Truyen3h.Co

[Phương Dao] Dạ cầm

Chương 1

94trang

Còn hàng tồn nên up nốt.
Bối cảnh truyện được mặc định sau tập cuối 20 năm. Cả Mộng Dao Nguyên Phương đều đã chết rong địa cung.

------

Trường An tồn tại sừng sững như biểu tượng của sự phồn hoa đệ nhất Đại Đường. Dưới phố thì san sát trà lâu, tửu quán, giữa đường thì đông đúc người ngựa ngược xuôi. Đến cả ăn mày của thành Trường An cũng là loại ăn mày đẳng cấp, không vạ vật xin tiền mà đánh vào lòng trắc ẩn của khách qua đường hay đúng hơn là túi tiền của họ bằng câu chuyện kẻ nghèo gặp hạn hay bài vè ca thán lẽ bất công. Mỗi lần cái bát mẻ đưa ra ngã ba đường là có vài xu tiền đồng, đủ cái bánh màn thầu lót bụng. Hình như sự xuất hiện của phường ăn xin lại càng là minh chứng cho sự giàu có của đất Trường An, nơi mà đầy rẫy những người sung túc sẵn sàng bố thí.

Nhưng địa bàn ăn mày xin đồ bố thí là phố chợ đông người qua lại, thượng vàng hạ cám. Còn muốn móc tiền túi của tầng lớp thượng lưu ở những nơi lầu son gác tía, sang trọng nguy nga lại là nghề của một bộ phận khác, đó là các ca cơ, kỹ nữ, nhạc sư. Sự xuất hiện của họ đem lại vẻ hào nhoáng cho yến hội, chứng tỏ đẳng cấp của chủ nhân, nên cái giá cũng không thể nào rẻ mạt. Nắm được thị hiếu số đông của tầng lớp lắm tiền nhiều của, nhiều ông tú, bà tú đã mở rộng nam quán, kĩ viện của mình, nuôi thêm nhiều vũ nữ, nhạc sư, ca cơ trên danh nghĩa, mỹ danh là góp vui cho những yến hội linh đình, thực chất là cạnh tranh nhau, mở rộng đất làm ăn. Vũ nữ sau khi biểu diễn trên đài có thể ca múa đến trên giường các vị tai to mặt lớn, nhạc sư chơi xong đàn sáo có thể thỏa mãn luôn thú chơi trong rèm mệnh phụ phu nhân. Thời nay không phải xem kỹ viện, nam quán nhà ai có nhiều khách đến hơn mà là xem nơi nào nhận được nhiều thư mời đến tham gia yến tiệc. Có danh tiếng tự nhiên sẽ có tiền tài, có chỗ chống lưng. Thế nên, làng buôn phấn bán hương của Trường An càng thêm phần sôi động.

Đêm nay, phủ Trưởng công chúa mở tiệc thiết yến gia quyến các quan lại trong triều. Thiếp mời chỉ gửi đến phủ các đại nhân từ tam phẩm trở lên hoặc là hồng nhân trong mắt hoàng thượng, những người đang có cơ hội thăng tiến chốn quan trường. Nếu nam nhân có chiến trường và chính trường thì hai phạm trù ấy lại được đồng nhất trong vòng giao tế của đám nữ nhân. Chỉ khác vũ khí là nụ cười, sắc đẹp; thủ đoạn là phép xã giao, lời nói đầu môi. Ôi, có ai ngờ hai tiểu thư đang trò chuyện như bạn tâm giao kia thực chất đang tranh giành vị hôn phu chưa qua cửa, mấy phu nhân đang chơi mạt chược đằng xa là đang thị uy xem ai tài phú hơn người. Nữ nhân, thật là phức tạp!

