Chapter 3
Delhof – Tháng Mười Một 1952
Ngày cuối cùng của mỗi tháng là ngày trả tiền công cho nhiều người Châu Phi làm việc ở những nông trại ở xung quanh cửa hàng, và cái ngày mà những đốc công, hay thỉnh thoảng bản thân người chủ, sẽ đưa những người công nhân của họ đến cửa hàng, giữ chặt khoản tiền nhỏ nhoi rách nát của họ, để họ có thể mua những món đồ khô dự trữ hoặc quần áp mà họ có thể cần cho tháng tiếp theo. Họ đến từ rất sớn, thường là sau khi Sam và Alisa lên xe buýt đến trường từ Springs, và nó luôn là ngày bận rộn nhất trong tháng của cửa hàng. Như thường lệ, họ đã chuẩn bị từ rất sớm sáng hôm đó. Có nhiều loại hoa quả, đầy đủ những túi mealies, và cái quầy tính tiền bằng gỗ tối màu được dọn sạch sẽ. Omar đứng kiểm tra trong kho, thỉnh thoảng viết nguệch ngoạc với cây bút chì trên tập giấy nằm bên cạnh ngăn kéo để tiền. Anh nhìn lên tìm vợ mình. Nheo mắt xuyên qua ánh mặt trời đang chiếu trên kính cửa sổ, anh có thể thấy cô ấy ở ngoài, đang treo quần áo được giặt cho khô.
Tất cả mọi thứ cô phơi lên trên dây đều màu trắng. Anh có thể thấy những cái áo ghi lê nhỏ xíu của Sam và và những cái áo sơ mi trắng sáng gần như màu xanh dưới ánh mặt trời đang không ngừng tỏa sáng. Anh nhắm mắt lại để chống lại cái ánh sáng gay gắt đó, và trong một lúc, cửa hàng như không tồn tại. Anh không đang ở đây, trong vùng đất Châu Phi hoang dã; anh không phải là cha của hai đứa con nhỏ, không phải là một chủ cửa hàng đang chật vật xoay sở, không kết hôn với người phụ nữ mà ngay cả nói chuyện cũng khó khăn với anh. Trong tâm trí anh, anh đã được dịch chuyển. Anh đã có một chuyến viếng thăm với tuổi trẻ, nhiệt huyết và rất rõ rệt từ Nam Phi đến Bombay, nhận được sự chào đón từ cô và chú của mình. Anh thấy bản thân, như đang xem một bộ phim tài liệu, đứng bên ngoài cái ban công nhỏ bé của chú anh, hút một điếu thuốc lá, và lắng nghe một cô gái không quen biết trò chuyện ở ban công phía trên. Sự tò mò của anh tăng cao đến nỗi anh đã nhoài người về phía trước và nhìn lên. Đó là cái nhìn đầu tiên của anh với người vợ tương lai của mình. Sau đó, cũng như bây giờ, cô ấy đang treo một giỏ quần áo đã được giặt, một đường gợn sóng của màu trắng tinh khôi đang chống lại bức tường được sơn trắng và bầu trời trắng xóa. Đôi mắt anh như chìm trong những đường nét màu đỏ trong một chốc, sau khi hồi phục lại, anh đã phải nheo mắt khi nhìn cô. Cô ấy cũng mặc màu trắng, như thể cô cũng một phần hòa vào cái ánh sáng đang phản chiếu rực rỡ vào anh. Nhưng cô ấy rất thu hút – anh đã từng thấy nhiều người con gái xinh đẹp hơn, nhưng cô gái này cao, uyển chuyển và vui vẻ, và anh đã thích cô ấy.
“Em pha ít trà nhé?” Miriam hỏi, giọng nói nhỏ nhẹ của cô vang lên trong không gian rộng lớn, yên tĩnh của cửa hàng. Anh nhìn lên và gật đầu, và cô đi vào trong nhà bếp. Vào trong khu vực bếp, cô đứng lại đột ngột và nắm chặt lấy cạnh của bếp lò, và chờ đợi cho một chút cho cơn choáng váng đi qua. Cô nhắm mắt lại trong một chốc, và sau đó nhìn qua cửa sổ để tìm kiếm những chiếc xe tải đầu tiên… Chưa thấy có dấu hiệu gì của họ, nhưng cô có thể thấy Robert đi bộ từ từ về phía cửa hàng từ trong kho hàng, mỗi bên tay cầm một quả bí thật lớn. Đến cửa sau, cậu từ từ sử dụng đầu gối, vì vậy xương chân của cậu như bị oằn xuống, và đặt đống rau quả nhẹ nhàng xuống nền đất. Cậu đã làm rơi một quả trước đó, và Omar đã hét vào cậu đừng có mà vụng về như thế – cậu nghĩ ai muốn mua những quả bí bị dập như thế? Robert đã không thể suy nghĩ là bất kì ai sẽ muốn, vì vậy cậu chấp nhận lời khiển trách với một thái độ tốt, và bây giờ cậu mang những quả bí cực kì cẩn thận, bồng chúng trên mỗi cánh tay gân guốc, gầy nhẳng của mình như thể chúng là những đứa trẻ mập mạp. Ông chủ thường xuyên la mắng cậu, và mặc dù có nhiều lần cậu thường xuyên nói là mình không có làm những điều mà ông đã cáo buộc, cậu đã mang tất cả những lời mắng nhiếc đó trong im lặng và xin lỗi khi cần thiết. Nó chưa bao giờ nảy ra trong ý nghĩ của cậu rằng cậu có thể tự bảo vệ mình – nó không phải là chỗ đứng của cậu.
