Truyen3h.Co

nmbb| duyên

tình

larfouremie

Trời đất đương độ giao mùa, cái tiết thu tàn rệu rã nhường chỗ cho cơn gió bấc đầu đông tràn về ngự trị. Cái rét ngọt, se sắt đặc trưng của đất Kinh Kỳ lúc nào cũng thật lặng lẽ, bén ngót như dao sắc, len lỏi qua từng nếp áo the thâm, luồn vào từng thớ da, kẽ thịt, khiến người ta rùng mình co lại trong cái vẻ u hoài cố hữu của ngàn năm văn vật.

Trên con phố Hàng Đàn lát gạch Bát Tràng đã mòn vẹt dấu chân, bóng chiều bảng lảng buông xuống, nhuộm tím cả những mảng tường vôi vữa bong tróc lở lói. Những gánh hàng hoa, hàng xén kĩu kịt trên vai các bà, các cô cũng vội vã quay bước về nẻo nhà, tiếng guốc mộc lách cách gõ nhịp hối hả xuống mặt đường. Phố xá chốc lát đã vắng tanh, chỉ còn trơ lại mặt đường loang lổ những vệt dầu lạc rơi rớt và hơi sương muối bắt đầu nặng hạt, phả vào không gian cái mùi ẩm mốc, rêu phong của thời gian. Bầu trời trên cao chỉ một màu xám chì đặc quánh, nặng trĩu như tâm tư của kẻ lữ thứ, báo hiệu một đêm đông dài dằng dặc và cô liêu sắp sửa trùm lên vạn vật.

Bỗng từ phía góc phố, nơi mái đình cổ kính với những đầu đao cong vút in hằn lên nền trời sẫm tối, chợt vẳng lên tiếng đàn nhị nỉ non, ai oán. Tiếng đàn ấy đâu chỉ là thứ thanh âm phiêu bổng mà tựa hồ như một mũi kim bén nhọn, châm thẳng vào cõi lòng tĩnh mịch, u sầu của đêm tối. Nó réo rắt như than, như khóc, như kể lể những nỗi tâm tư giấu kín trong lòng.

Rồi chợt một giọng hát khàn đục, vỡ vụn như tiếng lá khô xào xạc dưới gót chân người qua đường cất lên, là tiếng hát của lão Xẩm mù, mà người ta dân phố huyện vẫn quen gọi bằng cái tên dân dã: lão Tứ.

Lão thu mình trong manh chiếu rách đã nhàu nát, bạc phếch, thứ duy nhất còn sót lại để che đậy cái thân tan nát của một kiếp người bẽ bàng. Đôi mắt lão trắng dã đăm đăm hướng về chốn nào xa xăm vô định, một cõi u minh mà người đời tất bật ngược xuôi kia dẫu có bôn ba suốt kiếp cũng chẳng bao giờ thấu tỏ. Trông lão nào khác chi một gốc cổ thụ đã bị cuồng phong cuộc đời vùi dập đến trơ gan, sần sùi. Trên cái thân xác tàn tạ ấy dường như hằn sâu không biết bao nhiêu vết xước của bể dâu, của những mùa trăng khuyết đã lướt qua vội vàng.

Dẫu vậy, mặc cho nắng hè cháy da đốt thịt, hay mưa đông dầm dề não nề, dù cho thế sự có xoay vần, vật đổi sao dời, lão vẫn ngồi lại chốn này, bầu bạn cùng cây đàn nhị cũ kĩ đã sờn nước sơn, gõ vào guồng quay vô tình của trần thế. Lão hát, hát về cái lẽ đời bạc bẽo, về kiếp phù du "bóng câu qua cửa sổ", về những mối tơ duyên trần ai lỡ làng. Tiếng hát lão quyện vào tiếng đàn nỉ non, ai oán, mang theo cả nỗi sầu trần thế gieo vào hồn người.

Dù là kẻ buôn gánh bán bưng đang tất tưởi với miếng cơm manh áo, hay bậc tài tử giai nhân đang mải mê với mộng gió trăng, hễ vô tình nghe thấy cũng phải bất giác chùng chân. Lòng họ bỗng nặng trĩu một nỗi sầu muôn thuở, một nỗi buồn nhân thế chẳng thể gọi thành tên.

