65-74
✰ Chương 65 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Nhưng An Chiết cũng chẳng phải là một cây nấm hư như vậy đâu."
***
Kế đấy họ phát hiện thêm chứng cứ trong căn phòng này.
Cửa sổ khó đẩy ra, là do bệ cửa sổ sắt đã dính chặt với đế.
Còn bộ xương ấy, nom kĩ hơn sẽ phát hiện xương đùi nó mất tăm ngay trên ghế xô-pha. Sự tồn tại xấu xí nhất chính là ngọn đèn chùm hình hoa linh lan treo lủng liểng trên trần nhà phòng ngủ thứ hai, chao đèn cùng giá đỡ kim loại của nó lẫn vào nhau, chúng tan chảy và sã mình xuống một cách mềm mại – tựa ngọn nến cháy tận. Bụi bặm đen sì phủ lấp chao đèn trắng xóa, hạt bụi nào cũng là một nốt đen bé chừng đầu kim, chúng ken dày chất đống, tưởng chừng sắp sửa tạt thẳng vào mặt vậy.
Những điều kì lạ vốn chẳng nên diễn ra kết hợp cùng mọi hiện tượng vượt khỏi nhận thức và giới hạn khoa học của loài người, gợi cho An Chiết một thứ ảo giác, rằng thế giới này như ngọn nến lụi tàn đang dần dà, dần dà tan thành bãi sáp nhão nhoét.
Siebe trở về phòng khách, nó ngồi chết lặng trên sàn, mãi sau bèn ôm ông nội lên rồi đưa cụ rời khỏi ghế dựa, toan tránh xa nơi đó, cứ như thể chiếc ghế kia là con quái vật khủng khiếp nhất, cứ như thể ngay sau đấy xác cụ ông sẽ lẫn quyện với chiếc ghế vậy. Cách ghế thật xa, nó đặt ông nội xuống sàn, song cơ mặt nó lại tức thì run bần bật với vẻ điên rồ...
Bởi biết đâu sàn nhà cũng là quái vật.
Kế đến tấm thân nó run lập cập rồi bất chợt giật lùi về sau dăm bước, sự tồn tại của chính bản thân nó cũng là nguồn cơn ô nhiễm.
An Chiết thấy nó hoang mang tột cùng thì bèn nhấc chân đi đến phía trước, hiềm nỗi vừa tiến đặng một bước thôi, Siebe đã lia ánh mắt kinh hoàng sang chỗ cậu, thụt lùi liên tục.
Nếu như hết thảy trên thế giới đều ô nhiễm lẫn nhau, vậy chỉ khi né xa mọi vật chất mới bảo toàn tính mạng nổi. An Chiết cảm thông cho nỗi lo sợ của nó, cậu lại tiếp tục chủ động kéo dài khoảng cách với nó.
– Xin lỗi, em... – Răng Siebe va lập cập, bảo – em cần... yên tĩnh một lát.
Lục Phong dẫn An Chiết vào phòng ngủ.
Giây phút đặt chân vào phòng ngủ và lại nom thấy cái đèn chùm rủ xuống ấy, An Chiết bỗng chốc ngừng bước. Cậu ngoảnh sang thượng tá, thấy đôi mắt xanh lục của anh như đang kết băng. Sau đấy Lục Phong bèn lôi máy liên lạc ra khỏi túi áo, anh siết nó thật chặt, đốt ngón tay trắng bệch.
An Chiết chỉ đứng bên cạnh quan sát, Siebe đã mất kiểm soát rồi, cậu hiểu tình trạng của Lục Phong cũng chẳng khá khẩm hơn Siebe bao nhiêu, bởi anh vẫn là con người. Thậm chí, thượng tá còn cảm nhận được nhiều thứ hơn Siebe nữa. Đi đôi với việc cần vượt qua nỗi sợ hãi mà thế giới điên rồ này mang lại, anh phải nghĩ về căn cứ loài người ở chốn xa. Anh nhất định phải tỉnh táo vì căn cứ loài người.
Nếu động cơ gặp trục trặc bởi sự ô nhiễm lẫn nhau của vật chất, vậy thì máy liên lạc sao tránh thoát nổi. Có chiếc tua vít nằm trong ngăn kéo tủ đầu giường phòng ngủ, Lục Phong cầm nó lên, vặn mở đinh ốc vỏ ngoài máy liên lạc.
Vỏ ngoài, con chip có kết cấu phức tạp, đường dây xen kẽ, vô vàn phụ tùng tí hon bị tháo ra ngay trên giường. Lục Phong cầm từng cái một lên xem, anh mượn ánh sáng le lói kiểm tra cấu trúc nhỏ bé của chúng.
Phụ tùng máy liên lạc nhiều vô kể, An Chiết ngắm nghía giây lát, cũng lấy ra dăm ba linh kiện có cấu trúc đơn giản từ đống lỉnh kỉnh ấy, định bụng coi xem liệu chúng có đáp ứng đủ tiêu chuẩn cái nào ra cái đó của máy móc loài người không.
Khép kín cửa phòng lại, trên thế giới dường như chỉ còn lại hai người họ. Chẳng ai chịu hé lời, trong tiếng mưa rơi, chẳng nghe đặng bất cứ âm thanh nào ngoại trừ lục xem phụ tùng, Lục Phong làm việc cực chóng – những linh kiện này có vẻ hãy còn bình thường.
Tuy nhiên An Chiết chợt thấy bất ngờ.
Cậu săm soi con chip be bé trong tay, trên bề mặt có hai sợi đồng đỏ thẫm xếp ngang hàng, sợi nào cũng do hàng tá sợi đồng tí hon bện nên, chúng vốn phải song hành với nhau, chính giữa cách nhau chừng vài mi-li-mét. Bấy giờ tất cả lại tơi hết ra, hai bên đều oặt vào thành một độ cong kì quặc, hai sợi đồng áp sát nhau, nom khá khó tách rời, điều này chắc chắn là điềm gở.
Vào khoảnh khắc này, chí ít là trong gang tấc ngắn ngủi, An Chiết chợt nảy lên ý nghĩ, rằng nếu ngay cả máy liên lạc cũng bị hư hẳn do biến dạng từ vật chất, nếu Lục Phong không bao giờ quay về căn cứ được nữa, thì bọn họ sẽ như nào đây?
Nhưng An Chiết cũng chẳng phải là một cây nấm hư như vậy đâu.
...Cậu nhìn con chip trong lòng bàn tay, cắn môi, cậu kéo tay áo Lục Phong mặc cho nỗi đớn đau nhè nhẹ ùa đến.
Trong giày bốt của Lục Phong có một chiếc khuy ngầm giắt theo dao găm sắc lẹm, bấy giờ cái dao găm ấy bị rút ra, An Chiết bật đèn pin thó được từ quặng mỏ – đoạn rọi sáng con chip, kế đó nhìn Lục Phong dùng mũi dao cẩn thận hắt những sợi đồng đương quấn bện nọ ra, giữa sợi đồng đã xuất hiện dấu hiệu dính liền, song may mà phát hiện kịp thời, vẫn còn tách ra được.
Lúc dọn dẹp xong xuôi, An Chiết lại bắt đầu căng thẳng. Nhưng cậu thấy đầu óc hơi bải hoải, hình như cậu bị ốm rồi, kể từ khi bào tử có dấu hiệu chín muồi thì cơ thể cậu cứ mỗi lúc một yếu đi.
Lục Phong kiểm tra số phụ tùng còn dư lại lần nữa, kế tiếp lần lượt lắp chúng đâu vào đấy, ấn thử phím, khởi động.
Sau đấy thứ vẳng lên lại chẳng phải thông báo "Xin lỗi bạn, tín hiệu căn cứ đang bị gián đoạn do chịu tác động từ tầng điện li hoặc gió Mặt Trời..." mà thay vào đó là:
"Bíp..."
"Bíp..."
"Bíp..."
Tiếng mưa tuôn ồ ạt to dần lên, hàng ngàn hàng vạn giọt mưa nện xuống cửa sổ như làn đạn và dội ra thứ âm vang lộp độp chẳng ngớt, đây là một cơn mưa xối xả chỉ xuất hiện vào mùa hạ oi bức, cảnh ngoài ô cửa nay đã là thác nước xám ngắt.
Giọt mưa dường như nện vào linh hồn An Chiết.
Trong cơn mụ mẫm, cậu thoáng nghe thấy giọng nữ ôn hòa vọng ra từ máy liên lạc, nhưng cơn mụ mẫm cứ ngày một trĩu nặng, thế giới trước mắt cậu nhòe thành khung cảnh muôn hồng nghìn tía... Vài giây sau, cậu ngã nhoài xuống đất.
Trước khi mất đi ý thức, cậu chỉ nghĩ đúng một điều: Bào tử ơi, làm ơn đừng rơi ra nhanh vậy mà.
✰ Chương 66 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Nhưng em đã gặp được anh rồi."
***
Thứ sau cùng lọt vào mắt cậu là khuôn mặt của Lục Phong, cậu chưa từng trông thấy Lục Phong hoảng hốt đến nhường này, cậu muốn thốt lên điều gì đấy, rồi lại không hé lời nổi...
Tầm nhìn tối sầm lại, cơ thể cậu là một lỗ hổng. Có sợi dây nào đó đang đứt phựt trong cậu – một cách khẽ khàng.
...Đau lắm.
Kế đấy là sợi thứ hai.
Cậu gắng lần tìm xem chuyện gì đang diễn ra, rốt cuộc, ý thức của cậu như biến thành một điểm sáng nơi miền hư ảo, rồi cậu thấy được sự thể đang phát sinh.
Sợi nấm trắng phau và nhỏ thó dần dà kéo dài tới độ mém trong suốt, nó đã mỏng manh đến bàng hoàng rồi.
Phựt.
Đi kèm với cơn đau như kim đâm, nó đứt rồi.
Bào tử của cậu.
Hiện nay các sợi nấm vốn nối với mọi sợi nấm của bào tử trong cơ thể cậu đang đứt lìa từng sợi một, chẳng phải do cậu ruồng bỏ nó, mà là bào tử chủ động rời đi... À không, cũng không hẳn.
Là thời khắc chín muồi đã đến, sức mạnh tới từ bản năng sinh mạng chia cắt họ.
An Chiết chẳng ngăn được bất cứ điều gì cả, thật khó để giải thích liệu giữa một cây nấm và bào tử của nó thì có thứ tình cảm sâu sắc gì, mối quan hệ giữa họ cũng chả giống cha mẹ và con cái ở xã hội loài người, nhưng cậu vẫn mong rằng bào tử đừng rời xa mình nhanh đến thế. Ngoài kia còn hiểm nguy như vậy, chỉ cần rời xa cậu, nó sẽ chết non dù có gặp trúng bất cứ thứ gì đi chăng nữa... nhất là gặp Lục Phong.
Song cậu đã vụt mất toàn bộ giác quan, chẳng thốt nổi điều gì nữa mà chỉ biết dốc sức khuyên nhủ bào tử trong lòng thôi.
Đừng ra mà.
Đừng ra mà.
Nguy hiểm lắm đó.
Đương lúc sợi nấm chỉ còn sót lại đúng ba sợi, nỗi sợ cái chết đạt tới đỉnh điểm.
Đừng ra mà... làm ơn.
Mồ hôi lạnh túa giàn giụa, cậu thoắt bừng tỉnh.
Trước mắt là trần nhà, cậu rề rà chớp mắt, kế đến bất chợt giật mình vào giây tiếp theo.
...Nó vẫn còn.
Cậu vẫn cảm nhận được bào tử trong người, ba sợi nấm chao đảo treo nó vắt vẻo, cũng may nó ra chiều ngoan ngoãn ngừng chống đối rồi, dường như nó rốt cuộc quyết định nghe lời cậu. Tiếp đấy, giọng của tiến sĩ ấy vậy mà truyền vào tai cậu, thoạt tiên cậu ngỡ rằng mình đã quay về căn cứ, chốc sau mới vỡ lẽ rằng đây là âm thanh từ máy liên lạc.
Quả nhiên Lục Phong sẽ liên lạc với căn cứ ngay khi vừa sửa xong sợi đồng bị biến dạng. Dẫu biết là sai, nhưng lúc này đây An Chiết thấy mất mát khôn nguôi.
– ...Tôi xin thông báo cho cậu hay loài người sắp bay màu rồi – Giọng điệu bi quan của tiến sĩ vọng ra từ máy liên lạc, An Chiết khẽ nhúc nhích, đoạn phát hiện mình đang nằm trong lồng ngực Lục Phong, còn đắp áo khoác của anh, Lục Phong phát hiện cậu tỉnh.
Trông anh như định nói điều gì đấy, An Chiết đảo mắt tỏ ý anh hãy tập trung nghe máy liên lạc tiếp đi rồi tiếp đấy lại suy yếu tì vầng trán lên trước ngực anh.
– Việc này hoàn toàn không phải là cơ thảm họa mà ta dự đoán nổi, nó chính là một một cuộc diệt vong hàng loạt, điều tôi có thể mách bảo với cậu là toàn bộ sinh vật, toàn bộ phi sinh vật, toàn bộ định lý trên thế giới đã thành dấu chấm hết rồi.
Lục Phong cất lời:
– Tôi có gặp trường hợp lai giữa vật chất.
– Đếch có lai gì hết, định nghĩa mới nhất của chúng tôi gọi nó là biến dạng – biến dạng tổng thể ở mức vi mô, nghe này, có một nguyên tử silic trở thành... trở thành cái gì đó mà chúng tôi cũng không hay ngay dưới kính hiển vi, đây vốn chẳng phải ô nhiễm gen mà là sự thay đổi về cấp lượng tử – thứ mà con người sẽ chả bao giờ quan trắc[1] nổi, dựa theo nguyên lý bất định[2], chúng ta không vượt qua được nó, không đời nào vượt qua được, dẫu khoa học kĩ thuật có phát triển thêm mười ngàn năm nữa thì cũng chỉ biết chấp nhận cái chết thôi – Tiến sĩ thốt lên – Tôi... tôi... trước mắt chúng tôi chỉ hay rằng, từ trường có thể giúp Trái Đất tránh chịu tác động bởi sự thay đổi này, biến dạng đang tạm ngừng sau khi cả hai căn cứ tăng cường độ từ trường lên. Ngặt nỗi cậu biết đấy, tình huống luôn trở tệ dần.
[1] Quan sát, đo đạc các hiện tượng tự nhiên như thiên văn, địa lí, khí tượng, v.v...
[2] Nguyên lý bất định là một nguyên lý quan trọng của cơ học lượng tử do nhà Vật lý lý thuyết người Đức Werner Heisenberg phát triển. Nguyên lý này phát biểu rằng: "Không thể xác định được cả vị trí và động lượng (hoặc xung lượng) của một hạt electron vào cùng một lúc. Nếu biết được một đại lượng thì không thể xác định được đại lượng kia."
Dường như sự căng thẳng quá độ đã thôi thúc chàng ta nói bai bải:
– Hồi xưa phải gặp thương tích nặng thật nặng mới bị lây nhiễm, về sau sây sát tí cũng bị nhiễm, và về sau nữa chỉ cần chạm trúng ắt nhiễm ngay, cuối cùng không tiếp xúc cũng bị nhiễm, tôi cho rằng đây đã là tình trạng tồi tệ lắm rồi, kết quả thì sao? Cấu tạo nền tảng của thế giới này đang xáo động, hơn nữa đấy rõ ràng là một quá trình tăng mạnh từng bước, thế giới mỗi lúc một hỗn loạn, hiện nay từ trường của chúng ta có thể ngăn cản tạm thời, tuy nhiên sau đấy thì sao hả? Thời khắc mà dù tăng cường độ từ trường nhân tạo lên tối đa cũng chẳng ngăn nổi, rồi sẽ đi về đâu? Cường độ cao nhất của từ trường nhân tạo là cấp 9, hiện tại nó đang ở cấp 7, sắp hết cỡ rồi. Ngày mai, ngày mốt, hoặc chậm nhất là nửa năm, cực từ nhân tạo của chúng ta sẽ bị hỏng bởi biến dạng.
– Căn cứ hi vọng cậu có thể trở về, nhưng thực tình thì, tôi thề sẽ không ngăn cản nếu cậu muốn tìm miền đất nào đó tận hưởng nốt quãng đời còn lại – Chàng ta bảo – Sắp chấm dứt cả rồi.
Lục Phong trả lời:
– Tôi hiểu rồi.
– Nếu cậu chưa tìm được An Chiết, vậy đừng tìm nữa. Hãy bỏ qua cho nó, bỏ qua cho chính mình, sống vui phần mình đi, đằng nào cũng sắp chết mà – Tiến sĩ nói – Tiêu bản do cậu mang về, chúng tôi không nghiên cứu ra kết quả cụ thể, đấy chả phải là điều mà khoa học làm được. Dù rằng... căn cứ vẫn muốn đấu tranh giành lấy một tia hi vọng cuối cùng.
Tiến sĩ thoáng chững lại, đoạn bảo:
– Thôi tôi lên cơn điên đấy, xin lỗi nhé, tôi bị ảnh hưởng bởi bầu không khí bi quan ở căn cứ hiện tại. Cậu đừng để bụng mấy lời tôi vừa nói, hãy mang tiêu bản trở về, tiêu bản đó đã phô bày tính trơ với trường hợp lây nhiễm, hay có lẽ là phô bày tính trơ với sự biến dạng. Nó là bước đột phá cuối cùng, niềm hi vọng cuối cùng, cậu – hoặc là bỏ mạng ở vùng ngoài, hoặc đem nó về đây. Nhưng xét trên cái lối cư xử trước khi biến mất đột ngột của An Chiết, tôi đoán nó có thể là một loại dị chủng mang hình thái quái đản tột độ, cậu nhớ cẩn thận nhé.
An Chiết khẽ nhoẻn cười bởi giọng điệu thiếu nghị lực và phán đoán sai lầm về khả năng của cậu từ tiến sĩ, song đồng thời cậu hiểu rằng căn cứ hãy còn thèm khát bào tử của cậu.
– Nghỉ ngơi cho tốt – Lục Phong nói cùng tiến sĩ – Tôi đã gửi tọa độ cho Trung tâm Mặt trận thống nhất rồi.
Kết thúc cuộc gọi.
Lục Phong nhìn xuống An Chiết.
– Vẫn ổn chứ? – Anh hỏi.
– Vẫn ổn – An Chiết trả lời.
Lục Phong nói:
– Ban nãy em sao vậy?
An Chiết lắc đầu nguầy nguậy.
– Em cũng không biết à?
An Chiết thều thào:
– Không phải, – Cậu bảo – không nói cho anh biết được đâu.
Cậu bỗng phát hiện ánh mắt của Lục Phong lạnh tới hãi.
– Ừ, – Ngón tay Lục Phong vuốt ve mái tóc cậu, nói với vẻ thong dong – chính vì vậy em cũng chẳng cho tôi biết tiêu bản ở đâu.
An Chiết cúi gằm mặt, cậu chả có điều gì đáng nói về bào tử cả. Trước kia là như vậy, bây giờ cũng là như vậy.
Chuỗi ngày yên bình trên cõi đời này là bọt nước. Nó tựa dấu chấm hết cho một giấc mộng, cậu và Lục Phong chung quy vẫn phải quay về dăm hôm trước.
Thẩm phán giả cùng dị chủng, kẻ truy bắt cùng kẻ đào tẩu. Cậu sẽ không giao bào tử, mà Lục Phong cũng sẽ không buông tha cậu.
Cậu chẳng muốn nhìn vào mắt Lục Phong nữa, vậy là bèn chuyển chủ đề:
– Hiện giờ căn cứ đang lâm nguy à?
– Ừ.
– Thế anh còn định về không?
– Về – Lục Phong trả lời.
– Nhưng tiến sĩ nói là... hết hi vọng rồi mà – Cậu lầm bầm.
Bỗng cậu ngộ ra điểm ngu xuẩn trong câu mình vừa nói, dẫu căn cứ có sắp bị diệt vong đi chăng nữa, Lục Phong cũng sẽ quay về cho kì được. Nín lặng thật lâu, Lục Phong mới đáp:
– Tôi là người của căn cứ.
An Chiết mím môi, Lục Phong thuộc về căn cứ, giống như cậu thuộc về Vực Thẳm vậy. Họ chẳng đời nào chung sống hòa bình nổi. Lục Phong đã gửi tọa độ cho Trung tâm Mặt trận thống nhất rồi, mà cậu thì từ chối tiết lộ tung tích của bào tử, thật khó để mường tượng kế tiếp cậu sẽ phải hứng chịu điều gì.
Cậu ngước nhìn Lục Phong, tia sáng nhá nhem lập lòa trong màn mưa ngoài kia, cậu không nhìn rõ Lục Phong, cũng không tỏ tường nổi anh.
Lúc sự thay đổi trên thế giới này ngày một trở nên điên rồ và ngay cả tiến sĩ cũng thốt ra câu "Loài người sắp tận rồi", thời khắc cuối cùng trước sự diệt vong của nhân loại, Lục Phong sẽ nghĩ gì nhỉ? Cậu chẳng hay biết, cậu chỉ lặng lẽ dõi theo Lục Phong.
– Đôi khi tôi nghĩ rằng, nếu như căn cứ nhất định phải sụp đổ vào lúc tôi sinh thời, – Giọng Lục Phong khẽ khàng – thì tất cả mọi chuyện tôi từng làm trước kia...
Anh ngừng bặt, chả nói tiếp nữa, làn dao động xúc cảm này như gợn sóng lăn tăn trên mặt nước, chẳng mấy nó đã đóng băng.