Dù sao, không có lời la mắng nào có thể làm cho cậu không hạnh phúc khi làm việc cho những người này. Mặc dù mức lương của cậu thấp, nhưng bà chủ thường xuyên đưa thức ăn thừa lại cho cậu mang về nhà, hoặc một chút vật liệu để mẹ cậu có thể sử dụng để may quần áo, và bà chủ đổi xử với cậu rất tốt. Bà tin tưởng cậu khi cậu ở với bọn trẻ. Cậu hiểu rất rõ về trẻ em – bản thân cậu là đứa lớn thứ 2 trong số bảy anh chị em còn sống sót. Anh trai lớn nhất của Robert đang ở Johannesburg,, làm việc tại những mỏ khai thác. Gia đình cậu đã trở nên nổi tiếng khi anh trai cậu bỏ đi đến thành phố, bởi vì sự đói khát của họ, và bởi vì thu nhập, và Johannesburg là nơi có nhiều công việc ở đó. Tuy nhiên, anh trai của cậu đã sống trong điều kiện khó khăn, và làm việc trong những điều kiện thậm chí còn tệ hơn. Robert đã ở đó một lần để thăm anh mình, và đã phải chia sẻ cái giường nhỏ bé với anh trai mình trong một tòa nhà bê tông mà căn nhà đó có hơn một trăm người đàn ông. Những chiếc giường chen chúc nhau mà Robert có thể cảm nhận một cách chân thực hơi thở của người đàn ông nằm ở giường bên cạnh phà vào mặt mình cả đêm. Anh trai cậu gầy hơn khi còn ở nhà, và khuôn mặt của anh mệt mỏi và đầy nếp nhăn với bụi. Anh ấy ho tất cả những lần mà anh thức giấc. Những cái mỏ rất tối và ngột ngạt, không khí thì rất tệ, anh cậu nói, và những giờ làm việc thì rất dài. Robert đã rời khỏi đó sau ba ngày, cảm thấy rất phiền muộn khi đã để anh cậu ở lại đó, nhưng không thể kìm hãm được sự khuây khỏa của bản thân rằng hiện thực là cuộc sống của thành phố là như thế, và cậu sẽ hạnh phúc khi vẫn còn được ở vùng nông thôn.
Cái ấm nước bắt đầu kêu lên những tiếng the thé của nó, và Miriam múc hai muỗng lớn lá trà khô nghiền vào trong ấm, sau đó mang một tách ra cho chồng mình.
“Cảm ơn”, anh nói, nhưng anh không nhìn lên.
Và trong một khoảng thời gian ngắn, họ trở về với những nhiệm vụ nhỏ của mình, và mặc dù không ai trò chuyện, Miriam hát một cách êm ái với chính mình, một giai điệu bắt đầu với một giai điệu cũ tiêu chuẩn nhưng đã được ngẫu hứng thành một cái gì đó dài hơn và ngọt ngào hơn. Omar liếc nhìn cô trong tầm nhìn hạn hẹp của mình, cẩn thận để không di chuyển đầu của mình, hoặc cô ấy sẽ thấy anh và sẽ ngừng hát, ra vẻ như chọc tức anh. Tiếng hát của cô ấy là một phần mà anh còn nhớ từ cái ban công ở Bombay. Anh giận dữ với bản thân mình. Anh không phải là người đàn ông hay thể hiện tình cảm và sự hoài niệm, nhưng hôm nay những kí ức đó cứ đẩy lùi vào trong tâm trí của anh. Anh đã ra ngoài ban công vào ngày thứ hai để hút thuốc và cô ấy lại ở phía trên anh một lần nữa, lặng lẽ hát, không hề biết rằng bên dưới có người đang chăm chú lắng nghe. Với một quyết định nảy ra đột ngột, với cái âm thanh mềm mại của giọng nói của cô vẫn còn vang trong đầu, anh quay trở lại căn hộ và yêu cầu để được biết cô gái đó là ai.
Cô của anh đã nhướng mắt lên từ công việc may vá của bà. “Cô gái nào?”
“Người đang sống trên tầng của chúng ta”, và anh nói. “Người và vừa hát vừa treo quần áo”.
