Truyen3h.Co

NMDERDKLTB

P11

lthly03

Ánh nắng giữa trưa chiếu qua cửa sổ, khúc xạ vào không gian phòng tắm nhỏ hẹp, khiến nhiệt độ trong phòng tăng vọt. Nếu cứ như vậy, sự nóng bức này sẽ làm người ta không thể chịu đựng nổi.

Vừa đúng giây thứ mười khi ánh mắt họ giao nhau, Lưu Diệu Văn đột ngột ép Tống Á Hiên vào tấm gương, cúi xuống hôn cậu.

Tống Á Hiên bị ép phải nuốt một ít bọt cạo râu. Cậu khẽ rên lên phản kháng nhưng hoàn toàn vô dụng. Mỗi lần cậu phát ra âm thanh, Lưu Diệu Văn lại càng hôn mạnh hơn, buộc cậu phải nuốt thêm nhiều bọt hơn nữa.

Phòng tắm nhỏ hẹp lặp lại những gì vừa xảy ra trong phòng ngủ. Tấm gương trên tường ghi lại tất cả những gì đáng xảy ra trong mùa xuân. Dưới làn mưa, quả trên cành dần căng mọng đỏ rực lên, rồi cuối cùng cũng chín ngọt căng tràn sức sống.

.........

Lần này Tống Á Hiên thực sự mệt lắm rồi.

Đến tận bốn giờ chiều cậu mới tỉnh dậy. Vừa mở mắt đã ngửi thấy mùi thơm của đồ ăn.

Tống Á Hiên bước ra khỏi phòng, mắt chạm vào cảnh tượng bếp núc với hai món mặn đã được chuẩn bị sẵn, một bát canh nghi ngút khói và... tàn tích của hai quả trứng luộc dở từ sáng, là minh chứng rõ ràng cho trình độ nấu ăn tệ hại của cậu.

Thấy cậu bước ra, Lưu Diệu Văn liền hỏi: "Sao ngay cả trứng cũng không luộc được? Năm năm qua em ăn cái gì thế hả?"

"Không phải... Là vì anh gõ cửa nên em mới tắt bếp. Còn chưa kịp luộc xong mà."

"Còn cãi cơ." Lưu Diệu Văn giơ tay gõ nhẹ lên trán cậu. "Ngủ đủ chưa em? Nếu chưa thì đi ngủ thêm đi. Có thấy khó chịu không? Đau không? Lần đầu tiên chắc sẽ—"

"Đủ rồi, không khó chịu, không đau." Tống Á Hiên cắt lời, bước tới tựa vào người anh khẽ nói: "Thích."

Lưu Diệu Văn vỗ nhẹ vào mông cậu như một hình phạt.

"Tổ tông à, đừng có trêu anh nữa được không? Mau rửa tay rồi ăn cơm."

Tống Á Hiên thực sự mệt, sức khỏe của cậu không thể sánh với Lưu Diệu Văn. Hơn nữa cả ngày nay cậu chưa ăn gì, nếu còn tiếp tục thì chắc chắn không chịu nổi.

Hai người cùng nhau bày thức ăn lên bàn. Sau năm năm, cuối cùng họ lại ngồi xuống ăn cơm cùng nhau giống như những ngày còn sống ở khu Hữu Nghị.

Đang ăn, Tống Á Hiên bỗng nhớ đến việc Đinh Thuấn nhờ cậu giới thiệu người có kinh nghiệm bán lẻ, liền kể cho Lưu Diệu Văn nghe.

Nghe xong, Lưu Diệu Văn có chút do dự. Tống Á Hiên hỏi anh đang ngần ngại điều gì, anh đáp: "Anh ở nhờ nhà em, lại còn để em giới thiệu công việc. Chúng ta thế này giống yêu đương gì, nhìn như anh đang bám lấy đại gia vậy."

"Không phải thế đâu." Tống Á Hiên nghiêm túc tiếp lời: "Thật ra em cũng có suy tính riêng, coi như nhờ anh giúp một tay."

"Dù Đinh Thuấn những năm qua đã giúp em rất nhiều, nhưng dù sao anh ta cũng là người ngoài, không hề có quan hệ huyết thống gì với em. Sau này nếu xảy ra xung đột lợi ích, em chỉ có cổ phần trong công ty mà không có quyền quản lý, có thể sẽ rơi vào thế bị động."

"Dù công ty đã bán cho anh ta nhưng đó là thứ mà em đã phải nhẫn nhịn suốt năm năm mới có thể giành được từ tay ba em. Em không muốn mất quyền kiểm soát đối với khối tài sản này."

"Cái gì thuộc về em, em muốn nó mãi mãi thuộc về em."

Nhìn vẻ mặt lạnh lùng, thậm chí có chút cứng rắn của Tống Á Hiên khi nói những lời này, Lưu Diệu Văn cảm thấy năm năm qua mình đã bỏ lỡ quá nhiều. Cậu không còn là chàng trai ngây thơ và mơ hồ của năm năm trước nữa. Điều đó khiến anh vừa tự hào lại vừa đau lòng.

Anh vươn tay áp lên má cậu, khẽ nói:

"Thỏ con lớn rồi."
Lưu Diệu Văn đau lòng khi nghĩ về những năm tháng cô độc của Tống Á Hiên ở Macao. Cậu nói rằng mình muốn giữ quyền kiểm soát đối với tài sản mà cậu đã khó khăn giành lấy, và điều đó khiến Lưu Diệu Văn chẳng chút do dự mà đồng ý giúp đỡ.

Anh không muốn để Tống Á Hiên chịu thêm bất kỳ khổ sở nào nữa. Nếu cậu không thích kinh doanh, vậy thì anh sẽ làm thay. Vừa hay, đây cũng là công việc anh có khả năng và kinh nghiệm.

Tống Á Hiên mời Đinh Thuấn đến Thượng Hải gặp Lưu Diệu Văn. Sau khi bàn chuyện công việc, họ tiếp tục nói về cuộc sống. Từ miệng Đinh Thuấn, Lưu Diệu Văn biết thêm rất nhiều về những khó khăn mà Tống Á Hiên đã trải qua trong năm năm qua, càng nghe anh càng cảm thấy xót xa.

Việc để Lưu Diệu Văn tham gia vào công ty, mục đích của Tống Á Hiên chắc chắn Đinh Thuấn hiểu rõ nhưng anh ta vẫn đích thân đến Thượng Hải và nói thẳng rằng bản thân không có kinh nghiệm về bán lẻ, cũng không quen thuộc thị trường nội địa, mong Lưu Diệu Văn chỉ dẫn thêm.

Lưu Diệu Văn thực ra chỉ làm những việc kinh doanh nhỏ lẻ, chưa từng tham gia vào những việc lớn, nhưng lời nói của Đinh Thuấn lại mang hàm ý trân trọng cũng như tỏ rõ rằng anh ta không hề phản đối sự sắp xếp của Tống Á Hiên. Điều này có nghĩa là trong công ty sẽ luôn có một vị trí dành riêng cho cậu.

Sự trưởng thành và tinh tế ấy hoàn toàn khác xa với những năm tháng ngây ngô của cả hai khi còn nhỏ.

Thời gian thấm thoắt trôi qua. Nhìn về phía Lưu Diệu Văn, người mà cậu đã yêu suốt bao năm giờ đây cuối cùng cũng quay trở lại bên cạnh, Tống Á Hiên không khỏi cảm thấy may mắn.

Trước khi rời đi, Tống Á Hiên nâng ly kính Đinh Thuấn, "Cảm ơn anh. Dù là trước đây hay bây giờ, anh đều giúp tôi rất nhiều."

"Đâu có gì. Là tôi nhờ cậu cho người đấy chứ." Đinh Thuấn cười đáp, rồi quay sang nhìn Lưu Diệu Văn: "Sau này có lẽ sẽ phải làm phiền anh chạy qua chạy lại Macao nhiều hơn."

Lưu Diệu Văn gật đầu, uống cạn ly rượu.

Tối nay, Lưu Diệu Văn thay Tống Á Hiên uống không ít rượu. Nhiều đến mức ngay cả Đinh Thuấn cũng không nhịn được mà cười trêu: "Những người đang yêu đúng là khiến người khác khó chịu thật."

Về đến nhà, Tống Á Hiên định tìm công thức nấu ăn để làm món gì đó giải rượu cho anh thì bất ngờ bị Lưu Diệu Văn ôm từ phía sau, bế thẳng vào phòng ngủ rồi thả lên giường.

Anh siết chặt lấy tay cậu, đè xuống hỏi: "Em nói anh ta trước đây cũng giúp em nhiều, là chuyện gì?"

Quá bất ngờ, Tống Á Hiên không kịp phản ứng: "...Hả?"

Lưu Diệu Văn quỳ bên cạnh cúi nhìn cậu, hỏi tiếp: "Năm năm qua em tiếp xúc với anh ta nhiều không? Anh ta quan tâm em lắm à? Có phải anh ta đối xử với em rất tốt? Anh ta có thích em không?"

"Không có đâu!" Tống Á Hiên vội vàng giải thích. "Anh ta có người mình thích rồi, hai người họ lớn lên cùng nhau ở Macao, thầm thích người ta nhiều năm rồi làm sao có thể thích em được. Hơn nữa... hơn nữa, kể cả nếu anh ta không thích ai cũng không thể thích em được."

"Thật không?" Lưu Diệu Văn lạnh mặt hỏi lại. "Nhưng anh nhớ em từng nói cuốn băng video đó là anh ta bỏ vào túi em."

"Anh ta... anh ta..." Tống Á Hiên nhất thời á khẩu, bất ngờ đỏ mặt lí nhí đáp: "Anh ta cũng là ở... dưới."

Lưu Diệu Văn động tác khựng lại, hỏi ngược: "Ồ, thế còn em?"

Cúc áo đã được tháo ra một nửa, không khí hơi lạnh lan tỏa. Nhưng Lưu Diệu Văn lại dừng lại, đúng là xấu xa. Tống Á Hiên vươn tay định kéo chăn lên đắp, nhưng tay cậu đã bị anh giữ chặt.

Lưu Diệu Văn đứng dậy, ngồi ở đầu giường, vỗ lên đùi mình nói: "Em cứ bắt anh ôm em suốt. Ôm em mà em còn ngồi lên người anh được cơ mà."

Cách nói của anh làm Tống Á Hiên nghẹn lời. Vẫn chưa bắt đầu mà anh đã buông lời trêu ghẹo như vậy, còn món canh giải rượu của anh thì sao?

Thấy cậu ngồi im không động đậy, Lưu Diệu Văn bật cười hỏi lại: "Sao thế? Anh nói sai à? Không phải em sao? Yêu cầu đủ nhiều đấy."

Đồ đáng ghét! Quá đáng ghét! Sao có thể nói thẳng như vậy được chứ.

Nhìn cậu không phản ứng, Lưu Diệu Văn giả vờ đứng dậy nói: "Ồ, không phải em à? Thế thì sau này không như vậy nữa—"

Tống Á Hiên lập tức nắm lấy tay không cho anh đi. Cậu ngước nhìn anh vài giây, rồi ngoan ngoãn nhấc chân ngồi lên đùi anh.

Họ hôn nhau, ôm nhau. Lưu Diệu Văn yêu cầu cậu không tháo kính, cũng không được tháo khăn quàng cổ.

Không tháo kính thì được, nhưng khăn quàng cổ thì không. Đó là chiếc khăn mà năm năm trước chính tay anh đã đan cho cậu.

Dẫu vậy, lời phản đối của Tống Á Hiên trước mặt Lưu Diệu Văn luôn không có tác dụng. Không còn tấm chắn nào trên người, cậu chỉ có thể dùng tay che chắn chiếc khăn, nhỏ giọng nói: "Khăn sẽ hỏng đấy anh, sẽ bẩn mất."

Lưu Diệu Văn cười đáp: "Bẩn thì anh giặt, hỏng thì anh đan cho em cái khác. Anh sẽ đan cho em cả đời."

Những ngày sau đó, Tống Á Hiên tiếp tục làm việc tại văn phòng luật, còn Lưu Diệu Văn bận rộn với việc mở rộng thị trường bán lẻ nội địa cho công ty của Đinh Thuấn. Cuộc sống của họ tuy bận rộn nhưng tràn đầy ý nghĩa.

Dẫu vậy cả hai không bao giờ quên chuyện của Điền Kim Lai. Những bằng chứng họ mang từ Cáp Nhĩ Tân vẫn chưa được sử dụng.

Tống Á Hiên liên lạc với một luật sư am hiểu về luật hình sự ở cả Macao và nội địa để bàn bạc. Cậu bày tỏ mong muốn của mình: tiền bạc không thành vấn đề, miễn sao có thể khiến Điền Kim Lai trả giá cho những hành động của gã, cậu sẵn sàng chi trả bất cứ khoản nào.

Tuy nhiên thời điểm đó Macao vừa mới được trao trả về Trung Quốc, các quy định về thẩm quyền và thủ tục tố tụng hình sự giữa hai bên vẫn chưa hoàn thiện. Dựa vào bằng chứng hiện có, chỉ một tờ giấy nợ vẫn chưa đủ để loại trừ mọi nghi ngờ hợp lý.

Luật sư hỏi: "Còn chứng cứ nào khác không? Hoặc nhân chứng?"

Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn nhìn nhau, trong đầu đều nghĩ đến cùng một người.

Diêu Văn Tĩnh, người bạn thuở nhỏ của họ, đã thi đỗ vào một trường đại học tài chính ở Bắc Kinh sau kỳ thi đại học. Hiện tại, cô đang làm việc tại một ngân hàng quốc tế.

Trong năm năm Tống Á Hiên rời Cáp Nhĩ Tân, mỗi khi về nghỉ hè hay nghỉ đông, Diêu Văn Tĩnh đều hỏi thăm Lưu Diệu Văn về tin tức của cậu. Nhưng Lưu Diệu Văn chỉ có thể lắc đầu, bảo rằng ngay cả anh cũng đang tìm kiếm cậu, không ngờ Tống Á Hiên lại cắt đứt liên lạc với tất cả mọi người.

Sau khi tốt nghiệp, Diêu Văn Tĩnh ở lại Bắc Kinh làm việc và chỉ về nhà vào dịp Tết. Năm nay, đúng lúc cô về quê thì Lưu Diệu Văn lại đưa mẹ đến Thượng Hải phẫu thuật, cả hai không gặp được nhau.

Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên tìm cách liên lạc với Diêu Văn Tĩnh, hỏi liệu cô có thể gặp họ không. Họ sẵn sàng đến Bắc Kinh, không để cô phải di chuyển.

Khi nhận được cuộc gọi từ Tống Á Hiên, giọng của Diêu Văn Tĩnh tràn đầy niềm vui. Cô mời họ bất cứ lúc nào cũng được, còn hứa sẽ nấu cơm và bày tiệc đãi họ.

Hai người lập tức lên đường đến Bắc Kinh. Diêu Văn Tĩnh ra tận sân bay đón họ.

Cô vẫn giữ mái tóc ngắn nhưng phong thái đã trở nên trưởng thành và chín chắn hơn nhiều. Những dấu vết của cô gái nhỏ ngày nào với bím tóc đuôi sam giờ đây khó mà nhận ra.

Diêu Văn Tĩnh đưa họ về nhà mình, chuẩn bị một bàn đầy ắp các món ăn quê hương vùng Đông Bắc. Cô cười nói: "Ở Bắc Kinh rất khó ăn được món sườn xào chua ngọt chính gốc, Thượng Hải chắc cũng thế đúng không?"

Cả hai gật đầu tán thưởng, không quên khen tay nghề của cô.

Tống Á Hiên hỏi: "Văn Tĩnh, vậy cậu... định ở lại Bắc Kinh luôn à, không về quê nữa sao?"

Diêu Văn Tĩnh mỉm cười, nhấp một ngụm rượu rồi nói: "Không về được nữa."

Cô cúi đầu, giọng chất chứa đầy tâm sự: "Thật ra tôi rất muốn về. Tôi quen với cái lạnh âm hai mươi độ của mùa đông, quen với những trận tuyết lớn, quen với tất cả mọi thứ ở Cáp Nhĩ Tân. Nhưng mà..."

"Nhưng mỗi khi về, tôi lại không còn là chính mình nữa. Tôi trở thành con gái của ba mẹ, cháu của ông bà nội, ông bà ngoại. Tôi trở thành người phụ nữ đến tuổi phải kết hôn, không nên một mình chạy đến Bắc Kinh làm việc. Tôi phải kết hôn, sinh con, sống một cuộc đời ổn định."

"Dù nhiều người ở quê tôi sau thời kỳ thất nghiệp cũng thay đổi suy nghĩ, nhưng tư tưởng của ba mẹ tôi vẫn quá cố hữu. Cậu biết không, trước đây ba tôi thậm chí còn hỏi Điền Kim Lai đang ở đâu. Ông ấy bảo hồi nhỏ hai đứa chơi với nhau thân lắm, hay là hai đứa về quê cố gắng vun đắp lại tình cảm."

Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn liếc nhìn nhau, rồi Lưu Diệu Văn hắng giọng nói: "Hắn đang ngồi tù ở Macao."

"Chuyện đó tôi biết." Diêu Văn Tĩnh bình thản đáp. "Năm ngoái, ba mẹ hắn có lần khóc lóc ầm ĩ trong sân, nói rằng con trai họ đi làm ở miền Nam rồi bị người ta hãm hại phải vào tù oan. Sau đó, ba tôi không nhắc đến chuyện Điền Kim Lai nữa nhưng lại hỏi tôi có biết hắn phạm tội gì không, có thực sự bị oan không."

Cô cười lạnh: "Những chuyện khác tôi không biết nhưng tôi biết rõ một điều: loại người như hắn chắc chắn không thể nào là bị oan."

Tống Á Hiên đặt đũa xuống, bình tĩnh nói: "Là tôi đưa hắn vào tù."

Diêu Văn Tĩnh sững người.

Câu chuyện quá dài. Lưu Diệu Văn biết Tống Á Hiên không thích nói nhiều, cũng không muốn cậu phải khơi lại những vết thương trong suốt năm năm qua nên anh chủ động thay cậu kể lại tất cả, đồng thời giải thích rằng họ hy vọng cô có thể làm chứng.

Tống Á Hiên bổ sung: "Nếu làm chứng, có thể sau này khi ra tòa, cậu sẽ phải đối mặt với hắn... Chuyện này, cậu có thể suy nghĩ lại—"

"Không cần suy nghĩ." Diêu Văn Tĩnh quả quyết. "Tôi sẽ đi, nhất định sẽ đi. Khi nào cần cứ báo tôi, tôi sẽ sắp xếp xin nghỉ."

Từ Bắc Kinh trở về Thượng Hải, mọi công việc liên quan đến tư vấn kiện tụng và công việc riêng của hai người đều tiến triển thuận lợi.

Vào một kỳ nghỉ lễ, Lưu Diệu Văn đưa Tống Á Hiên đến Macao để tái khám tâm lý. Bác sĩ nhận xét tình trạng của cậu hiện tại rất tốt, có thể tạm thời ngưng thuốc và chỉ cần tái khám định kỳ sau đó.

Sau đó, Lưu Diệu Văn trở thành một "người bay trên không" thường xuyên đi lại giữa Thượng Hải, Macao và Cáp Nhĩ Tân. Anh trở về Cáp Nhĩ Tân là để bắt tàu về quê thăm mẹ, mỗi hai tháng anh lại trở về một lần để đảm bảo sức khỏe của bà vẫn ổn.

Chớp mắt đã một năm trôi qua, Lưu Diệu Văn thành công mở rộng thị trường bán lẻ tại Thượng Hải. Công ty thành lập chi nhánh tại Thượng Hải, và anh trở thành tổng phụ trách.

Từ một người kinh doanh nhỏ lẻ, giờ đây Lưu Diệu Văn đã trở thành tổng giám đốc Lưu. Công việc càng thêm bận rộn, các chuyến công tác nối tiếp nhau không dứt.

Lúc này, anh vừa về nhà vài ngày đã lại phải đi công tác, lần này sẽ kéo dài mười ngày.

Tống Á Hiên ngủ một mình, trằn trọc không sao chợp mắt. Đến giữa đêm, cậu gọi điện cho anh, giọng đầy nũng nịu: "Nhớ anh quá đi. Lần này anh đi lâu quá, em chẳng có động lực vẽ nữa, công việc thì làm mãi không xong. Tất cả là tại anh."

"Được, được, là tại anh hết." Lưu Diệu Văn nghe giọng cậu mà không chịu nổi, chỉ muốn lập tức quay về để ghì cậu xuống giường. "Về nhà anh đền bù cho, nhé?"

Tống Á Hiên cuộn mình trong chăn, cầm điện thoại xoay qua xoay lại, hỏi: "Đền thế nào?"

Lưu Diệu Văn nghe thấy tiếng cậu cựa quậy, bèn đáp: "Em đợi đấy."

Năm ngày sau, vào buổi tối, Tống Á Hiên vẫn đang tăng ca tại văn phòng. Cậu đã vùi đầu vào bản vẽ cả ngày, mắt mờ dần vì mệt mỏi.

Các đồng nghiệp đã cùng cậu thức trắng hai đêm liền, cậu không nỡ bắt họ ở lại thêm nên tối nay để họ về nghỉ. Văn phòng chỉ còn lại một mình cậu.

Cậu tháo kính ra xoa xoa mắt, khi ngẩng lên thì thấy có người tay xách hành lý đẩy cửa bước vào.

Là Lưu Diệu Văn.

Tống Á Hiên cứ tưởng mình hoa mắt, mãi đến khi anh bước đến trước mặt, cậu mới ngơ ngác hỏi: "Không phải anh đi mười ngày sao?"

"Em nhớ anh nên anh về sớm." Lưu Diệu Văn ngậm một điếu thuốc, rút từ túi ra cái bật lửa rồi ném vào tay cậu, cúi xuống gần hơn. "Châm lửa cho anh nào."

Tống Á Hiên im lặng nhìn anh một lúc, sau đó rút điếu thuốc từ miệng anh ra, ngẩng đầu hôn anh.
Ba năm sau.

Tết Nguyên Đán năm 2003, Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên xin nghỉ phép sớm. Họ thuê một chiếc xe từ Cáp Nhĩ Tân, lái về quê để đón Tôn Hiền lên thành phố kiểm tra sức khỏe. Các chỉ số của bà đều tốt khiến mọi người vui vẻ hơn hẳn khi trở về làng đón năm mới.

Hai năm trước, Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên đã mua cho bà một chiếc tivi. Từ đó, nhà bà trở thành nơi tụ họp của dân làng, đặc biệt là đám trẻ con rất thích đến xem nhờ.

Khi bà về đến nhà, đám trẻ con chạy khắp nơi báo tin như những chú chim cu gáy: "Bác Tôn về rồi! Anh Lưu Diệu Văn cũng về rồi! Lại được xem tivi rồi!"