– Biết đâu sẽ có kì tích – An Chiết bật thốt, đây là điều duy nhất có thể an ủi Lục Phong mà cậu nghĩ ra được.
Lục Phong cúi đầu nhìn cậu:
– Em cảm thấy có khả năng à?
– Có chứ. Cũng giống... cũng giống việc thế giới này rộng lớn vô bờ, nhưng máy bay của anh lại vừa hay rơi gần chỗ em khi gặp tai nạn vậy – An Chiết nói – nếu sự việc trở khác thì anh đã chết rồi.
Nếu như Lục Phong chết, cũng chẳng có một An Chiết tiếp tục nương náu tại thành phố loài người ngay bấy giờ, hết thảy đều sẽ thay đổi.
Cậu đang nằm rúc vào lòng anh, Lục Phong rủ mắt nhìn cậu, trong đôi mắt xanh lục lạnh căm ấy chỉ có mênh mang buốt giá:
– Em có biết thế giới rộng tới nhường nào không?
An Chiết ngẫm nghĩ, trong miền kí ức hạn hẹp của cậu, có muôn vàn con đường cậu chưa từng đi, cũng có muôn vàn sự vật cậu chưa từng thấy, cậu chỉ là một cây nấm rù rì thôi. Song thế giới này hẳn thênh thang tột cùng, vì lẽ đó lúc máy bay Lục Phong bổ nhào xuống từ không trung và rơi ngay trước mắt cậu, nó mới được gọi là một kì tích.
Vậy là cậu chầm chậm gật đầu.
Cậu muốn giúp Lục Phong vui vẻ chút đỉnh, nhưng mà Lục Phong hiện tại trông thật đáng sợ... An Chiết nhìn sườn mặt vô cảm của anh rồi bất giác rúm ró lại.
– Em không hề biết, – Lục Phong cất giọng lạnh tanh – chả đời nào tôi trùng hợp rơi xuống trước mặt em. Lí do sự việc thành ra như thế, là vì tôi vốn đến bắt em.
– Không phải vậy, – An Chiết nào chịu nổi ánh mắt anh, cậu muốn giằng ra, tuy nhiên lại bị Lục Phong kìm chặt cứng vào ngực, An Chiết nói ngắc ngứ – hôm đó có nhiều máy bay phóng qua lắm, các anh đi... đi giết ong mật mà. Anh tình... tình cờ gặp em thôi, xong rồi mới định bắt em.
– Giết từ lâu rồi – Lục Phong trả lời với vẻ bình tĩnh.
An Chiết mở to hai mắt.
Cậu run rẩy:
– ...Ai cơ?
Lục Phong đáp:
– Bà ấy.
An Chiết chỉ nghe được một âm tiết, cậu không rõ liệu từ kia là "ông ấy", "bà ấy" hay là "nó". Nhưng khi lời ấy được thốt ra từ miệng Lục Phong, thì chỉ có một khả năng duy nhất.
*He, she, it đồng âm trong tiếng trung, đều đọc là "tā".
Phu nhân Lục.
Chính tay anh đã giết chết phu nhân Lục.
Cậu khó mà hít thở nổi, ngực co rút dữ dội dăm lượt.
Lục Phong nhìn cậu, ngón tay dời khỏi chếch cổ An Chiết, ngón trỏ và ngón giữa chập lại đoạn đè xuống động mạch cảnh ấm nhuần yếu ớt của cậu. Giọng anh chẳng hàm chứa bất cứ thăng trầm cảm xúc nào, anh bảo:
– Em không nghe thấy chỉ thị từ máy liên lạc à? Nhiệm vụ cuối cùng là đi giết em.
An Chiết nghe chứ.
Cổ cậu bị đè đau quá, cậu vươn tay toan đẩy cổ tay Lục Phong, đẩy hoài chẳng ra nên thanh quản dần chua xót, cậu nói:
– Nhưng thế giới... thế giới rộng lắm, anh vốn đâu biết em ở đấy.
Lục Phong nhìn cậu.
An Chiết bị anh ghì riết vào lòng, nhỏ nhắn quá đỗi. Tiến sĩ bảo cậu hẳn là loại dị chủng cực kì hùng mạnh bởi cậu có thể chuồn khỏi căn cứ trong chớp mắt. Tuy nhiên Lục Phong hiểu, dường như ai cũng dễ dàng thương tổn được một sinh linh yếu ớt và bé bỏng ngần này, dẫu là về mặt thể xác hay tinh thần chăng nữa.
Lục Phong không nghe rõ những gì cậu đang lầm bầm, chỉ thấy vành mắt cậu hoe đỏ, tựa hồ đang muốn liều mạng chứng minh rằng đây là một sự cực chẳng đã, là một sự trùng hợp mà thôi, có vẻ cậu đang cố để mình tin tưởng vào một điều gì đó rồi vin vào nó mà giải thoát cho chính bản thân.
Anh lấy một vật ra khỏi túi áo quân phục.
Một ống thủy tinh nhỏ dài chừng ngón cái sóng sánh chất lỏng màu xanh biếc, giữa ống dán nhãn mác in mã vạch và một chuỗi những con số.
An Chiết nhìn nó, đoạn hỏi:
– Nó là gì vậy?
Lục Phong hờ hững đáp:
– Thuốc theo dõi.
An Chiết từng nghe cái tên này rồi. Cậu nhớ Lily đã từng kể rằng em bị tiêm thuốc theo dõi, con người luôn đặt tên theo một lối dễ hiểu, nghe tên xong sẽ biết công dụng của liều thuốc ấy ngay.
– Hải đăng nói, dung dịch gốc của thuốc theo dõi sẽ nhận được một tần số riêng khi ta soi chúng bằng sóng xung có tần số đặc biệt. Khi soi xong, thuốc theo dõi bấy giờ chia làm hai phần, phần thì dùng để tiêm vào người, phần thì dùng để lưu trữ. Bơm phần thuốc theo dõi được bảo quản vào máy phân tích, nó sẽ chỉ ra phương hướng của thuốc theo dõi đồng tần số – Lục Phong nói – Dù có xa tới mức nào đi chăng nữa.
Ngón tay An Chiết áp sát cái ống nhỏ lạnh căm ấy, rịt chặt nó trong lòng bàn tay.
– Anh tiêm thuốc theo dõi cho em ư? – Cậu bật lên với vẻ run rẩy – Tiêm từ bao giờ? Sao... sao em không biết?
Nói đoạn, có ý nghĩ bất giác xẹt qua trí óc cậu. Giọng cậu nhỏ dần, yết hầu đau rát chừng như chẳng thốt nên lời:
– Anh nghi ngờ em là dị chủng từ lâu rồi hả?
– Tôi không giết em, vì em đã thông qua toàn bộ tiêu chí phán đoán, – Giọng Lục Phong thêm lạnh lùng, anh gỡ ngón tay An Chiết ra, đoạn lấy lại thuốc theo dõi rồi cất vào túi áo mình – nhưng tôi nhất định phải chịu trách nhiệm về sự an nguy của căn cứ.
An Chiết ngơ ngác nhìn anh, một giọt lệ chảy xuống khỏi khóe mắt cậu, cậu những tưởng Lục Phong sẽ lau vơi nó, song anh chẳng hề làm vậy. Dấu vết của giọt lệ nọ dần lạnh đi trên đôi má cậu. Lời Lục Phong vừa nói rất ngắn ngủi, hiềm nỗi cũng đủ để chứng minh rõ tính cách của anh. Thậm chí anh còn dám nhẫn tâm giết tận phu nhân Lục – tức con ong chúa.
Từ ngày đầu tiên cậu đã hiểu thượng tá là hạng người thế nào rồi. Có lẽ Lục Phong dạo vừa qua, một Lục Phong đối xử tốt với cậu chính là cơn ảo giác thoáng qua.
Chờ Lục Phong kết nối tín hiệu cùng căn cứ thành công, cậu biết đào đâu ra sự tự tin rằng anh sẽ mãi đối xử đặc biệt với cậu, rằng anh sẽ buông tha cho cậu cơ chứ?
Lục Phong cứ vậy mà quan sát An Chiết đương nằm trong lòng rủ dần hàng mi, cuối cùng tựa trước ngực mình nhắm mắt lại. Vì thế giọt lệ lóe sáng mềm mại nơi đôi mắt nhóc dị chủng bị giấu nhẹm đi, có vẻ trái tim cậu đã bị tổn thương sau khi anh bộc bạch hết mọi chuyện mình từng làm, Lục Phong thầm nhủ.
Giống hệt tất thảy những người bị anh sát hại.
An Chiết lại mở mắt lần nữa, cậu ngẩng đầu nhìn anh, cất giọng thều thào, Lục Phong phải cúi gần hơn mới nghe rõ được.
– Phu nhân Lục đã hoàn toàn mất trí lúc biến thành ong chúa rồi, – Cậu bảo – bà ấy nói với em... bà ấy không hận căn cứ, bà ấy chỉ muốn trải nghiệm lối sống mới, bà ấy không hận anh đâu.
Lặng thinh tựa cái chết, Lục Phong chẳng trả lời. Thời gian trôi qua từng giây từng phút, đương lúc An Chiết vươn tay chực chạm vào má Lục Phong kiểm tra xem anh còn sống chăng, bỗng cậu thấy Lục Phong khẽ nhếch khóe môi mình.
Anh nói thật khẽ, nhưng đầy chắc nịch.
– Bà ấy hận tôi.
An Chiết trông sang ánh mắt anh.
Phu nhân Lục nói Lục Phong sẽ chẳng bao giờ chiếm được điều anh hằng mong, anh chẳng chết tử tế nổi, và rồi sẽ đến lúc anh phát điên thôi.
Cậu hỏi:
– Vì sao vậy?
– Sau khi tôi chào đời, mối quan hệ giữa cha mẹ tôi bị căn cứ phát hiện, bà ấy không thể gặp gỡ cha tôi tự do được nữa. Tôi đã giết chết chính cha ruột mình, đã giết biết bao đứa con của bà ấy, lúc bà ấy giúp đứa con gái bé bỏng của mình trốn khỏi Vườn Địa Đàng thì lại đụng trúng tôi. Thực chất, vào cái hôm tôi và em gặp Lily, người bạn bà ấy nhờ tới tiếp ứng đang đứng ở phía đối diện đường cái.
Hãn hữu lắm Lục Phong mới nói một câu dài nhường này, mà bấy lâu nay An Chiết đã quen với việc tập trung nghe từng chữ anh nói rồi. Giây phút Lục Phong dứt lời, cậu cơ hồ ngạt thở.
Chuỗi nín lặng kéo dài ba giây.
– Niềm vui trong cuộc đời bà vốn rất ít ỏi, nhưng lại bị tôi hủy diệt sạch – Lục Phong nói – Bà ấy hận tôi giống tất cả mọi người ở căn cứ.
An Chiết quan sát anh, khẽ hé môi. Sau cùng, rốt cuộc cậu biết bản thân muốn thốt lên điều gì.
– Em không hận anh – Cậu nói.
Họ nín bặt hồi lâu.
– Vì sao? – Chất giọng bị lạc đi của Lục Phong chợt vang bên tai cậu.
– "Vì sao"... gì cơ? – Cậu hỏi.
– Vì sao em... – Lục Phong nhìn cậu – luôn sẵn sàng tha thứ cho tôi?
An Chiết ngẩng đầu nhìn anh, thứ cậu trông thấy bấy giờ chẳng phải là một Lục Phong vô cảm như trước nữa. Giọng thượng tá chứa đựng sự run rẩy khó phát hiện, anh gặng hỏi:
– Vì sao hả?
An Chiết muốn đáp, nhưng cậu không thốt nên lời nổi, cậu chẳng có chỉ số thông minh cao giống loài người, cũng chẳng tinh tường nhiều từ ngữ giống họ, cậu ngẫm nghĩ cả buổi trời.
– Em hiểu anh – Cậu nói.
– Em thậm chí còn chả phải con người, – Ngón tay Lục Phong ghìm mạnh bả vai cậu, ánh mắt anh vẫn buốt giá tột độ, song có thứ gì đấy chừng như đang sụp đổ tan tành, anh hỏi với ngữ khí gần như run rẩy – em thì hiểu cái quái gì về tôi?
Cái tên này còn gắng hỏi ư?
Tuy nhiên An Chiết không nói được gì nữa, cậu liều mạng lắc đầu.
Cậu chực khóc do bị Lục Phong dồn vào ngõ cụt từng bước một. Cậu chả hiểu sao cái tên này lại xấu tính như vậy, hôm nay anh chẳng ngần ngại vạch trần mọi thứ nơi cậu. Chính cậu hệt quan toà định xử trắng án cho tội phạm, còn gã tội phạm chịu xét xử phía dưới lại không ngừng nêu thêm tội ác của bản thân, đối phương nằng nặc đòi hình phạt, nằng nặc đòi tuyên án tử hình... Anh muốn khiến An Chiết căm ghét mình đến mức ấy.
An Chiết hoàn toàn chẳng rõ vì cớ gì sự việc lại thành ra nông nỗi này, rõ ràng thoạt đầu họ chỉ đang nói liệu căn cứ có vượt qua nổi không, và thế giới này bao la ngần ấy, rốt cuộc việc Lục Phong rơi xuống trước mặt cậu có phải là kì tích hay chăng.
Lục Phong bảo, nhầm rồi, hết thảy đều là âm mưu, đều là chắc chắn.
Không đâu, không phải vậy thật mà.
– Nhưng... – Cậu giơ cánh tay mình lên cho Lục Phong xem, từng ngón tay rõ ràng vốn thuộc về con người đang chầm chậm thay đổi. Sợi nấm trắng xóa bám lên quân phục đen của Lục Phong, chúng trườn qua đinh bạc và quân hàm thẩm phán giả.
Đôi mắt cậu tuôn lệ lã chã, cậu chẳng trông rõ nét mặt Lục Phong, chỉ biết bàn tay ghì riết lấy cậu đang run rẩy, ôm cậu thêm chặt hơn. Cậu hiểu chắc chắn Lục Phong có thể nhận ra cậu chính là cây nấm từng lăn lóc dưới Vực Thẳm, cậu cất giọng nghẹn ngào:
– Nhưng em đã gặp được anh rồi...
Thế giới bao la ngần ấy, Lục Phong nhất định phải tới Vực Thẳm. Vực Thẳm bao la ngần ấy, cậu nhất định phải tới cánh đồng hoang nọ rong chơi.
Đáng lẽ họ không nên gặp nhau.
Cậu chưa từng làm hại ai cả, cũng chưa từng làm hại loài vật nào, cậu chỉ muốn yên ổn nuôi dưỡng bào tử của mình thôi, cậu vốn đâu cần phải giận dỗi và đau đớn nhường ấy.
Nhưng cớ sao trên đời lại có một kẻ như Lục Phong chứ?
Con người này ôm siết cậu bằng thứ sức lực kinh hoàng – như định giết chết cậu, An Chiết áp lưng trên cột giường, cậu giãy giụa một cách liều mạng, tuy giãy giụa hoàn toàn chẳng có hiệu quả, song cậu không muốn tẩu thoát bằng hình thù sợi nấm, cậu không cam lòng khi tỏ ra yếu thế.
An Chiết chẳng thèm đếm xỉa mà cắn mạnh hết cỡ lên cổ Lục Phong.
Trong tích tắc mùi máu tươi xộc vào khoang miệng, An Chiết chợt sửng sốt.
Mình đang làm gì vậy? Cậu nghĩ bụng.
Nhưng cậu không còn cơ hội nữa, bởi khoảnh khắc do dự ấy đã đủ khiến Lục Phong giành lại thế thượng phong. Bả vai An Chiết bị ép chặt, tấm lưng va trúng cột giường, cằm cậu bị buộc nâng lên bởi một bàn tay.
Lục Phong tức thì hôn lên bờ môi cậu.
✰ Chương 67 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Thôi em đi."
***
Nụ hôn anh trao tàn nhẫn tột cùng, thấm đượm mùi máu tanh và chẳng dung bất kì sự chống cự nào. An Chiết hoàn toàn không thở nổi, cậu nghiêng đầu sang chỗ khác rồi lại bị kéo về.
Mới đây thôi cậu hãy còn chạnh lòng thay Lục Phong, hiện nay lại bị chọc tức run lập cập, hàng tá sợi nấm tuôn ra ồ ạt, sự phản kháng từ bản năng thôi thúc cậu ghìm chặt mình mẩy Lục Phong. Song những gì cậu đang thấy lại thoắt mông lung – một cảnh tượng vụt lên trước mắt cậu.
Cậu thấy có bóng người ngã xuống, trái tim cậu bất thình lình thót lại và tức thì đỡ lấy đối phương, cậu ôm chặt đối phương vào lòng:
– Này An Chiết?
Ngẩn ngơ, An Chiết nhận ra đây là mảnh vỡ kí ức của Lục Phong, cậu uống máu Lục Phong nên hấp thụ được đôi ba thứ – mà thứ tái hiện bấy giờ chính là cảnh cậu bất tỉnh ban nãy.
– An Chiết à? – Lục Phong gọi tên cậu không ngớt, song người trong lòng anh chẳng mảy may đáp lại mà chỉ khẽ chau mày, thân thể cứ run bần bật – tựa hồ đang chịu đựng nỗi đau kinh hoàng.
Tại sao cậu bỗng thành ra như vậy, Lục Phong chẳng rõ, anh chỉ biết ôm cậu thật chặt.
Cậu chừng như sắp từ giã cõi đời một cách đột ngột, giống hệt cái thế giới biến hóa khó lường này vậy.
An Chiết ngơ ngác lĩnh hội cảm giác trong phút giây ấy, khoảnh khắc này đây cảm giác của cậu và Lục Phong trùng khớp.
Lục Phong đang sợ hãi.
Anh ấy vậy mà sợ hãi.
Anh ấy đang sợ điều gì thế?
Sợ đánh mất người trong lòng, cứ y như rằng... cứ y như rằng nếu đánh mất cậu, thì sẽ mất tất cả mọi thứ.
Mình mẩy An Chiết bắt đầu run lập cập.
Cái tên này...
Cớ sao anh có thể vừa đối xử tốt với cậu, lại vừa bắt nạt cậu như vậy.
Sức mạnh trĩu nặng trên vai khiến cậu nhãng khỏi cảnh tượng ấy, ý thức cậu bị chia thành hai nửa, một nửa bị Lục Phong hôn ngấu nghiến tựa hình phạt, một nửa chìm trong miền kí ức cũ, cậu thấy anh ôm mình vào ngực, gọi tên cậu hết lượt này tới lượt khác.
Nhưng cậu chẳng chịu tỉnh, trông cậu đau quá, ngoan xiết bao, mong manh xiết bao, thế mà phải gánh chịu nỗi đau kinh hoàng tột cùng. Lục Phong lau mồ hôi lạnh túa trên vầng thái dương cậu, cậu bất giác nắm chặt cổ tay anh như nắm lấy phao cứu sinh. Khoảnh khắc đó Lục Phong đang nghĩ suy điều gì?
Anh đang nghĩ, tôi sẵn sàng đau thay em ấy, tôi sẵn sàng làm tất cả mọi việc, chỉ cần em ấy có thể tỉnh lại.
An Chiết nhắm chặt mắt, cậu hãy còn phản kháng, song không còn giãy mạnh nữa. Cậu như bỗng chốc thoái chí, sau cùng chỉ đành cam chịu từ bỏ mọi sự phản kháng và mặc Lục Phong cướp đoạt môi lưỡi mình, đồng thời cũng cướp đoạt linh hồn cậu, tất thảy nơi cậu.
Tựa một cuộc chiến đằng đẵng.
Nỗi niềm thống thiết dần dà lịm tắt trong cơn giằng xé dài dặc này. Thời khắc cuối cùng được buông ra, cậu tựa trước ngực Lục Phong, chẳng muốn thốt thêm bất cứ lời nào nữa.
Mà Lục Phong cũng trầm ngâm ôm cậu.
Khoảng thời gian hoang hoải kéo dài vô tận, thẩm phán giả và dị chủng vốn dĩ cũng chẳng có điều gì đáng nói với nhau.
Lục Phong chợt cất tiếng sau khi lặng phắc hồi lâu.
Anh hỏi:
– Em biến thành người bằng cách nào?
– Nhờ An Trạch – An Chiết đáp.
Cậu ngả vào lòng Lục Phong, họ đã thú nhận với nhau cả rồi, cõi lòng họ rộng mở trong môi hôn được thôi thúc bởi sự kích động giữa hai bên. Vậy nên cậu cũng chẳng cần giấu giếm nữa.
Thật ra cậu không phải là một dị chủng.
Cậu thật vô dụng, cậu chả truyền nhiễm cho ai nổi, cậu thực chất là một cây nấm bị con người truyền nhiễm.
Lục Phong hiện đang quan sát sợi nấm của cậu. Máu hãy còn vương trên sợi nấm trắng phau – là do An Chiết cắn anh ban nãy. Hóa ra khi cáu lên cây nấm nhỏ này cũng cộc đáo để.
Vết máu đang phôi pha dần, nó bị sợi nấm hấp thụ.
An Chiết cũng nhìn nơi đó, cậu bỗng nói rằng:
– Anh sắp chết rồi.
Lục Phong nắm chặt ngón tay cậu, hỏi:
– Vì sao?
– Em mọc trên người anh, – An Chiết trưng bản mặt vô cảm – hút sạch máu, nội tạng và thịt của anh, kế đến bén rễ trong xương cốt anh.
Một bàn tay khác của Lục Phong siết cổ tay cậu, đầu ngón tay sượt qua làn da trắng nõn rồi hằn in lằn ranh đỏ nhạt, như nghiền nát một cây nấm trắng vừa mọc sau cơn mưa, và chất lỏng của nó đang ứa ra. Anh chùng giọng hỏi:
– Em biết mình đang nói gì không?
