Truyen3h.Co

PQ

P6

lthly03

Đó cũng chẳng phải lần đầu tiên Diệu Văn được lĩnh hội sự cứng mồm của đồ đệ nhà mình, hắn không trực tiếp vạch trần, chỉ ôm người lên một chiếc giường hẹp nhỏ hơn một chút, kê trong phòng mình.

Từ đó về sau, ngày nào tiểu đồ đệ cũng lượn qua phòng hắn rất nhiều lần, lúc đi ngang qua, con mắt đen láy kiểu gì cũng sẽ nhìn chằm chằm chiếc giường mới xuất hiện kia vài lần, nhưng không dám nói gì.

Ngược lại, kẻ đứng ngoài quan sát là lão Mao ngày nào cũng thức đêm cùng hắn vội sắp chết tới nơi rồi, chỉ hận không thể mở miệng thay hắn thôi.

Mãi lâu sau đó, Diệu Văn không dẫn theo đồ đệ, một mình tiến vào một cái lồng lớn. Chiếc lồng kia mặc dù khó giải quyết nhưng với hắn cũng chẳng phải chuyện gì to tát, mỗi tội không ngăn nổi nhiều người lạc vào nhầm, kẻ tìm chỗ chết cũng đông. Trong lúc hắn che chở đám người kia đã dùng tay trái chịu một chút tổn thương.

Thật ra cũng không phải chuyện gì lớn, chỉ trông hơi dọa người xíu thôi, da thịt nhăn nheo ngả màu xanh xám, mấy vết thương dữ tợn cắt ngang gân cốt.

Đêm hôm đó, tiểu đồ đệ quen mạnh miệng đột nhiên ôm chăn nệm chạy vào phòng Diệu Văn.

Diệu Văn nấu thuốc ngâm tay, hắn liền ngồi ở bên cạnh giám sát.

Tuy rằng không biết nói mấy lời ngoan ngoãn nịnh nọt dễ nghe, lại suýt chút nữa bứt trọc đầu đại bàng Kim Sí. Cho dù là lão Mao hay là Diệu Văn thì cũng đều hiểu rất rõ hàm nghĩa sâu kín của động tác nhỏ này.

Hắn không vui vẻ, hắn có hơi buồn bực.

Diệu Văn ngâm tay bao lâu, hắn liền ngồi yên nhìn bấy lâu. Sau đó Diệu Văn lau khô tay, chuẩn bị đi ngủ, hắn vẫn cứ nhìn chằm chằm không rời. Giống như chỉ hơi chớp mắt thì cái tay kia sẽ lại biến thành dáng vẻ dọa người trước đó vậy.

Cuối cùng Diệu Văn vỗ nhẹ hắn, cười nói: "Con canh chim xong giờ chuyển sang canh ta à?"

Tống Á Hiên: "Không."

Diệu Văn: "Vậy thì ngủ đi."

Tiểu đồ đệ trưng hai quầng thâm, rầu rĩ nói: "Tôi không buồn ngủ."

Hắn mặc dù nghiêm chỉnh nằm xuống nhưng ánh mắt vẫn hướng về phía bàn tay buông bên giường của Diệu Văn. Mới không nhìn một chút, tay áo đó đã run lên, bàn tay che lại ánh mắt hắn nói: "Mau nhắm mắt ngủ đi."

Ban đêm trên núi Tùng Vân thật sự rất lạnh, tiếng lá thông xào xạc khi có gió thổi qua trở nên rõ ràng, càng khắc họa rõ sự vắng vẻ trên đỉnh núi cao. Rõ ràng Tống Á Hiên ngủ trên chiếc giường nhỏ hơn một xíu, nhưng khi ngủ say lại luôn vô thức dịch người về phía nguồn ấm áp.

Mãi tới khi cái trán dựa vào ai đó, đến khi ngửi được mùi hương gỗ tùng quen thuộc.

Chuyện cũ thuở xưa này thật thật giả giả, lúc thì rõ nét lúc thì mờ nhạt, rõ ràng không phải chuyện lớn gì nhưng giấc mơ lại kéo dài rất lâu. Cho đến cuối cùng, rất nhiều cảnh tượng tương tự đan xen chồng chéo lên nhau. Tống Á Hiên đã không phân biệt nổi cái nào trước cái nào sau, ai thật ai giả nữa.

Hắn chỉ chợt nhớ tới một khoảnh khắc nào đó trong mơ, về sau cái tay kia của Diệu Văn hình như lại xảy ra vấn đề. Vết thương sâu hơn trước rất nhiều, dáng vẻ cũng dữ tợn hơn, dường như chỉ còn một bộ xương khô.

Khi đó có lẽ hắn đã trưởng thành từ lâu, bởi vì vóc người cao lớn, lúc nhìn tay của người kia đã không cần ngửa mặt ngẩng đầu nữa. Mà là cụp mắt.

Hắn cụp mắt nhìn cái tay dưới lớp áo của Diệu Văn, bên trái như bộ xương khô, máu tí tách chảy xuống. Bên phải thẳng tắp thon dài, vô cùng sạch sẽ.

Bàn tay sạch sẽ kia nâng lên, áo bào đỏ theo đó trượt xuống một chút, để lộ áo lót trắng như tuyết bên trong và dáng xương cổ tay đẹp mắt.

Hắn che kín mắt Tống Á Hiên: "Ngoan nào, đừng nhìn."

Tống Á Hiên mặc kệ hắn che một hồi, sau đó tóm lấy ngón tay của người kia.

Giây phút cuối cùng trong mơ, bàn tay đối phương che trước mắt Tống Á Hiên vô cùng ấm áp. Hắn chẳng nhìn thấy thứ gì, nhưng lại ngửi được mùi gỗ tùng quen thuộc, sợi dây điều khiển rối quấn quanh ngón tay hắn, một nửa vòng quanh các đốt ngón tay, một nửa quấn quít một người khác, vướng mắc rối loạn....

Sau đó hắn tỉnh lại, bởi vì cảm giác được trước mặt xuất hiện hơi ấm cơ thể của một người.

Tống Á Hiên đột nhiên mở bừng mắt, trông thấy một bàn tay trắng trẻo thon dài, khoảnh khắc ấy hắn thậm chí không phân rõ được giấc mơ và hiện thực. Suýt nữa cho rằng bản thân vẫn đang nằm trên chiếc giường ở núi Tùng Vân, đến nỗi ngay cả mùi hương gỗ thông kia vẫn quanh quẩn bên cạnh.

Cái tay kia khua khoắng trước mặt hắn một chút, dường như đang thử xem hắn đã tỉnh chưa.

Tống Á Hiên thuận tay bắt lấy đầu ngón tay đối phương, giây phút da thịt chạm vào nhau, hắn hơi ngơ ngác rồi hoàn toàn tỉnh táo. Lúc này mới nhận ra bản thân đang trong lồng, đang nằm trong phòng ngủ ở tầng một của nhà họ Thẩm.

Hắn khẽ nhíu mày, xoay người ngồi dậy, chỉ thấy Lưu Diệu Văn vốn mất tích đã xuất hiện từ bao giờ, đang ngồi bên cạnh hắn trên cùng một chiếc giường.

Lưu Diệu Văn cụp mắt nhìn ngón tay mình, biểu cảm có hơi bất ngờ.

Tống Á Hiên lúc này mới nhận ra người mình vừa tóm là ai.

Xúc cảm vẫn còn sót lại trên đầu ngón tay, Tống Á Hiên thu tầm mắt cắn nhẹ môi dưới, ngón cái vô thức miết chặt khớp xương. Hắn xoa bóp gáy để bản thân tỉnh táo đôi chút, sau đó mới ngoảnh đầu nhìn Lưu Diệu Văn: "Anh đã đi đâu, tới đây từ khi nào?"

Vấn đề nắm tay đầy ái muội mập mờ cứ thế bị lược bỏ.

Lưu Diệu Văn miết nhẹ đầu ngón tay, ngước mắt nói: "Vừa mới tới trước khi cậu tỉnh một giây. Còn về chuyện đi đâu, vấn đề này hơi khó trả lời."

"Có lẽ phải hỏi anh ta——" Lưu Diệu Văn chỉ sang bên cạnh.

Lúc này Tống Á Hiên mới phản ứng được bên cạnh mình còn có một người.

Hắn quay đầu nhìn sang, phát hiện đó là một người đàn ông trẻ tuổi có khuôn mặt sưng phù tái nhợt, vóc người gã không cao, gầy nhom nhem. Nhìn từ bên cạnh thì dáng người gã trông như một mô hình người giả.

Gã ngồi xếp bằng ở đầu giường, nâng bả vai, co người lại thành một nhúm, ngón tay liên tục quẹt lên ván giường kêu kèn kẹt.

Gã chậm nửa nhịp mới cảm nhận được ánh mắt của Tống Á Hiên, lúc xoay đầu qua thì cần cổ kêu răng rắc giòn tan. Hai con mắt đen ngòm, vệt nước chảy xuôi theo lọn tóc, chớp mắt liền khiến đầu giường ướt sũng một mảnh.

Nếu không có gì bất ngờ thì đây chính là vị Lý tiên sinh kia.

Phía sau cổ gã có một mảng màu xanh thẫm như cỏ rêu mọc ra từ trên người. Tống Á Hiên cau mày, vươn tay muốn nhìn xem đó là thứ gì, chợt nghe thấy Lưu Diệu Văn sau lưng trầm trầm hỏi một câu: "Cậu vừa nằm mơ à?"
 
Câu hỏi đột ngột của anh ta khiến Tống Á Hiên ngơ ngác một hồi mới quay đầu: "Hả?"

"Không có gì." Lưu Diệu Văn nói.

Trong phòng không bật đèn nhưng cũng không đến mức tối đen như mực. Phòng của bọn họ nằm gần cửa sau của căn nhà, đối diện với cửa sổ là sân nhà, ánh trăng lạnh lẽo hắt vào từ cửa sổ, xuyên qua lớp kính rọi vào trong mắt Tống Á Hiên.

Hắn híp mắt, nghe thấy Lưu Diệu Văn nói: "Tôi chỉ đang nghĩ, có phải trong mơ cậu gặp được ai đó hay không, cho nên mới nhận nhầm tôi thành hắn."

Trong phòng vô cùng yên tĩnh, chỉ có tiếng nước nhỏ tí tách từ mái tóc ướt rượt của Lý tiên sinh, giọt nước sóng sánh chảy xuôi theo mép giường, đọng thành một vũng nước nhỏ.

Khi nói chuyện, con mắt của Lưu Diệu Văn khẽ cong cong, hệt như chỉ thuận miệng hỏi trong lúc lơ đãng mà thôi.

Nhưng giọng anh ta rất trầm, trong bóng đêm u ám càng trở nên mơ hồ mập mờ.

Trái tim Tống Á Hiên như bị thứ gì đó cào nhẹ một cái, đột nhiên không biết phải trả lời như thế nào.

Bầu không khí giữa hai người im lìm, khoảnh khắc đó dường như bị kéo dài vô tận.

Mãi lâu sau, Tống Á Hiên mới mấp máy môi.

Lưu Diệu Văn vẫn luôn chăm chú nhìn hắn chợt thu hồi tầm mắt. Dáng vẻ như vừa hoàn hồn, liếc mắt ra ngoài cửa sổ.

Yên lặng vài giây, giọng nói trầm thấp của anh ta chui vào trong lỗ tai Tống Á Hiên: "Thuận miệng tán gẫu mấy câu thôi, không cần phải trả lời đâu. Cậu có nghe thấy tiếng động gì không?"

Tiếng động?

Tống Á Hiên nhíu mày im bặt, hắn vốn cho rằng Lưu Diệu Văn đang thuận miệng tìm cớ đổi chủ đề thôi. Ngờ đâu lại thật sự nghe thấy tiếng động kỳ quái——–

Tiếng cọt kẹt phá vỡ bầu không khí yên tĩnh trong căn phòng.

Có lẽ vì đêm khuya tĩnh mịch, tiếng động gì cũng sẽ trở nên rõ ràng tới mức dị thường, dường như gần ngay bên cạnh, khó mà phân biệt được nó xuất phát từ đâu.

Kẽo kẹt.

Âm thanh đó lại vang lên chậm rãi, vẫn không phát hiện được nó đến từ đâu.

Kẽo kẹt.

......

Ban đầu Tống Á Hiên tưởng đấy là một cánh cửa nào đó bị gió thổi mở, sau ba tiếng, hắn nghe thấy rõ hơn: "Tiếng dây thừng."

Nét mặt của Lưu Diệu Văn không hề tỏ ra bất ngờ, nhưng trong miệng lại phản ứng khác: "Cậu chắc chứ?"

"Ừm." Tống Á Hiên tập trung lắng nghe tiếng động, không hề để ý đến sự thay đổi nhỏ bé trên mặt anh ta lúc thu hồi ánh mắt hướng ra ngoài cửa sổ.

"Loại dây thừng nào, dây điều khiển rối hả?" Lưu Diệu Văn chỉ tay Tống Á Hiên.

"Không phải."

Kéo một cái liền kêu kẽo cà kẽo kẹt, cho anh kiểu dây rối như thế thì anh có lấy không?

Tống Á Hiên nhìn chằm chằm anh ta, lời nói trôi tới bên miệng rồi, nhưng lại ngại vì bầu không khí mờ ám khó hiểu trước đó, hắn đành nuốt những lời mình muốn nói trở vào, giải thích: "Dây thừng gai, cái loại vặn thành một bó ấy."

Hiếm khi hắn có thể nhẫn nại tới mức này, cho nên giọng nói rất trầm, ngữ khí nhạt nhẽo khô khốc.

Lưu Diệu Văn lại rất có hứng thú với kiểu giải thích không có tâm này.

Kẽo kẹt.

Kẽo kẹt.

Trong lúc nói chuyện, tiếng động kia lại vang lên, hơn nữa còn có quy luật, khoảng cách giữa các tiếng đều xấp xỉ nhau. Tựa như dây thừng đang treo ngược một vật nặng nào đó lắc trái lắc phải.

Lưu Diệu Văn lắng nghe rồi nói: "Kéo nó ra đây đi."

Tống Á Hiên mím môi nhịn một lúc, nhịn không được bảo: "Anh kéo thử xem."

Lưu Diệu Văn cười.

Có lẽ anh ta nghe chưa đủ lời giải thích khô cứng tẻ ngắt, còn muốn nghe phiên bản dữ dằn đã được nâng cấp, tiếp tục hỏi: "Vậy âm thanh kia phát ra từ đâu?"

"Chắc là quấn trên xà nhà bằng gỗ hoặc khúc gỗ, đồ vật bị quấn cũng không vững chắc lắm, cho nên ——" Tống Á Hiên nói đến đây, đột nhiên nhíu mày.

Bởi vì Lý tiên sinh ở bên cạnh xuất hiện động tác mới—-

Gã chậm rãi ngẩng đầu trong tiếng kẽo kẹt, ngửa mặt lên, mắt không chớp nhìn chòng chọc vị trí trên đỉnh đầu.

Tống Á Hiên ngẩng đầu theo, trông thấy một thanh xà nhà dài thẳng tắp.

Dây thừng gai, xà nhà gỗ, kéo vật nặng, liên hệ ba điểm này với nhau, thật sự rất dễ khiến người ta nghĩ tới một trường hợp—-Lý tiên sinh treo cổ.

Tống Á Hiên ngoảnh đầu nhìn cổ Lý tiên sinh.

Gã không mặc âu phục mà là áo dài kiểu Trung Quốc, cổ áo dựng thẳng ngay ngắn, vừa khéo che khuất tất cả.

Lúc nãy gã cúi đầu vạch móng tay lên ván giường, Tống Á Hiên chỉ có thể nhìn thấy sau gáy, Hiện giờ mặt ngẩng lên, vết bầm tím hằn sâu dưới cổ liền lộ rõ.

Nhưng nếu như treo cổ thì sao gã lại có dáng vẻ như này?

Treo ở bên ngoài nên dính mưa? Hay là treo trong nhà tắm?

Nhưng hắn không thể nói thẳng lời này trước mặt Lý tiên sinh, ít nhất là không thể nói trước khi thăm dò được gã muốn làm gì. Tống Á Hiên nghĩ ngợi hỏi: "Có thể nói chuyện không, vì sao lại nhìn lên trên?"

Lý tiên sinh vẫn ngửa mặt nhìn đỉnh đầu, ngoại trừ thanh xà nhà kia thì trần nhà trống trơn, chẳng có bất cứ thứ gì để nhìn. Qua một hồi lâu, gã mới chậm nửa nhịp nhìn sang Tống Á Hiên.

Dường như nhận ra trên giường mình còn có người khác, gã mở to mắt nhìn, thế là dòng nước lại trào ra từ hai hốc mắt đen ngòm.

Đing——–

Đồng hồ trong phòng khách nhà họ Thẩm đột nhiên gõ một tiếng, đêm hôm khuya khoắt, tiếng động đột ngột khiến lòng người hoảng sợ.

Bóng ma của Lý tiên sinh lóe lên một cái, tựa như một bức hình cũ bị phơi sáng quá mức, gần như một giây sau sẽ biến mất từ trên giường.

Tống Á Hiên nhíu mày, nghe thấy Lưu Diệu Văn nói khẽ: "Hình như đến lúc rồi."

"Đến lúc gì?" Tống Á Hiên ngoảnh đầu nhìn anh ta.

Chỉ thấy cơ thể anh ta cũng trở nên mờ nhạt một chút, như thể sắp biến mất theo Lý tiên sinh.

"Không rõ, chắc là đến lúc các cậu tỉnh lại." Lưu Diệu Văn nói.

Tống Á Hiên lạnh lùng nói: "Tôi đã tỉnh."

Lưu Diệu Văn nghe giọng điệu của hắn, chẳng biết vì sao lại muốn cười: "Cậu lợi hại hơn nên là ngoại lệ. Ý tôi là người bình thường chắc sắp tỉnh rồi."

Tống Á Hiên không dễ chịu cho lắm.

Chỉ có mỗi tí thời gian thế này, Lý tiên sinh đến rắm cũng không đánh thì hắn đủ thời gian để làm gì?

Đing——

Đồng hồ lại gõ một nhịp.

Lưu Diệu Văn nói: "Nhìn xem, nó bắt đầu thúc giục rồi."

Bóng hình của anh ta và Lý tiên sinh ngày càng mờ ảo, nhưng lại có chút khác biệt nho nhỏ, không biết có phải vì anh ta vẫn được coi là người sống hay không.

"Thích giục thì cứ giục đê." Tống Á Hiên nhíu mày, vừa nói vừa dứt khoát vòng một sợi dây rối lên cổ tay Lý tiên sinh và Lưu Diệu Văn, sau đó vươn tay gõ lên giữa trán Lý tiên sinh.

Đầu Lý tiên sinh như trái dưa hấu căng mọng nước, đốt ngón tay vừa gõ lên kêu bộp một cái giòn tan.

Tống Á Hiên liệt mặt.

Nhưng khoảnh khắc tiếng động đó vang lên, cơ thể mờ ảo của Lý tiên sinh đột nhiên trở nên rõ nét như thể ban đầu muốn đi, nhưng sau đó bị người ta ép buộc ở lại vậy.

Gã xoay cổ kêu răng rắc, cứng đờ mờ mịt nhìn về phía Tống Á Hiên.

Tống Á Hiên nói với gã: "Anh không đi nổi nữa đâu."

Lý tiên sinh: "....."

Tống Á Hiên ngoảnh đầu định gõ cả Lưu Diệu Văn, lại bị Lưu Diệu Văn tóm ngón tay ngăn cản.

Đối phương tóm bừa, không hề dùng quá nhiều sức, không cẩn thận thành trạng thái nửa bắt nửa nắm, không hiểu vì sao có vẻ hơi thân mật.

Động tác của hai người chững lại.

Sau một lúc lâu, Lưu Diệu Văn mới mở miệng: "Cậu muốn biến tôi thành con rối à?"

Tống Á Hiên nhìn anh ta: "Sao anh biết điều này?"

Một tên gà mờ sao lại biết cách biến vật sống thành con rối?

Lưu Diệu Văn: "Xem trong sách."

Tống Á Hiên: "Trong sách có nói đây là tạm thời không?"

Lưu Diệu Văn: "Có nói."

Ánh mắt Tống Á Hiên đảo qua cơ thể dần dần mờ ảo của anh ta, sau đó nói: "Cho nên anh thà biến mất chứ không chịu làm con rối tạm thời của tôi chứ gì."

Lưu Diệu Văn lặng im, không biết đang suy nghĩ điều gì.

Anh ta nhìn sâu vào trong mắt Tống Á Hiên, lát sau buông tay, tỏ vẻ bất đắc dĩ nói: "Gõ đi."

Biến Thẩm Mạn Di, Lý tiên sinh thành con rối khác với biến một người sống sờ sờ như Lưu Diệu Văn thành con rối. Dù sao thì quá trình này có thuận lợi hay không còn phải xem sức mạnh ý chí của đối phương và khôi lỗi sư có hoàn toàn áp chế được không.

Trạng thái hiện tại của Tống Á Hiên không thể so được với ngày trước, nhưng áp chế mấy phán quan hậu bối này cũng không có vấn đề gì. Huống chi Lưu Diệu Văn còn là một kẻ bị gạch tên.

Nhưng khi hắn gõ nhẹ trán Lưu Diệu Văn thì có hơi kinh ngạc.

Bởi vì hắn không cảm nhận được bất cứ trở ngại nào, chẳng khác gì đám Thẩm Mạn Di, Lý tiên sinh.

Khoảnh khắc ấy hắn thấy có gì đó không đúng, nhưng không có thời gian suy nghĩ.

Chủ yếu là có một tiếng động khác đang quấy nhiễu——

Đồng hồ quả lắc trong phòng khách vang bốn lần không thể tiễn Lý tiên sinh và Lưu Diệu Văn đi, nó bắt đầu điên cuồng gọi hồn.

Tiếng đing đong vang lên không ngừng, hai phòng sát vách cuối cùng cũng có người tỉnh dậy, Tống Á Hiên nghe thấy tiếng mở cửa. Nhưng lại càng khó chịu hơn bởi tiếng chuông đánh thẳng vào linh hồn này.

"Đợi tí." Hắn dặn ba 'con rối' mới được thu nạp trong phòng, tiếp đó đi mở cửa.

Thẩm Mạn Di và Lý tiên sinh ngồi nghiêm chỉnh trên giường không dám nhúc nhích. Nhưng 'con rối' họ Lưu kia cực kỳ không nghe lời, thong thả theo sát sau lưng người nào đó, trông thấy hắn đi ra phòng khách, kéo một sợi dây rối 'chém sắt như chém bùn' lặng lẽ chém đứt đồng hồ.

Lúc Lưu Diệu Văn đi ngang qua căn phòng của vú em, nghe thấy cửa phòng kêu cọt kẹt.

Anh đảo mắt nhìn sang, chỉ thấy lão Mao thò cái đầu ra từ bên trong.

Vừa trông thấy Lưu Diệu Văn, hắn hơi ngạc nhiên một chút, lầu bầu nói: "Ngủ cái là về thật luôn hả? Tôi cứ tưởng ngài——-"

"Tôi làm sao?" Lưu Diệu Văn dừng bước chân, đợi câu sau của hắn.

Lão Mao dè dặt liếc qua phòng khách, hạ giọng nói: "Tôi cứ tưởng ngài lại cố tình bỏ đi tìm linh tướng cơ."

Lưu Diệu Văn nhíu mày, không bình luận gì thêm.

Anh nhìn lướt vào trong phòng hỏi: "Tỉnh dậy cả rồi?"

"Chưa." Lão Mao lắc đầu, "Ngủ như lợn ấy. Tôi đợi bọn họ tỉnh, tránh để lộ mình tôi mắt mở thao láo, khỏi bất ngờ quá."

"Không chỉ có mình ông đâu." Lưu Diệu Văn hất cằm về phía căn phòng của Hạ Tiều và Chu Húc, "Không phải phòng kia cũng có một à."

Con rối khi ở trong lồng là kẻ không dễ bị mê man hay bị mê hoặc nhất, dù sao bọn họ cũng không phải người. Người Lưu Diệu Văn ám chỉ hiển nhiên là Hạ Tiều, nhưng lão Mao là một chú chim khôn ngoan: "Cậu ta tỉnh thì tôi càng không thể tỉnh sớm được, đây không phải chiếu cáo thiên hạ rằng tôi và cậu ta có thể chất như nhau sao."

Lưu Diệu Văn: "Ông nghĩ nhiều rồi, cứ bảo người già ngủ ít thôi."

Lão Mao: "???"

Bộ ngực của hắn căng phồng lên, nhưng chưa tức được hai giây đã nghĩ tới một chuyện khác: "Đúng rồi ông chủ, mấy giây ban nãy tôi cảm thấy không được bình thường lắm."

Lưu Diệu Văn: "Không bình thường chỗ nào?"

Lão Mao: "Không nói rõ được, lần trước thấy không bình thường cũng là lúc ngài xảy ra chuyện."

Lưu Diệu Văn thản nhiên 'à' một tiếng, chỉ về phía Tống Á Hiên ở đằng xa bảo: "Có lẽ là do cậu ấy vừa mới biến tôi thành con rối của mình."

Lão Mao bừng tỉnh hiểu ra, cũng 'à' một tiếng.

Ba giây sau, hắn đột nhiên giật bắn mình, vỗ cánh phành phạch hai phát, suýt chút nữa hiện nguyên hình: "Cậu ta biến ngài thành cái gì cơ???"

Lưu Diệu Văn: "Con rối của cậu ấy."

Lão Mao hụt hơi, xém nữa ngoẻo tại chỗ.

Lưu Diệu Văn: "Diễn thái quá rồi, trước kia cũng không phải chưa từng để cậu ấy thử qua."

Thì đó, ngài có cái gì không dám để cậu ta thử đâu?

Lão Mao yên lặng hộc máu.

Chiếc đồng hồ bên kia bị chặt thành tám khúc đổ ầm xuống đất, hoàn toàn không còn tiếng động nào nữa. Tống Á Hiên xoay người lại, lão Mao liền rụt đầu về.

"Đang nói chuyện với ai thế?" Hắn trông thấy Lưu Diệu Văn đứng cách một cái hành lang, lúc đi tới, cửa căn phòng sát vách vừa khéo được ai đó mở ra, một bóng người vụt ra ngoài, bám lấy cánh tay Tống Á Hiên run bần bật.

Tống Á Hiên quay đầu nhìn, là Hạ Tiều.

"Gặp quỷ à?" Hắn buồn bực hỏi.

Khuôn mặt nhỏ của Hạ Tiều trắng bệch, điên cuồng gật đầu. Cậu nuốt nước bọt chỉ vào phòng mình nói: "Giày."

Giày gì?

Tống Á Hiên đi sang đẩy cửa nhìn, nháy mắt hiểu rõ ý Hạ Tiều———

Đôi giày thêu màu đỏ tươi kia vốn nên đặt trong phòng vú em không biết từ bao giờ lại xuất hiện bên giường Chu Húc và Hạ Tiều, mũi chân hướng về phía giường.

"Xuất hiện từ lúc nào?" Tống Á Hiên hỏi.

Hạ Tiều núp sau lưng hắn và Lưu Diệu Văn nói: "Ngay sau khi tiếng chuông kia vang lên, Chu Húc chìm vào giấc ngủ, gọi thế nào cũng không tỉnh. Nhưng em không ngủ được, lại không dám đi lung tung, đành nhắm mắt nằm ở trên giường. Sau đó liền nghe thấy cửa phòng bị ai đó mở ra rồi đóng lại, tiếng bước chân kia đi tới bên giường, cuối cùng đứng ở bên cạnh em không nhúc nhích."

Hạ Tiều vừa kể vừa nổi da gà: "Em đợi nửa buổi cũng không thấy động tĩnh gì, thế là hé mắt nhìn thử một chút. Nhưng bên giường không có người!"

Lúc ấy người cậu đổ mồ hôi lạnh, cứ thế giả chết trên giường, giả vờ tới khi tiếng chuông vang lên lần nữa, càng gõ càng nhanh, sau đó loáng thoáng nghe thấy tiếng Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên, lúc này mới nhảy từ trên giường xuống.

Khoảnh khắc xuống giường cậu mới thấy rõ đôi giày thêu màu đỏ kia. Giống như có người luôn đứng bên giường lẳng lặng nhìn kể từ khi bọn họ chìm vào giấc ngủ.

"Bà ta tới tìm ai?" Hạ Tiều hỏi.

"Trong căn phòng này chỉ có hai người, không tìm cậu thì là tìm nó." Lưu Diệu Văn chỉ người nằm trên giường.

Chu Húc vẫn đang ngủ say, đèn ngủ chiếu rọi lên gương mặt, rõ ràng là ánh sáng màu vàng nhưng lại khiến sắc mặt nó thêm phần xanh xám, không biết có phải do chao đèn[1] màu xanh biếc hay không.

[1] là phần chụp bên ngoài che bóng đèn.

//
chao đènpng

Hạ Tiều nhìn nó, mặt mũi tràn đầy hâm mộ: "Cậu ấy ngủ say thật, vì sao em lại không ngủ được cơ chứ, ngủ thiếp đi là sẽ không thấy đôi giày nữa."

Tống Á Hiên: "Khác loài."

Đỉnh đầu Hạ Tiều xuất hiện một dấu chấm hỏi, nhưng cậu nhanh chóng nhận ra bản thân là con rối, đúng là khác loài với con người.

Nghĩ như vậy, cậu càng rầu rĩ hơn: "Mấy con rối khác đều vô cùng oai phong, vóc dáng to lớn lại còn biết đánh đấm. Sao đến lượt em lại chẳng giống tí nào, đã nhát gan lại còn không ngủ được."

Vị khôi lỗi sư không rõ tên họ ngày trước tạo ra cậu để làm gì thế không biết, làm vật trang trí đáng yêu à?

Cậu rầu rĩ một hồi, ôm tia hy vọng cuối cùng hỏi Tống Á Hiên: "Anh ưi."

Tống Á Hiên: "Nói."

Hạ Tiều: "Liệu có phải em thiếu hụt sự thúc đẩy nào đó không? Rồi một ngày nào đó khai mở năng lực, có thể biến thân, biến thành kiểu như mãng xà khổng lồ hoặc đại bàng Kim Sí ấy."

Tống Á Hiên: "...."

Đương nhiên Hạ Tiều cũng không phải đang suy nghĩ viển vông gì, chỉ muốn tìm chút an ủi mà thôi. Đáng tiếc dây thần kinh ở phương diện này của anh Hiên nhà cậu đứt hết rồi, chẳng thể nói được lời an ủi nào, trên mặt còn viết rõ năm chữ bóng loáng 'cậu đang ngủ mơ à'.

Ngược lại chỉ có Lưu Diệu Văn chịu để ý tới: "Cậu nói mãng xà khổng lồ là chỉ con rối anh cậu thả ra lúc trước ấy hả?"

Hạ Tiều mờ mịt: "Vâng."

Lưu Diệu Văn cười.

Hạ Tiều không hiểu chỗ nào đáng cười, quay đầu hỏi Tống Á Hiên: "Anh ơi, chẳng phải con rối của anh là mãng xà màu đen sao?"

Mãng xà khổng lồ.....

Vẻ mặt Tống Á Hiên lạnh tanh.

Đấy đương nhiên chẳng phải mãng xà màu đen gì hết, nó là Đằng Xà[2] liệt hỏa quấn thân, pháp lực cao cường trong Kỳ Môn Bát Thần, chỉ là hiện tại hắn bị hạn chế trong việc sử dụng con rối, không thể cho nó hiện ra bộ dáng đầy đủ được thôi.

