endless
1939.
Năm Crowley hai mươi bốn, Aziraphale vừa tròn đôi mươi. Họ yêu nhau lặng thầm, lén lút, thứ tình yêu thuở thiếu thời ấy trắng trong như hoa nhài và ngọt ngào như đường mía. Cả hai đều biết duyên tình mình không được chấp nhận, chẳng phải chỉ là bại hoại thuần phong, mà còn là địa vị xã hội vốn quá xa cách. Crowley chưa bao giờ ngưng cảm thấy thiệt thòi cho Aziraphale khi em yêu gã, một kẻ thuộc tầng lớp lao động, cái loại chắt mót lắm mới dám mua cho mình một đôi giày da thuộc. Còn Aziraphale chưa bao giờ ngưng cảm thấy thiệt thòi cho Crowley khi gã yêu em, một người thuộc tầng lớp trí thức thượng lưu, bị quản giáo nghiêm ngặt đến mức những lần họ lén lút gặp nhau chỉ được tính bằng vài giây vài phút. Aziraphale và Crowley vì vậy mà luôn sợ chẳng may một ngày người kia hết kiên nhẫn với mình, sợi chỉ đỏ mong manh giữa họ sẽ cứ thế đứt đoạn. Mỗi người một gánh nặng, mỗi người một nỗi lo, chồng chất, ứ đọng, ấy vậy mà chỉ cần mấy khắc bên nhau đã quên khoắng đi cả. Suốt mười hai năm ấy, yêu tin vững bền dường như đã làm lu mờ tất cả muộn phiền trung khúc, đến nỗi Aziraphale lẫn Crowley đều mù quáng trốn chạy thực tại đầy băn khoăn của mình.
Chỉ cho đến một ngày, Crowley muốn chia tay.
Aziraphale đã khóc nhiều đến mức không thở được. Em cố gắng níu kéo dù chỉ một hơi ấm quen thuộc từ người thương, nhưng cái nhìn nhận lại thật sự quá vô sầu vô cảm. Crowley chỉ mới vài ngày trước còn yêu em nhiều đến thế, còn mơ về mai sau nhiều đến thế, rốt cuộc chẳng biết vì điều gì mà đá đổ duyên tình một cách dứt khoát và lạnh lùng như vậy. Aziraphale gặng hỏi, gã nói mình chán rồi. Em chỉ đành buông.
Đêm về, em lại mơ thấy mình vào ngày thu năm ấy.
Aziraphale lên tám vẫn chưa một lần được bước ra khỏi cánh cổng nhà nặng trịch bằng thép đúc, nói chi đến chuyện chơi đùa với bọn nhóc trong thị trấn kia. Xuất thân từ một gia đình trí thức thượng lưu, Aziraphale có ngoại hình phải được miêu tả bằng mấy chữ thật mỹ miều là xinh đẹp và mềm mại. Em từ nhỏ đã sống trong sự bảo bọc quá mức của gia đình, thậm chí chẳng phải động tay vào bất cứ việc gì. Những thứ đó rèn giũa Aziraphale thành một cậu ấm quý tộc trang nhã, nhưng cũng có đôi khi em cảm thấy tủi thân cho sự kìm kẹp giống một con chim quý trong lồng, vốn được người người ca tụng nhìn ngắm nhưng chỉ thầm khao khát được bay đi. Cứ nghĩ đến năm lên sáu mình sẽ được gặp bạn bè trang lứa để cùng vui đùa, quấy phá, làm thật nhiều việc mà một đứa trẻ như em nên làm, thế mà bố mẹ lại quyết định thuê gia sư về để em được giáo dục tại gia. Cái tương lai tràn đầy màu sắc mà Aziraphale mơ ước rốt cuộc lại chỉ mang một màu vàng ố của sách vở khi em lớn lên với William Shakespeare, với Gregor Mendel, với Isaac Newton. Tiếng ve gọi hè rồi cũng như tiếng dế kêu đêm, chẳng gì sai biệt.