An Chiết lắc đầu, cổ họng nghẹn ngào khôn cùng, mắt cậu ầng ậc nước, An Chiết ngẩng đầu trông sang vách tường lấm tấm vết mốc xanh sẫm, trông sang đèn chùm rủ xuống với vẻ méo mó. Cửa sổ bị gió quật nứt một lỗ to tướng, khiến nước mưa kéo theo tiếng thì thào vi vu của gió xối vào trong.
Cậu nghĩ, mình cũng chẳng biết phải định nghĩa nỗi lòng bản thân kiểu gì nữa, nhưng sẽ thực là mộng hão nếu cậu muốn chung sống bình yên cùng Lục Phong.
Cứ thế cậu bèn trông ra bầu trời xa vời vợi.
Lục Phong cất lời:
– Em lại khóc.
An Chiết ngoảnh đầu nhìn Lục Phong, cậu buộc phải ngẩng đầu lên ở cái góc độ này. Do đó họ chạm mắt nhau.
Chẳng hiểu vì sao, An Chiết chợt nở nụ cười khi nhìn Lục Phong.
Khóe môi cậu hơi ửng đỏ, khóe mắt xinh xắn còn rướm lệ.
Ngay sau đó Lục Phong cũng phì cười, anh nâng mặt An Chiết lên:
– ...Đần.
An Chiết chỉ ngắm nghía anh thật lâu, mãi sau cậu hỏi:
– Căn cứ hiện đang đến đón anh à?
Lục Phong trả lời:
– Ừm.
An Chiết trầm ngâm, Lục Phong hỏi:
– Em thích căn cứ không?
Giây phút hai từ "căn cứ" vừa dứt, cơn buốt bởi tra tấn bằng điện tức thì bủa vây mình mẩy An Chiết lần nữa, cậu bất giác run lẩy bẩy và cố rúc vào lòng Lục Phong. Lục Phong ôm chặt cậu, đoạn vuốt ve tấm lưng cậu thật khẽ, anh nói rằng:
– Xin lỗi em.
An Chiết lắc đầu, mãi tới ba phút sau An Chiết mới bình tĩnh trở lại. Cậu ngẩng đầu nghía Lục Phong, nắm chặt bàn tay anh.
Cậu chừng như đang chờ đợi điều gì, Lục Phong băn khoăn.
Anh nghĩ thế nào thì làm thế ấy, ma rủi quỷ xui, anh cúi đầu xuống và tiếp tục hôn An Chiết.
Không có chuyển động tợn tạo, không có sự phản kháng, chỉ là một nụ hôn sâu đầy lặng lẽ.
Môi lưỡi mềm mại của An Chiết chả cự lại anh nữa. Lục Phong quan sát vẻ mặt cậu đương lúc trao nhau hơi thở – cậu khẽ thở dốc dồn dập, rèm mi rủ xuống, sợi mi long lanh ánh nước, hai tay nhẹ nhàng bấu víu bả vai anh, ấy là một kiểu chiều ý e ấp và ngây ngô theo cái lối rõ dịu dàng, sự thuần khiết nơi cậu sánh ngang lòng thương xót, trong lòng thương xót gợi lên nét thần thánh – hệt một sự cứu rỗi về mặt tâm hồn, giờ phút này anh có thể đòi lấy thỏa thích.
Nhưng An Chiết vẫn khóc rấm rứt.
Lục Phong hôn vơi giọt lệ của cậu, tựa như làm vậy sẽ xóa nhòa được mọi nỗi bi ai thống thiết giữa họ.
Thời khắc kết thúc, mưa bên ngoài đang dần ngớt, thứ ánh sáng vẩn đục tẻ ngắt lấp ló nơi chân trời vào buổi chạng vạng. An Chiết quỳ trên giường, ngón tay cậu run rẩy ôm Lục Phong, kế đến chầm chậm, chầm chậm đặt anh nằm thẳng xuống giường.
Đôi mắt Lục Phong nhắm nghiền – anh đã say giấc và thở thật đều, hiện tại không một điều gì có thể đánh thức anh. Rất dễ để thực hiện hành vi này, chỉ cần biến một phần đầu lưỡi thành sợi nấm mềm mại khi hôn thôi, ngay cả thượng tá cũng chẳng phát hiện ra.
Lục Phong thiếp đi chẳng tài nào bắt cậu nổi, anh chẳng hãm cậu lại được nữa. An Chiết nhoẻn môi cười, thật ra thì, bấy lâu nay Lục Phong chưa từng bắt được cậu, cậu bỗng vỡ lẽ điều này.
Rời khỏi, hay ở lại, đều do cậu quyết định.
Đột nhiên.
Bóng tối ập xuống trước mắt An Chiết, cơn đau khủng khiếp bỗng sập tới. Sợi nấm cuối cùng cũng đứt lìa rồi. Có cái gì đấy đang xa rời cậu – giống con người bị mất một cánh tay hay một con mắt vậy... Nhưng không phải vậy, không phải những thứ tầm thường đó, sự tồn tại của bào tử vượt xa tứ chi, vượt xa bộ phận cơ thể.
Tấm thân cậu bất chợt trở nên rỗng tuếch – ấy là một khoảng trống còn sâu hoắm và hư vô hơn cả lúc đánh mất bào tử chưa chín muồi, như một nốt lặng, mối liên kết giữa cậu với thế giới này thình lình bị chặt đứt. Thứ quan trọng nhất nay đã tróc ra, cậu chỉ còn sót lại cái xác tàn tạ suy yếu.
Một cái xác.
An Chiết thốt nhiên ngẩn người.
Khoảnh khắc đó, cậu dám cá rằng mình đã nghe thấy vận mệnh ghé tai cậu thầm thì, hệt con ác quỷ. Cậu mê mẩn trông về đằng trước, run rẩy giơ tay lên.
Trước khi khoảnh khắc đó sập đến, cậu những tưởng mình vẫn còn sự lựa chọn.
Cậu thực sự những tưởng mình được phép lựa chọn.
Nhưng lúc nó diễn ra, cậu phát hiện mình chưa bao giờ có sự lựa chọn.
Cậu hoàn toàn dại đi.
Bào tử tách ra khỏi cơ thể cậu, cậu nâng niu nó trên tay. An Chiết ngơ ngác nhìn cục bông trắng bé bỏng nọ, cuối cùng nở nụ cười gượng gạo với nó.
– ...Xin lỗi nhé – Cậu thốt.
– Tao... – Cậu nói – Tao nên làm sao đây? Mày muốn đi theo tao chứ? Có lẽ tao không thể... nuôi mày tử tế được.
Bào tử chỉ vươn sợi nấm dụi dụi ngón tay cậu, An Chiết biết nó nghe không hiểu. Ngặt nỗi ngay khắc kế tiếp, sợi nấm của bào tử bỗng rề rà nhích sang hướng khác, chúng rời khỏi ngón tay An Chiết rồi sã mình rơi xuống quân phục đen của Lục Phong, đoạn trườn tiếp lên trên.
An Chiết chứng kiến cảnh này, đây chẳng phải là lần đầu bào tử có hành động kiểu này, cậu cười hỏi:
– Sao mày thích anh ấy dữ vậy?
Bào tử nán lại bên An Chiết, tiếp tục dụi ngón tay cậu, nó chả biết nói chuyện.
An Chiết buông một tiếng thở dài thật khẽ, đặt nó lên người Lục Phong.
Sau khi đặt xuống, nó cứ thế mà vươn sợi nấm nho nhỏ mới mọc của mình leo đến trước ngực Lục Phong và tự giác chui tọt vào túi áo anh, trông nó phởn chí lắm – nom như đã muốn làm vậy từ lâu rồi. An Chiết quan sát toàn bộ, tương tự như việc cậu không rõ cớ sao bào tử lại thân thiết với Lục Phong, cậu cũng chẳng rõ cớ sao sự việc đột nhiên đi đến bước đường này.
Cậu lôi giấy ra khỏi ba-lô, kế đấy nằm nhoài trước bàn trà viết nguệch ngoạc vài dòng lên trang giấy.
Nó chín muồi nên khác với hồi xưa lắm. Anh thả nó ở mấy chỗ âm ẩm là tự lớn được nhé.
Nó cần nhiều nước, sợ quái vật bộ gặm nhấm, sợ côn trùng ạ.
Nếu muốn làm thí nghiệm thì xin đừng để nó đau quá, đừng để nó chết.
Cảm ơn anh luôn quan tâm em bấy lâu.
Thôi em đi.
An Chiết đặt giấy kề anh, đoạn mò tay vào túi áo Lục Phong lấy ống thuốc theo dõi ra, mở nắp.
Róc rách.
Chất lỏng màu xanh nhạt bị đổ sạch ráo, nó chảy men theo khe nứt trên sàn nhà, cuối cùng cậu buông tay – Choang! Ngay cả cái ống cũng vỡ tan tành.
Như vừa đưa ra một quyết định cực kì quan trọng trong đời mình, cậu chìa tay gỡ phù hiệu trước ngực xuống, đoạn cất vào túi áo mình. Sau cùng cậu đặt ba-lô sang một bên, đứng ngắm Lục Phong giây lát rồi rời khỏi căn phòng này. Siebe thấy cậu bèn hỏi:
– Anh tính đi đâu làm gì thế?
An Chiết trả lời:
– Ra ngoài xem tình hình thôi.
– Vâng, – Siebe nom đã bình tĩnh lại đôi chút, nó nói – anh nhớ cẩn thận đó.
An Chiết gật đầu:
– Ừa.
Cậu đẩy cánh cửa chống trộm bị gỉ sắt rồi bước ra ngoài, chính giây phút ấy cậu chợt ngoảnh đầu nhìn vào trong, lướt mắt qua bộ xương nằm trên ghế xô-pha và dừng trước cửa căn phòng nơi Lục Phong đang ngủ, cánh cửa trắng xám nọ giống hệt có sức hút không lời. Giá mà có thể, giá mà chẳng tồn tại bất cứ nỗi vướng bận nào, cậu cũng muốn ở bên Lục Phong như bào tử, song đấy là điều không tưởng.
Cậu đóng cửa lại và đi lên cầu thang. Cầu thang cao lênh khênh, cơ thể cậu cơ hồ mất hết sức lực nên phải đi thật lâu mới lết đến được tầng cao nhất. An Chiết lần theo cửa sổ trên cùng đi lên sân thượng.
Vào cái lúc còn ở Hải đăng – những hôm mà từ trường nhân tạo biến mất và bầu khí quyển loãng dần, cậu đã nghe các nhà khoa học loài người dự đoán rằng khí hậu năm nay bất thường tột cùng, mùa đông sẽ tới sớm hơn mọi năm ít nhất ba tháng.
Mùa đông trong kiếp sống của cậu cũng sắp đến rồi.
Thời khắc bào tử chín muồi, lời chỉ thị của bản năng sinh mạng thoáng vụt lên trong tích tắc, cậu hoàn toàn nhận được mệnh lệnh đến từ thăm thẳm vận mệnh. Giống như bản thân cậu chưa từng gặp lại cây nấm nuôi dưỡng mình kể từ giây phút đáp xuống mặt đất, cậu cũng đã được định sẵn sẽ chẳng tài nào bảo vệ bào tử lớn lên an toàn nổi.
Ngoài kia muôn nơi ráo hoảnh, luôn có bão tố càn quét và quái vật vây hãm, dẫu bào tử có ở Vực Thẳm – chốn không tồn tại quái vật bộ gặm nhấm lẫn quái vật chân đốt đi chăng nữa, thì nó cũng dễ bị quái vật to kềnh sơ ý giẫm đạp hoặc bị cuốn vào những trận xâu xé thôi, vào phút chót, cậu chỉ còn cách lựa chọn tin tưởng Lục Phong.
Bởi cậu sắp chết rồi.
Tuổi thọ của nấm vốn dĩ cũng chẳng dài dặc gì cho cam, cậu đã được xem như là phần trội trong số đó. Ai nấy đều có sứ mệnh của riêng mình, cậu đã hoàn thành ý nghĩa sống rồi. Với nấm mà nói, thì dưỡng dục bào tử lớn khôn chính là sứ mệnh duy nhất.
Cơn gió rét mơn man khiến An Chiết run lập cập, cậu ôm ghì cánh tay mình. Cậu không cảm giác đặng điều gì nữa, cơ thể cậu loạng choạng chao đảo. Cậu từng gặp một cây nấm chết đi... giây phút bào tử bay xuống, mũ nấm của nó liền dần dà bong tróc và xoăn lên, kế đến khô quắt héo rụng, sau cùng tất thảy bộ phận: cuống nấm, sợi nấm, rễ ăn sâu dưới đất, chúng tan chảy hết thành một vũng chất lỏng đen ngòm rồi bị những sinh vật ẩn sau dưới mặt đất chia nhau xơi sạch bong.
Hiện nay, cậu cũng sắp bắt đầu trải nghiệm cái quá trình mà mình từng thấy vô số lần ấy. Cậu chẳng rõ quá trình này kéo dài bao lâu, nhưng hẳn là nhanh thôi – nó sẽ chấm dứt trước khi loài người triệt để diệt vong. Giây phút rời đi, cậu thật sự ước rằng được quay về căn cứ cùng Lục Phong, mặc kệ sau đấy có phải đương đầu với điều gì.
Tuy nhiên, hãy để Lục Phong nghĩ rằng cậu mãi sống ở vùng ngoài đi, thẩm phán giả đã tận mắt chứng kiến quá nhiều cái chết rồi.
Trên sân thượng là một vườn hoa xập xệ, cậu ôm đầu gối ngồi thụp sau bồn hoa, ngoảnh về đằng đông, ngắm màn đêm buông xuống, lại ngắm mặt trời ló dạng. Nơi đây khá gần căn cứ, vẻn vẹn lộ trình bay một ngày của ong mật mà thôi.
Sự thật quả đúng như cậu dự đoán, vào thời khắc tia nắng len lỏi qua màn sương sớm và rọi tỏ thành phố, những chiếc xe bọc thép dừng ở quảng trường nằm trước khu cư xá, chắc hẳn Lục Phong đã báo cho họ hay về cảnh huống nơi đây, bởi họ mang theo đầy đủ vũ khí hạng nặng, ở một mức độ nhất định – họ sẽ chẳng sợ sự tấn công bất ngờ từ quái vật, đảm bảo an toàn. Ví như con đại bàng to tướng nọ đang vờn quanh nền trời mắt lom lom tia họ, song lại không dám tiến xa hơn.
Rặng mây xám, đại bàng, phế tích bạt ngàn, đoàn xe bọc thép như quang cảnh chỉ hiện diện trong cõi mơ. Tiếng gió vi vút lại ngân dài.
An Chiết dõi theo bóng dáng Lục Phong và Siebe, họ bước ra khỏi cư xá, đàm phán sơ lược với quân đội giây lát, kế đấy lên xe, An Chiết thoáng thấy cả tiến sĩ nữa. Sau khi cửa xe đóng sầm lại, đoàn xe tức thì khởi động và rời khỏi phế tích tan hoang. Liệu Lục Phong có ngoảnh đầu nhìn thành phố này qua ô cửa vào giây phút đi xa không? Cậu chẳng bao giờ biết, bởi nơi cậu thuộc về là Vực Thẳm. Cậu phải quay lại sơn động xưa kia, lần tìm xương cốt của An Trạch, mọi sự bắt đầu ở đấy, thì cũng nên chấm dứt ở đấy.
Đứng trước việc tất thảy nhất định sẽ tiêu vong, Lục Phong có số phận của Lục Phong, mà cậu cũng có số phận của riêng mình.
Kết thúc cả rồi.
✰ Chương 68 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Hóa ra đấy là chuỗi ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời anh."
***
Xe bọc thép.
– Mừng cậu quay trở lại, chúng ta sẽ về đến căn cứ trong vòng 15 tiếng đường xe nữa.
Lục Phong hỏi:
– Căn cứ thế nào rồi?
– Biến dạng đã gây nên sự hỗn loạn và khủng hoảng muôn nơi, một số máy móc tinh vi đã đi tong, nhưng may mà cực từ nhân tạo còn hoạt động bình thường.
– Biến dạng xuất hiện dưới tình huống cực từ mất tác dụng à?
– Ừm.
Lục Phong nói:
– Tôi trú trong mỏ quặng fe-rít cùng những người dân còn sống sót suốt dạo vừa qua, chỗ ấy cũng chưa xuất hiện tình trạng biến dạng lần nào cả.
– Là nhờ từ trường cả đấy, từ trường có thể ngăn chặn sự biến dạng ở một mức độ nhất định – Tiến sĩ trả lời – Lúc đó Hải đăng rùm beng hết cả lên, chúng tôi ôm niềm hi vọng cuối cùng mà trao đổi mọi thành quả nghiên cứu mấy năm nay với căn cứ thành phố ngầm, nhưng rồi không nhận được thứ gì hết, tất cả nghiên cứu của bọn họ toàn xoay quanh gen sinh vật.
– Kế đấy tôi lại lén truy cập bất hợp pháp vào kênh liên lạc với Viện Nghiên cứu.
Lục Phong nhướng mày.
– Sau khi thảo luận và kết hợp một số manh mối, chẳng hạn như biến dạng sẽ xuất hiện vào lúc nào, chúng tôi tin rằng toàn bộ những điều này đều liên quan tới từ trường, vì vậy chúng tôi bèn tạm tăng cường độ cực từ nhân tạo lên – Tiến sĩ nói – Tạm thời có hiệu quả, nên mới tranh thủ được chút thời giờ kéo dài hơi tàn đấy.
Tiến sĩ ngả lưng lên ghế:
– Nhưng theo dự tính thì biến dạng đang dần trở mạnh, kế tiếp nó sẽ chiến thắng chúng ta trong vòng ba tháng.
Thoáng chững lại, chàng ta trông sang chân trời lãng đãng sương xám tuốt cõi xa, đại bàng nâu đang chao liệng quanh đấy, chàng ta bảo:
– Tuy nhiên, có thể được biết mọi nỗ lực mà bấy lâu nay loài người đã trả giá chỉ để sinh tồn đều là hoài công, trở thành nhân chứng của sự kiện con người hoàn toàn diệt vong, thực tế cũng là một niềm vinh hạnh đặc biệt, thật khó tả.
Chàng ta lại nhìn Lục Phong:
– Thú thực trông cậu bình thản hơn tôi nghĩ đấy. Sao nào, gặp cú sốc lớn à? – Chàng ta liến thoắng – Tôi chả biết An Chiết thuộc giống nào, nhưng oắt con ấy quả là nhanh thoăn thoắt, căn cứ phòng thủ chặt chẽ đến thế mà còn chuồn được, thì âu cũng là lẽ thường tình khi không bắt nổi nó. Lắm lúc bắt được cũng chưa chắc giam nổi đâu, cậu chớ bận tâm.
Lục Phong chẳng hé lời, anh chỉ chìa tay ra.
Một cục bông trắng mềm mại nhỏ nhắn lăn ra khỏi ống tay áo của anh.
Anh ngắm nó.
Lạ lắm thay, có một ý nghĩ yếu mềm bỗng dưng trỗi dậy trong anh. Chừng như anh bỗng trở về khoảnh khắc nào đó có An Chiết bình thản kề bên. Hễ tới tối họ sẽ chung chăn gối, thoạt đầu An Chiết thường quay lưng về phía anh, song ngủ được chốc chốc thì luôn xoay người lại ngả vào ngực anh. Vào lúc rạng mai, khi vừa tỉnh giấc, ngay cả bản thân An Chiết cũng chả hiểu lí do tại sao – khoảnh khắc ấy hàng lông mày vuông vắn rất kháu của cậu sẽ khẽ chau, lại trở mình. Kế đến anh bèn ôm siết cậu từ đằng sau.
Hóa ra đấy là chuỗi ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời anh.
Sợi nấm mềm và trắng muốt quấn lên ngón tay anh đầy vẻ thân mật. Tiến sĩ ngạc nhiên hỏi:
– Cậu mang nó về ư? Thế mà cậu mang nó về được ư?
Lục Phong đáp:
– Ừm.
– Vậy An Chiết đâu? – Tiến sĩ nói bai bải – Cậu giết rồi hả?
Bào tử như sợ hãi bởi cái giọng chợt oang oang của chàng trai nọ, nó rúm ró chui tọt vào tay áo Lục Phong. Nhưng qua giây lát, nó lại lấp ló nơi cổ áo anh, dụi cổ anh nom rất chi là thân mật.
Lục Phong bình tĩnh đáp:
– Đi mất rồi.
– Sao cậu thả oắt con ấy dễ dàng thế? Rốt cuộc nó là giống gì? – Tiến sĩ trợn to hai mắt, đoạn hỏi – Liệu... liệu nó có tự bảo vệ mình nổi không?
Lục Phong vuốt ve sợi nấm mềm mại của bào tử, anh trầm ngâm, sắc trời mịt mùng tôn rõ dáng sườn mặt u tịch cô quạnh của anh.
Tiến sĩ săm soi anh, bỗng chàng ta chau mày hỏi:
– Súng của cậu đâu?
*
Sân thượng.
An Chiết dõi theo đoàn xe dần khuất nơi chân trời xa xăm, cậu thử nhúc nhích tấm thân cứng đờ và đứng dậy khỏi đằng sau bồn hoa. Cơn mưa lớn hôm qua khiến bồn xăm xắp nước, giờ đây dăm ba sinh vật dạng thân dẹt đang lúc nhúc trong đấy – chúng vừa chào đời hôm qua.