Cô của anh đã lắc đầu. “Cô ấy là một cô gái xinh đẹp. Nhưng cô ấy không dành cho con”.
Anh đã chờ đợi, với sự thiếu kiên nhẫn, để cô mình giải thích lời của bà ấy.
“Gia đình cô ấy rất khiêm tốn”, bà cuối cùng đã thêm vào.
“Sự khiêm tốn là một điều tốt”.
“Rất nghèo”, bà nhấn mạnh.
Và Omar vẫy điếu thuốc của mình một cách thô bạo. “Họ là người của chúng ta?”
“Phải”.
“Vậy thì con muốn cô ấy”.
Và cuối cùng khi họ nghe tiếng động cơ ầm ầm của chiếc xe tải đầu tiên, họ nhìn nhau và Miriam di chuyển như một thói quen qua sàn cửa hàng để chắn cánh cửa mở bằng một túi bột nhỏ.
Chiếc xe tải được lái bởi ông Wessels, người quản đốc của nông trại Van Wingen, và ông bước xuống từ từ theo dõi về phía cửa hàng. Phía sau của chiếc xe tải đã hoàn toàn bị đè nặng xuống bởi công nhân của ông. Có lẽ là đám đông có khoảng từ hai mươi đến ba mươi người chất lên cao phía sau và đu cả hai bên, treo người phía sau như biểu ngữ, cơ thể họ chuyển động như thể chất lỏng với những chuyển động dữ dội của chiếc xe tải. Họ nhẹ nhàng nhảy xuống khi nó dừng lại, từ từ lấp đầy những đám đông, chủ yếu mặc quần tây và áo sơ mi đã bị mòn. Ông Wessels đã ở trong cửa hàng, đang bắt tay với Omar, nghiêng cái mũ để chào “bà chủ”, và nói với họ “ngoài kia nóng như là hơi thở của địa ngục ấy”, trước khi bàn giao danh sách riêng những món hàng tạp phẩm của ông để được đóng gói sẵn. Miriam bố trí những món hàng dựa vào danh sách, trong khi người quản đốc đi ra ngoài hiên để vẫy tay ra hiệu cho người của mình vào bên trong.
Trong khi họ tràn vào, di chuyển chậm rãi, lấp đầy tất cả những góc tường, trong khi Robert quan sát họ, pha trộn giữa sự chào đón và cảnh báo trên mặt cậu. Cậu đã được Omar dặn dò trông chừng cẩn thận bởi vì bất kì ai cũng có thể ăn trộm hàng trong cửa tiệm, và cậu đã nhận lấy nhiệm vụ của mình một cách nghiêm túc. Những người đàn ông đã xoay về phía cửa hàng, lựa chọn những món hàng của họ và sau đó bước về phía quầy để đăng ký trên cuốn sổ đăng ký tiền mặt khổng lồ bằng kim loại. Một vài người chỉ mua nước uống mát lạnh, và ngồi ngoài bậc thềm, trò chuyện và quan sát những đám bụi từ những chiếc xe tải đậu xung quanh họ.
Omar đôi khi trò chuyện với ông Wessels suốt buổi, nhưng hiếm khi nói chuyện với bất kì người Châu Phi nào, ngoại trừ đưa ra giá cả hoặc giải thích rõ ràng những thắc mắc, mặc dù một vài người công nhân có thể hỏi anh bất kì điều gì – họ thường tìm Miriam vì cô có thể dễ dàng giúp họ hơn. Một người hỏi giá của một số vải để may áo đầm cho con gái của anh ta. Khi cô nói, anh ta lắc đầu và nói giá nó quá cao, và liệu rằng cô có thể giảm giá được không? Cô biết cô có thể hạ xuống hai xu, nhưng anh ta chìa ra số tiền lương ít ỏi của mình trong lòng bàn tay thô nhám, và hỏi cô làm sao anh ta có thể trả nhiều như vậy được? Cô nhìn những đồng tiền trong lòng bàn tay anh ta và cô không thể trả lời được. Cô liếc nhìn về phía Omar như hỏi rằng liệu cô có thể giảm giá xuống thấp hơn không, nhưng anh nhìn về phía cô trong khi anh kéo cái ngăn kéo tiền và lắc đầu. Cô bất lực nhìn vào người công nhân đó, nhưng anh ta cũng đã thấy được phản ứng của chồng cô và đã đi ra ngoài.
Robert cũng phụ giúp phía sau quầy, cậu ta đang trò chuyện với những người công nhân, chào hỏi một hoặc hai người, và mỉm cười. Trong khi quan sát cậu ta, Miriam ai người khi cảm thấy có ai đó đang nhìn chằm chằm vào cô, khi mắt cô hướng về phía trước cửa hàng nơi có một người công nhân đang đứng ngoài đó, uống một chai Coke, và nhìn cô. Anh ta nhìn cô từ trên xuống dưới, một cách chậm rãi, và cô cảm thấy tóc phía sau gáy cô dựng đứng cả lên.