Ngày ấy, hạ tươm nắng vừa luyến lưu đi khỏi. Thu về cũng vậy thôi, có bao giờ Aziraphale ngưng học? Em yêu kiến thức, đúng, nhưng em cũng yêu thế giới trong những quyển tiểu thuyết truyền đời chất chồng trên các kệ thư viện đồ sộ kia, khiến nỗi lòng khắc khoải vì chưa từng một lần nhìn ngắm thế giới ấy ngày càng to lớn. Biệt viện không gì là thiếu, có cây, có hồ, cũng có bãi cỏ, chỉ là không ai Aziraphale có thể bày trò chơi cùng cả. Từng một bước đi, từng một cử chỉ của em đều được người hầu để mắt, đã từ lâu họ không còn đùa giỡn với em nữa. Aziraphale thở dài, em vừa đọc xong Hamlet, chỉ đành dành cả chiều ở dưới cây olive cổ thụ được trồng gần cổng rào thép đúc,
ngồi đếm lá rơi.
"Cậu trông... sạch."
Giật mình, Aziraphale xoay người lại. Ở bên kia cổng rào cao ngất là một cậu bé tóc đỏ, dưới trời thu không nhàn hạ sắc đỏ ấy lại càng óng ánh chói lọi như thể ngọn lửa đêm đông. Cậu ta có đôi mắt màu vàng mật, với chiếc mũi gồ ghề và cái cằm nhọn cứ hếch lên đầy ngạo mạn. Aziraphale thấy nắng ráng chiều chiếu lên người cậu ta sáng rực, mà cậu ta cũng chả quan tâm làn da đang bị xỉn màu đi mấy tông vì thế. Em tò mò tiến lại gần, vẫn không dời tia nhìn khỏi cậu bé tóc đỏ.
"Xin chào?" Aziraphale rụt rè nói.
Đây không phải lần đầu em tiếp xúc với con người, nhưng lại là lần đầu em tiếp xúc với "kiểu con người này". Từ bé Aziraphale đã được căn dặn rằng mình không nên ở gần họ vì trong lời nói của bố mẹ thì "dân đen chỉ là những kẻ đầy hôi hám và bẩn thỉu". Em nhìn cậu ta, nghiền ngẫm một chút, có cảm giác không đúng lắm. Quả thật từ đầu đến chân của cậu toàn là những thứ đồ sờn rách rẻ tiền, hơn nữa lại đầy cát bụi, nhưng Aziraphale cho rằng dù bị chặn bởi cổng rào thì em vẫn đứng gần đủ để ngửi thấy mùi cỏ dại tươi mát. Theo những gì em hiểu, cậu bé tóc đỏ thật ra chỉ "bẩn" một chút thôi, đó là lý do vì sao cậu ta ngạc nhiên với sự sạch sẽ của em, Aziraphale đoán thế.
"Tớ tên là Aziraphale." Em nhỏ nhẹ nói.
"Tên cậu giống thiên thần, trông cậu cũng giống thiên thần." Cậu ta nghiêng đầu, tiến đến và nắm lấy thanh thép thẳng đuột của cổng rào. Aziraphale vô thức lùi lại. Em sẽ xem đó là một lời khen vậy.
"Còn tên của cậu?" Aziraphale hỏi, cố ý né tránh sự ngượng ngùng khi cậu bé đó nhìn em từ trên xuống dưới.
"Crowley."
Cậu ta – Crowley – khiến Aziraphale tò mò. Em đang đắn đo không biết nên hỏi gì tiếp theo thì Crowley lên tiếng.
"Cậu không thả ngựa ra giẫm lên người tôi à?"
Đôi mắt tròn xoe của Aziraphale mở to.
"Không! Tại sao chứ? Tớ thậm chí còn không được vào chuồng ngựa."
Crowley ngập ngừng lùi về sau, mắt nhìn xuống đất. Aziraphale tự hỏi cậu ta đang nhìn vào đôi giày hay những ngón chân bé nhỏ của mình.