Tiếng nhị hồ réo rắt oán lên lời than cuối, rồi dìu dặt buông lơi như tiếng thở dài ai oán của một kiếp hồng nhan bạc mệnh, vương vấn mãi không tan giữa cõi trần ai bụi bặm này.

"Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai..."

Cái câu hát than thân ấy, tưởng chỉ để vận vào kiếp đàn bà, nào ngờ nó lại ứng vào cái số phận của đấng nam nhi, thật là nghiệt ngã thay! Giữa cái rét buốt như cắt da của Hà Thành những ngày trở gió, Vũ Nhân Mã đứng như trời trồng. Gió bấc từ mạn sông Hồng hun hút thổi vào, lùa qua cái cổ áo dựng đứng, lạnh đến thấu tâm can. Bàn tay thon dài, trắng trẻo của kẻ quen cầm cây bút máy tân thời nay run run siết chặt lấy thành cầu gỗ đã sờn mòn. Dưới cái ánh sáng vàng vọt, tù mù của ngọn đèn dầu lạc hắt ra từ mấy trụ đèn xa xa, cái bóng của thầy đổ dài trên mặt đường đá, trông nó liêu xiêu mà cô độc đến não nùng.

Thầy vốn là thế, là một kẻ bơ vơ đứng giữa hai dòng nước, chẳng biết ngả nào là đục, ngả nào là trong, bến nào là nhà. Người ta vẫn thấy thầy Vũ trong bộ âu phục màu trắng may khéo, tóc chải mượt, lịch lãm, ra dáng một kẻ thức thời. Người ta thấy gót giày da bóng loáng của thầy gõ nhịp đều đặn trên hè phố của một Hà Thành đang cựa mình đổi mới, đua đòi văn minh. Trông thầy ai  lại dám bảo chẳng phải là một trang nam tử lịch lãm, một kẻ thức thời của cái thời đại giao tranh này? Ai cũng khen thầy tân thời, ai cũng trọng thầy có học.

Nhưng có ai hay, có ai tường cho cái nỗi đoạn trường trong cõi lòng kia? Tận sâu trong thâm tâm, cái cốt cách của nhà Nho, cái lề lối gia phong của dòng họ Vũ bao đời, nó như rễ của cây cổ thụ ngàn năm, đã bám chặt, đã ăn sâu vào từng mạch máu, từng thớ thịt. Bảo bứt ra thì sao cho đành? Nhưng giữ lại, thì sao cho trọn? Cái cũ, cái mới, nó giằng xé, nó vò nát cõi lòng thầy. Huống hồ chi, những lời răn dạy của cụ Bá An- bậc thân sinh nghiêm khắc với khuôn mặt lúc nào cũng đanh lại nào đã phút nào phai mờ. Tiếng cụ vẫn văng vẳng bên tai thầy mỗi sớm mỗi chiều, như một thứ xiềng xích vô hình, níu thầy lại với cái nền nếp cũ:

"Con ơi! Làm trai cho đáng nên trai, phải giữ cho kỳ được cái nền nếp gia phong. Chớ có a dua, đua đòi cái thói tân thời hào nhoáng, mà quên mất gốc gác, quên mất tổ tông!"

Người xưa nói "Trai khôn tìm vợ chợ đông", đằng này cái duyên cái phận của Vũ Nhân Mã lại do các bậc bề trên định đoạt cả, thật là một sự trói buộc khéo léo mà người ngoài nhìn vào chỉ thấy gấm hoa lụa là. Cái việc chung thân đại sự của thầy với vị tiểu thư con quan Tuần phủ Sơn Tây, người ta đã định đoạt cả rồi. Nó được định đoạt "êm thấm" lắm, từ trên những mâm trầu cau, những lễ vật sơn son thiếp vàng, đến những cái gật đầu, những cái bắt tay đầy toan tính của các bậc trưởng thượng. Cái lễ giáo cũ, nó là thế đấy, cha mẹ đặt đâu, con cái có dám không ngồi đấy?

Người đời nhìn vào mà không khỏi tấm tắc. Họ bảo đó là con đường rải hoa, là chiếc võng lọng sơn son thếp vàng đã dọn sẵn, chỉ chờ thầy bước lên là tới tột đỉnh danh vọng, rạng rỡ tổ tông. Lấy được con quan Tuần phủ, cái ô che đầu ấy còn gì lớn bằng? Cửa nhà họ Vũ phen này lại càng thêm thanh thế.

