên mọi thứ đi vào ổn định, nàng không còn như thế nữa. Thậm chí có những cái bẫy thú do thợ săn đặt nàng cũng tinh mắt nhận ra.
Lại nói, có bao nhiêu thợ săn nhưng Cúc lại chỉ thân với bác Phát là vì ngày trước bác cứu mạng nàng những hai lần.
Một lần khi Cúc mới bảy tuổi, trẻ người non dạ bản tính ham chơi. Cúc leo tót lên ngọn cây sồi rồi không thể xuống được. Một con rắn lục đuôi đỏ không biết ở đâu chồm tới. Nó thè lưỡi ra, sau đó còn khoe cả hai cái răng nanh nhọn hoắc khiến Cúc thất kinh muốn bất chấp nhảy xuống. Cúc chợn nghĩ răng dài như thế, nhọn như thế mà cắm phập vào thịt da mình... cảm tưởng như lông tóc toàn thân đều dựng đứng. Nó càng tới gần, Cúc càng cuống, đến nỗi bật ngửa người. Cố dùng hai tay mà bấu víu, Cúc chao đảo thế nào rồi thành ra cành cây móc vào áo. May thay vải tốt, Cúc chưa rơi xuống hẳn mà bị treo lủng lẳng trên cây.
Bác Phát tình cờ đi săn ngang qua, thấy được tình thế éo le của Cúc thì thương tình cứu giúp. Bác nhanh tay lắp tên vào lẫy nỏ, nhắm chuẩn cái áo Cúc mà bắn. Lúc đó Cúc chỉ còn nước cầu Trời Phật cho bác nhắm trúng, để rời khỏi con rắn độc này.
Tên vừa vút khỏi, bác nhanh tay quăng nỏ xuống đất rồi chạy đến chỗ Cúc sắp rơi xuống để ôm lấy. Và thế là Cúc may mắn giữ được mạng.
Lại một lần khác, Cúc chạy chơi trong rừng lúc chập tối. Nghe người ta kháo nhau rằng buổi đêm trong rừng xuất hiện mấy con ma màu xanh lơ lửng, Cúc cũng tò mò muốn xem thử. Vậy là khi cả làng đi ngủ, Cúc thắp cái đèn lồng con một mình đi lên rừng.
Gió đêm từ biển thổi lên khiến Cúc không khỏi ớn óc rợn người. Tay Cúc co quắp, giật giật như thể mắc phong. Đi một lúc mà chẳng thấy con ma nào, Cúc hối hận muốn quay về nhưng đã muộn. Trời tối như thế này thì làm sao mà tìm được lối ra. Vừa run vừa sợ, Cúc òa khóc. Một chút lý trí còn sót lại trong Cúc thì mách bảo rằng khóc cũng chẳng được ích lợi gì, không tìm được đường ra, cũng không thấy được ma. Vậy nên Cúc đứng dậy và tiếp tục đi trong đêm tối, miễn là gặp một hai thứ kia thì đều được.
Họa không cảnh báo trước mà ập đến. Cúc giẫm phải bẫy thú rừng của thợ săn. Cúc hụt chân hoảng vía, hồn phách phiêu lạc. Cái đèn con cũng theo Cúc văng xuống hố. Nhưng chẳng được bao lâu thì nó cũng tắt rụi. Bên dưới lớp lá tưởng chừng như bình thường và vô hại, lại có một cái hố to cắm đầy chông gỗ. Đầu chông được vót nhọn hoắt, cây nào cây nấy kích cỡ gần như nhau. Khi ấy thân người Cúc nhỏ thó, thiếu chút nữa là may mắn lách thoát được hoàn toàn. Lúc hoàn hồn trở lại mới thấy cơn đau từ bụng âm ỉ truyền tới. Hóa ra dù đã lách, một phần da thịt Cúc vẫn rơi vào tầm ngắm của chông nhọn. Chông đâm từ lưng, lệch về phía bên trái. Vết đâm không quá sâu bởi Cúc đã kịp thời dùng hay tay chống xuống nền bằng. Vì rơi sát vách nên Cúc có thể lợi dụng khoảng cách ít ỏi ở vách hố mà thoát khỏi cái thế lửng lơ này. Cố giữ lại bình tĩnh, Cúc huơ chân mò mẫm xem có thể đáp thân xuống được hay không. Sau cùng, Cúc nhích nhẹ thân ra khỏi chông, văng nghiêng xuống.