"Mọi người bảo rằng người giàu rất xấu xa và sẽ dùng những cỗ xe ngựa đồ sộ kia giẫm nát thân tôi."
Chưa bao giờ Aziraphale sốc đến thế. Em bối rối, ngơ ngác, và rồi khuôn mặt mũm mĩm rạng ngời năm phút trước chuyển sang trạng thái cáu kỉnh như bị xúc phạm.
"Mọi người nói như thế thật không đúng!"
Crowley gãi đầu.
"Ờ... sau khi nhìn thấy cậu thì tôi cũng nghĩ vậy."
Aziraphale hậm hực, nhưng lại thôi để nhường chỗ cho sự bất ngờ khi Crowley chìa một tay qua khe hở của hai thanh thép trên cổng rào. Em băn khoăn nhìn vào những ngón tay mong manh vương đầy vết đất đó, lại ngước nhìn vào mắt Crowley. Sau thoáng lưỡng lự, Aziraphale rút từ trong túi quần ra một chiếc khăn tay lụa, lau chùi những vết bẩn cho cậu ta. Crowley cũng chẳng ngại ngùng gì sất, cứ để yên cho Aziraphale loay hoay với tay mình.
"Tôi nghĩ tôi thích cậu." Crowley nói sau khi em đã lau xong, ngắm nghía bàn tay sạch sẽ.
Thích. Đó là một từ thú vị, xét đến số lần Aziraphale bắt gặp nó trong những cuốn tiểu thuyết, mỗi lần lại là một ý nghĩa không cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, đối với một đứa trẻ, Aziraphale đã chẳng nghĩ nhiều.
"Tại sao?"
"Vì cậu tốt. Và tôi muốn làm bạn với cậu."
Một cảm giác hạnh phúc chợt nở như cánh hoa quỳnh buổi đêm trong ngực Aziraphale. Từ trước đến nay, đây là lần đầu tiên có người muốn làm bạn với em. Aziraphale nhanh chóng nắm chặt bàn tay nho nhỏ, lắc mãi không thôi.
Đấy chỉ là một ngày thu giống hệt những ngày thu khác từng đến với thế gian. Nhưng trong kí ức của Aziraphale, chưa có ngày thu nào đẹp hơn thế.
Giấc mộng thơ vốn dĩ rất dịu dàng êm ái, thế mà khi tỉnh dậy, cả khuôn mặt Aziraphale đã đẫm ướt mù sương. Chạng vạng ngoài cửa sổ ướm lên thân em một bộ áo vàng óng ả, chỉ cần nhìn thấy lại nhớ về màu mắt người thương, em đau đến rã rời. Tình yêu vốn vậy, có thể là viên mãn, cũng có thể là sầu bi.
Nhưng tuyệt nhiên, tình yêu chẳng bao giờ là hoài nghi vô vọng.
Góp nhặt mong nhớ, lại thêm một sáng nọ tình cờ nhìn thấy tờ báo giấy của người hầu, Aziraphale cuối cùng cũng chẳng kìm lòng được. Em đi tìm Crowley, giữa những cây bạch đàn màu xanh rũ, trên các khóm me đất, quanh mấy bụi mận gai. Aziraphale luôn trân quý từng bước chân trên con đường vào vườn nhà Crowley kể từ lần đầu tiên đến, chỉ vì biết mình được chào đón ở đây.
Đã từng.
Crowley đang tưới nước cho một cây chanh nhỏ, khoác lên người bộ quân phục màu cỏ úa. Aziraphale biết gã nhận thấy em. Luôn luôn thế.
"Em nghe tin rồi."
Chàng trai tóc đỏ của em chẳng quay lại, chỉ có cánh tay đang cầm bình tưới đột nhiên vì mấy chữ giản đơn ấy mà cứng đơ, run run hạ xuống. Aziraphale không đến gần gã hơn hai thước, chỉ lẳng lặng nhìn người mình yêu cố ý cách xa.