Lại bảo, vị tiểu thư ấy nghe đâu là một bậc khuê các, xuất thân trâm anh thế phiệt, mười phân vẹn mười, nào cầm, nào kỳ, nào thi, nào họa, thứ gì cũng đủ đầy, rồi đến công, dung, ngôn, hạnh, lề lối gia giáo, chẳng chê vào đâu được. Một hồng nhan hoàn hảo nhường ấy, môn đăng hộ đối nhường ấy, lẽ ra phải là cái diễm phúc, là mơ ước của biết bao đấng nam nhi trong cái cõi Hà Thành này.

Ấy thế mà người ta chỉ thấy cái vỏ bọc hào nhoáng, cái danh vọng rực rỡ, chứ mấy ai đo được cái vực thẳm trong lòng Vũ Nhân Mã đâu? Lòng người nào phải cỏ cây, gỗ đá, đâu có thể cứ đặt vào mâm son là nó tự khắc thành vàng ròng được?

Lòng Vũ Nhân Mã bây giờ cũng như cái đêm đông Hà Thành, thật tĩnh mịch, lạnh lẽo làm sao. Ấy vậy mà, giữa cái khoảng không vô định ấy, một mùi hương ký ức chợt ùa về, nó không nồng nàn như một cơn gió mà lại da diết len lỏi vào tận tâm can. Kỳ lạ thay, cái hương thơm ám ảnh cõi lòng thầy không phải là thứ nước hoa băng-xoang đắt tiền của người Tây phương, cũng chẳng phải là mùi hương trầm cao sang, nghi ngút khói nơi dinh thự quan Tuần phủ. Những thứ ấy là gấm hoa, là danh vọng, nhưng chúng nào có tình yêu?

Cái mà thầy nhớ thương, cái làm thầy khắc khoải lại là cái mùi hăng hắc, ngai ngái, mà lại quá đỗi thanh tao. Ấy là mùi của những bó lá dong rừng mọc nơi đất trống hoang vu, còn đẫm sương đêm ấy vậy mà vừa mộc mạc, tinh khiết. Rồi bông , từ cái làn hương hoang dại ấy, một cái tên chợt hiện về.

Bảo Bình.

Cái tên nghe sao mà thân thương đến lạ, cứ nhẹ bẫng như chính cái cuộc đời trôi nổi, lênh đênh của nàng. Nàng nào phải là tiểu thư đài các, chân son gót đỏ, bước ra từ lầu son gác tía? Nàng nào có lụa là, gấm vóc để khoe hương, khoe sắc? Không đâu, Bảo Bình của thầy Vũ chỉ là một cô gái quê mùa, mộc mạc, chân lấm tay bùn. Người ta cũng chỉ biết đến Bảo Bình với đôi quang gánh kĩu kịt oằn trên đôi vai gầy. Sáng sáng chiều chiều, nàng quẩy cái gánh nặng trĩu những bó lá dong xanh mướt, cái màu xanh của núi rừng, cái hương của sương sớm, đem lên phố Hàng Đàn, bán thứ lá ấy cho các bà, các mợ sắm sanh gói bánh chưng, bánh tẻ. Cái hương lá dong nó đã quyện vào Bảo Bình, hay Bảo Bình đã ướp hương cho lá? Thầy Vũ không biết, chỉ biết rằng cái mùi hương ấy, nó đã trói chặt lấy hồn thầy.

Vậy mà phận Bảo Bình là phận cánh bèo trôi, là giọt sương mai đầu ngọn cỏ. Nàng là con gái của một bà góa nghèo, nương náu nơi bãi sông cuối bãi, đến cái xóm nhỏ cưu mang mẹ con nàng quanh năm cũng chỉ thấy cát trắng với lau lách xác xơ. Cuộc đời nàng cũng như cái xóm nhỏ hắt hiu ấy, chưa từng biết đến hai chữ kiêu sa. Bảo Bình nào đâu có được cái vẻ đẹp đài các, rực rỡ chim sa cá lặn của bậc thiên kim tiểu thư chốn lầu son gác tía. Người ta khoe sắc bằng lụa là gấm vóc, bằng phấn son mĩ miều, còn nàng, nàng chỉ có tấm áo nâu sồng đã sờn vai, chỉ có làn da đã nhuốm nắng gió của bãi bờ.

