Cậu khóa Nam (2)
Thường thì loanh quanh nửa năm tổ chức đại khoa (1) là lúc các anh khóa học hành nhàn nhã nhất, bởi anh nào đã trượt cử nhân thì đương độ nghỉ xả hơi, anh nào còn học ở trường mà chưa đi thi cũng thư thả hẳn vì mấy ông đồng học giỏi giang đều bận thi Hội thi Đình khuất mặt hết cả nên các thầy dạy cũng từ tốn chậm rãi hơn nhiều. Riêng anh khóa Nam từ ngày hỏng tam trường lại lao đầu vào đèn sách có khi còn hơn cả các anh cử mới; sang năm sau nghe huyện mở Khảo (2) là ghi danh ngay tuyển đầu. Anh tam Nam còn tính rằng Khảo khóa biết đâu mở túc tắc vài kỳ, hỏng kỳ này anh thi lại kỳ tới cho chắc chắn. Mà cuối cùng anh khóa sáng dạ cần cù như thế cũng hái được quả thơm, tên ghi đầu sổ cũng đỗ luôn đầu xứ (3). Đến cụ cống An Hiên cũng phải bất ngờ vì nháy mắt cái trò mình đã tiến bộ lên cả chục bậc chứ chẳng phải vừa.
Cụ Lý thu trước nghe cậu tam Nam hứa hẹn khoa sau thì hồ hởi động viên rằng ắt sẽ được, nhưng thực lòng cụ cũng chẳng dám mong xa. Thế mà ngay đông tới tam Nam mang cái hiệu đầu xứ về làm cụ bỗng nhiên lại trông chờ hơn hẳn, còn ngày ngóng đêm mong ông hoàng bà hậu (4) có sự gì mừng rỡ để ra hội ân khoa (5) cho các cậu khóa rục rịch lều chõng nhanh nhanh.
Cậu khóa Nam đang chí khí ngút trời thì lại càng háo hức. Trước đã hay qua lại nhà nghè tú, nay cậu còn sang thường hơn - không phải sáng học về tiện đường qua ăn trưa thì là tối xong cơm nhà buồn buồn sang đọc sách. Thầy tú tiếp mãi phát oải, bèn giơ hai tay qua đầu mà hời hợt bảo: "Tôi mới đỗ tú tài thôi anh khóa ạ, không dạy nổi để anh đỗ cử nhân đâu."
Khóa Nam nghe cũng thấy xuôi, bèn chuyển sang le ve quanh nghè Thạch. Bác nghè chưa biết có kiên nhẫn hơn không, nhưng nhẹ nhàng thì rõ là hơn hẳn, cậu khóa hỏi câu nào cũng được bác đáp cặn kẽ tận tình. Ngặt cái là nghè Thạch vừa nhậm chức mới, lúc nào cũng bù đầu bù cổ nên chẳng mấy khi ngẩng lên cho khóa Nam nhờ. Anh khóa nghĩ mấy hôm không ra cách nào vừa tình hợp lý mới đành xếp bằng thỏ thẻ trước bàn của nghè Thạch: "Hay bác dạy cậu hoàng (6) cái gì thì dạy em cái đó?"
Thầy tú ở gian cạnh nghe thấy thì nắc nẻ với vào: "Cậu hoàng vừa qua năm tuổi được ba tuần..."
Bác nghè cười rung cả tay đành phải nhấc bút, lắc lắc đầu ra vẻ cám cảnh thân mình rồi đãi đằng nốt thay người bên cửa: "... chứ tôi tài đức phước phần đâu mà được dạy cậu hoàng cả? Thế anh khóa có muốn học Tam tự kinh (7) chăng?"
Khóa Nam nghĩ chẳng lẽ mình đành chịu thua hết cách, bèn loanh quanh một chốc nữa rồi ra ngồi đong đưa ngúc ngoắc trên cái võng đào (8) trong nhà chính. Được dăm ngày thì cậu khóa phát hiện rằng ăn vạ kiểu này cũng được việc; dù chẳng biết bác nghè thấy cậu lơ vơ mãi nên thương hay cậu trông thê thảm quá làm vui cho thầy tú mà bác với thầy đi ra đi vào lại chiếu cố ghé qua xem bài cho cậu. Bác nghè dạo ấy không còn ngày nọ ngày kia mà bữa nào cũng về, thế là cậu lại càng sang thường hơn nữa, lắm lúc còn kéo cả khóa Khoa sang cùng, chỉ thiếu điều ở nhờ bên ấy. Thầy tú thi thoảng lại than thở hoặc xỏ xiên mấy câu, nhưng trong lòng cũng chẳng thấy phiền hà gì, mà thậm chí hôm nào không thấy cậu khóa sang còn nhớ nhớ.