“Đừng tin tưởng bọn kaffir”, bhabhi của cô đã từng nói với cô. “Họ chỉ muốn một thứ duy nhất, từ những người phụ nữ của riêng họ, và từ những người phụ nữ da trắng và cả phụ nữ Ấn Độ. Họ hành động như thế. Và họ rất mạnh”, chị ấy thêm vào. “Nếu họ tấn công cô, thì cô chẳng thể làm được gì. Theo sau đó là bệnh giang mai. Và có Chúa mới biết là còn cái gì khác nữa”. Đó là lần duy nhất mà Miriam có cái nhìn mơ hồ đầu tiên về lý do tại sao chị chồng của cô bị bệnh. Nhưng khi cô hỏi về Jehan, Farah chỉ cười lớn và nói rằng chỉ có Omar và Sandru mới thích nghĩ rằng Jehan bị cưỡng hiếp.
“Chị chồng của chúng ta có bạn trai”, Farah cười lớn. “Hầu như cũng bị chứng chậm phát triển giống chị ta, vì Chúa, nhưng anh ta yêu chị ấy”.
“Vậy tại sao họ không kết hôn?” Miriam đã muốn biết.
“Bởi vì anh ta là một kaffir”, chị ta trả lời với sự thiếu kiên nhẫn. “Anh ta đã lẩn quẩn xung quanh đây nhiều tuần lễ, cho đến khi những người đàn ông bắt gặp và đánh anh ta thừa sống thiếu chết. Và cuối cùng thì anh ta cũng đã phải tránh ra xa”.
Khi cô nhìn lên, người công nhân Châu Phi đã biến mất, và thay vào đó trong tâm trí cô là hình ảnh của những cú đá và đánh đập, những hình ảnh lạnh lẽo đã đến trong tâm trí cô thường xuyên sau khi nghe câu chuyện khiếm nhã của Farah. Bên ngoài, ông Wessles đã hò hét mọi người trở vào chiếc xe tải. Ông ta nói tiếng Anh, cho đến tiếng Afrikaans (ngôn ngữ được phát triển từ tiếng Hà Lan thế kỷ 17 và là một trong những ngôn ngữ chính của Nam Phi) là ngôn ngữ Trắng (White languague). Omar đã từng nói ngôn ngữ đó – anh đã học nó ở trường học ở nơi này, nhưng những người Châu Phi chỉ hiểu biết đủ để hiểu được chủ nhân của họ, và nếu họ làm việc trong nước, cho những bà chủ da trắng. Ông Wessels di chuyển giữa những người đàn ông, nắm trong tay cây gậy mà chẳng bao giờ sử dụng, chỉ để dựa vào, hoặc xoay vòng quanh, hay sử dụng nó để chống, đúng hơn là như những người đàn ông khác phải giữ cho tay mình bận bịu với một điếu thuốc. Ông xua những người công nhân về phía sau chiếc xe tải như thể họ là những con chim khổng lồ, và từng người một, họ tự xếp hàng về phía sau, một vài người cuối cùng phải ngồi trên những cái cạnh sắc, giữ mình cân bằng trên xe một cách thuần thục.
Họ đã cảm thấy nhẹ nhõm khi chiếc xe tải cuối cùng rời đi, và mới chỉ có một giờ trưa. Ngày phát lương này đã rơi vào thứ Tư, và nó có nghĩa là họ sẽ nhận được một chuyến viếng thăm từ con trai chủ nhà của họ. George và David Kaplan thường hay dừng lại cửa hàng “trên đường đi” đâu đó, mua một gói thuốc lá, hay một số vật dụng nhỏ. Nhưng ngoài ra họ thường đến vào chiều thứ Tư cuối cùng của mỗi tháng như một chuyến viếng thăm có tính chất cộng đồng mà nhẹ nhàng thu tiền thuê nhà với những cuộc nói chuyện về chính trị cho đến thời tiết, và thường thì họ mang những người vợ của mình theo.
Ở hai bà Kaplan có một sự mê hoặc mà Miriam không thể nào giải thích được. Dường như đối với cô họ luôn luôn đi vào cửa hàng một cách lả lướt, chầm chậm mang theo những lời thì thầm của những cái áo đầm bằng the, màu tùng lam nhẹ nhàng trên đôi giày đế thấp mềm, mái tóc vàng lung linh và mùi hương kéo dài của nước hoa Pháp đắt tiền. Giọng nói của họ cao và vui vẻ, đầy thích thú chào hỏi Miriam, như thể cô là điều duy nhất họ muốn nhìn thấy khi vào cửa hàng. Trong khi chồng của họ bàn chuyện làm ăn với Omar quanh cái bàn ở phòng phía sau, các bà vợ thì ở lại trong cửa hàng với Miriam, nhấm nháp trà và trò chuyện.