Đầu óc loạn đảo, Cúc nghiến răng, khẽ rít lên một tiếng kêu đau. Mảng áo sau lưng đã trở nên ướt đẫm. Cúc nằm im phăng phắc không thể động đậy để xem thương tích nông sâu. Các ngọn chông cứ san sát nhau, có muốn xoay trở cũng khó. Đành thôi, Cúc phó mặc số kiếp cho trời vậy. Hoặc là Cúc sẽ sớm được cứu khỏi hố. Hoặc là sẽ bị mất máu cho đến chết ở đây. Hoặc xui xẻo hơn, Cúc có thể gặp thú rừng hung tợn, bị xé xác trong đau đớn và nhơ nhớp máu.
May thay bác Phát kịp thời đến cứu Cúc ra khỏi hố chông. Nhưng khi ấy do kiệt sức, máu lại cứ rỉ mãi không thôi nên Cúc đã bất tỉnh nhân sự. Cái hố không quá sâu, chỉ chừng một thước. Do đó một cánh tay bác Phát cố rướn lên đã có thể chạm tới thân người Cúc bên dưới. Bác cẩn thận cuốn Cúc vào trong cánh tay, nâng nó lên từ từ, thoát ra khỏi cái hố.
Chả là ban tối khi đang ngồi hóng gió đêm bác vô tình thấy bóng một đứa trẻ con, đoán có lẽ là Cúc, một mình xách đèn đi vào rừng. Lòng cứ bồn chồn sợ con bé xảy ra chuyện, bác đi theo chân xem nó định làm trò gì. Đi được một đoạn thì bác mất dấu Cúc. Trời tối như thế hẳn là nó không tìm được đường ra, chỉ có thể bị lạc. Thế là bác lại nài lưng ra tìm kiếm con bé.
Thấy vết thương có vẻ nghiêm trọng. Bây giờ hoặc bế, hoặc cõng nó về làng đều sẽ khiến cho vết thương dễ rách to, càng thêm đau điếng. Thiết nghĩ ở đây mà đi đến cái lán nhỏ bác thường nghỉ chân có lẽ gần hơn, bác Phát liền bế Cúc vào lòng rồi nhằm hướng ấy thẳng bước. Chỉ mong Cúc bình an mà thoát được kiếp nạn này.
Khi Cúc tỉnh lại, bác Phát đã giúp cầm máu tự lúc nào. Vết thương tuy còn đau nhưng không thống thiết như lúc mới bị đâm vào nữa. Cúc đang nằm sấp trên chiếc chõng tre nhỏ. Cúc chống tay, định ngồi dậy nhưng không sao ngồi được, còn đau quá.
"Mới có từng tuổi đấy mà học đòi vào rừng. Cháu chẳng cần sống nữa chắc?"
Bác Phát dằn cái nỏ xuống cạnh cái chõng đột ngột khiến Cúc giật thót. Giọng hậm hực nhưng Cúc vẫn nghe ra phần lo lắng và phần vui mừng ẩn bên trong.
Cúc cười xòa:
"Cháu cảm ơn bác. Bác đừng giận cháu mà. Cháu thấy có cái chum nước kìa, bác uống đi cho hạ hỏa. Khốn nỗi cháu đang thương tích đầy mình không thể dâng bác bát nước cảm tạ này được."
"Mày còn nhỏ mà dẻo mồm dẻo miệng!"
Dẫu còn đau nhưng Cúc vẫn giữ nguyên nét cười trên khuôn miệng nhỏ. Đoạn, Cúc nhìn xuống thấy mình vẫn mặc bộ y phục buổi đêm dính đầy bùn đất và rách rưới. Như bắt được ánh nhìn của Cúc, bác Phát giải thích:
"Cháu lớn rồi, bác không thể hành xử tùy tiện được. Bác chỉ rạch cắt đi phần áo chỗ vết thương bị chông đâm sau lưng để giúp cháu xử lý. Những chỗ khác có xem qua nhưng cũng chỉ sây sát nhẹ, không đáng kể."
Bác Phát vừa đi ra ngoài lán, trở về trên tay đã cầm theo một quả bưởi chín. Nhìn điệu bộ thèm thuồng của đứa cháu không có họ, bác hài lòng bóc vỏ đưa tới miệng nó.