[2] Đằng Xà: rắn bay, hay còn xưng là Hỏa thần, một trong tám vị thần trong Kỳ Môn Độn Giáp, vị thần của sự lừa lọc, hung thần. Rắn tu ngàn năm thành Đằng, Đằng vượt kiếp hóa thành rồng. Sức mạnh ngang ngửa Thiên Long, Ứng Long. [Nguồn: Baidu]

đằng xà

"Cũng gần giống thế." Hắn trả lời qua loa, liếc mắt nhìn Lưu Diệu Văn.

"Nhìn tôi làm gì?" Lưu Diệu Văn đứng sóng vai với hắn, cách một bước chân, lúc nói chuyện hơi nghiêng đầu về phía hắn. Giọng nói trầm ấm vang bên tai.

Tống Á Hiên sờ gáy, một lúc lâu sau chợt mở miệng: "Vì sao khẳng định như vậy?"

Lưu Diệu Văn hơi sửng sốt: "Khẳng định cái gì?"

Tống Á Hiên: "Con rối của tôi."

Lưu Diệu Văn giải thích: "Tôi thấy sau lưng nó nổi lên hai cái gờ, chỗ đó chắc đang bao bọc thứ gì đó. Trên lưng mãng xà không có cấu tạo như thế."

Lời này không có gì để bắt bẻ, đúng là nhìn kỹ sẽ phát hiện ra manh mối. Lúc anh ta giải thích còn dùng tay mô phỏng lại một chút, vị trí chỉ ra cũng không chính xác hoàn toàn.

Thế nhưng.....

Tống Á Hiên khẽ nhíu mày, thu hồi ánh mắt khỏi gương mặt anh ta.

Lưu Diệu Văn: "Cho nên đó là cái gì?"

Tống Á Hiên: "Mãng xà bị nổi nhọt."

Con mẹ nó chứ mãng xà nổi nhọt.

Hạ Tiều đứng bên cạnh nghe mà chết lặng, trong lòng tự nhủ anh mình nói điêu cũng quá rõ ràng rồi, bày hết trên mặt luôn kia kìa. Cậu len lén liếc ông chủ Lưu một chút, phát hiện đối phương cũng không ngại bị lừa gạt, nghe được đáp án này còn vui vẻ gật đầu một cái, tính tình thật là tốt.

Vậy sao mình vẫn thấy hơi sợ anh ta nhỉ?

Hạ Tiều đang hoang mang liền nghe thấy Lưu Diệu Văn mở miệng bảo: "Người vốn dĩ ở phòng này là ai?"

Anh ta không gặng hỏi nguồn gốc con rối của Tống Á Hiên mà quay về vấn đề chính.

"Ớ? Anh không biết sao?" Hạ Tiều ngạc nhiên.

Lưu Diệu Văn nhắc nhở một câu: "Khi đó tôi không ở đây."

Hạ Tiều vỗ trán mình: "À đúng đúng, lúc giới thiệu bối cảnh truyện thì ông chủ Lưu không ở đây. Căn phòng này là nơi ở của con trai vú em và tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm."

Vừa nói cậu vừa liếc mắt nhìn đôi giày thêu bất động và Chu Húc ngủ say, lầu bầu trong lòng: "Vú em kia chắc là tới ngó con trai rồi."

Đang nghĩ ngợi, Lưu Diệu Văn đột nhiên hỏi cậu một câu: "Đã từng xác nhận chưa?"

Hạ Tiều bị hỏi đến mức ngu người, ngẩng đầu nói: "Ý anh là sao?"

"Không có gì, chính là muốn nhắc nhở một câu." Lưu Diệu Văn nói, "Dù sao bối cảnh truyện cũng không nhất định là thật hết đâu."

Hạ Tiều ngây ngẩn.

Cậu đột nhiên nhận ra bối cảnh câu chuyện trong thoát khỏi mật thất vốn có chênh lệch với chuyện thật, huống hồ bối cảnh cũng là một phần của lồng, cũng sẽ chịu ảnh hưởng của chủ lồng.

Mà lúc trước cậu hoàn toàn bị lồng dắt mũi, vô thức nghe thấy cái gì thì sẽ tin cái đó. Một khi xuất hiện điểm mâu thuẫn, suy nghĩ của cậu bắt đầu rối loạn. Ví dụ như vú em thực tế đã chết lại sống trong nhật ký và trong bối cảnh câu chuyện.

Sau khi nghe được câu này của Lưu Diệu Văn, lưng cậu bỗng nhiên đổ mồ hôi và dựng hết cả lông tơ.

Đúng rồi, nếu như ngay cả bối cảnh câu chuyện cũng đang lừa chúng ta thì sao? Vậy cái lồng này giải kiểu gì???

Tâm trạng vừa sụp đổ liền nghe thấy anh cậu mở miệng, giọng nói hoàn toàn tỉnh táo chưa từng thay đổi: "Đâu chỉ có bối cảnh, bất cứ câu nào trong lồng cũng có thể là giả."

.....

Hay lắm, càng nghe càng sụp đổ.

Hạ Tiều sợ hãi nhìn về phía Tống Á Hiên, lại thấy đối phương hơi nâng tay phải lên, nói với Lưu Diệu Văn: "Cho nên có gì mang nấy, thu thập tất cả thông tin, câu nào thật câu nào giả, có mù lòa cũng có thể nhìn ra."

À, thảo nào!

Giờ Hạ Tiều mới hiểu ra, lúc ở tầng hai vì sao có phương hướng rồi mà Tống Á Hiên vẫn để bọn họ đi tìm phần còn sót của nhật ký, rõ ràng trên ảnh chụp chung chẳng có nội dung gì nhưng vẫn để bọn họ cầm. Cuối cùng giải quyết được chuyện của Thẩm Mạn Di xong, anh ấy còn mang theo nhật ký, ảnh chụp và cả Thẩm Mạn Di xuống tầng.

Cậu nhìn sang cánh tay phải đang nâng lên của Tống Á Hiên, phát hiện có ba sợi dây rối kéo dài, hai sợi kéo thẳng vào phòng ngủ của quản gia và Lý tiên sinh, sợi còn lại .....buộc Lưu Diệu Văn???

Dây gai trắng dài rủ xuống đất giống một loại liên kết ngầm.

Hạ Tiều nhớ ra Tống Á Hiên vừa nói 'có gì mang nấy, gom tất cả thông tin về một chỗ', mờ mịt hỏi: "Cho nên...ông chủ Lưu là thông tin gì vậy anh?"

Lời này vừa dứt, Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên cùng nhìn về phía cậu.

Một góc trong hành lang đột nhiên rơi vào tĩnh lặng, không ai trả lời câu hỏi này.

Hạ Tiều chớp mắt nhìn, mặc dù không hiểu vì sao nhưng lại quả quyết nói 'Xin lỗi', sau đó khéo léo đổi vấn đề: "Hai sợi dây kia, một sợi buộc Thẩm Mạn Di, còn một sợi nữa thì sao? Anh bắt được ai vậy?"

Cái từ 'bắt' này nghe có linh tính làm sao, như thể anh cậu mới là đại yêu quái ấy.

Nhưng Tống Á Hiên chẳng để ý, hắn giật giật ngón tay, lát sau Thẩm Mạn Di liền chạy lon ton qua đây, đằng sau là Lý tiên sinh chậm rì rì.

Thẩm Mạn Di chỉ hơi chần chừ khi vào phòng, phản ứng không rõ ràng lắm. Lý tiên sinh lại khác hẳn, gã ngừng bước ngoài cửa, con mắt đen ngòm vừa chảy nước ồ ạt vừa hướng về phía giường, không biết là đang nhìn chiếc giày thêu hay là đang nhìn người ngủ trên giường.

Gã nhìn chằm chằm nơi đó hồi lâu, bỗng nhiên thực hiện động tác—–nâng hai cánh tay lên, siết chặt tay ngay trước cổ.

Như thể.....có ai đó cầm dây thừng thắt cổ gã, còn gã đang giãy dụa tóm chặt sợi dây thừng trên cổ mình.

Đúng là bị người ta treo cổ ư?

Tống Á Hiên nhìn gã.

Nếu như phản ứng của Lý tiên sinh là thật, vậy thì trong căn phòng này có người hại chết gã.

Là vú em không thể nhìn thấy ở bên giường? Hay là người nằm trên giường được Chu Húc sắm vai?

Hạ Tiều bỗng nhiên thốt lên: "Á em biết rồi."

Lưu Diệu Văn không biết đã đi tới bên tủ quần áo từ bao giờ, đang vịn cửa tủ nhìn quần áo bên trong. Nghe thấy câu này, trước tiên liếc mắt với Tống Á Hiên, sau đó quay đầu nhìn cậu nói: "Biết cái gì, nói thử nghe coi."

Hạ Tiều chỉ vào Lý tiên sinh nói: "Động tác này của anh ta, chắc là bị ai—–"

Lưu Diệu Văn kịp thời nhắc nhở: "Có vài từ tốt nhất đừng nói thẳng ra như vậy."

"——–Các anh hiểu đó." Hạ Tiều vô cùng nghe lời, lập tức nuốt từ 'ghìm chết' vào trong bụng, "Dáng người của anh ta không khác em cho lắm, cũng rất gầy. Nhưng nếu muốn làm chuyện đó với anh ta thì cũng phải có sức lực chứ? Tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm mới bao nhiêu tuổi ấy nhỉ?"

Cậu chỉ vào Thẩm Mạn Di: "Kiểu gì cũng nhỏ hơn em ấy, vì là em trai cơ mà. Người nhỏ như vậy sao có thể đối phó được với Lý tiên sinh đây?"

Thật ra trước đó cậu đã nghi ngờ, mặc dù vóc dáng của Thẩm Mạn Di không cao nhưng cũng không thể dễ dàng bị giết chết bởi một bé trai nhỏ hơn cô bé được.

Cậu tự so sánh trên người mình, ước chừng nói: "Muốn đối phó Lý tiên sinh thì ít nhất cũng phải là thanh niên mười mấy tuổi. Cho nên em cảm thấy hung thủ chắc chắn không phải tiểu thiếu gia đâu, mà là con trai vú em. Hình như trong nhật ký từng nhắc tới cậu ta nhỉ? Gọi là anh Tuấn đúng không?"

Quyển nhật ký tìm thấy trên tầng hai đúng là thường nhắc tới anh Tuấn.

Dựa theo lời kể trong nhật ký, Thẩm Mạn Di thường lôi kéo anh Tuấn đóng vai cô dâu, thường xuyên khiến cho cậu ta cảm thấy xấu hổ mất mặt. Dường như Lý tiên sinh còn hay soi mói trêu chọc cậu ta, có lẽ vì cậu ta là con trai của vú em nên cách đối xử sẽ khác với thiếu gia và tiểu thư.

Nhưng tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm lại rất thân thiết với cậu ta, nhìn cách bố trí phòng của thiếu gia ở tầng hai là biết, chiếc giường giản dị không có ai nằm nhưng trên giường lớn lại có hai bộ chăn nệm.

Tiểu thiếu gia không chỉ có mối quan hệ tốt, thậm chí còn kêu oan thay cậu ta, cộng thêm thái độ chán ghét khi nhìn Thẩm Mạn Di và Lý tiên sinh.

"Liệu có phải tiểu thiếu gia có suy nghĩ kia, sau đó anh Tuấn ra tay?" Hạ Tiều càng nghĩ càng thấy hợp lý, "Anh Tuấn kia bao nhiêu tuổi nhỉ? Trong nhật ký có nhắc tới không? Em nhìn quần áo trong tủ có đủ kích cỡ, hình như không cùng độ tuổi."

Lưu Diệu Văn vui vẻ tránh sang bên cạnh một chút, bàn tay vịn cửa tủ kéo nó rộng ra hơn.

Đúng như lời cậu nói, kích cỡ quần áo trong tủ không đồng đều. Cỡ nhỏ dành cho bé trai khoảng 9-10 tuổi mặc, cỡ lớn ít nhất cũng phải 15-16 tuổi.

"Mấy chiếc cỡ nhỏ này chắc là của tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm, cỡ lớn là của anh Tuấn." Hạ Tiều tháo một chiếc xuống đo lên người mình, "Em cũng có thể mặc vừa. Nếu thanh niên cao lớn như thế ra tay với Thẩm Mạn Di và Lý tiên sinh thì tương đối hợp lô gích.

Cậu phân tích một tràng xong hơi ngượng ngùng, đỏ mặt gãi gãi đầu nói với Lưu Diệu Văn và Tống Á Hiên: "Em nghĩ như vậy, không biết có đúng hay không."

Tống Á Hiên chưa nói đúng hay không, chỉ lấy ra một vật từ trong túi quần jean.

Đó là một tấm hình, nếu không đoán lầm thì nó chính là tấm ảnh mà bọn Hạ Tiều tìm thấy ở tầng hai.

Tống Á Hiên kẹp nó giữa ngón tay, lộn ngược lại, mặt trước quay về phía Hạ Tiều nói: "Nhìn cái này."

"Sao thế ạ?" Hạ Tiều xích lại gần, tạm thời chưa hiểu ý anh mình.

"Cậu nhìn hai người này." Lưu Diệu Văn cũng đi qua, ngón tay lướt qua Hạ Tiều, búng nhẹ lên góc phải của tấm ảnh một cái.

Hạ Tiều rốt cục cũng hiểu———

Ở góc ngoài cùng bên phải ảnh chụp, có hai người đứng bên cạnh Thẩm Mạn Di. Mặc dù ảnh bị thiếu mất một mảng, mấy người đứng kế bên đều không có mặt mũi, nhưng nhìn quần áo và chiều cao là có thể nhận ra, đó là hai cậu bé.

Một người mặc âu phục cỡ nhỏ, dáng vẻ đoan chính, một người mặc áo ngắn quần dài, chắp tay sau lưng.

Cả nhà họ Thẩm chỉ có tiểu thiếu gia và anh Tuấn phù hợp với phần cơ thể này thôi.

Nhưng vóc dáng hai người kia không khác nhau cho lắm, bả vai cũng cao như nhau, rõ ràng là tuổi tác không chênh lệch mấy. Nếu như tuổi của tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm quá nhỏ, không giải quyết được Lý tiên sinh. Vậy thì anh Tuấn cũng chung một vấn đề như vậy.

Hạ Tiều ngây người: "Sao có thể như vậy...."

Cậu phân tích một tràng, vốn cảm thấy vô cùng hợp lý, ngờ đâu một tấm hình lại phá hủy tất cả.

Ngay khi cậu đang hoang mang, Tống Á Hiên cất ảnh chụp, dứt khoát đi tới cửa hỏi Lý tiên sinh: "Vì sao không đi vào, anh sợ ai?"

Mẹ nó hỏi thế cũng được nữa à???

Hạ Tiều cảm thấy anh mình đang tạo gian lận.

Cậu kinh ngạc nói: "Làm sao Lý tiên sinh có thể nghe lời như vậy được?" Ngay cả Thẩm Mạn Di ban đầu cũng giãy dụa phản kháng mà.

Tống Á Hiên lại giật sợi dây rối trên ngón trỏ nói: "Hiện giờ anh ta là con rối của tôi, không nghe tôi thì nghe ai."

Sự thật chứng minh, Lý tiên sinh biến thành con rối rất nghe lời.

Tống Á Hiên vừa hỏi, gã liền mở miệng.

Sau đó soạt một cái, đầu lưỡi dài ngoằng rớt ra ngoài.

Tống Á Hiên: "......"

Con mẹ nó chứ——

Có lẽ là sợ bị khôi lỗi sư mặt lạnh này cho ăn đập, Lý tiên sinh quay đầu vội vàng rời đi. Ba người nhanh chóng đuổi theo sát sau lưng người đàn ông có vóc dáng nhỏ con này, vòng qua hai khúc ngoặt, tiến vào một căn phòng.

Đó là phòng sách ở tầng dưới.

"Đúng rồi, không nói được thì anh ta có thể viết mà nhể." Hạ Tiều hớn hở nói.
Trong phòng sách cũng treo một chiếc đồng hồ, nó khiến người ta vừa ý hơn chiếc ngoài phòng khách, chỉ yên tĩnh hoạt động chứ không kêu ầm ĩ. Tống Á Hiên dễ dàng khoan dung cho sự tồn tại của nó.

Hắn nhìn chằm chằm kim đồng hồ mấy lần, chợt quay đầu hỏi: "Cái đồng hồ ban nãy chỉ mấy giờ?"

Hạ Tiều như cậu học sinh đột nhiên bị điểm danh, sợ hãi nói: "Em, em không để ý."

Tống Á Hiên: "Không hỏi cậu."

Hạ Tiều ngượng ngùng 'ồ' một tiếng, Tống Á Hiên đưa mắt sang phía Lưu Diệu Văn.

Thật ra sau khi hỏi xong câu này, ngay cả bản thân Tống Á Hiên cũng hơi sửng sốt. Vì trước đây hắn luôn là người "trả lời câu hỏi' hoặc là 'lười trả lời, trực tiếp ra tay' trong lồng, tự ôm đồm một đống việc vào người.

Hắn rất hiếm khi chủ động hỏi chuyện. Một là vì ít nói, hai là thứ mà hắn chú ý tới thì người khác chưa chắc đã để ý, còn nếu hắn không để ý thì người khác càng chẳng thể phát hiện ra. Thứ ba là do bản tính quấy phá trời sinh, dù trải qua bao nhiêu năm, hắn vẫn không thích làm phiền người khác.

"Bàn bạc' và 'hỏi thăm' với hắn mà nói chính là vô dụng. Cho nên khoảnh khắc phá vỡ thói quen, hắn hơi sững sờ, thậm chí còn định nói 'thôi, coi như tôi chưa hỏi gì'.

May là Lưu Diệu Văn đã mở miệng trước, "Một giờ."

Tống Á Hiên 'ừ' một tiếng, trong lòng chùng xuống, giống như con đường vốn dĩ chỉ có mình hắn chợt xuất hiện thêm một người có thể trò chuyện cùng.

Hắn đang định nói chuyện đồng hồ quả lắc và đồng hồ treo tường hiển thị thời gian không đồng nhất, có lẽ chứa hàm nghĩa đặc biệt nào đó.

Kết quả còn chưa mở miệng đã nghe thấy người họ Lưu nói, anh ta cười bổ sung: "Chắc là một giờ, nhưng mà không chắc lắm, dù sao thì hành động cắt chuông của cậu cũng nhanh quá. Nếu như chậm một chút thì may ra tôi nhìn rõ."

Bớt nhảm nhí đê.

Tống Á Hiên dời mắt khỏi chiếc đồng hồ, nuốt những lời định nói trở vào, quyết định để người nào đó ngoan ngoãn làm con rối của mình, cứ ngậm miệng đừng nói chuyện là tốt nhất.

Lý tiên sinh đã đi tới phía sau bàn đọc sách, giấy bút bày trên bàn, trên giá có đủ kích cỡ bút lông lớn nhỏ, cộng thêm vài chiếc bút máy kiểu cũ gác trên nghiên mực. Nhưng gã vẫn đang lục lọi gì đó.

"Anh ta làm gì thế?" Hạ Tiều hơi sợ gã, nhưng lại không nhịn được muốn giúp người ta.

Lưu Diệu Văn vào phòng cuối cùng, đảo mắt một vòng nói: "Chắc là đang tìm mực."

Anh vừa dứt lời, Tống Á Hiên đã kéo mở một ngăn tủ sắt bị rỉ, lấy vài lọ mực từ bên trong ra. Một mùi thối gay mũi lập tức tràn ngập phòng sách.

Hạ Tiều nôn khan, bịt mũi nói: "Mùi gì thế này?"

Kể từ khi đọc được nhật ký của tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm, cậu trở nên vô cùng mẫn cảm với những mùi hương kỳ quái trong căn nhà, lo sợ lại xuất hiện một người nào đó bị giấu trong ghế sô pha hoặc trong ngăn tủ.

"Mực nước bị hỏng rồi." Tống Á Hiên nói.

Vẻ mặt của hắn rất khó coi, cố chịu thối vặn nắp lọ mực nhìn thử, sau đó ném vào thùng rác.

Lý tiên sinh lại nhào tới cướp cái lọ về như thể bảo bối.

"Mực khô từ lâu rồi." Tống Á Hiên nhíu mày nói.

Lý tiên sinh còn chưa từ bỏ ý định, gã dùng bút lông quẹt mấy lần, quả nhiên không viết được cái gì. Tất cả mực tìm được đều đã khô cạn, chẳng có lọ nào dùng được, dường như là cố tình không cho gã viết ra được chữ vậy.

Tống Á Hiên đi quanh phòng sách một vòng, bước chân không ngừng, mở tung hết tất cả ngăn tủ trong phòng vẫn không tìm thấy lọ mực mới nào, nhưng lại thấy một cái rương đựng sách bằng gỗ long não.

Chiếc rương sách kia không hề bắt mắt, là đồ vật thường hay xuất hiện nhất trong phòng sách ở thời đại này, nhưng lại hấp dẫn sự chú ý của Tống Á Hiên, bởi vì nó bị khóa.

Bên trong rương sách sẽ có thứ quan trọng gì đây?

Lúc Tống Á Hiên chìm vào trong dòng suy nghĩ, sợi dây rối văng ra ngoài.

Khoảnh khắc đầu sợi dây luồn vào trong lỗ khóa, toàn bộ phòng sách chợt lóe lên—–vách tường trắng xóa đổi thành màu vỏ quýt, tiếng nổ nhẹ đôm đốp vang lên bên tai Tống Á Hiên, không biết một luồng gió nóng từ đâu thổi tới, quét qua mặt nóng rẫy.

Hạ Tiều khẽ kêu 'áu' một tiếng.

Tống Á Hiên quay đầu trông thấy cậu bụm cánh tay, liên tục xua tay nói: "Không sao không sao, chỉ đụng trúng thứ gì đó nên hơi đau thôi."

Hạ Tiều nhăn mặt rầu rĩ một lát, bổ sung: "À không, khá bỏng mới đúng, bỏng kinh ấy."

Cậu thả tay xuống kiểm tra thử, chỗ da đó lại lành lặn không hề hấn gì, còn chẳng hề sưng đỏ.

"Anh thì sao?" Tống Á Hiên nhìn về phía Lưu Diệu Văn.

"Tôi không sao."  Lưu Diệu Văn đang đứng ở góc tường, ngón cái miết mặt tường một chút, "Căn phòng này có lẽ từng bị thiêu cháy."

Chính xác, cảnh tượng xuất hiện chớp mắt vừa rồi vô cùng giống hiện trường vụ cháy.

Hắn cúi đầu hỏi Thẩm Mạn Di: "Nhà em từng bị cháy?"

Thẩm Mạn Di ngửa đầu nói: "Không ạ."

Vậy thì đã xảy ra chuyện gì?

Tống Á Hiên cau mày, dây rối lại luồn vào trong lỗ khóa một lần nữa.

Cùng lúc ổ khóa chuyển động, cả gian phòng bất thình lình rơi vào trong biển lửa!

Sóng nhiệt cuồn cuộn nhào về phía người, ngọn lửa màu đỏ vàng bập bùng cách một khoảng cũng đủ để liếm mất một tầng da của bọn họ.

Nó quay cuồng trong không trung, mắt thấy ngọn lửa sắp nuốt Hạ Tiều và Lưu Diệu Văn vào trong bụng, Tống Á Hiên trước rương sách chắp tay, Đằng Xà bị quấn xiềng xích nhe răng vọt thẳng tới, cuộn quanh phòng sách một vòng, ngọn lửa hung hãn kia liền bị nó nuốt chửng sạch sẽ.

"A  a a a a —-"

Hạ Tiều ôm mặt kêu ầm giữa đám lửa, kết quả vừa ngước mắt đã thấy con rối của anh mình như con 'rắn tham ăn', mở miệng rộng thong thả trườn về phía trước, nó đi tới đâu nuốt tới đó, đến cả đốm lửa nhỏ cũng không bỏ sót, chỉ cần không bị ngăn cản thì nó có thể nuốt tới khi trời đất hoang tàn.

Ngọn lửa không ngừng biến mất, Lưu Diệu Văn bước tới sau lưng Tống Á Hiên, khom lưng nhìn chiếc rương đựng sách kia. Thái độ bình tĩnh không hoảng loạn.

Lý tiên sinh và Thẩm Mạn Di cũng không có phản ứng gì, một người cầm một chiếc bút máy gác trên nghiên mực, một người thì chớp chớp mắt nhìn hắn.

Hạ Tiều nghĩ ngợi, tiếp tục che mặt. Bởi vì mất mặt quá.

Cậu để lộ một con mắt qua kẽ hở ngón tay, dịch tới sau lưng anh mình và ông chủ Lưu, sau đó nghe thấy tiếng khóa đồng trên rương sách 'leng keng' rơi xuống đất, rương đã bị mở.

Ngọn lửa bùng cháy hai lần cuối cùng cũng bị đẩy lùi. Năm ngón tay trái của Tống Á Hiên khép lại, thu Đằng Xà về, tay phải đồng thời mở rương sách.

Bọn họ cứ tưởng sẽ trông thấy thứ gì đặc biệt lắm, ví dụ như ảnh chụp, đồ cũ hoặc là thư từ sách vở ghi chép thông tin mấu chốt. Ai ngờ bên trong rương sách toàn là giấy, trên giấy viết lít nha lít nhít chữ.

Tống Á Hiên tiện tay lật mấy tờ, ánh mắt lướt qua những nội dung kia.

Hạ Tiều ở đằng sau khẽ lầu bầu: "Đây là cái gì? Đoạn trích những bài thơ nổi tiếng à?"

"Bài tập mà tiên sinh đã giao." Giọng cô gái nhỏ vang lên.

"Bài tập?"

Thẩm Mạn Di gật nhẹ đầu, ngồi xổm xuống bên cạnh rương sách nghiêm túc nói: "Tiên sinh giao bài tập để chúng em luyện chữ, ngày nào cũng phải nộp."

Cô bé ngừng một chút, sau đó nhỏ giọng nói: "Em không thích luyện chữ nên toàn nộp thiếu."

Chữ phía trên cùng rất quen thuộc, không khác trong cuốn nhật ký cho lắm, nét bút non nớt mềm mại nhưng vô cùng nắn nót. Chắc là chữ của tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm.

Tống Á Hiên tìm được phần ghi tên của nó trên trang thứ ba, tên là Thẩm Mạn Thăng. Cái tên khá là nho nhã, rất hợp với nét chữ, sự tương phản nổi bật của quyển nhật ký càng khiến người ta vô cùng sợ hãi.

Sau phần ghi tên là lời phê bằng bút đỏ của Lý tiên sinh, chỉ có một dấu chấm biểu thị đã xem.

Tống Á Hiên lật tung gần nửa chiếc rương, nội dung từ đầu đến cuối đều như vậy—-Thẩm Mạn Thăng luyện hai ba trang chữ, Lý tiên sinh phê một dấu chấm, ngoài ra không có bất cứ ý kiến gì, xem ra chính là bài tập hàng ngày đơn giản và thường xuyên nhất mà thôi.

Cái này thì có gì mà phải khóa vào?

Tống Á Hiên đang buồn bực, chợt nghe thấy bên cạnh truyền tới một tiếng động quỷ dị, tựa như có thứ gì đó đâm vào trong da thịt, chậm rãi rạch xé.

Hắn quay đầu nhìn, chỉ thấy vị Lý tiên sinh dạy học kia đang nằm nhoài trên bàn, tay cầm một chiếc bút máy kiểu cũ, dùng ngòi bút rạch cánh tay của mình.

Cảnh tượng này cực kỳ đáng sợ!

"Anh làm gì đấy?" Tống Á Hiên lập tức kéo dây rối muốn ngăn cản động tác khiếp người của gã. Kết quả Lý tiên sinh nắm chặt cây bút, chậm rãi quay đầu nhìn hắn.

Con mắt của vị tiên sinh dạy học này đã thối rữa, không thể nhìn ra ánh mắt được nữa, cũng càng không thấy nổi biểu cảm. Nhưng có lẽ do hốc mắt gã vẫn luôn chảy nước ồ ạt nên nhìn như thể đang khóc, cũng lộ rõ vẻ kiên quyết.

Vết thương trên cánh tay gã lật cả da thịt, ban đầu tuôn ra một vũng nước lớn, về sau mới chậm rãi rỉ máu.

Lý tiên sinh nhìn chằm chằm nơi đó, đợi máu từ từ đọng lại thành vũng nhỏ mới dùng bút máy cẩn thận chấm một chút, gã đang dùng máu thay cho mực.

"Tôi..." Hạ Tiều không nói nên lời, kinh ngạc nửa buổi mới nhịn không được bảo: "Anh chấm nước cũng có thể viết mà, đừng rạch tay chứ!"

Nhưng dường như Lý tiên sinh không nghe thấy chữ 'nước' này, gã run người một cái, lại cúi đầu xuống dùng sức viết một chữ lên giấy.

Có thể vì dùng sức quá nhiều, ngón tay gã run rẩy, đến mức chữ viết ra xiêu xiêu vẹo vẹo khó mà đọc được. Nhưng bọn Tống Á Hiên vẫn nhận ra.

Đó là chữ 'Thẩm'.

Lý tiên sinh viết xong liền nhìn chòng chọc vào chữ ấy, suýt chút nữa bẻ gãy cả cây bút máy. Hình như gã vẫn không hài lòng lắm, nhìn mấy giây lại xóa chữ xiêu xiêu vẹo vẹo kia đi, tìm một chỗ trống đặt bút lần nữa.....sau đó lại viết một chữ 'Thẩm'.

Hạ Tiều: "?"

Cậu không hiểu được hàm nghĩa của hành động này, mặt mũi tràn đầy nghi vấn liếc Tống Á Hiên một lát, lại thấy anh mình cũng không ngẩng đầu lên, ánh mắt rơi vào trên tờ giấy, không hề có ý thúc giục, mặc cho Lý tiên sinh tự do thể hiện.

Thế là vị tiên sinh dạy học này viết rồi xóa, xóa rồi lại viết, ít lâu sau viết kín cả trang giấy.

Cả mặt giấy đều là chữ 'Thẩm' màu máu, trông thấy mà giật mình ghê rợn, hơn nữa nét bút càng ngày càng nhanh, càng ngày càng cẩu thả, cảm xúc cũng càng trở nên kích động.

Hạ Tiều rốt cục nhớ tới câu hỏi trước đó của Tống Á Hiên, hắn hỏi Lý tiên sinh: "Anh đang sợ ai?"

Nếu như không nói lên lời thì có thể viết ra. Thế là Lý tiên sinh viết chữ 'Thẩm' đầy giấy.

"Cho nên người gã sợ hãi là tiểu thiếu gia Thẩm Mạn Thăng nhà họ Thẩm?" Hạ Tiều quay đầu nhìn về phía rương sách.

Tống Á Hiên trầm ngâm giây lát, ấy thế mà lắc đầu.

"Không phải ư?" Hạ Tiều chỉ vào con chữ đẫm máu trên giấy, ngạc nhiên nói: "Đã phải dùng cả máu để viết rồi."

"Vậy sao không viết tên đầy đủ?" Tống Á Hiên hỏi vặn lại.

Hạ Tiều nghẹn họng.

So với sự thù hận sâu đậm, nét chữ đẫm máu, Tống Á Hiên cảm thấy Lý tiên sinh càng giống như đang đấu tranh giãy dụa hơn—có lẽ gã muốn viết chữ khác, nhưng vừa đặt bút cũng chỉ có thể viết ra chữ này, cho nên cứ viết rồi lại sửa, sửa rồi lại viết.

Ngay khi ý nghĩ này xuất hiện, Lưu Diệu Văn bỗng nhiên mở miệng nói: "Cậu qua đây xem thứ này."

Tống Á Hiên ngẩng đầu, chỉ thấy Lưu Diệu Văn rút ra một trang giấy từ tầng cuối cùng của rương sách, đặt lên một góc bàn đọc sách, ngón trỏ nhẹ nhàng gõ vào phần đề tên.