Nghe vậy, hàng xóm láng giềng đều ló đầu ra chào hỏi. Ai cũng biết Lưu Diệu Văn bây giờ đang làm ăn lớn ở Thượng Hải, giàu có hơn hẳn, nên họ tò mò muốn xem anh đã thay đổi ra sao.

Thấy Tống Á Hiên đi cùng, có người trêu Lưu Diệu Văn: "Ồ, lại dẫn bạn về ăn Tết à?"

Lưu Diệu Văn giả vờ như không nghe thấy, đáp lời khác: "Chào chú Vương, năm mới tốt lành nhé!"

Ba năm qua, mỗi năm Lưu Diệu Văn đều đưa Tống Á Hiên về quê ăn Tết. Năm đầu tiên thì không sao, nhưng năm thứ hai đã có người thắc mắc: "Sao bạn cậu năm nào cũng về đây thế? Không về nhà cậu ấy à? Hai cậu thân nhau thế, quen nhau kiểu gì vậy?"

Có người còn nói thẳng với Tống Á Hiên: "Cậu và Lưu Diệu Văn là bạn thân, nhưng sau này khi một trong hai cậu lấy vợ rồi sẽ khó giữ được tình cảm như bây giờ lắm. Chẳng lẽ lúc đó Lưu Diệu Văn không đưa vợ về mà đưa cậu về chắc?"

Làng quê là vậy, người ta thích bàn tán. Dẫu những lời đó không có ý xấu, nhưng nghe xong Lưu Diệu Văn vẫn cảm thấy không thoải mái, lo Tống Á Hiên cũng sẽ phiền lòng.

Đêm giao thừa, lửa trên giường sưởi tỏa ấm cả căn phòng.

Lưu Diệu Văn kéo Tống Á Hiên từ giữa chân mình lên, dùng khăn giấy lau sạch khóe môi cậu và cả kính mắt. Lau xong, anh ôm cậu lên đùi, hôn sâu.

Vừa hôn anh vừa nói: "Đừng để ý những lời người trong làng nói. Họ chỉ rảnh rỗi thôi."

Tống Á Hiên mệt mỏi vì cả đôi môi lẫn cơ thể đã phải chịu đựng suốt cả buổi, khẽ rên rỉ, giọng mềm nhũn: "Ừm... Ai nói gì em cũng không quan tâm, trên đời này em chỉ quan tâm đến anh thôi..."

Lưu Diệu Văn hôn cậu thêm một lúc nữa mới chịu dừng lại, ôm cậu vào lòng khẽ nói: "Họ cũng không sai. Lưu Diệu Văn đưa vợ về quê ăn Tết. Chuẩn rồi, anh mang theo đấy."

Tống Á Hiên ngẩng lên từ trong vòng tay anh, không hài lòng: "Ai là vợ anh chứ?"

"Ồ? Không phải em à?" Lưu Diệu Văn cười nhếch mép. "Thế sao mỗi lần anh khiến em vui vẻ, em lại gọi anh là chồng? Gọi đến mức không dừng được luôn."

Tống Á Hiên đỏ bừng mặt, vội vã đưa tay bịt miệng anh, thì thầm: "Mẹ đang ở phòng bên cạnh đấy!"

Nhắc đến Tôn Hiền, thực ra Lưu Diệu Văn đã có ý định nói thẳng với bà, nhưng Tống Á Hiên lo bà sẽ sốc nên khuyên anh tạm thời giữ kín.

Lưu Diệu Văn nghĩ trong lòng bà có lẽ đã biết từ lâu rồi.

Sáng sớm hôm sau là ngày ba mươi Tết, họ cùng nhau lên núi viếng mộ ba của Lưu Diệu Văn.

Sau khi xuống núi, cả hai trở về nhà cùng Tôn Hiền chuẩn bị bữa tối tất niên.

Như thường lệ, hàng xóm kéo đến xem tivi. Thấy họ trở về, có người lại trêu:

"Lưu Diệu Văn này, lần nào cũng đưa bạn đi tảo mộ với cậu. Cậu có nói rõ với ba chưa? Kẻo ông ấy hiểu lầm đấy."

"Ấy, cậu nói xem, trên trời có thể xem phim dưới trần không? Mấy phim như Xuân Quang Xạ Tiết, Bá Vương Biệt Cơ ấy, ông cụ có biết không nhỉ?"

"Lưu Diệu Văn, cháu hai mươi chín tuổi rồi nhỉ? Vẫn chưa có bạn gái à? Thích kiểu nào để chú giới thiệu cho một người nhé?"

Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên nhìn nhau, ánh mắt đầy ăn ý sau nhiều năm bên nhau. Họ đều hiểu thực tế là như vậy, không cần bận tâm đến những lời nói của người ngoài, chỉ cần có nhau là đủ.

Đúng lúc Lưu Diệu Văn định nói vài câu qua loa để kết thúc, Tôn Hiền đột nhiên quát lớn: "Hai đứa nó đều là những đứa trẻ tốt, mấy người nói cái gì thế hả? Tôi không thích nghe đâu! Tôi nhịn mấy người lâu lắm rồi. Còn nói mấy lời đó nữa thì đừng đến nhà tôi xem tivi, ai cũng không được hoan nghênh!"

Tôn Hiền chưa từng nổi giận, lần này là lần đầu tiên, lại xảy ra vào đúng đêm giao thừa. Điều này chứng tỏ bà thật sự tức giận.

Cả đám người đều bị dọa sợ, nhìn nhau không biết làm gì, cuối cùng lặng lẽ bỏ đi.

Mọi việc xảy ra quá nhanh khiến Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên cũng bất ngờ. Hai người ngơ ngác nhìn nhau, chưa kịp phản ứng.

Tôn Hiền lại làm như không có chuyện gì xảy ra, lặng lẽ xoay bánh xe lăn về phía bếp, nói: "Đứng ngây ra đó làm gì? Mau vào giúp mẹ gói sủi cảo đi."

Hai người vội vàng đi theo vào bếp, vừa gói sủi cảo vừa thầm nghĩ chắc bà sẽ nói gì đó quan trọng với họ.

Nhưng đến khi Tết qua đi, họ chuẩn bị rời làng, Tôn Hiền vẫn không nói thêm lời nào.

Ngày mùng bảy Tết, trước khi lên đường, hai người cùng Tôn Hiền ăn bữa cơm trưa cuối cùng. Sau đó, họ mang hành lý, tạm biệt bà và lên xe.

Xe đã nổ máy, cửa kính đã kéo lên, nhưng đột nhiên Tôn Hiền đẩy xe lăn đến, gõ vào cửa kính xe.

Tống Á Hiên hạ cửa kính xuống, một phong bao lì xì được đặt vào tay cậu.

Ba năm qua, mỗi năm bà đều lì xì cho hai người như ba mẹ tặng con cái, không phải vì bất kỳ ý nghĩa gì khác. Năm nay vào đêm giao thừa, bà cũng đã làm vậy rồi.

Tống Á Hiên nghĩ bà nhầm lẫn, liền vội trả lại: "Dì ơi, hôm ba mươi dì đã cho con rồi mà."

Tôn Hiền không nhìn cậu, chỉ đẩy phong bao vào xe, vẻ mặt có chút lúng túng: "Dì già rồi, một ngày nào đó rồi cũng sẽ đi thôi. Về sau hai đứa phải chăm sóc nhau nhiều hơn. Đi đi, đừng lo cho dì, sống thật tốt nhé."

Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên còn muốn nói gì đó, nhưng Tôn Hiền đã xoay xe lăn trở về nhà.

Tuyết mùa đông lặng lẽ rơi, phủ lên lưng bà một lớp mỏng. Bà không phủi đi, để mặc cho tuyết dần dày lên, như một mảnh đất từng kiên quyết giữ gìn những phong tục xưa cũ giờ đây nhẹ nhàng khoác lên mình lớp áo bạc mà trước kia bà chưa từng nghĩ sẽ chấp nhận.

Sau khi trở về Thượng Hải không lâu, họ nhận được tin từ Macao: Điền Kim Lai bị thương nặng trong một vụ ẩu đả trong tù, được đưa đi cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. Dù có cứu sống được, gã cũng có thể bị liệt nửa người.

Trước đây, vì thủ tục tố tụng hình sự giữa nội địa và Macao chưa hoàn thiện, việc truy cứu tội cướp bóc năm xưa của Điền Kim Lai ở Cáp Nhĩ Tân phải chờ đến khi gã mãn hạn tù tại Macao. Điều này khiến Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn vô cùng tiếc nuối. Nhưng khi nhận được tin này, cả hai không khỏi cảm thấy hả hê.

Quả nhiên trời cao có mắt. Kẻ ác cuối cùng cũng bị báo ứng.

Tại một cuộc họp cổ đông cuối năm của công ty, Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn cùng quay lại Macao. Tống Á Hiên tham gia cuộc họp với tư cách cổ đông, còn Lưu Diệu Văn đến để báo cáo về tình hình mở rộng thị trường nội địa của chi nhánh trong những năm qua.

Ba năm qua, Lưu Diệu Văn đã làm việc vô cùng chăm chỉ. Anh thực sự có tài kinh doanh, vận hành chi nhánh rất thành công, mang lại lợi nhuận đáng kể. Anh nhận được vô số lời khen ngợi từ các cổ đông và lãnh đạo cấp cao, chuyện thăng chức và tăng lương gần như là chắc chắn.

Rời khỏi tòa nhà văn phòng, cả hai cùng mỉm cười vui vẻ, dự định ghé qua Núi Thánh Mẫu để thưởng thức cảnh đêm. Nhưng không ngờ, họ lại gặp một người không mong muốn.

Khi thấy Liễu Chi Quế dẫn theo cậu bé tám tuổi xuất hiện trước mặt, sắc mặt Tống Á Hiên lập tức trở nên lạnh lẽo.

Lưu Diệu Văn nhận ra, ngay lập tức vòng tay qua eo dẫn cậu về phía bãi đậu xe.

Liễu Chi Quế bám theo, chặn đường họ, nói với giọng đầy trách móc: "Tống Á Hiên, tại sao con lại nhẫn tâm như vậy? Em trai con mới tám tuổi thôi! Con đã lấy hết tiền của ba con, lúc trước con nói nếu mẹ muốn lấy tiền của ông ấy, mẹ phải nghe lời con. Kết quả thì sao? Tiền của ông ấy mẹ không nhận được xu nào! Hàng tháng chỉ mong con gửi chút tiền qua. Đúng, mẹ nợ con... nhưng em trai con thì không nợ con điều gì cả! Nó chỉ là một đứa trẻ!"

Bà ta nghẹn ngào, giọng nói như muốn buộc tội: "Ngày nào nó cũng hỏi mẹ anh trai đi đâu rồi, tại sao anh không về thăm nó. Nó còn nhỏ, cần được yêu thương. Nó là em trai ruột của con. Con không thể nào..."

"Tôi nhẫn tâm sao?" Tống Á Hiên dừng bước, giọng nói bình tĩnh nhưng sắc lạnh ngắt lời bà ta: "Câu hỏi này tôi cũng muốn hỏi mẹ."

"Tôi cũng là con của mẹ. Mẹ có thể tốt với nó như vậy, biết rằng nó cần tình yêu thương, nhưng tại sao năm xưa mẹ lại đối xử với tôi nhẫn tâm như thế?" Cậu nhìn thẳng vào bà ta, ánh mắt tràn ngập sự lạnh lùng. "Chỉ vì tôi không phải đứa con thực sự của mẹ, đúng không?"

Liễu Chi Quế mở miệng định nói gì đó, nhưng chưa kịp lên tiếng, Tống Á Hiên đã cúi nhẹ đầu, đưa tay ra về phía Lưu Diệu Văn.

Lưu Diệu Văn hiểu ý nắm lấy tay cậu, mười ngón tay đan vào nhau.

Tống Á Hiên khẽ chỉnh lại gọng kính, mỉm cười nói: "À phải rồi, mẹ à, tôi vẫn chưa giới thiệu với mẹ và em trai. Đây là người yêu của tôi."

Liễu Chi Quế thét lên, vội vã lấy tay che mắt đứa bé, gần như phát điên. Bà ta vừa lôi vừa kéo đứa trẻ, vội vã rời đi trong hỗn loạn.

Đứa bé vẫn chưa hiểu chuyện, liên tục hỏi: "Tại sao anh trai lại nắm tay một người đàn ông?"

Câu hỏi của nó đổi lại là một cái tát đau đớn từ Liễu Chi Quế. Bà ta quát: "Nếu mày còn hỏi những câu như vậy, tao sẽ đánh gãy chân mày!"

Tống Á Hiên định đứng lại để xem thêm "vở hài kịch" này, nhưng không ngờ Lưu Diệu Văn đã nhanh chóng kéo cậu đi, không để cậu dừng chân thêm nữa.

Lưu Diệu Văn bước thật nhanh kéo Tống Á Hiên đến bãi đậu xe, mở cửa xe đẩy cậu vào ghế sau, đóng cửa, khóa lại. Tất cả chỉ diễn ra trong một chuỗi động tác liền mạch.

Chiếc xe đỗ ở một góc tối, ánh sáng không thể soi rọi vào khoảnh khắc buông thả nhất của Macao đêm nay. Những chiếc xe chạy ngang qua phát ra tiếng động, vừa vặn che lấp tiếng thở gấp gáp và những âm thanh khác từ ghế sau.

"Em đúng là giỏi lắm." Lưu Diệu Văn vừa hôn vừa khen.

Tống Á Hiên ngoan ngoãn ngửa cổ để anh mặc sức muốn làm gì thì làm. Nhưng khi nghĩ đến việc Lưu Diệu Văn vì cậu "đối đầu" với Liễu Chi Quế mà lại kích động đến thế, cậu bỗng thấy buồn cười.

Ý nghĩ ấy vừa lóe lên, ngay lập tức cậu nhận một cái đánh mạnh từ bàn tay trái đầy vết sẹo của anh lên mông. Lưu Diệu Văn cảnh cáo: "Không được phân tâm."

Tống Á Hiên vội vàng thu mình lại, ngoan ngoãn hơn hẳn. Cậu thừa hiểu mỗi lần cậu "không nghe lời" thì sẽ có kết cục ra sao, và cậu không muốn lặp lại trải nghiệm lần đó.

Nhớ lại sinh nhật của Lưu Diệu Văn năm ngoái, cậu cuối cùng đã đồng ý để anh "thử sức" trong thư phòng. Không hiểu vì sao Lưu Diệu Văn lại rất thích bàn làm việc của cậu, nhất định bắt cậu mặc áo sơ mi trắng và quần tây như khi đi làm. Đêm đó mặt bàn làm việc đầy những dấu vết, bản vẽ và bút bị xô đổ tứ tung, vậy mà anh vẫn không hề dừng lại.

Nhưng kế hoạch đêm nay không được thuận lợi. Khi không khí đang nóng lên, cả hai chiếc điện thoại đồng thời đổ chuông.

Lưu Diệu Văn không thèm để ý, cũng không cho Tống Á Hiên nghe máy. Nhưng tiếng chuông cứ reo rồi ngắt, ngắt rồi lại reo, liên tục vài lần khiến cả hai mất hết hứng thú.

Lưu Diệu Văn nhấc điện thoại, thấy trên màn hình hiện tên Nhậm Thiếu Vĩ, anh bực bội bấm nút nhận cuộc gọi định mắng thẳng.

Còn Tống Á Hiên thấy tên Thường Hiểu Yến hiện trên màn hình, cậu bèn nghe máy.

"Anh em ơi, tao với Yến Nhi sắp kết hôn rồi! Chết tiệt, tao muốn khóc quá! Mười năm, tao theo đuổi cô ấy mười năm trời! Đám cưới sẽ tổ chức ở Cáp Nhĩ Tân, ngay tại hội trường trường nghề cũ của chúng ta. Mày nhất định phải về đấy!"

"Tống Á Hiên! Tôi sắp gả cho Nhậm Thiếu Vĩ rồi! Trời ạ, cậu nói xem có phải hoa tươi cắm trên bãi phân trâu không? Thôi, nghĩ lại thì anh ấy cũng theo đuổi tôi mười năm rồi, tôi đành miễn cưỡng chấp nhận vậy. Đám cưới ở Cáp Nhĩ Tân đó, nhớ dắt theo Lưu Diệu Văn nhà cậu nhé!"
Khi trở lại Cáp Nhĩ Tân, những bông tuyết đầu mùa vừa lác đác rơi.

Đám cưới của Nhậm Thiếu Vĩ và Thường Hiểu Yến sẽ diễn ra vào ngày mai. Hai người trở về căn nhà ở khu Hữu Nghị trước.

Chiếc xe đạp hiệu Khổng Tước vẫn được cất giữ trong căn phòng này, qua bao năm tháng giờ đã trở thành một món đồ cổ khi những thương hiệu xe đạp quốc tế như Giant và Geno bắt đầu du nhập vào thị trường Trung Quốc.

Những lần trước, mỗi khi họ trở về Cáp Nhĩ Tân thường vào dịp Tết, lúc nào cũng vội vã, khác hẳn với hôm nay khi họ có dư dả thời gian.

Lưu Diệu Văn liếc nhìn chiếc xe đạp, nhướng mày với Tống Á Hiên.

Tống Á Hiên vừa quấn lại chiếc khăn quàng cổ chưa lâu đã tháo ra, giờ lại quấn lên lần nữa, đáp gọn: "Dạ!"

Chiếc khăn này đã theo cậu nhiều năm, giờ đây đã hơi cũ, khả năng giữ ấm cũng không còn tốt, nhưng vì là do Lưu Diệu Văn tự tay đan nên cậu không nỡ đổi. Dù có rách một lỗ, cậu vẫn cố giữ lại để dùng.

Có lẽ hành động đó có vẻ kỳ quặc với người ngoài, giống như việc quyết định đạp xe dưới trời tuyết, nhưng chỉ có Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn mới thấu hiểu.

Tình yêu vốn dĩ là như vậy.

Lưu Diệu Văn vác chiếc xe đạp xuống lầu, ngồi vào yên trước.

Tống Á Hiên nhảy lên yên sau. Chiếc xe hơi chao đảo vì chuyển động của cậu, cậu bất giác kêu "A!" một tiếng, sau đó nhận ra cảnh tượng này giống như đã từng xảy ra.

Lưu Diệu Văn dừng lại, không đạp đi. Tống Á Hiên hỏi: "Sao thế anh?"

Anh quay đầu nhìn cậu, ánh mắt dừng lại ở bàn tay cậu, cau mày đầy bất mãn.

Tống Á Hiên hiểu ra, khẽ mỉm cười ngoan ngoãn đưa tay vào túi áo khoác của anh.

Người này sao mà bá đạo thế chứ? Cậu nghĩ, đồng thời cố ý bóp nhẹ lớp vải trong túi của anh như một hành động "trả đũa".

Bánh xe Khổng Tước chầm chậm lăn, vết bánh in trên lớp tuyết đầu mùa như thể đưa họ từ năm 2003 quay về 1992, nghiền nát bao năm tháng dài.

Tuyết đầu mùa rơi trên chóp mũi Tống Á Hiên, hơi ngứa, nhưng cậu không phủi đi.

Đầu tiên, cậu không muốn rút tay ra khỏi túi áo của Lưu Diệu Văn. Thứ hai, cậu bất giác nhớ lại, năm 1993 khi họ bắt đầu ở bên nhau cũng là vào ngày tuyết đầu mùa.

Ngày hôm đó, cậu hỏi Lưu Diệu Văn có muốn làm người yêu của cậu không. Lưu Diệu Văn đáp: "Ừm." Cậu bảo anh không được nói "Ừm" phải nói "Muốn". Nhưng anh vẫn cứ xấu tính mà chỉ nói: "Ừm."

Tống Á Hiên tựa đầu vào lưng anh, bỗng cảm thấy mình yêu anh thật nhiều.

Không, thật ra là từ lâu rồi, yêu đến mức muốn bên anh đến một trăm tuổi.

Chiếc xe đạp Khổng Tước cứ thế lăn bánh mãi, cuối cùng dừng lại ở đầu hẻm Lưu Hữu, nơi trước kia từng là tiệm tạp hóa của nhà Lưu.

Nơi từng là tiệm tạp hoá nhỏ giờ đây đã bị thay thế bởi hai bức tường xi măng. Qua thời gian, những đứa trẻ đang chơi đùa trong ngõ hẻm hôm nay chắc chắn không còn biết rằng nơi này từng có một tiệm tạp hóa rẻ và tốt như thế.

Vì các yếu tố như đất đai đô thị và quy hoạch đường sá, kế hoạch phục hồi tiệm tạp hóa nhà Lưu đã bị hủy bỏ. Đến nay, nó vẫn chỉ tồn tại trên bản vẽ — thứ duy nhất họ có thể làm là đóng khung bản vẽ và treo nó ở vị trí nổi bật nhất trong nhà.

Nghĩ đến đây, ánh mắt Tống Á Hiên trùng xuống, chút cảm giác mất mát thoáng hiện trong lòng.

Bông tuyết rơi xuống hàng mi cậu.

Ngay sau đó, một bàn tay vươn ra, ngón tay hơi cong nhẹ nhàng phủi bông tuyết khỏi mi cậu.

Cảm giác ngứa ngáy khiến Tống Á Hiên chớp mắt, và khi mở mắt ra, cậu thấy Lưu Diệu Văn lấy từ trong túi ra một thứ gì đó và đưa cho mình.

Là một bản hợp đồng mua nhà.

Tống Á Hiên cầm lấy, kinh ngạc nhìn anh.

Tuy Lưu Diệu Văn đã kiếm được không ít tiền trong ba năm qua, nhưng việc mua một căn nhà ở vị trí đắc địa như vậy, hơn nữa lại là biệt thự, chắc chắn là một khoản chi tiêu rất lớn.

"Làm sao vậy? Ngạc nhiên đến thế cơ à?" Lưu Diệu Văn nhếch môi cười, đưa tay nâng cằm Tống Á Hiên lên giúp cậu khép lại khuôn miệng đang há hốc. "Em giới thiệu việc cho anh, anh mua nhà cho em, không phải rất công bằng sao?"

"Nhưng mà... xe cũng là anh mua rồi. Anh làm sao mà lại..." Tống Á Hiên lắp bắp, "Không phải chúng ta đã nói là cùng mua nhà sao?"

"Thì em cứ coi như là cùng mua đi. Tiền của anh vốn dĩ là của em mà." Lưu Diệu Văn cẩn thận chỉnh lại chiếc khăn quàng cổ cho cậu. "Hơn nữa, anh không mua không công đâu. Anh có một yêu cầu, kỹ sư Tống à."

Tống Á Hiên lập tức hỏi: "Yêu cầu gì?"