Nhưng có lúc họ cũng tìm được tiếng nói chung. Tiếng nói chung của họ bước lên đài, so dây đàn, ngồi xuống ghế. Vạt áo gấm vắt lên để lộ đôi ủng da hươu sẫm màu, nghe đồn là quà tặng của một vị đại gia nước lân bang. Bao nhiêu tiếng xì xầm chìm vào yên lặng khi những nốt nhạc đầu tiên được tấu lên. Một bản độc tấu tì bà. Vẫn nói giai nhân đẹp nhất là khi “ ôm đàn che nửa mặt hoa”, nhưng mà đâu có ai nói giai nhân bắt buộc là nữ tử. Nam nhân chơi tỳ bà, người ta thường nghĩ là ẻo lả, bậc quân tử dù tinh thông lục nghệ ( lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) (1) , nhưng nam nhân chơi đàn đều là cổ cầm, âm sắc trong trẻo, cao lãnh, biến ảo chứ không mấy người chơi loại đàn ảo não, nỉ non vốn thích hợp cho cánh nữ nhân. Chỉ trừ những người đeo lấy cái nghiệp so dây đổi lấy tiếng cười. Mà cái vị đang ngồi trên đài kia, lại là cầm sư được săn đón nhất trong kinh.

Ngón đàn điêu luyện, dìu dặt, khi trầm khi bổng, lúc nhanh lúc chậm. Các ngón đàn cũng được thay đổi linh hoạt. Tay trái cầm đàn, ngón bấm như tiếng lá bứt cành chao nghiêng trong gió, ngón vuốt khẽ như lá thu rơi chạm nhẹ mặt hồ. Nghe nhạc mà trước mắt  mường tượng ra cảnh du hồ ở ngoại thành Trường An trong tiết thu sang đầy trong trẻo, khoáng đạt. Âm cao là bầu trời xanh vòi vọi, âm thấp là mặt nước yên ả gương soi. Hợp âm dồn dập tạo đà cho kỹ thuật đánh song thanh ở đoạn cuối, cảm tưởng chiếc lá vàng trên mặt nước như bị xoáy sâu vào lòng hồ, chìm nghỉm trong màu xanh biêng biếc giữa trời và nước, để lại một khoảng lặng khiến  lòng người cũng như trầm vào đó, tan hòa trong sự tuyệt diệu của bản đàn.

Phần độc tấu đã dứt mà quan khách quanh bàn tiệc vẫn lặng yên cho đến khi chủ nhân bữa tiệc, vị trưởng công chúa quyền quý khẽ vỗ tay. Thế là bao tiếng tán thưởng nổi lên, cầm sư chỉ khẽ mỉm cười, gật đầu rồi lại cầm miếng gảy đồi mồi tiếp tục công việc còn dang dở. Dù chỉ là nét cười mỉm thoáng qua như có, như không cũng đủ làm say lòng người. Không hẳn là tuấn tú phi dương như mặt trời chính ngọ mà là vẻ dịu dàng, đạm mạc của trăng khuya. Nước da trắng dưới ánh nến khẽ nhuốm một màu hồng nhàn nhạt, đường môi cong cong gợi vẻ đa tình, tiếc nỗi đường nhìn thẳng, lạnh nhạt khiến vẻ liêu nhân thiếu đi vài phần tình ý. Tiếng tỳ bà là chủ đạo, dẫn đường cho các nhạc cụ khác cùng hòa thanh, ca ngợi non sông cẩm tú của Đại Đường, cầu cho xã tắc an lạc, đời đời thịnh thế. Nhạc lên đến cao trào thì tự nhiên, đèn, nến trên sân khấu vụt tắt, âm thanh rơi vào yên lặng, chỉ còn réo rắt tiếng tỳ bà như ánh sáng đom đóm le lói đưa đường.