Tuy nhiên chờ trời hửng nắng, vũng nước tù đọng lại chóng bốc hơi ngay thôi, chúng sẽ phải đối diện với cái chết vĩnh hằng sau khi tận hưởng sinh mạng ngắn ngủi.
Vạn vật đều như vậy.
Liệu bào tử của cậu có sống lâu hơn những sinh vật phù du này đôi chút hay không? Cậu mong là có.
An Chiết kiên nhẫn chờ đợi thời cơ, lúc con đại bàng sà xuống đất nghỉ ngơi, cậu bèn bò lên lưng nó. Đại bàng chẳng buồn đoái hoài tới cậu, hẳn là do cậu quá nhẹ và cũng không có chất dinh dưỡng gì. An Chiết tìm vị trí náu thân trên tấm lưng rộng rãi của nó, thứ thật sự che phủ ngoài thân con đại bàng nọ chẳng phải lông vũ mà là vảy, có dăm sợi xúc tu trong suốt lằng nhằng nhú lên giữa vảy và khe vảy. Con đại bàng nọ bôn ba kiếm ăn khắp thành phố, sau khi nuốt chửng một gốc dây leo có cấu tạo giống thịt rồi lại đọ sức với một con quái vật dơi khổng lồ chừng nửa tiếng, nó bại, kế đến rời khỏi vùng đất này.
An Chiết xem sao Bắc Đẩu và bản đồ để xác định hướng bay của nó, lúc phát hiện bị chệch quỹ đạo thì bèn lẳng lặng chuồn đi, An Chiết cắm rễ xuống đất hấp thụ chất dinh dưỡng cả đêm, cậu đắn đo mãi, cuối cùng vẫn lôi khẩu súng đen cùng mười mấy viên đạn ra khỏi ba-lô.
Khẩu súng này là của Lục Phong, nhưng cậu phát hiện nó nằm trong ba-lô mình vào giây phút Lục Phong đi mất; An Chiết đoán hẳn là do mọi hôm thượng tá thường dùng chung mọi món đồ của cậu – bao gồm ba-lô, nên anh mới bỏ quên súng thôi.
An Chiết nổ súng, thành công dụ một con quái vật mọc cánh bướm đến đây làm phương tiện di chuyển cho cậu.
Ba hôm sau, An Chiết lại đáp xuống đất, cậu đụng độ một con quái vật gớm ghiếc nom giống rết lúc mải kiếm tìm mục tiêu cưỡi tiếp theo, con quái vật này sở hữu vô vàn đặc điểm ở quái vật chân đốt kiến và thức ăn chính của nó là nấm. An Chiết muốn chạy trốn, nhưng hiện nay cậu đã yếu lắm rồi, may thay khẩu súng của Lục Phong đã bảo vệ cậu vào thời khắc mém bị xơi sạch – An Chiết vừa hay bắn trúng phần bụng mềm mại của nó, kế đến cậu lăn phốc vào khe suối vẩn đục nhân lúc nó thoáng chững lại, vội tìm lối thoát.
Trời trở lạnh, những loài động vật sợ cái rét bắt đầu đi về xứ nam. Dĩ nhiên chúng sẽ xâu xé nhau xuyên suốt quá trình di chuyển ấy. Có vài dạo, khi dõi mắt trông ra đồng bằng thênh thang ngút ngàn chẳng có một dấu vết của bất kì sinh linh nào, ta chỉ có thể gặp đôi ba kẻ chiến thắng to cồng kềnh; có vài dạo, sinh vật sống bầy đàn di cư về xứ nam tựa dòng thác lũ đen ngòm, An Chiết lẩn mình vào đó và xuôi theo chúng.
Mười hôm sau, cuối cùng cậu cũng leo lên được một con chim bay thẳng tới xứ nam, chừng thêm hai mươi ngày nữa, khoảnh khắc đang ngồi trên tấm lưng mềm của nó, cậu nom thấy một bóng đen khổng lồ đuồn đuỗn xuất hiện nơi chân trời – tựa một vết sẹo của thế giới này vậy.
Loài người từng nói rằng lõi của Vực Thẳm là một vết nứt dài ngoẵng được tạo nên bởi động đất cấp tám từ thời kì Thảm họa, bức xạ dị thường ở đây hình thành vô vàn con quái vật tàn bạo. Vết nứt ở lõi kéo dài ra ngoài, phía bắc Vực Thẳm là những vùng đồng bằng bao la với đủ loại nấm, muôn vàn con quái vật đương ẩn náu và đại ngàn rải rác; phía nam là một vành đai núi và xứ non cao mênh mang – nom liên miên trập trùng.
Chim mỏi cánh bay vào biên giới Vực Thẳm, nó tìm một gốc cây khô quắt khổng lồ rồi sà xuống nhánh cây nghỉ ngơi.
Song, nhánh cây bỗng xốc nảy, lông vũ nổ tung, cánh chim rung bần bật, con chim hực lên một tiếng!
Chẳng rõ tự bao giờ những dây leo đen nhẻm đã trườn lít nhít khắp gốc cây khô và rịt chặt chân con chim. Tiếng vỗ cánh phành phạch dội lên, con chim trắng này bị kéo lê xuống giữa thân cây ken dày chạc, chiếc cổ duyên dáng của nó nghển cao và cái mỏ nhọn dài thì vươn về phía tầng không xám xịt – ấy là một tư thế ra sức giãy giụa, ngặt nỗi dây leo lẳn lấy cổ nó, luống dây leo dai bền nọ bỗng tức thì nứt toác, chĩa phần vòi mọc răng nanh thực bén ra rồi cắn phập cổ nó.
Máu bắn phụt tung tóe, cơ thể con chim cao chừng năm sáu mét bị đứt thành hai nửa, lông vũ và lông tơ lắt nhắt rơi tứ tung trên mặt đất.
An Chiết ôm ba-lô của mình ngã uỵch xuống cùng với lông vũ. Cậu đứng dậy, đi lảo đảo dăm bước trên mặt đất bẩn tưởi nhầy nhụa thứ nước đen ngòm; đoạn ngẩng đầu, nhìn con chim bị muôn sợi dây leo chia năm xẻ bảy ăn sạch bách.
Dây leo no đẫy tản đi.
Cánh rừng, dây leo trong rừng và các loại nấm khổng lồ át mất ánh mặt trời, cũng át mất âm vang xâu xé.
Đây chính là Vực Thẳm – một vùng đất ăn tươi nuốt sống tất thảy. Nơi này chả có bộ gặm nhấm hay loài chân đốt gì cả, bởi bản thân chúng quá đỗi yếu ớt. Mà những sinh vật hùng mạnh hơn chúng gấp trăm lần cũng chưa chắc bách chiến bách thắng. Đất ở Vực Thẳm phì nhiêu dồi dào nhờ hút chất dinh dưỡng từ máu thịt, đấy có lẽ là nguyên nhân khiến nấm mọc từng vạt sum sê.
An Chiết thất thểu tiến vào vùng này. Mặt đất phủ đầy rong rêu, cành khô, lá rụng, nó bùng nhùng không khác gì một đầm lầy, sinh vật đi lại chung quanh chẳng phát ra tiếng động nào.
Cậu có thể cảm nhận rõ rằng bầu không khí ở Vực Thẳm đã thay đổi. Mọi khi, tình trạng xâu xé giết chóc luôn diễn ra hằng ngày, quái vật đáng gờm thường dạo khắp rừng rậm tuần tra lãnh địa, nhưng suốt chặng đường hôm nay cậu chỉ gặp đúng một con trăn lẳng lặng trườn qua trườn lại.
Chừng như chúng đang bắt đầu lẩn đi.
Song An Chiết chẳng buồn đoái hoài tới việc chuyển động của lũ quái vật.
Cậu tần ngần đứng nhìn xứ sở mênh mông bạt ngàn không có lấy một tia nắng này.
Có cây nấm đỏ tía cao mười mét đứng bên trái cậu, nó sừng sững giữa dăm tảng đá to tướng, chất nhầy thoảng mùi máu tanh chảy ồng ộc từ mũ nấm, thân hình quá cỡ nọ như đang hít thở, phồng lên rồi lại xẹp xuống. An Chiết áp ngón tay lên cuống nấm hòng cảm nhận đường vân nhơn nhớt chất nhầy của nó.
Cậu chưa từng trông thấy giống nấm này.
Ánh mắt cậu bỗng chốc phủ lấp vẻ hốt hoảng, cậu nghía xem những vị trí khác. Đồng tử cậu giãn to vào phút giây này, mình mẩy lạnh tái, bắt đầu run lập cập.
Cậu chẳng nhận ra nổi.
...Cậu chẳng nhận ra nổi.
Ngay tức thì, cậu thở hồng hộc và vội chạy trật trưỡng trốn giữa cánh rừng. Đây là Vực Thẳm – nơi mà mảnh đất đẫm máu, đầm lầy đen ngòm, quái vật âm thầm rình rập. Dẫu Vực Thẳm vẫn là Vực Thẳm, nhưng nó không còn là vùng đất trong kí ức của cậu nữa.
Vực Thẳm bao la ngần ấy, rốt cuộc phải làm sao để tìm về chốn ban sơ đây?
Cậu gắng nhớ lại, song chỉ liên tưởng được những vạt nấm có đặc điểm nổi bật mà thôi, vào thuở đó cậu ghi nhớ cung đường dựa vào chúng. Bởi vậy cậu bèn rảo bước tiến thẳng, tìm hoài tìm mãi, dùng cả đôi chân và sợi nấm. Ấy thế nhưng mọi vùng đồng bằng đều trông như nhau, sơn động nào cũng vắng vẻ hết, dẫu đã tìm từ ngày rạng đến ngả tối, từ đêm trường đến hừng đông.
Thấm thoắt, cậu đi chẳng đặng nữa, sợi nấm của cậu đã mất đi vẻ nhanh nhẹn cùng dẻo dai từ lâu rồi, chúng đang dần tan chảy và đứt gãy, cơ thể con người của cậu cũng chực lả đi trước sự kiệt quệ của sinh mạng.
Một sợi dây leo khô quắt nằm bên hồ nước u tịch ngáng chân An Chiết. Tảng đá sắc lẹm sượt rách đầu gối lẫn bàn tay cậu, cậu quỳ thụp xuống đất, vục mặt vào lòng bàn tay, tấm thân bắt đầu run lập cập.
Cậu chả lần ra sơn động kia nữa, cậu chả lần ra.
Tuổi thọ của nấm chỉ vỏn vẹn đúng một mùa thôi, nấm già chết đi và nấm mới nảy mầm, diện mạo của Vực Thẳm cũng thay da đổi thịt từng giây theo từng lứa nấm. Con đường khi xưa, con đường đọng mãi trong tiềm thức cậu nay đã biến mất.
Cậu đứng giữa muôn trùng cây mục và nấm, trông lên bầu trời, cậu không hề hay biết... cậu không hề hay biết rằng sự việc sẽ tàn nhẫn như vậy.
Lục Phong nói đúng đấy, cậu vốn đâu hiểu thế giới này rộng lớn nhường nào.
Cậu chẳng thể tìm được nó – trừ phi sinh mạng cậu sánh ngang với sự vĩnh hằng. Song cậu chỉ là một cây nấm tính phù du.
Cậu tất phải lụi tàn trên con đường tìm kiếm sơn động.
Không một điều gì trên đời này là vĩnh hằng cả, ngay cả lời hẹn ước thuở ban đầu cũng thế.
Giọt lệ đắng chát chảy qua vết xước bị bụi gai rạch trúng trên má cậu, cơn đau ùn ùn kéo tới, nhưng nó chẳng át được nỗi tuyệt vọng trong cậu. Cậu thở hổn hển, bỗng đứng sững nhìn hồ nước phẳng lặng kế bên.
Cậu sa vào cơn mông lung.
Dưới mặt nước chừng như có một thứ thanh âm... một thứ tần suất khó tả thúc giục cậu rời đi, cả hành tinh trở nên hư ảo mê ly.
Nhảy xuống đi nào, nhảy xuống đi nào, mọi sự đã tận rồi.
Không cần chịu đựng những niềm vui và thống thiết nữa.
Cậu cất từng bước đến ven hồ dưới sự mê hoặc mời gọi của thanh âm nọ, mặt hồ trong veo phản chiếu bóng hình An Chiết, nom cậu giống hệt An Trạch, khoảnh khắc mặt hồ gợn sóng làm nhòe hình ảnh của cậu, tưởng như An Trạch đang vẫy gọi cậu ở nơi đó vậy.
Sinh ra mà chẳng hay biết gì, thì cũng nên chết đi mà chẳng hay biết gì.
Ở Vực Thẳm, ở mảnh đất... bi ai này.
Tựa hồ bật trúng công tắc nào đó trong trí nhớ, một giọng nói bỗng ghé tai cậu thầm thì, đấy là giọng của cậu.
"Và thưa cha, người đã đi vào tận cùng nỗi bi ai." Giọng nói ấy nhẹ nhàng đọc lên: "Xin hãy nguyền rủa, ban ân với dòng lệ tuôn chảy."
"...Đừng điềm nhiên bước vào màn đêm sâu."
– Đừng điềm nhiên bước vào màn đêm sâu, – Cậu hỏi – là ý gì ạ?
Lâm Tá, tức người thầy ở Vườn Địa Đàng trả lời rằng:
– Đừng dễ dàng khuất phục trước cái chết.
Tạm dừng giây lát, lại thoắt chuyển cảnh.
"Dẫu đi trong trũng bóng chết, con cũng chẳng sợ tai họa nào. Vì Người ở bên con. Trượng và gậy của Người an ủi con." Cậu từng khẽ xướng vần thơ cho một chàng trai nghe, hôm ấy, họ đã cùng đi một quãng đường dài đằng đẵng và không hề hay biết liệu thứ gì đang chờ họ phía trước.
Chàng trai từng cõng cậu băng qua ngọn gió ngàn xưa, băng qua màn đêm u tối trên hoang mạc ngày hôm ấy, lúc đó đang suy nghĩ những gì? Đứng trước việc số phận quỷ quyệt tất sẽ lụi tàn, phải chăng trong lòng anh cũng ám mãi nỗi tuyệt vọng giống cậu? Làm thế nào mà anh gượng dậy được nhỉ?
Anh...
An Chiết cúi đầu, cậu nhận thấy mình lại siết chặt chiếc phù hiệu thẩm phán giả trong tay tự bao giờ, góc cạnh của phù hiệu khiến bàn tay vốn đẫm máu của cậu thêm nhói buốt. Cơn mê lú hư ảo chớp mắt vơi sạch, cậu vội giật lùi về sau dăm bước.
Cậu nhủ thầm, vừa nãy mình định làm gì thế?
Mắt cá chân bỗng dưng đau thấu xương, tảng đá vừa cắt đứt bàn tay cậu lại nện trúng cổ chân cậu lần nữa. Cậu xoay người toan đẩy tảng đá xám sắc lẹm lừng lững trên đất bằng này sang một bên – chứ kẻo nó lại ngáng chân những con vật khác đấy, song cậu bất thình lình phát hiện một việc.
Trên đá có dấu than đen sì như được viết bằng nhánh cây cháy xém – nó vẽ một mũi tên khòng khèo xấu xí chỉ về hướng đông nam.
Cậu ngẫm nghĩ giây lát, trong kiến thức hạn hẹp của cậu, Vực Thẳm chả có sinh vật nào biết vẽ mũi tên hết.
Mà có vẻ cậu từng nhác thấy những tảng đá xám kì quặc như này ở đôi chỗ trong Vực Thẳm rồi, ngặt nỗi độ ấy cậu chỉ lo lần tìm sơn động nên chẳng chú ý kĩ. Cậu dòm ngó tứ bề, sau cùng chọn đi theo hướng mũi tên chỉ. Đi đặng hồi lâu, lại có tảng đá xám khác đột nhiên lù lù trên đất bằng, nửa thì bị chôn vùi dưới đất, nửa thì lộ bên ngoài, phần lộ ra có vẽ mũi tên.
An Chiết đi tiếp, không chỉ mỗi các tảng đá xám là được đánh dấu, thi thoảng trên thân cây hoặc hài cốt cũng có nữa – năm ngày trôi qua, cậu sực nhận thấy mình đang đi tới phía nam Vực Thẳm – gần với vùng cao nguyên, môi trường trên cao nguyên ráo hoảnh khắc nghiệt, khá hiếm quái vật chịu mò tới đây.
Nhưng cũng trong hôm ấy, cậu chẳng tìm thấy tảng đá nào nữa.
Cậu đứng sững dưới thân cây, gắng ngó dáo dác xung quanh, cậu ngờ rằng phải chăng mình đã đi nhầm đường. Bỗng, có hòn đá nhỏ nọ nện vào vai cậu.
– Lạc đường hửm? – Một giọng nam đong đầy vẻ phởn chí vẳng lên từ đằng sau.
An Chiết xoay lưng, không ngờ cậu lại nghe thấy giọng con người.
Một anh con trai tóc đen mặt mày tuấn tú, dáng người dong dỏng cao, hiện đang cầm một tảng đá xám tro trên tay phải đá lông nheo với cậu, đoạn bảo:
– Biển chỉ đường ở chỗ này, anh đây chưa có cắm xuống đâu.
An Chiết ngoảnh nhìn y, chầm chậm chau mày lại.
– Đường Lam? – Cậu thốt lên một cái tên.
– Cậu biết anh à? – Nụ cười nơi anh chàng vương nét buông tuồng bất cần đời, quan sát cậu – Anh chưa gặp cậu ở căn cứ bao giờ mà.
– Em cũng chưa gặp anh bao giờ, – Sau khi xác nhận lại bề ngoài của đối phương, An Chiết bèn đáp – nhưng em biết cậu Hubbard.
Giây phút cái tên Hubbard được nhắc đến, nụ cười bất cần đột nhiên tắt lịm trên khuôn mặt đối phương.
✰ Chương 69 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Đã bao giờ nghe tới Phái Hợp Nhất chưa?"
***
– Hubbard – Đường Lam thì thào lặp lại cái tên này – Anh ấy...
Y nín bặt, chừng mười mấy giây sau mới hé môi lần nữa, giọng hơi khàn:
– ...Anh ấy có khỏe không?
An Chiết nhớ lại những hình ảnh liên quan tới Hubbard.
Thời điểm bão côn trùng tàn phá ngoại thành và khu sáu bị nổ tung, Hubbard đang làm nhiệm vụ ở ngoài thành, đây là một bước đi cực kì khôn ngoan, gã chẳng những tránh thoát tai hoạ thảm khốc ở ngoại thành mà còn tránh được việc bị Lục Phong bắt giữ với tội danh "Đánh cắp thông tin của thẩm phán giả phi pháp" nữa. Sau đấy gã đưa đội trở về vẹn toàn, nhận được sự chào đón nồng nhiệt của chủ thành. Sau đấy nữa, tay đội trưởng lính đánh thuê nức tiếng này còn gặp Lục Phong, gã và Thượng tá Lục cùng ngồi trên chiếc máy bay PL1109 đi đến căn cứ thành phố ngầm cứu viện. Dạo còn ở trong mỏ quặng, thi thoảng cậu có tán gẫu cùng Lục Phong, theo những gì Lục Phong kể, thì Hubbard và anh đã hoàn thành nhiệm vụ cứu viện và cùng trở về an toàn.
Cậu đáp:
– Ngài ấy khỏe lắm ạ.
Đường Lam rủ mắt, y tựa hồ thoáng mỉm cười. Y chẳng hỏi thêm điều gì khác, không một câu nào cả, chỉ nói rằng:
– Vậy thì tốt rồi.
An Chiết nhìn Đường Lam.
Lần đầu tiên biết tới anh chàng này là khi cậu trông thấy một con rối được chế tác tuyệt đẹp, nom y hệt người thật trong tiệm của ông chủ Shaw. Ông chủ Shaw bảo rằng đấy là mặt hàng do Hubbard đốt hơn phân nửa tài sản để đặt làm. Hubbard là kẻ cầm đầu đội lính đánh thuê nức tiếng nhất tại ngoại thành, anh chàng này là đội phó thân thiết của gã, ngặt nỗi kể từ sau một cuộc thám hiểm – y đã đi biền biệt, người ta thậm chí chả tìm nổi tí xác vụn nào của y.
Kế bên con rối đó là nhãn mác đánh dấu mỗi khoản số liệu, mà hàng chữ đầu tiên chính là tên y: Đường Lam.
Giờ đây Đường Lam đang đứng sờ sờ ngay trước mặt An Chiết, bình yên vô sự, chẳng hề giống từng hứng chịu bất cứ thương tổn nào cả. Không ngờ y có thể sống nổi trong chốn Vực Thẳm bốn bề hiểm nguy này, hơn nữa còn khỏe mạnh đến thế.
– Anh còn sống kìa, – An Chiết hỏi – anh không quay về ư?
Ánh mắt Đường Lam vương nét cười bất đắc dĩ.
– Anh chả về được nữa – Y trả lời, nói đoạn bèn vùi tảng đá đánh dấu nọ xuống lòng đất.
– Em có bản đồ này, tìm đường về được đó – An Chiết nói – ...Anh cần không?
– Thôi khỏi, – Đường Lam hỏi – chắc cậu chẳng phải người đâu nhỉ.
An Chiết: – ...
Đường Lam phì cười, kế đấy rút một lưỡi dao găm sáng loáng ra, khắc mũi tên lên thân cây bên cạnh, y vừa khắc vừa bảo:
– Biết anh đang làm gì không?
An Chiết trả lời:
– Em không biết.