Dù là yêu cầu gì cậu cũng đồng ý. Gọi anh một vạn lần "chồng", mặc sơ mi trắng và vest trong thư phòng, hay thậm chí bắt cậu lên trời hái sao, cậu đều sẵn lòng.

Lưu Diệu Văn chỉ nói: "Anh mua biệt thự là vì muốn có một cái sân. Có sân rồi, anh muốn nhờ kỹ sư Tống biến bản thiết kế phục dựng tiệm tạp hóa nhà họ Lưu thành hiện thực."

Tuyết rơi nhẹ nhàng trên ngõ Lưu Hữu, phủ trắng nơi mà tiệm tạp hóa nhỏ từng tọa lạc, trong veo như chính những ký ức ấy. Có những điều tưởng chừng đã phai mờ, nhưng chỉ cần vẫn còn trong trái tim của những người yêu nhau thì chúng sẽ không bao giờ thực sự biến mất. Và khi chưa bao giờ mất đi, chúng sẽ mãi mãi tồn tại, vĩnh viễn in dấu trên thế gian này.

Được phục dựng tiệm tạp hóa nhà họ Lưu, tất nhiên là Tống Á Hiên không thể chối từ.

"Vậy lúc nãy anh nhất quyết muốn ra ngoài đạp xe, rồi đạp thẳng đến ngõ Lưu Hữu là cố ý phải không?"

Lưu Diệu Văn nở nụ cười đầy ngông nghênh: "Đúng vậy."

"Nhỡ em thấy lạnh, không muốn ra ngoài thì sao?"

"Em sẽ không làm vậy." Lưu Diệu Văn khẳng định chắc nịch, không cần giải thích lý do — thật ra cũng chẳng nói ra được lý do gì — chỉ lặp lại: "Em sẽ không đâu. Đến khi chúng ta một trăm tuổi, em cũng sẽ sẵn lòng cùng anh ra ngoài ngắm tuyết."

Tống Á Hiên lặng lẽ nhìn anh, trong lòng dâng lên cảm xúc khó tả. Cậu đã cố nhịn rất lâu nhưng cuối cùng không nhịn được nữa. Cậu nhón chân lên, trong màn tuyết trắng xóa đặt lên môi Lưu Diệu Văn một nụ hôn dịu dàng.

Người đàn ông tốt nhất, tuyệt vời nhất trên thế giới này — Lưu Diệu Văn của cậu.

Sáng sớm hôm sau, Lưu Diệu Văn dậy rất sớm để đi làm phù rể, còn Tống Á Hiên vì "hoạt động quá khích" đêm qua nên ngủ đến tận trưa. Mãi đến chiều cậu mới uể oải bò dậy.

Trong bếp đã có sẵn bữa trưa do Lưu Diệu Văn chuẩn bị từ sáng trước khi rời đi. Một món mặn, một món canh — đơn giản nhưng đầy ắp hạnh phúc.

Ba năm sống cùng nhau, Tống Á Hiên chưa từng tự nấu một bữa cơm. Dù cậu nhiều lần năn nỉ Lưu Diệu Văn dạy mình, nhưng sau những lần làm cháy nồi, nhầm muối thành đường, thậm chí cắt vào tay, Lưu Diệu Văn thẳng thừng cấm cậu bước vào bếp.

Có lần Tống Á Hiên buồn bã nói: "Đã lớn thế này rồi mà ngay cả nấu cơm cũng không biết, mất mặt quá đi thôi."

Lưu Diệu Văn liền bế cậu lên đùi, dịu dàng dỗ dành: "Là anh cố tình không dạy em đấy. Em mà biết nấu rồi sẽ không ăn đồ anh nấu nữa. Em không được học nấu ăn, cả đời này chỉ được ăn đồ anh làm, không được chọn thứ khác."

Tống Á Hiên ăn xong rồi tắm rửa sạch sẽ, gói một phong bao lì xì lớn, trên đó viết:

Chúc mừng hôn lễ, trăm năm hạnh phúc — Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên kính tặng.

Khi đứng trước cổng trường nghề cũ, những ký ức ngày còn học trung học ùa về. Cậu nhớ đến vô số lần mình lén theo dõi Lưu Diệu Văn, tự cho rằng bản thân giấu giếm rất kỹ nhưng thực ra đã bị anh phát hiện từ lâu.

Ngốc nghếch thật. Cái tuổi mười bảy ấy sao mà yêu anh đến vậy.

Tống Á Hiên bước vào hội trường chào hỏi cô dâu chú rể, nhìn thấy Lưu Diệu Văn trong bộ vest đứng bên cạnh Nhậm Thiếu Vĩ.

Dù đã nhiều lần nhìn thấy Lưu Diệu Văn mặc vest trong các sự kiện công việc, nhưng lúc này ánh mắt cậu vẫn không thể rời khỏi anh.

Mái tóc cắt ngắn kết hợp với bộ vest đã đủ khiến cậu xao xuyến. Cậu nghĩ đến cánh tay anh, nơi xăm những kỷ niệm vì cậu, và bàn tay ấy đã từng siết chặt lấy cậu trong đêm qua khiến cậu vừa nghẹt thở vừa tràn ngập hạnh phúc. Tống Á Hiên không khỏi cảm thấy mặt mình bừng lên một sắc đỏ.

Cậu đưa phong bao lì xì cho Thường Hiểu Yến, cười nói: "Hiểu Yến, hôm nay cậu đẹp lắm."

Thường Hiểu Yến giả vờ kiêu ngạo: "Hôm nào mà tôi không đẹp chứ?"

Cả bốn người đều bật cười. Tống Á Hiên nhớ đến lần Nhậm Thiếu Vĩ công khai tỏ tình với Thường Hiểu Yến ngay tại trường nghề khiến cả hội trường khi đó xôn xao, không nhịn được mà cười lớn hơn.

Cậu quay sang Nhậm Thiếu Vĩ: "Chúc mừng cậu nhé. Sau này phải đối xử tốt với Hiểu Yến của chúng tôi đấy."

"Chắc chắn rồi." Nhậm Thiếu Vĩ đáp, cười tươi vỗ vai Lưu Diệu Văn. "Tôi sẽ học hỏi anh Văn nhiều hơn."

Sau vài câu trò chuyện, Tống Á Hiên tìm chỗ ngồi của mình.

Cậu không quen nhiều người ở đây, đoán rằng mình sẽ được xếp ngồi cùng các bạn học cấp ba. Khi đến bàn, chỉ thấy có một đôi vợ chồng trạc tuổi ba mươi đang ngồi sẵn.

Người chồng chủ động bắt chuyện: "Cậu là bạn của cô dâu chú rể à?"

Tống Á Hiên gật đầu: "Đúng vậy."

Người đó giới thiệu: "Tôi từng là đồng nghiệp của chú rể ở Nhà máy Cơ khí số Hai. Còn đây là vợ tôi, họ Phương, hiện là giáo viên ở trường nghề này."

Tống Á Hiên gật đầu lịch sự chào: "Chào cô Phương."

Vừa nói xong, cậu bỗng khựng lại, một ký ức xa xăm và đau buồn ùa về khiến cậu không nói thêm được gì.

Cô Phương là một người tinh ý, nhận ra sự thay đổi trong biểu cảm của cậu, liền hỏi: "Sao vậy?"

"Không có gì." Tống Á Hiên nhanh chóng điều chỉnh cảm xúc, mỉm cười đáp: "Chỉ là tôi vừa nhớ đến một thầy giáo trước đây cũng dạy ở trường này. Thầy ấy cũng họ Phương. Thầy là một người rất tốt."

Cô Phương nhíu mày, trầm ngâm nói: "Ở trường này ngoài tôi ra hình như không còn ai họ Phương nữa. Thầy ấy nghỉ hưu rồi à?"

"Thầy ấy..." Tống Á Hiên ngập ngừng, ánh mắt thoáng buồn. "Thầy ấy... rời xa chúng tôi rồi."

Cô Phương im lặng một lúc, rồi hỏi với giọng không chắc chắn: "Cậu... là học sinh khóa 93 phải không? Tôi nghĩ tôi biết cậu đang nói đến ai."

Tống Á Hiên nhìn cô, ngay khoảnh khắc ánh mắt họ giao nhau ấy, cậu như nhìn thấy bóng dáng thầy Phương năm xưa, người mà cậu chỉ gặp thoáng qua tại cổng trường nghề này. Đôi mắt và đường nét gương mặt cô giống thầy đến lạ thường.

Cô dè dặt hỏi: "Cậu đang nói đến... anh trai tôi phải không?"

Hôm sau, Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn đến nghĩa trang tìm đến mộ của thầy Phương và người yêu của thầy. Trước mắt họ, lớp tuyết trắng phủ kín tấm bia mộ màu đen, tạo nên một khung cảnh yên tĩnh và trang nghiêm.

Em gái của thầy Phương kể lại câu chuyện xưa: khi thầy và người yêu qua đời, không một ai trong gia đình chịu đến nhận thi thể. Lúc đó, cô còn đang học đại học ở miền Nam đã phải lặn lội trở về, một mình lo liệu hậu sự cho anh trai và người yêu của anh, để họ có thể được chôn cất cạnh nhau cùng an nghỉ nơi lòng đất.

Cô mỉm cười ngọt ngào, kể thêm: "Anh trai tôi từng trở về trong giấc mơ nói lời cảm ơn tôi. Anh bảo rằng trên thiên đường, anh và anh Tiểu Đào sống rất hạnh phúc."

Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên cầm nén hương đứng cạnh nhau trong im lặng.

Lưu Diệu Văn vẫn nhớ rõ lần cuối cùng anh gặp thầy Phương. Cũng không quên được câu nói cuối cùng thầy dành cho anh: "Bảo vệ tốt cho bản thân, và cả cậu học sinh trường Trung học số 3 ấy."

Lưu Diệu Văn cúi đầu, giọng nói trầm ấm vang lên trước bia mộ: "Thầy ơi, lời thầy nói em luôn ghi nhớ. Em đã cố gắng hết sức để bảo vệ em ấy, dùng cả cuộc đời mình để làm điều đó."

Tống Á Hiên ngẩng đầu nhìn anh. Ánh mắt của họ chạm nhau, sâu lắng và đầy quyết tâm.

Quay lại đối diện tấm bia mộ, Tống Á Hiên nhẹ nhàng nói, giọng cậu mang theo sự thành kính: "Thầy ơi, dù là trên thiên đường hay trong kiếp sau, thầy nhất định sẽ hạnh phúc."

Tuyết vẫn rơi không ngừng, nhưng tình yêu và lời hứa vẫn luôn ấm áp, vẹn nguyên lưu lại mãi trong trái tim.

Năm năm sau, vào cuối tháng một năm 2008, Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên chuyển vào ngôi nhà mới.

Ngày hôm đó Thượng Hải đón trận tuyết lớn nhất trong hai mươi năm qua.

Hai người quấn quýt bên nhau suốt đêm trong căn phòng ngủ. Khi tỉnh dậy vào sáng sớm, ánh nắng yếu ớt len lỏi qua lớp rèm, chiếu lên hai thân thể trần trụi. Lưu Diệu Văn đứng dậy, kéo rèm cửa, và khung cảnh bên ngoài hiện ra – cả thế giới ngập trong màu trắng xóa của tuyết.

Họ ngỡ như mình đang mơ, cảm giác mơ hồ như thể thời gian đã quay ngược đưa họ trở về Cáp Nhĩ Tân ngày nào.

Tống Á Hiên bước đến bên cửa sổ nhìn xuống sân, trái tim bỗng se lại. Cậu khẽ gọi: "Lưu Diệu Văn, lại đây xem này anh."

Lưu Diệu Văn vừa mặc áo vừa bước tới, ôm lấy cậu từ phía sau. Anh nghiêng đầu hôn lên cổ cậu, dịu dàng hỏi: "Sao thế em?"

Tống Á Hiên chỉ tay xuống dưới, nơi có cửa hàng nhỏ của nhà họ Lưu mà cậu đã phục dựng lại trong sân.

"Anh xem, cửa hàng nhỏ của anh kìa. Mùa đông ngày trước tiệm tạp hóa nhà anh cũng thế này, mái hiên phủ đầy tuyết..."

Cậu nhìn cảnh tượng ấy, thì thầm: "Đã quay về rồi..."

Bỗng nhiên, cậu quay lại, ánh mắt lấp lánh niềm vui nói với anh: "Lưu Diệu Văn ơi, tất cả đã quay về rồi."

Tống Á Hiên không nói rõ "tất cả" là gì hay "quay về" nghĩa là thế nào, nhưng Lưu Diệu Văn hiểu.

Những tiếc nuối của năm năm chia cắt, quãng thời gian tuổi trẻ bị buộc phải xa cách, tiệm tạp hoá nhỏ phải đóng cửa, tình yêu mà họ từng dốc lòng bảo vệ nhưng không trọn vẹn, và cả những mùa đông lạnh giá khi Tống Á Hiên lặng lẽ rời đi — tất cả giờ đây đều đã quay về.

Lưu Diệu Văn dùng bàn tay từng chịu thương tích vì gặp cậu nhẹ nhàng vuốt ve người mà anh yêu nhất trong đời, cậu học sinh ngoan năm nào cũng là người yêu dấu nhất của anh.

Trước khung cửa sổ tuyết rơi trắng trời, anh cúi xuống đặt lên môi cậu một nụ hôn thật sâu.

Những mùa đông sau này sẽ không còn lạnh lẽo nữa.

Bởi vì mỗi mùa đông đều có anh cạnh bên.

Kết thúc chính truyện.
Ngoại truyện: 12 lá thư của Lưu Diệu Văn
【Lá thư thứ nhất】

Xem chương 68.

【Lá thư thứ hai】

Tống Á Hiên.

Học sinh ngoan ơi, năm mới rồi. Năm nay ở Cáp Nhĩ Tân lại có trận tuyết rất lớn. May mà mẹ con anh đã kịp về làng trước khi đường bị phong tỏa.

Lá thư này được viết ở trong làng, ngoài cửa sổ là một màu trắng xóa — trên mái nhà, ngoài ruộng đồng, ở khắp mọi nơi. Anh lại nhớ đến ngày ba anh qua đời.

Anh từng nghĩ vào một ngày nào đó trong tương lai, anh sẽ đưa em đến bàn thờ của ba anh, giới thiệu với ông đây là người mà ngoài ông và mẹ ra, anh yêu nhất trên đời. Người mà anh muốn sống cùng cả đời. Người mà anh đã hứa sẽ sống cùng đến trăm tuổi.

Ba anh là người như thế nào nhỉ? Thật ra anh không hiểu nhiều về ông. Có lẽ ông chỉ là một người nông dân rất đỗi bình thường, ngày ngày làm việc trên cánh đồng, trên người luôn phảng phất mùi bùn đất. Anh luôn tin rằng cuối cùng ông sẽ hiểu, và ông cũng sẽ chúc phúc cho anh.

Nhưng học sinh ngoan của anh ơi, em đang ở đâu thế? Khi nào em mới về nhà cùng anh? Anh muốn đưa em đi thăm nơi anh sinh ra và lớn lên, muốn đưa em đến những cánh đồng và ngọn núi, kể cho em nghe chuyện anh đã từng rong ruổi ra sao giữa những luống cày, những bụi cây ấy. Đó chắc chắn là cuộc sống mà em chưa từng trải qua. Anh còn có thể tưởng tượng được gương mặt chăm chú của em khi nghe anh kể chuyện. Em nhất định sẽ hỏi rất nhiều câu hỏi, bởi em luôn muốn biết mọi đáp án. Anh nhớ em lắm.

Ở Macao có núi không em? Có lẽ là có. Nhưng núi ở miền Nam chắc chắn không có tuyết phủ.

Vậy nên hãy trở về đi em.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 3 tháng 2 năm 1995.

【Lá thư thứ ba】

Tống Á Hiên.

Tháng một và tháng hai chắc là kỳ nghỉ đông phải không em? Có lẽ vì thế mà em chưa nhận được thư của anh. Giờ đã là tháng ba rồi, trường học đã khai giảng, lá thư này chắc em sẽ nhận được.

Xin lỗi em, thư trước anh quên nói: dù đã chép đi chép lại hơn mười lần, chữ của anh vẫn xấu ơi là xấu. Nếu em đọc không hiểu thì đợi em về, anh sẽ đọc cho em nghe.

Hôm nay là sinh nhật em. Anh đã nấu một bát mì trường thọ nhưng không biết cho ai ăn. Cuối cùng để nguội rồi thiu mất.

Đợi em về, anh sẽ nấu lại cho em. Anh còn muốn cùng em làm nhiều chuyện nữa lắm.

Cái nhà hàng Douglas (xóa đi) — à không, là Tados ấy, anh lại đến ăn vài lần. Anh đã ăn hết thực đơn của bọn họ rồi — thực ra cũng chẳng có nhiều món. Đợi em về, anh sẽ dẫn em ăn những món anh thấy ngon nhất. Trừ những món đó ra, những món khác toàn là lừa tiền cả.

Thỏ con vẫn khỏe mạnh. Mấy ngày Tết, anh giao nó cho ông già xem bói trông giúp. Ông ấy bói không chính xác lắm (cứ bảo em sẽ không quay lại, bảo anh phải nhìn về phía trước, lại còn nói gì mà một khả năng khác là em sẽ về nhưng sẽ phải chịu đủ loại đau khổ về thể xác lẫn tinh thần, vượt qua những điều không ai tưởng tượng nổi. Đúng là thầy bói bịp). Nhưng mà ông ấy rất tốt và khá thú vị. Sau khi cửa hàng của anh đóng cửa, ông ấy đã giúp anh rất nhiều. Đợi em về, anh sẽ dẫn em gặp ông ấy. Quả thật là một ông già rất thú vị đấy.

Còn nữa, mẹ anh nói hôm trước khi em biến mất, em đã đến tiệm tạp hoá gặp bà. Em biết chuyện bà bị bệnh, đúng không? Bà không thích nghe anh nói, cứ khăng khăng làm theo ý mình. Nếu em về, em có thể giúp anh khuyên bà đến bệnh viện được không? Bà luôn nhắc đến em, hỏi em đi đâu, luôn nói rằng em ngoan, học giỏi, rất có tiền đồ. Anh đoán, những lời em nói bà chắc chắn sẽ nghe.

Nói đến đây, anh phải xin lỗi em. Anh cũng có chuyện giấu em. Càng nghĩ anh càng hối hận. Đêm hôm đó, khi thấy thư nhập học của em, anh không nên bỏ đi. Anh cũng giấu em chuyện của mẹ anh vậy mà còn bỏ đi. Anh có tư cách gì để giận em chứ? Nếu hôm đó anh không bỏ đi, có phải em sẽ không rời xa anh, và chúng ta vẫn còn ở bên nhau chăng?

Sinh nhật vui vẻ. Anh nhớ em.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 16 tháng 3 năm 1995.

【Lá thư thứ tư】

Tống Á Hiên.

Tại sao vẫn không nhận được thế? Dịch vụ bưu chính thật chết tiệt. Thôi không gửi thư thường nữa, lần này anh gửi thư chuyển phát nhanh, chắc chắn sẽ đến tay em.

Học kỳ mới bắt đầu, việc kinh doanh ở cửa hàng cũng có chút khởi sắc. Dù đã đóng ba cửa hàng, nhưng cửa hàng ở Đại học Công Nghiệp vẫn còn. Thật may. Như vậy, khi em trở về, em sẽ tìm thấy anh ở đây.

Nhậm Thiếu Vĩ đã nghỉ việc ở Nhà máy Cơ khí số 2, đi về phương Nam rồi, là đến Thượng Hải. Hôm qua anh nhận được thư của cậu ấy, cậu ấy nói Thượng Hải thật tuyệt vời, một thành phố lớn toàn nhà cao tầng. Nhưng cậu ấy nghe không hiểu người Thượng Hải nói gì, mà người Thượng Hải cũng không hiểu cậu ấy nói gì.

Trong kỳ nghỉ đông, anh gặp Diêu Văn Tĩnh. À, vẫn chưa kể với em: cô ấy đã đỗ vào Đại học Tài chính Bắc Kinh. Rất nhiều bạn bè của anh đã đi về phương Nam, Cáp Nhĩ Tân dường như đang dần trở thành một thành phố trống rỗng, chỉ còn tuyết và anh ở lại đây.

Chết tiệt, sao viết cứ như nhà văn vậy nhỉ? Ở cạnh em lâu, nói năng cũng lịch sự hẳn lên.

Nếu em còn không về, anh lại sẽ trở nên thô lỗ mất thôi. Thật không hay chút nào. Mau trở về đi em, kể anh nghe xem ở đại học họ dạy gì. Anh nghe mấy sinh viên Đại học Công Nghiệp bảo học đại học chẳng hiểu gì, còn bị trượt môn, phải thi lại nữa đấy.

Anh lo cho em, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, chắc không cần phải lo. Học sinh ngoan của anh thông minh như vậy, chắc chắn sẽ không giống bọn họ.

Anh nhớ em.

Anh thật sự rất nhớ em.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 8 tháng 4 năm 1995.

【Lá thư thứ năm】

Tống Á Hiên.

Chẳng lẽ thư chuyển phát nhanh quốc tế cũng không đến được à? Anh đã đến bưu điện hỏi, họ bảo cần thời gian để xác minh xem thư đã được gửi đến địa chỉ của em hay chưa. Anh sẽ chờ. Trong thời gian chờ đợi, anh cũng không muốn ngừng viết thư, lỡ như những lá trước em không nhận được, lá kia đã đến thì sao?

Anh không biết phải viết gì nữa. Cuộc sống của anh rất tẻ nhạt, từ sáng đến tối chỉ ở trong cửa hàng, bán hàng, chiếu phim, và tán dóc với mấy sinh viên Đại học Công Nghiệp.

Gặp sinh viên đến từ Quảng Đông, anh lúc nào cũng hào hứng hỏi họ có từng đến Macao chưa. Nhưng chẳng ai từng đến. Họ bảo, người thường bây giờ đâu có qua được, chờ đến khi Macao được trả về rồi mới đi.

1999, Macao sẽ trở về. Lâu lắm nhỉ? Nhưng chúng ta chắc không cần đợi đến lúc đó mới gặp lại nhau, phải không em?

Trả lời thư anh đi. Anh nhớ em.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 9 tháng 5 năm 1995.

【Lá thư thứ sáu】

Tống Á Hiên.

Có phải em nhận được thư rồi nhưng cố ý không trả lời anh không?

Điện thoại ở Macao chắc chắn gọi được sang đây, đúng không? Trước đây em đã biết số điện thoại của cửa hàng Đại học Công Nghiệp rồi. Thật ra em hoàn toàn có thể gọi lại cho anh nếu em muốn.

Nếu em muốn. Vậy nên, em không muốn.