Cái này vẫn là bài tập luyện chữ của tiểu thiếu gia Thẩm Mạn Thăng, mỗi tội lần này lời phê của Lý tiên sinh không chỉ có một dấu chấm, mà là một đoạn văn.

Đoạn văn đó được phê bằng bút đỏ, trải qua năm tháng liền có màu rỉ sắt như máu của Lý tiên sinh.

Gã viết: Đừng bắt chước chữ viết của A Tuấn nữa, nó học viết muộn nên còn thiếu sót hơn các con rất nhiều. Thầy không biết các con đang đùa giỡn hay là vì gì khác, vẫn cứ tiếp tục không hề có tiến bộ chút nào, học lâu rồi mà vẫn không thể thay đổi được, lại còn không biết lễ phép.
Mặt sau tờ giấy cũng có nét mực, có thể thấy lờ mờ.

Tống Á Hiên lật mặt giấy trông thấy một vệt mực lớn. Chắc là tiểu thiếu gia Thẩm Mạn Thăng đã viết một đoạn văn biện giải đáp lại lời phê bằng bút đỏ của Lý tiên sinh. Nhưng không biết vì sao lại xóa đi.

Mức độ nhiều ít của vệt mực này không giống nhau, phải soi dưới ánh sáng mới miễn cưỡng nhìn ra được bản gốc lúc đầu———

"Con không...." Hạ Tiều lật đi lật lại tờ giấy, sau khi thử nghiệm mấy lần mới nói: "Em cố gắng lắm rồi, đằng sau thật sự nhìn không rõ, chỉ có thể đọc được hai chữ này thôi."

Thế nhưng, con không làm sao?

Con không làm thế? Con không thay đổi? Hay là con không nên làm thế?

Sau khi xóa những chữ kia đi, Thẩm Mạn Thăng viết một câu ở bên cạnh xem như câu trả lời cuối cùng dành cho Lý tiên sinh.

Nó viết: Con biết rồi, thưa tiên sinh.

Hạ Tiều nhìn chằm chằm tờ giấy kia, biểu cảm vô cùng có trách nhiệm, xen lẫn với suy tư và khó hiểu: "Hiện tại em rất mông lung, cảm giác như bắt được gì đó nhưng lại vô cùng mơ hồ."

Cậu nhíu chặt mày lẩm bẩm: "Em phải gỡ rối một chút.....vậy là vị tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm này cố tình bắt chước chữ của anh Tuấn?"

Trò đùa của trẻ con thường khiến người ta nghĩ không thấu, dù là vô tình hay cố ý thì cũng không thể phân biệt rõ ràng. Hạ Tiều nhớ khi còn bé, phố đối diện có một thằng nhóc nói lắp, thế là những đứa trẻ khác kéo đàn kéo lũ bắt chước nó, biến thành 7-8 đứa nói lắp, sau đó chúng nó bị phụ huynh tẩn cho một trận, rất lâu sau mới sửa lại được.

Mục đích ban đầu học nói lắp của mấy đứa bé kia rất khó xác định, có đứa là cảm thấy vui, có đứa lại làm thế nhằm chế nhạo.

"Nếu như vì chế nhạo, vậy thì đúng là xấu xa. Nhưng nó lại rất ngoan ngoãn nói bản thân biết rồi." Hạ Tiều luôn cảm thấy hình tượng của vị tiểu thiếu gia họ Thẩm này tràn ngập mâu thuẫn khiến cho người ta rối rắm, "Cũng không biết sau này sửa được chưa——"

"Rất rõ ràng là không đổi, hoặc là không đổi được nữa." Lưu Diệu Văn nói.

Anh ta nói chắc như đinh đóng cột, Hạ Tiều không kịp phản ứng, vô cùng thắc mắc: "Sao anh biết?"

Lưu Diệu Văn chỉ cái rương sách kia nói: "Chữ đều ở kia, không lẽ cậu đọc ngược à?"

Hạ Tiều sửng sốt một chút, bỗng nhiên đỏ mặt. Cậu nhận ra bản thân đã phạm phải sai lầm cấp thấp nhất——-

Chữ trong rương xếp chồng từng tờ lên nhau, tờ ở dưới cùng được viết sớm nhất. Nói theo cách khác chính là sau khi Lý tiên sinh phê bình 'Đừng bắt chước chữ A Tuấn nữa', chữ của Thẩm Mạn Thăng vẫn không có thay đổi lớn. Từ ngày này qua tháng nọ, chữ viết 'bắt chước A Tuấn' đã chất đầy một rương.

Mà Lý tiên sinh cũng không nói gì thêm, lời phê chỉ có một dấu chấm, có lẽ bó tay hết cách với vị thiếu gia này, cũng có khi là lười chẳng thèm quản nữa.

Bảo sao Lưu Diệu Văn nói như vậy.

Viết như thế suốt một thời gian dài, cho dù Thẩm Mạn Thăng muốn thay đổi thì cũng không thể đổi được nữa. Bất kể lý do gì, chữ viết mà nó học được đã chậm rãi biến thành chữ của bản thân.

Hạ Tiều chậm rãi nói: "Cho nên chữ của Thẩm Mạn Thăng và anh Tuấn rất có thể tương tự nhau?"

Tống Á Hiên: "Khác biệt không nhiều."

Hạ Tiều mở to hai mắt nhìn: "Nếu như vậy...."

Chữ trong quyển nhật ký bỗng chứa đựng hai hàm ý: Đó là chữ của Thẩm Mạn Thăng, cũng là chữ của anh Tuấn.

Nếu như nhật ký thật sự là bản thân Thẩm Mạn Thăng viết thì đành thôi. Còn nếu có một phần là do A Tuấn viết thì sao? Thậm chí....tất cả vốn đều là do A Tuấn viết?

Từ trước cho đến bây giờ Tống Á Hiên chưa từng đưa ra kết luận xấu nào về tiểu thiếu gia Thẩm Mạn Thăng. Bởi vì chiếc giường trong phòng ngủ, cũng vì cuốn nhật ký kia.

Hắn luôn cảm thấy một đứa bé không muốn để cho người khác ngủ trên chiếc giường dành cho người hầu thô sơ, đồng ý san sẻ một nửa giường của mình cho người ta, dù có thế nào cũng không thể bẻ gập người chị mình nhét vào trong sô pha chỉ vì cô bé thích cười và hay ồn ào đâu.

Mà cuốn nhật ký kia luôn nhắc tới anh Tuấn——–Thẩm Mạn Di thường lôi kéo anh Tuấn chơi cùng vào những lúc không hợp thời nên rất đáng ghét. Lý tiên sinh thường chê chữ anh Tuấn, vì lẽ đó mà rất hà khắc.

Tống Á Hiên cảm giác cuốn nhật ký bị cắt rất là kỳ quái, như ngay đây—–vì nhân quả của mỗi cá nhân, mỗi chuyện trong nhật ký đều không liên quan đến bản thân tiểu thiếu gia.

Mà nội dung thường có mâu thuẫn, lúc thì nói 'Thẩm Mạn Di lôi kéo bé gái chơi trò cô dâu thật giả thì cũng đành thôi, còn hay kéo theo cả anh Tuấn', lúc lại nói 'Thẩm Mạn Di còn thích bắt mình đoán cô dâu thật giả'.

Trước đó Tống Á Hiên cứ tưởng trạng thái của người viết nhật ký không ổn, để lộ sự điên cuồng bị đè nén, cho nên nội dung mới có chút mất trật tự.

Nhưng bây giờ, khi tập trung tất cả những điểm này lại, mọi thứ bỗng nhiên trở nên rõ ràng.

Nếu chữ trong nhật ký là A Tuấn; nếu như câu chuyện trong nhật ký là A Tuấn mượn lời tiểu thiếu gia kể khổ cho mình; nếu như chữ 'Anh Tuấn' và 'mình' để chỉ cùng một người, như vậy thì tất cả mọi chuyện sẽ liên kết với nhau.

Chỉ còn một vấn đề......

Vóc người A Tuấn và Thẩm Mạn Thăng xêm xêm nhau, đều nhỏ hơn một chút so với Thẩm Mạn Di. Chuyện Thẩm Mạn Thăng không làm được, vì sao cậu ta lại làm được?

.....

Tống Á Hiên trầm ngâm suy nghĩ.

Chớp mắt ấy, hắn cảm giác bản thân đã nghĩ ra điều gì đó, nhưng còn chưa kịp bắt được thì bị tiếng rạch da thịt của Lý tiên sinh cắt ngang mạch suy nghĩ.

Lý tiên sinh chấm ngòi bút vào máu, định cố chấp viết lại chữ 'Thẩm', nhưng bị Tống Á Hiên ngăn cản.

"Đợi đã." Tống Á Hiên nhìn vào hốc mắt trống rỗng của gã hỏi, "Có phải anh đã nói hoặc làm chuyện gì đó khác thường không?"

Nếu không thì sao 'tiểu thiếu gia' lại viết 'Lý tiên sinh phát hiện ra rồi' trong nhật ký, còn vội vàng giết gã.

Động tác của Lý tiên sinh cứng đờ, giọt máu dính trên ngòi bút nhỏ xuống mặt giấy hóa thành một vệt màu đỏ. Gã nắm chặt cổ tay mình, mãi sau mới dùng sức viết ba chữ lên giấy:

Tới tìm tôi.

"Anh không phải ở đây à?" Hạ Tiều khó hiểu hỏi.

Nói xong cậu mới nhận ra, ở đây chỉ là 'Lý tiên sinh' quay về lúc đêm khuya, Lý tiên sinh thật sự sẽ bị nhốt trong một nơi nào đó không thấy ánh mặt trời như Thẩm Mạn Di trong ghế sô pha.

"Vậy anh ở đâu?" Hạ Tiều vội hỏi.

"Không hỏi ra được." Lưu Diệu Văn đóng rương sách, đứng thẳng người. Anh ta cầm tờ giấy luyện chữ trên bàn, gấp gọn gàng, chỉ vào cửa nói với Tống Á Hiên: "Đi thôi, đi tìm anh ta."

Bọn họ hiểu rất rõ về kiểu tồn tại này của Lý tiên sinh. Mọi người có thể hỏi gã rất nhiều chuyện, gã sẽ cố gắng nói tất cả dưới tình huống phối hợp. Duy chỉ có nơi gã chết là điều cấm kỵ.

Giống hệt như Thẩm Mạn Di khi trước, không muốn nhìn thấy và không muốn nhắc tới.

Quả nhiên Hạ Tiều trông thấy Lý tiên sinh nắm chặt bút không nói lời nào, một giây sau đầu chiếc bút máy gãy 'cạch', máu nhỏ xuôi xuống, nháy mắt chảy đầy cả bàn sách.

Hạ Tiều quay đầu nhìn, anh cậu và ông chủ Lưu một trước một sau ra cửa từ bao giờ. Trong phòng chỉ có cậu và hai con 'quỷ' mắt lớn trừng mắt nhỏ, cậu ngay cả thét lên cũng quên mất, nhanh chân bỏ chạy.

Kết quả Thẩm Mạn Di và Lý tiên sinh phi còn nhanh hơn cậu.

Tống Á Hiên đứng trong hành lang giật nhẹ dây rối, kéo xong mới nhớ mình giật thừa một sợi——

Sợi dây buộc hai con rối là Thẩm Mạn Di và Lý tiên sinh bay nhè nhẹ, nháy mắt xuất hiện trước mặt hắn. Còn sợi thứ ba....

Cái sợi thứ ba va vào sau lưng, vịn nhẹ vào vai hắn mới đứng vững được bước chân, dở khóc dở cười hỏi một câu: "Cậu giật dứt khoát như vậy, có phải quên mất còn có một người bị buộc trên dây không?"

Phải.....

Nhưng Tống Á Hiên sẽ thừa nhận à?

Còn lâu.

Hắn lên tiếng bác bỏ, trầm giọng bảo: "Có chuyện."

Lưu Diệu Văn gật nhẹ đầu, buông thõng tay tỏ vẻ rửa tai lắng nghe: "Chuyện gì mà cách ba năm bước không nói được, nói tôi nghe xem nào."

"....."

Tống Á Hiên không bịa được, dứt khoát từ bỏ. Hắn quay đầu nói với Lý tiên sinh: "Tìm khắp nơi sẽ tốn thời gian, cho nên...."

Nói xong, một tay Tống Á Hiên quấn dây rối, một tay túm bả vai Lý tiên sinh đẩy gã tiến một bước lần lượt về các hướng đông tây nam bắc.

Mặt mũi Lý tiên sinh tràn đầy mờ mịt, Tống Á Hiên bảo gã đi thế nào thì gã đi thế đó, duy chỉ có lúc nhắm hướng đông mới hơi chần chừ một chút. Dường như có sự kháng cự với hướng kia.

Gã định lùi về phía sau, nhưng Tống Á Hiên đã cản đường lui.

Đối phương đi ngược lại con đường cũ, đẩy gã tiến một bước về hướng gã sợ nhất, nói nhỏ: "Tiếp tục đi, đừng dừng lại."

Lúc Hạ Tiều đuổi tới, cậu thấy anh mình vừa đi vừa điều chỉnh phương hướng theo phản ứng của Lý tiên sinh. Hệt như khi cậu mở app chỉ đường rồi dò đường về phía trước theo hướng mũi tên chỉ.

"Thế mà cũng được???"

Hạ Tiều phục sát đất, ngoan ngoãn đi theo sau lưng Tống Á Hiên và Lưu Diệu Văn, vừa đi vừa ngó nghiêng bốn phía, từ trần nhà tới khe hở của thảm trải sàn, thậm chí vách ngăn thủy tinh cũng không bỏ sót.

"Khỏi cần nhìn trái ngó phải." Lưu Diệu Văn khẽ nhắc nhở.

Hạ Tiều khẽ hỏi: "Vậy nhìn ở đâu?"

"Chỗ có xà ngang, có thể buộc dây thừng, nơi có nước." Tống Á Hiên không quay đầu trả lời. Hắn xác định được rõ mục tiêu, ánh mắt chưa từng lơ là cho nên lướt mắt rất nhanh.

"Nhà tắm, mái hiên, xà nhà gần cửa sổ, hoặc là——" Hắn nói được một nửa, bỗng dừng bước im bặt.

"Sao thế anh?" Hạ Tiều hỏi.

Nhưng một giây sau liền nhận ra nguyên nhân anh mình dừng lại, bởi vì lúc Lý tiên sinh tới gần cửa sân sau, gã đột nhiên co rúm, điên cuồng muốn lùi về sau.

Tống Á Hiên nhanh tay lẹ mắt quấn một vòng dây mới kịp thời ổn định gã.

Sân sau?

Tống Á Hiên nhíu mày.

Hắn dứt khoát mở cửa, bật đèn hiên ở sân sau.

Vừa bước vào liền ngửi thấy một mùi khô héo nồng đậm. Cả sân toàn là hoa giống như lời Thẩm Mạn Di từng kể, xung quanh khung xích đu có một khóm hoa màu vàng nhạt, những bông hóa đó trông như tai thỏ dựng thẳng đứng, cũng giống nơ con bướm thon dài.

Chẳng hiểu vì sao, Tống Á Hiên chợt nhớ tới dưới chân núi Tùng Vân cũng từng có loại hoa này, hoa màu trắng, sạch sẽ như tuyết trên đỉnh núi, còn sinh động và đầy sức sống hơn cả tuyết.

Hắn vẫn nhớ loại hoa này tên là hoa anh thảo.[1]

[1] Tên khác: tiên khách lai, hoa tai thỏ ....

//
anh thảojpg

"Tai thỏ!" Thẩm Mạn Di kêu lên định nhào qua. Lâu lắm rồi cô bé không thấy khu vườn này nữa, nhưng vừa mới bước một chân vào, cô bé đột nhiên rụt mạnh về như bị bỏng.

Sau đó cô bé ngồi xổm cạnh cửa không nói năng gì.

Khu vườn này tươi sáng sặc sỡ đủ sắc màu, lại không hiểu vì sao mà tràn ngập sự chết chóc.

Trong sân rõ ràng có gió thổi, chiếc xích đu khẽ đung đưa, nhưng những bông hoa màu vàng nhạt và dây leo cỏ dại lại không hề lay động, dù một chút cũng không có.

Tống Á Hiên quét mắt một vòng, cả sân ngoại trừ xích đu và giàn nho ra thì không có chỗ nào cao hơn người. Cho dù muốn treo Lý tiên sinh lên xích đu thì cũng không tìm được điểm tựa.

Nhưng Lý tiên sinh đã sợ đến mức không đi nổi nữa.

Gã luống cuống tay chân, không biết nên ôm cổ hay là che mắt trước, chạy trối chết tới một góc trong sân.

Tống Á Hiên tiến về trước một bước, gã càng hoảng loạn hơn.

Trong lúc bồn chồn, âm thanh kẽo kẹt kia lại xuất hiện, vang vọng trong đêm tối tĩnh mịch, như sợi dây thừng quấn quanh cột gỗ chông chênh, vật nặng trĩu xuống, đong đưa từ bên này sang bên kia.

Lý tiên sinh co rúm bên tường, ngửa mặt nhìn lên đỉnh đầu, dường như nhìn thấy một chiếc dây thừng không hề tồn tại.

Lưu Diệu Văn đứng ở bên cạnh, cúi đầu nhìn Lý tiên sinh một hồi rồi ngẩng đầu lên. Tống Á Hiên tưởng anh ta biết được điều gì bèn liếc về phía anh, lại phát hiện anh ta đang ngắm trăng.

Phía chân trời có một vầng trăng tròn, đường viền không rõ ràng, áng sương mù che khuất ánh trăng, âm u vô hồn hệt như mấy bông hoa trong sân, lại như một cái lỗ hổng được thợ thủ công kỹ năng vụng về bổ sung thêm vào.

Tống Á Hiên nhìn chằm chằm cái 'lỗ' kia, đột nhiên sắc mặt hắn thay đổi.

Hắn nghĩ tới một nơi.

Có khúc gỗ, có thể buộc dây thừng, không cần cao và không cần dùng quá nhiều sức, vẫn dễ dàng treo cổ được người———

"Là giếng nước."

Hắn nói rồi sải bước băng qua sân sau. Tìm được một miệng giếng cách xích đu không xa.

Giếng này bỏ hoang đã lâu, xà ngang bắc trên miệng giếng bị gãy rơi dưới đất. Trên miệng giếng còn đè một tảng đá. Nó được bao phủ bởi cỏ dại mọc um tùm, nếu không chú ý thì không thể nhìn ra.

Tống Á Hiên quỳ một chân, vươn tay nhấc tảng đá lên, một mùi thối nồng nặc phả vào mặt.

Hạ Tiều chậm hơn Lưu Diệu Văn nửa bước vội vàng chạy tới, bị mùi hương kia xông cho ngã ngồi bên cạnh giếng. Cậu nín thở thò đầu vào nhìn, mặt cắt không còn một giọt máu——–

Miệng giếng này vẫn chưa cạn, còn đọng một vũng nước, vị tiên sinh dạy học gầy nhom kia đang nằm trong vũng nước.

Gã ngồi dưới đáy giếng, trên cổ là dây thừng mục nát, khuôn mặt bị ngâm trương phồng trắng bợt đã không còn nguyên dạng đang ngẩng đầu lên. Tóc bồng bềnh trong nước như rong bèo, xoắn bện với rêu xanh trên thành giếng.

Gã cứ nhìn đỉnh đầu như vậy thì tất nhiên là không thể yên nghỉ rồi. Cũng không biết đã ngồi bao lâu mới đợi được người tới.

Tống Á Hiên vịn mép giếng, im lặng không nói gì.

Hắn nhíu mày, cụp mắt bình tĩnh nhìn xuống đáy giếng.

Sau một lúc lâu, có người dùng ngón tay nhẹ nhàng vỗ gáy hắn. Tống Á Hiên quay đầu, trông thấy có người đứng sau lưng mình. Lưu Diệu Văn cúi đầu nói: "Có tôi che chắn rồi, anh ta không thấy đâu, đón người lên đây đi."

Anh dùng từ 'đón', một từ rất đơn giản nhưng lại khác xa với rất nhiều người.

Tống Á Hiên nhìn Lưu Diệu Văn, ánh mắt lay động. Lúc ấy hắn dường như muốn nói gì đó, nhưng cuối cùng chỉ ừ một tiếng rồi dời mắt nhìn xuống đáy giếng lần nữa.

Hắn thả sợi dây rối cuốn lấy người mềm như bông dưới giếng.

"Che kín chút." Hắn không quay đầu nói.

"Ừ." Lưu Diệu Văn đáp lại.

Thi thể được đặt trên mặt đất được cỏ dại mọc um tùm và hoa lá che khuất, đứng xa một chút thì sẽ chẳng nhìn thấy cái gì. Nhưng nhờ có sự liên kết từ sợi dây rối, Tống Á Hiên vẫn có thể cảm nhận được Lý tiên sinh co rúm gần cửa sân sau đang run rẩy.

Hễ cứ là người nóng tính một chút thì oán khí có thể lật tung cả khu vực sân sau. Nhưng đám sương đen kia chỉ ùa ra liên tục từ người Lý tiên sinh tựa như dòng nước trong hốc mắt gã, vừa dữ dội lại vừa im ắng.

"Anh ơi, trong giếng hình như còn thứ gì đó." Hạ Tiều đột nhiên thì thào.

Tống Á Hiên nhìn thử, quả nhiên thấy có thứ gì đó bị ánh trăng rọi thành màu xanh đỏ như vết gỉ sắt trong lớp bùn dưới đáy giếng.

Đó là một chiếc hộp nhỏ bằng đồng, lớp vỏ mỏng, được bịt kín. Có lẽ do bị gỉ, cũng có thể do bùn lắng bao phủ. Tống Á Hiên vớt nó lên, dùng sức cạy mở, phát hiện đồ bên trong không bị hư hỏng quá nhiều.

Đó là một tập thư.

Tống Á Hiên nhìn qua thì thấy phong bì viết gọn gàng thông tin người nhận và người gửi, có dán tem và đóng dấu. Đa số đều là Lý tiên sinh nhận được, những lá thư kia được cùng một người tên là Từ Nhã Dung gửi.

Bức thư trên cùng thì ngược lại, người gửi là Lý tiên sinh và người nhận là Từ Nhã Dung, nó cũng được dán tem, nhưng không rõ vì sao lại bị trả về.

Rõ ràng đây là hộp thư của Lý tiên sinh. Không biết vì sao lại rơi dưới đáy giếng với gã.

Có thể vì Lý tiên sinh phát hiện ra chân tướng về việc mất tích của Thẩm Mạn Di nên đã làm hoặc chuẩn bị làm gì đó, sau đó định mang theo hộp thư rời khỏi nhà họ Thẩm?

Trực giác mách bảo Tống Á Hiên rằng trong thư sẽ có nhiều manh mối quan trọng, nếu không thì Lý tiên sinh sẽ không làm trái bản năng của mình, cố gắng viết chữ 'Tới tìm tôi' cho hắn.

Hắn chọn bức thư mà Lý tiên sinh không thể gửi và mở nó ra trước.

Nét chữ văn nhã của tiên sinh dạy học chiếm đầy trang giấy, khác hẳn với chữ 'Thẩm' xiêu xiêu vẹo vẹo, vừa nhìn đã biết được luyện tập từ nhỏ, mang đầy khí chất văn chương.

***

Nhã Dung vợ anh, thấy chữ như thấy người.

Bức thư lần trước em gửi có nói mình bị cảm lạnh, đã hơn nửa tháng trôi qua mà vẫn chưa thấy khỏi hẳn, anh lo đến mức đầu lưỡi nhiệt loét hai chỗ. Không biết lần này nhận được thư, cơ thể em đã khỏe hơn chưa, nếu như tình trạng vẫn không tiến triển rõ rệt thì nhất định phải tới Nam Phong tìm Tăng đại phu, để anh ta khám rồi kê đơn thuốc cho em. Đừng tìm mấy tên lang băm.

Tháng này anh không về được, tiên sinh và phu nhân nhà họ Thẩm vẫn chưa về, điện tín gửi đi cũng không thấy hồi âm, thực sự đi không được. Ngày 19 là giỗ chị Thái, từ giờ tới lúc đó cũng chẳng còn bao lâu, anh không thể bỏ mặc lũ trẻ được. Em cũng biết đó, anh từng kể với em rồi, ngày chị Thái mất, Mạn Di bị dọa tới nỗi đổ bệnh, mấy năm nay tình trạng của nó vẫn không khá hơn, đợi tới ngày 19, sợ là nó sẽ lại quậy phá một trận cho xem.

Lần trước em gửi thư bảo anh gửi kèm cho em một bức ảnh. Hôm nọ anh cắt tóc, còn tới tiệm chụp ảnh để chụp một tấm hẳn hoi kẹp vào thư, không biết trông có già hơn năm ngoái không.

Anh không gửi ảnh chụp của những người khác nữa. Ảnh chụp gia đình nhà họ Thẩm lần trước là lúc chị Thái vẫn còn sống, anh vốn định rửa một tấm rồi gửi cho em xem, nhưng trong ảnh cũng thiếu người, Thẩm tiên sinh và phu nhân vẫn chưa về, bà vú chuyên nấu cơm họ Đậu cho rằng chụp ảnh sẽ khiến người ta mất hồn giảm thọ nên không chịu chụp cùng.

Nhắc tới bà Đậu, bà ấy thấy bọn anh khăng khăng đòi chụp ảnh liền tốt bụng dâng cúng cho mỗi người một chiếc đèn trường minh phúc thọ, thường niệm kinh văn và tra thêm dầu, nói rằng muốn bảo vệ linh hồn và tuổi thọ của bọn anh. Ai ngờ chẳng bao lâu sau chị Thái treo cổ. Ngọn đèn trường minh của chị ấy vẫn được cúng bái như trước.

Tinh thần bà Đậu vẫn chưa khá hơn, hôm trước lúc đi ngang qua căn phòng nhỏ còn hơi thổn thức sụt sịt.

Lúc vừa mới dán ảnh, thằng con A Tuấn của chị Thái đến nộp bài tập, anh tạm gác bút xuống một lát nên mực hơi khô, em xem tạm nhé.

Nói đến A Tuấn....nghe nói chị Thái cũng từng là tiểu thư có cuộc sống đài các, sau này gia đình sa sút lụn bại, người chết người bỏ đi, ăn cơm để sống cũng trở thành một vấn đề, cho nên mới tới nhà họ Thẩm, bảo sao chị ấy luôn sầu não uất ức.

Thằng nhóc A Tuấn này vốn phải có mệnh thiếu gia, mấy năm nay mới theo anh học vài con chữ, miễn cưỡng đọc hiểu được văn chương. Nhiều khi nghĩ tới cũng khiến người ta thổn thức không thôi.

Mỗi tội anh không thích tính nó lắm, vô cùng hẹp hòi.

.....

Sau đó Lý tiên sinh lại viết mấy chuyện vặt vãnh thường ngày, không liên quan đến nhà họ Thẩm mấy. Tống Á Hiên lướt tới cuối cùng nhanh như gió, ánh mắt dán chặt lên phần kí tên.

Nơi đó có ngày tháng Lý tiên sinh viết bức thư này——mùng 5 tháng 5 năm 1918.
"Năm 1918...." Tống Á Hiên khẽ thì thầm.

"Năm 18?" Hạ Tiều không dám quấy rầy, nhưng khi thò đầu trông thấy mấy con số vẫn không khỏi ngây người, "Sao lại là năm 18 nhỉ? Trong nhật ký rõ ràng viết là năm 1913—–"

Lời còn chưa dứt, cậu đã ngẩng đầu lên nhìn Lưu Diệu Văn. Thế là nhớ ra Lưu Diệu Văn lúc trước từng nói 'không phải tất cả câu nói trong lồng đều là thật', bọn chúng thường bị ảnh hưởng bởi ý thức của chủ lồng, ít nhiều cũng sẽ khác với sự thật.

"Nhật ký đều là cùng một người viết." Tống Á Hiên không ngẩng đầu nói.

Mối nghi ngờ của Hạ Tiều chưa biến mất, nhưng cậu vẫn ngoan ngoãn gật nhẹ đầu.

Trái lại Lưu Diệu Văn nhìn Tống Á Hiên tràn đầy khen ngợi, bổ sung thêm: "Thậm chí còn có phần cố ý viết ra để cho người khác đọc, ví dụ như bản trong túi của anh cậu."

Anh ta chỉ vào quyển nhật ký trong túi quần jean của Tống Á Hiên nói: "Nếu như ngay cả 'mình' trong đó cũng là giả, vậy thì cậu còn tin tưởng nó làm gì, dỗ dành cho người viết vui vẻ à?"

Hạ Tiều vội vàng lắc đầu, tỏ vẻ bản thân đã nói điều cực kỳ ngu ngốc.

Vừa mới thuyết phục được tiểu Tiều, giọng điệu của Lưu Diệu Văn liền thay đổi, anh ta lại nheo mắt nhìn Tống Á Hiên nói: "Nhưng thư cũng do cùng một người viết, ngang ngửa chẳng kém nhau đâu."

Tống Á Hiên: "....."

Người này tới để phá rối đây mà.

Tống Á Hiên ngẩng đầu, trưng vẻ mặt chết lặng nhìn anh ta, sau đó gấp lá thư lại, lật ngược bức thư rồi dí sát vào dưới mắt Lưu Diệu Văn.

"Nhìn dấu tem thư đi." Tống Á Hiên nói.

Những chi tiết này thật ra không cần phải giải thích cho người ta. Dù sao người giải lồng cũng là hắn, thể chất của Lưu Diệu Văn vốn không thể tham gia được, giống như Hạ Tiều và những người khác, biết được sự thật hay không cũng đều không ảnh hưởng được tới thứ gì.

Nhưng hắn vẫn không nhịn được giải thích cho Lưu Diệu Văn.

Khó mà nói rõ được xuất phát từ tâm lý gì, có lẽ không muốn ra vẻ bản thân độc đoán quá mức mà thôi.

Bức thư nọ gần như chạm vào chóp mũi, Lưu Diệu Văn hơi ngửa đầu ra sau cười nói: "Thấy rồi."

Bức thư đúng là được viết bởi một người, miễn cưỡng mà nói thì không khác quyển nhật ký là bao, nhưng tem thư thì lại không phải.

Trước đó Tống Á Hiên từng nói, vì mọi thứ trong lồng không hoàn toàn là thật nên mới muốn gom tất cả thông tin lại đối chiếu một lần, sau đó phân biệt cái nào thật cái nào giả sẽ dễ dàng hơn.

Bởi dù đây là tiềm thức của chủ lồng thì cũng không thể chú ý được tất cả các mặt, chỉ cần nói dối sẽ luôn có sơ hở.

Trên tem thư có đánh dấu ngày gửi là mùng 6 tháng 5 năm 1918, và lá thư bị hoàn trả đóng dấu ngày 17 tháng 5 năm 1918. Nó trùng khớp với ngày Lý tiên sinh ghi ở phần ký tên trong thư.

Lưu Diệu Văn cầm bức thư trong tay Tống Á Hiên, vừa lật xem vừa nói: "Thời gian trong nhật ký là ngày bao nhiêu?"

Tống Á Hiên rút quyển nhật ký ra khỏi túi, lật tới trang bị gấp mép. Lúc nhìn thấy ngày tháng, hắn nhíu mày nói: "Ngày 19 tháng 5."

Lưu Diệu Văn giơ bức thư lên: "Vừa khéo, cùng ngày giỗ của vú em."

Trong bức thư này, Lý tiên sinh không nói rõ vú em qua đời vào năm nào, nhưng khi Tống Á Hiên xem nhật ký, bỗng nhiên nhận ra 'ngày 19 tháng 5 năm 1913 có lẽ chẳng phải thời gian tiện tay viết linh tinh thôi đâu."