Chỉ có một lần hơi phiền, đó là đợt cụ cống bị ốm nghỉ dạy non nửa tháng. Hai cậu khóa không đi học ở trường nên hôm thì làm khách ngủ luôn trên cái võng đào nhà nghè tú, hôm thì ngồi học đến tối om mới chong đèn về. Cứ suốt cả tuần như thế, thành ra bác với thầy mang tiếng là ở gần nhau nhiều hơn trước lại không làm ăn được gì. Mà hai cậu chắc bận văn thơ chăm chú quá nên không để ý rằng từ tối ngày thứ tư trở đi là thầy tú với bác nghè cứ liên tục bước tới bước lui, guốc mộc thi nhau đánh vào sàn lộc cà lộc cộc. Đến ngày thứ bảy thì trời mới tà tà bác nghè đã đứng khoanh tay dựa cửa mà thở dài ngao ngán: "Thế hai cậu có định về cho anh nhờ không?"
Hai cậu khóa một anh ngồi võng một anh ngồi sập nhất loạt ngẩng lên nhướn mày thắc mắc. Khóa Khoa hơi sững sờ đôi nhịp mới khẽ khàng dọn sách quyển, cũng nghe lời chuẩn bị cất gót nhưng vẫn hỏi lấy lệ rằng: "Hai bác sắp bận việc gì chăng?"
Cậu khóa nói bâng quơ thế, nào có ngờ nghè Thạch lại gật đầu chắc nịch đáp: "Hệ trọng vô cùng!"
"Việc gì hở bác? Hay để em ở lại phụ bác nhé?" - Khóa Khoa giờ đã vỡ lẽ nhưng vẫn tỏ ra ngơ ngác hỏi thêm.
Nghè ta chưa nghe ra ý đùa, lại cười hắt một tiếng rồi than: "Tôi đội ơn, anh khóa đi về giúp... Còn việc gì vào đây nữa?"
Cậu khóa Khoa lúc này mới cười toe toét, còn khóa Nam thì quyết không buông, cứ tủm tà tủm tỉm kêu: "Có việc gì bác nói rõ ra em mới yên tâm về chứ!"
Bác nghè vừa kịp hiểu ra cậu kia bỡn mình thì đã thấy thầy tú vơ cái roi mây rồi xua cả hai anh khóa thẳng một đường ra khỏi cổng. Khóa Nam tay ôm sách, nách thì kẹp đôi guốc mộc mà vừa chạy vừa ngoái lại trêu: "Việc cấp bách lắm hai bác nhỉ?"
Thế là mấy bữa sau cậu khóa Nam không qua lúc tối trời nữa mà đổi sang khi còn nắng. Giờ ấy thi thoảng bác nghè mới có nhà, còn thầy tú thì bận dạy bọn nhóc ê a ngoài hiên nên hiếm lúc có người cho cậu khóa hỏi, nhưng cậu khóa vẫn thấy ngồi trên cái võng đào kia là học vào nhất. Bọn trẻ con cũng thích mê cái võng ấy mà lắm lúc chen không được để đu thì đứa phụng phịu đứa lè lưỡi không thèm chơi với khóa Nam nữa; thành ra khóa Nam ngoài bận học còn bận dỗ mấy đứa nhỏ gãy lưỡi mới xuôi.
Sang khoa sau khóa Nam đã đền bù cho đám nhóc ấy đầy đủ cả vốn cả lời. Anh Á nguyên thi Hương ngồi võng qua cổng làng một cái là xuống đi bộ ngay cho bọn trẻ con thay nhau lên hớn hở đung đưa; gần đến đình làng anh mới ngồi lại (9).
Lễ bái tiệc mừng xong xuôi hết cả, anh cử Nam còn xin cụ Lý cho treo cái võng ấy ở sân đình ít tuần, bảo là để trẻ con trong làng ngồi chơi, từ yêu thích rồi sẽ thêm say mê học hành thi cử. Cụ Lý sau bao năm mới được đón một anh Hương cống thì phấn khởi ra mặt, trông trẻ ra cả năm bảy tuổi; lại thấy anh cử mới làng mình rõ là túc học nên nói cái gì cũng hay, dù trước chưa có lệ nhưng cũng đồng ý cho việc ấy.
Bác nghè khen anh cử Nam lắm, phải công nhận tấm tắc rằng xếp võng cất trong đình thì phẳng phiu danh giá nhưng không hay bằng treo ra làm gương cho con trẻ; thế nhưng khi nghe anh cử mới giải trình thì bác lại thấy đến là buồn cười. Anh cử Nam nói rằng mình nhờ được phước từ cái võng đào nhà bác nên vừa thi đỗ là nghĩ ngay ra cách ấy, bác mới vỗ vỗ anh rồi nhẹ giọng thú thật rằng cái võng kia không phải võng bác vinh quy mà là do bác xin được...