"Đến để thông báo kế hoạch của anh thất bại, đúng không?" Crowley nói, giọng điệu trầm ấm từng âu yếm Aziraphale trong cả những cơn mơ giờ đây nghe như một chiếc bình gốm tráng men hỏng. Bên ngoài nguyên vẹn, duy chỉ có bên trong nứt vỡ.
"Anh nghĩ em sẽ thay lòng chỉ vì anh hành xử như vậy à?" Aziraphale nắm chặt hai bàn tay đang thả xuôi dọc người, những đầu móng đã được cắt tỉa gọn gàng thế mà bấu vào da thịt đến hằn vết máu.
"Không. Không một tia hy vọng nào cả. Anh cố gắng thử thôi."
Crowley bây giờ mới chịu quay lại. Gã không đeo kính râm, đôi mắt vàng ấy rõ ràng đang tách từng phần hồn cốt em, phân từng mảnh xương tủy em. Nếu không, một ánh nhìn lãng du sao có thể đớn đau đến thế? Aziraphale thở nông, chẳng nói nổi một lời. Crowley mỉm cười, cũng là nụ cười dịu dàng mà em yêu nhất. Gã chạy tới ôm em, siết chặt đến nỗi thanh âm thổn thức của Aziraphale vướng vào tay áo.
"Em cứ vậy, làm cách nào anh bỏ lại em đây?"
Aziraphale đã tự nhủ rằng mình không được khóc, thế mà rốt cuộc cũng chịu thua cơn bão lòng đã mang mấy hôm nay. Crowley chua xót vuốt lên xuống lưng em một cách đều đặn, xoa dịu thứ gì đó vô hình đang lôi Aziraphale từ trong vòng tay gã ra pháp trường, xử bắn không bịt mắt.
Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát súng đầu tiên của Đức nhắm vào Ba Lan đã mở đầu cho cuộc Đệ nhị thế chiến. Ngay khi tin về, chính quyền Anh lập tức ban hành sắc lệnh nhập ngũ đối với công dân, đó cũng là lúc Crowley quyết định buông tha cho Aziraphale. Gã biết, tầng lớp trí thức như em có thể không phải ra chiến trường, nhưng dân đen như gã thì không tài nào tránh khỏi. Nếu cứ để Aziraphale yêu gã, vì gã mà ngóng trông bất kể đêm ngày, lo lắng đợi chờ tin mừng tin dữ, Crowley thà tự mình khiến Aziraphale nghĩ gã là một tên khốn nạn vô tình vô nghĩa còn hơn. Chiến trường xa xôi vạn dặm biết bao nguy nan trắc trở, Crowley chỉ đành tuyệt vọng mong tương lai của em được viên mãn hạnh phúc mà không cần có gã.
Đôi lúc, gã quên mất Aziraphale thông minh và yêu gã đến thế nào.
Crowley cúi xuống gần mái tóc trắng sữa, cố gắng tìm kiếm hương thơm an ủi của em. Bao tủi hổ vì hoàn cảnh ngặt nghèo lẫn tương lai mù mịt từng được giải quyết chỉ bằng cách vùi đầu vào vòng tay Aziraphale, nhưng bây giờ gã cho rằng đây là lần cuối. Chấm dứt những lần ôm ấp dấu yêu, cũng chấm dứt những lần trốn chạy hèn nhát. Aziraphale vẫn run rẩy, gã không tưởng tượng được sẽ đớn đau thế nào nếu mai này người em dựa vào vai để khóc không phải gã. Thế mà Crowley cứ phải nương tựa vào mấy lời dối trá điêu toa, làm khổ lòng mình.
"Aziraphale, nghe anh nói. Cái cảnh sinh ly tử biệt đó, em không đáng..."
"Thế anh đáng sao?" Aziraphale cắt ngang.
Bàn tay Crowley đặt trên lưng người thương ngưng vuốt. Gã chết lặng khi em cứ khóc như van lơn.
"Anh không tin vào tương lai của chúng mình sao anh? Em mong anh quay về... thế nào em cũng đợi."
Crowley nghiến răng, ôm lấy hai má Aziraphale, đẩy em ra. Đôi mắt biếc đỏ hoe bàng hoàng nhìn gã.