Hắn lại tìm kiếm trong hộp thư, lần này mục tiêu hết sức rõ ràng——nếu như vú em thật sự treo cổ tự sát vào ngày đó năm đó, với thói quen trao đổi thông tin của Lý tiên sinh và vợ mình, sự việc kia có lẽ sẽ được nhắc tới trong thư.

Lý tiên sinh là một người rất ngăn nắp, tất cả thư nhận được đều sẽ sắp xếp theo thời gian. Tống Á Hiên nhanh chóng tìm thấy những lá thư từ năm năm trước, chọn ra ba bức sau tháng 5.

Hắn còn chưa nói rõ mục đích, Lưu Diệu Văn đã rút một lá thư nói: "Mỗi người một bức xem cho nhanh."

Hạ Tiều nghe vậy cũng nhận một lá thư, nhưng vẻ mặt ngơ ngơ ngác ngác.

"Có biết phải xem cái gì không?" Lưu Diệu Văn nói.

Hạ Tiều đỏ bừng mặt, rõ ràng là cậu đang chẳng hiểu mô tê gì.

Ánh mắt Lưu Diệu Văn quét qua khuôn mặt Tống Á Hiên, khoảnh khắc đó không biết anh đang suy nghĩ điều gì. Có lẽ đang cảm khái việc hai anh em cùng một nhà nhưng lại trái ngược nhau.

"Xem xem trong thư có nhắc tới việc vú em qua đời hay không." Lưu Diệu Văn nói.

Hạ Tiều vội vàng gật đầu, bóc dấu tem.

Tống Á Hiên vừa mở miệng liền ngậm vào, đỡ mất công giải thích. Hắn cũng cụp mắt mở phong bì thư, lát sau không nhịn được hỏi một câu: "Sao anh biết?"

Lưu Diệu Văn ngẩng đầu nhìn hắn, sau đó lại cúi đầu cụp mắt mở phong bì thư nói: "Chỉ mình cậu được phép thông minh thôi à?"

Đáng nhẽ Tống Á Hiên phải đốp lại một câu hoặc dứt khoát lờ nó đi như hắn đã từng làm trước kia. Nhưng hắn lại nhìn chằm chằm Lưu Diệu Văn một lúc, bỗng nhiên híp mắt nhả một câu: "Đúng vậy."

Tiếng 'răng rắc' vang lên bên cạnh do Hạ Tiều ngẩng đầu quá mạnh. Tiểu Tiều sợ hãi nhìn anh trai mình, phút chốc khó mà phân biệt nổi anh mình uống lộn thuốc hay là bị đoạt xác.

Lưu Diệu Văn cũng nhìn sang.

Tống Á Hiên không mở miệng nữa, chỉ cúi đầu đọc nội dung bức thư trong tay.

Đây là bức thư hồi âm của Từ Nhã Dung gửi Lý tiên sinh, trên dấu tem ghi ngày 2 tháng 7 năm 1913. Phần kí tên trong thư ghi ngày 14 tháng 6 năm 1913.

Hắn liếc mắt tới dòng thứ hai liền thấy nội dung liên quan tới vú em.

Trước đó thường nghe anh nhắc tới quản gia và tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm, không nhắc nhiều đến chị Thái kia cho lắm, chỉ nói chị ấy dẫn theo con trai là A Tuấn đến sống ở nhà họ Thẩm. Không ngờ lần này nhắc tới lại là chuyện như thế, thật sự khiến người ta đau buồn, một người đang sống sờ sờ sao lại đột nhiên thắt cổ tự tử?

Đứa con trai tên A Tuấn của chị ấy chắc là tầm tuổi với tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm nhỉ, chín tuổi hay là mười tuổi? Tuổi còn nhỏ đã mất đi chỗ dựa, sau này phải làm thế nào đây, mọi người quan tâm nó nhiều hơn chút nhé.

Mặc dù không nói nhiều nhưng có thể chắc chắn một sự việc——–bà Thái đúng là mất vào ngày 19 tháng 5 năm 1913.

Ánh mắt Tống Á Hiên rơi vào câu hỏi trên bức thư, bỗng nhiên ngẩng đầu hỏi: "Ai cầm bức thư tháng 8 thế?"

Lưu Diệu Văn: "Tôi cầm."

Tống Á Hiên: "Có nhắc tới nguyên nhân vú em treo cổ không?"

Nếu như Từ Nhã Dung đã hỏi một câu trong thư rằng 'Một người đang sống sờ sờ sao lại đột nhiên thắt cổ tự tử?' Theo lẽ thường thì Lý tiên sinh chắc chắn sẽ nhắc tới nguyên nhân trong thư của gã dù ít dù nhiều, bởi vậy nên Từ Nhã Dung cũng có thể nhắc tới trong thư hồi âm của mình.

Quả nhiên Lưu Diệu Văn chỉ vào một dòng chữ trong thư nói: "Cháy rèm màn."

Cách nói này có hơi lạc hậu, Tống Á Hiên nhìn anh ta một cái, nhận lấy bức thư. Chỉ thấy bên trong viết:

Mặc dù rèm màn cháy là một chuyện vô cùng nguy hiểm nhưng dù sao cũng cứu được người rồi, tiểu thư nhà họ Thẩm cũng không bị thương gì, chỉ cần chân thành xin lỗi rồi sau này chú ý hơn là được, mà cùng lắm thì xin nghỉ việc về nhà thôi, sao lại nghĩ quẩn như thế chứ?

Ôi chao,em cũng không biết gì nhiều, không tiện bình luận. Chỉ cảm thấy chị Thái này cũng là một người đáng thương.

Tiểu thư nhà họ Thẩm đỡ hơn chút nào chưa? Trong thư anh có nói cô bé sốt cao không giảm, lòng em cũng hơi lo lắng không yên, cô bé lớn tầm bé con nhà mình thôi, mặc dù em chưa gặp con bé bao giờ nhưng mỗi lần anh nhắc đến nó là trong đầu em lại nghĩ tới khuôn mặt con mình. Trẻ con mà bị sốt thì sợ lắm, nhất định phải chăm sóc cẩn thận, nếu không sẽ ảnh hưởng tới phát triển sau này đó.

Tuy trong thư chỉ nhắc vài ba câu nhưng chắp vá cũng có thể phát hiện ra một sự thật—–

Sợ rằng bà Thái ngày đó làm việc không cẩn thận nên khiến căn phòng bắt lửa, Thẩm Mạn Di suýt chút nữa xảy ra chuyện. Cũng may lửa được dập kịp thời, không gây ra đại họa, làm mọi người sợ hãi một trận.

Nhưng lòng bà Thái cứ quẩn quanh mãi chuyện đó, giống như Lý tiên sinh viết trong lá thư này, bà ta cũng từng có cuộc sống của tiểu thư đài các, sau này gia đình lụn bại mới tới nhà họ Thẩm, thường xuyên sầu não chán nản. Có lẽ sợ bị người ta oán hận, cũng có thể cảm thấy cuộc sống không còn nghĩa lý gì, bất chợt nghĩ chẳng thông nên treo cổ tự sát.

Đến bức thư vào tháng 10 trong tay Hạ Tiều, nội dung liên quan tới chuyện này ít hẳn đi, chỉ nhắc một câu "Anh còn nhớ lão tam nhà họ Chu ở huyện chúng mình không? Lúc nhỏ cũng sốt cao một trận rồi mới thành như vậy, triệu chứng bệnh không khác với tiểu thư nhà họ Thẩm là mấy".

Tống Á Hiên gấp thư thả lại vào trong phong bì rồi ôm chiếc hộp kia đi tới bên cửa sân sau, đặt những lá thư đã từng bị chôn sâu dưới đáy giếng vào trong tay Lý tiên sinh.

Vị tiên sinh dạy học mặc áo dài kinh ngạc nhìn chiếc hộp đồng, đầu tiên nhìn đỉnh đầu một chút, như thể bản thân vẫn đang ngồi bên trong chiếc giếng sâu không thấy ánh mặt trời.

Ai ngờ gã lại trông thấy mái hiên và mặt trăng treo cao.

Ngón tay gã run rẩy mở hộp đồng, vội vàng lật giở đồ vật bên trong, nhìn thấy tên người gửi trên mỗi phong thư đều là Từ Nhã Dung mới chậm rãi buông thõng vai, sau đó ôm chặt chiếc hộp kia như ôm lấy toàn bộ gia sản.

Khoảnh khắc này, đám sương đen trôi bồng bềnh bên cạnh gã phấn chấn bừng bừng, giống như bầy rắn đột nhiên bị đánh thức, bắt đầu có dấu hiệu tàn phá bừa bãi.

Đây là dấu hiệu khi một người u mê ngây dại nhớ ra bản thân muốn điều gì.

Gã nhớ ra rằng bản thân luyến tiếc không nỡ, nhớ tới chấp niệm sâu nặng nhất trước khi chết, nhớ tới lý do mà gã vẫn quanh quẩn mãi trên thế gian chưa rời đi được.

Giống như Thẩm Mạn Di khi trước.

Sương đen bay tán loạn như lưỡi dao mỏng không thể khống chế, chúng sượt qua cánh tay Tống Á Hiên để lại mấy vết cứa, vừa nhỏ lại vừa sâu hoắm. Nhưng Tống Á Hiên không né tránh, cũng không bỏ đi.

Hắn cúi người hỏi Lý tiên sinh giữa đám sương điên cuồng tàn phá: "Thẩm Mạn Di mắc bệnh gì?"

Lý tiên sinh nhìn hắn, nhặt một nhánh cây viết nguệch ngoạc trên mặt đất: Không thể nhớ, không thể lớn.

Tống Á Hiên quay đầu nhìn về phía Thẩm Mạn Di, cô bé đang nắm chặt ngón tay, ngửa đầu ngây ngô nhìn hắn.

"Em năm nay bao nhiêu tuổi?" Tống Á Hiên hỏi.

Cô bé gập đầu ngón tay, rõ ràng đã gập tới lần thứ 16 nhưng lại khẽ nói: "11 tuổi."

Cô bé suýt nữa chết cháy, lại tận mắt trông thấy bà Thái chăm mình lớn lên, may nơ con bướm cho mình treo cổ trên xà nhà.

Cửa sổ gian phòng kia hướng ra sân sau, trước kia cô bé hay chơi đánh đu trong sân, bà Thái ngồi bên cửa sổ thêu thùa may vá, thỉnh thoảng ngẩng đầu nhìn cô bé một chút, dặn bé đừng đu cao quá, cẩn thận té ngã.

Ngày hôm đó cửa sổ cũng mở, bà Thái vẫn ở bên cửa sổ nhưng lại bị treo rất cao. Gió thổi vào nhà, cơ thể trên sợi dậy chậm rãi xoay tròn một vòng.

Thẩm Mạn Di sốt li bì hơn nửa tháng và luôn ngủ mơ trong suốt khoảng thời gian ấy.

Cô bé mơ thấy mình lôi kéo em trai em gái và A Tuấn chơi trốn tìm, bé nghiêm túc chui xuống gầm giường trốn, quấn lấy tấm màn rủ xuống ngủ thiếp đi. Đợi đến khi tỉnh dẩy thì phát hiện xung quanh ngập tràn ánh lửa.

Cô bé mơ thấy bản thân bò ra khỏi đám lửa, thấy được đôi giày thêu treo rất cao của bà Thái.

Bé ngủ lâu ơi là lâu, mãi đến khi không mơ thấy những giấc mơ này nữa mới tỉnh lại. Từ đó về sau, thời gian của bé luôn ngừng ở mùa hè năm 1913.

Sốt cao đã để lại di chứng, em trai em gái và A Tuấn không ngừng lớn lên, chỉ có mình cô bé vẫn vậy. Quần áo rách, cô bé ôm váy ngồi trên giường trong phòng ngủ dưới tầng đợi bà Thái tới vá. Đu dây quá cao, cô bé sẽ quay đầu nhìn khung cửa sổ kia, vẫy tay về phía bên đó.

Lý tiên sinh không ép bé làm bài tập nữa, bà Thái cũng không còn dạy cô bé học nữ công, thế là cô bé có rất nhiều thời gian để chơi đùa.

Thật ra cô bé vẫn thích chơi đánh đu nhất, nhưng không biết vì sao người trong nhà luôn không vui, cô bé muốn chọc mọi người cười cho nên mới nghĩ ra thật nhiều trò chơi, kéo thật nhiều người chơi cùng.

A Tuấn là người không vui nhất, cho nên cô bé luôn dẫn nó theo cùng.

Dù sao cô bé cũng là chị cơ mà.

Mỗi tội người chị gái là bé không thể chơi cùng em trai em gái được bao lâu. Cô bé ra đi vào mùa hạ của vài năm sau, ngày hôm đó A Tuấn cực kỳ không vui cho nên cô bé dùng đủ mọi cách để pha trò, nô đùa đến khi bị giấu vào trong ghế sô pha.

Hôm đó là ngày 19 tháng 5, cùng ngày làn váy của bà Thái bay ra ngoài bệ cửa sổ.

Năm ấy Mạn Thăng và A Tuấn tròn 15 tuổi, vóc dáng cao cao như người lớn, còn cô bé vẫn là một con nhóc 11 tuổi.

Dưới đáy chiếc ghê sô pha kia đầy bụi bặm và mạng nhện, giống hệt như khi cô bé nằm trong gầm giường chơi trốn tìm, mỗi tội chơi trốn tìm không cần vặn gãy cổ và tay chân, không hề đau đớn như vậy.

Mọi thứ dường như là thời gian trôi nhanh, cuối cùng một mạng đền một mạng.

Cô gái nhỏ ngồi xổm cạnh cửa sân sau, biểu cảm ngây ngô dần nhạt bớt, khóe miệng chậm rãi chùng xuống.

Giờ phút ấy, những thứ kiềm chế trong lồng thoáng buông lỏng hơn chút, cả căn nhà rung chuyển như trận động đất tới bất thình lình.

Một vấn đề của Tống Á Hiên đã thức tỉnh cô bé.

Hạ Tiều giật nảy mình, vừa ngồi xổm xuống ổn định cơ thể đã hoảng hốt nói: "Chuyện gì thế này?"

Lưu Diệu Văn: "Lồng sắp tan biến rồi."

Hạ Tiều: "Thật sao? Vì sao thế?"

"Cậu trốn sau tấm màn, trong tay cầm vài quả bóng, đột nhiên có mấy quả mất khống chế rơi ra ngoài. Liệu cậu có sốt ruột ra nhặt lên không?"

"Có chứ."

"Chính là lý do đó." Lưu Diệu Văn nhấc chân đi sang phía Tống Á Hiên, "Anh cậu đang dẫn dụ chủ lồng ra ngoài."

Vừa nghe anh ta nói thế, Hạ Tiều đột nhiên cảm thấy xung quanh mình chỗ nào cũng không an toàn, đằng sau như thể luôn có người nhìn chòng chọc bọn họ, dù sao chủ lồng đến bây giờ vẫn chưa từng xuất hiện: "Hắn sẽ trốn ở đâu?"

Lưu Diệu Văn không quay đầu nói: "Tất cả mọi chỗ, bất cứ nơi nào mà người có thể xuất hiện."

Bất cứ?

Hạ Tiều thần kinh yếu quay đầu ngó nghiêng, sau đó vội vàng đuổi theo anh ta.

Lưu Diệu Văn dừng bước bên cạnh Tống Á Hiên, đưa tay gạt một mảng sương đen. Anh nghe thấy Tống Á Hiên hỏi Lý tiên sinh: "Anh ôm hộp thư định đi đâu?"

Lý tiên sinh run rẩy dùng nhánh cây viết ba chữ trên mặt đất: Đồn cảnh sát.

Qua một lúc lâu, gã lại viết thêm hai chữ bên dưới: về nhà.

"Trước tiên đi đồn cảnh sát báo án, sau đó mang theo thư của anh về nhà, không bao giờ trở lại đây nữa phải không?"

Đã lâu lắm rồi Lý tiên sinh không nghĩ tới chuyện này, đến mức khi Tống Á Hiên nói thẳng câu này ra, gã vô thức lùi về phía sau.

Đó là tư thế sợ hãi và bài xích.

Nhưng sau một hồi, gã vẫn nắm chặt tay gật đầu một cái.

Đúng vậy, suýt nữa gã quên mất, gã muốn tới đồn cảnh sát báo án, sau đó quay về nhà.

Gã không phải là người có lá gan lớn, cho dù phát hiện ra sự việc thì cũng sẽ không nói thẳng mặt. Lúc trước gã đã tính toán đâu vào đó, nhân dịp đêm hôm khuya khoắt, ôm lấy chiếc hộp đồng bảo bối của gã, cầm theo một bức thư giao cho đồn cảnh sát và trốn đi từ cửa sau, không làm kinh động tới bất kỳ ai.

Tường sân sau không cao, trên miệng giếng có kê một tảng đá, nhón chân nhảy một cái là ra được ngoài, với chiều cao của gã thì chỉ là chuyện nhỏ.

Sợ những người khác lo lắng suy nghĩ nhiều, gã còn để lại một tờ giấy trên bàn trà nói trong nhà có việc gấp nên tạm quay về.

Gã ôm thứ quan trọng nhất mò mẫm tới bên tường sân sau, không ngờ rằng đã có người ở đó đợi gã từ sớm.

Khoảnh khắc gã bị dây thừng tròng vào cổ và rơi vào trong giếng đã nghe thấy chiếc đồng hồ trong phòng khách nhà họ Thẩm kêu 'đing đong' hệt như tiếng chuông ở đầu đường hoàng tuyền.

Nháy mắt ấy, trong đầu gã xuất hiện rất nhiều suy nghĩ.

Gã nghĩ đúng ra mình không nên chỉnh giờ đồng hồ lùi về sau. Đêm nào quản gia cũng sẽ tỉnh dậy một lát khi nghe thấy tiếng chuông để uống nước. Nếu như không chỉnh thời gian thì quản gia sẽ tỉnh lại sớm hơn một chút, nhất định sẽ phát hiện ra tiếng động ở sân sau, cũng sẽ cứu được gã một mạng.

Gã lại nghĩ sau này Nhã Dung và bé con không nhận được thư của gã nữa liệu có khóc hay không.

Gã còn nghĩ nếu như đây chỉ là giấc mơ thì tốt biết mấy.

Đây chắc chắn chỉ là nằm mơ thôi.

....

Thế là mỗi một đêm trở về sau, khi tất cả mọi người chìm vào giấc ngủ, Lý tiên sinh đều sẽ ngồi dậy từ trên chiếc giường trong căn phòng kia. Gã sẽ để lại một lời nhắn trên giường cho quản gia, sau đó nhân lúc mọi người chưa tỉnh lại, gã sẽ tới tủ quần áo tìm hộp thư bằng đồng của mình.

Đó là tất cả tài sản của gã, chỉ cần cầm nó theo thì gã có thể rời khỏi nơi này. Nhưng gã tìm hằng đêm vẫn không tìm thấy nó.

....Cho tới hôm nay.

Gã ôm chặt hộp thư, dùng nhánh cây viết lần nữa: Hiện giờ tôi có thể về nhà chưa?

Khi chữ cuối cùng được viết xong, nhà họ Thẩm càng chấn động dữ dội hơn.

Hạ Tiều nhớ tới lời Lưu Diệu Văn vừa nói, lặng lẽ đếm trong lòng: Hai quả bóng rơi xuống rồi.

Có lẽ chủ lồng đã bắt đầu sốt ruột, bởi vì cả tòa nhà đột nhiên xuất hiện màu đỏ vàng, trên tường rọi ánh lửa bập bùng, mấy bóng người lắc lư trong ngọn lửa.

Tiếp theo là tiếng đôm đốp giòn vang giống như tiếng củi khô cháy trong bếp lò.

Sau đó, làn gió nóng thổi tới từ sâu trong hành lang, sóng nhiệt bóp méo từng đường thẳng trong căn phòng.

Bọn họ dường như đang đặt mình trong một biển lửa kỳ quái——cái gì cũng có, chỉ không thấy lửa.

Cùng lúc ý nghĩ này xuất hiện, Tống Á Hiên bỗng nhiên ngẩng đầu nhìn đầu hành lang ngược gió.

"Đóng cửa!!!" Có người gào lên từ đằng xa.

Giọng không to lắm nhưng truyền đi cực xa, đánh thẳng vào màng nhĩ.

Chữ 'cửa' còn chưa tan biến, một đám bóng người đã quẹo qua góc tường, chạy như điên tới!

Tiếng bước chân lộn xộn quanh quẩn trong hành lang, lộ ra vẻ căng thẳng và sốt ruột.

Người dẫn đầu chính là Đại Đông, hắn vừa chạy như điên vừa ra dấu, gào lên bảo: "Có lửa! Lửa cháy đến đít rồi!"

Đám người ngủ mê man trong phòng không chịu tỉnh kia không biết tỉnh lại kiểu gì, rõ ràng chẳng mấy mống người mà khí thế lúc chạy lại rầm rập ầm ầm.

Hạ Tiều không hiểu mô tê gì, la to về phía bọn họ: "Có chuyện gì thế?"

"Em nằm mơ!" Tôn Tư Kỳ mau chóng vượt qua Đại Đông chạy tới bên này, cậu ta lao quá nhanh, bổ nhào vào Hạ Tiều khiến cậu lùi lại mấy bước, va vào bức tường.

"Em là bà..bà gì đó!" Tôn Tư Kỳ ngọ nguậy, "Lúc đầu em muốn tới cái phòng nhỏ tra thêm dầu cho đèn trường minh, ai ngờ gian phòng kia bốc cháy!"

Hạ Tiều hoang mang: "Sau đó thì sao?"

Tôn Tư Kỳ vỗ đùi: "Sau đó cháy bùng lên thôi, cả tòa nhà đều bốc cháy!"

"Ai đốt?" Tống Á Hiên hỏi.

"A Tuấn!" Tôn Tư Kỳ nói xong chợt sững người, có lẽ muốn sửa lời nhưng không còn kịp nữa rồi.

Cả căn nhà lại rung chuyển một lần nữa, cửa sổ tầng trên tầng dưới đều đập ầm ầm.

Thoạt nhìn, trạng thái này của Tôn Tư Kỳ chính là thông qua giấc mơ liên kết với người trong lồng, vô tình mơ thấy những việc mà bà vú nấu cơm nhà họ Thẩm từng trải qua. Tình huống này thông thường sẽ ngủ thẳng tới khi Tống Á Hiên giải lồng, nhưng cậu ta lại có thể tỉnh dậy.

"Sao cậu tỉnh dậy được?" Tống Á Hiên hỏi.

Tôn Tư Kỳ bụm mặt, quay đầu chỉ người đứng phía sau: "Lão Mao vỗ em mấy cái!"

Tống Á Hiên ngẩng đầu nhìn, lão Mao chạy cuối cùng trong đám người. Khi hắn quẹo qua một chỗ rẽ và vọt tới đây, ngọn lửa giống như con rồng cuồn cuộn lao về phía bên này.

Lửa lớn lập tức nuốt sống mấy người tụt lại ở đằng sau.

Tôn Tư Kỳ và Hạ Tiều hít vào một hơi, máu trong người đông cứng.

Ngay giây phút đó, ngón tay buông thõng bên người của Lưu Diệu Văn chợt động đậy. Chỉ nghe thấy một tiếng hót dài trong trẻo tuyền tới từ trong ngọn lửa như cơn gió thổi thẳng xuống dọc theo sườn núi, xuyên qua cả rừng tùng trải dài trăm dặm.

Một chiếc cánh to lớn mạ vàng quét ngang qua từ trong biển lửa, dấy lên bức tường gió với khí thế muôn người không thể phá nổi!

Lửa lớn ngập trời ập vào bức tường gió, đột nhiên bung ra như một bông sen lửa cỡ lớn, nhưng chẳng thể bắn được chút tia lửa nào lên người cả đám.

Đại Đông, Chu Húc và lão Mao chạy ra khỏi đám lửa, vẫn lành lặn không hề hấn gì dưới sự che chở của chiếc cánh kia.

Bọn họ hoảng sợ quay đầu lại trước ánh lửa bập bùng, trông thấy bóng mờ của một chiếc cánh vàng.Erale: Cụ Trần uy vũ yê yê yê, cuối cùng cụ cũng bớt dựa 7749 chỗ, ra tay cứu đàn con thơ rồi (─‿‿─)
 
Chu Húc hoảng hốt: "Đó là gì thế?"

Đại Đông còn hoảng hốt hơn cả nó: "Đại bàng Kim Sí nhể."

Nói xong đầu gối hắn mềm nhũn muốn khuỵu xuống.

Không phải kiểu làm lố quá đà đâu, mà Đại Đông thật sự cảm thấy đầu váng mắt hoa như vừa chạy ma ra tông đường dài, đến nỗi linh tướng như muốn văng ra ngoài. Hắn bấu vai Chu Húc, cố gắng xoa dịu cảm xúc dồn dập kia.

Chu Húc vẫn chưa nhận ra, trợn mắt há mồm quay đầu nhìn hắn: "Anh trâu bò thế cơ à?"

Liên quan gì tới tao???

Đại Đông đang định hỏi vặn lại liền thấy dây rối trong tay mình quăng ra từ bao giờ, kéo thẳng vào trong biển lửa. Thế là Đại Đông cũng trợn mắt há hốc mồm.

Nhưng cảm giác choáng đầu hoa mắt ngăn cản Đại Đông, hắn vừa mới trợn mắt thôi đã nôn khan hai tiếng, đặt mông ngồi phịch xuống đất.

"Anh sao thế?!" Chu Húc vội vàng đi tới đỡ hắn, còn định gọi lão Mao hỗ trợ, ngờ đâu người nọ cũng đang đứng ngây như phỗng.

"Ông ta cũng bị dọa rồi." Chu Húc nói với Đại Đông. Nó ngồi xổm xuống, nể tình màn thể hiện vừa rồi của đại bàng Kim Sí mà vuốt lưng cho Đại Đông một chút.

Lão Mao đương nhiên không phải bị dọa, chiếc cánh kia là hắn thả thì sao có thể sợ hãi được. Huống chi hắn chỉ mới phất tay tạo ra bóng một chiếc cánh, so với đại bàng Kim Sí thật sự thì còn kém xa, dù sao cũng chỉ là hư tướng mà thôi.

Đáng tiếc mấy thằng nhóc không có kiến thức này chẳng phân biệt nổi sự khác nhau, mở mồm là kêu đại bàng Kim Sí, uổng công hắn dụng tâm suy tính.

Hắn đứng ngây ra vì không hiểu——- hắn phất cánh một cái là có thể giãn lỏng tâm lồng ba phần, linh tướng ở gần đều sẽ bất ổn. Chỉ là một biển lửa mà thôi, sao ông chủ nhà hắn lại đột nhiên muốn ra tay?

Để giải lồng ư? Hiện tại Lưu Diệu Văn không thể giải được.

Cứu người chăng? Vậy cũng không cần thiết, Tống Á Hiên hoàn toàn có thể ứng phó được tình huống như này. Cho dù hắn không ra tay thì mấy người kia cũng không thể xảy ra chuyện.

Nhưng lão Mao nhanh chóng hiểu rõ lý do, bởi vì hắn ngửi thấy một mùi hương từ những nơi biển lửa đi qua.

Đó là mùi linh tướng kèm theo hương mai trắng lành lạnh thoang thoảng tràn ra từ nơi nào đó. Mùi hương này đối với lão Mao không thể quen thuộc hơn được nữa.....

Chính là thứ Tống Á Hiên muốn tìm.

Linh vật trời sinh vô cùng mẫn cảm với mùi hương này, ví dụ như con rối hoặc Thẩm Mạn Di và Lý tiên sinh trong lồng....còn cả kiểu nửa chết nửa sống như bản thân Tống Á Hiên.

Nhưng lúc này Tống Á Hiên lại không ngửi thấy mùi hương ấy, bởi vì sự chú ý của hắn đang đổ dồn lên chiếc cánh vừa mới xuất hiện ban nãy.

Hắn nhìn chằm chằm vào phía sâu trong hành lang, cho dù nơi đó đã không còn bóng dáng của chiếc cánh khổng lồ màu vàng, chỉ sót lại khoảng không đen sì và tiếng người nói văng vẳng.

Tiếng trò chuyện của Chu Húc và Đại Đông truyền tới dọc theo hành lang giống như tạp âm hư ảo.

Giọng nói của Hạ Tiều cũng không rõ ràng như cách một lớp kính mờ: "Anh ơi, đó thật sự là đại bàng Kim Sí ạ?"

Hắn bỗng mấp máy môi, giọng nói vừa trầm vừa khàn: "Không phải."

Đại bàng Kim Sí dấy lên gió núi dữ dội sóng biển gầm thét sẽ khiến cho người nhìn thấy mù lòa.

Hạ Tiều gật nhẹ đầu, giọng lí nhí hơn: "Thế sao anh cứ nhìn mãi nơi đó?"

Bởi vì nhớ tới một số chuyện.....

Khoảnh khắc đôi cánh khổng lồ mạ vàng kia giang rộng, hắn chợt nhớ từng có một người rất cao đứng sau lưng hắn, khi gió lốc thốc xuống dọc theo triền núi, người ấy đã vươn tay che kín đôi mắt hắn.

Người kia nói: "Cảnh tượng này không thể nhìn."

Hắn nói với bàn tay đang che mắt mình: "Tôi muốn biết bản thể của đại bàng Kim Sí trông như thế nào."

Người kia nói: "Vậy con nghe đi."

Thế là hắn nghe thấy tiếng lá tùng xào xạc khắp trăm dặm và tiếng muôn chim hót vang.

Hậu bối ai cũng biết đại bàng Kim Sí là con rối đi theo Diệu Văn lâu nhất, nhưng bọn họ trước giờ chưa từng biết hình dạng thật sự của đại bàng Kim Sí, chỉ có thể tự tưởng tượng ra mà thôi.

Tưởng tượng cơ thể của nó trông như thế nào, tưởng tượng nó bay lượn trên bầu trời oai phong ra sao, sau đó trải qua lời đồn đãi được truyền từ năm này qua năm khác mà miêu tả được một hình dáng đại khái.

Ngoại trừ Diệu Văn và bản thân đại bàng Kim Sí ra thì vốn chẳng có ai trên thế gian này trông thấy được hình dáng thật sự của đại bàng Kim Sí, bao gồm cả Tống Á Hiên.

Nhưng khi hắn nhìn thấy chiếc cánh vàng kia lại thoáng có cảm giác thân quen.

....

Hắn nghe thấy Hạ Tiều lại mở miệng bảo rằng ngửi thấy một mùi hương giống hương mai trắng từng có trên người hắn. Sau đó hắn bị Hạ Tiều kéo vào sâu trong hành lang, trông thấy Đại Đông ngồi dưới đất với sợi dây rối thả dài trong tay, lão Mao và Chu Húc đang định đỡ người nọ đứng dậy.

Miệng Chu Húc khép rồi lại mở, kể về cảm nhận của bản thân khi thấy chiếc cánh kia ở khoảng cách gần, nào là gió mạnh bao nhiêu, lông trên cánh chim lóa mắt đến mức nào. Nói Đại Đông vì bộc phát năng lực quá sức chịu đựng của linh thần cho nên chưa ổn định lại được.

Còn nói tiếc là chỉ có một chiếc cánh. Nếu như có thể nhìn thấy toàn bộ hình thể thì không biết chấn động lòng người tới mức nào.

Đại Đông thì chỉ trợn tròn hai mắt, vừa mờ mịt vừa gật gà gật gù, sau đó chậm rãi thu dây rối về.

Tất cả mọi thứ đều hợp tình hợp lý, không có sai sót.

Bọn Hạ Tiều đều vô cùng tin tưởng.