Anh khóa Nam tẽn tò một thoáng, nhưng chốc sau nghe bác kể thì thấy cũng đâu đến nỗi nào, đều là ân tứ cả.
Chuyện là những vật vinh quy của bác nghè rải đủ khắp chỗ - võng lọng bác để lại đình làng Cửu An khi về bái tổ, biển bác treo trong nhà ở Gia Định, cờ thì bác mang ngược ra Thọ Xương khi bái trường thầy (10). Thế nhưng ngày ra Bắc mà không còn võng cũng không phải lễ, bác mới đành xin ngự ban thêm cái võng thứ hai rồi để luôn ngoài ấy. Việc lễ nghi từ lúc là cậu khóa đi thi đến khi là anh tân khoa đỗ đạt của bác nghè đều phức tạp, nhưng nhìn chung bác cũng đã tính cho trọn đạo hai nơi (11); chỉ có một điều bác nghè cứ canh cánh mãi, ấy là khi bác vào Gia Định lẫn ra Hà Thành đều có võng trước mà không có võng sau (12). Đến lúc yên ổn ở An Hiên, bác thủ thỉ với thầy tú thì thầy xua đi, bảo câu nệ làm gì cho khổ; nhưng bác nào xua đi được... May sao đại khoa trước vừa kết thúc, ông hoàng đã có thêm ba anh tân khoa vào làm mấy chuyện thư tịch mới gọi bác vào bổ việc dạy chữ cho cậu hoàng tam thì tiện miệng hỏi bác muốn được ban thưởng gì, bác vội xin ngay cái võng thứ ba. Ông hoàng mắng vui rằng tròn ba năm rồi còn chưa làm cho xong việc vinh quy ân tứ, song hẳn ông ấy cũng là đồng bệnh với cụ Lý làng này - sau bao năm mới đón được một anh Phó bảng Đàng Trong (13) nên dù trước chưa có lệ nhưng vẫn đồng ý ngay tắp lự.
Lúc nghè Thạch mang võng về, thầy tú xem xong thì xếp thẳng lại định cất đi. Nhưng nghè khăng khăng không chịu mà mang ngay ra nhà chính treo lù lù cho thiên hạ thấy.
Từ hôm biết rằng cái võng mình tưởng ngồi lên là được thơm lây tiếng ông Tiến sĩ Ất khoa hóa ra lại là chỗ để bác nghè khoe thầy tú của bác ấy, anh cử Nam ít ngồi cái võng kia hẳn. Chẳng phải anh ghét bỏ hay hờn giận gì, chỉ là biết chuyện rồi thì ngồi vào bỗng dưng thấy ngài ngại. Nhưng anh cũng thấy cái võng đào ấy quý, thế nên trước ngày khăn gói vào kinh thi Hội, anh cử Nam đã đề cho nó một bài thơ.
Bác nghè đọc khổ đầu bài mà không biết nên khen anh cử suy nghĩ thấu đáo nói thay lòng bác hay nên đập cho anh một cái vì dám nhè mặt bác ra mà chửi thẳng; đến lúc đọc khổ sau lại thấy nguôi nguôi. Còn thầy tú đọc khổ đầu thì thương bác nghè không để đâu cho hết, bèn tựa đầu miết miết dụi dụi vào áo bác; đọc khổ sau mới đắc chí cười khà khà nghĩ không uổng công thầy tiếp anh cử ấy mấy năm nay. Giống thế chứ lị!
Bài thơ ấy như sau:
* Mát mặt anh thay, thứ xĩnh xoàng!
Hiển vinh sao đặng mỗi mình mang?
Cám cảnh vinh quy trong danh rạng,
Võng anh đi trước, vắng võng chàng...
** Lụa đào giăng đỏ thắm chính gian,
Cho khách qua xem biết chồng chàng
Cóc thèm cao quý, chê danh rạng,
Mát mặt em thay, tiếng lòng vàng!
********
1. Đại khoa: Thi Hội và thi Đình tính chung là kỳ Đại khoa
2. Khóa: Kỳ hạch Khảo khóa ở địa phương, năm nào thi Hương thì Khảo khóa mới cần xong trước khi thi Hương 3 tháng còn những năm không thi Hương thì cứ từ từ mà tổ chức.
3. Đầu xứ: Đứng đầu kỳ thi Khảo khóa.
4. Ông hoàng bà hậu: Cách dân gian gọi vua và hoàng hậu (Hay nhờ nghe nó Việt Nam ghê í!)