Hôm nay họ đến vào lúc hai giờ, như mọi khi, trong lúc đó Robert đã giúp Miriam chuẩn bị khay trà với khăn trải bàn mới, được chính tay cô thêu, ba cái tách và đĩa từ bộ tách đĩa tốt nhất của họ. Sữa được rót vào trong cái bình Trung Quốc mà đã từng thuộc về mẹ của Omar, đường trắng được mang tới thay thế cho loại đường nâu mọi ngày, và sau đó là mô hình toàn bộ ấm trà được chuẩn bị trên nền khăn trải bàn trắng trên cái bàn ở phòng sau cho những người đàn ông, người mà Robert sẽ phục vụ trà, trong khi bản thân Miriam sẽ chăm sóc cho những người vợ. Ở trong bếp, Robert cẩn thận quan sát những cái bánh xốp đang nhẹ nhàng nở ra trong cái lò nướng lớn.
Chiếc xe dừng lại một cách êm ả, và tất cả những gì họ nghe được về sự đến gần của chiếc xe là tiếng lạo xạo của bụi và đá dăm bên dưới những cái lốp xe vững chắc – một bước tiến tinh tế, bỏ xa tiếng ầm ầm của những chiếc xe tải chở công nhân. Miriam nhấm nháp một ly nước sô đa, cố gắng thoát khỏi tình trạng đau đầu nhẹ, và buồn nôn một cách nhanh chóng mà cô đã phải chịu đựng suốt cả ngày. Cô nhìn ra chiếc xe, dài, đen và bóng bẩy. Cô không có ý nghĩ gì về việc làm ra những chiếc xe như vậy thế nào – Omar đã nói với cô một lần, trong khi họ quan sát chiếc xe chạy đi xa, nhưng cô đã quên mất. Nó thật đẹp, tuy nhiên nó lại gợi lại một thế giới mà Miriam khó có thể lĩnh hội được, cô chỉ có thể tưởng tượng được nó sẽ như thế nào khi được ngồi trong chiếc xe sáng bóng đó, và ngồi lún vào trong những chiếc ghế bọc da, và nghe nhạc khiêu vũ trên cái radio nhỏ được gắn vào trong bảng điều khiển bằng gỗ.
Những người đàn ông nhảy ra ngoài một cách sốt sắng, dãn chân một cách nhẹ nhõm, nhìn xung quanh mỉm cười, hài lòng, giũ sạch những cái áo khoác vừa vặn và mở cửa xe sau cho những người phụ nữ. Tài xế vẫn còn trong xe, với cánh tay áo sơ mi được cuộn lên và hạ cửa sổ xe xuống, nơi mà lúc đó ông ta sẽ nhận được trà và một miếng bánh từ Robert. Chân của những người phụ nữ xuất hiện đầu tiên như thường lệ, sau đó là những cái váy xòe với những bông hoa nhẹ nhàng được in lên, và đột nhiên Miriam cảm thấy hồi hộp khi đứng với chồng cô ở những bậc đầu tiên ở bậc thềm. Omar đã mang một cái cà vạt cho dịp này, bởi vì anh em nhà Kaplan luôn luôn đeo một cái. Có tiếng gọi xin chào, và tiến đến cầu thang của hiên nhà, theo sau là những người vợ – ăn mặc đẹp, nước hoa cologned và quyến rũ, giống như bốn người chơi trong những vở nhạc kịch Hollywood.
Họ bắt tay nhau, pha trò trao đổi về thời tiết, chuyến đi, và về cửa hàng. Như thói quen, những người đàn ông bị thu hút hướng về phía căn phòng phía sau, và Miriam quan sát chồng mình dẫn họ đi – anh ấy cao ráo, Omar, cao hơn những người còn lại, và quần áo của anh, mặc dù không thời trang như họ, nhưng nhìn lịch sự. Cô đã cảm thấy có một chút tự hào, tự hào vì anh đã giữ được bản chất riêng của mình ở giữa họ, và sau đó cô chuyển sự chú ý của mình đến các quí bà đang thao thao bất tuyệt, những cuộc trò chuyện của họ nhẹ nhàng và phù phiếm như một ly milkshake.
“Và bọn trẻ thì sao?” Martha Kaplan hỏi, trong khi ngồi xuống. “Bọn trẻ tuyệt đẹp đó có khỏe không? Chúng có đôi mắt đẹp làm sao – và chúng rất ngoan. ”
“Chúng rất khỏe, cả hai đứa”, Miriam nói. “Càng ngày càng trở nên khó giải quyết.”
“Chúng bao nhiêu tuổi rồi?”
“Sam năm tuổi, còn Alisha thì gần được bốn.”
Martha Kaplan trông có vẻ rất vui mừng. “Vậy con bé có ở đây không?”, cô ta hỏi, tìm kiếm xung quanh, nhưng Miriam lắc đầu.