"Em không hiểu! Anh muốn được yêu em, anh muốn được bên em, nhưng bằng cách nào đây? Dẫu cho anh không chết, anh cũng có thể què quặt. Dẫu cho anh không què quặt, anh cũng chỉ là một kẻ nghèo hèn. Dẫu cho anh không nghèo hèn, xã hội vẫn sẽ đay nghiến đôi ta. Em yêu anh, đời em khổ. Anh vẫn luôn cố bấu víu lấy em một cách ích kỷ, nhưng giờ anh buông tay vì anh lo cho tương lai của em. Nếu ngày mai anh chết ngoài chiến trường, em ở đây sống một đời trọn vẹn, Aziraphale, anh thề rằng mình không bao giờ hối hận."
Hạ tàn. Khung thương xanh như màu mắt em chan chứa, mang về cho lòng ai những hồi ức xa xưa, mấy khi hồn nhiên ấy giờ đây cứ dần mục mòn rệu rã. Aziraphale nhớ xiết bao những ngày ngây dại, khi thu về là lại nhớ người thương đến da diết, cũng chẳng phải ngập ngừng hoài nghi cho mai này.
"Nhưng em hối hận." Aziraphale nói một cách đau khổ, ngăn không được những giọt nước mắt u hoài. "Crowley, em sẽ mãi mãi hối hận vì không giữ được anh."
Hôm ấy, mây không biết vì sao gió buồn, gió cũng không biết vì sao trong mình mang nhiều ly tao đến thế. Sông vẫn dềnh dàng trôi, hoa vẫn lặng thinh nở, cả cây chanh trong vườn cũng vui vẻ đung đưa dưới ánh nắng ban chiều. Có lẽ là vì mưa, cơn mưa nặng trĩu, thảm thương nhất trong hai trái tim thống khổ kia đã gửi vào thinh không quá nhiều xót xa xáo động.
Người đi kẻ ở, lời hứa quay về cũng chỉ vỏn vẹn là câu nói đầu môi.
Với việc tối hậu thư yêu cầu ngừng chiến bị bác bỏ, chỉ hai hôm sau khi phát súng đầu tiên nổ ra, Anh chính thức tuyên chiến với Đức. Đó là điều mà Aziraphale tình cờ đọc được trên tờ báo sáng hôm ấy. Ngày Crowley khăn gối lên đường ra mặt trận cũng là ngày Aziraphale được chiêu mộ tham gia dự án giải mã Enigma. Em đang như ngồi trên đống lửa, ngay khi nhận điện tín liền mừng đến thở không ra hơi vì biết ít nhất họ có cơ hội giảm đi số lượng thương vong cho binh sĩ. Dù trong quá trình tham gia dự án không được phép bỏ cuộc giữa chừng, sau cũng phải xóa đi mọi thông tin cá nhân của cuộc đời mình, em vẫn nhắm mắt gật đầu không thèm nghĩ suy. Aziraphale, với tất cả lòng thành tâm lẫn sự cố gắng trưng dụng đống kiến thức đáng giá cả tuổi thơ, đã cầu nguyện rằng cái tên Anthony J. Crowley không bao giờ phải nằm trong danh sách báo tử.
Suốt khoảng thời gian làm việc ở Bletchley Park, Aziraphale luôn lo âu sợ hãi. Đôi khi em nhận được điện tín hoặc bưu thiếp của Crowley, nhưng sau đó lại càng sầu não hơn khi khoảng thời gian giữa hai bức thư cách nhau quá xa. Mất hơn một năm để các cơ quan tham gia có thể giải mã được Enigma, và Aziraphale thật sự đã suýt òa khóc tại đó khi đến tận giờ khắc này Crowley vẫn còn sống.