– Sau khi bị lây nhiễm, phần lớn nạn nhân đều không may bị biến thành quái vật thực thụ. Song vẫn có số ít người khá may mắn, đôi khi, họ vẫn giống một con người – Đường Lam nói – Anh đang chỉ đường cho những kẻ may mắn ấy, vì thuở ban đầu anh cũng được chỉ đường như vậy.
An Chiết lặng thinh, cậu phát hiện mình có một khả năng đặc biệt, ấy chính là nhận rõ được những đối tượng thiết kể chuyện quá vãng. Nhưng mà, câu chuyện của Đường Lam rất ngắn ngủi.
– Hôm đó anh và Hubbard nảy sinh một cuộc tranh cãi nhỏ, anh ấy muốn tiếp tục đi sâu vào trong, còn anh thì nghĩ nên trở về, tóm lại là chả vui vẻ gì cho cam. Anh không buồn ngó ngàng gì anh ấy vào tối hôm đó, anh gác đêm trên chiếc xe khác như thường lệ.
– Chốn Vực Thẳm ấy à, nó chẳng thiếu thứ gì hết, chừng mười hai giờ khuya có một con quái vật hung tợn phát hiện chúng anh, anh chưa từng thấy thứ gì dã man tới thế cả – Đường Lam khắc mũi tên xong bèn cất dao găm, giọng y trong trẻo và lưu loát hệt chính con người y – Anh cảnh báo cho đồng đội rồi chạy sang lối khác dụ con quái vật đi theo. Cuối cùng anh chết, hẳn là chết thảm tệ.
– Tuy nhiên chả hiểu sao dường như anh lại thức tỉnh, còn trở nên mạnh mẽ khôn cùng. Anh kết hợp với quái vật, nhưng hãy còn ý thức – Y vuốt dao găm, đoạn hỏi An Chiết – Còn cậu thì sao?
An Chiết suy ngẫm tìm từ.
Chính lúc bấy giờ, Đường Lam xoay phắt đầu! Ánh mắt y tia về phía trung tâm vạt rừng tựa mũi tên sắc lẹm, có tiếng sột soạt vẳng đến từ đằng kia.
Y khẽ giục An Chiết:
– Chạy!
Giây phút vừa thốt dứt câu đó, có bóng đen to kềnh bỗng xồ ra khỏi cánh rừng!
Đường Lam tức thì kéo tay An Chiết và vác cậu lên lưng bằng thứ sức mạnh chẳng thể cự lại nổi. Theo sau đấy là tiếng xé gió inh tai vang rền, một đôi cánh lá mỏng đen mướt khổng lồ bung xòe trên lưng y!
An Chiết bất thình lình bị nhấc khỏi mặt đất, vuốt của con quái vật to tựa ngọn núi nện xuống ngay đằng sau, nhưng tốc độ bay sánh bằng u linh của Đường Lam chóng hơn cả nó, y vụt khỏi cánh rừng này tưởng như trong chớp mắt. An Chiết nhìn xuống, vạn vật dưới mặt đất ngày một xa xăm, ngày một thu nhỏ khi họ lên cao, mà rặng núi đồ sộ ở phía nam thì càng lúc càng gần.
Trong cơn gió thổi thông thốc, cậu hỏi Đường Lam:
– Chúng ta đi đâu thế ạ?
Gió trên tầng không mỗi lúc một mạnh, nó thổi vơi mọi thanh âm, Đường Lam bèn lớn tiếng hỏi cậu:
– Đã bao giờ nghe tới Phái Hợp Nhất chưa?
Vứt dứt câu, y bèn mang An Chiết vụt cao hơn, thời khắc sắp bay đến đỉnh núi lừng lững nhất và ngày càng gần với khoảng trời xanh mướt, bóng chiều chạng vạng nhuốm đỉnh non ngàn nọ thành sắc vàng hươm, chóp của quần thể kiến trúc lôm lốp dần hiển lộ ở ngã ba vòm trời và đỉnh núi.
Thứ đầu tiên ánh vào mắt An Chiết là hai ngọn tháp trắng hình trụ bóng loáng khôn cùng, chúng được chia ra làm hai đầu, ở giữa có tuyến đường liên thông. Giữa hai ngọn tháp trắng là một tòa nhà ba tầng hơi thấp hình bầu dục, hai bên gồm những cao ốc phụ và các công trình nằm rải rác khác – đó là bộ phận chủ chốt của quần thể kiến trúc. Tất tần tật cỗ máy có thiết kế kì quái dựng lổng chổng ngoài bãi đất trống trước tòa nhà chính, phía sau tòa nhà là một khoảnh sân bằng phẳng cùng hàng chục ngọn tháp phát điện bằng sức gió cao chót vót, ba tua-bin gió trắng toát đang xoay xoành xoạch trong làn gió thét gào.
Một gốc dây leo xanh rờn khổng lồ rẽ làm mười mấy nhánh phủ vây cả quần thể kiến trúc này, chạc cây của nó vắt lên ngọn tháp trắng và hàng rào, có nhánh dây leo sà tới lúc Đường Lam đưa An Chiết đáp xuống mặt đất, nó đánh hơi cơ thể họ chốc lát, kế đến tản ra. Đôi cánh đen to tướng trên lưng Đường Lam từ từ thu lại vào người y – khi thu lại, thân thể Đường Lam thoáng run rẩy, bàn tay siết thật chặt, khuôn mặt lộ vẻ đau đớn. An Chiết thao láo nhìn y đến tận lúc y mở mắt ra lần nữa.
Khoảnh khắc họ nhìn nhau, An Chiết phát hiện con mắt Đường Lam bị nhuộm đẫm bởi một màu đen ngòm, trông y chẳng còn là y, nhưng may thay Đường Lam đã khôi phục vào ba giây sau.
– Quá trình chuyển hoán hơi rối rắm, nên đau phết, – Đường Lam giải thích – cơ mà anh đây coi như hên đáo để rồi.
Nói đoạn y bèn nhìn về phía nhánh dây leo nọ:
– Chứ cái thằng này thì không thể biến về dạng người nổi nữa.
An Chiết ngó dây leo:
– Nó có ý thức của con người ư?
– Có chun chút – Đường Lam rảo bước về phía trước, An Chiết lẽo đẽo theo sau y, luồng gió rần rật trên đỉnh non ngàn thổi tốc quần áo họ, dần dà họ đến gần một tòa nhà trắng đượm nét cổ kính sừng sững giữa khuôn viên.
Sáu giờ, tức thời khắc bóng chiều chạng vạng rực rỡ đỉnh điểm.
Vầng thái dương sắc son đang ngụt cháy ngả xuống muôn trùng ráng mây tại vùng trời tây nam, cánh cổng lớn rộng mở trong ánh hào quang đỏ vàng rọi tỏ, và một bóng hình đứng đấy chờ họ.
Thú thật An Chiết chẳng tỏ tường lắm về độ tuổi của loài người, cậu chỉ biết đối phương ngấp nghé ông chủ Shaw – tầm sáu bảy chục tuổi ở người. Nhưng trông lão không có tí vẻ gì là lọm khọm già cỗi vì tuổi đã cao cả. Khi tới gần, An Chiết thấy lão bận âu phục đen mướt nom đến là phẳng phiu nghiêm trang, cổ áo sơmi xám bạc thắt chiếc nơ tỉ mẩn, mái tóc bạc phơ chải gọn ra đằng sau, một cặp mắt lam xám hiền hòa nổi bật trên khuôn mặt điềm tĩnh và nhã nhặn được mài giũa qua bao sương gió tháng năm.
Cặp mắt nọ khiến An Chiết thiết tưởng lão đã nhìn thấu tất thảy biến hóa và phong ba trên cõi đời.
– Thưa ngài, – Đường Lam đứng trước mặt lão, nói với vẻ cung kính – tôi mang thành viên mới về đây.
Lão mỉm cười nhìn An Chiết, cặp mắt lam xám nọ khiến con người ta bất giác thấy gần gũi khôn kể, An Chiết ngẩng đầu nhìn lão, lão thì chìa tay với An Chiết. Thoáng do dự giây lát, An Chiết bèn nắm lấy tay lão theo một lối hãy còn ngại ngần, lòng bàn tay lão ấm áp ráo hoảnh, cách lão nắm siết tay cậu nom mới mạnh mẽ và dịu dàng làm sao.
– Chào mừng cháu gia nhập Viện Nghiên cứu Non Cao, bọn ta mạo muội tự xưng là căn cứ thứ năm của loài người – Lão nói – Ta là Polly Jean.
✰ Chương 70 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Em sẽ có một mái nhà kể từ bây giờ."
***
– Cháu có thể gọi ta là Polly hoặc Jean, sao cũng được nhé – Polly bảo, cách lão nói mới thực là lịch thiệp làm sao, giọng điệu nhã nhặn và cặp mắt lam xám tựa đại dương hiền hòa, hẳn đây là mẫu cha ông lí tưởng nhất trong những thiên truyện của loài người.
An Chiết đọc tên mình.
– Cháu trông non nhỉ, đến từ căn cứ phương bắc à? – Polly hỏi.
An Chiết khẽ gật đầu.
– Làm thế nào mà cháu thành ra như vầy?
Polly dẫn An Chiết vào tòa nhà màu trắng, vừa đi vừa cất giọng hỏi.
Sàn nhà bóng loáng, hẳn là có người lau chùi cẩn thận, Đường Lam bước tới và vươn tay định dìu Polly, nhưng lão chỉ xua tay.
– Cháu... – Có thứ dao động lãng đãng trước mắt, An Chiết nghía thử xung quanh.
Vừa bước vào tòa nhà trắng ắt sẽ thấy ngay một đại sảnh rộng thoáng, nó gồm có ba tầng, song trần nhà nằm giữa ba tầng không bị ngăn cách theo lối thiết kế bình thường mà là thông hết với nhau. Từng nấc thang lượn thành hình xoắn ốc đâm thẳng lên giời, ta có thể thấy rõ mái vòm mờ nếu đứng ngước nhìn từ đại sảnh. Bấy giờ có đôi ba sinh vật xúm lại chỗ lan can tầng hai và tầng ba, chúng lẳng lặng dòm xuống cậu bằng ánh mắt tò mò – ước chừng khoảng bốn mươi sinh vật. Hầu hết đều có đặc điểm của con người hoặc có thể xem là đang ở hình dạng con người – bởi một phần ba trong số chúng có bề ngoài giống hệt con người, một phần khác thì nảy nở thêm vài đặc điểm sinh học khác trên cơ thể, ví như một ông chú đứng trên tầng hai, khuôn mặt chú ta xồm xoàm lông xám đen, thêm mái tóc của một kẻ đứng trên tầng ba nom y xì đúc thứ dây leo nhỏ thó xoắn tít, nó cứ lúc nha lúc nhúc. Số còn dư lại thì giống hệt quái vật hay những thứ quái đản ở ngoài kia, chẳng hạn như bãi thịt nhão đang trườn trên lan can tầng hai kìa.
– Họ không làm hại cháu đâu, – Polly bảo – nếu có ai mất tỉnh táo hay rồ dại một cách mất kiểm soát thì ắt sẽ có người hãm họ lại.
Đúng như lời lão nói, khi An Chiết nhìn những dị nhân ấy, đôi mắt họ chẳng đượm sự lạnh lẽo đặc thù ở thú vật và cậu có thể thấu tỏ hàm ý ẩn giấu trong đó: tò mò hoặc săm soi, không có vẻ gì là ác ý cả.
– Tụi anh đều là người bị lây nhiễm, xem như dị chủng cũng được, nhưng may mà còn sót lại đôi chút ý thức, ngài Polly đã cưu mang tụi anh – Đường Lam vỗ bờ vai cậu bảo – Tụi anh cố dằn mình không xé xác nhau, sau đấy thì cùng đoàn kết chống lại quái vật bên ngoài, ở đây chẳng có Tòa Xử án nên cậu cứ yên tâm mà sống.
Chợt nghe Polly ho húng hắng mấy bận, đoạn bảo:
– Thành viên ở viện nghiên cứu không chia thứ tự trước sau, chúng ta săn sóc lẫn nhau, kẻ mạnh đùm bọc kẻ yếu. Mừng cháu đã tới với ngôi nhà này.
An Chiết dần dời mắt, cậu khẽ đáp:
– Cảm ơn ạ.
Đường Lam hỏi cậu sao lại biến thành dị chủng.
An Chiết ngần ngừ giây lát, bèn bảo:
– Em ra vùng ngoài cùng đội lính đánh thuê của bạn em...
Cậu biết đây là chốn mà dị chủng chung sống với nhau, nhưng dù sao cậu vẫn hơi khang khác với họ, bởi họ là con người bị quái vật truyền nhiễm, mà bản thân cậu lại là một cây nấm, giấu giếm thân phận thật sự vốn đã là sự chẳng đừng rồi. Vậy cho nên cậu chỉ kể lại cuộc đời An Trạch, đi ra vùng ngoài, bị thương, cuối cùng...
– Lúc tỉnh lại thì cháu đã thế này rồi – Cậu học lỏm theo câu chuyện của Đường Lam, bịa ra một lời nói dối như trên.
– Cháu thấy mình mẩy có gì khác với hồi trước không?
– Không ạ.
– Vậy cháu hẳn đã đột biến hoàn toàn theo kiểu đa hình nào đó – Polly nom kĩ cậu một cách dịu dàng, lão hỏi – Cháu biết mình kết hợp cùng thứ gì chứ? Cháu có khả năng ngăn chặn sự biến đổi của mình không?
An Chiết ngẫm nghĩ, tiếp tục lắc đầu nguầy nguậy.
– Ca này hiếm gặp phết, – Polly hỏi – sao cháu sống sót được ở Vực Thẳm thế?
An Chiết trả lời thật thà:
– Chả có gì tấn công cháu hết.
Polly trầm ngâm chốc lát, đương lúc An Chiết ngỡ rằng mình sắp bị lôi đi tra tấn, lão chợt bật thốt:
– Thôi thì cũng hiểu được.
An Chiết hỏi:
– Hiểu gì cơ?
– Hình như mọi sinh vật ở Vực Thẳm và số ít giống loài đáng gờm khác có thêm một thứ giác quan nào đấy. Thi thoảng chúng sẽ không dựa vào vẻ ngoài để phán đoán giống loài gốc của đối thủ, dẫu một con quái vật đa hình hùng mạnh có biến mình thành chuột nhắt đi chăng nữa thì những con quái vật khác vẫn né xa hết cỡ, bởi chúng cảm nhận được nguồn sức mạnh kinh khủng từ nó – Polly thoáng khựng lại, rồi nêu tiếp – Nếu chúng thực sự chẳng hề thèm thuồng cháu, vậy điều này chứng minh cháu đã kết hợp với một loại gen ghê gớm lắm đấy, hoặc cũng có thể là không có tên trong thực đơn của chúng thôi.
Lão nói:
– Cháu rất đặc biệt.
An Chiết chùng giọng:
– Cháu không biết.
Cậu thật sự không biết. Tại Vực Thẳm, nấm nguy hiểm chẳng kém cạnh gì các động vật nơi đây, nếu chúng chẳng chứa độc tố cực mạnh thì lớp sương mờ khiến động vật dễ phát rồ cũng vấn vít quanh thân chúng thôi, việc một cây nấm nhỏ yếu vô hại như cậu nảy mầm giữa rừng nấm độc bạt ngàn quả là điều kì diệu. Thậm chí cậu còn có khả năng tư duy của riêng mình.
Polly bảo:
– Chẳng ai ở viện nghiên cứu có trường hợp đột biến giống nhau cả. Nếu cháu sẵn lòng, ta sẽ thử một số thí nghiệm lên cháu, ta sẽ không áp dụng những lối thí nghiệm gây hại cho cháu.
An Chiết gật đầu cái rụp, chẳng có lí gì lại từ chối cả.
Kế đấy Polly tiếp tục hỏi cậu thêm dăm ba vấn đề, lão cũng chẳng hỏi mấy về quá trình đột biến của cậu, mà thay vào đó lại hỏi cậu đã sống ra sao lúc lang bạt bên ngoài, liệu có điều gì khốn quẫn chăng, có sợ động vật, có xuất hiện tập tính mới sau khi thay đổi gen hay không... lão như chỉ thuần túy quan tâm cậu với tư cách là một người ông mà thôi. Nhưng An Chiết luôn ôm tâm lí sợ sệt nghiên cứu viên loài người kể từ lúc tỏ rõ về thứ thân phận không thuộc về mình, cậu chẳng dám thân thiết cùng Polly quá, chỉ hỏi câu nào thì trả lời câu nấy.
Cậu cũng hiểu sơ lược về lối sống ở viện nghiên cứu, tầng một của viện nghiên cứu là đại sảnh, phòng thí nghiệm và phòng dụng cụ; tầng hai dành cho người bị đột biến theo hướng biến thể động vật, tầng ba là dành cho biến thể thực vật, ai nấy có việc của riêng mình, kẻ thì hỗ trợ lão Polly ghi chép số liệu thí nghiệm, kẻ thì bảo vệ máy móc, kẻ thì trồng khoai tây ở sào đất phía sau, kẻ thì xông xáo đi săn bắn – riêng nhóm người này từng bị truyền nhiễm bởi những loài quái vật hung tợn tột cùng, nên họ rất mạnh, chẳng hạn như Đường Lam. Trong lúc săn thú họ sẽ thả biển chỉ đường ở muôn nẻo, chẳng sinh vật nào có thể hiểu biển chỉ đường ngoại trừ con người cả. Hướng được khắc rõ trên biển là lối về nhà của dị chủng lưu lạc ngoài kia. Phạm vi đặt biển chỉ đường ở khắp nơi chứ không chỉ trong Vực Thẳm.
Đường Lam bảo chốn này có liên quan tới Phái Hợp Nhất, song những người ở đây không phải là sản phẩm của việc cố tình dung hợp, mà là may mắn giành lại được nhận thức loài người sau khi bị sát hại ở vùng ngoài, rồi lần theo biển chỉ đường tiến vào viện nghiên cứu dị chủng... Tiến sĩ từng nói rằng, đấy là trường hợp hi hữu mười ngàn mới có một.
Kết nạp thành viên mới là việc đáng để ăn mừng, bởi thế viện nghiên cứu bèn chuẩn bị một buổi tiệc chào đón dành riêng cho An Chiết. Món chính là xúp khoai tây thịt xông khói, do một người đàn ông thấp bé – cũng là dị chủng cây, đang cầm muôi khuấy.
– Thích xúp khoai tây không? – Người đàn ông múc xúp rồi đưa cho An Chiết, giọng chú ta ồm ồm, tựa như tiếng ma sát từ vỏ cây thô rám.
An Chiết chìa tay bưng bát xúp nóng hầm hập này, cậu thổi phù phù, sương trắng ấm nhuần phả lấp khuôn mặt cậu.
– Dạ thích, – Cậu đáp – cảm ơn ngài.
– Vậy thì ngày mai cũng nấu nó nhé – Người đàn ông nhìn cậu – Cháu mấy tuổi rồi?
An Chiết trả lời:
– Cháu mười chín tuổi.
– Thế phải gọi là chú chứ. Thằng con chú cũng lớn xêm xêm cháu đấy, thằng bé ở khu bảy, cháu ở khu nào?
An Chiết đáp:
– Cháu ở khu sáu.
Người đàn ông nói:
– Năm năm rồi chú chưa được gặp thằng bé, nó tên Diệp Bạch, cháu biết chứ?
An Chiết lắc đầu nhè nhẹ.
– Mong là nó sống khỏe mạnh – Cuộc đối thoại của họ ngừng lại tại đây.
Lúc bày thức ăn, mọi người trong viện nghiên cứu ngồi quây quần bên nhau, họ không phân biệt vị trí gì cả. Polly ngồi giữa bọn họ, ai nấy đều thân thiết với lão đáo để. Họ cũng đối đãi với An Chiết chẳng kém gì thế cả, có ít nhất mười người chủ động hỏi han An Chiết suốt thời gian dùng bữa, trong số họ có khối người là lính đánh thuê ở ngoại thành, khối người là lính tráng ở căn cứ, họ tò mò về quá trình đột biến của cậu, hóng tình hình dạo này của căn cứ, rồi còn hỏi xem liệu cậu có gặp bạn bè hay người thân ngày xưa của họ hay không. An Chiết chẳng cho họ hay rằng sự thật là ngoại thành đã bị phá hủy, toàn đáp răm rắp "em chưa gặp" "em không biết". Lòng cậu thoáng se lại, bởi dù rằng đều là bặt vô âm tín, nhưng dường như câu trả lời kiểu này lại an ủi nội tâm con người hơn câu trả lời chân thực.
Cơm nước xong xuôi, Đường Lam bèn dắt An Chiết tới một căn phòng trống. Kế đến có một cậu con trai với tấm thân lít nhít lông vũ ôm chăn đệm sang phòng cậu.
– Mới phơi hôm qua đó, – Cậu ta chủ động trải giường chiếu hộ An Chiết, đoạn bảo – buổi tối rét dữ lắm, ông nhớ khép cửa sổ nhá.
– Cảm ơn bạn nhiều – An Chiết nói, sự thiện chí của cậu con trai này khiến cậu cảm kích khôn xiết rồi lại lúng túng chẳng rõ làm sao mới phải, giống hệt ông chú múc xúp hôm nay cho cậu vậy.
Cậu con trai trải giường xong bèn móc một thứ quả đỏ lựng ra khỏi túi áo, cười niềm nở:
– Cho ông nè.
Nói đoạn lại lôi thêm phần thịt sấy được bọc kĩ lưỡng ra:
– Còn đây là quà từ mọi người.
