tìm sơn ca
Truyện có kết buồn, cân nhắc nhé!
Nắng mùa thu - thứ nắng trong veo và dịu dàng. thứ nắng không non nớt như mùa xuân, không gay gắt như mùa hạ và cũng chẳng cằn cỗi như mùa đông. Nắng thu âu yếm lâu đài cổ, nắng thu thương nhớ dấu in xưa và rồi cũng lặng lẽ dệt nên từng sắc vàng mịn như thứ bột của người thợ làm bánh. Một buổi chiều tà, à ơi những tiếng nhạc hoài niệm vẳng ra dưới tường thành của toà thánh Anselm. Một nơi uy nghiêm lại đang mềm ra dưới nắng thu ngọt dịu, êm ả mà không hề yếu ớt. Bốn giờ ba mươi chiều, dưới bóng cây bạch quả là người kéo đàn hạc cầm - Steve, chàng thơ sống tại toà thánh Anselm và là người con cả nhà Ovid. Cậu từ bỏ gia đình khi hạnh phúc gần như đã tan vỡ hoàn toàn, cha hy sinh trên chiến trường, mẹ ngã xuống sau cơn bạo bệnh và thất lạc đứa em trai đã sáu năm trời ròng rã.
Chiều mồng bảy tháng tám, cậu đắm mình dưới nắng thu trong chiếc áo caftan kéo dài đến tận đầu gối, môi mím chặt, mắt nhắm nghiền và tay gẩy những nốt thăng trầm như tái hiện lại niềm hạnh phúc không trọn vẹn. Cậu thích chơi hạc cầm, thích chơi những bản tình ca giữa mùa thu êm ái. Cậu chỉ biết rằng mình đang giao hoà cái hồn hậu của thiên nhiên với cái say khướt của cung đàn, tai cậu chỉ vẳng lại những nốt nhạc thánh thót mà chẳng màng đến bên cạnh là vị nữ tu già trong chiếc khăn trùm kín đầu. Người nghe cậu say mê những điệu nhạc như đang giãi bày những nỗi sầu muộn. Rồi người hướng cái nhìn sang đám trẻ trước mắt, môi mỉm cười và chỉ tay về phía lâu đài Windsor cao chọc trời được xây bằng đá cổ thạch. Người kể cho đám trẻ nghe về cuộc chiến ở thành Tơ-roa, về những tường đá nứt nẻ, về những vị vua lừng lẫy và cả những thần thoại được lưu trữ ngàn đời.
"Hãy nhìn xem, chúng ta chỉ còn lại một toà lâu đài đó, một vị vua đang sống trong những ngày cuối đời với người con trai được xem là vị hoàng tử cuối cùng."
"Thưa dì, nếu chúng ta không có vua thì sao?"
"Chúng ta ư? Để xem nào, có lẽ sẽ mất một thời gian để tìm kiếm những nhân tài thay thế vào đó, chúng ta đâu thể sống mà thiếu đi người lãnh đạo những nghĩa binh."
"Thưa dì, anh Steve có lãnh đạo những con người mặc áo giáp sắt đó không?"
"Ôi con yêu, nghĩa vụ của Steve không phải là điều đó, anh ấy mang sứ mệnh chữa lành những tâm hồn bằng cây đàn kia kìa!"
Vị nữ tu già khẽ vén những nếp nhăn trên gương mặt bằng một nụ cười mỉm, sẽ ra sao nếu Steve trong bộ dạng của một chàng kỵ sĩ, tay cầm kiếm, mặt để râu, thân bọc sắt và cưỡi con ngựa chạy hì hục hàng giờ không mệt? Chẳng phải đó là ước mơ trở thành người hùng của đám kỵ binh mỗi lần ra chiến trận hay sao? Nhưng Steve lại khác, chàng không thích chiến tranh, không thích mặc những bộ áo giáp ghì nặng cơ thể, không thích cảnh gông cùm cuốn chặt cổ, xiềng xích cuốn chặt chân, lại càng không thích mùi khói bụi triền miên trên quê hương mà không biết ngày kết thúc. Steve là một chàng thơ sống ở một góc toà thánh, thích mặc những bộ đồ bằng vải nhung mềm, thích bắt lấy những sợi nắng khi trời tờ mờ sáng, thích nghiêng mái đầu chiêm ngắm cảnh hừng đông và thích cả tiếng rả rích của đám chim trời.
"Ta nghe thấy những tiếng chuông Jerusalem đang ngân lên và dàn hợp sướng của kỵ binh La Mã đang cất vang tiếng hát."
"Hãy làm tấm gương, thanh kiếm và tấm khiên của ta, những chiến binh của ta đang ở một nơi xa xôi..."