5. Ân khoa: Khoa thi được tổ chức đột xuất do có việc vui mừng hoặc trọng đại gì đó của quốc gia, hoàng tộc. Còn lại các khoa thi 3 năm 1 lần gọi là chính khoa; ngoài ra còn có chế khoa - khoa thi lấy người đã đỗ tú tài (hoặc tương đương) trở lên đi thi nhằm tuyển chọn nhân tài cho việc nước, khó hơn chính khoa.
6. Cậu hoàng: Cách dân gian gọi hoàng tử. Chức vụ trong Hàn lâm viện từ Thị giảng, Thừa chỉ (tòng ngũ phẩm) trở lên thì có thể được tham gia giảng dạy cho hoàng tôn quý tộc. Nói chung là bác nghè được thăng chức đó, ban đầu Kiểm thảo là tòng thất phẩm.
7. Tam Tự Kinh: sách chữ Hán vỡ lòng dùng để dạy học cho học sinh mới đi học.
8. Võng đào: Võng màu đỏ.Đỗ cử nhân chưa gọi là lễ vinh quy, chỉ là đón rước trong quy mô làng xã.
9. Nghi lễ chung là cần qua cổng làng và đến đình làng, trường học, nhà thờ dòng họ và về nhà. Vậy nên khi qua những điểm ấy thì anh cử Nam ngồi võng cho đúng nghi thức. Võng này thường là võng làng chuẩn bị, không phải võng ngự ban.
10. Đây là lễ vinh quy bái tổ nè, tương tự cũng phải lễ bái các điểm ở chú thích (9). Tuy nhiên đình làng, nhà thờ và nhà bác Nghè ở Gia Định, trường lại ở Hà Thành nên phải đi ra đi vào. Ân tứ vinh quy bao gồm cấp phu (người cầm, bê đồ), võng lọng, cờ và biển. Cờ khác màu và chất liệu theo bậc đỗ, chữ thì ghi tên của bậc đỗ đó; biển thì giống nhau hết - màu đỏ khắc chữ vàng "Ân tứ vinh quy"
11. Giống kiểu thi cấp 3 mà trái tuyến thì phải làm đơn í, ghi danh thi Hương cũng vậy. Thường các sĩ tử đang sống ở vùng khác thì phải về trường thi khớp với nguyên quán để thi, nhưng đến thời Tự Đức thì có luật định rằng những người theo cha ông trấn nhậm phương xa có thể về nguyên quán thi, nếu đường xa bất tiện thì được thi tại nơi cư trú nhưng phải trình rõ để địa phương xét, nếu đã đỗ tú tài thì đơn giản hơn, chưa đỗ thì khắt khe phức tạp hơn. Vì vậy bác nghè lúc đi thi cũng phức tạp mà vinh quy cũng phức tạp.
12. Võng đi trước là võng của các ông tân khoa tiến sĩ, võng sau là võng cho các bà nghè (nếu có). Có câu thơ "Võng anh đi trước, võng nàng theo sau" hoặc "Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau" là tả cảnh vinh quy đó.
13. Nhìn chung Nho học ở phía Bắc thịnh hơn phía Nam. Tôi đọc có cảm giác các vua Nguyễn rất mong mỏi học sĩ ở phía Nam thi đỗ í =))).
Những khoa thi đầu thời Gia Long không có trường thi phía Nam.
Năm 1826 thi Hội có 206 thí sinh, lấy 9 tiến sĩ đều là người từ Huế trở ra, vua Minh Mạng đã nói rằng: "Nay thiên hạ một nhà, Nam Bắc đều là tôi con của trẫm, cho nên Nam hiền thì dùng Nam, Bắc hiền thì dùng Bắc, không phải có thiên tư. Vả lại học trò Nam Bắc đều là người ở trong giáo dục, học lực tưởng cũng không hơn kém nhau, thế mà nay 9 quyển đỗ đều là người Bắc là sao thế? Nên lựa lấy 1, 2 người từ Thừa Thiên vào Nam để cổ lệ sĩ phong mới phải".
Đến năm 1853, vua Tự Đức lại viết dụ rằng: "Gần đây trong Chế khoa, Hội khoa từ Quảng Bình trở về Nam, ít người trúng bảng. Trong đó từ Phú Yên đến Hà Tiên lại càng thưa thớt".
* Khổ 1 là thay lời bác nghè tự giễu mình. Hong biết chỗ khác thế nào nhưng ngoài Bắc hay kiểu "Đẹp mặt chưa?", "Mát mặt chưa?" - là đang chửi đó =)))
** Khổ 2 là thay lời thầy tú đáp lại rằng treo võng trong nhà mà không có võng lúc vinh quy càng khiến người xung quanh biết rằng thầy không phải vì danh lợi mà ở bên bác, thầy càng được tiếng tốt. Cái này "mát mặt" là mát thật, tự hào tự hào.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co