An Chiết nhận nó, thịt sấy nặng trĩu tay, cậu chẳng rõ mức sống ở viện nghiên cứu ra sao, nhưng tại cái thời đại này, ngần ấy thịt khô luôn là thứ quý giá vô ngần dù bạn có ở chốn nào đi chăng nữa.
– Cảm ơn mọi người, – Cậu nói – nhiều quá à, mình ăn không hết đâu.
– Ăn từ từ thôi – Đường Lam đứng sau lưng cậu phì cười, vươn tay sửa cổ áo giúp cậu.
– Bao giờ tụi tôi chả tặng quà cho thành viên mới, năm ngoái tôi tới đây mọi người cũng tốt với tôi lắm luôn – Cậu con trai nói – Làm dị chủng ở ngoài kia mới thực là khốn đốn nhỉ, nào là phải né quái vật, phải tự tìm thức ăn. Nhớ rõ mình là con người, nhớ nhà lắm, mà đâu dám về căn cứ. Đến được viện nghiên cứu là êm ấm rồi.
Cậu ta vừa nói vừa cười toe toét với An Chiết.
An Chiết cũng cười khì đáp lại.
Phòng kín mít không lọt gió, nó ấm áp xiết bao, quầng sáng khoáng đạt tỏa ra từ ngọn đèn trên trần nhà. An Chiết cầm thịt sấy, một tháng phong trần trong đầm lầy và cánh rừng nơi Vực Thẳm giờ đây như giấc chiêm bao.
– Đừng khóc nha, – Cậu con trai bảo – ông sẽ có một mái nhà kể từ bây giờ.
Giọng điệu cậu ta chắc nịch và ấm áp, hẳn là đã dựa dẫm viện nghiên cứu này vô hạn.
Đây là điều mà An Chiết chưa bao giờ bắt gặp ở căn cứ loài người cả.
Cậu hỏi:
– Nơi này luôn như thế xưa giờ ư?
– Hở? – Thoạt tiên cậu con trai hơn ngớ người, sau đấy thì hiểu ngay, cậu ta phì cười – Ông sẽ quen ngay ấy mà.
Song cậu ta thốt nhiên khựng lại vào giây phút vừa dứt lời.
...Có tiếng thét gào váng tai chợt rít lên từ ngoài hành lang.
✰ Chương 71 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Kiệt tác khó lòng mường tượng nổi với con người."
***
Tiếng vỡ choang của đồ vật sập tới ngay sau đấy. Đường Lam chau mày rồi lao vụt ra ngoài.
Cứ chốc chốc tiếng gầm giật dội lại vang rền, thanh âm quật nhau dội lên. Cậu con trai bỗng xo ro, cậu ta ghì riết cánh tay An Chiết như kiếm tìm sự bảo vệ, ấy thế mà còn mạnh mồm:
– Có người biến thành quái vật rồi, nhưng ông đừng sợ vì anh Đường đánh nhau giỏi lắm.
Họ thập thò dòm ra khỏi cánh cửa hé mở, có kẻ đang lăn lộn trên bãi đất trống trước tòa nhà chính, hàng tá mụn nhọt và cái vòi gồ lên trên lưng hắn ta, ngũ quan trên mặt hắn ta méo mó thành nắm thịt phù thũng xám ngắt, tứ chi xồ ra tấn công mọi người trông thực rồ dại, có chàng trai biến một phần cơ thể thành dây leo xâu xé với hắn ta – Đường Lam cũng đứng trong số đó, chẳng mấy chốc hắn ta đã bị chế ngự.
– Giam lại – Đường Lam nói.
Hắn ta bị lôi đi, Đường Lam cũng trở về phòng.
– Tuy giờ chúng ta vẫn còn ý thức con người, nhưng ai lường trước nổi chừng nào sẽ đánh mất nó chứ – Cậu con trai thều thào – nên tớ trân trọng khoảnh khắc được làm người lắm.
Tiếng ồn từ ngoài cửa sổ vẳng vào ngay phút giây này, An Chiết ngó xuống dưới, cậu thấy một cỗ máy khổng lồ nằm chình ình trên bãi đất trống trước tòa nhà chính
– Dạo vừa qua ngài Polly luôn cặm cụi với nó – Cậu con trai nói – Trông có vẻ khác hẳn với mấy nghiên cứu cũ.
An Chiết ngoảnh nhìn vị trí đó, có quầng sáng đỏ chóe sáng hừng hực trong khe hở giữa các cỗ máy, cậu bèn hỏi:
– Cái gì thế?
Đường Lam chẳng đáp lời, y trông ra ngoài ô cửa. Tại đỉnh non ngàn, cực quang và muôn vì tinh tú trở nên gần kề xiết bao, nom rõ mười mươi, tưởng chừng vừa đưa tay sẽ chạm tới chúng ngay vậy.
Căn phòng lặng như tờ. Mãi sau Đường Lam chợt cất tiếng.
– Ngài Polly là nhà khoa học thuộc Phái Hợp Nhất, – Đường Lam bảo – Phái Hợp Nhất tin rằng sẽ có một mai họ tìm được cách dung hợp gen người và gen quái vật an toàn, loài người chẳng những không biến thành quái vật chỉ sống dựa vào bản năng, mà còn có vóc hình to lớn và thích nghi được với môi trường khắc nghiệt hiện tại.
– Đại để là vậy, – Y cho An Chiết xem cánh tay mình, trên làn da y loáng thoáng dăm chiếc vảy đen – cơ thể của con người quá yếu đuối.
– Về sau, vật thí nghiệm ở Phái Hợp Nhất chạy thoát trong khi họ vẫn chưa nghiên cứu thành công, con đỉa to sụ nọ vấy bấy nguồn nước ở căn cứ, chính vì điều đó mà cả căn cứ chết hơn phân nữa. Kể từ đấy căn cứ cấm tiến hành hết mọi thí nghiệm tương tự, các nhà khoa học của Phái Hợp Nhất cũng trở thành tội đồ của căn cứ – Y kể từ tốn – Tuy nhiên những nghiên cứu khác cũng lâm vào cảnh bế tắc, duy chỉ có dung hợp là nghe khả quan hơn cả. Bởi vậy các nhà khoa học của Phái Hợp Nhất bèn đào tẩu, họ rời khỏi căn cứ nhằm tìm một chốn dễ bề thí nghiệm tiếp.
– Họ cần nghiên cứu về việc dung hợp, nên nhất định phải làm thí nghiệm trên vật sống, mà hễ làm thí nghiệm thì lại tạo ra những con quái vật sở hữu tư duy loài người mà chẳng phải là trí khôn loài người, căn cứ không bao giờ cho phép sự việc như thế phát sinh, nên họ luôn phái quân đội chặn đường truy sát, và sau tất cả, cuối cùng họ đã tìm được vùng đất này – Đường Lam ngẩng đầu ngắm trời không phủ rợp vì tinh tú – Viện Nghiên cứu Non Cao vốn là phế tích của một nơi dùng để nghiên cứu về cực từ nhân tạo thuở xưa. Chốn này nằm phía sau Vực Thẳm, nhờ địa thế cao nên xe bọc thép chẳng lái lên được, nó còn có sẵn vô vàn trang thiết bị, một số thiết bị có thể gây nhiễu từ trường và khiến máy bay quân sự cũng như radar bị mất tác dụng. Viện nghiên cứu này mới hoạt động trở lại, họ vừa cứu vớt dị chủng vừa nghiên cứu, nó kéo dài cho đến tận ngày nay.
An Chiết hỏi:
– Thế giờ đã tìm ra cách dung hợp chưa ạ?
Đường Lam lắc đầu.
– Chả lần ra quy luật, – Y đáp – thoạt đầu họ tin rằng nó có liên quan đến ý thức, sau này lại tin rằng nó có liên quan tới mẫu gen ngoại lai, cơ mà đều trật lất hết. Những kẻ với sức mạnh ý chí yếu có thể thức tỉnh, thực vật với khả năng truyền nhiễm yếu có thể cắn nuốt nhận thức ở người, chưa chắc ta đã mất hết nhận thức khi bị nhiễm gen bởi một quái vật ghê rợn, ý thức liệu có còn tồn đọng hay chăng đều phụ thuộc vào sự may mắn. Tiếp sau đấy cực từ bị mất hiệu lực dẫn đến phơi nhiễm diện rộng, thì lại chứng minh rõ rằng có lẽ điều này chẳng dính dáng gì tới gen cả. Vàng và sắt cũng biết ô nhiễm lẫn nhau, một nguyên tử sắt bất chợt biến thành vật thể gì đấy mà chúng ta không lí giải nổi dưới ống kính hiển vi. Ngài Polly từng bảo, tất cả mọi nghiên cứu lúc trước chẳng hề chính xác, ta cần tìm lối phân tích mới.
An Chiết từng nghe Tiến sĩ Gheer nói với luận điệu tương tự, cậu thốt:
– Căn cứ cũng nghĩ vậy đó.
Đường Lam nín bặt hồi lâu.
– An Chiết à, – Y bỗng gọi tên cậu và hỏi – cậu có nhận thấy một loại dao động không?
An Chiết gật đầu, cậu luôn cảm nhận được nó suốt bấy lâu nay.
– Nhiều người cảm nhận được nó kể từ khi biến thành dị chủng lắm, – Đường Lam thều thào – vả chăng nó cứ mỗi lúc một mạnh hơn.
Rạng mai, An Chiết sực tỉnh giấc. Đầu cậu nhức tấy, cảnh trong mơ ăm ắp hình ảnh ở vùng ngoài, tiếng tru tréo chấn động màng nhĩ, tiếng lõm bõm lúc chân thú giẫm xuống vũng bùn lắng, tiếng khóc than – chẳng rõ là tiếng khóc của ai. Ánh huỳnh quang tù mù hắt ra từ đôi mắt dã thú bảng lảng trong cánh rừng, cậu hì hục chạy như điên hòng tìm kiếm cái gì đó, ngặt nổi cậu không bao giờ trốn thoát và không bao giờ tìm thấy nó nổi. Thứ dao động hư vô, to lớn ấy vẫn ghì riết lấy cậu tựa hình với bóng, ngỡ như nó ở mọi ngóc ngách trên thế giới này, thậm chí cả giọt xương đọng trên chóp lá cũng là hiện thân của nó.
An Chiết cố chống người lên và nhổm dậy một cách khó khăn, xương cốt của cậu cứ y hệt bị gỉ, chẳng những không cử động linh hoạt nổi mà còn trở nên vừa mỏng vừa giòn, hễ nhúc nhích tí thì cậu cứ ngờ rằng mình sẽ ngưng cử động vĩnh viễn vào giây tiếp theo, điều đó giúp cậu hiểu, rằng mình lại đến gần cái chết chẳng tài nào kháng cự thêm một bước nữa.
An Chiết ôm chăn ngồi tần ngần trên giường cả buổi mới thấy mình lại sức đôi ba phần. Cậu ngơ ngác ngó khắp căn phòng ấm áp này, những gì đã xảy ra hôm qua giống hệt giấc mộng mà mãi tới hôm nay, cậu mới thấy nó chân thực chút đỉnh, cậu đi đến một thế giới loài người theo ý nghĩa khác, những người ở nơi đây rất tốt với cậu. Song ý định ban đầu khiến cậu rời xa Lục Phong, là bởi không muốn để Lục Phong chứng kiến cảnh mình chết đi cơ mà.
Vậy còn những người quý mến cậu ở đây thì sao?
Sống mũi An Chiết cay cay, cậu thấy có lỗi lắm, nhưng cửa chợt bị gõ trước cả khi cậu kịp đưa ra sự lựa chọn khác.
Là cậu con trai ngày hôm qua, cậu ta bưng một mâm thức ăn sáng đẹp đẽ, trên mâm là bát và cốc sứ bốc hơi ngùn ngụt.
– Sáng nay ông chưa dậy nên tụi tôi không kêu ông – Cậu con trai bảo – Chú cây nấu xúp khoai tây nữa nè, ông nhớ ăn đó.
An Chiết khẽ đáp:
– Cảm ơn bạn.
Cậu con trai nói đoạn bèn đặt mâm xuống bàn, An Chiết cúi đầu nhìn bát xúp thơm sực nức này, miếng khoai tây nhỏ lấp ló trong nước xúp, nó và thịt xông khói xắt sợi phả ra một thứ mùi hương khoan dung quá đỗi, mùi hương ấy lẫn trong làn sương trắng, lượn lờ tỏa khắp căn phòng.
...Thực lạ làm sao, cậu chẳng nhen nhóm ý định rời đi nữa.
Lối sống ở viện nghiên cứu chẳng giống lề thói rõ ràng bài bản ở căn cứ, mọi người không có nhiệm vụ và vị trí cố định mà thay vào đấy là tự chia công việc. Viện nghiên cứu chịu cưu mang cậu, cậu hiểu rằng mình phải đền đáp cho họ, ai nấy ở viện nghiên cứu cũng niềm nở hễ cậu muốn gắng làm điều gì đấy.
Ban đầu cậu thử ra ngoài nhặt các loại rau củ ăn được ở vùng an toàn với cậu con trai kia, kế đến cơ thể cậu chẳng chịu nổi luồng gió lạnh thông thốc, nên đành loanh quanh trong căn cứ phụ giúp trồng trọt hoặc nấu cơm. Sau cùng, cậu thậm chí còn không làm nổi công việc như vậy. Mọi người ở viện nghiên cứu cho rằng cậu mắc phải một căn bệnh chẳng xác định nào đó – đây là chuyện thường gặp, ở đời, bệnh gì cũng có thể xảy ra, ngay cả thế giới còn mắc bệnh nguy kịch cơ mà.
Hôm ấy, Polly sang thăm cậu. An Chiết bắt đầu chuyển vào tòa nhà trắng ở khu chính phía tây của Polly kể từ dạo đó. Mặc dù sức khỏe cậu dần sụt giảm – song trí óc vẫn minh mẫn lắm, đủ để làm một tay trợ lí đạt tiêu chuẩn. Có thêm một gã trai Ấn Độ trầm tính hỗ trợ trong phòng thí nghiệm của Polly nữa, gã tên là Rum và gã thạo sửa các trang thiết bị.
Đấy là một phòng thí nghiệm chặt chẽ với hàng loạt máy móc đặt xung quanh, chúng được kết nối cùng màn hình hiển thị. Dây cáp quang của cỗ máy lớn nhất kéo dài từ phòng thí nghiệm xuống dưới mặt đất và thông với một thiết bị tên là "Lồng Simpson" đặt bên ngoài.
Linh kiện chính của Lồng Simpson là bốn ngọn tháp cơ khí cao năm mét, nom như phiên bản thu nhỏ của hai ngọn tháp trắng lừng lững ngoài viện nghiên cứu vậy, mà hình dạng của hai ngọn tháp trắng nọ... An Chiết quan sát thật lâu, cậu xác nhận rằng chúng có rất nhiều điểm tương đồng với cực từ nhân tạo khổng lồ tại căn cứ. Nó gợi nhớ cho cậu Viện Nghiên cứu Non Cao vốn là nơi ban đầu phát triển cực từ nhân tạo.
Bốn ngọn tháp tạo thành một hình chữ nhật rộng hơn hai mươi mét và dài hơn mười mét, lúc Lồng Simpson khởi động, toàn bộ không gian hình khối chữ nhật mà chúng bao phủ sẽ rừng rực thứ quầng sáng đỏ nóng bỏng như tia la-de tần số cao – tựa biển lửa ăm ắp sắc đòng đọc. Ai ở viện nghiên cứu cũng hiểu chớ nên bén mảng lại gần đấy khi Lồng Simpson đang trong quá trình mở ra, nếu không sẽ chết thảm tệ.
Nhờ cuốn sổ tay trong phòng thí nghiệm, An Chiết được biết Lồng Simpson là kiệt tác tuyệt vời nhất trong lĩnh vực vật lí hạt[1] vào thời kì đỉnh cao của nền khoa học nhân loại, nó đã thúc đẩy trực tiếp sự thành công của cực từ nhân tạo.
[1] Vật lí hạt là một ngành của vật lí nghiên cứu về các hạt sơ cấp chứa trong vật chất và bức xạ, cùng với những tương tác giữa chúng. Nó còn được gọi là vật lí năng lượng cao bởi vì rất nhiều hạt trong số đó không xuất hiện ở điều kiện môi trường tự nhiên, mà chỉ được tạo ra hay phát hiện trong các vụ va chạm giữa các hạt, nhờ các máy gia tốc.
– Tới tận bây giờ bọn ta vẫn chưa rõ nguyên lí hình thành từ trường Trái Đất. Có kẻ suy đoán là do sự chuyển động của sắt nóng chảy nằm trong lõi thể lỏng Trái Đất, có kẻ lại đinh ninh rằng là do sự xoay tròn của lớp điện tích dưới lòng đất, tuy nhiên chẳng ai đưa ra đủ bằng chứng thuyết phục cả. Bọn ta chưa rõ nguyên nhân hình thành của nó nên cũng chẳng tài nào được biết nguyên nhân nó biến mất, điều này vượt khỏi giới hạn nhận thức của bọn ta. Và tương tự thì bọn ta cũng không tái tạo điện từ trường nổi – trừ phi có thể tạo ra một cái nam châm lớn bằng phân nửa Trái Đất – Polly giải thích cho cậu – Nhưng trong số những định luật vật lí mà bọn ta đã nắm giữ, có một định luật được nêu như sau: Từ tính được tạo ra bởi điện, và sự chuyển động của các điện tích tạo ra từ trường.
– Một trong những cống hiến to lớn của lồng Simpson là nó giúp cho ta thấy trường dao động giữa các hạt cơ bản, từ đấy phân tích cách chúng tương tác và tái tạo một số hiện tượng. Vì lẽ đó bọn ta nảy lên ý tưởng về cực từ nhân tạo... Cháu thiếu kiến thức về vật lí nên ta chẳng tiện giải thích sâu hơn. Nói theo hướng đơn giản là hai cực từ nhân tạo phóng sóng xung với tần số đặc biệt dẫn đến sự cộng hưởng của các hạt mang điện trong gió Mặt Trời. Giống như chúng ta cầm một cái loa rồi nói cho chúng hay "Mời các vị rẽ sang hướng kia" vậy. Cho nên sự cộng hưởng lẫn chuyển động ở hạt dần sinh ra từ trường, chính vì thế cả hành tinh được từ trường bảo vệ.
An Chiết gật đầu, cậu nghe hiểu, song cũng chỉ dừng ở mức nghe hiểu mà thôi. Công việc của cậu chả yêu cầu cậu nắm vững kiến thức vật lí cao siêu gì hết, lo trông chừng máy móc là được.
Thi thoảng Polly bận ở ngoài chỉnh tần số của Lồng Simpson và tay trợ lí khác cũng đi theo lão, thì chỉ có An Chiết côi cút một thân trong tòa nhà trắng thôi. Cậu ngồi trong đó, ngoài cửa sổ là bầu trời đêm u tối. Tiếng bíp văng vẳng từ muôn cỗ máy mới thực là nhàm xiết bao, quang phổ kế[2] kết nối với Lồng Simpson vẽ ra thứ đồ thị phức tạp, chả biết nó đang ghi lại cái gì nữa đây.
[2] Quang phổ kế (Spectrophotometer) là các thiết bị hoạt động dựa trên phân tích quang phổ của ánh sáng, nhằm thu được các thông tin về thành phần, tính chất hay trạng thái của những khối vật chất liên quan đến chùm ánh sáng đó. Phân tích quang phổ là phương pháp hàng đầu trong hóa phân tích.
Những đồ thị ấy nom lằng nhằng, xoắn bện thành một nùi rối ren chẳng có tí quy luật nào, nó gợi cậu nhớ tới đường nét khòng khèo ghê rợn mà Tư Nam bôi lên trang giấy hồi ở Vườn Địa Đàng. Cậu cũng hãi lắm, khi hễ nhắm mắt lại cảm nhận được luồng dao động hư vô kia mỗi lúc một mạnh, cảm nhận được sự sống cứ trôi đi từng ngày, song có vài dạo cậu bỗng thấy rằng, mình đang dần dà tiến đến sự vĩnh hằng.
Polly đã trở vào, lão bắt đầu phân tích ngồn ngộn đống đồ thị hỗn loạn ấy, An Chiết gắng nhấc phích nước nóng kế bên lên rót cho lão một cốc nước.
– Ngài đang làm gì vậy ạ? – Rốt cuộc cậu chịu mở miệng.
– Ta muốn tìm nó – Polly đáp.
An Chiết nhìn màn hình, đoạn hỏi:
– ...Nó là gì?
– Thứ khiến thế giới này thay đổi.
– Nó nhất định ở khắp muôn nơi, nếu như nó có mặt trên thế giới này, vậy thì nhất định cũng sẽ ở trong Lồng Simpson – Lão đáp.
An Chiết thoáng chau mày.
Polly giơ chiếc la bàn trong tay lên:
– Chúng ta sẽ không bao giờ trông thấy từ trường, nhưng hướng chỉ nơi la bàn có thể cho ta hay rằng nó đang tồn tại, điều ấy cũng đúng với những thứ vô hình trên hành tinh này, sự hiểu biết của con người quá nông cạn, chỉ có thể truy đuổi đôi chút bóng hình mà chúng phản chiếu lên thế giới mà thôi.
– Cháu xem đây nhé, – Polly đánh dấu một đồ thị ổn định đang sáng lên – vạn vật trên đời đều đang tương tác với nhau, có hằng hà sa số thông tin nằm trong trong dấu vết tương tác. Chẳng hạn như đường thẳng này, nó giống la bàn, đều đại diện cho từ trường.