Tại sao? Em có thể nói cho anh biết anh đã làm gì sai không? Có phải là vì đêm hôm đó, khi thấy thư nhập học của em, anh đã bỏ đi? Hay là vì anh giấu em chuyện mẹ anh bị bệnh? Trong lá thư tháng ba, anh đã xin lỗi rồi. Lá đó là thư thường, có thể em không nhận được. Vậy anh xin lỗi em lần nữa: Anh xin lỗi. Nếu em giận anh vì chuyện đó, anh sai rồi. Em trở về đi mà, đánh anh mắng anh cũng được. Bắt anh nhịn đói nhịn khát ba ngày ba đêm cũng được. Nhưng đừng như thế này, đừng không trả lời anh mà em.

Hay là ba em ép em đi Macao? Em có gặp nguy hiểm không? Chẳng lẽ em đã bỏ học rồi? Anh lo cho em lắm. Việc anh gửi thư cho em có làm tình hình của em tệ hơn không?

Lưu Diệu Văn.

Ngày 3 tháng 6 năm 1995.

【Lá thư thứ bảy】

Tống Á Hiên.

Anh vốn không định viết thư nữa, sợ rằng thư của anh bị gia đình em nhìn thấy sẽ khiến em gặp rắc rối. Nhưng người ở bưu điện bảo rằng thư chuyển phát nhanh tháng 4 đã được xác nhận là đến tay phòng tiếp nhận thư của Đại học Macao. Vậy nên là em thật sự cố ý không trả lời thư anh phải không?

Anh không biết nên làm gì nữa.

Tại sao, Tống Á Hiên ơi, tại sao thế em?

Nhưng anh vẫn nhớ em lắm.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 30 tháng 7 năm 1995.

【Lá thư thứ tám】

Tống Á Hiên.

Anh không muốn viết thêm nữa.

Nhưng vẫn cảm thấy phải viết, và không nhịn được mà viết.

Viết gì đây nhỉ? Anh không biết. Em thấy không, chúng ta xa nhau quá lâu rồi, đến cả những điều anh muốn nói với em cũng ít đi. Anh chưa từng nghĩ giữa chúng ta sẽ trở nên như thế này.

Anh từng nghĩ, khi em lên đại học, em sẽ càng quấn quýt lấy anh. Chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn để bên nhau, để hiểu nhau hơn, và anh sẽ càng yêu em hơn.

Hình như anh chưa từng nói rằng anh yêu em. Câu đó nghe thật sến súa, trước đây anh thấy mình là đàn ông con trai không thể nói được. Anh lại hối hận rồi.

Lẽ ra anh nên nói sớm hơn, như vậy có lẽ sẽ được nghe em nói câu tương tự.

Tống Á Hiên, anh nhớ em. Anh yêu em.

Nhưng chắc em sẽ không trả lời anh nữa, đúng không?

Lưu Diệu Văn.

Ngày 20 tháng 8 năm 1995.

【Lá thư thứ chín】

Tống Á Hiên.

Tại sao em không thể trả lời anh một lần thôi?

Anh đã tìm mọi cách để liên lạc với em, nhưng em dường như chưa từng nỗ lực giống như anh.

Anh không biết em đang ở đâu, nhưng em biết mà. Em biết rõ rằng anh luôn ở hẻm Đại học Công Nghiệp.

Em biết rõ.

Anh thật sự không muốn viết thêm lá thư nào nữa. Anh thề đây là lá thư cuối cùng rồi.

Anh không nhớ em.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 18 tháng 9 năm 1995.

【Lá thư thứ mười】

Tống Á Hiên.

Xin lỗi em. Thư trước anh đã nói năng không hay tẹo nào. Thật ra anh vẫn nhớ em, muốn gặp em, muốn nắm tay em, muốn ôm em, muốn hôn em lắm.

Đêm qua anh lại mơ thấy em. Trong mơ, em biến thành một chú thỏ biết bay. Một đêm nọ, em gõ cửa tiệm của anh, anh bế em vào, và em trở lại thành Tống Á Hiên.

Anh hỏi em đã đi đâu. Em nói em về Vương quốc Thỏ để ăn cà rốt, giờ em đã ăn no rồi nên quay về.

Anh thật sự hy vọng có một Vương quốc Thỏ như thế. Ở đó toàn là đồng loại của em, em sẽ không phải chịu khổ nữa.

Nếu em không quay về nữa, anh hy vọng em sống tốt, khỏe mạnh, vui vẻ và hạnh phúc. Nếu được như thế, không có anh cũng không sao.

Nhớ em.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 8 tháng 10 năm 1995.

【Lá thư thứ mười một】

Tống Á Hiên.

Anh không biết phải viết gì nữa.

Anh không biết liệu có nên tiếp tục viết nữa hay không.

Anh không biết liệu có nên tiếp tục nhớ em hay không.

Dịch vụ chuyển phát quốc tế quá đắt, mà em lại chẳng hồi âm.

Mùa đông năm nay lạnh quá. Thỏ con bị bệnh rồi. Mong nó đừng chết, dù sao em cũng sẽ không quay lại để ở bên anh.

Anh không biết có nên nhớ em nữa không.

Lưu Diệu Văn.

Ngày 10 tháng 11 năm 1995.

【Lá thư thứ mười hai】

Tống Á Hiên.

Năm 1995 sắp qua rồi. Lẽ ra chúng ta có thể cùng nhau trải qua năm 1995 này.

Anh sẽ không gửi thêm lá thư nào nữa. Việc kinh doanh ngày càng tệ, anh sắp hết tiền rồi. Chúc em mọi điều tốt đẹp.

Nhớ em. (xóa đi)

Nhớ em. (xóa đi)

Nhớ em. (xóa đi điên cuồng, gạch đen cả một dòng)

Nhớ em. (Cuối cùng vẫn viết lại)

Lưu Diệu Văn.

Ngày 31 tháng 12 năm 1995.
Ngoại truyện: Quà sinh nhật
Ngày 16 tháng 3 năm 2002, sinh nhật Tống Á Hiên rơi vào thứ Bảy.

Tối hôm trước, Lưu Diệu Văn từ chuyến công tác trở về, nhưng do máy bay bị hoãn, mãi đến mười một giờ đêm mới về đến nhà.

Mùa xuân Thượng Hải lất phất mưa phùn, Tống Á Hiên ra mở cửa, nhìn thấy tay Lưu Diệu Văn không mang theo bất cứ món đồ nào trông giống quà sinh nhật, trong lòng có chút hụt hẫng. Nhưng cậu vẫn ân cần giúp anh phủi đi những giọt nước li ti đọng trên chiếc áo dạ và cả những hạt mưa vương trên mái tóc ngắn.

Lưu Diệu Văn nào có kiên nhẫn chờ cậu cẩn thận lau bên này chấm bên kia. Sau khi đóng cửa lại, anh thẳng tay bế bổng cậu lên áp xuống sofa. Mang theo hơi lạnh của mưa xuân, anh hôn cậu đầy mãnh liệt.

Bị bất ngờ bế bổng lên, Tống Á Hiên khẽ thốt lên vài tiếng kêu nhỏ. Nhưng tiếng kêu rất nhanh bị nuốt trọn, không cách nào thoát ra nữa.

Hai tay bị Lưu Diệu Văn giữ chặt bên mặt, cậu không thể động đậy. Dù đeo kính chẳng hề vướng víu khi hôn, nhưng lần này góc độ của anh ép sát quá mức khiến sống mũi cậu đau nhói.

Chỉ năm ngày không gặp, tại sao lại như thế này?

Tại sao lại như thế? Tống Á Hiên cũng tự hỏi mình.

Một ngày sinh nhật không có quà, mũi đau, mắt kính mới vừa thay tháng trước cũng sắp gặp họa. Chiếc cũ đã bị hỏng do "một số chuyện kịch liệt" mà hoàn toàn là lỗi của Lưu Diệu Văn vì cứ khăng khăng bắt cậu đeo kính. Nhưng ngay cả khi bị ép đến đau, cậu vẫn không nỡ đẩy anh ra. Đau đớn mà cũng ngọt ngào.

Sofa nhỏ không đủ chỗ. Họ chỉ có thể bám sát lấy nhau, gắn chặt hòa quyện. Mưa xuân lặng lẽ thấm vào căn phòng, nhẹ nhàng rơi xuống những cơ thể không thể tách rời, hòa quyện với từng làn hơi ẩm bao trùm không gian.

Đến một giờ sáng, Lưu Diệu Văn kéo áo dạ đắp lên người Tống Á Hiên, ghé sát tai cậu thì thầm: "Chúc mừng sinh nhật."

Tống Á Hiên quỳ ngồi trên đùi anh, mệt lả chỉ có thể gục vào người anh. Cậu chẳng buồn nói gì, chỉ khẽ dụi dụi đầu vào cổ anh để tỏ ý đáp lại.

Rồi cậu nghe thấy Lưu Diệu Văn bật cười. Hai tiếng cười thấp trầm như đang cười nhạo cậu quá yếu, chỉ mới hai tiếng mà đã mệt như vậy.

Đồ đáng ghét, Lưu Diệu Văn thật đáng ghét.

Tống Á Hiên mơ màng, chỉ còn một chút ý thức trước khi chìm vào giấc ngủ. Trong đầu cậu, những câu hỏi lặp đi lặp lại: Rốt cuộc đây là sinh nhật của ai chứ? Chỉ biết làm khổ người khác, lại còn cười nhạo, cuối cùng vẫn tay không, quà đâu rồi?

Vào sinh nhật năm ngoái của Lưu Diệu Văn, cậu đã tự tay làm cả một bàn đầy thức ăn cho anh. Mùi vị thì... không nói tới, nhưng chí ít cũng là có thành ý chứ.

Cậu còn tự thấy đồ mình nấu không ngon, sau đó đã "bồi thường" cho Lưu Diệu Văn. Mà cái giá bồi thường cũng chẳng rẻ: làm hỏng mấy tờ bản vẽ, hỏng cả kính mắt và bộ vest cậu thích nhất.

Đêm hôm đó kết thúc thế nào cậu không nhớ nữa. Chỉ cảm thấy mơ màng như thể trong giấc mơ, cậu bị bế vào phòng tắm rồi lại bế về giường. Sau đó, cậu nằm mơ.

Trong mơ, cậu trở thành quốc vương của Vương quốc Thỏ. Cậu nói với những thần dân thỏ của mình: "Lưu Diệu Văn không tặng quà sinh nhật cho ta!"

Thế là cả vương quốc vùng lên, giương cao cà rốt, tiến hành tấn công con người tên Lưu Diệu Văn kia.

Ngay khi Lưu Diệu Văn bị biển cà rốt nhấn chìm, Tống Á Hiên tỉnh dậy.

Mệt mỏi vẫn còn trên cơ thể, cậu cảm thấy hơi khó chịu. Vô thức muốn tìm kiếm chút hơi ấm, cậu xoay người định chui vào lòng Lưu Diệu Văn nhưng lại hụt mất.

Tống Á Hiên khó chịu mở mắt, gọi khẽ: "Lưu Diệu Văn."

Không ai trả lời.

Cậu mím môi cuộn người trong chăn. Đầu xuân trời vẫn còn lạnh, trong chăn chỉ có hơi ấm của một người, thật rét quá đi. Cậu lại tăng âm lượng gọi: "Lưu Diệu Văn!"

Lần này, cậu nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài. Vài giây sau, cửa mở, Lưu Diệu Văn bước vào.

Anh không mặc áo ngủ mà mặc áo len và quần dài, trông như vừa ra ngoài về.

Tống Á Hiên nhìn đồng hồ treo tường — mười một giờ trưa. Không quá sớm cũng chẳng muộn, anh đi đâu vậy nhỉ? Trong tủ lạnh còn đầy thức ăn, chẳng lẽ ra ngoài mua đồ?

Lưu Diệu Văn bước đến cạnh giường, cúi người hôn Tống Á Hiên, dùng tay gãi nhẹ cằm cậu trêu chọc: "Sao bây giờ lại gọi anh là Lưu Diệu Văn, quên mất hôm qua em gọi anh là gì rồi à? Gọi đến mức hồn anh sắp bay đi luôn đấy."

Tống Á Hiên liếc anh một cái, không vui đáp: "Hôm qua là ngày gì anh còn quên được nữa kia."

"Quên đâu mà quên, chẳng phải anh đã chúc em sinh nhật vui vẻ rồi sao?"

"Ừ, chỉ bằng lời nói thôi."

"Không chỉ đâu, còn bằng cả cơ thể nữa—"

Chưa kịp nói hết câu, Lưu Diệu Văn đã bị một chiếc gối phang thẳng vào mặt cắt ngang. Tống Á Hiên ném gối xong liền quay người đi, xoay lưng về phía anh thể hiện rõ sự kháng nghị.

Chỉ một giây sau, cậu đã bị kéo lại bởi tên đáng ghét kia. Lưu Diệu Văn mạnh mẽ kéo tay cậu, nhưng Tống Á Hiên bướng bỉnh níu lấy thành giường, nhất quyết không xoay người lại.

Lưu Diệu Văn bật cười bất lực, thở dài buông tay cậu ra rồi đi vòng sang bên kia giường ngồi xổm xuống.

Tống Á Hiên trùm chăn kín đầu nhưng Lưu Diệu Văn vẫn luồn tay vào kéo gương mặt cậu ra ngoài. Anh vuốt nhẹ nốt ruồi nhỏ nơi đuôi mắt cậu, nghịch cằm, cọ cọ má cậu.

"Đừng!" Tống Á Hiên nổi cáu hất tay anh ra, lườm anh đầy tức giận.

Lưu Diệu Văn chỉ cười tươi hơn. Nhìn thấy nụ cười đó, Tống Á Hiên bực mình đến mức muốn bỏ đi, nhưng chưa kịp rời khỏi giường đã bị anh bế bổng lên.

Lưu Diệu Văn không thích kiểu bế ngang mà thích bế cậu như ôm một chú gấu koala — cách này khiến Tống Á Hiên buộc phải vòng chân quanh eo anh để không bị rơi.

Nhưng giờ cậu đang giận, đời nào chịu phối hợp?

Thấy cậu không chịu vòng chân, Lưu Diệu Văn liền vỗ nhẹ vào mông cậu ra lệnh: "Chân, ôm lấy."

Ra lệnh ư? Không biết cậu đang giận sao? Cậu nhất quyết không nghe.

Thấy thế Lưu Diệu Văn chỉ cười. Anh cười đã đủ làm cậu khó chịu, lại còn cười xong thì dùng sức bế đi luôn, khiến cậu chẳng thể bám víu được vào đâu, cuối cùng đành phải vòng chân quanh eo anh.

Đúng là Lưu Diệu Văn đáng ghét!

Cậu bị bế đến phòng làm việc, vừa định phản kháng vì nghĩ rằng anh lại chuẩn bị làm chuyện gì không đứng đắn, thì bất ngờ nhìn thấy một món đồ mới tinh đặt trên bàn làm việc.

Đó là một chiếc máy tính xách tay.

Năm 2002, người ta vẫn gọi laptop là máy tính xách tay, một món đồ còn rất mới mẻ. Chiếc máy mà Lưu Diệu Văn mua là mẫu mới nhất của Lenovo, giá đến 9.700 tệ, đủ để mua một căn phòng nhỏ khoảng mười mấy mét vuông ở một số thành phố.

Tống Á Hiên thường xuyên phải tăng ca vì cần sử dụng máy tính ở văn phòng để vẽ thiết kế, không thể mang công việc về nhà.

Lưu Diệu Văn không thể lúc nào cũng đến văn phòng để chờ cậu, một là sợ ảnh hưởng đến công việc của cậu và đồng nghiệp, hai là lo người khác sẽ nói lời không hay.

"Những lúc em tăng ca, anh lại nhớ em đến phát điên." Lưu Diệu Văn đặt cậu lên bàn làm việc, hai tay chống xuống hai bên, nhìn cậu đầy dịu dàng.

"Vậy nên anh mua chiếc máy tính xách tay này làm quà cho em, để từ giờ em có thể mang việc về nhà làm. Anh sẽ ngồi bên cạnh ngắm em vẽ."

Nói xong, anh cúi xuống hôn cậu một cái, sau đó bật cười trầm thấp: "Sao nghe giống như quà này là mua cho anh vậy nhỉ."

"Thử mở ra xem đi."

Lưu Diệu Văn định đứng dậy để cậu tự tay khám phá món quà, nhưng Tống Á Hiên đã nhanh tay vòng qua cổ kéo anh lại.

Cậu ôm chặt lấy cổ anh, trán tựa vào trán anh, đôi mắt không kính chớp nhẹ trước mặt, hàng mi như cánh quạt nhỏ quét qua da anh, cất giọng dịu dàng hỏi: "Tăng ca chỉ có một lúc thôi, anh thật sự không thể chờ thêm được sao?"

Khoảng cách gần đến mức hơi thở quấn vào nhau. Lưu Diệu Văn cảm thấy cổ họng mình khô khốc, yết hầu khẽ chuyển động, giọng anh khàn hẳn đi: "Đúng vậy. Chẳng lẽ em không muốn về nhà à?"

Tống Á Hiên không trả lời ngay, chỉ nhìn anh đắm đuối. Ánh mắt ấy làm Lưu Diệu Văn vừa muốn đứng dậy ra ban công hút vài điếu thuốc để bình tĩnh, vừa muốn ghì chặt cậu hơn.

Rồi Tống Á Hiên nhẹ nhàng nhắm mắt, hé miệng tiến tới bao lấy đôi môi anh.

Lưu Diệu Văn phải thừa nhận, Tống Á Hiên thực sự rất giỏi trong việc hôn.

Tống Á Hiên trông có vẻ thụ động, thường chỉ hé môi đợi anh hoặc chủ động hôn rồi không làm gì thêm. Nhưng cậu luôn biết cách dùng hơi thở hay những tiếng rên rất nhỏ để khơi gợi khiến anh không kìm được mà tự mình dẫn dắt.

Đôi khi Lưu Diệu Văn lén mở mắt, nhìn thấy hàng mi khẽ run của Tống Á Hiên chớp lên nốt ruồi nhỏ nơi khóe mắt, trông cậu như đang hoàn toàn đắm chìm trong nụ hôn. Những lúc ấy, anh không thể cưỡng lại mà hôn càng sâu càng mãnh liệt hơn.

Lần này cũng vậy.

Nụ hôn kéo dài đến mức chiếc máy tính xách tay mới mua bị quên bẵng đi và cái bàn làm việc đáng thương suýt nữa phải chịu thêm một "trận địa chấn". Chiếc máy tính may mắn thoát nạn được nhẹ nhàng đặt lên giá sách trước khi mọi chuyện vượt khỏi tầm kiểm soát.

Lý do đơn giản là vì giữa cơn mê loạn, Tống Á Hiên vẫn không quên trách móc: "...Quà của em anh đừng làm hỏng đấy."

Lưu Diệu Văn dừng lại, chỉ đánh nhẹ vào mông cậu một cái rồi hỏi: "Gọi ai đấy?"

Tống Á Hiên ôm lấy cổ anh, khẽ kêu lên một tiếng vì đau, sau đó cố tình trả lời: "Lưu Diệu Văn."

"Cố ý phải không, hửm?" Lưu Diệu Văn lại vỗ thêm một cái, xoay người làm bộ muốn thu dọn máy tính: "Quà không tặng nữa, anh thu hồi lại."

"Ơ—" Tống Á Hiên hoảng hốt kéo anh lại, ôm chặt lấy cổ anh, áp sát vào tai anh thì thầm một tiếng nhỏ nhẹ:

"...Chồng ơi."
Ngoại truyện IF: Nếu không có vỡ tan
Ngày 7 tháng 7 năm 1994, kim giờ vượt qua con số mười hai, Lưu Diệu Văn ngắm nhìn Tống Á Hiên đã chìm vào giấc ngủ bên cạnh, khẽ hôn lên trán cậu rồi cẩn thận kéo lại chiếc chăn vốn đã rất ngay ngắn. Sau đó, anh nhẹ nhàng ôm lấy cậu vào lòng.

Chín tiếng nữa thôi Tống Á Hiên sẽ bước vào phòng thi đại học, thực hiện lời hứa của hai người.

——Tống Á Hiên thi đỗ Đại học Công nghiệp, anh mở cửa hàng ở con hẻm gần trường. Cứ thế sống cả đời bên nhau.

Tống Á Hiên trông chẳng có chút nào lo lắng, có lẽ một học sinh xuất sắc như cậu luôn tự tin tuyệt đối khi đối mặt với kỳ thi.

Nhưng Lưu Diệu Văn thì không như vậy, anh căng thẳng đến mức không yên. Những ngày này, anh nấu ăn cho Tống Á Hiên mà cẩn thận hết mức, sợ chẳng may món nào không sạch khiến cậu đau bụng rồi ảnh hưởng đến kỳ thi. Lúc đưa đón cậu, anh cũng lái xe đạp chậm rãi hơn hẳn. Bình thường từ trường về nhà chỉ mất năm phút, nhưng mấy hôm nay toàn mất hơn mười lăm phút.

Học sinh đã được nghỉ hè, bốn cửa tiệm nhỏ của anh đang vào mùa kinh doanh bận rộn, đáng ra đây là thời điểm kiếm tiền tốt nhất. Nhưng vì sợ bận quá không chăm lo được cho "thí sinh cưng" ở nhà, Lưu Diệu Văn quyết định đóng hẳn một cửa hàng. Tiền có thể kiếm lại sau, nhưng Tống Á Hiên thì không thể lơ là.

Đã hơn mười giờ đêm, anh vẫn không sao ngủ được.

Không rõ cuối cùng anh đã ngủ vào lúc nào, chỉ biết trời vừa hửng sáng, anh lập tức bật dậy để chuẩn bị bữa sáng cho Tống Á Hiên.

Xong xuôi, anh quay lại gọi cậu dậy.

Có vẻ kỳ thi đại học không ảnh hưởng gì đến cậu chàng này cả, vì cơn ngủ nướng vẫn y nguyên như mọi ngày.

Lưu Diệu Văn ôm cậu dậy, dỗ dành mãi không được. Anh đành trực tiếp bế cậu vào nhà vệ sinh, ép cậu rửa mặt.

"Tổ tông của anh ơi, hôm nay thi đại học đó! Đừng có lười nữa."

Tống Á Hiên lười biếng bám lấy anh, mắt chỉ mở hờ, mơ màng đáp: "...Hửm? Ồ... Thi đại học thì sao? Ngủ thêm năm phút cũng không muộn đâu mà."

Thực tế chứng minh ngủ thêm năm phút không muộn thật, nhưng đủ khiến Lưu Diệu Văn toát mồ hôi hột.

Đến tám giờ hai mươi phút, Tống Á Hiên từ tốn bước xuống khỏi yên sau xe đạp của Lưu Diệu Văn. Trước khi đi, cậu vẫn không quên lén lút nắm tay anh, còn hỏi: "Chiều ra em muốn thấy anh đầu tiên. Anh đứng chờ ở đâu vậy?"