Nhưng dường như cuộc đời vẫn thích trêu người, hoặc ít nhất là cuộc đời của Aziraphale. Chính vì không muốn Đức phát hiện ra mình đã giải được Enigma, Hội đồng cơ quan tình báo cấp cao đã trực tiếp tham gia vào việc quyết định sự sống cái chết của một phần nhân loại. Aziraphale cùng với những nhà giải mã khác phải tính xác suất sinh tử hàng ngày, cũng phải buộc lòng xem chúng như những bài toán chữ số chứ chẳng phải cái quyết định sự tồn vong của bất kỳ ai. Aziraphale trong suốt thời gian này vừa tự trách mình tàn nhẫn như một cỗ máy máu lạnh, vừa tự cuộn tròn trong chăn khóc tức tưởi hằng đêm vì con người mà Crowley yêu đã chết đi theo từng lần đưa bút. Mỗi một chiến dịch đều được họ nhúng tay vào, cả làm ngơ nhìn quân ta đi vào chỗ chết đến khẩn cấp điều binh cứu trợ. Aziraphale suy sụp đến mức buồn nôn với những tội lỗi mình gây ra, cũng không thể nào quay đầu được nữa, thứ duy nhất vực dậy tinh thần sống chỉ còn là những bức điện tín hiếm hoi mà Crowley chật vật gửi về.
Nợ máu phải trả bằng máu. Chỉ có điều, Aziraphale chưa từng nghĩ rằng đó sẽ không phải là máu của chính bản thân mình.
"Họ... quân Đức sẽ đánh vào eo biển Manche..." Aziraphale thở dốc, chỉ tay vào tấm bản đồ chằng chịt đánh dấu, mũi tên và dây nhợ, "Wehrmacht đang ở rất gần bờ biển Anh..."
Hai người giải mã viên ngước sang, nhưng cũng vờ như đấy là chuyện thường tình, giọng nói trầm ổn đến lạ.
"Trận đó đã tính rồi, tỉ lệ thương vong không quá cao. Hơn nữa quân ta không thể điều động lực lượng đột ngột đến vậy được, bọn chúng đang áp dụng Blitzkrieg, ta cũng phải phối hợp một chút."
Những lời ấy giống như sét đánh ngang tai Aziraphale. Từ khi nào họ coi mạng người như cỏ dại? Từ khi nào họ coi chiến tranh như một vở tuồng cần phải diễn theo?
Rồi bất chợt Aziraphale nhận ra, mình từ lâu vốn đã là một trong số "họ" rồi. Em cười khổ buông tay xuống, để những tiếng gõ máy cơ lạch cạch nghiến lòng mình thành cát bụi.
"Người tôi... Người thân tôi đang ở đó. Ở Dover."
Crowley sẽ phải đối mặt với một trận chiến một trăm phần bại mà em biết nhưng không tài nào ngăn được. Aziraphale chẳng thể làm gì ngoài quay về bàn với những xấp giấy tờ chất chồng như núi, rõ hơn ai hết dù cho mảnh hồn duy nhất còn sót lại của mình vỡ tan cũng không được đánh rơi một giọt nước mắt nào cả.
Ước gì người phải chịu sự trả giá ấy là em. Ước gì xã hội bao dung cho em và Crowley một chút. Ước gì năm xưa em đủ can đảm để gom hết tiền của bỏ chạy thật xa với gã, mặc kệ quê hương mà không bao giờ ngoái đầu nhìn lại. Ước gì...
Ước gì đôi ta không sống cuộc đời đầy gian lao bi kịch này.
Kể từ ngày đó, Aziraphale không nhận được bất kỳ tin tức nào về người mình yêu nữa. Bản thân em cũng suốt ngày làm việc, ngoài ra chỉ còn ăn với ngủ để duy trì cái sự sống vật vờ khốn khổ mà gã hằng mong ước có thể đem lại cho em. Đôi khi Aziraphale muốn kết thúc cuộc đời mệt mỏi này, nhưng hễ nhớ lại lời Crowley nói hôm chia ly ấy, em sẽ cứ vậy mà quyết định sống tiếp. Crowley luôn là nguồn sống của Aziraphale, dẫu là ngày trước hay sau này cũng thế.