Nhưng tạo hóa vốn trớ trêu, ngài dẫu không cho Bảo Bình cái vẻ kiêu sa nhưng lại ban cho nàng một thứ còn say đắm hơn, là đôi mắt nàng. Ai đã lỡ một lần nhìn vào đôi mắt ấy, thì say đến cả một đời. Đôi mắt trong vắt, phẳng lặng, và yên bình tựa mặt hồ Gươm buổi tinh sương, khi vạn vật còn đang ngái ngủ trong sương sớm. Nhưng đằng sau cái vẻ yên bình phẳng lặng ấy, lại là cả một vực thẳm u hoài. Một nỗi buồn dường như đã từ ngàn kiếp, cứ man mác đọng lại nơi đáy mắt, khiến người ta vừa xao xuyến, lại vừa xót xa đến thắt lòng.

Chỉ là hoàng hôn khi ấy, Nhân Mã đã được thẩm thấu đôi mắt Bảo Bình, đôi mắt ấy thoáng chút e dè của người con gái thôn quê, lại lặng lẽ u hoài. Vào khoảnh khắc ánh mắt chạm ánh mắt, trái tim thầy bỗng đập liên hồi. Thầy thấy rõ lắm, thấy đôi bàn tay ấy dẫu có nét thon gầy nhưng đã hằn lên những vết chai sần khô khốc, dấu tích của bao tháng năm cơ cầu, vật lộn với gánh mưu sinh nặng trĩu. Thầy cũng thấy tà áo nâu sồng đã bạc màu mưa nắng. Ấy thế mà lạ lùng thay, từ tấm áo mộc mạc, cơ hàn ấy, một mùi hương thanh khiết cứ thoảng bay, như có như không. Mùi hương không nồng gắt xa hoa của lầu son gác tía, mà nó nhẹ nhàng, kín đáo, vương vấn, len lỏi vào tận tâm can, dường như có thể gột rửa hết thảy bụi trần ai. Hương thơm ấy, phải chăng, đã được ủ ướp, chắt ra từ chính tâm hồn trinh nguyên, dẫu đi qua bao bể dâu, khổ ải mà chưa một lần vẩn đục.

Cái duyên ban sơ mỏng manh như sương khói buổi chiều hôm ấy, nào ai có ngờ, lại chính là vòng tơ hồng mà Nguyệt Lão đã tỉ mẩn se từ muôn kiếp. Từ buổi chiều lộng gió trên triền đê, từ cái cúi đầu e ấp mang nét quê mùa mà thuần khiết ấy, từ bàn tay chai sần mà ấm áp, và từ mùi hương hoa bưởi thoang thoảng, tâm hồn của thầy Vũ vốn phẳng lặng như mặt hồ thu không gợn gió, bỗng dưng dậy sóng. Sóng gợn rồi thành bão, một cơn bão lòng chẳng thể gọi tên mà lại day dứt khôn nguôi.

Kể từ cái buổi kỳ ngộ mà người đời vẫn gọi là duyên mỏng manh như sương khói sớm mai ấy, cõi lòng của thầy Vũ, vốn dĩ là mặt hồ thu tĩnh lặng quen với trang kinh sách bỗng như được tỉnh giấc. Cái sự bình yên mà thầy cố công gìn giữ bấy lâu giữa cái thời buổi nhiễu nhương, Tây Tàu lẫn lộn này, đã theo làn mây bay mất từ lúc nào chẳng hay.

Người ta kháo nhau đồn rằng hai người đã có những buổi hẹn hò lén lút, vụng trộm, phải giấu đi ánh mắt của người đời, phải né tránh cái gièm pha của miệng lưỡi thế gian. Lễ giáo còn đó, cái vòng kim cô mang danh bổn phận còn đó, mà ái tình thì nào có đợi tuổi, đợi thời.

Cái chốn hò hẹn của họ cũng nào phải những phòng trà phố thị ồn ào, nơi đèn xanh đèn đỏ, nơi kẻ Tây người Ta nhộn nhạo. Nơi ấy làm sao hợp với cái tình cảnh của thầy, và càng không xứng với cái thanh sạch của nàng. Họ tìm đến nhau bên bến sông Hồng lộng gió, nơi con nước ngàn năm vẫn thao thiết chảy về xuôi. Ấy là con đê vắng, nơi cỏ may cứ mùa lại vương đầy gấu áo người qua như muốn níu giữ một chút tình phai. Họ ngồi đó, chỉ có tiếng gió vi vu qua bãi lau, và ánh trăng non đầu tháng vằng vặc soi trên mái tóc thề của nàng Bảo Bình.