Nếu như Tống Á Hiên vừa mới bước ra khỏi cổng Vô Tướng, không nhớ bất cứ thứ gì đứng ở đây, sợ là cũng sẽ tin tưởng. Nói cách khác, hắn có tin hay không cũng không quan trọng vì hắn vốn dĩ là người không liên quan. Mà khoảnh khắc vừa rồi, những người khác chỉ trải qua cảm xúc hưng phấn bừng bừng chứ không có rung động nào khác.

Đáng tiếc hắn lại không như vậy.

Hắn nhớ tới một vài chuyện cũ nên không thể thờ ơ được.

Hắn cũng từng mượn tay Đại Đông cho nên khi nhìn thấy sợi dây rối rơi trên đất kia, phản ứng đầu tiên không phải cho rằng ai đó đột nhiên bộc phát tiềm lực. Vì  cho dù Đại Đông có bộc phát tiềm lực thế nào đi chăng nữa thì cũng không thể thả ra được thứ khiến hắn có cảm giác quen thuộc.

Đây chỉ là ngụy trang mà thôi.

Cho nên.....

Ngoại trừ Tống Á Hiên ra, trong lồng này còn tồn tại một người lợi hại như thế——

Hắn có thể điều khiển Đại Đông từ xa như cách điều khiển con rối, khiến Đại Đông quăng dây rối ra ngoài nhưng lại không cảm giác được hành động của bản thân. Con rối của hắn có hình dáng của đại bàng Kim Sí, không phải là mô phỏng theo miêu tả trong lời đồn, mà là đại bàng Kim Sí thật sự, ngay cả Tống Á Hiên cũng cảm thấy quen thuộc.

Thứ hắn biết hay hiểu rõ có thể nhiều hơn tất cả mọi người ở đây. Cho nên hắn mới không lo lắng bối rối, càng không cảm thấy bất ngờ hay kinh ngạc mấy.

Hắn không thích bon chen giữa đám người, luôn đứng bên ngoài đám đông nghe và quan sát. Sẽ nhắc nhở vài câu vào thời khắc then chốt, thậm chí ra tay hỗ trợ nhưng không để lại bất cứ dấu vết rõ rệt nào, đến ngay cả Tống Á Hiên cũng không thể tóm được.

Từ quá khứ cho tới hiện tại, Tống Á Hiên chỉ biết và quen một người có thể làm được như thế———

Diệu Văn.

Người này hắn nên gọi một tiếng sư phụ. Nhưng cho dù là trong trí nhớ vụn vặt hay là trong giấc mộng ngắn ngủi, hắn dường như chưa bao giờ gọi đối phương là sư phụ.

Từ trước tới nay luôn gọi là Diệu Văn.

Thế cho nên khi hắn nhớ tới ba chữ kia, cảm xúc không thể tả rõ đột ngột ùa về, khí thế hung hãn hơn hắn tưởng tượng rất nhiều.

Tựa như lần đầu tiên hắn chạm vào nghiệp chướng quanh người Lưu Diệu Văn, xung quanh trở nên trống rỗng như đêm khuya vắng vẻ trên núi Tùng Vân.

Hắn chợt thấy một nỗi buồn không lý do sinh ra từ trong sự vắng vẻ.

Hắn rốt cuộc hiểu rõ vì sao đôi lúc Lưu Diệu Văn nói chuyện kèm theo ngữ khí như thật mà giả. Giọng điệu đó thường khiến hắn cảm thấy lạ lùng.

Bây giờ nghĩ lại, e là thói quen và sơ hở mà thôi.

Bạn cũ chốn hồng trần, gặp lại mà chẳng hề hay biết.

Bởi vì một người đã quên, người còn lại không muốn nói ra.

...

Thế nhưng vì sao lại không nói ?

***

Hạ Tiều và Chu Húc còn đang tranh luận về mùi hương thoang thoảng như có như không kia, một đứa ngửi từ xó nhà tới nền nhà một lượt vẫn không tìm thấy nơi tỏa ra mùi, một đứa thì khăng khăng rằng không ngửi thấy gì.

Không chỉ Chu Húc, bọn Đại Đông và Tôn Tư Kỳ cũng đều lắc đầu nguầy nguậy. Điều này khiến Hạ Tiều có hơi sốt ruột, sợ có liên quan tới linh tướng của anh mình, chỉ vì sơ sẩy mà bỏ lỡ mất.

Việc này không tiện nhiều lời với người khác nên chỉ có thể tìm Tống Á Hiên. Hạ Tiều lần mò khắp nơi không có kết quả bèn vội vàng chạy ngược về, lại phát hiện Tống Á Hiên đang trầm ngâm đứng đó, không biết đang suy nghĩ điều gì.

Vóc người hắn rất cao, cho dù cúi đầu cũng có cảm giác sừng sững cô độc.

Chẳng hiểu sao Hạ Tiều không dám quấy rầy hắn. Cậu chần chờ một lát mới mon men lại gần, chỉ thấy anh cậu đang quay đầu nhìn phía sau lưng.

Hạ Tiều cầm một cây đèn hình nến, lúc Tống Á Hiên quay đầu, ánh sáng vụt qua mắt hắn. Trong nháy mắt ấy, đáy mắt hắn lại phiếm đỏ.

Hạ Tiều hoảng sợ không dám thở mạnh. Chỉ nhìn theo tầm mắt hắn.

Lưu Diệu Văn đứng xa xa ở đầu bên kia hành lang, bên cạnh là Thẩm Mạn Di đã tỉnh và Lý tiên sinh, sương đen vần vũ ngập trời quanh bọn họ.

Cách một hành lang và tầng sương mù, không ai thấy rõ mặt ai.

Hạ Tiều hoang mang thu tầm mắt, chỉ thấy con mắt của anh mình bị ánh đèn chiếu nửa sấp bóng nửa sáng ngời. Như thể phiếm đỏ trong mắt anh ban nãy chỉ là do góc nhìn, hoặc là ảo giác của cậu.

Tia sáng lờ mờ chiếu lên nửa bên mặt Tống Á Hiên, lộ ra màu môi nhàn nhạt, đường nét lại rất sâu, yết hầu và cơ gân cổ nhô lên, là vẻ đẹp lạnh lùng mà cực kỳ sắc bén khiến người ta không dám gần gũi.

Hạ Tiều co rúm người, kinh ngạc đứng đó. Đợi một lúc lâu mới thấy Tống Á Hiên quay đầu về.

Hắn khẽ nhíu mày, ánh mắt hơi cụp nhìn vào khoảng không nào đó, ngón tay miết khớp xương, sau đó kéo chặt sợi dây rối quấn quanh ngón tay.

"Anh...không sao chứ?" Hạ Tiều nhỏ giọng hỏi.

Mí mắt Tống Á Hiên khẽ nâng, tựa như vừa hoàn hồn. Hắn ậm ừ một tiếng, vẫn chăm chú sửa dây điều khiển rối, giọng nói trầm thấp sâu lắng, chẳng biết vì sao hơi khàn.

Hạ Tiều: "Vậy anh nghe thấy mấy lời em vừa nói không?"

"Không."

Hắn thừa nhận một cách thẳng thắn, Hạ Tiều hơi nghẹn họng, lập tức nhắc lại: "Chính là cái mùi kia, bây giờ anh ngửi thấy không? Em luôn cảm thấy mùi kia quanh quẩn bên này, đi tới đâu cũng có thể ngửi thấy, nhưng lại không tìm thấy nơi tỏa mùi."

"Trên người chủ lồng." Tống Á Hiên vẫn không ngẩng đầu nói.

"Chủ lồng?" Hạ Tiều sợ toát mồ hôi hột. Nếu như mùi hương kia trên người chủ lồng, lại quanh quẩn bốn phía không tiêu tan, đó chẳng phải là....chủ lồng đang ở bên cạnh bọn họ?

Nhưng nơi này cũng có cấu trúc giống như trên tầng, toàn bộ hành lang nhờ gắn gương hai bên mà tầm nhìn trông rộng hơn, thực tế lại không lớn lắm.

Nơi này chỉ có vỏn vẹn mấy người bọn họ, hai tủ trang trí cũng đã bị Hạ Tiều mở toang, không còn chỗ nào có thể giấu người được nữa. Thế thì chủ lồng ở đâu?

Cậu còn định hỏi Tống Á Hiên, nhưng luôn cảm thấy trạng thái của anh mình hiện giờ không được ổn cho lắm.

Thế là cậu không dám lắm miệng, chỉ lặng lẽ hỏi Chu Húc một câu: "Lúc mấy người bị ngọn lửa đuổi theo có thấy gì không?"

"Không thấy." Chu Húc hồi tưởng một phen, "Tôi bị vú em dọa tỉnh lại, phát hiện chẳng thấy anh đâu, trên giường chỉ có mình tôi. Tiếp đó bọn Đại Đông xông vào giục tôi mau ra ngoài. Tôi vừa ra khỏi cửa liền trông thấy lửa tràn ra từ đầu kia cầu thang, sau đó chúng tôi chạy vắt chân lên cổ. Ngay lúc quẹo qua đây, tôi vấp phải một đống đen thùi lùi, không biết là cành khô hay là ———-"

Nói được nửa câu, Chu Húc đột nhiên cứng mỏ.

Nó và Hạ Tiều nhìn nhau, sắc mặt đồng thời trở nên trắng bệch—trong hành lang thì đào đâu ra cành khô???

"Cành khô lớn chừng nào? Ở đâu?" Giọng nói Hạ Tiều run rẩy.

"Ở..ở gần nhà vệ sinh." Chu Húc chỉ sang hướng nào đó.

Ban nãy chạy trốn trong hoảng loạn, mọi người đều không để ý được thứ khác. Lão Mao cũng không biết Chu Húc bị thứ gì đó ngáng chân, lúc này nghe nó nói mới có một liên tưởng xấu.

Chỗ Chu Húc nói ở ngay sau góc ngoặt, đám người quay lại, giơ cao ngọn đèn soi thấy thứ kia.

Nó thật sự giống như cành khô, mỗi tội hình thù kỳ quái, trông như đám cây khô héo cong queo được dán lại với nhau, nằm ngang trong nhà vệ sinh, một phần thò ra ngoài cửa bị Chu Húc vấp phải.

Bọn họ lượn qua lượn lại ở chỗ này rất nhiều lần nhưng chưa thấy thứ này bao giờ. Cho nên có thể khẳng định nó được mang đến bởi đám lửa ban nãy.

Mà mọi người đều biết cành cây bình thường cháy thế nào cũng sẽ không dính liền một chỗ như thế, ngược lại một thứ khác có thể.....

Ngay khi trong đầu bọn họ xuất hiện suy nghĩ đáng sợ kia, lão Mao xoay người nhìn, vừa khéo trông thấy một khuôn mặt người phía cuối 'cành cây'.

Đó vốn chẳng phải nhánh cây gì hết, mà là người chết cháy co quắp ôm chặt lấy nhau.

Bọn Hạ Tiều sợ tới mức liên tục lùi về sau, lảo đảo ngã xuống đất, chỉ có lão Mao cau mày đứng đó đếm, một lát sau quay đầu nói với những người khác: "Bốn người."

Đám 'cành khô' cong queo ấy thật ra là bốn người.

Tôn Tư Kỳ ọe ngay tại chỗ, hai mắt trợn trừng suýt nữa ngất xỉu, nhưng lại bị Chu Húc đánh tỉnh: "Mày đợi một lát đã!"

Mặc dù tính cách nó thiếu đòn, lá gan nhỏ tý, nhưng đầu óc lại khá lanh lẹ: "Mày bảo mày mơ thấy bà vú nấu cơm đúng không?"

Tôn Tư Kỳ ọe thêm hai tiếng, sắc mặt tái nhợt sửa lời: "Tao mơ thấy tao là bà vú nấu cơm, lửa bùng từ tầng hai xuống, tao liều mạng chạy xuống tầng một, còn ngã một phát."

"Sau đó thì sao?" Chu Húc hỏi.

"Sau đó được quản gia kéo dậy." Tôn Tư Kỳ cố gắng nhớ lại, "Dù sao khắp nơi đều là lửa, chẳng có chỗ trốn, bọn tao quyết định chạy tới nơi có nước. Ngờ đâu chạy được nửa đường, trần nhà bị cháy sụp xuống, hai bên đều không có lối thoát. Sau đó tao bị chú Mao đánh thức."

Nói đến đây, cậu ta nghĩ mà vẫn sợ hãi không thôi. Bởi vì giấc mơ kia quá chân thực, đến mức cậu nghĩ, nếu như mình không bị đánh thức thì sẽ rơi vào kết cục như thế nào, liệu có bị thiêu chết thật hay không?

"Ok, vậy mày chính là bà vú nấu cơm." Chu Húc chỉ vào Tôn Tư Kỳ xong lại chỉ vào Đại Đông, "Anh là vú em đã qua đời, lão Mao tương ứng với một trong hai đứa con gái nhỏ nhà họ Thẩm. Còn tôi ngủ được nửa giấc, đầu tiên mơ thấy có người hô hào bị cháy, tiếp đó mơ thấy vú em mặc áo liệm đứng bên cạnh nhìn tôi nói: Dậy đi, con ngủ sai chỗ rồi."

Nó nhớ lại một chút, vừa cảm thấy cảnh tượng kia đáng sợ, vừa cảm thấy nếu như vú em không dọa nó thì có lẽ nó sẽ bị vây trong giấc mơ chưa tỉnh lại được.

Chu Húc nuốt ngụm nước bọt nói tiếp: "Trước đó khi ở trên tầng tôi bị giam trong căn phòng dành cho con gái, cộng thêm câu nói của vú em, vậy nên chắc tôi là một trong hai đứa con gái nhà họ Thẩm. Sau đó Chuột tương ứng với Thẩm Mạn Di, ma ốm tương ứng với Lý tiên sinh, anh của anh tương ứng với quản gia—"

Nó nói rồi quay đầu nhìn về phía Hạ Tiều: "—-Vậy vấn đề ở đây, rốt cuộc anh tương ứng với ai?"

"Thẩm Mạn Thăng?" Hạ Tiều vô thức trả lời, "Lúc trước anh bị giam trong phòng của tiểu thiếu gia mà."

Nhưng cậu nói xong lại phát hiện không đúng.

Trong phòng Thẩm Mạn Thăng có tổng cộng hai người——–bản thân tiểu thiếu gia và anh Tuấn.

Trong nhà họ Thẩm có 9 người, nhóm bọn họ có 8 người. Hạ Tiều vẫn luôn cho rằng bản thân tương ứng với vị tiểu thiếu gia Thẩm Mạn Thăng kia, còn kẻ bị thiếu chính là chủ lồng A Tuấn.

Nhưng hiện tại cậu đột nhiên hiểu ra một chuyện.

Cậu là con rối cho nên không dễ dàng bị mê hoặc, cũng không dễ nằm mơ. Nhưng thân phận này là một điều bất ngờ, nếu như cậu là người bình thường thì sao? Cậu cũng sẽ giống những người khác chìm vào giấc ngủ, sau đó mơ thấy người tương ứng với mình, dùng thân phận của đối phương sống cuộc sống trong mơ.

Nếu như tương ứng với cậu là tiểu thiếu gia họ Thẩm thì cậu sẽ mơ thấy điều gì? Nếu như cậu mơ thấy cuộc sống của tiểu thiếu gia, vậy chuyện A Tuấn bắt chước tiểu thiếu gia chẳng phải sẽ là một lỗ hổng lớn à?

Suy nghĩ kỹ thì có rất ít chi tiết trong lồng có liên quan tới Thẩm Mạn Thăng.

Cậu ta không cười đùa bắt người khác chơi cô dâu thật giả cùng mình như Thẩm Mạn Di; sẽ không nghe thấy tiếng dây thừng ghìm chặt như Lý tiên sinh; cũng không giống như vú em có đôi giày thêu đặt ở bên giường. Thậm chí cho tới bây giờ, tâm lồng đã dãn lỏng, lửa lớn đã cháy một đợt, đám bà vú nấu cơm cũng đều đã xuất hiện, chỉ có cậu ta vẫn không rõ tung tích.

Cảm giác tồn tại của cậu thực sự rất nhạt nhoà, tất cả đồ vật có liên quan đến cậu đều chỉ xuất hiện vì A Tuấn. Giấy luyện chữ, ảnh chụp chung, nhật ký.....

Bản thân điều này đã phản ánh một kiểu tiềm thức lấy mình làm chủ của chủ lồng, đồng thời làm phai nhạt người mà hắn muốn ngụy trang.

Hoặc là nói, tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm vốn không tồn tại trong chiếc lồng này, không biết kháng cự hay biện bạch, cho nên A Tuấn mới có thể không chút kiêng dè mô phỏng theo cậu ta.

Thế nên tuy rằng trong chuyện xưa nhà họ Thẩm có 9 người, nhưng nhà họ Thẩm hiện tại thật ra chỉ có 8 người, tương ứng với từng người trong bọn cậu.

"Anh hiểu rồi, anh không phải Thẩm Mạn Thăng, anh là A Tuấn." Hạ Tiều giật mình lên tiếng.

Xung quanh nháy mắt im bặt.

"Nếu như anh là A Tuấn, vậy người tương ứng với anh.....ở đâu?" Chu Húc khẽ nói.

Hạ Tiều lắc đầu: "Anh không biết, nhưng chắc chắn là theo chúng ta rất lâu rồi. Ít nhất là hiện tại đang ở đây."

Bởi vì Tống Á Hiên nói mùi hương kia ở trên người chủ lồng. Mà cậu bây giờ vẫn có thể ngửi thấy hương mai trắng, mùi hương rõ rệt khiến cậu cực kỳ sợ hãi.

Ngay khi cả đám đang hoảng sợ nhìn nhau. Khóe mắt Hạ Tiều trông thấy anh mình cuối cùng cũng quấn xong dây rối trên ngón tay, sau đó đột ngột túm chặt mười ngón.

Gân xanh và xương trên mu bàn tay hắn lộ rõ, tuy gầy nhưng mạnh mẽ, ngón tay thon dài hơi cong chụm mấy sợi dây lại, sau đó xoay cổ tay rồi quăng chúng sang hai bên.

Tiếng xé gió và lưỡi dao sắc va chạm vào nhau cùng lúc vang lên!

Đám người quay đầu nhìn, chỉ thấy sợi dây rối trên đầu ngón tay Tống Á Hiên đang chia nhau ghim chặt lên tấm gương ở hai bên hành lang.

Bóng dáng Hạ Tiều phản chiếu trên mặt gương, đầu kia sợi dây rối ghim chằng chịt lên trên hai bóng người.

Cảnh tượng trong ngoài tấm gương đan xen vào nhau, đám dây rối như được nhân đôi, tràn ngập cả không gian như đang bày thiên la địa võng.

Hạ Tiều sợ ngây người không dám nhúc nhích. Nhưng 'cậu' trong gương lại đứng im trong tấm lưới, chậm rãi xoay đầu về hướng đám người. Chiều cao của cậu ta và Hạ Tiều không khác nhau cho lắm, nhưng lại có khuôn mặt khác hẳn Hạ Tiều.
"Đừng siết chặt ngón tay, chúng ta về nhà nào."

Dịch: Erale

Beta: Cúc kiên cường

Đó là một thiếu niên có gương mặt tái nhợt. Chỉ nhìn thân hình thì cũng giống với bao chàng trai 15-16 tuổi khác, mang theo cảm giác gầy yếu nhưng lại không hề mỏng manh.

Cậu ta mặc mã quái dáng ngắn màu trắng tinh, quần yếm màu nâu, độ dài vừa phải, tất trên chân cực kỳ gọn gàng. Đáng lẽ phải là một cậu thiếu niên năng động hăng hái.

Nhưng cậu ta lại rụt bả vai, lưng hơi còng, cơ thể đứng nơi đó co rúm vào trong, không khỏi có cảm giác già nua nặng nề.

Lúc cậu ta nhìn người khác bằng nét mặt vô cảm, hai mắt trợn trừng, giữa hai hàng mày lại có một nếp gấp. Cả người toát lên khí chất ngột ngạt vô vị.

Cứ cảm thấy cậu ta đang nhìn chằm chằm mình từ một nơi nào đó, nhưng lại không biết cậu ta đang suy nghĩ điều gì.

Cậu ta chẳng hề giống một thiếu niên chút nào.

"Thì ra là ở trong gương!" Tận mắt trông thấy cái bóng của mình biến thành như vậy, Hạ Tiều sợ hãi lùi lại hai bước, "Sau này tui biết soi gương kiểu gì đây trời?"

Cậu nhớ Lưu Diệu Văn từng nói, chủ lồng có thể ở bất cứ nơi nào có người. Thế là cậu lật tung hết các ngóc ngách có thể ẩn nấp, cuối cùng vẫn quên mất tấm gương.

Đúng vậy, trong gương cũng có người. Phán quan có thể mượn tấm gương tiến vào lồng nên chủ lồng đương nhiên cũng có thể mượn tấm gương để quan sát bọn họ.

Cậu với Chu Húc co rúm vào một góc, sợ hãi nói: "Dọa chết tôi rồi, bất ngờ khiếp."

Tống Á Hiên lại cau mày, lạnh nhạt nói: "Bất ngờ ở đâu? Kẻ hèn nhát làm việc lúc nào cũng dựa vào trốn tránh, bởi thế nên cũng chỉ có thể trở thành cái bóng của người khác."

Lời này dường như đâm chọt vào chỗ đau của người trong gương.

Cả đám chỉ nghe thấy một tiếng gió thổi quét qua ánh mắt mọi người. Tống Á Hiên khẽ nhắm mắt lại rồi mở ra, thiếu niên kia đã đứng thẳng trước mặt hắn.

"Anh nói ai?" Thiếu niên hỏi.

Khuôn mặt của cậu ta rất kỳ dị, tiếng nói chuyện và động tác khép mở môi không khớp nhau giống như đang khoác một lớp da người. Mà giọng nói của cậu ta lại như ngậm đầy cát, vừa thô vừa khàn.

Cùng đang trong thời kỳ vỡ giọng nhưng giọng nói của Chu Húc lại dễ nghe êm tai hơn cậu ta rất nhiều.

Tống Á Hiên không nhìn cậu ta, hệt như đối phương vốn không lọt được vào mắt hắn vậy.

"Nói súc vật vô cớ hại người, cậu có thế không?" Tâm tình của hắn lúc này cực kỳ tệ, lời nói như gió thốc mưa lạnh, còn ẩn giấu những vụn băng nhỏ sắc bén.

Thiếu niên nhìn chằm chằm hắn, tròng mắt co lại thành một chấm cực nhỏ, nhưng chẳng thể thốt lên câu gì. Nói không phải thì thành kẻ hèn nhát, nói phải thì lại thành súc vật.

Vấn đề này khiến cậu ta vừa lúng túng lại vừa bực bội, thế là cậu ta chùng mặt xuống....

Là chùng thật, toàn bộ lớp da mặt đều trôi tuột xuống dưới dọa bọn Tôn Tư Kỳ hét ầm trời. Mà thiếu niên này dường như rất thích cảm giác hù dọa được người khác, nói cách khác chính là cảm giác khống chế mọi người trong lòng bàn tay, cuối cùng cậu ta mở miệng nói: "Đây là địa bàn của tôi."

Cậu ta lại khoác lớp da mặt lên, dùng giọng điệu nặng nề cố chấp nhấn mạnh rằng: "Tôi cho phép các người ở lại thì các người mới tiếp tục ở lại được. Tôi bảo các người đi thì các người phải lập tức rời đi. Đây là địa bàn của tôi."

"Cậu trốn trong gương ở chính địa bàn của mình à?" Hạ Tiều kinh ngạc một cách nghiêm túc, nhưng câu nói lại giống y như đang chế nhạo.

Thiếu niên đột nhiên quay ngoắt đầu nhìn cậu, dọa Chu Húc vội vàng giơ tay bịt miệng Hạ Tiều, khẽ bảo: "Anh im mẹ mồm đi!"

Kết quả Hạ Tiều chịu ngậm miệng, nhưng anh cậu thì không.

"Ngay cả mình là ai cũng không dám nói." Giọng điệu Tống Á Hiên cực kỳ mỉa mai, "Địa bàn của cậu cơ đấy."

Biểu cảm của thiếu niên tràn đầy tê liệt, dường như thờ ơ trước lời kích động ấy. Nhưng cậu ta vẫn còn nhỏ tuổi, nếu thật sự bình tĩnh được như thế thì cũng đã không làm ra những chuyện kia.

"Đây chính là địa bàn của tôi." Cậu ta khàn giọng nhấn mạnh lần nữa, ẩn chút tức giận hơn.

"Đây là nhà họ Thẩm." Tống Á Hiên nói tiếp, "Cậu họ Thẩm không?"

"Tôi không mang họ Thẩm, nhà họ Thẩm biến mất rồi." Thiếu niên rốt cuộc mất kiên nhẫn ngắt lời hắn, "Nhà họ Thẩm biến mất rồi, một mồi lửa thiêu rụi tất cả! Cần tôi nhắc lại bao nhiêu lần nữa? Đây là địa bàn của tôi!"

Khi câu nói cuối cùng thốt ra khỏi miệng, cậu ta gắt gỏng trái ngược hẳn với dáng vẻ ngột ngạt trầm lặng trước đó. Giống như giội một gáo nước vào trong chảo dầu sôi, đột nhiên biến thành một dáng vẻ khác vậy.

"Của tôi."

Hai chữ này không phải thốt ra từ miệng thiếu niên, mà vang vọng khắp cả tòa nhà.

Trong nháy mắt, bóng dáng lờ mờ đó rốt cuộc rơi xuống đất, lòng bàn chân bén rễ dính chặt lấy toàn bộ lồng. Có lẽ là để chứng minh hai chữ 'của tôi', cậu ta không còn trốn tránh nữa, lần đầu tiên đứng trong căn nhà này một cách đường đường chính chính.

Tống Á Hiên chỉ đợi mỗi giây phút này thôi.

Hắn gật nhẹ đầu, không nói gì.

Thế là chỉ nghe thấy giọng nói cộc cằn của thiếu niên văng vẳng khắp căn nhà, trong từng gian phòng, mỗi đầu hành lang, vừa u ám lại vô cùng rõ ràng.

Khi tiếng vọng cuối cùng biến mất, trong hành lang trở nên yên ắng.

Ngay khi thiếu niên đang tỏ ra đắc ý, giọng nói giòn tan của một bé gái vang lên: "A Tuấn phải không? Chị nghe thấy giọng A Tuấn."

Khoảnh khắc âm thanh kia truyền tới có hơi trống rỗng, trong hoàn cảnh này khiến người ta sởn tóc gáy. Nhưng mọi người đều nhận ra là giọng của Thẩm Mạn Di.

Sắc mặt của thiếu niên tên A Tuấn kia chợt thay đổi.

"A Tuấn." Thẩm Mạn Di lại gọi.

"A Tuấn?"

"A Tuấn em ở đâu?"

Tiếng cô bé vọng trong hành lang, chồng chéo lên nhau, dường như đang chạy tới đây, càng ngày càng gần.

"Vì sao em không cười? Chúng mình chơi trò chơi đi! Chị muốn chơi cùng em."

"Chị tìm em lâu lắm rồi đó."

"Cuối cùng em cũng chịu chơi với chị rồi ư?"

Những câu này đan xen vào nhau, hòa lẫn với tiếng cười khanh khách lúc gần lúc xa, vờn quanh mọi người. Bọn họ vô thức nhìn sang đầu khác hành lang.

Chỉ thấy Thẩm Mạn Di bé nhỏ đứng bên trái Lưu Diệu Văn, Lý tiên sinh đứng bên phải, ba gương mặt hư ảo đang nhìn thẳng sang bên này sau tầng sương đen bồng bềnh.

Bọn họ đột nhiên không phân biệt nổi những lời này là Thẩm Mạn Di kia nói hay là thứ lưu lại trong tiềm thức của A Tuấn.

Chẳng mấy chốc, một giọng nói khác vang lên——

Đó là giọng nói nhã nhặn của một người đàn ông, tốc độ nói không nhanh, xen lẫn với tiếng cười khanh khách của Thẩm Mạn Di có hơi nhạt nhòa: "A Tuấn, lòng dạ con hơi hẹp hòi."

"A Tuấn, hạng người nào mới luôn suy đoán người khác rồi cho rằng dơ bẩn? Tính con nhạy cảm, thầy không muốn nặng lời."

"A Tuấn, người quân tử thì phải đứng đắn rộng lượng."

"A Tuấn."

"Thôi được rồi, con đi chép lại từ đi."

"A Tuấn, thầy nhận ra được chữ của con."

....

Những âm thanh này lồng ghép vào nhau, tràn ngập tòa nhà. Mỗi một câu một chữ vang lên, ba cái bóng mờ trong hành lang lại áp sát gần hơn, im hơi lặng tiếng hệt như ma quỷ.

Đám người rất nhanh lại nghe thấy tiếng chuyển động khẽ khàng như có thứ gì đó nhiều tay nhiều chân đang bò trên mặt đất.

Bọn họ quay đầu nhìn, phát hiện thứ bò về phía bên này không phải ai khác mà chính là đám cơ thể bị cháy đen ngã trong nhà vệ sinh kia.

"Là A Tuấn phải không?"

"A Tuấn à."

"A Tuấn." "Anh Tuấn."

.....

Tiếng bà vú nấu cơm thở dài, tiếng quản gia cao giọng, tiếng gọi rụt rè của bé gái liên tục không ngừng.

A Tuấn xụ mặt, càng ngày càng nóng nảy, cuối cùng bịt kín lỗ tai, ồm ồm nói: "Mấy người phiền quá!"

Lời này vừa thốt ra, những giọng nói chồng chéo lên nhau chợt trầm xuống giống như một khúc nhạc biến điệu, từ nhạc hỉ bóp méo thành nhạc tang. Những tiếng gọi kia biến thành tiếng kêu rên và khóc lóc đau khổ.

Thẩm Mạn Di khóc lóc đứng trước mặt A Tuấn, chồm tới nhìn chằm chằm người cao hơn cô bé rất nhiều, nhưng lại được cô bé coi là em trai, âm u hỏi: "A Tuấn, sao em lại muốn nhét chị vào trong ghế sô pha?"

A Tuấn cúi đầu nhìn cô bé nói: "Bởi vì chị quá ồn."

"Chị thật sự rất ồn."

"Chị suốt ngày cười, chạy ầm ầm từ tầng trên xuống tầng dưới, khắp nhà toàn là tiếng chị. Chị rất ồn."

"Chị biết hôm đó là ngày gì không? Là ngày giỗ của mẹ tôi."

"Chị có biết ngày giỗ nghĩa là gì không?"

A Tuấn nhìn thẳng vào mặt Thẩm Mạn Di, khàn giọng nói: "Chị không hiểu, chị chỉ biết nơ con bướm đẹp mắt, chơi xích đu vui, quấn rèm màn là có thể thành cô dâu. Chị đã 16 tuổi nhưng chỉ biết mấy thứ này thôi."

"Chị đi ra ngoài thì chính là trò cười chị có biết không? Chị nào hiểu được, bởi vì tất cả mọi người trong nhà đều nuông chiều chị, nghe theo chị. Chị nói nhăng nói cuội cũng chẳng ai uốn nắn, ngay cả Lý tiên sinh cũng bảo chị nói đúng, chính là như thế đấy."

"Gã còn bảo chị đeo kính trông rất thông minh, chị ngay cả việc chép sách cũng không nên hồn, toàn chép thiếu chữ: "Thông minh—–" A Tuấn bật cười nói: "Chị sống một cuộc sống vui vẻ vì chị là đại tiểu thư nhà họ Thẩm. Nhưng nếu như đổi người khác, đừng nói 16 tuổi, chắc chắn chẳng sống được tới 12 tuổi đâu."