Ngay sau khi chiến sự hoàn toàn kết thúc, dự án Enigma cũng theo đó mà khép lại. Aziraphale nhìn những tờ giấy bị lửa liếm cháy rụi, không kiềm được mà nở một nụ cười. Kết thúc rồi. Hơn năm năm làm việc với thứ oan nghiệt đó rút ngắn được hai năm chiến tranh, cứu sống hàng triệu mạng người, thây kệ hàng vạn mạng người,
Cũng tuyệt diệt luôn hy vọng về tương lai của một con người khốn khổ.
Tình yêu ấy giờ chỉ còn mình Aziraphale biết đến, ấp ủ, nâng niu. Viễn cảnh một mai em về với cát bụi, vùi chôn luôn bao nhớ thương một thời mặn nồng son sắt luôn là thứ kinh khủng đến nỗi Aziraphale không bao giờ dám nghĩ, dù biết nó sẽ xảy ra. Em cũng rõ sau này mình chẳng thể yêu ai nữa, chỉ là nếu chẳng có một lý do hợp tình thì chắc chắn sẽ bị điều tra. Hoặc khép tội bại hoại thuần phong, vào vòng lao lý, hoặc phải điều trị nội tiết tố một cách nhục nhã dã man. Cuối cùng, Aziraphale quyết định nói rằng mình vô sinh, không muốn làm lỡ đời bất kỳ người phụ nữ nào để né tránh sự thật em luôn muốn thét gào lên cho cả thế giới biết,
Nhỡ nơi đâu đó, Crowley có thể nghe.
Aziraphale sau khi đốt tất cả giấy tờ thì bắt đầu giảng dạy tại một trường đại học, mỗi ngày trước khi về đều ghé qua căn nhà của Crowley để coi sóc dọn dẹp. Bố mẹ của hai người họ đã mất từ lâu, chỉ là biệt viện của Aziraphale có người hầu chăm lo, còn nhà của Crowley thì chẳng còn ai ở, vẫn luôn vắng vẻ như vậy. Đôi khi em nán lại lâu một chút, nhìn ngắm những vật kỉ niệm mà ngày ấu thơ vẫn thường thấy khi sang nhà gã chơi. Chẳng một ngõ ngách nào không có bóng dáng Crowley, nhưng Aziraphale đã cạn nước mắt rồi, muốn cũng chả khóc được nữa.
Vào ngày thu đẹp trời nọ, gần hai mươi năm sau cuộc chiến, Aziraphale nhận được một lá thư. Trông nó cũ mèm, cũng chẳng có tên họ người gửi, chỉ có một con tem dán xộc xệch và địa chỉ người nhận. Khi phát hiện đấy không phải dịch vụ giao thư của bưu cục mà là dịch vụ trao trả kỷ vật của các binh sĩ tử nạn, thế giới của Aziraphale chao đảo.
Em cố gắng mở thư ra với đôi bàn tay run rẩy, khóc không thành tiếng. Bên trong là chiếc khăn tay lụa em dùng để lau bụi bẩn cho Crowley năm xưa, cùng với một tờ giấy nhám rách rưới loè nhoè nước.
"Aziraphale, anh nghĩ cuối cùng đã tới lúc mình phải bỏ em lại thật rồi. Em có thể nhớ mong, nhưng chỉ một chút thôi. Và cũng đừng hy vọng. Chiếc khăn này anh trả lại cho em vì không muốn nó bị vấy bẩn dưới bom rơi đạn lạc. Cố gắng sống vì anh, vì mình nhé em. Anh yêu em.
Anthony J. Crowley."
Aziraphale từ từ ôm tờ giấy sắp rã nát vào lòng. Crowley đã dặn em có thể nhớ mong chứ không được hy vọng. Aziraphale chẳng biết em đã làm đúng hay chưa, chỉ biết rằng dưới ánh chiều tà của một ngày thu xanh thẳm, em vẫn đang ở đây, lại dưới cây olive cổ thụ được trồng gần cổng rào thép đúc năm nào,
ngồi đếm lá rơi.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co