Lưu Diệu Văn dù nóng ruột đến mấy cũng không dám thể hiện, chỉ đành kiên nhẫn đáp: "Anh sẽ đứng dưới gốc cây đa này chờ em. Mau vào đi. Đừng căng thẳng, nhớ kiểm tra lại họ tên và mã số báo danh lần cuối, còn nữa—"

Tống Á Hiên chăm chú nhìn anh, mỉm cười ngắt lời: "Lưu Diệu Văn, người căng thẳng chính là anh đấy."

Rồi cậu bước vào phòng thi, để lại Lưu Diệu Văn đứng ngoài với vẻ bối rối chẳng biết phải làm gì.

Đúng là học sinh giỏi, cách giờ thi bốn mươi phút còn đùa cợt được.

Được thôi.

Suốt hai ngày tiếp theo, ban ngày Lưu Diệu Văn loanh quanh dưới gốc cây đa trước cổng trường thi, tối đến lại thao thức tới sáng. Cuối cùng cũng đến chiều ngày 9 tháng 7.

Tiếng chuông vang lên, hàng loạt thí sinh ùa ra khỏi phòng thi, chạy về phía ba mẹ hoặc người thân đang chờ. Những tờ đề thi và sách vở bay tán loạn khắp trời.

Thế nhưng đợi mãi Tống Á Hiên vẫn chưa ra. Lưu Diệu Văn lo đến phát điên, tưởng cậu đã gặp chuyện gì không hay, suýt chút nữa xông thẳng vào trường để tìm.

Ngay lúc đó, một ngón tay nhẹ nhàng chạm vào lưng anh.

Lưu Diệu Văn quay đầu lại, thấy Tống Á Hiên đang cầm hai que kem, một que đã được cậu ngậm trong miệng, que còn lại đưa về phía anh. Gương mặt cậu đầy vẻ vô tội và chân thành.

Lưu Diệu Văn lau mồ hôi trên trán, mãi mới thốt lên được: "Tổ tông của anh ơi, em—"

Tống Á Hiên nhìn anh một lúc, giúp anh bóc vỏ que kia đưa đến sát miệng anh.

Lưu Diệu Văn bất lực nhận lấy cây kem: "Em định làm anh lo chết luôn đúng không hả."

Tống Á Hiên chẳng hiểu câu "làm anh lo chết" của Lưu Diệu Văn nghĩa là gì. Nếu phải nói đến lo lắng, người lo chết đi được là cậu mới phải.

Kỳ thi đại học chết tiệt gì mà kéo dài tận mấy ngày, lại còn vào tháng bảy nóng như thiêu đốt.

Hai ngày trước, ra khỏi phòng thi thấy Lưu Diệu Văn đứng chờ trong bộ dạng mồ hôi nhễ nhại, Tống Á Hiên chỉ muốn kỳ thi kết thúc ngay lập tức, đừng để người tuyệt vời nhất thế giới phải chịu nắng nóng thế này nữa.

Tống Á Hiên rút que kem khỏi miệng, nói: "Cảm ơn anh, Lưu Diệu Văn."

Vì ra muộn, lúc này thí sinh và phụ huynh gần như đã về hết, chỉ còn lác đác vài người trước cổng trường.

Lưu Diệu Văn bước sang một bên che nắng cho cậu, hỏi: "Cảm ơn anh vì gì?"

Vừa từ tốn liếm que kem, Tống Á Hiên vừa đáp: "Cảm ơn anh đã chờ em. Trời nóng thế này, anh đứng đợi lâu như vậy, em ở trong phòng thi còn lo anh bị cảm nắng. Cảm ơn anh đã lo lắng cho em, còn nghỉ cả việc buôn bán để chăm sóc em đi thi. Và còn—"

Cậu dừng lại, nhìn thẳng vào mắt anh, nói: "Cảm ơn anh vì đã thích em."

Que kem trong miệng cậu tan nhanh, chảy xuống khóe môi đầy mê hoặc.

Lưu Diệu Văn nuốt khan, yết hầu khẽ chuyển động, anh đưa tay giúp Tống Á Hiên lau đi vệt kem còn vương nơi khóe miệng, khẽ hỏi lại: "Học sinh ngoan, anh nói là anh thích em bao giờ chưa?"

Tống Á Hiên ngoan ngoãn để anh lau nhưng hàng mày lại khẽ nhíu lại, không hài lòng mà phản bác: "Anh chính là thích em."

Kỳ thi đại học đã kết thúc rồi. Mùa hè nóng bức, nước kem tan chảy làm ướt sũng cả một góc vỉa hè.

Lưu Diệu Văn kéo cổ cậu, nhanh chóng đưa cậu về nhà. Que kem mà Tống Á Hiên mua cho anh cuối cùng chẳng còn tâm trạng để ăn. Cơn nóng trong anh đâu phải que kem nào cũng có thể làm dịu đi.

Tại căn hộ 501, dãy 1, tòa nhà 3 khu Hữu Nghị, không khí trong căn phòng ngủ thứ hai tràn ngập cảm giác ngọt ngào xen lẫn sự ẩm ướt. Tựa như trái cấm vừa được nếm thử, vừa mơ màng vừa đầy kích thích.

Lưu Diệu Văn đã kìm nén thật lâu.

Suốt năm lớp 12 của Tống Á Hiên, để không ảnh hưởng đến cậu, anh luôn cố gắng giữ mình. Cứ ngỡ bản thân đủ kiên định, nào ngờ mỗi tối ngồi bên cạnh cậu làm bài tập toán lại là một kiểu tra tấn ngọt ngào.

Tống Á Hiên không phải học sinh ngoan mà là học sinh hư mới phải. Làm bài tập cũng chẳng chịu yên.

Làm bài không làm bài, tại sao lúc nghĩ không ra thì cắn đầu bút? Tại sao khi tính toán xong lại đẹp đến thế? Tại sao cứ chỉnh đi chỉnh lại kính mắt, tại sao sau khi giải xong đáp án cuối cùng lại nhào vào lòng anh, ngồi trên đùi anh, cười tươi như hoa khoe: "Lưu Diệu Văn ơi, anh biết không? Em vừa giải được một bài khó lắm! Em vui quá! Em thích anh ghê!"

Đây không phải cố ý "khiêu khích" thì là gì?

Tống Á Hiên bị anh giữ chặt không thể cử động, nhưng miệng vẫn không chịu buông tha trách móc: "Que kem của em anh còn không ăn, để tan hết cả, lãng phí quá đi!"

Đây đâu phải là trách móc, vừa nghĩ đến việc Tống Á Hiên ở trong phòng thi mà vẫn lo lắng xem anh có bị cảm nắng không, trái tim Lưu Diệu Văn như bùng cháy. Đúng vậy, anh đúng là sắp nóng phát điên rồi.

Lưu Diệu Văn cúi người hôn cậu, vừa hôn vừa cười: "Sau này em lên đại học, ngày nào cũng mua kem cho anh, anh ngày nào cũng ăn. Mùa đông âm ba mươi độ anh cũng ăn, được không?"

Tống Á Hiên còn chưa kịp trả lời, môi đã bị anh ngậm chặt. Hai chữ "không được" bị nuốt trọn vào bụng cùng với tất cả những điều khác.

Que kem bị bóc vỏ, vỏ bị vứt bỏ, căn phòng nóng nực làm kem tan nhanh hơn, nước tan tràn đầy sàn nhà.

Hơi ẩm trong không khí ngày càng đậm đặc, quyện vào nhau chẳng thể tách rời...

Kỳ nghỉ hè không chỉ là khoảng thời gian buông thả mà còn là cơ hội cuối cùng để chấm dứt mọi mối liên hệ với cuộc sống cũ.

Tống Á Hiên xé nát thư trúng tuyển của trường ở Macao, bán hết toàn bộ tài sản trong căn hộ ở khu Hữu Nghị rồi nhanh chóng chuyển đi, không để những người ở Macao có thể tìm ra dấu vết.

Không lâu sau, Tống Thiên Cần qua đời vì ung thư phổi. Lưu Diệu Văn dồn hết tiền tích góp của mình để giúp Tống Á Hiên thuê luật sư giỏi nhất, trực tiếp đến Macao giành lại phần tài sản thuộc về cậu, đồng thời cắt đứt mọi liên hệ với Liễu Chi Quế.

Cũng vào khoảng thời gian đó, Nhậm Thiếu Vĩ mang tin từ Nhà máy Cơ khí Số 2 đến: Điền Kim Lai ở miền Nam đã phạm tội gì đó lớn lắm, cuối cùng phải vào tù, nghe đâu còn bị xử tử hình. Đúng là ác giả ác báo.

Sau đó nữa, Tống Á Hiên thuận lợi vào học khoa Kiến Trúc của Đại học Công Nghiệp.

Với khả năng định hướng tốt, nền tảng vẽ tay vững vàng, Tống Á Hiên như cá gặp nước trong lĩnh vực kiến trúc, nhanh chóng trở thành một nhân vật nổi bật trong khoa. Giáo sư khen ngợi bản vẽ của cậu, bạn bè nhờ cậu sửa bài, còn gọi cậu là "đại thần".

Các bạn trong đại học vô cùng thân thiện, những chuyện bị bắt nạt như hồi trung học không còn xảy ra nữa. Tống Á Hiên thậm chí đã có những người bạn thật sự, thỉnh thoảng còn cùng họ đi ăn, lần đầu tiên cậu biết đến hương vị của tình bạn.

Lưu Diệu Văn mở rộng sự nghiệp, từ những cửa hàng nhỏ lẻ ban đầu đã trở thành chuỗi cửa hàng trải khắp thành phố Cáp Nhĩ Tân, biến từ hộ kinh doanh cá thể thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Anh kiếm được ngày càng nhiều tiền, trở thành một "ông chủ trẻ tuổi", thậm chí còn được trường cấp ba cũ đưa vào "Bảng vinh danh cựu học sinh xuất sắc".

Vào năm Tống Á Hiên học năm ba đại học, Lưu Diệu Văn mua một căn nhà mới, hai người dọn vào tổ ấm của mình.

Đáng tiếc là ngay đêm đầu tiên trong ngôi nhà mới, vì không kiềm chế được "lửa đạn" mà làm bẩn tấm ga giường duy nhất, cuối cùng cả hai phải ôm nhau ngủ trên chiếc sofa nhỏ.

Tống Á Hiên bị kẹt giữa Lưu Diệu Văn và lưng ghế, xoay người cũng khó khăn, khẽ trách: "Đều tại anh."

"Tại anh?" Lưu Diệu Văn véo mạnh vào eo cậu, thấp giọng hỏi: "Là ai cứ mãi gọi chồng ơi chồng ơi không dứt? Em quyến rũ anh còn nói lý được à?"

"Là anh ép em gọi!" Tống Á Hiên không chịu thua liếc anh một cái, bướng bỉnh nói: "Dù sao cũng tại anh, chỉ tại anh."

Đôi mắt lạnh lùng có điểm xuyết nốt ruồi nhỏ nơi đuôi mắt, ánh nhìn trách móc đầy ý vị. Lưu Diệu Văn nhìn mà trong lòng lại nóng bừng lên, nghiến răng nói: "Được, được, tại anh, tại anh. Tổ tông à, đừng có mà khiêu khích nữa, sofa mà hỏng nữa thì không có chỗ ngủ đâu!"

Tống Á Hiên mím môi không nói, trong lòng cảm thấy oan ức, nghĩ thầm: Lưu Diệu Văn thật là, rõ ràng mình có làm gì đâu, sao lại bảo mình quyến rũ anh ấy được chứ?

Sau đó nữa nữa...

Sau khi tốt nghiệp đại học, Tống Á Hiên vào làm việc tại Viện Thiết kế Kiến trúc Cáp Nhĩ Tân. Nhờ tài năng thiên bẩm, cậu nhanh chóng thăng tiến, tham gia và thậm chí chủ trì nhiều dự án trọng điểm của thành phố khi tuổi đời còn rất trẻ.

Về phần Lưu Diệu Văn, sự nghiệp của anh không ngừng mở rộng. Anh hợp tác và sáp nhập nhiều doanh nghiệp bán lẻ lớn trong thành phố, kinh doanh ngày càng thuận lợi. Chẳng mấy chốc anh đã mua thêm xe, đổi sang một ngôi nhà lớn hơn.

Hai người cũng mua một căn hộ cho mẹ của Lưu Diệu Văn, căn hộ này nằm ngay trong cùng khu nhà mà họ đang ở.

Ngày dọn về nhà mới, hai người quyết định thổ lộ sự thật với mẹ Lưu Diệu Văn.

Họ quỳ gối trước bà, nói rằng đối phương là người mình yêu nhất đời này, muốn cùng người ấy đi hết cuộc đời, mong được mẹ chấp thuận.

Sau ngần ấy năm, mẹ Lưu Diệu Văn vốn đã hiểu rõ từ lâu. Bà đỡ hai người dậy, lau nước mắt cho họ, cười bảo: "Vậy giờ mẹ có hai đứa con trai rồi nhé."

Nhiều năm về sau...

Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn cùng nhau nghỉ hưu. Mùa đông ở Cáp Nhĩ Tân vẫn lạnh buốt như trước, nhưng tình yêu của họ vẫn ấm áp và cuồng nhiệt như thuở nào.

Lưu Diệu Văn vẫn giữ thói quen dậy sớm chuẩn bị bữa sáng cho Tống Á Hiên. Hai người cùng nhau đi dạo công viên, sau đó ra chợ mua rau và trái cây, rồi cùng nhau về nhà nấu ăn.

Buổi trưa ăn xong, họ ngủ trưa đến khi tự nhiên tỉnh dậy. Buổi chiều, Tống Á Hiên sẽ đánh đàn piano hoặc vẽ tranh. Dù cậu làm gì, Lưu Diệu Văn đều ngồi bên cạnh khen ngợi: "Em đàn thật hay, tranh em vẽ cũng thật đẹp."

Rồi đến bữa tối, họ cùng nhau ăn cơm, đi dạo, về nhà chơi đùa với chú thỏ. Tối đến, họ rửa mặt rồi cùng nhau đi ngủ.

Ngày qua ngày, những tháng năm trôi qua trong sự yên bình và hạnh phúc.

"Lưu Diệu Văn, anh còn nhớ hồi trẻ chúng ta nói sẽ sống đến trăm tuổi không?"

"Nhớ chứ."

"Cuộc sống quá đỗi hạnh phúc, cơ thể chúng ta cũng rất khỏe mạnh. Em vui lắm. Giờ em cảm thấy mình có thể sống đến 120 tuổi."

"Vậy anh sẽ sống đến 121 tuổi, đến cuối cùng anh chăm sóc cho em."

"Không được, chúng ta cùng sống đến 120 tuổi, rồi cùng nhau xuống địa ngục đầu thai, kiếp sau lại gặp nhau nữa."
Ngoại truyện IF: Thanh mai trúc mã
Khi chơi trốn tìm, cậu bé Tống Á Hiên bị bỏ lại phía sau.

Điều này không thể trách ai khác, chỉ trách cậu quá bướng bỉnh và hiếu thắng. Rõ ràng đã nói với các bạn rằng chỉ trốn trong khuôn viên Nhà máy Cơ khí số 2 nhưng cậu lại chạy ra ngoài, đến một con hẻm hoàn toàn xa lạ mà cậu chưa từng biết đến.

Cậu nghĩ mình có thể trốn thật kỹ, không ai tìm ra được – quả nhiên là không ai tìm ra. Nhưng cùng lúc đó, cậu cũng không tìm được đường về nhà.

Cậu bé Tống Á Hiên chỉ mới học lớp một, bị bọc trong chiếc áo khoác dày, khăn quàng cổ và mũ trông tròn trĩnh như một viên kẹo. Chơi đùa nhảy nhót suốt trong sân, khuôn mặt cậu giờ đây đỏ bừng. Đứng cô đơn giữa con hẻm xa lạ, cậu giống như một xiên kẹo hồ lô nổi bật giữa khung cảnh lạnh giá.

Một nhóm các ông bà lớn tuổi xung quanh bắt đầu chú ý đến cậu.

"Ôi chao, cháu bé này là con nhà ai thế? Không phải người ở đây đúng không? Chúng tôi chưa từng thấy cháu bao giờ."

"Sao không nói gì? Cháu không biết nói à? Hay là bị câm?"

"Nhà cháu ở đâu? Nói cho ông biết đi, ông dẫn cháu về nhà, trời lạnh thế này ở ngoài lâu sẽ bị cảm đấy!"

Tống Á Hiên cúi đầu bĩu môi, khẽ hừ một tiếng rồi nói: "Cháu không nói đâu."

"Ồ, tại sao lại không nói với ông?"

"Người lớn ở Nhà máy Cơ khí số 2 đều nói ngoài phố có kẻ xấu chuyên bắt cóc trẻ con. Cháu không nói đâu!"

Câu nói này làm mọi người bật cười.

Tống Á Hiên bĩu môi nghĩ: Cười cái gì mà cười. Nhà máy Cơ khí số 2 lớn như vậy, kẻ xấu cũng chẳng thể nào biết nhà mình ở đâu.

Đúng như người lớn nói, những người bên ngoài nhà máy đều là kẻ xấu, toàn là những người kỳ quái. Mình phải nhanh chóng tìm được đường về nhà thôi.

Lúc này, một ông lão chợt gọi với theo: "Này, Tiểu Lưu Diệu Văn, cháu cũng học ở trường tiểu học của Nhà máy Cơ khí số 2 đúng không? Đây có phải bạn học của cháu không?"

Tống Á Hiên ngẩng đầu lên, thấy một cậu bé với mái tóc cắt húi cua, khuôn mặt đầy vết bầm, trông có vẻ không dễ chọc.

Cậu bé này trông thật quen.

"Anh—" Tống Á Hiên bất ngờ chỉ tay vào cậu bé.

"Chính là anh! Anh là người tuần trước đã đánh lớp trưởng của bọn tôi! Anh đúng là kẻ xấu!"

"Lớp trưởng của các cậu đã đánh bạn tôi trước, tôi đánh trả thì sao nào? Nếu cậu muốn bảo vệ cậu ta, cậu cứ thử đánh tôi đi."

"Anh—"

Tống Á Hiên nghẹn lời, tức giận trừng mắt nhìn Lưu Diệu Văn rồi quay người chạy đi.

Nhưng cậu chỉ là một đứa trẻ nhỏ, còn thành phố này lại rộng lớn với những con hẻm quanh co. Tống Á Hiên chạy mãi mà không thể tìm được đường về.

Chạy đến mệt nhoài, cậu dừng lại thở hổn hển rồi bắt đầu bật khóc.

"Nhóc con, khóc cái gì đấy? Không tìm được đường về nhà à?"

Tống Á Hiên ngẩng đầu lên, lại nhìn thấy cậu bé tên Lưu Diệu Văn kia. Cậu ta đang cười, nụ cười trông như đang chế nhạo cậu.

Lại còn cười nhạo người khác, đúng là thói xấu không thể chấp nhận!

Tống Á Hiên cố gắng lau nước mắt, trừng mắt nhìn anh rồi quay người bước đi.

"Nếu cậu thắng được tôi, tôi sẽ dẫn cậu về nhà. Nếu không thắng được, gọi tôi một tiếng 'anh' cũng được."

Tống Á Hiên không thèm để ý.

"Cậu đi nhầm đường rồi. Nhà máy của cậu đâu có ở hướng này, cứ đi tiếp như thế đến tối cũng không về được đâu. Trời tối rồi sẽ rất đáng sợ đấy. Chính cậu nói mà, trong thành phố này có rất nhiều kẻ xấu chuyên bắt cóc trẻ con."

"Cậu biết không, những kẻ xấu đó sẽ bắt trẻ con như cậu về nông thôn, bắt cậu làm ruộng, bắt cậu ngủ trong chuồng heo!"

"Hả? Nhưng tôi không muốn ngủ trong chuồng heo!"

"Vậy gọi một tiếng 'anh' đi, tôi sẽ đưa cậu về nhà."

Tống Á Hiên mím môi, cân nhắc giữa việc gọi một tiếng "anh" và phải ngủ trong chuồng heo, cuối cùng không tình nguyện chút nào, nhỏ giọng gọi: "Anh...Lưu Diệu Văn."

Sau đó, Lưu Diệu Văn dẫn Tống Á Hiên về nhà.

Từ đó, hai người thường xuyên gặp nhau ở trường. Nhưng vì Lưu Diệu Văn đã đánh lớp trưởng, Tống Á Hiên lo sợ bị bạn cùng lớp gọi là "kẻ phản bội" nên luôn giả vờ không quen biết anh.

Mỗi lần như vậy, Lưu Diệu Văn cố tình chắn đường Tống Á Hiên và bạn cậu nói lớn: "Tiểu Tống Á Hiên, thấy anh sao không gọi nữa? Trước đây không phải gọi anh Lưu Diệu Văn, anh Lưu Diệu Văn ngọt ngào lắm sao?"

Bạn cùng lớp của Tống Á Hiên liền hỏi: "Tống Á Hiên, cậu sao lại quen với anh Lưu Diệu Văn lớp hai vậy? Ủa, chẳng lẽ cậu cùng phe với anh ta?"

Tống Á Hiên giải thích mãi cũng không được, cuối cùng ấm ức ngồi thụp xuống sân trường khóc đến mức quên cả đường về nhà.

Trời dần tối, những kẻ xấu lại chuẩn bị ra ngoài bắt trẻ con. Lần này, cậu không có "anh Lưu Diệu Văn" nào nữa.

Không cần anh Lưu Diệu Văn, Lưu Diệu Văn là đồ đáng ghét!

Đúng lúc ấy, người bị ghét kia xuất hiện ngay sau lưng cậu.

Thật kỳ lạ, rõ ràng lúc nãy Tống Á Hiên còn thấy Lưu Diệu Văn khoác vai bạn bè đi ra khỏi trường, sao bây giờ lại quay lại?

"Tiểu Tống Á Hiên, ngồi đây một mình làm gì thế?" Lưu Diệu Văn mạnh tay xoay mặt cậu lại. "Ô, lại khóc rồi hả? Sao lúc nào cậu cũng khóc vậy?"

"Tôi ghét anh!" Tống Á Hiên nói, "Tại anh mà bạn cùng lớp không chơi với tôi nữa, tôi không còn bạn bè rồi..."

"Thì tôi làm bạn với cậu là được chứ gì?"

"Tôi ghét anh, làm sao muốn anh làm bạn tôi chứ!" Tống Á Hiên hét lên một tiếng, hất tay Lưu Diệu Văn rồi chạy đi.

Hôm sau, khi Tống Á Hiên vào lớp, tất cả bạn học đều nhìn cậu bằng ánh mắt đầy ngưỡng mộ.