Cậu ta thật sự ghét Thẩm Mạn Di, cũng ghét nhà họ Thẩm.

Rất nhiều người nói với cậu rằng tổ tiên của mẹ mình đã từng giàu có, vốn cũng là một đại tiểu thư lá ngọc cành vàng, cuộc sống cũng chẳng kém cạnh Thẩm Mạn Di là bao. Kết quả thì sao? Tạo hóa trêu ngươi, cha ruột chết rồi, đại tiểu thư nháy mắt biến thành vú em, dẫn theo con trai đi ăn nhờ ở đậu.

Cái gọi là ngày tháng tốt đẹp, cậu chưa từng cảm nhận được, chỉ có thể nghe nói từ miệng người khác, càng nghe càng cảm thấy ông trời bất công. Dựa vào đâu mà có người sinh ra đã cơm ngon áo đẹp, có người lại bị người khác khinh bỉ.

Và khi kẻ sống trong nhung lụa ấy ban phát chút lòng tốt ít ỏi là cậu nhất định phải mang ơn đội nghĩa cơ chứ.

Luôn có người nói: thiếu gia và tiểu thư nhà họ Thẩm đối xử với cậu tốt quá. Mạn Thăng coi cậu như anh trai ruột, chẳng hề có dáng vẻ của thiếu gia chút nào.

Mỗi lần cậu nghe thấy vậy đều cảm thấy buồn cười. Bố thí thôi mà, đại thiếu gia không hiểu cuộc sống khổ sở cúi người thảy cho hai viên kẹo thì là việc thiện long trời lở đất mức nào mà đáng được khen ngợi?

Chẳng qua người khom lưng là thiếu gia mà thôi. Cũng giống như người ngu dại là Thẩm Mạn Di, cho nên ngu dại cũng có thể biến thành 'ngây thơ hồn nhiên và đáng thương."

Chị ta có thể đón sinh nhật 11 tuổi từ năm này qua năm khác, bảo năm nay là 1913, năm sau là 1913, năm sau nữa vẫn là 1913.

Thẩm Mạn Di mắc kẹt ở độ tuổi có thể chơi xích đu và mấy trò con nít khác.

Nhưng với cậu thì chính là kẹt ở năm mẹ mình thắt cổ tự tử, mãi mãi không thể quên được.

Cho nên cậu rất ghét Thẩm Mạn Di.

Sự tồn tại của chị ta chính là một lời nhắc nhở, từng giờ từng phút nhắc cậu rằng mẹ mình vì phạm vào sai lầm nhỏ mà treo người trong phòng vào ngày 19 tháng 5 năm 1913 ấy.

Ông trời không công bằng.
Đôi khi cậu sẽ nghĩ, nếu như vào ngày 19 tháng 5 năm 1913 ấy nhất định phải có một người trong nhà họ Thẩm chết thì vì sao người chết không phải là Thẩm Mạn Di? Chị ta ngu dại vô dụng, mất đi sự che chở thì không sống sót nổi. Nếu như ngày đó không dập kịp đám lửa, Thẩm Mạn Di đã chết cháy lâu rồi.

Nhưng sau này cậu lại nghĩ, nếu như Thẩm Mạn Di chết trong sự cố hỏa hoạn đó thì mẹ cậu cũng không sống nổi. Sẽ chỉ càng thêm áy náy, sau đó dứt khoát treo cổ hơn.

Cho nên bất kể thế nào, mẹ cậu đều sẽ phải chết vì đó chính là số mệnh.

Ông trời thật sự không công bằng.

Cậu thường cảm thấy căm phẫn vì chuyện này, nhưng mà cậu biết cách kiềm chế không biểu hiện ra mặt. Ngặt nỗi Lý tiên sinh luôn soi mói những việc lặt vặt của cậu.

Gã nói cậu tính tình hẹp hòi không rộng lượng. Nói cậu luôn nhìn nhận sự việc một cách tiêu cực, cho rằng người khác xấu xa, không chịu nhìn rõ người khác. Nói thẳng ra thì gã cảm thấy cậu là một kẻ tiểu nhân đo lòng quân tử.

Theo cậu thấy thì những nhận định này sẽ đổi khác tùy theo từng đối tượng. Nếu người có suy nghĩ âm trầm là Thẩm Mạn Di hoặc Thẩm Mạn Thăng, chắc chắn Lý tiên sinh sẽ vỗ tay khen hay, khen bọn họ cẩn thận chu đáo, không dễ dàng bị người ta lừa gạt.

Cho nên vẫn không công bằng chút nào.

Quản gia là con buôn khéo đưa đẩy, suốt ngày chỉ biết đến tiền và sổ sách. Ngoài miệng thường nói 'A Tuấn khổ lắm', 'Đây là nhà cháu, chúng ta đều là người một nhà', nhưng cũng chỉ là nói mồm mà thôi.

Coi một nơi nào đó thành nhà mình vốn là một câu nói thuận miệng. Càng hay nói thì rõ ràng là bỏ cậu ngoài phạm vi người một nhà rồi.

Ngay cả bà vú nấu cơm cũng đáng ghét. Bà ta ngoại trừ nấu cơm ra thì suốt ngày lải nhải mấy chuyện vớ vẩn. Nói chụp ảnh là đoạt hồn người, nói phải đốt đèn trường minh để bảo vệ mọi người bình an, kết quả chẳng bao lâu mẹ cậu đã thành một con quỷ đoản mệnh.

Cho dù như vậy bà ta vẫn không chịu tắt ngọn đèn. Cho rằng mẹ cậu số khổ, muốn niệm kinh cầu phúc cho bà ấy, để bà ấy sống tốt ở thế giới bên kia, còn khăng khăng lôi kéo cậu niệm kinh cùng.

Ra vẻ bên ngoài mà thôi, người chết cũng chết rồi.

Cho nên cậu ghét từ trên xuống dưới người nhà họ Thẩm. Mỗi ngày cậu sống ở đây đều không được vui vẻ, chỉ cảm thấy bực bội ngột ngạt.

Dây cung của cậu luôn bị kéo căng, cuối cùng vào ngày giỗ của mẹ mình thì không còn căng được nữa.

Chỉ trách Thẩm Mạn Di không biết chọn thời gian, cố tình chọn hôm đó kéo cậu chơi trò chơi, làm trò hề chẳng hề đáng cười với cậu, còn cười khanh khách chạy khắp nhà.

Cậu muốn chị ta ngậm mồm yên tĩnh đừng cười nữa, nhưng lại không kiểm soát được sức lực.

Có một số chuyện chính là như vậy, một khi đã thực hiện thì không rút lại được.

Cậu giấu đi Thẩm Mạn Di mãi mãi không thể làm ồn được nữa, dù sao tính cách của vị tiểu thư này rất tùy hứng. Trước kia thỉnh thoảng cũng tự nhốt mình ở trong phòng vài ngày, đồ ăn đặt trước cửa, không được làm phiền chị ta.

Nhưng cậu vẫn sợ sau này khó giải thích, thế là mô phỏng theo chữ Thẩm Mạn Thăng viết nhật ký, sau đó cất cuốn sổ đi.

Đối với cậu, những trang nhật ký ấy cực kỳ dễ bắt chước. Bởi vì Thẩm Mạn Thăng vốn có thú vui bắt chước chữ cậu. Thời gian lâu dài không thay đổi được thói quen nữa.

Có lẽ đây chính là báo ứng.

Đáng nhẽ mọi chuyện tới đây là kết thúc, nhưng Lý tiên sinh lại không chịu an phận, cứ phải ép cậu vào đường cùng.

Có lần một sẽ có lần hai.

Sau đó cậu lại mô phỏng nhật ký lần nữa.

Cậu thừa biết thế gian này không công bằng. Cậu và Thẩm Mạn Thăng cùng làm một chuyện sẽ cho ra hai kết quả khác nhau. Một người chị ngu dại và một tiên sinh dạy học cỏn con chẳng là gì so với tiểu thiếu gia nhà họ Thẩm.

Nhưng cậu ta nhanh chóng phát hiện ra bản thân có sơ hở ——–cậu viết ngày tháng thành năm 1913, thế mà cậu lại chậm chạp không phát hiện ra.

Nhìn đi, thì ra Thẩm Mạn Di đã khiến cậu ta cũng kẹt ở năm đó không được giải thoát.

Không được giải thoát.

Ngày đó cậu tự dưng cảm thấy cuộc sống chẳng còn nghĩa lý gì. Phải xu nịnh bấu víu như lũ ruồi nhặng và trốn tránh giấu giếm. Thế là cậu lẻn vào căn phòng nhỏ mà bà vú nấu cơm thờ cúng đèn trường minh, lặng lẽ khóa cửa rồi ngồi nguyên một đêm trước ngọn đèn.

Cậu không biết vì sao bản thân lại ngồi đó, nhưng nhìn mãi liền cảm thấy tên của mình được đặt ngang hàng với tên thiếu gia như Thẩm Mạn Thăng, lại còn bị kẹp giữa đám người nhà họ Thẩm trông thật chướng mắt và không hài hòa.

Cậu muốn xóa sạch mấy bảng tên đó, nhưng không cẩn thận đánh đổ ngọn đèn cầy.

Âu cũng là cái số.

Hoặc cũng không phải do cậu không cẩn thận, cậu chỉ không muốn tiếp tục sống như thế, muốn chấm dứt tất cả mọi chuyện mà thôi.

Khoảnh khắc da thịt khô héo, cậu chợt nhớ tới đôi mắt trợn trừng trước khi chết của Thẩm Mạn Di, ánh mắt chứa đầy đau đớn và tủi hờn, không chớp nhìn chằm chằm cậu.

Chị ta há miệng nhưng lại không phát ra được bất cứ âm thanh nào.

Cậu biết chị ta muốn nói gì, chị ta định nói: Đau quá.

Thật ra lửa cháy lên người cũng rất đau, chẳng kém gãy cổ là bao. Nó không phải là chuyện diễn ra trong nháy mắt, mà là kéo dài, dù làm thế nào cũng không thể thoát khỏi cơn đau ấy.

Cậu nghĩ mình đối xử với Thẩm Mạn Di vẫn còn tốt chán.

"Chị nhìn đi." A Tuấn xông tới trước mặt cô gái nhỏ nói, "Tôi khiến tất cả mọi người tới bầu bạn với chị rồi, chúng tôi đều giống chị, đều kẹt ở năm đó không lớn lên được nữa."

Dứt lời, lớp da tái nhợt trên người cậu ta lỏng lẻo như quần áo tuột xuống đất, chỉ còn sót lại một cơ thể cháy đen cứng đờ.

Thẩm Mạn Di mở to hai mắt như trước khi chết nhìn chằm chằm cậu. Không biết là khổ sở, tủi hờn hay là không dám tin.

Tiếp theo, tròng mắt cô bé khẽ đảo quanh một vòng, dừng lại trên người Lý tiên sinh và đám xác chậm chạp cháy đen kia.

Cô bé ngơ ngơ ngác ngác, cho tới bây giờ mới nhận ra được bọn họ là ai.

Quái nhân chảy nước mọc rêu xanh đầy người kia là vị tiên sinh dạy bé nhận biết mặt chữ, dạy bé cách đọc sách, dạy bé đừng vội vàng sốt ruột, cứ chậm rãi lớn lên là được.

Khúc cây khô bị cháy đen khó phân biệt kia là bà vú đã nấu cơm, đeo yếm dãi và bón cơm cho cô bé. Là quản gia bế mình trên vai khi còn nhỏ, lớn rồi thì dặn không được chạy lung tung, cẩn thận người xấu. Là hai cô em gái giống như con vịt nhỏ theo sau đuôi mình chạy tới chạy lui, chơi trốn tìm và mặc kệ cô bé trang điểm theo ý mình.

Là nhà của cô bé.

Thẩm Mạn Di ngây ngốc đứng đó, sau đó siết chặt ngón tay, nước mắt màu máu nhuốm đầy trên gương mặt, bắt đầu thét chói tai.

Điên cuồng gào thét.

Từng tấm gương trong hành lang vỡ vụn, mảnh thủy tinh bắn tung tóe, vụn bay khắp trời.

Sự bạo phát và tan vỡ của cô bé ảnh hưởng tới những người khác, Lý tiên sinh, quản gia, bà vú nấu cơm, Thẩm Mạn Xu, Thẩm Mạn San....Trên người bọn họ cũng bắt đầu tràn ra sương đen dầy đặc.

Giống như đập nước bị đóng kín lâu ngày đột nhiên mở rộng hết các cửa xả, oán niệm như con sóng lớn cuồn cuộn ập tới.

Đám người kêu lên, tiếp đó bị sương đen đậm đặc bao phủ toàn bộ. Ngay cả Đại Đông hoảng hốt đã lâu cũng đột nhiên tỉnh táo lại bởi vì đau đớn.

Sương đen của một người quét qua da thịt sẽ giống như bị lưỡi dao mỏng cứa lên, sẽ để lại chằng chịt vết thương nhỏ. Huống chi ở đây có nhiều người như vậy!

Bọn họ thực sự đang bị chôn sống trong núi đao.

A Tuấn cũng không có bất cứ ý định ngăn cản nào, bởi vì cậu ta mới là chủ lồng lớn nhất, Thẩm Mạn Di cũng được mà Lý tiên sinh cũng thế, tất cả tồn tại trong lồng đều thuộc quyền kiểm soát của cậu ta.

Cũng giống như hiện tại, bọn họ tủi hờn, giận dữ, oán hận, nhưng họ không động tới cậu được. Tất cả mọi công kích đều là với bên ngoài, càng điên cuồng thì càng khiến những người ngoài xâm nhập vào lồng không thể chống đỡ.

Chu Húc cuộn mình trong bóng đêm không thấy rõ năm ngón. Huống chi nó cũng không vươn tay ra được, nó nghi ngờ khắp người đã chẳng còn chỗ nào lành lặn nữa, sắp bị cắt sống đến nơi rồi.

Nó gào lên giữa đám sương đen: "Đại Đông!"

Nó hy vọng Đại Đông có thể bộc phát tiềm lực giống như ban nãy, thả ra một con đại bàng Kim Sí đàng hoàng.

Kết quả nó trông thấy nơi nào đó lóe lên ánh vàng, lập lòe chưa tới nửa giây đã tắt ngóm như ngọn đèn trong gió.

"Không được!" Tiếng Đại Đông vang ngay bên cạnh, nhưng lại như cách một bức tường gió, "Mẹ nó, không thả đại bàng ra được đâu! Phải tiêu trừ sương đen!"

"Vậy anh tiêu trừ mẹ đi còn đợi gì nữa!!!!" Chu Húc sụp đổ kêu.

Sau đó lại nghe thấy giọng Đại Đông trầm hơn: "Đây không phải là một người, nếu muốn tiêu trừ tất cả cùng lúc thì mày có biết là khái niệm gì không hả?"

Giờ phút này Chu Húc chẳng muốn biết, nhưng Đại Đông vẫn nói tiếp: "Nhà họ Thẩm bao gồm cả chủ lồng là tám người, tương đương với việc phải giải tám cái lồng cùng một lúc đấy."

Đây là cảnh tượng Đại Đông chưa từng nhìn thấy bao giờ, điều đó khiến Chu Húc tuyệt vọng vô cùng.

Với một số phán quan mà nói thì việc tiêu trừ oán khí của một người thôi đã là cố gắng lắm rồi, nói gì tới tám người. Làm không tốt thì chính là hòa tan thất bại, ngay cả bản thân phán quan cũng trở nên bẩn thỉu cùng cực, từ đó về sau đừng mong giải được lồng nữa, cuối cùng rơi vào kết cục bị xóa tên.

"Vậy có thể khiến bọn họ tạm đừng công kích chúng ta được không?!" Chu Húc lại kêu lên, trong cái khó ló cái khôn mà tìm được cách khác cho Đại Đông, "Không phải anh có thể buộc dây rối cho Thẩm Mạn Di sao?! Anh biến bọn họ thành con rối đê, tạm khống chế bọn họ trở thành người phe mình ấy!"

Đại Đông cũng bị nó làm cho tuyệt vọng: "Lúc ấy cô ta còn chưa phát điên! Trói cũng chỉ là buộc dây tượng trưng thôi, tao buộc thì buộc được. Nhưng giờ phát điên thế kia, anh mày muốn khống chế thì cũng ngang ngửa với điều khiển đại bàng Kim Sí. Nếu tao có thể khống chế cùng lúc hai người thì làm gì đến nỗi phải làm đệ cho người khác?!"

Bọn họ chả ai nhìn thấy ai, cuộc cãi vã chí chóe lại trở thành sự giải tỏa và giảm bớt đau đớn do đám sương đen mang tới. Nhưng cũng chỉ được mấy giây mà thôi.

Chớp mắt tiếp theo, bọn họ bị oán niệm mạnh mẽ như cắt thịt khoét xương che phủ, rốt cuộc không nhịn được nữa thi nhau kêu au áu.

Ngay khi bọn họ kêu ầm lên, chợt nghe thấy tiếng vật lớn phá mây lao tới. Đằng Xà của Tống Á Hiên mang theo mùi khói lửa thiêu đốt và mùi gỉ sắt của xiềng xích khổng lồ mở ngoác miệng, rít gào lượn một vòng trong màn sương.

Một vòng gió xoáy hình thành ở nơi nó trườn qua, bọn Chu Húc được đặt vào trong như rồng hút ngược nước thẳng lên trời cao, tránh phải chịu nỗi đau khổ da thịt.
Đám người lảo đảo, chen chúc thành một nhúm bên trong xoáy lốc. Nhưng cũng không vì thế mà thả lỏng tinh thần.

Bởi vì đám sương đen kia tồn tại khắp mọi nơi, chúng vẫn luôn rình rập bọn họ, bất cứ lúc nào cũng có thể tràn vào thông qua kẽ hở khi Đằng Xà di chuyển.

Ngay khi Đằng Xà đang bảo vệ bọn họ, Chu Húc trông thấy trong bóng tối bên ngoài vòng xoáy lóe lên ánh bạc giống như lưỡi dao quét ngang cắt ra một khe nhỏ giữa màn đêm.

Nó nhanh chóng nhận ra đó không phải là lưỡi đao, mà là dây điều khiển rối!

Chỉ nghe thấy tiếng xé gió của sợi dây rối kia lao đến một ngóc ngách nào đó, liên tục quấn vài vòng.

Sau đó âm thanh 'keng' vô cùng chấn động vang lên! Xiềng xích kéo theo tia lửa dọc theo đầu kia dây rối như đám dây leo bám vào cây cối để sinh trưởng, nhanh chóng bện chặt vào nhau.

Tiếng xiềng xích buộc chặt điểm cuối kêu "cạch".

Trong chốc lát, đám sương đen kia đột nhiên bị chọc thủng một khe hở. Thứ bị xiềng xích trói buộc cuối cùng cũng lộ ra hình dáng, đó là Thẩm Mạn Di. Mà đầu còn lại của dây rối được Tống Á Hiên túm chặt trong tay.

"Chuyện gì thế này?" Tôn Tư Kỳ khóc lóc hỏi.

Đại Đông và Chu Húc kinh ngạc nhìn chằm chằm nơi đó nói: "Xích rối."

Xích rối chính là xiềng xích buộc trên người rối dùng để áp chế con rối trong trạng thái chiến đấu, tránh cho nó thoát khỏi sự kiểm soát của khôi lỗi sư. Một khi đã bị xiềng xích trói buộc thì có điên tới mấy cũng phải nghe khôi lỗi sư.

Đây chính là chuyện ban nãy Đại Đông nói bản thân không làm được.

Tống Á Hiên vốn lợi hại hơn hắn cho nên có thể làm được điều này, Đại Đông cũng không bất ngờ gì cho lắm. Chu Húc thở phào nhẹ nhõm, nhưng sắc mặt Đại Đông vẫn không khá hơn.

"Khống chế một người cũng vô dụng thôi, còn tận 7 tên kia kìa!" Đại Đông nói.

Chu Húc vừa mới hít vào được một hơi đã tịt ngóm, nó cảm thấy hơi ngạt thở.

"Anh ta có thể—–"

Chu Húc còn chưa dứt lời đã bị Đại Đông ngắt ngang, chắc như đinh đóng cột bảo: "Không thể nào! Em nghĩ xem anh Nhã Lâm có thể khống chế mấy con rối chiến đấu cùng một lúc."

"Sáu con..." Chu Húc hết sức kinh hãi, "Thế mà còn ít hơn hai con?"

Nhưng nó lập tức nhận ra: "Đấy là khống chế trạng thái ổn định, mà mấy con rối chiến đấu đó có thể hóa thành người, không phải cùng đẳng cấp với đám điên cuồng này á."

"Đúng, cho nên với anh Nhã Lâm thì không có vấn đề gì. Nhưng người khác thì sao?" Đại Đông hỏi xong vừa nản lòng vừa kêu một tiếng tự giễu đầy đau khổ, "Đừng nằm  mơ nữa."

Hắn không muốn ngồi chờ chết, hai tay siết căng quăng dây rối ra ngoài, đại bàng Kim Sí liền xuất hiện trong vòng xoáy của Đằng Xà.

Nó giang rộng hai cánh, chắn cho đám người một chút.

Đại bàng vừa vào vị trí, âm thanh xé gió quen thuộc lại vang lên.

Chu Húc lại trông thấy sợi dây rối ánh bạc lần nữa, lần này nó hướng về một phía khác!

"Đại Đông, Đại Đông mau nhìn đi...." Nó vội vàng huých người bên cạnh mấy cái.

Hai người đồng thời ngẩng đầu, trố mắt ngoác mồm nhìn bên đó, chỉ thấy xiềng xích bắn tia lửa hiện lên ánh lửa đỏ ngầu bên trong màn sương đen, móc lên một người khác.

Hình dáng đó dần lộ ra khỏi màn sương, đó là Lý tiên sinh.

"Móa, người thứ hai luôn!!!" Chu Húc lẩm bẩm.

"Sai rồi, là người thứ ba." Đại Đông chỉ vào con mãng xà khổng lồ màu đen nói, "Trong tay cậu ta đã có ba...."

Nhưng Tống Á Hiên vẫn chưa ngừng lại, hắn tiếp tục quăng dây rối, khống chế người thứ tư trong tiếng xiềng xích va chạm——-đó là quản gia.

Sau đó là người thứ năm, thứ sáu.

Cuối cùng khi hắn khống chế đôi giày thêu kia, bóng hình một người phụ nữ dần hiện ra dưới sự trói buộc của xiềng xích, Đại Đông và Chu Húc đã không nói nên lời.

Bọn họ trợn mắt há hốc mồm nhìn chằm chằm ngón tay Tống Á Hiên, đám dây gai trắng giăng chằng chịt khắp nơi siết căng, phía cuối mỗi sợi đều là một bóng dáng bị xiềng xích trói buộc.

Qua hơn nửa ngày, bọn họ mới chợt nhận ra người này thật sự khống chế được tất cả đám người trong lồng.....

Ngoại trừ A Tuấn.

"Sao có thể...." Chu Húc sắp phát điên rồi.

"Tận 7 người trời ơi..." Đại Đông cũng kích động theo.

Hắn chợt hiểu rằng bản thân đã đánh giá thấp thực lực của vị đồ đệ nhà họ Thẩm này, ít nhất ở phương diện khống chế cùng lúc bảy con rối đang phát điên thì sư phụ hắn có lẽ không làm nổi.

Đấy là 7 người đó.

Hắn còn chưa bình tĩnh được sau cơn kích động, một cảnh tượng khác càng khiến hắn trợn mắt há hốc mồm—–

Tống Á Hiên xoay cổ tay, mười ngón khẽ chụm, bảy con rối trong tay đồng loạt cử động. Chỉ thấy bọn Thẩm Mạn Di và Lý tiên sinh đột nhiên tăng vọt ý chí chiến đấu như một con rối thực sự, bọn họ bao vây kẻ duy nhất không bị Tống Á Hiên thu phục là A Tuấn.

Trong khoảnh khắc, sương đen lại điên cuồng tràn ra như mở cửa xả lũ, chỉ là lần này không công kích bọn họ mà dồn hết lên người A Tuấn, nháy mắt bao phủ kín người cậu ta.

Đại Đông từ khiếp sợ biến thành ngây người. Hắn vốn cho rằng Tống Á Hiên khống chế bảy con rối cùng lúc để ngăn bọn Thẩm Mạn Di hành động đã là cực hạn rồi. Không ngờ vị này lại không dừng ở đó.

Không phải tạm thời ổn định mà hắn thật sự đang điều khiển rối. Đồng thời điều khiển bảy con rối....

Lần này người kêu au áu biến thành chủ lồng.

A Tuấn chẳng thể ngờ được địa bàn của cậu ta trong nháy mắt xảy ra thay đổi long trời lở đất. Tất cả mọi người sống ở đây, những người cậu ta cho phép tồn tại đều chĩa ngược mũi súng về phía cậu, biến thành 'người ngoài'.

Từ trước tới giờ bọn họ không thể làm cậu bị thương, cho dù giận dữ, đau lòng khổ sở tới mức nào. Bất kể muốn khóc, muốn kêu, muốn trút giận cũng không thể tổn thương được cậu.

Nhưng giây phút này, cậu ta lại cảm thấy đau đớn.

Đau đớn như bị kim châm, còn đau đớn hơn cả bị lửa thiêu, giống hệt như vô vàn chiếc cưa sắt cùn gỉ cứa lên da thịt cậu, chậm rãi giằng xé.

Đó là một loại đau đớn không thể thoát khỏi, đến mức ngực cậu cũng quặn thắt theo.

Rất nhiều tiếng động truyền vào trong tai cậu từ lúc còn sống cho tới sau khi chết đi. Vừa rõ ràng lại vừa nhạt nhòa. Tiếng cười, tiếng khóc. Nhiều lắm, dường như trước kia cậu chưa từng chú ý tới.

Cậu đột nhiên cảm thấy sự đau đớn này cũng không tệ, tựa như đang trả nợ vậy. Đợi bọn họ trút giận đủ rồi thì cậu cũng sẽ trở nên sạch sẽ, được giải thoát khỏi sự cô độc này.

Cậu thậm chí còn hy vọng những người này trút giận mạnh mẽ hơn một chút, gào khóc to hơn, rít gào chói tai hơn. Như vậy cậu cũng có thể nhanh chóng rời khỏi thế giới này.

Chính bản thân cậu cũng không biết đây là tâm trạng gì. Giờ phút này cậu cảm thấy một vài câu nói của Lý tiên sinh là đúng đắn, có lẽ cậu chẳng hiểu rõ lòng người, bởi vì ngay cả bản thân mình cậu cũng có hiểu đâu.

Trong lúc A Tuấn đứng trong màn sương đen ngập trời suy nghĩ, cậu đột nhiên nghe thấy một giọng nói lạnh nhạt xuyên qua sương mù truyền vào trong lỗ tai.

Người kia nói: "Cậu hối hận rồi."

Nội tâm A Tuấn căng thẳng, vô thức trả lời: "Tôi không hề."

Người kia không thèm quan tâm tới cậu nữa, nhưng A Tuấn lại cuống cuồng: "Tôi không hề, tôi việc gì phải hối hận? Tất cả đều đáng!"

Thẩm Mạn Di quấy rầy cậu, buộc cậu phải ra tay khiến chị ta yên lặng một chút.

Thẩm Mạn Thăng nhìn thì có vẻ đối xử tốt với cậu nhưng tất cả đều là giả bộ mà thôi. Nếu không thì sao phải cố tình bắt chước chữ cậu, coi đó là giễu cợt xem thường người khác.

Lý tiên sinh thì phân biệt đối xử, luôn soi mói tật xấu của cậu chỉ vì cậu không phải tiểu thư thiếu gia, ở tầng lớp thấp hơn. Rơi vào kết cục kia âu cũng là số trời.

Tội nghiệp của quản gia, bà vú nấu cơm và hai cô gái nhỏ kia không lớn, nhưng khi lửa bùng lên, ngay cả bản thân cậu còn không muốn cứu, lo sao được những người khác. Chỉ có thể trách bọn họ xui xẻo, vừa khéo ở nhà thôi. Chính là số mệnh định sẵn.

Ngay cả mẹ ruột của cậu, người đã nuôi tiểu thư thiếu gia nhà khác như con cái của mình, luôn chịu thiệt thòi. Lại vì một chút chuyện nhỏ mà treo cổ tự tử, để lại mình cậu tiếp tục ăn nhờ ở đậu, đó cũng là số.

Cậu ghét những người này, ghét người nhà họ Thẩm đều có lý do cả.

Nhưng rõ ràng có lý do, cậu lại như bị chọc vào cái chân đau, không ngừng nhấn mạnh: "Tôi không hề hối hận, không hề!"

"Nếu lặp lại lần nữa thì tôi vẫn sẽ làm thế!"

Nói xong cậu ta dừng một chút rồi lại phủ nhận: "Không đúng, nếu lặp lại thì tôi không muốn xuất hiện ở nhà họ Thẩm nữa."

Lời nói mạnh mẽ hùng hồn này quanh quẩn trong hành lang đổ nát bừa bộn. Những tiếng thét gào và rên rỉ của người chết đột nhiên ngừng bặt, sau đó hành lang chìm vào trong bầu không khí tĩnh mịch.

Cảm giác đau đớn trên người biến mất, A Tuấn ngơ ngác ngẩng đầu.

Trông thấy bọn Thẩm Mạn Di không khóc nữa, sương đen vẫn tàn phá quanh người bọn họ nhưng không nhào tới tấp về phía cậu nữa.

Bọn họ chỉ lẳng lặng nhìn cậu, khuôn mặt từ tủi hờn biến thành buồn đau, cuối cùng chậm rãi khôi phục bình tĩnh, thản nhiên nhìn cậu như nhìn một người xa lạ.

A Tuấn đột nhiên cảm thấy không thoải mái, cậu thà rằng những người này giống như ban nãy đối xử thô bạo với cậu còn hơn. Chứ như hiện tại lại khiến cho cậu cảm thấy nửa vời, nghẹn họng.

Giống như cậu đã gói ghém gọn gàng một túi đồ chuẩn bị trả lại bọn họ, chìa ra rồi nhưng bọn họ lại không cần nữa.

Có lẽ trong nháy mắt đó, xung quanh quá an tĩnh. A Tuấn không khỏi nhớ trước đây rất lâu Thẩm Mạn Thăng từng nói rằng: "Anh Tuấn, có chuyện gì anh đừng buồn bực, người trong nhà với nhau thì có thể cãi nhau mà."

Cậu trước kia chưa từng cãi nhau, hiện tại cũng chẳng còn ai để cãi nữa rồi.

Cậu trông thấy Thẩm Mạn Di chùi mắt, chợt xoay người sang chỗ khác, những xiềng xích trên người chị ta dường như không phải gánh nặng, ít nhất chị ta đi đường không cảm thấy nặng nề cồng kềnh.

Cô bé quay lưng về phía A Tuấn, đi tới trước mặt Tống Á Hiên ngẩng đầu nói: "Anh ơi, em muốn rời đi."

Tống Á Hiên bị lời cô bé làm sững sờ một chút, lát sau gật đầu trầm giọng nói: "Được."

Nói xong hắn vươn tay, chạm vào giữa trán cô gái nhỏ.

Trong nháy mắt đó, những luồng sương đen kia rốt cuộc tuôn vào trong tay hắn, từ giương nanh múa vuốt tới trầm như mạch nước ngầm, cuối cùng an tĩnh lơ lửng xung quanh Tống Á Hiên, dần dần dung hòa vào trong cơ thể hắn.

"Sau này em sẽ biến thành thứ gì?" Khi bóng dáng Thẩm Mạn Di trở nên mờ nhạt, cô bé nhỏ giọng hỏi một câu.

Tống Á Hiên: "Anh không biết."