Họ vốn chẳng màng nói nhiều về cái chuyện ái ân nhục thể, cái ái tình của Nhân Mã và Bảo Bình nó cao cả hơn thế. Họ bàn về một câu thơ Đường còn vương nỗi sầu viễn xứ, ngâm khẽ mấy vần lục bát của cụ Nguyễn Du, thương cho cái kiếp đoạn trường, mà như thấy cả phận mình trong đó.

Phận Bảo Bình tuy bần hàn, áo vải chân đen, nhưng trời phú cho nàng một tâm hồn không bần hàn. Nàng biết chữ và nàng hiểu được cái nỗi lòng u uẩn, cái chí khí không gặp thời của một kẻ sĩ phu như thầy Vũ. Giữa họ là cái tình của kẻ tri âm, tri kỷ.

"Hai nợ ba tình một duyên, hai nợ ba tình"

Cái duyên ấy liệu rằng là do trời đất định đoạt, hay là cái duyên oan nghiệt gieo xuống kiếp người? Nó là cái tình thứ nhất, cái tình nồng nàn, say đắm của Nhân Mã và Bảo Bình. Nó tựa như chén rượu quỳnh tương nơi cõi tiên, đã trót nếm một lần thì cả đời này sơn hào hải vị cũng trở nên nhạt nhòa. Nó là cái rung động ban sơ, cái liều lĩnh của tuổi trẻ muốn phá tan xiềng xích, muốn sống trọn vẹn cho một chữ yêu.

Nhưng mộng đẹp ấy chỉ vừa chớm nở, thì cái hai nợ đã sừng sững chắn ngang. Cái nợ thứ nhất, là chữ hiếu với đấng sinh thành. Ơn cù lao chín chữ, Nhân Mã vốn sinh ra trong một gia đình vọng tộc, là con trai trưởng gánh vác hương hỏa, sao nỡ cãi lời nghiêm phụ, làm trái lòng từ mẫu? Cái gia nghiệp tổ tiên mấy đời vun đắp, há đành vứt bỏ? Huống hồ, cái tình của thầy trong mắt thế gian, lại là một mối tình bị xem là "hủ dâm", là "bại hoại gia phong". Tiếng đời như búa tạ, lời cha mẹ như sét ngang trời. Chữ hiếu ấy nặng ngàn cân, đè oằn đôi vai khát khao vươn mình đến chốn tự do. Rồi cái nợ thứ hai, là chữ nghĩa với người con gái mà thầy chỉ mới nghe tên chứ chưa biết mặt, ấy là nàng Hoài An. Lời thề hẹn của bậc trưởng bối, cái giao hảo của hai gia tộc vốn dĩ đã sớm như đinh đóng cột vốn dĩ không thể lay chuyển. Trong cái xã hội phong kiến bấy giờ, hủy hôn nào phải chuyện chơi? Đó là một cái tát vào danh dự gia tộc, một sự sỉ nhục không sao gột rửa nổi. Nó không chỉ đẩy người con gái vô tội kia vào bước đường cùng, khiến nàng cả đời mang tiếng vô duyên, mà còn kéo theo sự suy sụp, hổ thẹn của cả một dòng họ. Chữ nghĩa với người dưng sao lại nặng nhọc đến thế?

Bởi thế, cái ba tình mới thật trớ trêu, nó như ba sợi xích oan nghiệt, ngày đêm giằng xé tâm can Vũ Nhân Mã đến nát nhàu. Một bên là ái tình sắc son, là Bảo Bình, là ngọn lửa duy nhất sưởi ấm tâm hồn thầy giữa cái xã hội lạnh lẽo, là lẽ sống mà thầy khao khát, là trần thế mà thầy muốn thuộc về. Một bên, là tình hiếu thuận với cha mẹ, là cái trách nhiệm nặng nề của kẻ làm con, làm người thừa kế của cả một dòng tộc mà thầy đang oằn mình gánh vác. Cuối cùng là cái tình thương, hay nói cho phải lẽ là lòng trắc ẩn với nàng Hoài An kia. Nàng có tội tình gì đâu? Nàng cũng chỉ là một nạn nhân của cái trật tự cũ, một cánh bèo mỏng manh trôi theo sự sắp đặt của định mệnh. Nếu thầy nhẫn tâm hủy hôn, nếu thầy vì cái tình riêng của mình mà đạp đổ tương lai của nàng, thì cuộc đời vốn đã mờ mịt của người con gái ấy sẽ còn trôi về đâu?