"Tống Á Hiên, anh cậu tới lớp mình xin lỗi rồi, nói là không nên đánh lớp trưởng. Anh ấy còn mua kẹo dẻo cho cả lớp mình và hứa sẽ trực nhật giúp lớp mình suốt một tuần! Anh ấy còn bảo tất cả những điều đó là cậu bắt anh ấy làm, nói cậu là người chính trực nhất ở Nhà máy Cơ khí số 2, bảo tụi mình phải chơi với cậu nhiều hơn!"

Tan học, Tống Á Hiên chủ động chạy đến lớp hai chờ Lưu Diệu Văn tan học.

Thấy cậu tới, Lưu Diệu Văn bỏ mặc đám bạn, khoác vai Tống Á Hiên rồi bảo: "Đi nào, anh dẫn nhóc đi uống nước ngọt Đại Dao."

Trên đường đi, Tống Á Hiên hỏi: "Sao anh cứ bám lấy tôi vậy?"

"Trêu chọc cậu vui mà." Lưu Diệu Văn véo má cậu. "Gọi anh Lưu Diệu Văn nghe nào."

Tống Á Hiên liếc xéo anh một cái, không thèm gọi.

Ngay sau đó, bàn tay trên má cậu lại mạnh tay nhéo một cái, "Cậu có biết anh phải tốn bao nhiêu tiền tiêu vặt để mua kẹo dẻo không hả?"

Tống Á Hiên thấy mình thật oan ức, trong bụng nghĩ ai bắt anh mua kẹo đâu, nhưng ngoài miệng vẫn ngoan ngoãn gọi: "Anh Lưu Diệu Văn."

Sau đó, cả hai cùng học hết tiểu học và trung học cơ sở tại Nhà máy Cơ khí số 2, suốt chín năm trời luôn dính lấy nhau mỗi khi đi học về.

Đến kỳ thi tốt nghiệp cấp hai, Tống Á Hiên thi đỗ vào Trung học số 3, còn Lưu Diệu Văn học trường nghề. Hai ngôi trường nằm ở hai hướng khác nhau.

Cả hai không thể cùng nhau đi học nữa.

Ngày đầu tiên đi học, Tống Á Hiên cảm thấy không quen, cứ cảm thấy cổ mình thiếu đi thứ gì đó — bình thường tay của Lưu Diệu Văn lúc nào cũng quàng qua cổ cậu.

Trước giờ tan học, Tống Á Hiên đã muốn tìm Lưu Diệu Văn, nhưng lại nghĩ như vậy có vẻ quá sến sẩm.

Buổi tối về nhà, làm xong bài tập, tắm rửa rồi nằm lên giường vẫn không ngủ được, Tống Á Hiên ngồi dậy vẽ tranh.

Cuốn sổ phác thảo của cậu rất dày, từ hồi còn nhỏ đã bắt đầu dùng, bên trong có rất nhiều bức vẽ đều là hình của Lưu Diệu Văn.

Lưu Diệu Văn tám tuổi ăn lê đông, mười tuổi chạy thi trong đại hội thể thao, mười hai tuổi đưa cậu ra sông Tùng Hoa trượt băng, mười lăm tuổi nằm cạnh cậu trong kỳ nghỉ hè chỉ mặc một chiếc áo ba lỗ...

Tống Á Hiên cảm thấy mặt mình bỗng nhiên nóng lên, định cất cuốn sổ phác thảo đi nhưng lại không nhịn được mà lật sang một trang mới, phác họa một hình dáng khác của Lưu Diệu Văn – một Lưu Diệu Văn không mảnh vải che thân.

Vẽ xong cậu mới bừng tỉnh, vội vàng gập cuốn sổ lại.

Sáng hôm sau thức dậy, lo sợ sổ phác thảo bị người nhà phát hiện, Tống Á Hiên nhét nó vào cặp sách.

Vừa ra khỏi cửa, cậu liền thấy Lưu Diệu Văn đang đứng chờ trước cửa nhà mình dắt theo một chiếc xe đạp nhãn hiệu Khổng Tước mới toanh.

Nghĩ đến bức vẽ tối qua, mặt Tống Á Hiên lập tức nóng lên, cúi đầu giả vờ như không thấy, bước nhanh về phía trước.

Lưu Diệu Văn dắt xe đạp đuổi theo hỏi cậu bị sao thế, mới đi đo mắt cận thị không lâu sao giờ đã nhìn không rõ rồi?

Lưu Diệu Văn còn nói: "Anh vừa mới mua xe đạp mới, từ giờ đi học về anh sẽ chở em."

Tống Á Hiên vẫn không để ý mà bước đi thật nhanh.

Lưu Diệu Văn không thèm quan tâm đến xe đạp nữa, vứt xe sang một bên đuổi theo cậu. Đuổi không kịp, anh bèn túm lấy cặp sách của cậu.

Lưu Diệu Văn khỏe quá, giằng co kéo qua kéo lại, vừa xô đẩy vừa níu kéo, cuối cùng một cái giật mạnh, chiếc cặp của Tống Á Hiên rơi xuống đất.

Phạch—

Cuốn sổ phác thảo rơi ra, vừa hay lật mở đúng trang Tống Á Hiên đã vẽ tối qua.

Tống Á Hiên hoảng hốt, vội lao tới nhặt lên.

Nhưng Lưu Diệu Văn đã nhanh tay hơn một bước.

Tống Á Hiên vội vàng tiến lên giật lại: "Trả cho em!"

Lưu Diệu Văn dễ dàng chế ngự cánh tay của cậu, chỉ với vài động tác đã khóa cậu trong lòng mình. "Là em vẽ anh mà, anh xem thì có sao đâu?"

Lưu Diệu Văn mở cuốn sổ phác thảo ra, lật từng trang một cách cẩn thận rồi hỏi: "Bắt đầu từ khi nào?"

"...Cái gì?" Tống Á Hiên ngẩn người, sau đó phản ứng lại, nhận ra anh đang hỏi mình bắt đầu vẽ anh từ khi nào. Mặt cậu vừa đỏ vừa giận: "Hồi nhỏ chứ gì nữa, sổ đã bị anh giật mất, anh... anh không tự xem được sao mà còn hỏi."

"Không phải cái đó." Lưu Diệu Văn gấp cuốn sổ lại, nhìn cậu chăm chú: "Anh hỏi, em bắt đầu có ý đồ không trong sáng với anh từ khi nào?"

Tống Á Hiên chột dạ, "Ai... ai có ý đồ với anh chứ?"

"Không có à?" Lưu Diệu Văn liếc cậu bằng đôi mắt mí lót, buông tay cậu ra: "Thôi được rồi, anh còn tưởng là cả hai cùng thích nhau. Đi đây—"

Tống Á Hiên tim giật thót, lập tức đuổi theo kéo tay anh lại: "Anh... anh vừa nói gì?"

"Gọi anh một tiếng, anh sẽ nói cho em nghe."

Tống Á Hiên lập tức gọi: "Lưu Diệu Văn."

"Chậc, sai rồi." Lưu Diệu Văn không hài lòng nhíu mày, "Gọi sai cách rồi."

Tống Á Hiên cúi đầu, không tự nhiên đẩy gọng kính, nhỏ giọng gọi: "...Anh Lưu Diệu Văn."

Rồi nhiều năm sau, trong vô số những đêm tối, Tống Á Hiên bị ép phải gọi anh bằng cái danh xưng ấy.

Cậu nằm xụi lơ trên giường, mơ màng mắng thầm trong lòng: Lưu Diệu Văn đúng là đồ đáng ghét.

Dù là đồ đáng ghét nhưng cậu vẫn thích Lưu Diệu Văn. Phải làm sao đây? Nếu có thể đến một thế giới khác, nơi cậu và Lưu Diệu Văn vẫn yêu nhau, nhưng cậu không cần gọi anh là "anh" thì tốt biết bao.

Thế giới đó liệu có tồn tại không? Chắc là có nhỉ. Ở thế giới ấy, chắc chắn cậu và Lưu Diệu Văn cũng sẽ hạnh phúc như bây giờ.
CP Phương x Đào] Dãy Đại Hưng An và Biển Cả (1)
Câu chuyện của tôi không có gì đặc biệt.

Chỉ là vào những năm đi lao động tại nông thôn, tôi đã đem lòng yêu một người.

Em ấy tên là Tiểu Đào, giống như tôi, cũng là một chàng trai.

Lần đầu tiên gặp Tiểu Đào là vào mùa hè.

Em ấy chạy nhảy trên những thảm rừng của dãy Đại Hưng An, dãy núi Thái Hành và Tuyết Phong Sơn đứng sừng sững sau lưng, trên bầu trời là những đàn nhạn tự do bay lượn. Khi em cười, đôi mắt nheo lại thành một đường cong, vượt qua nụ cười ấy dường như tôi thấy được đồng cỏ Hulunbuir rộng lớn ở phía sau dãy núi.

Em nói với tôi: "Thầy Phương, em đã bảo rồi mà, ở đây chắc chắn đẹp hơn trên thành phố của thầy!"

Tôi không trả lời, dường như đã đánh mất cả ngôn từ.

Phải, rất đẹp.

Em ấy thật đẹp.

Tôi không nói gì, nụ cười của Tiểu Đào cũng nhạt dần.

Em bước lại gần tôi, đôi mắt ánh vẻ lo lắng hỏi: "Thầy Phương, sao thầy không nói gì? Thầy không thích nơi này à?"

Tôi không phải là thầy giáo, chỉ là mọi người ở đây xem tôi như một trí thức nên thích gọi như vậy. Nếu là người khác gọi tôi như thế, tôi nhất định sẽ sửa lại. Nhưng với Tiểu Đào thì không.

Kính cận của tôi dường như chẳng còn tác dụng. Em đứng rất gần, nhưng tôi vẫn cảm thấy không nhìn rõ được gương mặt em. Tôi chỉ muốn nhìn thêm nữa.

Hơi thở của Tiểu Đào nhẹ bẫng, em lại hỏi: "Thầy vẫn nhớ nhà đúng không?"

Gió hè sống động trên dãy Đại Hưng An thổi tung mái tóc em, làm đôi mắt em mờ đi. Em trông lo lắng đến mức quên cả việc đưa tay vén tóc lên.

Tôi rất muốn giơ tay giúp em vuốt tóc, nhưng dáng vẻ của em lúc này thật đẹp. Thế là sự ích kỷ đã níu lấy tay tôi.

"Thầy Phương, nếu thầy nhớ nhà thì đến tìm em chơi nhé." Tiểu Đào nói, "Em sẽ làm người thân của thầy."

Tôi đáp: "Em có gia đình của mình mà."

"Thế thầy thì sao?" Em sốt ruột nói, "Nhưng... nhưng em không muốn thấy thầy cô đơn."

Khi ấy tôi vừa mới đến ngôi làng này, không biết bao giờ mới có thể quay về thành phố. Có lẽ cả đời cũng không trở về được.

Dãy núi Đại Hưng An trùng điệp trở thành một cái lồng giam. Tôi không thể nhìn thấy biển cả mà ngày trước mình từng ao ước khi đọc sách.

Nhưng biển cả bỗng xuất hiện, bắt đầu từ giọt nước mắt đầu tiên của Tiểu Đào vào mùa hè năm 1975.

Giọt nước mắt ấy rơi xuống đất, cũng nhẹ nhàng rơi vào lòng tôi. Từ khoảnh khắc đó, tôi đã kết dính với mảnh đất này, sinh ra một đại dương – nơi mà thời trẻ tôi từng ao ước.

Em ấy bắt đầu khóc khi nói câu này: "Thầy Phương, em không muốn thấy thầy buồn..."

"Đừng khóc, Tiểu Đào à, đừng khóc nữa." Tôi nhẹ nhàng an ủi, "Tôi không buồn."

"Nhưng thầy chẳng bao giờ cười cả. Từ ngày thầy đến đây, em chưa từng thấy thầy cười."

"Có lẽ là vì tôi không thích cười."

"Thầy nói dối! Không ai là không thích cười cả!"

Câu nói đó lại khiến tôi bật cười. "Không ai không thích cười, vậy tại sao em lại khóc?"

Tôi cười, Tiểu Đào cũng cười theo. Nước mắt và nụ cười của em hòa quyện vào nhau khiến tôi mê đắm, tâm hồn lạc lối.

Tôi nghĩ, nếu cả đời ở lại Đại Hưng An Lĩnh có lẽ cũng không tệ.

Những ngày sau đó trôi qua bình dị nhưng cũng đầy tẻ nhạt. Tôi không giỏi làm nông, càng không giỏi chăn nuôi. May mắn thay, có Tiểu Đào giúp tôi.

Thực ra nhiều người dân trong làng cũng sẵn lòng giúp tôi, nơi này con người thuần hậu và thân thiện biết bao. Nhưng tôi từ chối họ, nói rằng không muốn làm phiền. Rồi quay sang làm phiền Tiểu Đào.

Đổi lại, tôi kể cho em nghe những câu chuyện về thành phố.

"Trong thành phố có những tòa nhà cao sáu tầng, có đường nhựa rộng rãi và vô số que kem ăn mãi không hết." Tôi dụ dỗ: "Tiểu Đào, em có muốn theo tôi về thành phố không?"

Tiểu Đào nằm úp trên chiếc chiếu mát của tôi, nghiêng đầu nhìn tôi hỏi: "Nhưng còn rừng cây mà nhà em phải chăm sóc thì sao? Các em của em còn nhỏ, không thể tự chăm được mấy cái cây đó đâu."

Tôi quên mất điều đó.

Tiểu Đào trong mắt tôi là Tiểu Đào, nhưng với người khác em là con trưởng, là anh cả, là người mang trên vai gánh nặng của những trách nhiệm như một định mệnh không thể chối từ.

Nhưng con người một khi đã yêu thì thường tham lam vô độ. Tôi vẫn không từ bỏ: "Tiểu Đào, em không muốn đi ra ngoài nhìn ngắm thế giới sao? Trong thành phố còn có biển nữa."

"Biển thật sự lớn như vậy à? Có lớn hơn Đại Hưng An Lĩnh không?"

"Phải, còn lớn hơn cả Đại Hưng An Lĩnh."

"Thầy Phương, vậy em muốn đi xem!" Em cười rạng rỡ đến mức đôi mắt nheo lại thành một đường cong, trên gương mặt là khát vọng thuần khiết nhất. "Em chỉ đi xem một chút rồi về."

Nụ cười ấy đẹp đến thế, nhưng lời nói lại tàn nhẫn làm sao.

Em ấy muốn quay về. Tôi hiểu rồi. Tôi từ bỏ hy vọng.

Rồi xuân hạ thu đông tiếp nối nhau trên Đại Hưng An Lĩnh, thời gian lặng lẽ trôi qua nhiều năm. Tôi không còn cố dụ dỗ Tiểu Đào đi thành phố ngắm biển nữa. Tôi để em làm một chú nhạn tự do bay lượn trên rừng cây, đôi lúc hứng lấy nước mắt của em, lặng lẽ cất chúng vào đại dương trong lòng tôi – nơi đã hình thành từ mùa hè năm 1975 ấy.

Tôi vẫn hy vọng em cười.

Thế nhưng sau này em lại ít cười hơn.

Từ ngày tôi đặt chân đến đây đã có rất nhiều người mai mối, bảo rằng tôi nếu phải sống cả đời ở đây chi bằng sớm lập gia đình, nếu không sẽ cô đơn. Tôi đều từ chối, bởi tôi không thích con gái.

Nhưng còn Tiểu Đào? Em ấy cũng trưởng thành, cha mẹ bắt đầu thúc ép em lập gia đình.

Tôi nghe thấy Tiểu Đào, người vốn luôn hiếu thảo, cãi nhau với cha mẹ.

Một lần, em khóc chạy từ nhà đến chỗ tôi, lại nằm úp trên chiếu của tôi.

Em than thở với tôi: "Em đâu thích những cô gái đó, sao em có thể cưới họ được? Như vậy chẳng phải không có trách nhiệm với họ sao? Vậy mà cha mẹ em lại bảo không nhất thiết phải thích thì mới cưới, cứ cưới trước rồi sau này sẽ thích thôi."

"Sao em thấy điều đó không đúng chút nào." Tiểu Đào buồn bã nói, "Thầy Phương, thầy đọc sách nhiều, thầy nói xem điều đó có đúng không?"

Tôi lặng lẽ hứng lấy những giọt nước mắt của em, giấu chúng vào đại dương trong lòng mình, im lặng rất lâu.

Tôi im lặng vì sợ rằng câu trả lời của mình sẽ ẩn chứa sự ích kỷ.

Thấy tôi không trả lời, em vùi đầu vào cánh tay mình.

"Chẳng lẽ ngay cả thầy cũng nghĩ như vậy..."

Tôi vội ngồi xuống bên cạnh nhẹ nhàng vỗ lưng em, dịu dàng nói: "Tiểu Đào, mỗi người có suy nghĩ khác nhau. Nếu em hỏi tôi, tôi cũng cảm thấy điều đó không đúng. Nhưng cha mẹ em thì—"

"Đúng vậy đúng vậy!" Em ấy ngồi dậy từ trên chiếu, cắt ngang lời tôi, "Chính là không đúng, không có yêu thương sao có thể sống cùng nhau suốt đời? Nhưng... thầy Phương, em chưa bao giờ thích ai cả, em không hiểu thế nào là thích. Thầy đã từng thích ai chưa?"

Nước mắt vẫn đọng trên mi của em như những giọt sương sáng sớm đọng trên cỏ núi khiến người ta muốn vươn tay lau đi. Nhưng tôi chỉ có thể kiềm chế, Tiểu Đào thật tàn nhẫn.

Câu hỏi của em cũng thật tàn nhẫn. "Thầy đã từng thích ai chưa?" Tôi không biết phải trả lời thế nào, vì câu trả lời đã ở ngay trước mắt tôi.

Tôi đành lờ đi câu hỏi cuối cùng, nói: "Thích là muốn người đó hạnh phúc, muốn người đó vui vẻ."

Tiểu Đào nghiêng đầu, không biết đang nghĩ gì.

Em ấy dường như đã hiểu ra, chậm rãi nói: "Vậy thì em cũng muốn thầy hạnh phúc vui vẻ, từ ngày thầy đến đây em đã luôn muốn như vậy."

Em ấy như bừng tỉnh, đột nhiên vui mừng nói với tôi: "Thầy Phương, vậy em thích thầy rồi!"

Trời ơi, em ấy có biết mình đang nói gì không?

Em ấy không biết.

Em ấy không biết rằng từ giờ trở đi, tôi không muốn nhìn biển nữa.

Tôi không muốn nhìn biển, nhưng vẫn có những người muốn Tiểu Đào kết hôn.

Tiểu Đào vẫn không tìm được người mình thích, vẫn không muốn kết hôn. Mọi người trong làng đều nói Tiểu Đào hiếu thảo nhất lại trở thành đứa con nghịch ngợm nhất, gia đình em mỗi ngày đều ầm ĩ, chẳng có chút yên bình nào.

Cha mẹ Tiểu Đào thậm chí đã đến tìm tôi, nói: "Thầy Phương, con trai chúng tôi không nghe lời ai cả, nó nghĩ thầy học cao, nghe thầy nói cái gì cũng là đúng. Thầy à, xin thầy giúp chúng tôi khuyên bảo nó!"

"Thích là muốn người đó vui vẻ, muốn người đó hạnh phúc." Đây là những lời tôi đã nói.

Nhưng bây giờ Tiểu Đào chẳng vui chút nào, gia đình em ấy cũng chẳng hạnh phúc.

Việc tôi đứng ra, đối với bản thân mà nói là tàn nhẫn; nhưng nếu đứng ngoài cuộc lại là sự tàn nhẫn đối với toàn bộ gia đình Tiểu Đào.

Tôi nghĩ, mùa hè năm 1975 đã đến lúc phải kết thúc rồi.

Trước khi tìm Tiểu Đào, tôi một mình lên núi Đại Hưng An Lĩnh – đó là nơi Tiểu Đào đã dẫn tôi đến khi tôi mới đến đây.

Khi đó là mùa hè, bây giờ là mùa đông.

Tuyết đã rơi, sự xanh mướt trên đỉnh núi cùng với nụ cười tươi sáng của Tiểu Đào lúc đó không còn nữa. Tất cả đều bị lớp tuyết trắng bao phủ chôn vùi đi.

Năm 1978, chính sách đưa trí thức về thành phố bắt đầu triển khai, quy định rằng con một có thể về thành phố, những gia đình có nhiều con có thể đưa một người về thành phố. Nhà tôi có hai đứa con, tôi không nỡ để em gái ở lại chịu khổ ở làng, cũng không nỡ rời xa Tiểu Đào, vì vậy năm ngoái tôi đã cho em gái về thành phố.

Bây giờ tôi muốn về thành phố, cách trực tiếp nhất là nghỉ bệnh.

Tôi nghe nói có một số trí thức ở làng bên sẵn sàng làm tổn hại cơ thể để được nghỉ bệnh. Ví dụ, họ dùng que diêm cạo ra ăn đến viêm dạ dày; ban ngày làm việc nặng, đêm không ngủ, mệt đến nỗi tiểu ra máu.

Có lẽ đứng một đêm trong mùa đông trên núi cũng là một cách.

Cách này rất hiệu quả, hôm sau khi tôi xuống núi, cả người nóng ran, chắc chắn là bị sốt cao, mắt không thể nhìn rõ.

Tôi đi đến trước cửa nhà, mơ màng nhìn thấy Tiểu Đào đứng đó.

Em ấy vừa thấy tôi liền chạy tới hỏi tôi đã đi đâu, nói tối qua tìm tôi cả đêm mà không thấy tôi ở nhà.

Em có thể cảm nhận tôi không ổn, liền đưa tay lên trán tôi và hét lên: "Thầy Phương, trán thầy nóng quá!"

Mùa đông dưới hai mươi độ có thể giết người, tôi ốm nặng hơn tưởng tượng nhiều. Tôi vịn vào tường bước vào nhà, rồi mệt mỏi nằm lên giường, vươn tay ra với em ấy.

Em ấy ngay lập tức bước lại nắm lấy tay tôi, dường như lại khóc: "Thầy Phương, thầy làm sao vậy..."

Đây là lần đầu tiên tôi nắm tay em.

Bàn tay em chai sạn vì năm tháng lao động vất vả, lướt qua tay tôi, chạm vào trái tim tôi, như những viên đá rơi xuống đại dương trong lòng tôi từng chút một, sắp làm đầy cả đại dương ấy.

"Tôi phải về nhà rồi." Tôi nói với em.

"Về nhà? Nhưng nhà thầy chẳng phải ở đây sao?" Tiểu Đào ngạc nhiên, đột nhiên siết chặt tay tôi, "Thầy muốn về thành phố à?"

Tôi nói: "Tiểu Đào, tôi phải về Hắc Long Giang rồi."

Em ấy khóc vội, "Hắc Long Giang ở đâu vậy? Làm sao để đi? Vậy... vậy em sẽ không tìm thấy thầy nữa phải không?"