Steve mắt nhắm nghiền, tay gảy đàn, môi cất lời nhưng tai lại không thể tập trung vào từng câu hát. Cậu lắng nghe những câu hỏi của lũ trẻ, về lịch sử của thành Troia, về những con ngựa sắt và về cả hồ nước từng được cho là nơi tắm gội tội lỗi của con người. Steve vẫn thế, hằng chiêm niệm những gì đã in dấu ở thành trì thuở xa xưa. Cậu vẫn men theo những con đường mòn để ghi chép lại những tàn cuộc cuối cùng và rồi khát khao trở thành một kẻ thông thái, dù là người con không gia đình, không tình yêu, không nơi lui về ngoài góc nhà toà thánh tạm bợ này, nhưng đổi lại Steve khôn ngoan và khéo léo. Cậu am hiểu về âm nhạc, về lịch sử thành Troia và về cách chữa lành những tâm hồn nứt nẻ qua tiếng đàn của mình.
"Steve, sắp tới con sẽ có dự định gì?"
"Con sao, người không phải quá lo lắng về điều đó, con vẫn sẽ chiêm niệm cuộc sống này thôi, có lẽ con sẽ chơi đàn trên khắp nẻo của thành trì, sẽ tìm một giọng sơn ca nào đó và thành lập một gánh hát chẳng hạn!"
"Chao ôi, con sẽ tìm được ai chứ? chẳng phải theo lão Luis làm thợ mộc sẽ tốt hơn sao?"
"Thưa dì, tay con sẽ chai đi và việc gảy đàn sẽ như thế nào? Ôi chẳng phải nó sẽ thô cứng và khô khốc sao?"
Vị nữ tu chỉ thở dài im lặng, người để Steve ngồi dưới bóng cây bạch quả và dắt đám trẻ qua mái hiên của ngôi nhà nguyện. Steve ngước mắt lên và thôi không đàn nữa. Không biết đây là lần thứ bao nhiêu cậu không nghe lời người, nhưng đành thôi, dẫu gì cậu cũng chán chết cái nghề thợ mộc chỉ chôn chân trong một cái xưởng gỗ bụi bặm. Thay vì nghe tiếng máy cắt xoèn xoẹt thì Steve lại thích hưởng thụ thứ nhạc du dương như rót mật vào tai. Cậu muốn đi ngao du và tìm kiếm một giọng ca hay nhất trên đời, rồi thành lập một gánh hát nho nhỏ, nuôi thêm một con vẹt xám và ngang nhiên trở thành một kỵ binh giao hưởng.
*
Sáng ngày thứ hai đầu tuần, Steve choàng dậy sau một giấc ngủ không trọn vẹn. Cậu vén tấm rèm qua ô cửa sổ bé tí tẹo trên tầng gác mái, nheo mắt nhìn cây đèn dầu chuẩn bị tắt ngúm đi và ngao ngán trước tiết trời se lạnh. Chao ôi bao lâu rồi mới kiếm được một buổi sáng lành lạnh như thế này đây, bao lâu rồi chưa được nhìn thấy sương mù đặc kịt như thế này? Steve chẹp miệng, cậu ngồi hẳn dậy và đưa tay dụi mắt, có lẽ cậu sẽ không thể tiếp tục giấc ngủ mà thay vào đó là trèo xuống cầu thang và lén lút đi pha trà. Rồi cậu châm lửa khiến ngọn đèn dầu heo hút cháy bùng lên trong gian bếp chật chội, Steve không hề giật mình mà lại vui sướng hơn bao giờ hết, cảm giác như cậu vừa bắt được ngồi sao trời và giấu nó trong khuôn bếp nhỏ xíu mà thưởng thức một cách bí mật.
"Pha trà thôi, một chút trà gừng cho ấm bụng, mấy khi trời lạnh thế này đâu."
Steve hoàn thành ly trà gừng một cách nhanh chóng như thể cậu đã làm nó hàng trăm lần. Cậu hướng cái nhìn ra ngoài và chỉ thấy một bầu trời tờ mờ sương sớm. Bên kia nhà nguyện đã bắt đầu thắp đèn và các vị nữ tu sớm có mặt để cầu nguyện. Steve rón rén như một kẻ trộm, ngày hôm nay cậu không muốn đến đó, ngày hôm nay cậu oán trách rằng tại sao cậu đã cầu nguyện hàng trăm lần nhưng vẫn chưa có điều kì diệu nào xảy ra. Và rồi Steve quyết định leo lên mái nhà thông qua ô cửa sổ trên tầng gác nhỏ, ở đó sẽ chẳng có ai phát hiện cậu dậy sớm nhưng bỏ quên buổi cầu nguyện, sẽ chẳng có điều gì khiến cậu bận lòng hay đau đớn trừ khi cậu gieo mình xuống.