“Con bé đi với Sam đến Springs. Chúng đi học mẫu giáo ở trường. Nó tốt cho con bé. Tôi nghĩ con bé cần phải thấy và làm nhiều điều khác nhau mỗi ngày. Con bé rất tò mò, đối với tất cả mọi thứ.”
“Oh, tôi biết điều đó, thậm chí đừng nói với tôi về điều đó!”. Câu này đến từ Joyce, luôn luôn là người ấn tượng hơn so với cả hai.
Martha Kaplan nhìn chị chồng mình với vẻ thích thú. “Joyce, chị biết là chị say mê lũ trẻ của mình”. Cô ấy nhìn Miriam. “Chị ấy còn không thể chờ để được bận rộn với chúng – tôi nghĩ rằng chị ấy còn dậy sớm hơn chúng. Còn tôi, mặc khác, lại thấy hạnh phúc hơn khi để Jennifer mặc quần áo và cho chúng ăn vào mỗi buổi sáng – nó luôn như là một cuộc chạy đua trước khi đi học. Tôi thấy mình không phù hợp để được nhìn thấy trước buổi trưa hầu hết mỗi ngày”.
Họ tiếp tục câu chuyện này trong một lúc, và Miriam nhìn với vẻ thành thật thích thú với những bức hình của lũ trẻ của họ mà họ đã đưa ra từ những cái ví xách tay. Họ có, ở giữa họ, ba cậu bé và một cô bé, những cậu bé thì đứng chung với nhau, rất tự nhiên, mái tóc vàng và trông tự tin, cười hướng về phía máy ảnh; cô bé có màu tóc tối màu và dễ thương, chụp hình với bộ đồng phục trường học.
“David Junior là bản sao của cha thằng bé, tôi nghĩ thế”, Martha nói. “Tôi biết thằng bé mới có mười tuổi, nhưng thỉnh thoảng nó rất chững chạc. Sáng nay nó xuống lầu và mời tôi nhảy với nó…”
“Chúng đang học nhảy”, Joyce xen vào.
“… và nó gợi nhớ cho tôi một cách chính xác”, Martha tiếp tục, “khi mà David lần đầu tiên mời tôi nhảy vào một đêm ở một bữa tiệc. Đó là khi anh ấy cầu hôn tôi.” Cô ấy lắc đầu. “Đó là những ngày mà sự lãng mạn, những bức thư tình và sự phấn khích! Nó có cảm giác như ở một cuộc sống khác.”
Miriam mỉm cười, làm mình bận rộn bằng cách thay những tách trà mới. Sự lãng mạn, những bức thư tình, sự phấn khích. Cô chẳng biết gì về những điều đó. Lời cầu hôn của Omar được truyền tải tới cô thông qua mẹ và ông cô, và cô đã không có sự lựa chọn, vì họ đã thay mặt cô chấp nhận nó. Lúng túng và lo lắng, cô đã theo gia đình cô tới phòng khách của nhà chú mình, nghiêm trang và kín đáo, và khi cô bước vào, Miriam đã bắt gặp một làn khói mỏng, tàn dư của điếu xì gà của anh, và nó đã nảy ra trong đầu cô một lần rằng cô đã nhận ra cái mùi thuốc lá này nhiều tuần nay, cuồn cuộn lên từ cái ban công bên dưới. Cô đã không, trong suốt thời gian đó, nhận thức rằng đó như một hương vị mới. Thay vào đó, cô chỉ lờ mờ cảm nhận nó, và đã chấp nhận thêm vào, trộn lẫn với mùi hương quen thuộc của gia vị, mồ hôi và hơi nóng. Cô đã hít nó vào trong cơ thể mình, vô tình chấp nhận sự xâm nhập âm thầm của những làn khói cuộn lên. Đôi mắt của cô vẫn còn muộn phiền, như cô đã dự kiến, thông qua cuộc gặp gỡ ngắn ngủi để bắt đầu sắp xếp đám cưới, nhưng khi cô hiểu kịp với đôi mắt đang nhìn vào những mô hình mới được quét lên sàn, cô đã cố gắng làm cho bản thân thoải mái với ý nghĩ rằng, bởi vì sự xâm nhập bằng khói thuốc của anh, cô đã thực sự biết người đàn ông này lâu hơn cô nhận ra, và con người xa lạ cao ráo và ưa nhìn này, người có đôi mắt mà cô chưa bao giờ nhìn vào, cách nào đó đã là một phần của cô.
“Dù sao, lãng mạn luôn là thứ ra đi đầu tiên”, Martha thở dài. Cô ấy đưa những tấm hình của lũ trẻ cho Miriam, người đã mỉm cười đầy ngưỡng mộ, mặc dù hiện thực của cô bây giờ là Sam sẽ không bao giờ được ở trường hay thậm chí là trongcùng một phần công viên công cộng như các như những cậu bé với mái tóc vàng kia. Không biết là thằng bé đã từng thấy những cậu bé tóc vàng chưa, cô tự hỏi? Cô tự cho rằng hẳn là nó đã từng thấy, ở Springs, xung quanh thị trấn, nhưng cô không thể chắc chắn.