Cảm sốt cũng có lợi, khi tôi mơ màng, việc nói dối không đau đớn lắm. Tôi nói: "Tiểu Đào, tôi phải về Hắc Long Giang để kết hôn."

"Kết hôn?" Tiểu Đào sững sờ, "Thầy Phương, thầy đã tìm được người thầy thích rồi sao?"

"Chưa, nhưng người ta vẫn phải kết hôn mà phải không? Tiểu Đào, nghe lời tôi nhé?"

Tiểu Đào không nói gì, chỉ ngây ngốc nhìn tôi.

Tôi muốn rút tay mình khỏi tay em ấy, nhưng em nắm quá chặt, tôi không thể rút ra được.

Tôi đành nói: "Tiểu Đào, tôi thấy không ổn, có thể đưa tôi đến trạm xá được không?"

Lúc ấy em mới như tỉnh lại, chạy ra ngoài lấy xe ba bánh cố gắng đưa tôi lên xe, lại phủ lên tôi rất nhiều chăn, kéo tôi đi mấy chục dặm trong gió tuyết mới đến được trạm xá thị trấn.

Tôi đã học qua một ít sách vở, không dám nói mình là người có học, nhưng những thứ mà người có học cần phải chú ý, tôi không bao giờ làm những chuyện xấu hổ, càng không nghĩ đến việc ăn vạ lăn lộn.

Nhưng để được nghỉ bệnh, tôi đã làm ầm ĩ, tôi nói bệnh của tôi là do công việc gây ra, các người phải để tôi về nhà, nếu không tôi sẽ làm ầm lên.

Vì vậy, tôi đã về nhà.

Trước khi lên tàu về Hắc Long Giang, tôi nói với Tiểu Đào: "Tiểu Đào, hứa với tôi, em phải vui vẻ và hạnh phúc."

Em ấy một mình đến tiễn tôi, lại khóc, siết chặt cánh tay không muốn để tôi đi.

Em hỏi: "Thầy Phương, nhưng sau này em không còn thấy thầy nữa, em làm sao vui vẻ và hạnh phúc được?"

Tôi nhìn đôi mắt đầy nước mắt của em, quyết định sẽ tiếp tục ước mơ nhìn thấy biển, tôi sẽ nhớ đến em, người đã vì tôi mà rơi nước mắt.

Tôi mỉm cười nhẹ nhàng nói với em: "Ngốc lắm, tôi sẽ về thành phố để kết hôn mà. Sau khi tôi đi, em cùng cô gái mà em thích kết hôn, xây dựng một gia đình hạnh phúc, thế là tốt rồi."

"Nhưng—"

"Tốt rồi, tôi phải lên tàu rồi." Tôi ngắt lời em ấy, cầm vali và quay người lên tàu, "Tiểu Đào, tạm biệt."

Mùa đông, từ Đại Hưng An Lĩnh đi về phía nam đến Hắc Long Giang, mọi thứ đều trắng xóa.

Tuyết từ dãy núi Đại Hưng An Lĩnh trải dài đến đồng bằng rộng lớn của Đông Bắc, khiến người ta dễ lầm tưởng rằng hai nơi chỉ cách nhau một khoảng cách rất gần. Nhưng mà quá xa, quá xa.

Mùa hè năm 1975 ở Đại Hưng An Lĩnh, dù có đi thế nào cũng không thể quay lại được nữa.
Sau khi trở về Cáp Nhĩ Tân, tôi vào làm giáo viên tại trường nghề số 3, cuộc sống trôi qua bình lặng như nước.

Tôi luôn nghĩ đến Tiểu Đào, nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc suy nghĩ mà thôi.

Hiện giờ hẳn em ấy đã tìm được người mình yêu, xây dựng một gia đình hạnh phúc. Thế cũng tốt, sống trên đời này tốt nhất đừng trở thành kẻ khác thường.

Thật tốt, Tiểu Đào chắc chắn sẽ là người bình thường.

Vậy mà hôm đó khi tôi thấy Tiểu Đào ở cổng trường, tôi còn chưa kịp phản ứng, cứ ngỡ mình đang mơ.

Em đứng đó, ngay cổng trường với một chiếc ba lô lớn trông rất nổi bật, thu hút ánh nhìn của nhiều người xung quanh.

Nhưng dường như em ấy chẳng để ý đến ai khác. Vừa thấy tôi, em liền đi thẳng tới, vội vã hỏi: "Thầy Phương, thầy Phương, thầy đã lập gia đình chưa?"

Tôi vội vàng giải thích đây là em trai tôi, rồi kéo Tiểu Đào đưa về nhà.

Vừa về đến nhà, em ấy lại khóc, cảm thấy rất tủi thân.

Tiểu Đào à, Tiểu Đào của tôi, sao em lại hay khóc thế? Nếu em ít khóc một chút, có lẽ trái tim tôi sẽ bớt đau một chút, nỗi nhớ em cũng sẽ vơi đi phần nào. Nhưng mà dường như trái tim tôi sẽ chẳng bao giờ ngừng đau nữa.

Tiểu Đào trách tôi: "Thầy Phương, thầy lừa em! Đã một năm rồi, thầy rõ ràng là chưa lập gia đình, thầy lừa em..."

"Ngày thầy đi, thầy nói muốn em vui vẻ, muốn em hạnh phúc. Thầy đã nói từ rất lâu rồi, thích là mong người ấy vui vẻ, mong người ấy hạnh phúc..."

"Thầy Phương, thầy... thầy có thích em không?"

Nước mắt của em lại biến thành một biển nước.

Bây giờ, Cáp Nhĩ Tân cũng có biển rồi.

Và tôi như thể đang chết đuối trong biển đó, không còn sống nổi nữa.

"Tôi thích em mà." Tôi cố gắng vùng vẫy, dù đang gần chết vẫn cố giả vờ dịu dàng, "Cũng giống như tôi thích tất cả các học sinh của tôi vậy, Tiểu Đào, tôi thích em mà."

"Không phải! Không phải như vậy... lúc trước thầy nói thích là muốn người ấy vui vẻ hạnh phúc, không phải thích kiểu này, mà là..."

Em lắp bắp mãi, cuối cùng như đã mất hết sức mà thốt ra: "Là thích muốn sống cả đời với nhau!"

"Thầy bảo em đi tìm cô gái mình thích, nhưng em tìm mãi mới nhận ra là em không thích con gái, em cũng không thích con trai, em chỉ... em chỉ muốn thích mỗi mình thầy thôi!"

"Em... em thích thầy, em dám thừa nhận! Thầy Phương, thầy thì sao? Thích em hay không, thầy dám thừa nhận không?"

Làm sao em lại có thể hỏi tôi như vậy?

Làm sao em lại có thể hỏi tôi như vậy? Tôi tự thấy mình thật ích kỷ. Tiểu Đào vốn thuộc về Đại Hưng An Lĩnh, nơi cánh rừng ấy có thể bảo vệ em. Thế nhưng tôi lại đưa em ra khỏi đó.

Tôi cũng nghĩ mình là một kẻ giả dối. Tôi từng mong Tiểu Đào sẽ trở thành một người bình thường, nhưng giờ đây, khi em đứng trước mặt tôi với hàng nước mắt lăn dài bày tỏ hết mọi tâm tư của mình, tôi lại —

Tôi lại ôm chặt lấy em.

Rất chặt, rất chặt.

Cũng giống như khi tôi bị sốt cao, Tiểu Đào nắm tay tôi chặt đến mức ấy.

Trái tim tôi đau đến mức khi tôi hôn lên môi Tiểu Đào, khi cởi bỏ quần áo của em, tôi đã không còn giữ được dáng vẻ dịu dàng giả tạo vốn có.

Trong lòng tôi có một con quái vật đã được thả ra. Đừng trách tôi, tôi đã giấu nó rất kỹ, nhưng chính Tiểu Đào đã dẫn nó ra khỏi hang.

Chính Tiểu Đào, với làn gió từ Đại Hưng An Lĩnh, đã thổi nó ra ngoài.

Tiểu Đào, Tiểu Đào của tôi, em phải chịu đựng nỗi đau tôi mang lại.

Khi mọi thứ kết thúc, tôi quấn Tiểu Đào trong chăn, ôm em thật chặt cùng với chiếc chăn, đặt nụ hôn lên đôi môi em rồi dịu dàng hôn lên từng vết thương mà tôi đã để lại trên cơ thể em.

Tôi hỏi: "Đau lắm phải không, em có hối hận không?"

"Em không hối hận." Tiểu Đào ôm chặt tôi, "Thầy Phương, em không hối hận đâu."

"Nhưng nếu cứ như thế này sẽ rất đau."

"Em không đau. Thầy Phương, em không đau." Tiểu Đào ngẩng đầu lên trong vòng tay tôi, "Không thấy thầy mới đau, cả năm nay ở nhà em đã muốn chết vì nhớ thầy rồi."

Tiểu Đào có đôi mắt cụp xuống, linh động mà đáng yêu biết mấy.

Khi đôi mắt ấy đầy ắp nước mắt nhìn tôi, tôi luôn không thể kiềm chế được mà muốn trao cả sinh mạng của mình cho em, lên núi đao xuống biển lửa cũng được. Tôi muốn chết vì em.

Nhưng tôi lại muốn bảo vệ em thật tốt, dẫn em đi xem biển, cùng em sống cả đời, để em vui vẻ hạnh phúc đến khi già, rồi cùng em trở về.

Em cuộn tròn trong vòng tay tôi, nói: "Thầy Phương, em nhớ thầy, rất nhớ thầy... nhưng em không tìm thấy thầy, em đã tích góp tiền thật lâu mới mua được vé tàu về Cáp Nhĩ Tân."

"Đây là lần đầu tiên em đi tàu, em chẳng biết gì cả, suýt nữa đã đi nhầm ga, xuống nhầm tàu."

"Thầy Phương, em đã đến Cáp Nhĩ Tân rất lâu rồi, em không dám ngủ, cuối cùng cũng sắp tìm được thầy, em sợ một phút không chú ý lại đánh mất thầy."

Em ấy ngập ngừng hỏi: "...Còn thầy thì sao? Thầy Phương, thầy có bỏ em không?"

Ôi trời, tôi đã phạm phải tội gì mà khiến Tiểu Đào trong vòng tay tôi lại bất an đến vậy?

"Không đâu, Tiểu Đào, không đâu."

Tôi ôm chặt lấy em, như biển cả ùa vào đất Đại Hưng An Lĩnh, biến mảnh đất ấy thành cát đá nằm dưới đáy biển của tôi, chiếm lấy và không cho phép rời xa nữa.

Những ngày tháng sau đó, thật giống như tôi tưởng tượng, tràn ngập niềm vui và hạnh phúc.

Một người bạn học việc ở nhà máy xe đạp nói rằng họ đang thiếu công nhân tạm thời, tôi liền giới thiệu Tiểu Đào đến. Tiểu Đào chăm chỉ, miệng lưỡi ngọt ngào lại chịu khó, nhanh chóng được mọi người yêu quý và chẳng bao lâu sau đã trở thành nhân viên chính thức.

Vậy là Tiểu Đào cũng có thể giải thích với gia đình rằng em không phải đến Cáp Nhĩ Tân để vui chơi mà thực sự đến để kiếm tiền.

Với mọi người, Tiểu Đào là họ hàng xa của tôi, vì không có chỗ ở tại Cáp Nhĩ Tân nên tạm thời sống nhờ tại nhà tôi. Còn với tôi, Tiểu Đào cũng là em trai, nhưng tôi lại thích nghe em gọi tôi là thầy Phương, và cũng thích khi em gọi tôi là "anh".

Đặc biệt là vào lúc nửa đêm, khi em rưng rưng nước mắt nằm trên gối của tôi, từng tiếng "anh" gọi ra, tôi luôn không thể nghe thấy ba từ "nhẹ một chút" phía sau.

Tiểu Đào bị tôi làm hư rồi, lông mi còn đọng nước mắt, co ro trong lòng tôi trách móc: "Thầy Phương, thầy chẳng thích em chút nào."

Ôi, nhìn tôi đã làm gì thế này.

Tôi vội vàng ôm chặt em, hôn lên trán em, dịu dàng an ủi: "Thích em mà, Tiểu Đào, thích em nhất."

"Vậy sao thầy còn——"

Em ấy nói được nửa câu thì mặt đỏ bừng, không nói tiếp được lại bực bội cắn vào vai tôi một cái.

Thật tuyệt, cắn đi, Tiểu Đào ơi, cắn tôi đến tơi tả cũng được, nếu là của em, chỉ cần là của em thôi.

Thấy Tiểu Đào cắn xong mà vẫn không vui, tôi liền nói: "Chờ kỳ nghỉ hè sau, tôi sẽ đưa em đi ngắm biển nhé."

Mắt Tiểu Đào sáng lên, "Ngắm biển á?"

"Ừ. Đi Đại Liên, đó là biển gần nhất rất đẹp, còn có hải âu nữa."

"Em muốn đi." Tiểu Đào lại cười, mắt cong thành một vầng trăng khuyết, "Thầy Phương ơi, em muốn đi!"

Và rồi tôi đưa em ấy đi.

Đó là mùa hè năm 1985, dấu chân của chúng tôi kéo dài từ Đại Hưng An Lĩnh đến Cáp Nhĩ Tân, rồi tiếp tục đến Đại Liên.

Cũng là lần đầu tôi nhìn thấy biển. Hóa ra biển mà tôi từng đọc trong sách thật sự đẹp đến vậy. Nếu không tại sao tôi lại không thể rời mắt, ánh nhìn cứ mãi dừng lại ở Tiểu Đào đang đứng bên bờ biển chứ.

Tiểu Đào cầm một miếng bánh bao nhỏ giơ cao lên trên đầu, cố gắng mời những con hải âu đến ăn. Nhưng hải âu chẳng chịu đáp xuống. Em vội vàng nhảy mấy bước, như thể muốn vươn tay đến gần hơn chạm được vào miệng của chúng.

Sau đó em thất vọng, đôi mắt cụp xuống như chú cún con, buồn bã nói: "Thầy Phương, hải âu không thèm để ý đến em."

Tôi vội vàng đi đến, cúi xuống cắn một miếng bánh bao trên tay em: "Tôi để ý em mà."

Em hình như vui hơn một chút, nhưng cũng có vẻ không phải, nói: "Thầy không phải hải âu."

"Có mà." Tôi nhìn biển tôi thích, nhìn người tôi yêu, "Tiểu Đào, em muốn tôi là gì, tôi sẽ là như thế."

Sau đó, chúng tôi còn đi xem rất nhiều biển nữa.

Ngắm xong vịnh Bột Hải, chúng tôi lại tiếp tục đến biển Đông, rồi từ biển Đông chuyển sang biển Hoàng Hải, sau đó lại quay về biển Đông.

Chúng tôi đã đi qua rất nhiều thành phố: Thanh Đảo, Liên Vân Cảng, Thượng Hải, Chu Sơn... và xa nhất là đến Hạ Môn. Trên đảo Cổ Lãng Tự, Tiểu Đào nhặt một viên đá rồi bỏ vào túi tôi. Tôi nhìn em ấy, thắc mắc hỏi: "Em làm gì thế?"

Em bảo: "Thầy Phương, trước kia chúng ta đi nhiều nơi như vậy nhưng không để lại gì làm kỷ niệm, từ giờ trở đi em muốn mỗi lần đều nhặt một viên đá."

"Khi chúng ta già đi, không thể đi đâu được nữa, chúng ta sẽ ngồi ở nhà đếm đá, nhớ lại những nơi đã cùng nhau đi qua, nhớ rằng chúng ta đã cùng sống một cuộc đời trọn vẹn."

Lúc ấy, tôi chỉ ước gì đảo Cổ Lãng Tự trở thành tài sản riêng của mình, để tôi có thể đuổi hết mọi cư dân và du khách đi, thoải mái ôm hôn em giữa không gian chỉ thuộc về hai chúng tôi.

Tiểu Đào, người nói sẽ sống cùng tôi suốt đời.

Tiểu Đào của tôi.

Tiểu Đào hỏi tôi: "Thầy Phương, lần sau chúng ta đi ngắm biển nào?"

"Chỉ còn biển Nam Hải là chưa xem." Tôi trả lời, "Chúng ta đi tới nơi cực Nam nhé."

"Nơi cực Nam ư? Ha ha..." Tiểu Đào cười khúc khích, "Thầy Phương, thầy định dẫn em đi Nam Cực à?"

Tiểu Đào, em cười gì vậy.

Một đời dài như vậy, ai dám nói tôi không thể đưa em đến Nam Cực chứ? Nam Cực có đá không nhỉ? Nếu không có, ai cấm chúng ta mang về một nắm tuyết từ đó?

"Tiểu Đào." Tôi nói, "Chúng ta đi Nam Cực nhé."
Nhưng sau đó, chúng tôi không đi Nam Cực nữa.

Đừng nói đến Nam Cực, ngay cả Nam Hải chúng tôi cũng không thể đi được.

Đừng nói đến Nam Hải, ngay cả lần cuối cùng tôi cũng không thể gặp lại Tiểu Đào.

Sau hơn mười năm sống cùng nhau, cả tôi và Tiểu Đào đều đã ngoài ba mươi. Hai người đàn ông ngoài ba mươi tuổi mãi không kết hôn, mãi sống cùng nhau thì thật khó tránh khỏi những lời bàn tán và suy nghĩ từ người đời.

Không biết từ đâu mà có người biết được: Tiểu Đào thực ra không phải em trai tôi, em ấy đến từ Đại Hưng An Lĩnh, là người tôi gặp khi xuống nông thôn.

Có vẻ như chuyện này bắt đầu lan ra từ nhà máy. Không lâu sau, Tiểu Đào nói với tôi rằng em bị nhà máy yêu cầu nghỉ việc không lương. Nhà máy xe đạp làm ăn không tốt, không đủ khả năng trả lương, nên phải có người rời đi. Nhưng ai cũng muốn giữ chỗ của mình, chẳng ai chịu tự nguyện ra đi.

Tôi luôn cố không nghĩ xấu về người khác, nhưng khi mọi ác ý đều đổ lên Tiểu Đào, tôi cảm giác cả nhà máy đều là những kẻ xấu xa. Người mất việc là Tiểu Đào nhưng người buồn bã lại chính là tôi, và người cần được an ủi cũng là tôi.

Tiểu Đào nấu cho tôi một bàn đầy món ngon, nói: "Thầy Phương ơi không sao đâu, em có thể tìm được việc khác mà."

Tôi nói: "Nếu không tìm được việc, tôi sẽ nuôi em suốt đời."

"Được rồi." Tiểu Đào cười, mắt cong như trăng lưỡi liềm, "Thầy Phương, là anh nói đó nha."

Tôi thật sự đã có ý định như vậy, nuôi em suốt đời cũng chẳng sao. Dù sao thì chúng tôi chỉ là một nhà hai người, ba bữa cơm, bốn mùa, cũng chẳng tốn bao nhiêu.

Nuôi em suốt đời.

Tiểu Đào, tôi đã nói vậy.

Nhưng tôi đã thất hứa.

Chiều hôm đó, họ xông vào nhà tôi, dùng những lời lẽ đe dọa, dùng công cụ tra tấn tôi. Họ gọi tôi là "thỏ", nói tôi ghê tởm. Những năm qua, tôi đã nghe về nhiều người cùng hoàn cảnh bị bắt. Những người từng vào nơi đó đều nói rằng đó là nơi còn đáng sợ hơn cả địa ngục.

Tôi không sợ, thậm chí còn cảm thấy may mắn. May mắn vì khi họ xông vào, Tiểu Đào không có ở nhà.

Trong trại giam, họ nói sẽ đưa "chồng" tôi đến trường để làm những chuyện bậy bạ, nói trường sẽ đuổi việc tôi. Họ ép tôi khai tại sao lại thích đàn ông, hỏi "gian phu" của tôi ở đâu.

Tôi nói tôi không thích đàn ông, các người bắt nhầm người rồi.

Sau đó họ ép tôi phải chỉ ra một người phụ nữ, nếu tôi không làm, họ sẽ dùng điện giật tôi.

Tôi đau đớn, nhưng vẫn phối hợp với mọi yêu cầu.

Tôi giả vờ bình thường, chỉ cần có thể bảo vệ Tiểu Đào, chỉ cần có thể sớm ra ngoài gặp được Tiểu Đào, họ bảo tôi làm gì tôi đều làm.

Nhưng.

Nhưng họ lại nói ra tên của Tiểu Đào, nói người này chính là "gian phu" của tôi phải không? Bọn họ cũng sẽ bắt em ấy vào.

Tôi nói không phải vậy, tôi điên cuồng van xin quỳ xuống trên nền đất lạnh và cứng. Tôi nói, các người thả tôi đi, tôi sẽ đưa các người tiền, rất nhiều rất nhiều tiền."

Họ nói "được" nhưng vẫn không thả tôi. Họ vẫn đe dọa sẽ bắt Tiểu Đào, vẫn dùng những lời lẽ thô tục để sỉ nhục tôi và Tiểu Đào, đùa cợt một cách ác ý và coi đó là điều đáng tự hào.

Những ngày sau đó, tôi không gặp được Tiểu Đào. Tôi không biết họ có đến nhà bắt em không, cũng không biết em có ổn không.

Chỉ có một lần, họ nói với tôi: "Người của mày cứng đầu thật đấy, ép bọn tao dùng biện pháp mạnh phải không?"

Tôi không sợ điện giật, không sợ bị sỉ nhục, thậm chí không sợ mất việc ở trường. Tôi chỉ sợ Tiểu Đào phải chịu khổ.

Tiểu Đào, Tiểu Đào của tôi, em có sao không? Họ có làm gì em không?

Tôi van xin họ, cầu xin họ đừng làm khó Tiểu Đào. Tôi nói, tất cả là lỗi của tôi, là tôi mù quáng ép buộc em ấy. Em chỉ là người bình thường, xin đừng bắt em ấy nữa!

Không ai đáp lại, không ai chú ý đến tôi.

Tôi lại mơ thấy Đại Hưng An Lĩnh, mơ thấy biển cả, mơ về hàng vạn năm sau khi biển cả thực sự tràn vào Đại Hưng An Lĩnh, tôi và Tiểu Đào sẽ mãi mãi sống trong đó.

Nhưng khi tỉnh dậy, tôi vẫn nằm trong trại giam lạnh lẽo lẻ loi một mình.

Rồi một ngày nọ, họ đột nhiên thả tôi ra.

Tôi không hiểu vì sao. Họ nói sẽ bắt Tiểu Đào nhưng tôi cũng không được gặp em ấy.

Điện giật dường như khiến tôi mất đi khả năng phán đoán cơ bản, nếu không thì tại sao khi tôi vội vã chạy về nhà lại không thấy Tiểu Đào khỏe mạnh, vui vẻ?