Chỉ một chữ duyên mà cõng trên lưng hai chữ nợ, để rồi làm khổ ba chữ tình. Nhân Mã tựa hồ đứng giữa ngã ba đường, tiến thoái lưỡng nan, Một bước chân là vực sâu thăm thẳm của bất hiếu, bất nghĩa, tiếng đời ngàn năm còn oán thán. Một bước chân khác lại là địa ngục của ái tình tan vỡ, là tự tay bóp chết ngọn lửa duy nhất sưởi ấm linh hồn mình.

Nhân Mã chôn chân giữa đêm đen u khuất, màn sương lạnh len lỏi thấm vào lớp áo gấm Thượng Hải, mà cớ sao vẫn không lạnh bằng cõi lòng thầy lúc này. Bỗng chợt tiếng hát xẩm của lão Tứ từ cái chòi rách nát cuối phố lại vẳng lên. Lại là cái giọng khàn đục, lảnh lót mà ai oán cứ thế xoáy thẳng vào tai, như một mũi dao cùn, cứa đi cứa lại vào mớ tâm can đã rối như tơ vò của thầy:

"Chữ duyên kia với chữ tình ai mang?

Tiếng đàn nhị nỉ non, tiếng hát ai oán. Ai mang? Ai vương? Thầy mang sao cho trọn chữ hiếu, chữ nghĩa? Mà Bảo Bình liệu có vương chút gì, hay cũng chỉ là một giấc mộng phù du? Nhân Mã bỗng rùng mình quay gót. Bóng áo dài đen của thầy loang loáng dưới ánh đèn dầu leo lắt. Vũ Nhân Mã không muốn trở về nhà, cái dinh thự nguy nga rực rỡ đèn hoa của Cụ Đốc Phủ, giờ đây trong mắt thầy có khác nào một cái lồng son tráng lệ, dù nơi đó có nghiêm phụ, có từ mẫu, có gia nghiệp, có chữ hiếu, có chữ nghĩa nhưng tuyệt nhiên không có Bảo Bình, không có cái tình mà thầy khát khao cả kiếp người.

Gót hài của thầy nện xuống con đường đá ong vội vã, dứt khoát. Nhân Mã không về nhà, thầy đi về phía bãi sông, chỉ có nơi đó mới dung chứa được cái cõi mộng mị, cái chốn nương náu cuối cùng của linh hồn thầy. Thật may rằng Bảo Bình đã ở đó.

Trăng thượng tuần vằng vặc, soi bóng hai con người xuống mặt nước. Cái bóng ấy đổ dài, nó quyện lấy nhau trên sóng nước long lanh, hệt như một lời hẹn ước vĩnh hằng. Nhưng vốn dĩ thực tại tàn nhẫn lại là một khoảng không cách biệt mà không ai dám bước qua. Gió bãi sông se sắt, mang theo cái lạnh thấu xương của đêm khuya, len lỏi qua tấm yếm mỏng, táp vào bờ vai gầy guộc của Bảo Bình đang run lên bần bật.

Nhân Mã đứng sững lại, vốn dĩ thầy chỉ cách người thương vài bước chân, mà ngỡ như đã cách cả một trùng dương luân lý, cả một bức tường thành lễ giáo ngàn năm. Lòng thầy đau như có ai xát muối. Người con gái mà thầy nguyện dùng cả sinh mạng để yêu, để che chở, giờ đây lại đơn bạc, co ro trong giá lạnh, trông tủi hờn biết bao nhiêu. Nhân Mã muốn bước tới, muốn gào lên, muốn đập tan cái trật tự nghiệt ngã này., muốn dang rộng vòng tay, ôm lấy tấm thân bé bỏng ấy, dùng hơi ấm của mình mà xua đi cái buốt giá của đất trời và của lòng người. Nhưng chân thầy nặng như đeo chì, cái xiềng xích vô hình của chữ hiếu, chữ nghĩa, nó ghì thầy lại. Thầy là con của gia đình, là cháu của dòng họ, chứ đâu phải chỉ là Nhân Mã của riêng Bảo Bình.