Men theo tiếng đàn, vài ngọn nến trên sân khấu sáng lên, đủ soi tỏ tấm bình phong bằng tơ trên sân khấu. Ánh sáng yếu lắm, không nhìn rõ được bóng người phía sau, chỉ biết đó là một cô nương áo đỏ, tóc dài đang khiêu vũ. Ngọn đèn yếu ớt, tù mù không che giấu được vẻ yểu điệu của người sau tấm bình phong, mỗi cái nhấc tay, đưa chân đều là phong tình vạn chủng. Giai nhân đó chính là Xích Điệp cô nương, hồng bài của Di Hương viện, vũ cơ được sánh ngang hàng với Lý Nguyên Phương, cầm sư hàng đầu hiện nay, cũng chính là người đang đệm tỳ bà. Nếu đây là yến hội của các vị đại nhân, e là tối nay nàng ấy sẽ ở lại mà không trở về Di Hương viện, nhưng đây lại là dạ yến của nữ quyến, nữ nhân xinh đẹp như nàng tồn tại chẳng để làm gì. Ngược lại là Nguyên Phương, lam nhan họa thủy như vậy, nếu chỉ để đánh đàn thôi cũng uổng.

Chính vì thế mà khi trút bỏ lớp vũ y, ở phía sau cánh gà, thấy Nguyên Phương đang bỏ đàn vào túi gấm, khoác lên vai, chuẩn bị ra về, Xích Điệp buông lời trêu ghẹo:

-Tiểu Phương Phương, đêm nay trăng thanh gió mát, vườn mẫu đơn trong phủ công chúa nở rộ thế này, đệ chỉ bước lên đài, tấu vài khúc nhạc đã vội bỏ về, không phải uổng phí lắm hay sao?

Dứt lời tiếng cười khúc khích như chuông bạc, chọc cho lòng người ta ngứa ngáy, nhưng Nguyên Phương vẫn lạnh nhạt, chỉ là động tác tay thật dịu dàng, phủ lên vai cô nương áo đỏ một tấm áo choàng:

-Đầu thu gió lớn, tỷ lại ăn mặc phong phanh.

Xích Điệp mỉm cười, xiết chặt tấm áo rồi quay đầu nói với người bên cạnh:

-Đi thôi nào, chẳng phải mục đích của đệ là ngồi nhờ xe ngựa của ta để đi về hay sao, hai chúng ta giai thoại phong lưu đâu có thiếu gì. Coi như lần này ta chịu thiệt, nhận lấy ánh mắt ghen tỵ của các cô nương đó.

Đường đi ra cổng phủ dài không phải dài, ngắn không phải ngắn, hoa viên cứ uốn lượn quanh co không thấy điểm dừng. Đột nhiên, Xích Điệp nói nhỏ:

-Ta đã nhận lời vị quan phủ Tô Châu đó, tháng sau, ông ta sẽ nói với ma ma, chuộc ta về làm thiếp.

Nguyên Phương dừng lại, hỏi dò:

-Lão đã già lắm rồi, tỷ việc gì phải thế. Di Hương viện có ai bạc đãi tỷ đâu. Vài năm nữa đủ tiền chuộc thân, ma ma thả tỷ đi, tỷ muốn đi đâu chả được.

-Tiểu Phương, tỷ mệt mỏi lắm rồi, sớm vài năm hay muộn vài năm thì cũng đều phải mang danh kỹ nữ hoàn lương. Tỷ là phận nữ, dựa vào đàn ông mà sống nhưng đệ thì khác. Cái nghề này bạc lắm, nay được hô hào truy sủng, mai không biết ra sao. Tiếc cho đệ, nếu không phải xuất thân là nhi tử của kỹ nữ, tài hoa bậc này, dung mạo bậc này thừa sức khảo công danh sao phải đi bán nghệ nuôi thân.

Nguyên Phương cười trừ, cầm tay nàng nói nhỏ:

-Có lẽ kiếp trước đệ làm công tử danh gia vọng tộc chán rồi, kiếp này thử trải nghiệm kiếp cầm ca xem như thế nào, tỷ nếu đã chọn thì sống cho tốt, đừng lo cho đệ.