“Cô ổn chứ cô gái?” Joyce Kaplan hỏi, Miriam nhìn lên và mỉm cười.
“Chị uống thêm trà chứ?” Miriam hỏi, và cầm lấy ấm trà.
Những cơn buồn nôn của cô thì ngắn, nhưng nó đã trở nên ngày càng thường xuyên hơn như chiều nay, và cô cảm thấy mình bắt đầu đổ mồ hôi một chút với nỗ lực để làm hài lòng. Cô đã cảm thấy những người phụ nữ đã ngồi đó cả một niên kỷ rồi, và cô lén lút hít thở sâu để làm dịu cái dạ dày của mình. Cho đến khi cô cảm thấy gần như là mình không thể nào chống lại được nó nữa, cô đã nghe giọng nói của những người đàn ông một cách rõ ràng hơn – một tiếng cười to và một vài câu bông đùa của anh em nhà Kaplan với Omar như khi họ xuất hiện từ một căn phòng khác.
“Thôi nào, em yêu, chúng ta phải đi thôi. Chúng ta đã tạo rắc rối cho những người tốt bụng này đủ lâu rồi”, George Kaplan nói, trong khi mở rộng cánh tay hướng về phía những người phụ nữ. Họ đặt tách trà xuống thật cẩn thận vào trong khay, lấy túi xách, chỉnh lại trang phục – tất cả những hạnh động nhỏ nhặt cần thiết trước khi rời đi.
“Bạn thân mến, cái bánh…”, lời nhận xét của George đến Miriam. “Nó như không phải ở thế giới này, như mọi khi”.
“Nó rất ngon, cảm ơn”, David thêm vào, và đội cái nón lên đầu.
Cô mỉm cười, như một cách chấp nhận lời khen, và chờ đợi cho các cặp đôi đi ra cửa, trò chuyện vu vơ, quanh co về việc viếng thăm, miễn cưỡng rời đi để trở lại vào Vì vậy khi nhà Kaplans chậm rãi bước vào chiếc xe đẹp của mình, thật lâu khi tài xế khởi động cái động cơ nhịp nhàng. Thì cô đứng đó, chiến đấu với chất dịch tiêu hoá đang ngày càng tăng trong dạ dày mình, và cô vẫy tay khi họ rời đi, nhưng cho đến khi họ vừa rời đi đủ xa để những đám bụi rơi xuống lại con đường, cô quay lại và chạy hướng về phía nhà vệ sinh phía ngoài, tông qua cánh cửa, và đẩy cái đầu đang đau của mình vào trong bồn. Cô nôn dữ dội, nhưng chỉ có một chút thức ăn trong dạ dày, và kết quả là không có gì phun ra ngoài một ít nước bọt. Cô chờ đợi, chống tay mình vào tường để trợ giúp. Ở ngoài cửa, Omar đang ngập ngừng gõ cửa.
“Em không sao chứ?” anh hỏi.
“Em ổn”, cô trả lời, giọng run run. Cô chờ để nghe tiếng anh rời đi. Nhưng anh vẫn còn nán lại bên ngoài cánh cửa. Anh cũng đã làm điều tương tự trong chuyến đi trở Nam Phi. Tuần trăng mật của họ. Bệnh say sóng của cô vẫn liên tiếp không ngừng nghỉ trong sáu ngày, trước khi một bác sĩ cực kỳ tử tế, cũng đến từ Bombay như cô, đưa cho cô một ít thuốc. Bệnh lần này triệu chứng giống trước đó, nhưng nó để lại cho cô một sự thèm ngủ không thể cưỡng lại được, và cơn buồn ngủ này lại hướng cô đến một sự sợ hãi, vì nó hiện ra lờ mờ trong cô những cơn ác mộng và những ảo giác điên cuồng.
Cô hầu như không thể nhìn thấy chồng mình trong suốt chuyến đi đó, và nó là lần đầu tiên mà cô đã cảm thấy nỗi cô đơn bao phủ lấy mình, ý thức được rằng cô đã rời khỏi mẹ, căn nhà và đất nước của mình với một người đàn ông không quen biết chỉ thêm vào những đau khổ cho căn bệnh của cô. Anh thiếu cái bản năng chăm sóc để mà trấn an cô, và sau đó anh đã lúng túng ngồi với cô trong những ngày đầu tiên, anh bắt đầu giữ khoảng cách, và sự xa cách của anh chính là khoảng thời gian nghỉ ngơi của cô. Niềm vui của cô khi được nhìn thấy đất liền sau những đại dương bất tận đã tạo nên phần lớn khuây khoả – quang cảnh mờ mờ của nó dưới những đám mây thấp và đám đông những người đang lang thang ở ngay cầu tàu chờ bốc xếp hàng hoá – nhưng nó cũng có vẻ rất là phấn khích. Để chấp nhận mọi thứ, cô còn trẻ, và nhận ra những khả năng có thể ở phía trước. Nó là một cuộc sống mới ở một đất nước mới – cô cảm thấy như mình đã bị xoá bỏ sạch sẽ, và cuộc sống của cô bây giờ đã trở nên rõ ràng, những trở ngại bao quanh, và bây giờ cô phải bắt đầu lại lần nữa, một cuộc sống khác ở một vùng đất khác.