"Hừng đông đâu rồi, mau lên uống trà cùng ta
Ta là vị vua của bình minh, vị vua của sương mù
Hừng đông đâu rồi, soi cho ta thấy lâu đài cổ
Cho ta tìm được một giọng sơn ca
Cho ta tìm được nơi như một mái nhà."
Và lúc này Steve chỉ muốn trở thành một kẻ có quyền thế, cậu muốn kéo mặt trời lên thật nhanh bằng chiếc dây thừng, muốn rót một ly bình minh để nhấm nháp, muốn gọi sấm chớp đến để mở tiệc. Chao ôi Steve là ai mà khao khát những thứ viển vông đến thế? Nhưng sau đó cậu nhớ về những ngày khói bụi còn triền miên trên đất mẹ, đáy mắt cậu lúc đó chỉ đọng lại từng đống đổ nát và hoang sơ vô hồn, cậu từng ước mình trở thành một kẻ điên, để những khi khói bụi ôm trọn thành trì sẽ không cảm thấy đau đớn. Cậu cũng từng tha thiết được trở thành một con sẻ dại, để hằng ngày chao lượn trên nền trời xanh mà không phải chôn người dưới những hố bom được tạo ra từ trăm chiếc máy banh oanh tạc. Đối với Steve, thành Troia luôn rực rỡ và bí ẩn như nàng thơ của rừng già, nhưng thứ cậu nhận về là một nỗi buồn dai dẳng và nhức nhối, không nỗi đau nào hơn mất gia đình, và cậu thề rằng có chết cũng phải ôm nó xuống mồ.
"Đi thôi."
Đó là khi mặt trời lên cao và để lộ những tia nắng chiếu thẳng xuống đôi mắt kẻ đang si mê vạn vật. Steve, tay chân luống cuống trèo xuống, chui đầu qua cửa sổ và lọt thỏm vào tầng gác mái. Cậu chải chuốt lại những lọn tóc và bẻ lại cổ áo cho thật gọn gàng, sau đó xỏ đôi ủng màu nâu, cài cúc áo và đội một chiếc mũ vành cong vút. Steve thành thạo đến mức người ta nghĩ rằng cậu là một tay sành điệu luôn làm những điều này cho những bữa tiệc. Steve cầm theo một bình nước, một cái gậy dài rồi leo lên lưng con lừa già được cột ở cánh đồng cỏ sau ngôi nhà nguyện. Từ giờ cậu sẽ đi tìm một giọng sơn ca, sẽ tìm mảnh ghép cho gánh hát đã ấp ủ từ bao giờ.
"Con lừa già, chớ để các dì phát hiện."
"Giờ thì đi thôi, hôm nay sẽ ghé qua đoàn kỵ binh của vua Phillip."
Rồi cậu thúc con lừa đi dưới cái nắng đã phủ kín mọi ngõ ngách của đoạn đường. Đi qua những tường thành bằng đá cao vút, qua ngôi chợ như một mớ hỗn loạn, từ kẻ bán buôn đến những kẻ giàu có, từ tiếng va leng keng đến tiếng mắng chửi đứt đoạn. Steve nheo mày và cảm thấy không thích thú. Xem đi, hậu quả của những trận chiến là những mảnh đời vất vưởng, những nắm đấm cào cấu nhau, những tiếng la inh ỏi của đám người hồn bay phách lạc. Steve đành đi thêm một đoạn, cậu gặp người hành khất trong chiếc khăn cuốn kín đầu và ngỏ lời:
"Cho tôi hỏi, ông ngồi ở đây được bao lâu rồi?"
"Ba năm."
"Có giọng ca nào hay nhất ông từng nghe khi ngồi ở đây không?"
"Ở đây thì chưa gặp, nhưng nếu đi về phía toà lâu đài đó thì tôi tin cậu sẽ bắt gặp một giọng hát hay nhất từ trước tới nay."
"Nó giống loài chim sơn ca chứ?"
"Phải, một con chim sơn ca không có tự do!"
Steve nghe xong thì gửi lại người hành khất năm đồng lẻ, vỗ vai ông ta và gửi lời chúc bình an. Cậu lên đường trong bộ dạng nghênh ngang và kiêu hãnh, như một người nắm giữ hàng trăm mảnh đất trên khắp nẻo thành trì, như một tên buôn bán giàu sụ trên lưng con lừa với đống vàng bạc lỉnh kỉnh. Và Steve thấy nóng lòng vô cùng, cậu rời đi ngay sau đó mà chẳng nghe câu nói cuối cùng của người ăn xin:
"Này, nó là con vua, đừng gieo mình vào chỗ chết!"
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co