– Bọn ta đặt ra giả thuyết rằng thế giới dần thay đổi là bởi có sự vật khổng lồ nào đấy đang buông xuống... Tuy nhiên từ trường có thể chống lại nó ở mức độ nhất định. Mà nếu từ trường có thể chống lại nó, thì chắc chắn nó có chung một lối hiển thị với từ trường – Polly giương đôi mắt lam xám nhìn đăm đăm vào màn hình rối ren bùng nhùng – Nó thật hùng vĩ, vượt ra khỏi tầm nhận thức của con người, thứ nó thay đổi là bản chất của thế giới này, song nó lại đang ở ngay trong đây. Ta tin rằng chắc chắc có tồn tại một tần số thu cụ thể, giúp bọn ta được chiêm ngưỡng cái bóng phản chiếu lên thế giới thật của nó.
An Chiết hỏi:
– Sau đấy thì sao ạ?
Polly lắc đầu:
– Bọn ta phải biết nó là thứ gì thì mới nghĩ cách đối phó với nó được chứ.
Ấy thế nhưng, liệu có thể tìm được thật ư?
An Chiết nhìn màn hình với vẻ mê man.
Polly chừng như hiểu cậu đang suy nghĩ những gì, lão mở miệng.
– Dẫu biết là rất xa vời, nhưng... – Lão chỉ nói đặng phân nửa, đoạn buông một tiếng dài khẽ khàng – Suy cho cùng trước kia bọn ta cũng từng tạo ra rất nhiều kiệt tác khó mường tượng nổi với con người mà.
An Chiết nhận thấy sự dao động trong ngữ khí nọ, cậu lặp lại câu nói sau cùng của lão:
– Kiệt tác khó lòng mường tượng nổi với con người.
Kế đấy cậu phát hiện tia sáng le lói trong ánh mắt Polly dần phôi pha.
Lão trông ra đồng cỏ hoang vu bát ngát ngoài ô cửa, nền trời phủ vây những làn khói mù xám ngắt, tiếng dã thú tru lên bảng lảng xung quanh và có những biến động thực lạ trong thứ âm vang ấy, ta không tài nào lí giải nó bằng thanh phổ loài người nổi.
– Vỏn vẹn với con người mà thôi, – Lão thều thào – trước khi bị dập nát, bọn ta đã từng tin rằng mình hiểu rõ toàn bộ về thế giới này.
Vào phút giây ấy, An Chiết nhìn thấu được nỗi cô độc vượt qua cõi vĩnh hằng trong mắt lão.
✰ Chương 72 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Cậu quả là... quả là có năng khiếu trời ban."
***
– Đường đường là thượng tá thẩm phán giả mà giờ phải trốn chui trốn nhủi trong phòng thí nghiệm của tôi – Tiến sĩ Gheer đặt chồng tài liệu xuống mặt bàn, nhạo báng nói – Cần tôi mang cơm cho cậu không?
Kẻ đang ngồi trên ghế dựa mềm vốn thuộc về Tiến sĩ Gheer cũng chẳng phải tiến sĩ, mà là một chàng thẩm phán giả bận quân phục đen, anh ngồi khoanh tay và vắt chéo cặp chân dài với vẻ buông tuồng, trước ngực thiếu mất một chiếc phù hiệu bạc, nhưng dải tua bạc lòng thòng của chính bộ quân phục đã lấp đi khoảng trống sắc màu ấy, giúp ngoại hình cùng áo của anh vẫn hoàn hảo không một tì vết.
Đồng tử giá lạnh đảo khắp phòng thí nghiệm bàng bạc:
– Cậu tưởng tôi muốn ở đây lắm à?
– Tôi khuyên cậu nên quý trọng tôi tí thì hơn, tôi đếch đòi hỏi cao siêu gì đâu, chỉ cần khôi phục trăm phần trăm tình bạn thuở bé của chúng ta là được rồi – Tiến sĩ Gheer bảo – Cậu hãy nhìn nhận rõ tình thế đi, Tòa Xử án còn chưa chắc trụ lại nổi, mà nếu như tới cả tôi – người bạn duy nhất của cậu tại căn cứ này cũng chả chịu chứa chấp cậu, cậu sẽ bị người dân ngoài kia xé xác ngay và luôn. Tôi nghe bảo Trung tâm Mặt trận thống nhất đã mở liền tù tì ba cuộc họp, nhằm cân nhắc về việc liệu có nên xoá bỏ quyền đặc cách giết người của thẩm phán giả trong "Dự luật Thẩm phán giả" không đấy.
Chàn ta bèn chớp mắt lia lịa lúc nói đến đó:
– Cậu có hối hận khi lựa chọn rời khỏi vùng ngoài không?
Chàng ta toan khơi gợi làn sóng rung cảm trong anh, oái oăm thay lại chẳng thành, nét mặt của Lục Phong không hề khác gì so với trước khi nghe chàng ta nói.
Căn cứ bị lâm vào bầu không khí hoảng loạn ngay ngáy kể từ lúc nhận ra sự trao đổi thành phần giữa ô nhiễm gen không tiếp xúc và các sự vật vô tri; có lẽ chuỗi ngày kế tiếp cực từ sẽ chào thua bởi biến dạng, họ sẽ biến thành quái vật hoặc món đồ nào đấy, hay kết hợp với căn cứ kiên cường này cũng nên. Tám ngàn người sống sót hiện nay là những tinh anh cùng lãnh tụ thuộc Hải đăng lẫn quân đội – tức quần thể ưu việt nhất trong xã hội loài người, ngặt nỗi chính vì vượt trội về mặt trí tuệ, nên họ càng dễ cảm nhận được nỗi kinh hoàng của ngày tận thế sắp ập đến. Sự hòa bình căng thẳng ở căn cứ đang trên đà hấp hối tựa mặt hồ được phủ lấp bởi lớp băng mỏng, nom thì ngỡ rằng kiên cố phải biết, song thực chất chỉ cần thả một hòn đá xuống là quá đủ để khiến tất thảy sụp đổ tan tành.
Nguồn cơn sự việc xuất phát từ một cuộc giết chóc vào mười ngày trước.
– Nếu là người khác thì cũng đành thôi, đằng này... – Tiến sĩ nhìn chàng thẩm phán giả chẳng buồn đoái hoài gì tới lời mình, chàng ta nghiến răng nghiến lợi.
Người bị bắn chết là một nhà khoa học đức cao vọng trọng ở Hải đăng, ông đã có những đóng góp xuất sắc trong mảng tính toán đường đạn và cải tiến đạn pháo, do đó ông trở thành nhân vật có sức ảnh hưởng ở lĩnh vực công trình quân sự. Theo lẽ dĩ nhiên, các nhà nghiên cứu thuộc mọi lĩnh vực đều yêu quý ông và quân đội cũng kính trọng ông vô cùng.
Mười hôm trước, Lục Phong cùng Serran tình cờ gặp nhà bác học nọ khi đi trên hành lang Trung tâm Mặt trận thống nhất, họ thậm chí còn gật đầu tỏ ý chào hỏi.
Nhưng đúng ngay giây phút vừa lướt qua nhau, Lục Phong bỗng rút khẩu súng dắt bên hông Serran ra, kĩ thuật bắn của anh luôn luôn chuẩn xác, động tác bóp cò vừa quả quyết vừa nhanh chóng, viên đạn nhoáng cái xuyên thẳng vào gáy nhà bác học khiến máu tung xối tựa chùm pháo hoa, xác ông ngã phịch xuống mặt sàn.
Cả căn cứ gần như rúng động trước sự việc này.
Học trò và bạn bè của nạn nhân trải dài khắp căn cứ, họ cho hay rằng khi còn sống trông ông vẫn tỉnh táo, hành động lịch sự tính tình hòa nhã, hoàn toàn không có bất cứ dấu hiệu nhiễm bệnh nào cả, họ yêu cầu Tòa Xử án hãy đưa ra lời giải thích chính đáng.
Tuy nhiên người thì đã đi rồi, máy xét nghiệm gen cũng bị hỏng hết linh kiện chủ chốt trong làn sóng dung hợp vật chất độ hai tháng trước, nó "chết" hẳn, đâm ra ta chẳng tìm được bất cứ cơ sở nào để chứng minh phán đoán của thẩm phán giả cả. Về vấn đề này, thẩm phán giả chỉ tuyên bố đúng một câu, rằng anh ta hoàn toàn làm việc tuân theo quy tắc phán xét.
Vô vàn chuyện cũ năm xưa bị đào lại, tiếng kêu gọi Tòa Xử án hãy công bố quy tắc phán xét gióng giả tột cùng trong khoảng thời gian ấy. Tuy nhiên, họ không cách nào đưa Lục Phong ra toà án quân sự nổi – bởi mọi quyền hạn nằm trong "Dự luật Thẩm phán giả" đều được trao cho Tòa Xử án, chính vì thế các cuộc tranh luận xoay quanh "Dự luật" cũng đạt đến đỉnh điểm. Có một cậu thanh niên tên Colin tự xưng là người dẫn đầu phong trào Chống Thẩm Phán ở ngoại thành, trong cơn thảm họa khiến chủ thành chỉ còn sót lại tám ngàn người, cậu ta thoát chết nhờ vào mình vốn làm giáo viên tại Vườn Địa Đàng. Và đúng lúc bấy giờ, cậu thanh niên nhiệt huyết sục sôi này lại tiếp tục cất lên những khẩu hiệu từng vang vọng khắp ngoại thành, đồng thời lên án quyết liệt hành động giẫm đạp tình người vô nhân đạo của chế độ còn lại thuộc quân đội căn cứ, chẳng mấy chốc cậu ta đã có số lượng người ủng hộ trung thành đông đảo.
Đứng trước việc này, Trung tâm Mặt trận thống nhất bèn chọn cách trấn áp sau khi im lặng một thời gian dài. Nhưng phần đa những người hiện sống ở căn cứ đều là thành viên ở Vườn Địa Đàng và Hải đăng, nguồn binh lực bị hạn chế, đặc biệt họ chẳng thể ra tay tàn nhẫn bởi hiện tại chỉ cần một người chết đi, thì số lượng loài người sẽ sụt giảm trên tỉ lệ 1/8000 ngay. Dường như bạo động bùng phát tại một xã hội loạn lạc với tám ngàn con người là nan đề thật khó để giải quyết.
Đương lúc nước sôi lửa bỏng, một bản số liệu cũ hiếm ai hay biết bị rò rỉ khỏi nội bộ Hải đăng rồi lan truyền khắp muôn nẻo.
Đấy là hồ sơ tuyệt mật của "Phái Hợp Nhất" từ nhiều năm trước, ai cũng ngầm giữ kín về sự tồn tại của đảng phái này, song quả thực thì họ sở hữu khả năng nghiên cứu khoa học cực kì tuyệt vời. Qua hơn một thập kỉ thử nghiệm và quan sát, họ ước tính rằng xác suất để một người sống bị nhiễm gen duy trì khả năng nhận thức ở một mức nhất định lúc đã hấp thụ hết đặc điểm của quái vật: là 1 trên 10.000 người; 1 trên 6.500 khác thì sẽ khôi phục đôi chút ý thức trong vòng ba năm kể từ khi hóa thân thành quái vật hẳn.
Mà điều khiến cho vấn đề tồi tệ hơn chính là số liệu này có đi kèm một lưu ý mang tính khách quan, rằng 1 trong số 10.000 lẫn 6.500 đó mới chỉ là ước tính trên lí thuyết, xác suất đúng trên thực tế hẳn sẽ cao hơn chút đỉnh.
Ngay cái hôm mà bản số liệu bị rò rỉ, cả căn cứ xáo động tột cùng. Colin đã viết ngay một áng văn chương thật dài về sự việc với tựa đề "Một trăm năm ở Tòa Xử án: tội ác bị chôn vùi."
Chưa hết, thời điểm đó có một tay lính điên rồ núp ngoài Tòa Xử án toan ám sát thẩm phán giả. Nghe đâu rằng tướng lĩnh lẫn chiến hữu kính yêu của gã ta đều chết dưới nòng súng của thẩm phán giả, đáng tiếc thẩm phán giả sẽ luôn là một quân nhân ưu tú hơn gã ta gấp trăm lần về mọi mặt, nên viên đạn kia không thể trúng đích. Nhưng hành động ấy lại kích động đến những người khác, và vậy là nhoáng cái, Tòa Xử án đã trở thành mục tiêu công kích đủ điều.
Tới tận lúc tiến sĩ Gheerbrant nộp đơn đề xuất lên Hải đăng mới thôi.
Tiến sĩ Gheer cho hay, tiêu bản bào tử đến từ Vực Thẳm phô bày tính trơ đáng kinh ngạc với biến dạng cùng bị biến dạng, nhiễm gen cùng bị nhiễm gen, nếu cơ chế này có thể nghiên cứu và áp dụng lên cơ thể người thì biết đâu con người cũng nhận được đặc tính quý giá ấy. Ấy thế nhưng, bào tử kì lạ có hoạt tính riêng lại rất khoái Thượng tá Lục ở Tòa Xử án, hễ tiếp xúc với thượng tá thì tốc độ sinh trưởng lẫn hoạt tính tế bào đều tăng lên trông thấy.
Vì lẽ ấy Thượng tá Lục cần hỗ trợ việc thực hiện dự án nghiên cứu này, căn cứ cũng tất phải đảm bảo sự an toàn cho thượng tá, có lẽ đây chính là niềm hi vọng cuối cùng của nhân loại.
Bởi vậy chàng thượng tá họ Lục nào đó mới xuất hiện tại phòng thí nghiệm của Tiến sĩ Gheer.
– Dù chưa có bằng chứng xác thực, tuy nhiên trong ba tháng dự kiến sắp tới, số phận con người đang dần đếm ngược – Tiến sĩ Gheer ngồi xuống cạnh Lục Phong, chàng ta nói – Ban đầu chủ thành chả quan tâm đến chế độ thẩm phán giả mấy, nhưng hiện nay họ cũng sắp sửa đương đầu với sự phán xét như ngoại thành một thời rồi. Cậu hãy hiểu rằng chỉ cần biến dạng đánh bại cực từ, ai ai cũng có nguy cơ bị truyền nhiễm, tất cả mọi người ắt bị phán xét, và biết đâu được sẽ chết dưới nòng súng của cậu. Mặc dù bây giờ Tòa Xử án không hề làm gì cả, song nó đã trở thành kẻ thù tinh thần của họ rồi. Biến dạng diện rộng chẳng chóng thì chầy cũng tới, bọn họ hi vọng mình sẽ thuộc một trong số 10.000 hoặc 6.500 nọ, đả đảo cậu có thể giúp họ sống lâu hơn chút đỉnh, điều này chẳng can hệ gì đến cái thói tự tung tự tác của cậu cả, sợ chết là bản năng sinh vật thôi.
Bỗng chàng ta thoáng chau mày khi nói dứt, chàng ta lầm bầm:
– Dù Tòa Xử án có bị dồn tới đường cùng cỡ nào, thì suốt ngần ấy năm qua cũng chưa hé một chữ về quy tắc phán xét, tôi tin các cậu có lí do cực chẳng đã. Nhưng thực tế tôi vẫn muốn hỏi cậu một điều, bản số liệu ấy của Phái Hợp Nhất, rốt cuộc trước kia cậu... liệu cậu có biết về nó chăng?
Tầm mắt Lục Phong lảng qua chàng ta và hướng về phía bào tử lơ lửng trong dịch nuôi cấy.
Sợi nấm của bào tử giãn ra một cách thoải mái vì có anh trong phòng, nó to hơn tí xíu, áng chừng bằng lòng bàn tay ở người.
– Có tiến triển gì chưa? – Anh khẽ hỏi.
– Xin chia buồn là không. Nó và oắt con An Chiết đúng là đồ bịp bợm, điều duy nhất nó làm được hiện tại là làm bia đỡ đạn cho cậu, mà chẳng rõ có thể đỡ đến chừng nào nữa – Tiến sĩ Gheer lần theo hướng nhìn của Lục Phong.
Đôi mắt ấy, đôi mắt đẫm một sắc xanh. Căn cứ phương Bắc là nơi mà các chủng tộc khác cùng nhau chung sống và người châu Á chiếm phần lớn tại đây, bởi vậy đồng tử đen nhánh là lẽ thường tình, các màu khác như xanh lam hay nâu cũng khá phổ biến, song màu xanh lục lạnh giá này thực tình quá đỗi đặc biệt, thi thoảng lại có thứ ảo giác dấy lên trong tâm trí chàng ta, rằng đấy là một chất vô cơ chẳng tồn đọng cảm xúc, thật giống ánh mắt bấy lâu nay của anh vậy.
Dường như dẫu có giết bao nhiêu người, dẫu có bị kẻ khác đối xử thế nào, anh vẫn không hề lay chuyển. Anh chẳng cần sự cảm thông, càng chẳng cần sự tha thứ, anh luôn luôn bàng quan đầy kiêu hãnh.
Nỗi phiền muộn bất lực trỗi dậy trong lòng tiến sĩ.
– Đáng lí tôi chớ nên quan tâm cậu, cũng chớ nên thử an ủi cậu, bởi dù sao cậu vốn không màng quan tâm – Chàng ta hít thở thật sâu, dang tay ra nói – Cậu luôn dùng hành động để khiến tôi tự vả mỗi lần tôi gắng thuyết phục mình cậu là người tốt, trong cái vấn đề máu lạnh vô tình này, cậu quả là... quả là có năng khiếu trời ban.
Chàng ta đăm đăm vào khuôn mặt Lục Phong. Ngũ quan của anh góc cạnh sắc sảo hệt một con rối đã được gọt giũa, tiếc thay chất liệu lại là tảng băng trường tồn muôn thuở. Sự thể ngoài kia căng thẳng tới độ tiến sĩ sợ rằng tức thì sẽ có người phá cửa phòng thí nghiệm bằng những hòn đá nhắm vào thẩm phán giả, nhưng chính bản thân anh lại chả có vẻ gì là giày xéo oan khốc cả, trái lại dáng dấp rủ mi nơi anh còn toát lên nét bình thản đầy nghiêm túc, như cánh bướm đen ma quái đậu trên song cửa trang trọng của một ngôi đền.
Chừng nào "Dự luật Thẩm phán giả" chưa tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn, thì quyền hạn của Lục Phong trong hệ thống điện tử vẫn đáng ao ước chừng ấy, màn hình máy tính kế bên anh hãy còn chiếu đoạn thu hình theo thời gian thực ở chỗ mà dòng người căn cứ đang tụ tập.
Tiến sĩ bó tay, chàng ta không tiếc hé miệng đá đểu thêm bận nữa:
– Tôi thật tò mò, chả biết cậu sẽ trưng bản mặt gì khi đến cái ngày bị mọi người trong căn cứ đưa lên giá treo cổ nhỉ?
Chàng ta nói đoạn bèn nhìn trân trân đôi mắt Lục Phong, hòng chộp lấy sự rung cảm nơi anh, tiếc thay Lục Phong chẳng mảy may sao nhãng bởi ánh nhìn tàn nhẫn nọ, anh chỉ đăm chiêu ngắm bào tử hoặc máy nuôi cấy, hoặc là một thứ gì đấy trong hư không.
– Cảm ơn cậu, – Chất giọng lạnh nhạt ấy nói – tôi xứng đáng với điều đó.
Nắm đấm ghì lên bàn của Tiến sĩ Gheer buông lơi rồi lại siết chặt, sau cùng chàng ta thoái chí thụp lưng xuống ghế:
– Tôi nên tống cậu ra ngoài mới phải, cậu bị điên rồi.
– Tôi rất tỉnh táo, – Rốt cuộc Lục Phong chịu ngoảnh sang chàng ta – tôi có thể giúp gì ở phòng thí nghiệm không?
– Bảo cục nấm nhỏ si mê cậu lớn nhanh tí đi, – Tiến sĩ nói – nếu được thì để ý kênh liên lạc của viện nghiên cứu giúp tôi nữa.
✰ Chương 73 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Vậy thì cậu còn khiến tôi thất vọng hơn cả An Chiết nữa."
***
Thẩm phán giả bị giam lỏng tại Hải đăng, nhưng cuộc bạo động rùm beng ấy không hề kết thúc bằng sự thỏa hiệp giữa hai bên, trái lại nó mỗi lúc một dữ dội hơn. Mọi người đình công nhằm thị uy với căn cứ, cuộc biểu tình tập thể của họ diễn ra ở lối vào nơi đặt cực từ nhân tạo.
Các nhà hoạch định chính sách ở căn cứ giận tím mặt trước những tin đồn úp mở về căn cứ, song họ nào có còn quyền kiểm soát tuyệt đối vào thời buổi loạn lạc này nữa. Cuối cùng họ bèn đưa ra một sự nhượng bộ cực lớn: xóa bỏ tạm thời quyền giết người của Tòa Xử án. Thành viên thuộc Tòa Xử án vẫn tuần tra theo thường lệ, ngặt nỗi nếu phát hiện đối tượng có dấu hiệu bị nhiễm bệnh thì sẽ khoan bắn bỏ, mà thay vào đó là áp giải vào trại huấn luyện quân sự tại một đầu khác của căn cứ rồi quan sát từ từ. Chưa hết, thẩm phán giả bị cấm mang súng và phải ở trong phòng thí nghiệm Hải đăng để phối hợp nghiên cứu, không được phép ra ngoài. Thật khó để biết liệu đây là sự bảo vệ hay phòng ngừa mà căn cứ dành cho thẩm phán giả nữa.