"Thầy... có phải... ngày đã định rồi, phải không thầy?"

Nhân Mã chết lặng, cổ họng thầy nghẹn đắng không sao thốt nên lời. Phải chi thầy có thể nói "không phải", phải chi thầy có thể phủ nhận, nhưng thầy không thể. Nhân Mã đâu thể chối từ cái hiện thực nghiệt ngã, rằng hai người vốn dĩ chẳng phải mây cùng tầng, vậy vì cớ nào có thể ở bên nhau thề hẹn suốt kiếp?

Nhân Mã ngước nhìn vầng trăng thượng tuần, trăng đêm nay khuyết một nửa nhưng lại đẹp một cách bi ai, hệt như cái tình duyên của thầy và Bảo Bình, cho dù sáng tỏ hay hiện hữu, nhưng vĩnh viễn không bao giờ có thể tròn đầy.

Phải một lúc lâu sau, giọng Bảo Bình mới vỡ ra, tựa hồ sương khói tan trên bến vắng. Đôi vai gầy của nàng run lên bần bật, nàng không dám ngước nhìn, chỉ để cho thanh âm nghẹn ngào của mình trôi đi trong đêm, đắng chát.

"Em... bẩm thầy... em đã tường cả rồi."

Giọng nàng như có tiếng nấc bị kìm nén đến xé lòng:

"Mẹ em đã răn... Mẹ em nói, phận bèo bọt, phận cỏ mọn hoa hèn, nào dám tơ vương đến chốn lầu son gác tía, nào dám vướng vít vào cửa quan cao rộng."

Nhân Mã nghe từng lời tỏ tường mà lồng ngực như có ai bóp nghẹt. Cổ họng thầy khô đắng, ngàn vạn lời muốn nói, ngàn vạn lời biện bạch cho cái duyên trớ trêu, mà sao khi thốt ra, chỉ còn lại một chữ nợ nặng trĩu ngàn cân.

"Ta... là ta nợ nàng. Ta nợ nàng một đời bình yên bên mái rạ, bờ ao, ấy là món nợ của ái tình, nhưng..."

Nhân Mã bỗng chốc ngừng lại, đưa mắt nhìn ra xa xăm, nơi dòng sông đang cuộn chảy.

"Nhưng ta cũng mang trên vai món nợ với gia đường. Ta nợ gia đình ta một kiếp vinh quang, một con đường rạng rỡ tổ tông."

Cái chữ vinh quang cớ sao lại mặn chát như muối xát vào tim. Đêm ấy, vầng trăng dường như cũng biết u sầu, co mình nép sau rặng mây đen kịt. Họ ngồi bên nhau rất lâu như hai pho tượng đá lặng lẽ đến não nùng. Không ai nói với ai thêm một lời nào nữa. Dẫu lời đã tận nhưng tình vẫn chưa tan.

Thứ thanh âm duy nhất còn tồn đọng là tiếng gió gào thét, hoặc phải chăng là tiếng lòng của họ đang khóc than? Gió mang theo cái se lạnh tê tái từ tận thượng nguồn, thổi vào tâm hồn hai kẻ tình si. Họ cứ thế ngồi đó bất động, để cho cái mối tơ vương nghiệt ngã ấy. Tơ vương quấn lấy tim, quấn lấy phổi, quấn đến không thể thở nổi. Họ biết chứ, biết rõ lắm, đây là lần cuối cùng họ được ngồi bên nhau trong cái tĩnh lặng của đất trời này, vầng trăng kia là chứng giám, dòng sông kia là chứng giám.

Vầng trăng chưa kịp tròn lại đã khuyết, người ta đã nghe tiếng pháo đinh tai nhức óc nổ ran cả một góc trời tỉnh lỵ. Từ kiệu hoa, ngựa quý, đến lọng tía, cờ hồng, cái đám cưới của thầy Vũ và tiểu thư nhà họ Nguyễn, chao ôi, nó linh đình đến mức khiến cả người đi đường cũng phải ngẩn ngơ.