"Sẽ biến thành bướm chứ ạ?" Thẩm Mạn Di lại hỏi một câu giống như vẫn chẳng hiểu mọi thứ, vẫn luôn là cô gái nhỏ thích mơ mộng, "Giống như cái này nè."

Cô bé cúi đầu tóm nơ con bướm trên vai.

Khoảnh khắc sương đen được tẩy rửa hoàn toàn, cơ thể cô bé trở nên sạch sẽ, cảnh tượng thối rữa biến mất tăm, chiếc váy vàng nhạt tươi tắn mới mẻ giống như những đóa hoa mới nở ở sân sau.

Tống Á Hiên mím môi, một lúc lâu sau mới nói: "Có thể."

Đáp án này khiến Thẩm Mạn Di vô cùng vui vẻ. Cô bé xách tà váy xinh đẹp nở nụ cười với Tống Á Hiên, sau đó vẫy tay về phía Lưu Diệu Văn bên cạnh....

Cô bé nói hẹn gặp lại với hai người mình yêu quý nhất, mãi cho tới khi hoàn toàn biến mất cũng không ngoảnh đầu nhìn lấy một lần.

Người thứ hai xoay người là quản gia.

Sau đó là bà vú nấu cơm.

Hai vị tiểu thư nhà họ Thẩm.

....

A Tuấn trơ mắt nhìn những người đã từng sống chung với mình lần lượt dời mắt khỏi người cậu, quay lưng bước đi, đi tới trước mặt Tống Á Hiên sau đó chậm rãi biến mất, không hề quay đầu.

Ngay cả mẹ ruột đã sinh đẻ và nuôi nấng cậu cũng không nói câu nào, chỉ dùng ánh mắt phiếm đỏ nhìn cậu hồi lâu, sau đó thở dài rồi rời đi.

Cậu không ngờ người ở lại lâu nhất lại là Lý tiên sinh.

Lý tiên sinh dường như còn có chuyện muốn nói với cậu nhưng chần chừ mãi rồi lắc đầu. Gã ôm hộp đồng xoay người đi về phía Tống Á Hiên như những người trước đó.

Xiềng xích trên người gã rơi xuống đất kêu leng keng, sương đen chậm rãi bị Tống Á Hiên hấp thu. Trường sam của gã cuối cùng cũng khô ráo, là màu xanh da trời nhã nhặn, rêu xanh mục nát trên người chậm rãi biến mất để lộ gương mặt văn nhã.

Cuối cùng gã cũng có thể nói chuyện.

A Tuấn vốn cho rằng ông ta cũng sẽ không nói một lời rời khỏi thế giới này như những người khác, không ngờ người nọ lại ngoảnh đầu.

Lý tiên sinh nhìn thoáng qua A Tuấn từ đằng xa, muốn nói lại thôi. Cuối cùng gã hỏi A Tuấn một câu: "Con biết vì sao tiểu thiếu gia Mạn Thăng lại bắt chước chữ con không?"

A Tuấn cau mày không hiểu ý gã: "Bởi vì tôi học chữ muộn, nhận mặt chữ muộn, kém cỏi hơn bọn họ cho nên cố tình bắt chước để chế nhạo tôi."

Lý tiên sinh lắc đầu.

Sau một lúc lâu gã mới nói: "Nó biết con hay so sánh, tâm tư nhạy cảm. Mỗi lần nộp bài tập luyện chữ cho thầy đều ngại ngùng mãi. Cho nên mới đặt bản thân cùng vạch xuất phát với con, mong có thêm người bạn sẽ giúp con thoải mái hơn. Như thế cho dù thầy có phê bình thì cũng phê bình cả hai, còn thể hiện rằng con có nhiều tiến bộ hơn."

"Cho nên sau này thầy mới không uốn nắn nó nữa." Lý tiên sinh nghĩ rồi nói, "Đều trách thầy."

Trẻ con thường sẽ có những suy nghĩ người lớn khó giải thích, để lộ ra lòng tốt vụng về. Gã còn cho rằng sống chung lâu ngày lại cùng tuổi thì sẽ nghĩ thông suốt thôi.

Đáng tiếc.....

A Tuấn sững người, ngơ ngác hồi lâu mới cau mày nói: "Không thể nào."

Lý tiên sinh nhìn cậu nhưng không có ý định giải thích thêm.

Người nên hiểu sẽ hiểu, người không hiểu thì chính là quan điểm khác nhau nên không cùng nhau bàn luận trao đổi được, coi như không có duyên phận đi.

Lý tiên sinh nói xong những lời này không quan tâm thiếu niên đang mê mang, quay đầu nói với Tống Á Hiên: "Tôi có một yêu cầu quá đáng, không biết có nên thể nói ra hay không?"

Tống Á Hiên: "Anh nói đi."

Lý tiên sinh cụp mắt nói: "Tôi vẫn muốn về thăm nhà một chuyến."

Chuyến này gã đã chờ rất nhiều năm rồi.

Tống Á Hiên im lặng một lát mới nói: "Tôi có thể giúp anh ở lại mấy ngày, nhưng anh ra ngoài sẽ cảm thấy rất khó chịu đấy."

Lý tiên sinh gật đầu: "Tôi hiểu, nhưng tôi vẫn muốn nhìn một lần, coi như là thỉnh cầu cuối cùng đi."

Tống Á Hiên gật đầu, vỗ chiếc hộp đồng nói: "Chui vào trong này đi."

Chẳng mấy chốc căn nhà rộng lớn trở nên trống trải, chỉ còn lại một mình A Tuấn đứng trong hành lang. Cậu cúi đầu nhìn ngón tay và cơ thể bản thân, sợ hãi phát hiện mình đang tiêu tán, dường như không hề có cơ hội trở nên sạch sẽ.

"Vì sao tôi...không giống bọn họ?" A Tuấn thì thào.

Vì sao trên người cậu không có sương đen, vì sao những người khác rời đi cậu lại có cảm giác bản thân bị hút khô? Rõ ràng đây là địa bàn của cậu, rõ ràng những người kia tồn tại được là nhờ cậu.

"Bởi vì chỉ có mình cậu chưa buông bỏ được bản thân thôi." Tống Á Hiên nói.

Mọi người đều có những tâm sự dang dở, có vướng bận cõi trần, có những chuyện không nỡ và không buông được. Nhưng cậu ta không có, nói cách khác thì cậu ta bồi hồi ở đây là do chính bản thân.

Cậu ra không cam tâm rời đi cho nên mới ở lại. Cậu có hơi hối hận, cho nên mới kéo theo những người khác ở đây.

Có lẽ từng có một khoảng thời gian cậu tưởng tượng những người kia có thể tha thứ cho cậu. Nhưng cậu không xin lỗi mà chỉ nghĩ: Tôi chia địa bàn của tôi cho mấy người ở lại giống như lúc tôi còn sống ở nhờ nhà mấy người. Thế là được rồi chứ gì.

Cho nên khi những người kia không quay đầu rời đi, sự tồn tại của cậu liền mất ý nghĩa. Quanh đi quẩn lại, hóa ra không phải bọn họ trói buộc cậu, mà là cậu không thể rời khỏi bọn họ.

Cậu hủy duyệt những người đó chỉ vì cầu mong một sự giải thoát. Kết quả lại không được giải thoát.

Có lẽ đây chính là báo ứng chăng.

Cơ thể khô héo của cậu ta chậm rãi rạn nứt, toàn bộ căn nhà bắt đầu chấn động không ngừng theo.

Tống Á Hiên duỗi tay về phía cậu ta từ đằng xa, dây rối dài ngắn rủ xuống giống như mối liên kết giữa người với người không thể nói rõ.

A Tuấn cảm thấy một áp lực vô hình phủ lên đỉnh đầu, có thứ gì đó đang bị hút ra khỏi cơ thể cậu. Chính xác là rút ra khỏi linh tướng và ra khỏi cái lồng này.

Đó dường như là một mảnh vụn sạch sẽ không nhuốm bụi trần, mang theo hương mai trắng thoang thoảng.

A Tuấn ôm lấy đầu trong cơn đau nhức, cậu ta nhắm chặt hai mắt, chợt hỏi một câu khi cơ thể ngày một nhẹ hơn: "Thẩm Mạn Thăng còn sống không?"

"Không biết." Giọng nói Tống Á Hiên truyền vào trong tai cậu ta, "Nhưng không liên quan gì tới cậu nữa rồi."

Dù sao cũng là chuyện cũ người cũ năm xưa, họ sẽ chẳng gặp được nhau giữa thế giới rộng lớn này.

Nói xong bàn tay hắn đẩy vào khoảng không. Cơ thể khô héo của A Tuấn tan thành tro bụi, toàn bộ lồng bắt đầu sụp đổ dưới ngón tay hắn. Trang trí cổ xưa của nhà họ Thẩm, đống hỗn độn trên đất và ánh trăng lành lạnh phía xa đều biến thành một mảng trắng xóa.

Mảnh vụn linh tướng mất đi đã lâu kia kề sát trán chui vào cơ thể, lạnh đến mức kinh người.

Hắn hơi cúi đầu, cảm giác đầu ong ong, vô thức lùi về sau một bước, được một đôi bàn tay đỡ lấy.

Khoảnh khắc lồng tiêu tan, Tống Á Hiên quỳ trên mặt đất dưới cơn đau nhức dữ dội từ giữa trán, hắn cảm giác có ai đó đang đỡ trán mình khi mồ hôi lạnh thi nhau túa ra, một giọng nói trầm thấp và mơ hồ vang lên bên tai: "Đừng siết chặt ngón tay, chúng ta về nhà nào."
Có lẽ do có một mảnh linh tướng nhập về cơ thể nên kí ức cũng nhiều hơn một phần. Hoặc có thể do đau đớn đến mức không chịu nổi, mà Tống Á Hiên là người có thói quen không chịu yếu thế kêu thành tiếng chỉ đành cố gắng suy nghĩ về một số người và vài sự việc, nhờ nó để gắng gượng vượt qua đêm dài.

Thế là hắn nhớ về thuở ban đầu.

***

Tống Á Hiên gặp Diệu Văn lần đầu tiên là khi hắn còn rất nhỏ, nhỏ đến mức chưa ở độ tuổi có thể ghi nhớ được mọi việc. Lúc ấy là năm nào tháng nào, hắn đang ở đâu, vì sao cảnh tượng xung quanh mình lại như thế kia, hắn đều không nhớ rõ.

Trong ánh chiều tà ngày hôm đó, khắp nơi nhuốm màu đỏ cam, đâu đâu cũng có người chết.

Xác chết chồng chất thành núi, trong gió thoảng mùi gay mũi khó ngửi, máu tanh uốn lượn chảy thành dòng tụ lại chỗ trũng, có chỗ đã khô cạn thành màu nâu gỉ sắt, có chỗ lại sền sệt đặc quánh.

Tống Á Hiên bò ra từ dưới một cái xác nặng trĩu, bàn tay bị đá cứa rách da.

Hắn không biết vì sao tất cả mọi người nằm im nơi đó mà không một ai nói chuyện. Cũng không biết vì sao xung quanh lại tĩnh lặng như vậy, đến mức tưởng như chỉ còn một mình hắn tồn tại trên thế gian này.

Hắn cố kéo một người lớn bên cạnh, nhưng ngay cả bản thân hắn đứng cũng còn chẳng vững.

Người lớn kia vẫn không tỉnh, hắn cố lôi kéo nhưng lại bị trượt chân ngã ngồi trên mặt đất, lòng bàn tay dính đầy máu tanh. Tay của người kia không có sức sống "bịch" một cái trượt xuống đất, hắn lại cố chấp bò dậy nắm lấy nó một lần nữa nhưng vẫn vô ích.

Thế là hắn lẻ loi đứng đó, xòe ngón tay dính đầy máu, ngơ ngác chẳng biết phải làm sao...

Mãi tới khi nghe thấy có người đến gần.

Ngày hôm đó Diệu Văn không mặc áo choàng, cũng không đeo mặt nạ. Chỉ mặc một chiếc áo mỏng trắng như tuyết, giống hệt như một vị thần tiên không nhuốm bụi trần hạ phàm. Khi cụp mắt nhìn người dưới đất, có một loại cảm giác ôn hòa từ ái và thương xót.

Cái nhìn kia đã trở thành khởi đầu cho tất cả kí ức của Tống Á Hiên đối với thế giới này.

Diệu Văn kéo vạt áo ngồi xổm xuống ôm hắn ra khỏi núi thây biển máu. Mà hắn giống như một con búp bê giả ghé vào trên vai đối phương, mở to đôi mắt đen láy nhìn chằm chằm mặt đất, nhìn đến mức mắt ê ẩm khó chịu, vừa nóng vừa rát.

Người đó vỗ nhẹ vào lưng hắn, giọng nói trầm trầm: "Nhắm mắt lại."

Hắn vừa nghe liền lập tức làm theo, nhắm mắt vùi mặt vào vai người kia, một lát sau mảng vải dưới mí mắt dần ướt đẫm.

Hắn lúc ấy còn quá nhỏ, đáng lẽ không nhớ rõ được ngày hôm đó. Nhưng trong một khoảng thời gian dài của rất lâu về sau, hắn vẫn nhớ rõ mùi máu tanh trong gió hôm ấy, nhớ rõ cảm giác tay của người đã chết tuột khỏi lòng bàn tay hắn, lạnh lẽo đến đáng sợ.

Vào cái ngày hắn bắt đầu có ký ức ấy, không cần một ai chỉ dạy đã tự mình hiểu rõ sự sống và cái chết, nỗi buồn và niềm vui.

Hắn không có tên, chỉ có một chiếc khóa trường sinh được đeo trên người từ lúc sinh ra, trên khóa khắc một chữ "Tống", chắc hẳn là tên dòng họ của hắn. Diệu Văn cho hắn thêm một chữ "Thời".

"Thời giả sở dĩ ký tuế dã"[1]. Xuân hạ thu đông, nhật nguyệt xoay vần, đều hội tụ trong một chữ này.

[1] Nguyên văn: /时者所以记岁也/ có nghĩa là "người hiểu thời gian có thể biết được thu hoạch bội thu hay mất mùa" hoặc "Người hiểu thời thế sẽ giúp quân chủ của mình nắm bắt được thời cơ, mang đến sự hưng thịnh lâu dài". Câu trên được trích từ áng văn xuôi của nhà chính trị gia Quản Tử thời Xuân Thu. Nội dung nói về việc ông dạy vua Tề Hoàn Công cách trị quốc (Nguồn: Baidu _《管子·山权数》).

//

Sức khỏe Tống Á Hiên khi còn bé rất yếu, ngày hôm ấy khóc quá lâu lại bị dọa sợ, sau khi được Diệu Văn mang về liền ốm nặng một trận.

Trên đỉnh núi quá lạnh, không thích hợp cho trẻ con sống. Ngược lại dưới chân núi là nơi thôn xóm tụ tập, nhà cửa san sát, lúc nào cũng ấm áp cùng với khói bếp quẩn quanh. Vì thế lúc đầu Tống Á Hiên được nuôi dưỡng ở dưới chân núi Tùng Vân.

Nhưng hắn không có quá nhiều ấn tượng với nơi đó cho lắm, bởi trong khoảng thời gian dưỡng bệnh hắn luôn mê man lúc ngủ lúc tỉnh, cứ lặp đi lặp lại, chờ đến khi khỏi hẳn thì bốn mùa đã xoay chuyển một vòng.

Theo quy củ, hắn chuyển tới lưng núi Tùng Vân sống cùng một chỗ với mấy đệ tự ruột khác như Bốc Ninh, Trang Dã. Đúng ra bản tính trẻ nhỏ thích vui đùa, người có tuổi tác chênh lệch không nhiều ở chung thì sẽ nhanh chóng quen thân với nhau.

Nhưng Tống Á Hiên lại là ngoại lệ.

Hắn không biết mình sinh ra từ bao giờ, đã bao nhiêu tuổi, tới từ đâu. Hắn thấy mình giống như một vị khách không mời mà đến, trông chẳng ăn nhập với mấy đứa bé kia chút nào.

Trong khoảng thời gian ấy Diệu Văn thường xuyên không ở núi Tùng Vân, cứ ra khỏi cửa là sẽ đi rất lâu không về, cho nên cũng không biết những điều này. Nhưng cho dù Diệu Văn có ở đó thì cũng không biết ngay được, bởi vì Tống Á Hiên đâu có chịu nói ra.

Từ nhỏ hắn đã lầm lì và bướng bỉnh, không giỏi bộc lộ cảm xúc của bản thân.

Có lẽ vì vậy mà những thứ không thuộc về hắn mới có thể tồn tại trong thân thể hắn lâu như vậy...

Lần đầu tiên Tống Á Hiên giải phóng sát khí là vào một đêm trước khi Diệu Văn trở về mấy hôm.

Hắn bị tên Trang Dã có tướng ngủ xấu kéo mất cái chăn, phải dựa vào góc tường để ngủ thì bị nhiễm lạnh. Có lẽ do cơ thể suy yếu khiến những thứ kia chui qua kẽ hở, đêm hôm đó rất nhiều giấc mơ bủa vây lấy hắn.

Hắn lại mơ thấy bản thân đang đứng trong tòa thành ngập máu kia, hắn cúi xuống lay những người đã chết ở bên cạnh, cố chấp muốn đánh thức đối phương, nhưng dù hắn có lay thế nào thì cũng chẳng ích gì.

Khắp thành đều là tiếng ma khóc quỷ gào, xoay quanh hắn, nói những điều mà hắn không hiểu, có khóc lóc kể lể, có kêu rên, còn cả những tiếng thét và tiếng thở dài não nề.

Tống Á Hiên lắng nghe một lát, lại cảm thấy những âm thanh này không phải ở bên ngoài mà là phát ra từ trong cơ thể của hắn.

Thế là hắn rùng mình, đột ngột tỉnh giấc.

Hắn mở mắt ra, phát hiện bản thân không phải đang ở trong căn phòng nơi sườn núi mà đứng trên con đường đá dẫn xuống chân núi, bên chân là một khóm hoa héo rũ.

Bên cạnh có người hít vào một ngụm khí lạnh.

Hắn quay đầu nhìn thấy mấy thằng nhóc nhỏ tuổi đang trợn tròn mắt, hoảng sợ nhìn mình như thể vừa gặp phải ma quỷ. Bọn chúng la hét ầm trời, lăn lông lốc xuống núi.

Đó là đài luyện công gần chân núi, mấy người bị hắn dọa sợ là đệ tử ngoại môn dậy sớm sống dưới núi.

Lúc ấy trời vừa mới hửng sáng, trên núi rất lạnh, mặt đất gồ gề rét buốt.

Tống Á Hiên đứng lẻ loi bên cạnh khóm hoa chết héo kia một lúc lâu mới nhận ra mình đang đi chân đất, không biết trên đường đi đã bị đá cọ xước bao nhiêu chỗ, rất đau.

Hắn cúi đầu nhìn hai bàn tay mình, phát hiện ngón tay quấn đầy những thứ đen sì bẩn thỉu giống như sương mù. Hắn cầm góc áo dùng sức xoa mạnh, mạnh đến mức lòng bàn tay tưởng chừng như sắp bị chùi rách da cũng vẫn không hết bẩn.

Sau ngày hôm đó, dưới chân núi liền nổi lên lời đồn thổi cho rằng hắn là ác quỷ chuyển kiếp khoác lên mình bộ da của trẻ con. Nói hắn nửa đêm sẽ xuống núi bắt người, hoa cỏ ở những nơi hắn đi qua đều trở nên khô héo.

Tất cả mọi người đều sợ hãi không dám đến gần hắn, như thể hắn sẽ lột bỏ tấm da người, giương nanh múa vuốt hiện ra nguyên hình ác quỷ của mình bất cứ lúc nào.

Hắn vẫn luôn chỉ có một mình, trong khoảng thời gian hai ngày đó lại càng thêm rõ ràng nổi bật. Bất kể là ăn cơm, đi ngủ hay luyện tập những kỹ năng cơ bản, mấy đứa trẻ khác đều sợ hãi cách xa một khoảng.

Hắn rất cứng đầu, quyết không chịu mở miệng giải thích lấy một câu.

Chỉ rúc vào một góc giằng co với đám sương đen quấn quanh đầu ngón tay.

Bọn Trang Dã không nhìn thấy được đám sương đen trên tay hắn, nếu không có lẽ sẽ càng hoảng sợ hơn, thậm chí còn chẳng dám đứng chung một phòng với hắn.

Thực ra chính hắn mới là người sợ hãi nhất.

Hắn sợ bản thân lại mơ thấy những tiếng quỷ khóc dai dẳng kia, sợ rằng sau khi mở mắt sẽ thấy mình đang đứng ở một nơi xa lạ nào đó, hù dọa một đám người không quen biết. Sợ đến mức cả đêm cũng không dám nhắm mắt lại.

Đúng lúc đó Diệu Văn trở về núi Tùng Vân.

Dường như Diệu Văn đã làm rất nhiều việc, đi qua rất nhiều nơi trong khoảng thời gian đó. Vì thế khi hắn vừa bước chân vào cửa, mang theo mùi gió tuyết cõi trần, cái liếc mắt khiến đám tiểu đồ đệ trong nhà sợ hãi tới mức không dám hó hé gì.

Nhưng bọn chúng vẫn cung kính gọi một tiếng "Sư phụ", riêng chỉ có Tống Á Hiên cứng đầu không chịu mở miệng.

Thứ nhất là bởi vì Diệu Văn mới từ dưới núi trở về, vẫn còn đeo mặt nạ nên có cảm giác lạ lẫm xa cách.

Thứ hai...có lẽ là lo lắng bản thân sẽ bị đuổi đi.

Dù sao tay hắn quấn đầy sương đen dơ bẩn, còn sẽ biến thành ác quỷ bất cứ lúc nào. So với việc vừa mới nhận sư phụ đã bị đuổi xuống núi thì chẳng bằng không nhận còn hơn.

Cho dù hắn được dẫn lên đỉnh núi, cho dù Diệu Văn đưa đại bàng Kim Sí nho nhỏ cho hắn, nói rằng để hắn nuôi lớn thì cảm giác bất an về việc sẽ bị bỏ rơi kia vẫn không biến mất hoàn toàn.

Bởi vì hắn không có ngày tháng năm sinh, không biết bản thân đến từ đâu, thậm chí còn không rõ mình có phải là quái vật hay không.

Tống Á Hiên nhớ rõ ngày hôm đó trời đổ tuyết tới tận đêm khuya mới ngừng, hắn ôm đại bàng Kim Sí, cúi gằm đầu ngồi trên giường chờ Diệu Văn lên tiếng đuổi hắn đi.

Hắn đợi rất lâu, đợi được một bát thuốc.

Bát thuốc kia là do Diệu Văn sắc, đun sôi ùng ục ở trong phòng nửa ngày, lại vùi trong tuyết cho nguội bớt. Lúc bưng trở về vẫn còn tỏa khói trắng, nhưng không quá bỏng.

Diệu Văn đặt bát thuốc xuống bàn, xòe bàn tay nói với Tống Á Hiên: "Đưa tay cho ta."

Tống Á Hiên đang buồn bực, ngang ngạnh một hồi mới đưa tay ra. Diệu Văn nắm ngón tay hắn, cụp mắt nhìn luồng sương đen khẽ nhíu mày.

Tống Á Hiên mím môi, vô thức muốn rút tay về nhưng không thành công.

Diệu Văn xoa bóp gân cốt giúp hắn thả lỏng, sau đó cầm tay hắn nhúng vào trong nước thuốc.

"Con rụt tay lại làm gì, sợ bỏng hả?" Diệu Văn nói.

"Không phải." Hai tay Tống Á Hiên bị nhấn vào trong nước, không cam chịu giãy dụa một lúc.

Nhưng hắn nhanh chóng ngoan ngoãn hơn, bởi vì nhiệt độ của nước thuốc vừa phải, đủ để hơi ấm dọc theo bàn tay hắn tràn khắp cơ thể, khí lạnh mấy ngày trước còn tích tụ đã vơi đi hơn nửa.

Cảm thấy hắn đã thả lỏng, Diệu Văn hơi nâng mắt cười nhẹ, trêu trọc hắn: "Đã chín chưa?"

Tống Á Hiên lắc đầu.

Hắn nhìn đám sương đen trôi nổi trong nước, hình như phai nhạt hơn trước, lại tựa như không thay đổi, hắn không nhịn nổi thắc mắc bèn hỏi: "Vì sao tôi lại có mấy thứ dơ bẩn này."

Diệu Văn trầm ngâm một lát mới nói: "Đây không phải là mấy thứ dơ bẩn."

Tống Á Hiên: "Thế thì là gì?"

Diệu Văn: "Là do một số người ra đi quá nhanh và vội vã muốn để lại một chút tưởng niệm. Kết quả là lưu lại trên người con."

Đó chỉ là một cách nói uyển chuyển, sợ dọa đứa nhỏ bị sốc mà thôi. Sau này Tống Á Hiên mới biết được, chuyện sống chết trên đời này là lẽ thường tình, có người là do bệnh tật, bị thương, tuổi già, nay nhà này mai nhà kia, luôn được sắp đặt so le sẵn. Nhưng có một số lại không theo quỹ đạo, ví dụ như chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh tàn phá.

Tống Á Hiên năm đó chính là gặp phải chiến loạn tàn sát toàn bộ dân trong thành.

Oán sát khí đen từ hàng vạn, hàng trăm nghìn người tràn lan đáng sợ tới mức nào, nếu như tạo thành lồng thì khó mà tưởng tượng nổi.

Diệu Văn vội tới đó để giải lồng, nhưng khi đến nơi lại không thấy bất cứ chiếc lồng nào, chỉ có một đứa bé bị mấy xác người trưởng thành bảo vệ dưới thân, trở thành người duy nhất sống sót sau thảm họa đó.

Đứa bé một mình đứng nơi đó, lúc lặng lẽ rơi nước mắt không khác bất cứ một đứa trẻ bình thường nào trên đời này,  thậm chí còn sạch sẽ đến mức không dính một hạt bụi.

Nhưng trên thực tế, hàng vạn oán khí kia lẽ ra phải tạo thành một cái lồng lại giống như một vòng xoáy lấy đứa bé làm trung tâm, tất cả nỗi oán hận vương vấn đều nhập vào trong cơ thể nó.

Có lẽ do quá nhiều, không sao đếm hết được, có lẽ là nguyên lý sự vật phát triển tới mức cực hạn thì sẽ chuyển hóa theo hướng ngược lại, cho nên không biểu hiện ra ngay lập tức. Mãi cho đến rất lâu về sau mới chậm rãi lộ ra chút manh mối.

Nó thật sự không phải thứ gì dơ bẩn, mà là buồn vui, yêu hận, nhớ nhung và không nỡ của rất nhiều người đối với thế giới này, là duyên nợ cõi trần.

Lúc Tống Á Hiên ngâm thuốc lại nhớ tới bông hoa héo rũ và cả con chim chết khô trong nháy mắt, cùng với bàn tay như bộ xương khô của Diệu Văn. Hắn cúi đầu, nhìn chằm chằm ngón tay đã trở lại bình thường của đối phương nói: "Có hại người không?"

Diệu Văn hơi kinh ngạc. Hắn bỏ thêm vào bát thuốc vài thứ, cụp mắt nhìn tiểu đồ đệ của mình nói: "Mới có bao lớn, con không lo lắng cho bản thân trước à?"

Thấy Tống Á Hiên không lên tiếng, người nọ lại nói tiếp: "Con ngoan một chút thì sẽ không sao."

Tống Á Hiên nghĩ ngợi một lát, cảm thấy bản thân vẫn có khả năng hại người khác, thế là cúi thấp đầu rầu rĩ không vui.

Hắn ngây ngẩn nhìn chằm chằm nước thuốc màu xanh thẫm một hồi, bỗng nghe thấy Diệu Văn mở miệng nói tiếp: "Có cách để giải, nhưng phải đợi con lớn hơn chút mới được."

Tống Á Hiên sửng sốt một lát mới ngẩng đầu, trông thấy Diệu Văn đứng thẳng người dậy, rút khăn lụa lau sạch mấy ngón tay. Ánh lửa trong cây đèn khẽ lay động, rọi bóng hắn lên vách tường.

"Lớn hơn một chút là lớn chừng nào?" Tống Á Hiên nói.

Diệu Văn nhìn quanh phòng một lượt rồi chỉ tay vào đại bàng Kim Sí tròn vo nói: "Chờ đến lúc con nuôi nó thành người."

Tống Á Hiên nghe xong liền ngẩn người: " Chim thì sao biến thành người được?"

Diệu Văn cười nói: "Không có lông nữa là được."

Tống Á Hiên: "?"

Đại bàng Kim Sí: "???"

Thấy tiểu đồ đệ không còn ủ rũ nữa, Diệu Văn vươn tay cầm lấy áo choàng bước ra khỏi phòng. Trước khi đi còn vỗ nhẹ đầu Tống Á Hiên nói: "Ở lại đây đi, tên cũng do ta đặt, ai dám không cần con?"

Bắt đầu từ ngày hôm đó, Tống Á Hiên có một bến đỗ gọi là Diệu Văn.
(*) tiết sâu nở, là một trong 24 tiết của năm, vào ngày 5, 6 hoặc 7 tháng 3, khoảng giữa xuân.

"Gọi ta đi." Đối phương cầm lấy sợi dây rối của hắn khẽ nói. Tống Á Hiên hơi rũ mắt, mấp máy môi: "Diệu Văn."

Thời gian đó Tống Á Hiên thực sự rất bám người.

Nhưng hắn chẳng nói năng gì, cũng không quấn lấy Diệu Văn đòi hỏi, không đòi ôm, không đòi dắt tay, cách bám người của hắn chỉ là yên lặng lẽo đẽo theo sau.

Như thể nơi nào có Diệu Văn mới có thể khiến Tống Á Hiên yên tâm ở lại.

Mặc dù cái tên Tống Á Hiên là do Diệu Văn đặt, nhưng hắn chưa từng gọi tên đó một lần nào, chỉ toàn thích đặt biệt danh cho Tống Á Hiên.

Nếu như Tống Á Hiên rầu rĩ không chịu lên tiếng, Diệu Văn liền gọi hắn là "nhóc câm điếc". Nếu Tống Á Hiên giống như một cục tuyết lẽo đẽo theo mình đi khắp nơi, Diệu Văn liền gọi hắn là "cái đuôi nhỏ".

Trẻ nhỏ không nhớ được lâu, những chuyện không vui chỉ cần không nhắc tới thì sẽ nhanh chóng quên béng mất. Lúc ban đầu Tống Á Hiên cũng như thế —

Diệu Văn cho hắn ngâm thuốc mấy ngày, sương đen trên tay dần bị giấu trở về, có thể ngủ một giấc yên ổn đến hừng đông. Hắn liền cảm thấy mấy thứ đó cũng chẳng phải chuyện gì to tát.

Thật ra đó là do hắn khỏi cảm lạnh, tinh thần ổn định. Thế nhưng hắn không biết, còn tưởng rằng thể chất của mình đã thay đổi, mấy thứ ẩn núp trong cơ thể cũng bớt dần đi.

Năm đó có lẽ là năm Tống Á Hiên ít gánh nặng nhất, thậm chí hắn còn dẫn theo cả đại bàng Kim Sí xuống núi chơi.

Nhưng hắn chơi đùa cũng rất kiềm chế và yên tĩnh.

Người dưới chân núi vẫn gọi hắn là ác quỷ, mấy đứa nhỏ khi nhìn thấy hắn sẽ đứng xa xa cầm đá ném hoặc lập tức quay đầu bỏ chạy, như thể chỉ cần đứng đó một lúc là sẽ bị hắn lột da ăn thịt vậy.