"Đi đứng được chưa? Bác đưa xuống núi."
Nghe xong, đột nhiên mặt Cúc lại hiện lên một nét đăm chiêu. Bác Phát vẫn đợi Cúc lên tiếng.
"Hay là... bác cho cháu ở cái lán này luôn nhé? Sau này cháu xây thành nhà, ở luôn cũng được."
Bác Phát cũng phát lây với cái sự đăm chiêu kia, đoạn phá lên cười:
"Khiếp! Ở đây buồn chết đấy con dở!"
Mặc tình trong mắt bác Phát mình trở thành đứa dở người, Cúc vẫn thực sự muốn lưu lại đây, sinh sống ở đây. Đường trong rừng thì đi mãi cũng nhớ, ăn uống thì không phải lo vì biết bao nhiêu động thực vật rừng. Theo Cúc nghĩ thì có lẽ vẫn sống được.
Thật ra thì từ nhỏ Cúc đã mồ côi. Lớn lên trong tình yêu thương của dân làng là một điều khiến Cúc hạnh phúc. Nhưng cuộc sống không thể cứ mãi nay ăn ở nhà này, mai ngủ ở nhà nọ. Cho tới một ngày Cúc ý thức được bản thân đang làm phiền tới cuộc sống cá nhân của những người cưu mang, Cúc nghĩ ra một cách sống khác. Ban ngày làm lụng như bao người. Có hôm đi nhặt củi, có hôm đẩy xe hàng hộ, hôm khác xin theo thuyền chài. Ban đêm Cúc ngủ bừa con thuyền nào đó neo bãi. Sáng dậy thấy mình thức giấc giữa mặt biển, lâu ngày cũng hóa ra chuyện thường tình.
Trước khi cho Cúc chuyển hẳn lên rừng sống, bác Phát dặn Cúc đến chỗ thầy Cả mà học chút võ cho có vốn trong người. Sở dĩ Cúc gọi "thầy" bởi hồi bé bắt chước hai anh con trai của ông mà gọi. Thêm nữa lại nghe đám trẻ trong làng nheo nhóc lẽo đẽo theo ông gọi thế. Thành ra quen lối gọi luôn. Mãi sau Cúc mới biết, hóa ra chữ "thầy" ấy mang hai ý nghĩa khác nhau.
Thầy Cả bị mất cánh tay trái khi còn là một tướng sĩ. Nghe bảo trước kia thầy vô cùng oai vệ, chí khí hừng hực lại còn tốt bụng. Sau khi quay về thì bỗng dưng trái tính trái nết, rất hay gắt gỏng. Chiến tranh là một cái hố đen trong tâm thức của thầy. Còn chiến trường là một con kỳ thú độc ác. Nó ngoạm lấy cánh tay của ông lão ngày đó vẫn là một thanh niên. Nó đan tâm cuỗm mất lý tưởng hoài bão, biến ông trở thành tàn phế.
Dù nhiều phần sợ hãi nhưng Cúc vẫn lấy hết can đảm xin theo học võ. Mưa dầm thấm lâu, hoặc do ông lão không chịu nổi con bé suốt ngày leo nheo ong cả tai mình nên đành dạy cho nó vậy.
Còn sau đó, cuộc sống mai danh ẩn tích của Cúc bắt đầu... được nửa năm.
Vốn cuộc sống rất yên bình nhàn hạ. Nhưng rồi nhàn quá Cúc lại đâm ra phát chán. Cúc tự chong đèn mà nghiên cứu dược liệu, bắt đầu trồng thảo dược quanh nhà. Còn dư dả thời gian thì chuốt làm vài tấm phên nứa để phơi dược liệu, đẽo cây đóng hộc đựng thuốc.
Một lần chữa trị cho anh đốn củi không may bị rắn cắn. Tiếng thơm đã truyền khắp gần xa. Thêm rất nhiều lần khẳng định khả năng chữa trị, nhiều năm sau Cúc đã được trân quý gọi là Cúc Trong Rừng.
"Hoa cúc không sợ thu sương
Để màu ẩn dật, mùi hương đậm đà."
...
Áng chừng nửa canh giờ, Cúc lại vác đòn gánh lên vai quay về. Những tưởng hôm nay sẽ ăn gấp đôi mọi ngày, nào ngờ có một vị khách lạ mặt đến nhà mà không hẹn trước.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co