Người ta thấy chú rể Vũ Nhân Mã vận một bộ lễ phục complet tân thời, thứ vải hảo hạng nhập từ Tây quốc, vẻ mặt trang nghiêm, đĩnh đạc, xứng lứa vừa đôi với cô dâu lá ngọc cành vàng. Nhưng kể từ ngày hỉ sự ấy, người ta không còn thấy bóng dáng Bảo Bình đâu nữa, cứ như làn khói sương hư ảo, nàng tan biến khỏi cái trấn thành ồn ã. Người ta rỉ tai nhau, kẻ thì đoán chắc rằng đã tận mắt thấy nàng theo mẹ, gói ghém chút tư trang nghèo nàn, lầm lũi lên chuyến đò ngược, về mãi chốn Hưng Yên cố thổ, chôn vùi đời hoa nơi ruộng lúa, ao rau. Kẻ khác lại thề sống thề chết rằng trong một đêm trăng lu, họ đã thấy một bóng hình gieo mình xuống dòng Hồng Hà cuồn cuộn, ngay cái bến đò Tản Viên, nơi ngày xưa có hai kẻ tình si đã từng hẹn ước.

Chỉ có lão Xẩm Tứ, tối hôm pháo hoa rợp trời ấy lão không nhập vào đám hỉ mà ngồi một mình ở góc đình. Lão lại kéo nhị, chẳng phải là kéo để kiếm ăn, nó là tiếng ruột gan bị người ta xé ra. Tiếng đàm ai oán, bi thiết, như khóc than cho một mối tình chỉ mới sớm nở đã vội lụi tàn.

Rồi thì, bao nhiêu mùa lá rụng, bao nhiêu vầng trăng tròn rồi lại khuyết trên dòng sông cũ, thời gian là dòng bạc, cứ thế vô tình cuốn trôi lẽ đời. Chẳng biết từ bao giờ, người ta giờ không còn gọi là thầy Vũ mà phải cúi mình, kính cẩn gọi mấy tiếng "Cụ Tuần Phủ". Cụ Tuần phủ Vũ Nhân Mã oai phong, bệ vệ trong bộ triều phục đính ngọc khảm vàng, quyền cao chức trọng, một tay che cả một vùng. Bên cạnh cụ là cụ Tuần phủ phu nhân, nhũ danh Hoài An, bà vẫn giữ cái vẻ đài các, phúc hậu của một bậc mệnh phụ. Họ có với nhau ba mặt con, nếp nhà yên ấm, con cái đề huề, trai tài, gái đảm. Người đời nhìn vào ai cũng tấm tắc khen. ấy là một bức họa toàn bích của "sư tử hý cầu", của "sắt cầm hòa hợp", của "phúc lộc thọ khang" mà người đời ao ước.

Chỉ là, vào một buổi chiều thu, cụ Tuần phủ dạo bước trên con phố Hàng Đàn cũ kỹ. Khi cỗ xe song mã đi ngang qua góc đình rêu phong, bỗng nhiên cụ giơ tay ra hiệu cho dừng lại. Cụ Tuần phủ khựng lại, đôi mắt già nua vốn đã nhìn thấu bao nhiêu hỉ nộ ái ố của cõi đời bỗng nheo lại, nhìn chằm chằm vào khoảng không vô định dưới gốc đa già.

Lão Xẩm Tứ, lão nghệ sĩ già khốn khổ ấy, xương cốt đã xanh mồ từ bao nhiêu năm rồi, cả cái góc đình này cũng đã bao lần thay chủ. Nhưng cớ sao cái tiếng nhị bi ai, cái tiếng hát khàn khàn về "nợ", về "tình", về "duyên", về "phận bèo bọt", nó vẫn như lảng vảng đâu đây? Nó như một thứ oan hồn không thể tan đi, nó bám riết lấy cái không khí này, bám riết lấy linh hồn của kẻ còn sống.

Cụ Tuần phủ Vũ Nhân Mã bất giác thở ra một hơi dài khiến phu nhân Hoài An không khỏi lo lắng, khẽ lay tay chồng:

"Mình mệt ạ?"

Cụ Tuần phủ giật mình rồi quay lại, bình thản mỉm cười với phu nhân.

"Không, ta đâu có mệt."

Cụ lắc đầu, kéo lại cổ áo bào cho kín.

"Chỉ là ta thấy gió thu...có chút lạnh ."

Cụ nói là gió thu, nhưng trong thâm tâm cụ biết rõ đó là ngọn gió từ thượng nguồn sông Hồng, ngọn gió của cái đêm tàn năm cũ, nó vừa thổi qua trái tim đã già cỗi của cụ. Lạnh buốt.
______
- 𝙛𝙙𝙪𝙧𝙖𝙣.𝙩𝙝

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co