Cuối cùng bầu không khí ở căn cứ cũng dịu đi chút đỉnh, dù sao họ chỉ chĩa mũi dùi vào Lục Phong là chính. Thượng tá Lục làm thẩm phán giả lứa này, khiến ai nấy đều bàng hoàng hãi hùng bởi thói lộng hành và khát máu của anh ta. Nếu một năm Tòa Xử án xử tử năm ngàn người, thì áng chừng có bốn ngàn năm trăm người đã gục dưới súng của anh ta, năm trăm người còn lại bị quan thẩm phán khác xử tử hẳn là do khi đó thẩm phán giả vắng mặt ở Tòa Xử án thôi.
Ngơi nghỉ chưa đặng bao lâu, mọi người bắt đầu khiển trách Hải đăng chẳng có tiến triển gì đáng nói suốt nhiều ngày liền, bên cạnh đó Tiến sĩ Gheerbrant phụ trách dự án này là bạn cũ của Lục Phong. Cho nên, luận điệu "Niềm hi vọng cuối cùng của nhân loại" rõ ràng là một lời ba hoa sáo rỗng, nó là sự bao che từ một phía, họ yêu cầu Hải đăng hoặc là trình hết kết quả đủ sức thuyết phục dân chúng, hoặc là giao Lục Phong ra đây.
– Họ làm loạn cả lên, vì ỷ vào việc xã hội loài người không thể mất thêm bất kì sinh mạng nào – Tiến sĩ rót cho mình cốc nước – Lí do thoái thác của họ có trăm ngàn thiếu sót, nhưng đấy đã là cách duy nhất giúp họ trút bỏ nỗi sợ hãi.
Nói đoạn, chàng ta nâng cốc nước chực uống, tuy nhiên bàn tay cứ run lập cập, tới độ khiến nước văng tóe khỏi thành cốc rồi nhỏ xuống mặt bàn, tiến sĩ gắng hớp một ngum, nhưng rất chóng chàng ta đã chẳng dằn nổi vẻ thống khổ nữa, chàng ta oằn mình nôn khan liên tục.
– Tôi cũng đang sống... sống trong nỗi khiếp đảm kinh hoàng, tôi buồn nôn quá – Chàng ta run rẩy thốt lên – Luồng khí lạnh nay đã tràn vào, mùa đông sắp đến. Thời điểm mà lũ quái vật điên dại nhất và cần chất dinh dưỡng nhất tới rồi.
– Chúng ta đều hiểu trong mắt quái vật, loài người chính là một cục thịt mỡ béo ngậy, ngay cả lúc căn cứ ở thời đại hoàng kim cũng ồ ạt những con quái vật thử sức tấn công rồi, thì cậu đoán xem... – Tiến sĩ phì cười, chùng giọng – Bao giờ chúng sẽ phát hiện căn cứ loài người đã suy đốn đến độ này? Bao giờ chúng sẽ bâu lại hạ gục căn cứ loài người? ...Như cái cách mà chúng từng xâm chiếm căn cứ thành phố ngầm vậy.
Lục Phong cất lời:
– Cậu bình tĩnh lại trước đã.
– Cậu tưởng ai ai cũng sống vô cảm như cậu hả?! Bản chất của con người quyết định ở chỗ biết đồng cảm, nỗi hoang mang ắt lan truyền trong cộng đồng theo cấp số nhân, giờ này mà cậu còn giữ bình tĩnh được thì chỉ tổ chứng minh sự vô cảm của cậu đã tới một cột mốc... thật đáng sợ – Tiến sĩ hít sâu dăm lượt, thi thoảng buông lời cay nghiệt sẽ giúp bạn xoa dịu cảm xúc hơn, cuối cùng trông chàng ta đã ổn định đôi chút – Cậu hãy san sẻ cho tôi cái tính này của cậu đi, mỗi khi cậu không thể tiếp tục làm việc nổi, cậu đã nghĩ về điều gì thế?
Lục Phong dửng dưng nhìn chàng ta:
– Lợi ích loài người cao hơn hết thảy.
Tiến sĩ phì cười với vẻ quẫn bách. Cười dứt, chàng ta hít một hơi thật đầy, có vẻ đã bình tĩnh hẳn, đoạn đi đến ống nuôi cấy khổng lồ đang chứa bào tử.
– Không ngờ họ lại cho rằng một cây nấm nhỏ có thể cứu vớt toàn bộ nhân loại, đây quả là câu nói nhộn nhất mà tôi từng nghe. Thực tế, cấu tạo của nó giống y xì đúc với cái thứ chúng ta hay dùng để nấu xúp nấm đấy – Tiến sĩ thuật lại rành rọt lời lẽ từ người dân ngoài kia, chàng ta như thầy giáo nghiêm khắc đang phê bình học trò đội sổ – Nghe thủng chưa hả? Nếu mày cứ vậy mãi, chẳng chóng thì chầy họ cũng biến mày thành bát xúp nấm thôi. Mày phải chủ động phô diễn điểm khác biệt của mình chứ.
Sợi nấm trắng phau run bần bật trong dịch nuôi cấy, bào tử chầm chậm chao nhẹ sang hướng có Lục Phong và áp sát vào mặt kính, chừng như làm thế có thể gần kề Lục Phong hơn vậy.
Lục Phong khẽ nạt:
– Đừng dọa nó.
– Nó hiểu, tôi cá là nó nghe hiểu những gì tôi nói. Chúng tôi đã đút cho nó chất chiết xuất từ vô vàn kiểu quái vật suốt thời gian qua, nó ăn tuốt đấy. An Chiết là một quái vật đột biến kiểu đa hình nên bào tử của oắt con nhất định cũng vậy – Tiến sĩ giải thích – Nếu như nó chả có trí khôn và nhận thức cho riêng mình, thì tuyệt đối sẽ không có chuyện lăm le đào tẩu mỗi tối hòng ngủ chung với cậu đâu.
– Thế rồi cậu đã nghiên cứu được gì chưa? – Lục Phong thoáng chau mày.
– Dù nó đã ăn ngần này gen quái vật, nhưng nó vẫn là bào tử thuở ban đầu thôi, nó luôn luôn ở mức ổn định. Những chất chiết xuất gen chưa hề biến mất, tôi đoán là nó có thể tự kiểm soát việc chuyển đổi hình thái, giống An Chiết biết biến thành người vậy – Tiến sĩ bảo – Nếu con người cũng có thứ đặc tính ấy thì khỏi lo về biến dạng nữa rồi.
– Các cậu định dùng nó tiêm nhiễm cho con người à? – Lục Phong hỏi – Không sợ nấm sẽ nuốt trọn nhận thức những người bị nhiễm ư?
– Tạm thời tôi chưa cân nhắc tới vấn đề đó – Tiến sĩ áp trán lên mặt kính – ...Điều quan trọng là cục nợ đáng ghét này vốn chẳng biết tiêm nhiễm kẻ khác, nó làm tôi thất vọng y hệt An Chiết vậy.
Đương lúc chàng ta bật thốt, bào tử lại chủ động trồi lên bề mặt chất dinh dưỡng, nó lẫm chẫm leo, kế đến trượt khỏi khe hở giữa thành ống và nắp ống nuôi cấy, sau cùng rơi tự do xuống dưới và được Lục Phong chìa tay đỡ. Nó nằm lử lả trong lòng bàn tay Lục Phong, như một bé con vô tư lự.
Tất cả cử chỉ đã chứng tỏ rằng nó thực sự là một sinh vật có nhận thức riêng.
– Nó biết di chuyển, biết suy nghĩ, nhưng nó chẳng hề sở hữu hệ thần kinh – Tiến sĩ bảo – Cậu biết điều ấy có nghĩa là gì không? Tôi là nhà sinh vật học, hiện tượng biến dạng khiến hệ thống kiến thức của các nhà vật lí học sụp đổ, còn sự tồn tại của cục bào tử này đã phá hoại hệ thống kiến thức của tôi.
Thẩm phán giả không hề hứng thú, mà cũng chẳng nhất thiết phải quan tâm vì sao một nhà sinh vật học bị hỏng kiến thức, anh nắm mớ bòng bong nấm mềm nhũn, đoạn hỏi:
– Sao An Chiết lại khiến cậu thất vọng?
– Oắt con đó đếch biết tiêm nhiễm gì sất, – Tiến sĩ lại tinh thần, buông tiếng thở dài – hai người đã chơi xếp hình rồi mà cậu vẫn còn là người, chẳng hề có dấu hiệu bị nhiễm gen, cái nết của cậu cũng không bị ảnh hưởng bởi An Chiết mà thiện lành hơn tí nào hết, oắt con và bào tử của nó không truyền nhiễm cho con người ta được.
Lục Phong ra chiều bình tĩnh nhìn chàng ta, chừng như đang có điều suy ngẫm, khi Tiến sĩ Gheer ngỡ rằng anh tính thốt ra những góp ý thật giá trị, thì tên thượng tá lại nói rằng:
– Tôi chưa xếp hình với em ấy.
Tiến sĩ sừng sộ trừng anh:
– Vậy thì cậu còn khiến tôi thất vọng hơn cả An Chiết nữa.
✰ Chương 74 ✰
Chuyển ngữ: Jane
"Bóng hình Lục Phong lại mỗi lúc một lấp đầy trong muôn giấc mộng của cậu."
***
An Chiết sực tỉnh khỏi cơn mơ êm đềm.
Trong mơ cậu chẳng có mắt, chẳng có tai, chẳng có tất thảy bộ phận dùng để nhận biết sự vật của loài người, dường như cậu đã quay về những năm tháng xa vời vợi – cái thuở cậu hãy còn cắm rễ dưới lớp đất ẩm mềm. Nhưng rồi đấy cũng nào phải lớp đất, cậu thiết tưởng mình đang ở một chốn không xa Lục Phong, bởi hơi thở của anh gần kề tới nhường này, gần hơn cả khoảng cách với cái chết.
Sau khi mở mắt ra, cậu tần ngần trông lên trần nhà xám ngắt. Bấy lâu nay cậu luôn cố dằn mình đừng nhớ về bao câu chuyện, bao con người ở căn cứ phương Bắc nữa, cậu có thể cảm nhận được kí ức đang dần phai tàn. Thi sĩ, tiến sĩ, Colin... cậu gần như đã quên sạch vẻ ngoài và phong thái ở họ, tất thảy xảy đến ở tòa thành nọ ngày càng phôi pha, thế nhưng bóng hình Lục Phong lại mỗi lúc một lấp đầy trong muôn giấc mộng của cậu.
Có vài dạo cậu choàng tỉnh, giây phút cơn mụ mẫm chưa tan, cậu tưởng chàng trai ấy đang nằm cạnh mình. Phiến lá xanh rờn là đà bên ô cửa bị bao phủ bởi băng giá trước lúc kịp héo rũ, chúng đông thành một màu trong veo lóng lánh, ngỡ như đôi mắt của Lục Phong đang dõi theo cậu vậy.
Song thoáng chốc miền rét ngọt lại lần nữa ôm trọn lấy cậu.
Ngoài cửa sổ là rặng mây bàng bạc chúc xuống đỉnh non ngàn một cách nặng trĩu, băng tuyết trắng xóa tựa hoa cây thông phủ lấp mặt đất rắn rỏi ở xứ sở ấy. Tiết đông nay đã về.
Mọi người ở viện nghiên cứu Non Cao vẫn tận tình chăm sóc cậu. Mười hôm trước cậu bỗng nhận được một đôi bao tay lông thỏ cùng chiếc khăn quàng cổ đan len, ngày nào cậu cũng quấn chặt những thứ ấm áp nọ rồi mới rời khỏi tòa nhà chính, cậu tới phòng thí nghiệm của Polly ở tòa nhà trắng ấy mà.
Lồng Simpson có lượng tiêu thụ điện rất lớn, nhưng công suất của tua bin gió vốn không cao, hằng ngày nó chỉ chạy chừng hai tiếng là cùng. Suốt quãng thời gian còn lại, Polly sẽ làm khối chuyện khác. Đôi khi lão sẽ dạy cho An Chiết vài kiến thức liên quan đến vật lý và sinh vật, chẳng hạn như vạn vật đều được hình thành từ các phân tử với nguyên tử, nguyên tử có thể chia làm electron, proton và nơ-tron, ngặt nỗi nó vẫn cách điểm cuối cùng quá xa, chưa một ai trông thấy rốt cuộc nền tảng vật chất tạo nên thế giới này tròn méo ra sao cả.
– Người mù chỉ biết vươn tay chạm vào sự vật lúc muốn cảm nhận thế giới này, song hiển nhiên những gì mà họ cảm nhận được chẳng phải toàn bộ sự vật. Vốn hiểu biết của con người về thế giới cũng bé mọn như người mù vậy, đã định sẵn chỉ được thấy khái niệm. Bọn ta có vô vàn giả thuyết, nhưng không tài nào nghiệm chứng nổi liệu nó có chính xác hay chăng – Polly cho hay.
Giây phút thốt lên câu ấy, ngọn gió bắc thét gào trên xứ cao nguyên nện thông thốc vào cửa sổ phòng thí nghiệm, gã trai Ấn Độ với nước da nâu nọ đứng dậy đi khép cửa sổ, Polly vươn tay chỉnh khăn quàng cổ của An Chiết lên chút đỉnh.
Khăn quàng cổ che kín cả cổ An Chiết, cậu rúc trong lớp vải ấm mềm hỏi Polly:
– Ông không lạnh hở?
– Già cả rồi, thân thể nó chai lì cháu ạ – Polly nhìn An Chiết bằng cặp mắt lam xám hiền hòa, An Chiết dễ bề nom thấy cái bóng của mình trong mắt lão – quấn thành một cục trăng trắng tròn tròn. Song chưa ngó đặng bao lâu cậu lại gục đầu ho sù sụ, thời tiết lạnh ngần ấy nhưng phổi cậu lại như ngụt cháy hừng hực vậy, nó đớn đau khôn cùng.
Polly vỗ tấm lưng cậu, đưa cốc nước nóng đặt trên bàn cho cậu.
– Còn thuốc kháng sinh không? – Lão hỏi gã trai Ấn Độ tên Rum nọ.
– Còn một ít ạ.
An Chiết ho xong bèn run lập cập uống hết thuốc, cậu thấy lạnh quá, dẫu lò sưởi trong phòng hãy còn bập bùng ánh lửa.
– Ta chẳng tìm được nguyên nhân gây bệnh, – Polly lau sạch mồ hôi lạnh vã lấm tấm trên trán cậu, cặp mắt lam xám không nén nổi vẻ xót xa, khẽ khàng lão nói – nơi đây chả có máy móc tiên tiến nào cả... Xin lỗi cháu.
An Chiết lắc đầu:
– Không sao đâu mà.
Polly nói, sự hiểu biết của con người về thế giới này vĩnh viễn bé mọn, lắm khi cậu cũng nghĩ những gì mình biết về con người chỉ là khái niệm mà thôi. Dạo trước cậu trở lại Vực Thẳm, cậu chẳng hề mong chờ sẽ tiếp tục được con người đối xử như vầy.
Ví như Polly, lão không phải là chuyên gia về lĩnh vực điều trị, nhưng lão lại bắt đầu đọc các văn hiến y học trong kho số liệu kể từ lúc sức khỏe An Chiết ngày càng suy yếu, Rum cũng giúp sức kiểm tra tài liệu. Và có vài dạo An Chiết sẽ cảm thấy áy náy trước lòng tốt của họ, bởi cậu nào phải con người, tưởng chừng bao điều tốt đẹp này là nhờ trộm được khi khoác lớp da người. Cậu bắt đầu canh cánh về việc mình sẽ lộ nguyên hình vào ngày mà mình chết.
Cậu từng khuyên Polly rằng chớ nên lãng phí ngần ấy công sức, thời điểm đó Polly đang áp mu bàn tay lên trán cậu xem nhiệt độ, lão khẽ đáp:
– Cháu như con của ta vậy.
Khi Polly rời đi, cậu bèn hỏi Rum một cách vòng vo, hỏi sao ông Polly lại tốt với em vậy nhỉ?
Rum bảo, ngài ấy yêu tất cả mọi người nơi đây.
– Hồi mới đến viện nghiên cứu, nửa cơ thể của tôi đã mốc meo hoại tử hết rồi, hồi đó tôi cũng chả còn tỉnh táo nữa – Rum cuốn ống quần lên, trên bắp chân cường tráng của gã nhằng nhịt những vết sẹo dữ tợn và phình to tựa con giun, gã trai luôn lầm lì nói cả câu dài – Ngài ấy đã chữa trị cho tôi suốt nửa năm trời mà chẳng màng ngày đêm, tôi vốn chưa bao giờ tin sẽ có một người như thế trên cõi đời này.
Gã nói tiếp:
– Trước kia tôi chả phải kẻ tốt lành gì cho cam, thời làm lính đánh thuê còn hãm hại đồng đội đấy, hiện tại tôi cứu ba đồng bào về đây xem như chuộc tội. Cảm giác làm người tốt vui phết, và làm người thì cũng vui hơn thuở làm quái vật nhiều. Ai ai tại viện nghiên cứu cũng giống tôi thôi, không ai là không kính mến ngài Polly cả.
An Chiết nhớ rõ khoảnh khắc đó cậu bất giác hoài niệm Lục Phong, một sự liên tưởng thật khó hiểu xiết bao. Cậu nghĩ, chẳng rõ giờ Lục Phong ra sao rồi nhỉ. Chốc sau cậu lại lắc đầu lia lịa, cậu phải xua đuổi bóng hình của đồ đáng ghét khác hẳn với Polly ra khỏi tâm trí mình.
Rum là một người yêu âm nhạc nghiệp dư, gã thường nhìn bản nhạc nhàu nát để tập thổi kèn ác-mô-ni-ca, thi thoảng cũng dạy cho An Chiết vài điều nữa, những giai điệu ấy êm tai phải biết. Song Rum bảo con người từng sở hữu nhiều loại nhạc cụ tuyệt vời hơn kèn ác-mô-ni-ca gấp trăm ngàn lần, chúng có thể cho ra một bản giao hưởng hoành tráng với biết bao đắm say khi kết hợp cùng nhau.
Lúc nhắc tới điều đó, Polly bèn đi tới chỗ họ mở miệng trêu:
– Nếu Rum sinh sớm hơn một trăm năm, thể nào nó cũng là nhà soạn nhạc tài ba cho coi.
Rum, gã trai thuộc mẫu người hướng nội, nghe vậy bèn phì cười. Kế đến gã lấy một chiếc đài radio cũ rích ra, lật cuộn băng lại rồi nhấn nút chạy, chiếc máy hoen gỉ nọ sẽ vẳng lên những tiếng nhạc du dương hoặc sôi động, ấy là giai điệu phát ra từ muôn vàn loại nhạc cụ và chúng đều có âm sắc lẫn nhịp điệu của riêng mình, những âm sắc cùng nhịp điệu nọ lẫn quyện vào nhau tạo nên khúc ngân vang tựa ngọn sóng xô bờ. Bản nhạc vọng từng tràng miên man ở phòng thí nghiệm bập bùng lửa than. Dưới tòa nhà trắng, một người với cánh tay trái biến thành chân thú vẫy vẫy sang hướng bên này, Rum bèn treo đài radio ra ngoài lan can, đoạn vặn to âm lượng.
Âm thanh sắc nét dịu êm lách qua cửa kính phủ đầy băng tuyết, lời giới thiệu cất lên trước khi nhạc trong cuộn băng được phát, đây là "Bản xô-nat mùa xuân" của Beethoven. An Chiết chống cằm lắng nghe, mùa xuân nơi Vực Thẳm cũng đẹp đẽ biết mấy, nhưng cậu sẽ không bao giờ có thể nhìn ngắm nó nữa.
...Chính giây phút này, cậu bỗng nghe thấy tin nhắn đến từ căn cứ phương bắc.
Kênh liên lạc luôn im phăng phắc suốt bấy lâu nay chợt lóe sắc đỏ, trên danh sách liên lạc chỉ có độc một đối tượng vô danh.
An Chiết mở giao diện liên lạc lên, tin nhắn đến từ đối tượng vô danh nọ vỏn vẹn hai dòng chữ độ mười mấy kí tự.
"Mùa đông đã cập bến."
"Quái vật có hành vi khác thường, xin hãy cẩn thận."
An Chiết phóng to chữ ra, cậu ngoảnh đầu ngó Polly:
– Ông ơi.
– Tin từ Tiến sĩ Gheer ở căn cứ phương Bắc đấy, – Polly bảo – chỉ có nó là ngấm ngầm liên hệ với ta suốt bao năm qua thôi.
Ba chữ "Tiến sĩ Gheer" khiến An Chiết thoáng ngẩn người, cậu hỏi:
– Cần trả lời không ông?
– Trả lời chứ, – Polly dịu dàng nói – cháu trả lời thay ta đi.
*
Căn cứ phương Bắc.
Kênh liên lạc nhấp nháy, hồi âm đến từ Viện Nghiên cứu Non Cao.
"Nhận được rồi ạ."
"Cảm ơn vì lời nhắc nhở, căn cứ cũng nhớ chú ý an toàn nhé."
Tiến sĩ đi ngang qua, đoạn nhìn màn hình liên lạc. Chàng ta cất tiếng:
– Ái chà chà, Thượng tá Lục ới – Giọng chàng ta hí ha hí hửng – Ai mà ngờ thẩm phán giả lại dám làm chuyện như này nhở. Trông vậy mà còn sống có lương tâm đáo để.
Ánh mắt Lục Phong bình tĩnh, nhìn đăm đăm dòng chữ trên màn hình.
– Ai đang trả lời ở bên kia thế? – Anh hỏi.
– Là người mà cậu chắc chắn không ngờ tới – Tiến sĩ Gheer thốt lên – Polly Jean đó.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co