------

Mồng hai tháng sau, Nguyên Phương đứng trên gác của Di Hương viện, nhìn Xích Điệp trút bỏ lăng la tơ lụa trên người, trang điểm nhẹ nhàng, váy áo giản đơn ngồi trong cỗ kiệu nhỏ đi về phía cổng thành. Trong lòng chàng chợt dâng lên nỗi phiền chán khó lý giải. Đối với chàng, Xích Điệp như chị, như mẹ, như...có lẽ… cả người yêu. Chàng  ghét cái cảm giác con người thân thuộc nhường ấy bỗng chốc rời bỏ mình đi mất. Chỉ vì xuất thân của chàng ti tiện, hộ tịch của chàng đã định trước là vô duyên với khoa cử, một thân . Hồng bài hai mươi năm trước trong kĩ viện này là mẹ của chàng, còn cha chàng là ai, chàng không biết. Giá mà chàng chỉ là một bách tính bình thường thì liệu chàng và Xích Điệp tỷ tỷ có chút hy vọng nào chăng?

Đóng cửa, Nguyên Phương đi xuống dưới lầu, không phải đi tiễn Điệp tỷ của chàng mà là dạo một vòng chợ cho khuây khỏa. Nhưng hẳn với dáng vẻ thất thần của chàng bây giờ, không thể gọi là đi dạo được, vật vờ như một bóng ma. Để đôi chân dẫn lối trong vô định, chàng đi đến góc chợ. Trên manh chiếu rách có một bé gái trạc mười một, mười hai tuổi, tay ôm bọc vải mà nhìn vào hình dạng chàng đoán bên trong đó bọc một chiếc tỳ bà. Trên đầu cô bé cắm một cọng cỏ, trước mặt là xác một người phụ nữ đã lạnh từ lâu. Ra là bán mình chôn mẹ. Bên cạnh đó là hai tên lái buôn đang ra giá, kì kèo là năm hay sáu lượng. Tiểu cô nương hoàn toàn chết lặng, mặc người ta trả giá mình như một món hàng. Bất chợt, thoáng thấy Nguyên Phương từ xa đi lại, ôn nho văn nhã, người mặc toàn gấm vóc lụa là, đặc biệt là sau lưng cũng đeo một cây đàn tỳ bà, tiểu cô nương thấy vậy vội vã chạy đến, dập đầu xuống cạnh giày chàng:

-Xin ân công cứu mạng! Xin ân công mua tiểu nữ lấy tiền chôn mẹ, tiểu nữ nguyện làm nha hoàn bưng nước rửa chân, không muốn bị bán đi xa xứ, cầu xin ân công.

Nguyên Phương nheo mắt lại, nhìn tiểu cô nương, ra chiều thích thú hỏi:

-Ồ, sao nhóc biết ta ở Trường An chứ không phải người nơi khác?

Tiểu cô nương ngẩng mặt lên, mái bằng đáng yêu, con mắt đen lấp lánh:

-Tiểu nữ cùng mẹ ở nhờ nhà người thân tại Trường An đã mấy năm, biết được màu vải và họa tiết bộ quần áo công tử đang mặc là kiểu thịnh hành ở Trường An năm ngoái, nhưng mà túi tiền bên hông lại là kiểu hình tròn mới của năm nay chứ không phải là kiểu bát giác của năm ngoái, nên ít nhất công tử đã ở Trường An một thời gian dài. Chứng tỏ nếu không phải người Trường An thì cũng làm việc tại Trường An. Hơn nữa lúc công tử mở miệng, nghe khẩu âm, tiểu nữ đã biết công tử là người gốc Trường An. Xin công tử hãy cứu giúp tiểu nữ, tiểu nữ nguyện kết cỏ ngậm vành báo đáp.

Nguyên Phương cười nhẹ không đáp, tiểu cô nương nhìn chàng, trái tim đập hẫng một nhịp, mặt mũi đỏ bừng. Nguyên Phương quay lại, nói với hai tên lái buôn mặt mày đang xưng xỉa:

-Hai vị đại ca, thứ cho Lý mỗ, tiểu cô nương kia đã khăng khăng đòi tại hạ thu nhận, tại hạ chẳng có cách nào. Đây có năm lượng bạc, hai vị cầm tạm uống rượu.

Hai tên lái buôn vừa mới gân cổ cãi nhau, bỗng chốc hòa hảo, đồng thời chĩa mũi dùi vào chàng:

-Hay cho một tên tiểu bạch kiểm xen ngang vào việc làm ăn của đại gia ta, hôm nay không dạy cho mi một bài học thì không được.