Anh gõ cửa một lần nữa. “Em có sao không?”
“Em ổn”, cô lặp lại. “Anh trở ra ngoài đi, bọn trẻ sắp về rồi”.
Cô có thể nghe tiếng xe buýt đến gần cửa hàng. Cô đứng run rẩy bên trên cái bồn khoảng một hay hai phút, và đặt tay trên dạ dày mình. Đứng thẳng dậy, cô thấy khá hơn và nhìn xuống cái bụng đang lồi nhẹ ra của mình. Cô giữ tay mình ở đó một chút và trở lại nhà để dọn rửa.
Trên đường đi bộ trở về, cô thấy những đứa trẻ của mình, mới vừa ra khỏi xe buýt, chân của chúng vội vã như những bụi cây nhỏ khi bước lên cầu thang ngoài hiên để vào trong cửa hàng. Cô biết rằng chúng sẽ tìm cô, và sau đó chúng sẽ bối rối khi được chào đón bởi cha chúng. Một chốc sau đó, cô nghe thấy tiếng thuỷ tinh vỡ và cô vào trong cửa hàng ngay tức khắc.
Nó chỉ là một cây đèn dầu hoả đã tắt mà bọn trẻ đã làm đổ vì sự hối hả của chúng, và nó nằm ngay cửa ra vào, những mảnh vỡ thuỷ tinh.
“Các con có sao không?” cô hỏi chúng, nhưng chúng không nghe thấy cô, vì chúng đang đứng đó, cúi đầu xuống, trong khi Omar đang la mắng chúng. Anh hỏi chúng nếu chúng nghĩ rằng đèn dầu hoả thì lớn lên từ cái cây, và chúng có biết nó tốn bao nhiêu tiền, và tại sao chúng luôn luôn chạy ở khắp mọi nơi, và tại sao chúng không chịu quan sát cái nơi mà chúng đang đi đến? Miriam lặng lẽ lắng nghe, như lũ trẻ, và khi kết thúc, cô đã thấy chúng suýt khóc và cô gật đầu cho chúng đi lên lầu, sau đó đi về phía góc tường lấy cây chổi và hốt rác để dọn sạch những mảnh thuỷ tinh vỡ. Omar cáu kỉnh nhịp chân, và nhìn cô.
“Để Robert làm”, anh nói với cô. Cô vẫn tiếp tục quét.
“Có chuyện gì thế?” anh hỏi, giọng cụt lủn.
Cô nhìn lên từ nơi mà mình đang làm việc, nhặt những mảnh vỡ sắc nhọn lớn hơn bằng tay.
“Ngoài kia”. Anh ngả đầu về phía nhà vệ sinh. “Em bệnh à?”
“Vâng”, cô nói.
Anh ngừng lại. “Bệnh gì? Em đã ăn cái gì vậy?”
Cô đứng dậy, giữ cái hốt rác đầy trước mặt mình. Bây giờ cô không muốn nói với anh về đứa trẻ. Cô biết anh đã cáu kỉnh với bản thân mình về việc không giữ được bình tĩnh trước lũ trẻ, nhưng cô cũng đã mệt mỏi. Một ngày dài đã qua, cô còn chưa chuẩn bị bữa tối, và cô vẫn còn thấy không khoẻ. Cô đổ những mảnh vỡ vào một nùi giấy báo và gói nó lại và giữ trong tay mình một lát.
“Không có gì”, cô nói, và bỏ đống rác vào trong thùng. Robert đã xuất hiện, và với lấy cây chổi. Cô chỉ cho cậu cái nơi mà cây đèn bị vỡ để cậu tiếp tục quét dọn, trong khi Omar đang đứng phía sau quầy, nhăn mặt và sốt ruột. Anh thực sự muốn nói hay làm một cái gì đó liều lĩnh để cô ngừng việc lạnh lùng với anh, nhưng anh nhận ra mình không thể di chuyển, ngoài trừ việc lấy sổ sách từ dưới quầy, và anh không thể nói, ngoài việc hỏi cô khi nào bữa tối sẵn sàng.
“Sớm thôi”, cô nói, quay người hướng về phía nhà bếp. “Nó sẽ được dọn ra sớm”.
Anh gật đầu, và đi về phía căn phòng phía sau để tính toán sổ sách, quay đầu lại một giây sau đó quá trễ để nhìn thấy dáng người mảnh khảnh của vợ mình biến mất vào trong nhà bếp.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co