Cho nên trước giờ Tống Á Hiên chẳng bao giờ đi đến những chỗ đông người, mà chỉ chọn đến những nơi vắng người như khe núi, rừng cây, bờ suối. Về sau những điều ấy đã trở thành thói quen của hắn.

Có thể do hắn không hoạt bát nhanh nhẹn cho lắm nên rất thích những thứ còn sống và cử động được. Đỉnh núi Tùng Vân quá lạnh không có nhiều sinh vật sống. Nên khi hắn bắt gặp một hang thỏ ở dưới chân núi, vài con rùa hay đôi cá đang tung tăng bơi lội đều có thể đứng ngắm nhìn rất lâu.

Khi hắn chơi đùa một mình trong khu rừng kia thường hay gặp một bà lão hái thuốc. Mối quan hệ giữa hắn và bà lão cũng khá sâu xa, lúc trước hắn được Diệu Văn mang về nuôi dưới chân núi, chính là ở nhà của bà lão ấy.

Thời gian nuôi nấng không lâu, cộng thêm trẻ nhỏ trí nhớ không tốt nên tình cảm không mấy sâu đậm. Nhưng bà lão là người duy nhất trong đám người dưới chân núi đối tốt với hắn.

Mỗi lần nhìn thấy Tống Á Hiên trong rừng, bà ấy luôn nhét cho hắn một ít đồ. Có khi là hoa quả đã rửa sạch, có khi lại là chút bánh ngọt hấp ở nhà.

Trái cây thường bị chín mềm nhũn, bánh thì hơi khô, đối với khẩu vị của một đứa trẻ thì không ngon cho lắm. Nhưng Tống Á Hiên luôn ngồi khoanh chân ăn hết sạch những món đó ngay trước mặt bà lão. Không lâu sau còn học được cách đáp lễ.

Cuối đông đầu xuân năm thứ hai, dưới chân núi làm lễ cúng bái tổ tiên, đón giao thừa và trừ tà cầu phúc tưng bừng rộn ràng suốt mấy ngày liền. Khoảng thời gian đó Tống Á Hiên hạn chế xuống núi, chỉ trừ khi Diệu Văn dẫn hắn ra ngoài, còn lại hắn không hề xuống núi một mình.

Đợi đến khi kết thúc chuỗi ngày lễ, Tống Á Hiên lại tới rừng cây dưới chân núi, nhưng liên tiếp mấy ngày đều không gặp được bà lão hái thuốc.

Hắn hơi lo lắng bèn ôm theo đại bàng Kim Sí lần mò tới ven thôn, trên đường còn không quên bóp mỏ chim không cho nó kêu. Sau đó, hắn thấy cờ dẫn hồn màu trắng mắc trên sào trúc và tiền giấy rải đầy đất.

Họ hàng thân thích trong thôn đốt giấy để tang, Tống Á Hiên láng máng nghe thấy bọn họ bảo rằng bà cụ mất rồi. Sau khi ăn xong bữa cơm đoàn viên, đón đêm giao thừa, bà ra đi trong lúc say giấc, không bệnh không đau đớn, cứ thế hết thọ chết già.

Nhiều đứa trẻ còn nhỏ không hiểu ý nghĩa của việc qua đời. Chỉ cảm thấy đông người thì rất vui, chúng được người lớn trong nhà dẫn đến dập đầu vái lạy, sau đó quay ra nô đùa ầm ĩ cùng nhau.

Nhưng Tống Á Hiên hiểu điều đó có nghĩa là gì. Hắn biết rằng từ nay về sau, bất kể là xuân hạ thu đông, khi hắn vào rừng đều sẽ không gặp được người đeo cái sọt, cười híp mắt nhét cho hắn trái cây cùng bánh ngọt nữa.

Đêm hôm ấy Tống Á Hiên lại mơ thấy giấc mơ kia.

Mỗi tội lần này trong mơ không chỉ có mỗi tòa thành quỷ với núi thây biển máu nữa, mà còn nhiều thêm một bà lão hái thuốc, bước chân tập tễnh đi dọc theo con đường dài tối đen, gọi thế nào cũng không quay đầu.

Những tiếng quỷ khóc kia giống như những lưỡi dao mũi kim cứa vào trong đầu hắn, ghim chọc thật mạnh khiến đầu hắn đau như muốn nứt toác, nhưng không tránh thoát được.

Tống Á Hiên trong mơ giằng co cùng những thứ đó rất lâu.

Rốt cục đến lúc mở được mắt ra, hắn phát hiện mình không ở trên giường mà đang đứng trước cửa phòng Diệu Văn, hai bàn tay tràn đầy sương đen cuồn cuộn như những lưỡi đao đang cố chui vào trong phòng.

Hắn sững sờ hồi lâu mới rùng mình quay đầu bỏ chạy, sau đó không dám nhắm mắt nữa.

Tống Á Hiên biết đại bàng Kim Sí không sợ sương đen. Hắn không trở về phòng mà ngồi khoanh chân trên mỏm đá ở đài luyện công hì hục nhổ lông xù trên đầu đại bàng Kim Sí, trông thấy nó bị sương đen bủa vây mà vẫn tràn đầy sức sống, hắn mới cảm thấy dễ chịu hơn một xíu.

Không biết bản thân đã ngồi bao lâu, mãi đến khi nghe thấy tiếng sột soạt đằng sau lưng, là tiếng vạt áo quét nhẹ qua cành tùng phủ tuyết trắng.

Hắn biết là Diệu Văn tới, nhưng vì bản thân đang buồn bực nên không chịu quay đầu.

Bởi chỉ cần nhớ đến chuyện đêm qua mình đứng trước cửa phòng Diệu Văn một cách quỷ dị, hắn lập tức cảm nhận được cơn khó chịu không biết từ đâu ập đến. Lúc ấy hắn không hiểu nổi vì sao bản thân lại khó chịu, mãi sau này mới hiểu được đó là một loại sợ hãi.

Sợ rằng một ngày nào đó sẽ mất kiểm soát mà làm hại đến người mình không muốn làm tổn thương nhất. Mặc dù hắn biết, chỉ cần Diệu Văn có chút đề phòng thì sẽ không thể bị hắn làm hại.

"Sao cái đuôi của ta lại bị rơi ở chỗ này thế nhỉ?" Diệu Văn cúi người phía sau hắn, dùng lòng bàn tay nâng cằm hắn để hắn ngẩng đầu lên.

Có thể là do mắt của Tống Á Hiên quá đỏ làm Diệu Văn sửng sốt một lúc mới giúp hắn lau đi mấy giọt nước mắt đọng trên cằm rồi xoay người hắn lại.

Tống Á Hiên duỗi một tay ra nói: "Những thứ đó lại xuất hiện."

Diệu Văn gật nhẹ đầu: "Thấy rồi."

Tống Á Hiên cứ nghĩ rằng hắn sẽ hỏi "Chuyện gì xảy ra thế", nhưng cuối cùng lại nghe thấy Diệu Văn nói: "Có đau không?"

Thật ra rất đau, đau lắm, là loại đau đớn chui vào trong đầu, xuyên qua trái tim, lan khắp cơ thể, bám rịt vào linh tướng, làm thế nào cũng không thoát khỏi nỗi đau ấy.

Nhưng có lẽ là do hắn đã tỉnh từ lâu, lúc Diệu Văn hỏi đến, hắn lại cảm thấy vẫn ổn. Thế là lắc đầu khẽ nói: "Không đau."

Diệu Văn cúi xuống nhìn đỉnh đầu hắn, một lúc sau mới nói: "Mới tí tuổi đã học được cách lừa dối người rồi."

Tống Á Hiên hơi nhíu mày, ngửa mặt lên hỏi: "Sao ông biết là tôi lừa ông."

Diệu Văn: "Bởi vì ta là sư phụ."

Hắn ngồi xuống bệ đá, Tống Á Hiên nhìn đám sương đen trên người mình rồi lặng lẽ nhích sang bên cạnh. Vốn nghĩ rằng bản thân di chuyển rất cẩn thận thì sẽ không bị chú ý, nhưng thật ra tất cả động tác của hắn đều lọt vào trong mắt Diệu Văn.

Đối phương im lặng hồi lâu mới nói: "Cho con xem một thứ."

Tống Á Hiên vẫn giữ nguyên khoảng cách, tròn mắt tò mò nhìn hắn.

Diệu Văn xòe lòng bàn tay về phía Tống Á Hiên. Bàn tay kia vừa sạch sẽ vừa ấm áp, đẹp hơn bất kỳ bàn tay nào hắn từng nhìn thấy. Hắn nhìn chằm chằm chốc lát, nhịn không được giấu bàn tay đầy sương đen của mình ra sau lưng.

Kết quả vừa giấu kĩ lại nhìn thấy trên bàn tay không nhiễm một chút bụi bẩn của Diệu Văn chậm rãi tràn ra một tầng sương đen giống hệt của mình, cuồn cuộn không ngừng...

Tống Á Hiên ngạc nhiên đến quên cả nói chuyện.

Diệu Văn giải thích rằng năm đó chiến tranh và thiên tai triền miên, hắn đi qua rất nhiều nơi, hầu như mỗi một nơi đều hình thành lồng bởi hàng chục nghìn người.

Những oán hận và sát khí đó dường như không thể tan biến, chỉ có thể tạm khống chế trước rồi từ từ giải quyết.

Diệu Văn khép ngón tay, đám sương đen kia lập tức nghe lời biến mất, không hề có khí thế giương nanh múa vuốt. Hắn nói tiếp: "Vậy nên con xem, ta cũng giống như con."

Từ ngày hôm ấy trở đi Tống Á Hiên biết được, hóa ra trên thế giới này không chỉ có mình hắn bị như thế, mà còn có cả Diệu Văn.

Đáng lẽ thứ này sẽ là một tâm bệnh, lại chợt biến thành một loại liên hệ bí mật, ngoại trừ hai người bọn họ thì không ai hay biết.

"Vậy sao của ông lại không hung dữ?" Tống Á Hiên hỏi

"Bởi vì tâm kiên định." Diệu Văn nói.

Sở dĩ người bình thường có những đám sương đen dày đặc, giải không được mà tránh cũng không xong đều là do oán hận ghen tị, thất tình lục dục, yêu hận buồn vui và quá nhiều lo lắng vấn vương.

Diệu Văn cũng đã gặp rất nhiều người từng trải qua cảnh núi thây biển máu giống như Tống Á Hiên. Hắn đưa vô số người sạch sẽ rời khỏi trần thế, cho nên những duyên nợ cõi trần mà họ để lại cho hắn còn nhiều hơn Tống Á Hiên rất nhiều.

Những thứ đó không thể tan biến trong khoảng thời gian ngắn, chúng sẽ tích tụ lại ẩn nấp trong cơ thể.

Khi tâm trí kiên định, chúng sẽ yên tĩnh an ổn như thể chỉ tìm một nơi ký gửi mà thôi, thậm chí còn không để lộ dấu vết. Nhưng chỉ cần hơi xúc động, để lộ một kẽ hở là chúng sẽ điên cuồng trỗi dậy.

Đó là thất tình lục dục mạnh mẽ nhất trên thế gian này, đủ để trở thành chấp niệm, dễ dàng ảnh hưởng đến tâm trí của con người. Người buồn khổ sẽ càng thêm đau khổ, người vui vẻ càng thêm vui mừng hỉ hả, ngay cả những người không có cảm xúc cũng sẽ trở nên bồn chồn lo lắng không yên.

Nếu không cẩn thận sẽ bị tâm ma ăn mòn rồi biến thành một người hoàn toàn khác.

Đây cũng là lý do mà Diệu Văn bắt buộc phải tu luyện theo con đường gian khổ nhất. Bởi vì hắn gánh trên lưng quá nhiều duyên nợ cõi trần, chỉ không cẩn thận một chút là sẽ đối mặt với khó khăn cùng cực.

Nhưng lúc đó Diệu Văn không kể những điều này. Chính xác thì hắn chưa bao giờ nhắc đến chúng.

Hắn chỉ đưa tay cho Tống Á Hiên rồi nói: "Đi, dẫn con tới một nơi."

Đó là lần đầu tiên Tống Á Hiên được dẫn vào lồng, chiếc lồng của bà lão hái thuốc.

Khi ấy Tống Á Hiên mới chỉ luyện tập được vài kiến thức cơ bản, vừa không biết thuật con rối lại vừa không thạo phù chú, trận pháp. Ở trong lồng chẳng làm được trò trống gì, chỉ theo sau chân Diệu Văn.

Tuy nhiên nỗi lo lắng vấn vương của người bình thường sẽ không đến mức long trời lở đất, cái lồng đó rất nhỏ, chẳng tốn bao nhiêu sức là giải xong. Mục đích Diệu Văn dẫn hắn theo là để cho hắn có thể gặp bà lão một lần cuối mà thôi.

Lúc ấy Tống Á Hiên cảm thấy dường như Diệu Văn có thể nhìn thấu mọi suy nghĩ của mình. Rõ ràng hắn không nói gì nhưng Diệu Văn lại biết được tất cả.

Sau khi ra khỏi lồng, Diệu Văn dẫn Tống Á Hiên quay về đỉnh núi, dẫn ra một sợi trần duyên từ ngón tay mình nói: "Bà lão kia để lại cho con một ít đồ. Con muốn cái gì? Con thỏ hay là cá – chim?"

Tống Á Hiên hỏi người đó: "Cái gì có thể sống được mãi?"

Diệu Văn nói: "Chỉ cần là vật sống thì đều sẽ có hồi kết."

Tống Á Hiên nghe xong liền giơ con chim trong ngực lên: "Sao ông bảo đại bàng Kim Sí có thể cơ mà."

Diệu Văn nhíu mày nói: "Thông minh ghê nhỉ."

Tất nhiên hắn sẽ không biến thứ một bà cụ để lại thành con rối bị người khác điều khiển, cũng càng không chỉ vào đại bàng Kim Sí nói chim nhỏ đã sống lại như trước đây.

Dù sao tiểu đồ đệ bây giờ cũng đã lớn hơn một chút, không dễ bị lừa.

Diệu Văn dẫn sợi trần duyên của bà lão vào trong suối nước trên đỉnh núi, biến nó thành một con cá chép màu đỏ vàng. [1]

[1] Tên khác là cá Koi.

Ngắm cá Koi tuyệt đẹp ở Nhật Bản

Đó là lần đầu tiên Tống Á Hiên thực sự hiểu được ý nghĩa tồn tại của phán quan —— chịu trách nhiệm đưa tiễn những người đã khuất, giúp họ lưu lại chút gì đó ở mảnh đất cố hương này.

Tống Á Hiên ngồi xổm bên bờ suối hỏi: "Cá có thể sống được bao lâu?"

Diệu Văn nói: "Còn phải xem cách con nuôi nó thế nào. Nếu nuôi tốt nó có thể sống được bảy tám chục năm, bằng với cuộc sống của một người bình thường. Nuôi không tốt thì có khi ngày mai đã lật ngửa bụng, con phải cẩn thận đó."

Tống Á Hiên nhìn hắn chằm chằm, không rõ vì sao Diệu Văn lại tỏ vẻ nguy hiểm như vậy.

Cạnh suối có một cây mai trắng đang vào đúng mùa hoa nở, trên cây phủ đầy một màu trắng như tuyết. Tống Á Hiên chỉ vào gốc cây rồi nói: "Nó bao nhiêu tuổi rồi?"

Diệu Văn nghĩ ngợi một chút rồi nói: "Cũng sêm sêm với ta, già lắm rồi."

Trong mắt Tống Á Hiên lúc ấy, Diệu Văn là một vị thần tiên không già không chết. Thế là hắn ngồi xổm ở cạnh bờ ao ngắm cá bơi lội, miệng lẩm bẩm rằng sau này khi có thể tự giải lồng thì sẽ biến những trần duyên đó thành cây.

Diệu Văn trêu chọc hắn: "Tạo ra nhiều cây như thế thì con định trồng ở đâu? Cây cũng không biết mở miệng nói chuyện."

Tống Á Hiên: "Vậy cá có biết nói chuyện không?"

Diệu Văn dựa vào cây nhìn hắn, cười nhẹ một tiếng nói: "Đừng nhìn bình thường nó không thích nói chuyện, lúc hung dữ lên thì cũng gần thế đấy."

Tống Á Hiên cúi đầu xếp mấy núi đá nhỏ trong hồ, chẳng thèm để ý đến Diệu Văn. Xếp một lúc lại cảm thấy cái ao nước này trống trải quá, có mỗi con bé bé tẹo sống một mình.

"Con cứ động một tí là lầm lầm lì lì nửa buổi, giờ lại sợ cá bị buồn chết?" Diệu Văn nhướn mày, cảm thấy có chút mới lạ. Một lát sau mới gật nhẹ đầu, đứng thẳng người rời đi.

Chẳng mấy chốc thấy hắn mang theo thứ gì đó quay về, khom người thả vào trong hồ nói: "Tìm được mấy thứ bầu bạn với nó thay con."

Tống Á Hiên nhìn kỹ, hóa ra là một con rùa nhỏ.

Hắn ngẩng đầu đấu mắt với Diệu Văn một hồi, sau đó rời đi. Một lát sau cũng xách một con rùa khác tới, quẳng vào trong hồ.

Diệu Văn liếc mắt hỏi: "Con này đại diện ai?"

Tống Á Hiên không thèm ngẩng đầu lên: "Ông."

Diệu Văn bật cười, nhỏ giọng mắng: "Nghịch thiên làm phản rồi." [2]

[2] Giải thích xíu: Cụ Trần quẳng con rùa vào hồ thay cho Tống Á Hiên, con rùa còn được hiểu là 'đồ con rùa rụt cổ' 'nhát chết hay trốn tránh' Tống Á Hiên nghĩ bị kháy nên cũng quẳng một con vào, cụ Trần mới bảo 'nghịch thiên làm phản rồi', vì dám lấy con rùa đại diện cho cụ, cụ là người ở bề trên cơ mà =)))

Sau này Tống Á Hiên nghĩ lại mới phát hiện bản thân lúc nhỏ không phải là ít nói, nhưng lại cho bọn Bốc Ninh ấn tượng rằng hắn là một người không hay quan tâm đến người khác. Có thể là vì toàn bộ lời nói của hắn đều nói cho Diệu Văn nghe.

Sau ngày hôm ấy, Tống Á Hiên nghiêm túc học tập những kỹ năng của một Phán Quan, không phải vì muốn tìm một nơi dừng chân lâu dài nữa.

Bản thân Diệu Văn thông thạo rất nhiều thứ, cho dù là thuật con rối hay phù chú trận pháp thì hắn cũng đều thuộc hàng tổ tông. Nếu buộc phải chỉ ra nhược điểm thì chắc là quẻ thuật. Bởi vì quẻ thuật thiên về bẩm sinh nhiều hơn.

Bốc Ninh chính là người sinh ra đã thích hợp để học quẻ thuật, chỉ cần vô tình tập trung cao độ là có thể nhìn thấy nhiều thứ hơn so với những người phải dùng đủ loại công cụ từ sáng đến tối.

Nhưng hắn cũng có nhược điểm, thể chất của hắn nằm giữa người và linh vật, linh tướng trời sinh không ổn định. Giống như đổ một lớp nước vào một chiếc đĩa nông, chỉ cần đẩy nhẹ một chút là bị đổ ra ngoài mất một nửa. Nếu vào lồng thì rất dễ bị dụ dỗ mê hoặc, chiếm mất thân thể, hoặc bị nhiễm một vài thứ.

Người không ổn định được chính bản thân như hắn thì hầu như không có duyên với thuật con rối. Cho nên hắn chọn học trận pháp, thêm quẻ thuật tương trợ, mọi việc chỉ cần chiếm lấy trước thời cơ, bày bố đại trận là coi như xong xuôi mọi việc.

Chung Tư chọn học bùa chú bởi vì tính linh hoạt của nó. Đôi khi có thể mượn bùa chú lập trận, có khi mượn bùa chú để hóa thành vật, tương đương với thông thạo ba phần trận pháp và ba phần thuật con rối. Ngày thường không có việc gì còn có thể trấn trạch định linh, xua đuổi tà ma, lúc chơi đùa còn có thể đánh lén khiến người khác trở tay không kịp.

Tính cách hắn hướng ngoại thích chọc ghẹo mọi người, lại có chút liều lĩnh. Trận pháp quẻ thuật quá yên tĩnh, thuật con rối lại vừa phải cứng rắn vừa phải khéo léo, so ra thì phù chú vẫn thích hợp với hắn nhất.

Trang Dã giỏi kết bạn, điểm lớn nhất chính là tính tình phóng khoáng, tuổi còn trẻ đã học hỏi nhiều thứ một cách vô tội vạ, cái gì cũng làm được nhưng chỉ học cho biết, không tinh thông bất cứ cái nào, trở thành một người tu tạp.

Ngược lại Tống Á Hiên chưa từng bị dao động, từ khi có đại bàng Kim Sí, hắn đã quyết tâm học thuật con rối.

Giới hạn dưới của thuật con rối rất thấp nhưng giới hạn trên lại cực kỳ cao. Bất kì ai mới nhập môn đều có thể nặn ra một hai món đồ chơi nhỏ. Nhưng muốn thành thạo thì cần có nhiều yêu cầu hơn —— phải đủ bình tĩnh, chững chạc, đủ bền bỉ, linh thần phải mạnh mẽ nhưng không được quá cứng nhắc.

Mỗi khi thả một con rối ra thì tương đương với việc chia một phần cơ thể của bản thân ra ngoài, vừa phải áp chế vừa phải khiến nó hòa hợp với linh thần của bản thân.

Loại cảm giác đó thật sự rất khó chịu, muốn thích ứng thì phải dựa vào quá trình luyện tập chăm chỉ.

Cho nên Tống Á Hiên vẫn luôn là người tập luyện chăm chỉ nhất trong đám sư huynh đệ, cho dù bằng mắt thường cũng có thể thấy hắn càng ngày càng trở nên lợi hại.

Hắn luôn là người dậy sớm nhất và cũng là người ngủ muộn nhất. Bọn Bốc Ninh từng không tin vào việc kỳ quái này nên thử liều một lần. Kết quả bọn chúng dậy giờ nào cũng đều trông thấy chim nhỏ của Tống Á Hiên đang đứng trên đài luyện công chải lông.

À không, nó cũng không được coi là chim của Tống Á Hiên, chính xác là đại bàng Kim Sí của Diệu Văn được chuyển cho Tống Á Hiên nuôi dưỡng.

Lúc đại bàng Kim Sí quay đầu sang, bọn chúng luôn cảm thấy vừa hâm mộ vừa xấu hổ áy náy, sau đó ỉu xìu chạy đến bên cạnh sư đệ, gia nhập vào hàng ngũ luyện công.

Ba lần bảy lượt về sau, bọn chúng đành nghiêm túc hỏi Tống Á Hiên: "Rốt cuộc đệ có ngủ hay không?"

Gương mặt Tống Á Hiên tràn đầy thắc mắc nhìn bọn chúng, để lộ hàng chữ chói lòa bên trên: Mấy người đang nói vớ vẩn gì thế?

"Luyện thuật con rối khổ thế cơ à?" Chung Tư gác chân ngồi vắt vẻo trên cành cây, phẩy lá bùa soàn soạt nói: "May mà anh đây không học."

Thực ra Tống Á Hiên thức khuya dậy sớm như thế cũng không chỉ vì học thuật con rối. Hắn tìm được một quyển sách trong phòng Diệu Văn nên đang thử tẩy linh cho mình.

Diệu Văn không bắt buộc đám đồ đệ phải tu luyện giống như mình, dù sao thì chỉ cần sống trên trần thế, muốn không vấn vương không ngại ngần quá khó khăn. Tẩy linh chỉ là một cách phụ trợ, tương đương với việc cho linh tướng của bản thân mấy nhát dao, dần dà cũng không tốt cho thân thể.

Diệu Văn đã tính toán xong xuôi từ lâu, đợi đến khi Tống Á Hiên tròn hai mươi tuổi, luyện thành thạo thuật con rối và có thể chịu đựng. Hắn sẽ tách mấy trăm ngàn oán sát ra khỏi linh tướng của Tống Á Hiên, tự ôm đồm gánh vác hết tất cả.

Hắn chưa từng nói về điều này, mỗi lần Tống Á Hiên hỏi tới, Diệu Văn đều trình bày một phương pháp khác có vẻ nhẹ nhàng vô hại hơn.

Nhưng thật ra Tống Á Hiên biết và hiểu rõ tất cả.

Hắn không muốn chuyển những thứ trên người mình cho Diệu Văn nên đã lén trộm tẩy linh từ rất sớm. Biết thể nào đại bàng Kim Sí cũng đi mách lẻo, thế là hắn dùng dây điều khiển rối trói gô nó lại.

Về sau hắn dùng đủ các loại phương pháp như canh chim và nói lý thuyết phục (hăm dọa) để con chim kia đứng về phía mình. Hắn không giỏi nói dối, tất cả là nhờ lão Mao chống lưng.

Diệu Văn chẳng ngờ được con rối của mình lại bị hắn rủ rê làm phản, chờ đến khi phát hiện ra thì Tống Á Hiên đã tu luyện nó rất nhiều năm, từ một người tuyết tí hon hở tý co rúm thành một cục biến thành một thiếu niên cao ráo rắn rỏi.

Năm đó Tống Á Hiên 17 tuổi.

Vì thường xuyên tẩy linh, tu theo con đường không vấn vương không ngại ngần. Trông Tống Á Hiên lạnh lùng và xa cách hơn khi còn nhỏ rất nhiều. Trong quá trình trở thành một thiếu niên, hắn đã không còn giống đứa bé năm xưa chọc một chút liền ủ rũ buồn bực, dần dần đã có một chút hương vị sắc bén.

Đến nỗi mấy vị sư huynh vừa muốn trêu đùa lại vừa sợ hắn. Chỉ nhìn vào khí chất thôi thì hắn giống như người thành thục lớn nhất trong cả đám.

Mấy năm đó trần thế luôn hỗn loạn. Diệu Văn rất ít khi ở núi Tùng Vân, Tống Á Hiên thường không gặp được hắn trong một khoảng thời gian.

Tâm tư của thiếu niên mười mấy tuổi là khó suy đoán nhất, vừa nhạy cảm vừa thất thường. Cho dù tu luyện theo phương thức không vấn vương không ngại ngần, Tống Á Hiên vẫn thiếu chút lão luyện, không thể hoàn toàn ngoại lệ được.

Hắn ngoài mặt thì lạnh như băng nhưng không phải không có chút cảm xúc trần tục nào, nhất là đối với Diệu Văn.

Khi hắn còn nhỏ, Diệu Văn có hình dáng như thế kia. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, hắn đã trưởng thành nhưng Diệu Văn vẫn như trước. Bản thân hắn thay đổi nhanh chóng, Diệu Văn lại vẫn luôn lười biếng dựa vào cây mai trắng, cười mắng hắn là kẻ 'Cậy được chiều chuộng mà sinh kiêu tới mức lật trời làm phản'.

Điều này khiến hắn có cảm giác mâu thuẫn.

Như thể hắn vẫn không ngừng lớn lên trong núi, còn Diệu Văn lại ở trong khe hở của thời gian, thỉnh thoảng một bóng hình vụt qua. Không giống trưởng bối mà giống một vị khách hơn.

Có một lần Diệu Văn đi mấy tháng mới về, đeo chiếc mặt nạ hắn thường mang khi gặp người ngoài, bước giữa con đường núi. Vạt áo trắng như tuyết quét qua đá xanh trên đất tựa như áng mây, sau đó bị lớp áo choàng màu đỏ phất nhẹ qua.

Tống Á Hiên tình cờ đi tới từ bên kia sườn núi, trông thấy người nọ từ xa, hắn chợt dừng bước. Trong nháy mắt ấy, hắn bỗng dưng cảm thấy người ở phía xa xa kia có hơi lạ lẫm.

Đáng nhẽ bọn họ thân nhau lắm, thân thiết hơn bất cứ ai trên thế gian này. Bọn họ có chung một bí mật, là những duyên nợ cõi trần ẩn sâu trong linh tướng...

Nhưng ngoài những điều này ra thì có thứ gì đó rất xa lạ.

Không phải hững hờ và xa lánh, mà là giữa họ đột nhiên có sự cách biệt về thời gian.

Loại cảm giác này âm thầm xuất hiện không báo trước, nó khiến Tống Á Hiên chẳng kịp suy xét.

Mãi cho đến giữa mùa xuân của hai năm sau, khi bọn Tống Á Hiên vừa mới giải xong một cái lồng và quay về núi Tùng Vân, nghỉ ngơi trong chốc lát liền tới đài luyện công trên sườn núi.

Bốc Ninh thuộc dạng thân thể yếu ớt gió thổi là bay, còn hay thích lo nghĩ lảm nhảm, hắn vừa bày trận dọc theo núi đá vừa bảo: "Hôm đó nghe sư phụ nói, chờ sư đệ tròn hai mươi thì chúng ta có thể xuống núi đi ngao du, thu nhận đệ tử, bước vào chốn hồng trần. Nhưng đệ sống với mọi người quen rồi, ở một mình lại cảm thấy cô đơn, hay là cả đám đi chung đi?"

Chung Tư dùng bùa chú phẩy phành phạch, vừa làm rối loạn trận hình Bốc Ninh mới bày xong vừa đáp: "Được đó, trông cái thân thể của đệ, xuống núi một mình chắc chẳng sống nổi mấy ngày."

Bốc Ninh chỉ vào hắn từ xa, rất không có khí thế cảnh cáo: "Huynh gảy nữa xem? Có tin sáu ngày sau sẽ gặp đại họa hay không?"

"Không sợ, cùng lắm thì anh đây không xuống núi nữa." Chung Tư ngoài miệng thì nói như thế, nhưng tay lại không dám táy máy nữa, ngoảnh đầu hỏi hai người còn lại.

Trang Dã có biệt danh là "Trang ừ ừ", bởi vì hỏi hắn cái gì hắn cũng đều trả lời 'ừ ừ ừ', không thấy nổi nóng bao giờ. Cho nên Chung Tư chủ yếu muốn hỏi Tống Á Hiên, dù sao vụ cá cược lớn nhất của bọn họ mỗi ngày đều là cược xem vị sư đệ lạnh như băng này đang vui hay là không vui.

Đáng tiếc Tống Á Hiên lúc này đang không vui.

Còn một năm nữa là hắn tròn hai mươi, hắn cũng đã nghe mấy lần câu nói kia của Diệu Văn. Nhưng mỗi lần nghĩ đến chuyện "xuống núi", có lẽ rất lâu sẽ không trở về, trong lòng hắn lại có cảm giác ngột ngạt và bực bội không nói nên lời.

Lúc đó Trang Dã đang luyện độ chính xác khi dùng dây rối, dùng một sợi tơ mỏng để đánh chim, cá và cánh hoa đang rơi xuống, đánh cả con côn trùng bay ngang qua.

Tiếng xé gió vun vút nghe rất đáng sợ. Nhưng Tống Á Hiên lại không né tránh, hắn cụp mắt tựa vào gốc cây, mím môi sửa sợi dây rối quấn trên ngón tay mình.

"Đệ thấy sao?" Chung Tư gặng hỏi Tống Á Hiên.

Tống Á Hiên không buồn ngước mắt, uể oải đáp: " Sang năm rồi tính."

"Sư đệ, lúc quăng dây rối ra làm sao để lực vừa đủ?" Trang Dã chen ngang hỏi một câu.

Tống Á Hiên vẫn chẳng có chút hứng thú nào, vừa lúc nghe thấy có tiếng động trên sườn núi bèn thuận tay làm mẫu cho Trang Dã xem. Kết quả vừa tung dây rối ra thì hắn giật mình ngơ ngác.

Bởi người đi dọc theo đường núi qua đây là Diệu Văn.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co