Chiếc chăn bông chúng tôi đắp giờ trở thành một đống bông, vương vãi khắp các góc trong nhà.

Vỏ chăn đã mất tích.

Sợi dây đã được buộc thành một sợi dài quấn quanh thanh sắt treo đồ trên trần ban công, đỡ lấy cơ thể Tiểu Đào yêu quý của tôi.

Tiểu Đào lớn lên giữa núi rừng, từ nhỏ đã chạy nhảy dưới ánh mặt trời, làn da màu lúa mì khỏe mạnh mà tôi rất thích, luôn muốn hôn lên. Tôi trắng hơn em một chút. Em luôn ghen tị nói rằng mùa đông năm nay nhất định sẽ chăm sóc da để trắng hơn tôi.

Nhưng giờ đây, em thật sự trắng hơn tôi, trắng hơn rất nhiều. Trắng bệch, không còn chút sắc máu, ngay cả màu môi cũng tái nhợt.

Tôi ôm em xuống, bàn tay run rẩy chạm vào cơ thể em. Trên làn da quen thuộc ấy giờ đây đầy những vết thương chằng chịt.

Là những người kia đánh phải không?

Tiểu Đào sợ đau lắm, em ấy luôn vậy. Một mình em làm sao có thể chịu đựng được? Tiểu Đào sợ đau, khi hai chân em chỉ chạm vào không khí, làm sao em có thể chịu được cảm giác ấy?

Tôi vuốt ve khuôn mặt em giống như bao đêm ngày trước. Mỗi lần tôi vuốt ve, mắt em sẽ nheo lại như một chú cún con, cong cong, trông rất thoải mái, rất thích tôi làm vậy.

Nhưng bây giờ đôi mắt ấy không còn cử động nữa. Sao lại không cử động? Em cử động đi, Tiểu Đào, em cử động đi.

Tôi còn muốn đưa em đi xem biển phương Nam, còn muốn đưa em đến Nam Cực mà. Nếu em không cử động, chúng ta làm sao có thể đi được?

Tiểu Đào.

Tiểu Đào của tôi.

Sao em không trả lời tôi? Em vốn nhiệt tình như vậy sao bây giờ lại lạnh lẽo đến thế? Nước mắt của tôi rơi xuống người em, nhưng ngay cả nước mắt ấy cũng như đông cứng lại.

Ngày hôm sau, tôi đến trường. Trước khi chết, tôi cũng không biết mình có thật sự muốn chết hay không. Tôi muốn tranh thủ một chút công bằng cho tôi và Tiểu Đào. Nhưng thực tế, tôi mới nhận ra khi định kiến đã trở thành chủ nghĩa chính thống thì công bằng thật sự không thể tồn tại.

Khi tôi rơi xuống từ mái trường, tôi cảm nhận được rất nhiều gió. Khoảnh khắc đó ngắn ngủi nhưng cũng kéo dài vô tận. Tôi nhìn thấy mùa hè năm 1975, nhìn thấy Tiểu Đào dẫn tôi lên núi Đại Hưng An Lĩnh, nhìn thấy chúng tôi cùng thổi chung một làn gió, từ đó hoà vào cùng một nỗi đau.

Tôi nhìn thấy đôi mắt cong cong của em, đầy sức sống và thương yêu. Tôi chạy theo em gọi: "Tiểu Đào ơi, đợi tôi với, đừng đi nhanh thế."

Nhưng tôi không thể nói được nữa.

Tuyết trên mặt đất lạnh lẽo biết bao, ngay cả máu của tôi chảy xuống cũng không đủ để làm tan chảy chúng. Tuyết ở Nam Cực có lạnh như thế này không nhỉ?

Tiểu Đào ơi, kiếp sau chúng ta gặp nhau ở Nam Cực nhé. Không, vẫn là đừng có kiếp sau. Tôi không đành lòng để em phải chịu thêm khổ đau trên thế gian này nữa.

Tiểu Đào ơi, xin lỗi em.

Nếu em vẫn ở lại Đại Hưng An Lĩnh, liệu em có thể sống đến trăm tuổi chăng?

Sau đó.

Rồi sau của sau đó nữa.

Gió vẫn miệt mài luồn qua những dãy núi ở Đại Hưng An suốt hàng chục năm, nước biển không ngừng vỗ về bờ cát qua biết bao đêm ngày. Từ hơi thở của gió đến dòng chảy của đại dương đều là hành trình từ Bắc bán cầu để đến với Nam bán cầu.

Cửa của căn cứ đội nghiên cứu Nam Cực vang lên tiếng gõ. Trợ lý mở cửa, quay vào bên trong gọi lớn: "Thầy Phương, có hai nhà thám hiểm nói họ bị lạc đường, xin được tá túc qua đêm. Được không ạ?"

"Được, để họ vào đi."

"Xin mời vào, xin mời vào! Để tôi giới thiệu, đây là giáo sư Phương đến từ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia. Tôi là nghiên cứu sinh kiêm trợ lý của thầy, họ Trương. Các bạn xưng hô thế nào nhỉ?"

Cô gái đi đầu lên tiếng: "Tôi và anh trai đến đây chơi. Thầy Phương, anh Trương, tôi thật sự khâm phục hai người có thể ở đây lâu như vậy, chỗ này lạnh chết đi được! Anh trai tôi cứ nhất quyết muốn đến, tôi không hiểu anh ấy nghĩ gì, thật hết cách!"

"Vậy à? Giống thầy Phương thật đấy. Thầy từng kể với chúng tôi thầy cũng không biết vì sao từ nhỏ đã có một tình cảm đặc biệt khó lý giải với Nam Cực nên quyết định đến đây nghiên cứu. À đúng rồi, vẫn chưa biết hai bạn xưng hô thế nào nhỉ?"

"Ôi! Xin lỗi, chúng tôi họ Đào."

Người đang rót nước tay khẽ run, quay lại nhìn.

Người vừa bước vào khựng lại, ngẩng đầu lên.

Hai người dù chưa từng chạm mặt nhưng sao lại thấy thân thuộc đến lạ. Cảm giác muốn lao đến ôm chặt lấy nhau dâng lên mãnh liệt thật khó lý giải.

Người đang rót nước chậm rãi bước tới, ngập ngừng nói: "Tôi có cảm giác đã gặp em ở đâu đó."

Người vừa bước vào nhà chẳng hiểu vì sao lại buột miệng thốt lên: "Khi đó họ nói với em rằng anh đã chết. Thế nên em đã đi theo anh."
Q&A Văn Hiên
Editor: Phần này được tác giả đăng trên Weibo vào ngày 16/3 – sinh nhật của Tống Á Hiên.

Q: À dù sao thì tôi mời hai người đến phỏng vấn 100 câu hỏi tương tác của cặp đôi mà không có lý do rõ ràng! Hôm nay cũng là sinh nhật của Tống Á Hiên, trước tiên chúc Tống Á Hiên sinh nhật vui vẻ!

Văn: (Nghiêng đầu nhìn Tống Á Hiên, ghé lại hôn một cái) Sinh nhật vui vẻ.

Hiên: (Cúi đầu, đẩy kính, lén nhìn, nhỏ giọng) Đang ở ngoài đó...

Văn: (Nghi hoặc) Thì sao? Chỉ là hôn một cái thôi mà, bọn họ còn ước gì chúng ta trực tiếp làm ——

Hiên: (Bịt chặt miệng Văn) Anh đừng nói nữa...!

Q: Hehe hehe, vậy chúng ta bắt đầu nhé! Hai người xưng hô với nhau như thế nào?

Hiên: Chỉ là... "Lưu Diệu Văn" thôi.

Văn: Em chắc chứ?

Hiên: (Mặt đỏ) Đúng vậy.

Văn: Ở trên giường em thích gọi anh là "chồng ơi" lắm mà, câu tiếp theo đi.

Q: Này này Văn, anh vẫn chưa trả lời đấy!

Văn: Tôi gọi em ấy nhiều cách lắm, chủ yếu là gọi tên. Khi em giận dỗi tự nhốt mình thì tôi gọi là "bé thỏ ngoan ngoãn mở cửa ra nào", khi em ngủ nướng không chịu dậy thì gọi là "bé heo", cũng từng gọi là "đồ ngốc". Ừm, tôi còn rất thích gọi em là "học sinh ngoan".

Q: Còn trên giường thì sao?

Văn: Học sinh ngoan.

Hiên: (Nhỏ giọng) Rõ ràng còn một cái nữa...

Văn: (Cười, kéo người lại hôn một cái) Bé cưng.

Q: Được rồi được rồi, câu tiếp theo ——

Hiên: Tôi muốn bổ sung.

Q: Gì cơ?

Hiên: Anh ấy là đồ đáng ghét, chỉ cần anh ấy trêu tôi là trong lòng tôi sẽ thầm gọi anh ấy là đồ đáng ghét. Lưu Diệu Văn chính là đồ đáng ghét...!

Q: Được được được, vậy "đồ đáng ghét" và "học sinh ngoan" thích được đối phương gọi mình như thế nào nhất?

Văn: Tôi thích em ấy gọi là "chồng".

Hiên: ...Nhất định phải nói ra sao?

Q: Ừm!

Hiên: Học sinh ngoan...

Văn: (Cười mãn nguyện)

Q: Ở nhà ai là người nấu ăn?

Hiên: Anh ấy.

Văn: Em ấy nấu ăn nguy hiểm lắm, nào là bị cắt tay, bị dầu bắn, tôi xót lắm.

Q: Nếu có thời gian rảnh, hai người thích làm gì cùng nhau nhất?

Hiên: Cùng anh ấy cuộn tròn ở nhà ngủ.

Văn: Gần đây tôi muốn dẫn em ấy đi tập thể dục, nhưng mà hình như em không muốn lắm (cười).

Q: Nếu có kế hoạch du lịch, hai người muốn đi đâu nhất?

Hiên: Đi đâu với anh ấy cũng được, nhưng thích nhất là cuộn tròn ở nhà.

Văn: (Cười) Thật ra tôi khá thích đi du lịch, nhưng bé thỏ nhỏ lúc nào cũng cảm thấy ở nhà mới có cảm giác an toàn, vậy thì tùy em ấy vậy.

Hiên: Chẳng phải đã nói là dịp 1/5 sẽ lái xe đi Tây Bắc chơi sao?

Văn: Ừm, bé thỏ không thích ra ngoài cũng đã đi với anh rất nhiều nơi rồi, bé thỏ rất yêu anh à nha.

Q: Nếu nuôi một con vật cưng, hai người muốn nuôi gì?

Văn: (Trả lời ngay lập tức) Thỏ.

Văn: Nhưng thôi vậy, trong nhà đã có một bé thỏ rồi, nuôi thêm lại sợ ai đó ghen.

Hiên: Anh nói cứ như em rất hay ghen ấy...

Văn: (Giả vờ ngạc nhiên) Chẳng lẽ em không phải sao?

Q: Cảm thấy đối phương giống con vật gì?

Văn: (Cười) Cái này thì không cần nói nữa rồi.

Hiên: (Suy nghĩ) Anh ấy chẳng giống con gì cả, anh ấy chỉ giống chính anh ấy thôi.

Q: Thích điểm nào ở đối phương?

Văn: Tất cả.

Hiên: Tất cả.

Q: Hãy nói ba đặc điểm khiến bạn rung động nhất ở đối phương.

Văn: Đẹp trai, thông minh, kiên trì, biết làm nũng, đáng yêu... Tôi còn có thể nói một trăm đặc điểm nữa, có muốn nghe tiếp không?

Hiên: Em đâu có làm nũng đâu.

Văn: Bây giờ em đang làm nũng đấy.

Hiên: ...Hả?

Q: (Cười dịu dàng) Hiên Hiên, bạn hãy nói ba đặc điểm khiến bạn rung động nhất ở Văn đi.

Hiên: (Suy nghĩ, im lặng, do dự)

Hiên: Không biết nói cụ thể thế nào, dù sao thì... anh ấy cái gì cũng tốt, anh ấy là người tuyệt vời nhất trên thế giới.

Văn: (Ghé lại hôn một cái)

Q: Lần gần đây nhất hai người hôn nhau là khi nào?

Văn: (Cười) Vừa nãy.

Q: Ôi trời, vậy hai người hôn nhau thường xuyên lắm nhỉ?

Văn: (Ghé qua hôn thêm một cái)

Văn: (Nhún vai, ra vẻ bất đắc dĩ)

Q: Ai là người hay mua quần áo cho đối phương nhất? Thấy đối phương hợp với phong cách nào nhất?

Văn: Em ấy mua nhiều hơn, em ấy làm thiết kế mà, gu thẩm mỹ tốt.

Hiên: Ừm. Anh ấy vai rộng, cao ráo, thuộc kiểu mặc gì cũng đẹp... Khi đi làm thường mặc vest, còn lúc bình thường tôi thích mua cho anh ấy áo khoác workwear, quần cargo... Kết hợp với tóc húi cua siêu ngầu luôn... Anh ấy đặc biệt hợp với màu nâu đậm, màu đen cũng đẹp.

Văn: (Ngạc nhiên) Hóa ra trong mắt em anh lại đẹp trai đến thế.

Hiên: (Cúi đầu, tai đỏ lên)

Q: Văn vẫn chưa nói Hiên Hiên hợp với phong cách nào nhất đấy?

Văn: Em ấy mặc gì cũng đẹp, không mặc là đẹp nhất.

Hiên: ...Lưu Diệu Văn, anh đừng nói nữa.

Q: Chuyện gần đây nhất khiến hai người cảm thấy đặc biệt hạnh phúc?

Văn: Được tổ chức sinh nhật cho em ấy.

Hiên: Được anh ấy tổ chức sinh nhật.

Q: Vào sinh nhật đối phương, hai người sẽ chuẩn bị những gì?

Văn: Chúng tôi rất để ý đến cảm nhận của nhau, sẽ hỏi trước xem đối phương có muốn gì không, tránh trường hợp tặng quà mà đối phương không thích. Sinh nhật mà, quan trọng nhất là chủ nhân bữa tiệc vui vẻ.

Hiên: Ừm.

Q: Nghe có vẻ rất thực tế và biết cách tận hưởng cuộc sống ha! Vậy hai người thích nhận quà gì nhất?

Hiên: Tôi thích anh ấy cùng tôi đi làm một số việc, ví dụ như xem triển lãm mỹ thuật, triển lãm kiến trúc...

Văn: Tôi thích những món quà thực dụng. Như năm ngoái, vì mùa mưa ở Thượng Hải quá ẩm ướt, quần áo phơi mãi không khô, nên tôi đã xin một chiếc máy sấy quần áo.

Q: Những dịp lễ đặc biệt, ví dụ như ngày Valentine, hai người sẽ tặng quà gì?

Hiên: Giống như trên, sẽ hỏi ý kiến đối phương trước.

Văn: Khụ khụ, nhưng nếu là Valentine thì sẽ có hoạt động đặc biệt ——

Hiên: (Bịt chặt miệng Văn)

Q: Nếu vì công việc mà hai người phải yêu xa, sẽ thể hiện nỗi nhớ nhau như thế nào?

Văn: Gọi điện thoại, ngày nào cũng gọi thật lâu. Hy vọng sau này sẽ có video call, dù ở xa vẫn có thể nhìn thấy mặt em ấy.

Hiên: Khi không gọi điện sẽ nhớ anh ấy, buổi tối ôm gối của anh ấy để ngủ.

Q: Hai người cảm thấy trạng thái thoải mái nhất khi ở bên nhau là gì?

Văn: Cái này nói sao nhỉ? Dù chỉ ngồi im không nói gì cũng không thấy ngại, ở bên em ấy giống như ở bên chính mình vậy, bọn tôi đã hòa làm một rồi.

Hiên: Ở bên anh ấy thế nào cũng thấy thoải mái và thư giãn.

Q: Nếu hai người cãi nhau, ai sẽ là người xin lỗi trước?

Văn: Bọn tôi không nói "xin lỗi", không có chuyện ai xin lỗi trước. Mâu thuẫn không có nghĩa là ai đó sai, mà chỉ là một cơ hội để hiểu nhau hơn.

Hiên: Nhưng ai đang giận thì người kia vẫn sẽ dỗ dành trước mà...

Q: Nếu đối phương giận, sẽ dỗ dành thế nào?

Văn: Em ấy dễ dỗ lắm, hôn một cái, ôm một cái là được. Kéo vào lòng hôn, đè xuống giường hôn, vừa hôn vừa nói suy nghĩ của tôi, đến khi em ấy chủ động ôm lại hôn tôi thì coi như đã dỗ xong.

Hiên: Ừm... Văn thuộc kiểu... gần như không bao giờ giận, nhưng một khi giận thì rất nghiêm trọng. Cách dỗ sao á... Thật ra tôi cũng không biết, nhưng hình như... anh ấy nói gì thì tôi làm nấy, kiểu... hoàn toàn nghe lời anh ấy, hiệu quả cũng khá ổn...

Văn: (Mỉm cười) Xem ra sau này anh phải giận nhiều hơn mới được.

Q: Lần chiến tranh lạnh lâu nhất kéo dài bao lâu?

(Văn và Hiên nhìn nhau cười)

Văn: Chắc khoảng hai phút.

Q: MBTI của hai người là gì?

Văn: Là cái gì cơ?

Hiên: Một bài kiểm tra tính cách đó. Em gửi link cho anh rồi.

Văn: Hả? Sao nhiều câu hỏi thế? Nhất định phải làm à?

Hiên: Nhưng em muốn biết anh thuộc loại nào mà.

Văn: (Lập tức làm bài test)

Hiên: Tôi từng làm ra kết quả INFJ và INFP, không rõ chính xác là cái nào.

(Mười phút sau)

Văn: Mấy câu hỏi này trừu tượng quá, có câu tôi đọc còn không hiểu ý nữa. Xong rồi, hệ thống bảo tôi là ESFJ, thật không đó?

Q: Ở nhà nghe lời ai, ra ngoài nghe lời ai?

Văn: Ở nhà nghe lời em ấy.

Hiên: Nói bừa.

Văn: Không phải à?

Hiên: Bọn mình đều cùng nhau bàn bạc mà.

Văn: Đúng vậy, nhưng trên giường thì chỉ nghe lời anh thôi.

Q: Khụ khụ! Hành động nhỏ nào của đối phương khiến bạn thích nhất?

Hiên: Khi anh ấy hút thuốc, khói bay vào mặt tôi, anh ấy sẽ ngậm điếu thuốc giơ tay quạt khói đi giúp tôi...

Văn: Khi em ấy còn ngái ngủ, vẫn còn khó chịu vì phải dậy sớm, em ấy sẽ giơ tay về phía tôi, muốn tôi bế đi rửa mặt.

Q: Hành động nào khiến bạn cảm nhận sâu sắc rằng mình đang được yêu thương?

Văn: Khi em ấy chui vào lòng ôm chặt tôi, ngẩng đầu lặng lẽ nhìn tôi rất lâu, rồi đột nhiên hôn nhẹ lên môi tôi và nói: "Lưu Diệu Văn, em yêu anh nhiều lắm."

Hiên: Khi anh ấy ôm tôi thật chặt lúc ngủ, thỉnh thoảng lại hôn lên trán tôi. Tôi mở mắt hỏi anh sao thế, anh lại kéo đầu tôi vào lòng, nói "Không có gì, ngủ đi." Một lát sau lại lén hôn lên tóc tôi rất nhiều lần.

Q: Biểu cảm nào của đối phương khiến bạn thích nhất?

Văn: Khi em ấy đẩy kính, tập trung làm việc một cách nghiêm túc.

Hiên: ...Cái này có thể nói được à?

Hiên: Ừm... Khi anh ấy lạnh mặt, trông hơi dữ một chút.

Q: Khụ khụ! Bộ phận nào trên cơ thể đối phương khiến bạn thích nhất?

Văn: Sao tự nhiên câu hỏi này lại có hướng đi kỳ lạ thế? Tôi thích nhất là đôi mắt của em ấy, đặc biệt là nốt ruồi ở khóe mắt phải, quá sức quyến rũ.

Văn: (Nghiêng đầu nhìn, đưa tay chạm vào nốt ruồi nhỏ)

Hiên: Tôi cũng thích nhất là mắt anh ấy... Mắt một mí trông rất ngầu...

Q: Trên giường ai là người nắm quyền?

Văn: Haha, trả lời rồi mà, là tôi.

Hiên: (Im lặng...)

Q: Tư thế yêu thích nhất?

Văn: Em ấy thích được ôm.

Q: Còn bạn?

Văn: Từ phía sau. Em ấy có đường cong hông rất đẹp, da trắng, cảm giác rất tuyệt.

Hiên: (Im lặng...)

Q: Có sử dụng đạo cụ hỗ trợ không?

Văn: Không thích dùng mấy thứ đó.

Hiên: (Im lặng...)

Q: Điều hối tiếc nhất trong cuộc đời?

Hiên: (Cúi đầu) Năm đó tôi đã rời đi mà không nói một lời...

Văn: (Nắm lấy tay Hiên) Đừng nói vậy.

Hiên: (Ngẩng đầu nhìn Văn, giọng vội vàng) Nếu có thể quay lại, em nhất định sẽ không rời đi nữa. Bây giờ mỗi ngày ở bên nhau, em đều cảm thấy thời gian trôi quá nhanh. Trước đây đã lãng phí năm năm rồi... Em muốn ở bên anh rất rất nhiều ngày, thật lâu thật lâu...

Văn: (Kéo Hiên vào lòng, hôn lên trán) Sẽ mà, sẽ thật lâu thật lâu... Chúng ta sẽ ở bên nhau đến một trăm tuổi, đúng không?

Q: Nếu có thể quay ngược thời gian, bạn muốn quay về lúc nào?

Văn: (Nhìn Hiên) Không được nói năm 1994.

Hiên: (Bướng bỉnh) Em cứ muốn quay lại năm 1994! Em muốn quay ngược thời gian, em muốn ở lại Cáp Nhĩ Tân, em không muốn xa anh.

Văn: Không quay về, từng khoảnh khắc hiện tại đều rất tuyệt.

Q: Nếu nhất định phải chọn một thời điểm?

Văn: Vậy thì năm 1992, lúc vừa gặp nhau đi. Tôi muốn nhìn lại cảnh bé thỏ con lén lút theo dõi tôi, tưởng mình trốn rất giỏi, nhưng thật ra đôi mắt mở to tròn xoe, đáng yêu đến mức tôi đã phát hiện ra từ lâu rồi.

Q: Điều muốn nói với đối phương nhất?

Văn: Anh yêu em.

Hiên: Em cũng yêu anh, em sẽ yêu anh đến năm một trăm tuổi.

Văn: (Cười, hôn Hiên) Được, học sinh ngoan, hẹn gặp nhau ở năm một trăm tuổi nhé.

Hiên: (Kiên định) Lưu Diệu Văn, hẹn gặp ở năm một trăm tuổi.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co