Truyen3h.Co

Thù máu phải trả

1

HongPhng925107

Năm 1912, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ cử hai chuyên gia sang Đông Dương với danh nghĩa hợp tác khoa học với các công ty Pháp. Họ làm việc lặng lẽ, thu thập mẫu đất từ cao nguyên Trung Bộ đến thềm lục địa phía Nam. Báo cáo gốc được niêm phong trong kho lưu trữ ở New York suốt 40 năm, đánh dấu Việt Nam như một trong hai khu vực có trữ lượng đất hiếm lớn nhất thế giới. Trong cùng giai đoạn, một đoàn thăm dò dầu khí của tập đoàn Standard Oil tình cờ phát hiện tầng địa chất khổng lồ ở thềm lục địa Nam Việt. Họ ước tính trữ lượng khoảng 4.4 tỷ thùng dầu thô và hơn 700 tỷ m³ khí tự nhiên. Một con số đủ lôi kéo các đế chế công nghiệp đang khát nguồn năng lượng. 

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, các tài liệu này được giải mã. Washington bắt đầu xem bán đảo Đông Dương không chỉ là vùng đệm chính trị mà là điểm chiến lược để điều khiển nguồn lực hiếm. Đối với Washington, đó là một cuộc đầu tư an ninh năng lượng, không phải chiến dịch đạo đức. Năm 1951, Pháp đang kiệt quệ do chiến tranh và đối mặt phong trào độc lập lan rộng. Trong bàn đàm phán kinh tế với Washington, Paris đã đồng ý nhượng lại ảnh hưởng Campuchia và Lào như một phần đổi tác để được giải trợ tài chính. Hiệp định được giữ kín trong các hồ sơ mật, nhưng mục tiêu thực tế đã rõ. Tại Lào, họ xây sân bay quân sự tại Luang Prabang, lắp đặt đại radar trên các đỉa điểm cao nhưng lạnh lùng giải thích đó là trạm khí tượng. Campuchia trở thành trung tâm huấn luyện lực lượng đặc nhiệm Mỹ, nơi được xem là tấm bàn đẩy của chiến lược mới.

Trong nước Mỹ, một nhóm nghiên cứu mật gồm các chuyên gia kinh tế, địa chính và công nghệ được thành lập ở Washington D.C. Nhóm này, mang tên mã là Project Atlas, đặt ra câu hỏi: làm sao tận dụng nguồn tài nguyên đất hiếm ở Việt Nam mà không gây chú ý quá sớm. Kế hoạch được lên ý tưởng là dùng chiến lược ảnh hưởng để đảm bảo chính trị ở Sài Gòn và Huế phục tùng Washington, trong khi vị trí của Pháp sẽ dần mờ phai. Các báo cáo từ Project Atlas dự đoán: 

"Ai kiểm soát nguồn đất hiếm thì sẽ kiểm soát nền khoa học quân sự toàn cầu trong nửa thế kỷ tới."

Chúng không sai. Năm 1953, một loạt vùng khai thác thử nghiệm bị đánh dấu trên bản đồ bí mật. Hàng tră chuyên gia địa chất, kỹ sư đến từ Texas, Colorado và Paris được điều đến. Phía sau là lực lượng quân sự đặc nhiệm Mỹ với danh nghĩa đơn vị cứu trợ. Họ đưa theo các thiết bị khảo sát địa tàng, nhưng có các module thử nghiệm phân tách nguyên tử. Từ đó, các dự án khai thác đất hiếm và dầu mỡ được gắn vào công nghệ quân sự. 

Bản đồ thế giới thay đổi từ đây. Tất cả được che phủ bằng ngôn ngữ hợp tác kinh tế.

Thất bại ở Điện Biên Phủ khiến Paris phải ký Hiệp định Genève năm 1954, chia đôi Việt Nam và chấm dứt quyền kiểm soát thuộc địa. Washington không chấp nhận thực tế đó. Họ coi sự thoái lui của Pháp là dấu hiệu yếu kém, và khoảng trống quyền lực ở Đông Dương là cơ hội cần lấp đầy ngay. Đồng thời tại khu vực 51 đã nghiên cứu ra một điều vô cùng khủng khiếp về ADN người Việt. Nếu không kiểm soát đó sẽ là khởi đầu cho tận thế.

Chỉ vài tuần sau Genève, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ thông qua bản ghi nhớ mật mang tên Containment Delta, đặt mục tiêu kiểm soát toàn bộ tuyến giao thương Đông Nam Á. Bước đầu là bao vây kinh tế Việt Nam ở mức không để sụp đổ, nhưng đủ khiến nền kinh tế tê liệt. Các ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng của Washington ngừng bảo lãnh tín dụng, tàu hàng mang quốc tịch Mỹ bị cấm cập cảng Việt Nam, và các tuyến cung ứng nhiên liệu bị siết chặt dưới danh nghĩa kiểm soát thương mại chiến lược. Từ 1955 đến 1964, Mỹ thiết lập một chuỗi hiệp định kinh tế – an ninh với các quốc gia quanh Biển Đông. 

Trên giấy tờ, đó là các thỏa thuận hợp tác phát triển khu vực. Trong thực tế, chúng hình thành một lưới vây kinh tế khép kín, cô lập Việt Nam và tạo vùng ảnh hưởng trực tiếp cho Washington. Mỗi hiệp định đều kèm điều khoản chia sẻ nguồn cung đất hiếm dưới sự giám sát của Mỹ, đổi lại là hỗ trợ tài chính và an ninh. Không ai được phép công khai, và mọi quốc gia tham gia đều hiểu Mỹ có thể rút lui bất cứ lúc nào nếu lợi ích thay đổi. Ở Washington, giới hoạch định chính sách không chỉ nói về khoáng sản hay năng lượng. Họ nhấn mạnh học thuyết chống cộng tuyệt đối. Sau Chiến tranh Triều Tiên, mọi sự nhượng bộ với chủ nghĩa cộng sản đều bị xem là thất bại chiến lược. Việt Nam trở thành biểu tượng của sự "ngăn chặn mở rộng" trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Từ năm 1956, Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) chuyển hướng hoạt động tại Trung Quốc. Mục tiêu không còn là lật đổ chính quyền Mao ngay lập tức, mà là gieo mầm thay thế lâu dài. Huấn luyện, hỗ trợ tài chính cho tầng lớp tư sản trí thức cũ từng phục vụ dưới thời Tưởng Giới Thạch và dần cài cắm vào bộ máy hành chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Kế hoạch cuối cùng là tái lập một hình thức "Trung Hoa Dân Quốc mới" thân phương Tây, tạo bức tường chắn giữa Liên Xô và Đông Nam Á. Đổi lại, Washington ngầm chấp thuận một điều kiện tạm thời. Nếu chiến tranh khu vực bùng nổ, Trung Quốc sẽ được toàn quyền kiểm soát hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là một sự nhượng bộ chiến thuật, được ghi trong phụ lục mật của hiệp ước kinh tế 1956. Không ai ngoài vài quan chức cấp cao ở Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao biết chi tiết này.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co