Nói đoạn hai kẻ đó đều nhất loạt xông lên. Nguyên Phương lùi lại một bước, hai tay thủ thế trước ngực, đỡ đòn từ cả hai phía cùng một lúc. Dù là thư sinh nhưng ít ra chàng cũng có vài thành võ nghệ, không được xưng là cao thủ song cũng đủ phòng thân. Hai đánh một, không bên nào chiếm được thế thượng phong. Bỗng, dây buộc túi đàn trên lưng chàng lỏng xuống, Nguyên Phương vội chộp lấy, chỉ chờ có thế, một tên nhân cơ hội đá vào ngực chàng khiến chàng bật ra xa, tên khác xúm vào đấm thẳng vào mặt. Lúc chàng tỉnh lại không thấy túi tiền tùy thân đâu, tiểu cô nương gây họa cũng đã biến mất, không biết là bị hai tên ấy đem đi hay chạy trốn mất rồi. Mà cũng có khi nó là đồng bọn của hai tên đó, lừa mình vào tròng mà thôi. Chợt, Nguyên Phương nhớ ra cây tỳ bà quý giá của mình.

Ở trong góc chợ, cây đàn nằm đó, cần đàn đã gãy lìa khỏi thân đàn, dây tơ sợi đứt, sợi thì chùng xuống. Nguyên Phương dịu dàng vuốt ve cây đàn. Lũ người thô bỉ, túi chàng cũng chỉ có chục lạng bạc thôi, món quý giá nhất trên người là cây tỳ bà cổ trăm năm tuổi này mới đúng, ít nhất cũng năm trăm lạng bạc. Song đối với Nguyên Phương, cây đàn này là vô giá vì nó là kỉ vật của mẫu thân chàng. Vậy mà lại gẫy mất rồi.

Chàng tần ngần, ôm lấy xác đàn, ngồi ở đó một lúc lâu, cho đến khi có một đôi tay nhỏ bé giơ một cái bọc bẩn thỉu hình giọt nước lên trước mặt chàng:

-Ân công mua Nhược Ngôn, cái gì của Nhược Ngôn cũng là của ân công hết. Đàn của ân công đã hỏng rồi, Nhược Ngôn đưa cho ân công đàn của Nhược Ngôn có được hay không?

Nguyên Phương cau mày:

-Đàn này là di vật của mẫu thân ta.

Nhược Ngôn lập tức nói:

-Đàn này là của hồi môn duy nhất còn sót lại của mẫu thân tiểu nữ, ân công xin người nhận lấy.

Nguyên Phương giật lấy bọc vải, bước đi. Nhược Ngôn phía sau bước thấp bước cao theo sát, đến trước cửa Di Hương viện, chàng cau mày quát:

-Nhóc có biết ta là ai không, muốn làm kỹ nữ trăm người cưỡi, vạn kẻ đè lắm hay sao mà dám dấn bước tới đây. Cây đàn này ta coi như lấy làm chi phí, chúng ta không ai nợ ai nữa. Nhóc mau cút về chỗ của nhóc đi.

Cô nhóc sững lại, bàng hoàng nhìn chàng rồi quay đầu chạy mất. Nguyên Phương thở dài, coi như cứu được một đứa trẻ khỏi vòng nhơ nhuốc. Rồi chừng quay đầu, bước thẳng lên gác, tiện tay xách theo cây đàn của cô nhóc Nhược Ngôn kia lẳng vào góc phòng. Chỉ là chiều dậy, Nguyên Phương mới nhớ ra, tối nay phải đệm đàn cho màn hiến vũ đầu tiên của Thúy Loan cô nương. Không có đàn, chàng toan gọi nha hoàn đi mượn một cây tỳ bà cũ trong kho để chỉnh dây, tối nay biểu diễn. Bất chợt ánh mắt chạm vào bọc vải trong góc phòng, thuận tay, chàng giở lớp vải bọc ra...

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co