Truyen3h.Co

Tin Hang Hai

HCM 0123

valentine988

Câu 1: Vì sao Nguyễn Ái Quốc lại chọn con đường cách mạng vô sản?

Những năm đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam đứng trước những thách thức mới, đó là tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Con đường phong kiến, khuynh hướng tư sản từng bước dẫn dắt phong trào cách mạng nước ta đi lên nhưng cuối cùng đều thất bại. Đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản. Vậy, vì sao Bác lại lựa chọn con đường đó?

Bằng những hoạt động thực tiễn của mình Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận thức về cách mạng thế giới và những con đường cứu nước, từ đó Bác lựa chọn con đường đúng đắn cho dân tộc ta.

Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước. Người dã bôn ba khắp năm châu, và bước đầu có những nhận thức về bạn và thù(trích dẫn câu nói của bác). Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, chủ nghĩa Mác – Lê nin đã trở thành hiện thực, đồng thời mở ra một thời đại mới “ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc”. Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng trong việc giải phóng các dân tộc bị áp bức. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân Châu Á tỉnh giấc mê hàng thế kỷ nay”. Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga và những chính sách tiến bộ của nó thực sự đem lại lợi ích cho đông đảo quần chúng nhân dân. Nó chứng tỏ được sự tiến bộ của hình thức cách mạng này.

Trong khi đó, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc đã để lại những hậu quả vô cùng nặng nề. Loài người căm gét chiến tranh. Trong khi đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga thực sự đem lại hòa bình tự do cho con người.

Từ những nhận thực đó Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu tin theo Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. Người đã có những nhận thức hết sức đúng đắn:

Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của các cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu như Cách mạng Mỹ (1776), cách mạng Pháp (1789)… nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản. Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thật sự cho nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.(trích dẫn câu nói). Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tìm hiểu cách mạng tháng mười nga 1917. Người rút ra kết luận: “ trong thế giới bấy giờ chỉ có Cách mệnh Nga là thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”.

Việc Bác lựa chọn con đường cách mạng vô sản cũng xuất phát từ tình hình của cách mạng nước ta lúc đó, cũng như từ yêu cầu của cách mạng

Là nước thuộc địa nửa phong kiến, chịu ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp. Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, đồng thời cấu kết với giai cấp địa chủ trong việc bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam. Mặc dù nền kinh tế có những chuyển nhưng về cơ bản vẫn là nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn, què quặt, lệ thuộc vào Pháp. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đời sống của nhân dân lao động hết sức khốn khổ. Xã hội phân hóa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và bọn tay sai lên đến đỉnh điểm.

Yêu cầu của cách mạng lúc này là phải giải quyết hai nhiệm vụ cách mạng, đó là: Nhiệm vụ dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân pháp, giành lại độc lập cho dân tộc. Và nhiệm vụ dân chủ nhằm đánh đổ chế độ phong kiến đem lại ruộng đất cho nông dân. Trong hai nhiệm vụ trên, nhiệm vụ dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng nhất. Con đường giải phóng dân tộc phải thực hiện được cả hai nhiệm vụ đó.

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam càng thôi thúc Người tìm ra con đường đấu tranh mới. Trước sự xâm lược của thực dân pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ. Tiêu biểu là phong trào cần vương theo con đường phong kiến, hoạt động của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh theo khuynh hướng tư sản. Các hoạt động yêu nước diễn ra manh mẽ nhưng cuối cùng đều thất bại. Những con đường đó không đáp ứng được yêu cẩu của cuộc cách mạng, yêu cầu cần có con đường giải phóng dân tộc mới

Vào tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê nin đăng trên báo nhân đạo. người tìm thấy trong luận cương của Lê Nin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam;về vấn đề thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới… Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lê nin.

Tại Đại Hội Đảng Xã hội Pháp ( tháng 2 – 1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng Sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của người – từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Việc lựa chọn con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc cũng xuất phát từ tấm lòng yêu quê hương, đất nước vô bờ, với sự quyết tâm tìm ra con đường cứu nước cao cả, tất cả trở thành động lực, hun đún thành ngọn lửa cứu nước, và bằng tài năng mẫn cảm chính trị của mình cũng như những hoạt động miệt mài, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng cho cả dân tộc.

Như vậy Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường giải phóng dân tộc cho nhân dân Việt Nam. Và thực tế lịch sử đã chứng minh sự lựa chọn đúng đắn đó. Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam thành lập, đánh dấu sự thắng lợi của khuynh hướng cách mạng vô sản. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, thắng lợi cuộc khangs chiến chống pháp (1954) và kháng chiến chống Mỹ (1975) cũng như thắng lợi của công cuộc Đổi mới hiện nay càng chứng tỏ hướng đi đúng đắn của dân tộc và người có vai trò quan trọng nhất trong việc tìm ra và đặt nền tảng cho cách mạng Việt Nam không ai khác, đó là Nguyễn Ai Quốc – Hồ Chí Minh vĩ đại

Nghị quyết của Đảng đã xác định "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội". Văn hoá đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc.

Thực hiện "Xây dựng và phát triển nền  văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" bằng giải pháp phát động phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đừi sống văn hoá". Đây là phong trào kế tục kết quả của nhiều cuộc vận động và các phong trào thi đua yêu nước trước đây, đã và đang là phong trào rộng lớn thu hút được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và sự hưởng ứng tham gia của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

Nhận thức rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của phong trào trong  đời sống xã hội, nhìn lại chăng đường 10 năm qua, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" ở tỉnh ta có những bước phát triển mạnh về số lượng, chất lượng và thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, đã khai thác và phát huy được giá trị văn hoá truyền thống, đạo lý dân tộc góp phần quan trọng trong việc xây dựng cộng đồng dân cư ổn định về chính trị, an ninh trật tự được đảm bảo, kinh tế-xã hội phát triển, từng bước hình thành đời sống văn hoá lành mạnh, phong phú.

Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã có ảnh hưởng nhiều tới đời sống vật chất và tinh thần của từng gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư và tác động đến nhân cách của mỗi con người. Để đảm bảo cho mỗi gia đình, mỗi cộng đồng dân cư có một môi trường văn hoá lành mạnh, chúng ta cần duy trì và thực hiện tốt phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" bằng những phong trào cụ thể như : Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến, làng, khu phố văn hoá, cơ quan, đơn vị văn hoá, thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Phát huy truyền thống là nơi khởi nguồn của phong trào xây dựng gia đình văn hoá của những năm 60 của thế kỷ trước, đến nay toàn tỉnh có 225.000 gia đình văn hóa (đạt 85%); 3.855 gia đình được công nhận danh hiệu “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền”, 11.831 gia đình được khen thưởng. Nhiều gia đình là tấm gương tiêu biểu đáng được học tập trong việc nuôi dạy con cái, phát triển kinh tế gia đình… như: 6 gia đình văn hóa đầu tiên của tỉnh ở thôn Ngọc Tỉnh xã Ngọc Long huyện Yên Mỹ vẫn giữ vững được danh hiệu gia đình văn hóa, gia đình ông Trần Minh Chuật, xã Quang Hưng, huyện Phù Cừ, gia đình bà Nguyễn Thị Hồi xã Đại Hưng, huyện Khoái Châu, gia đình ông Hoàng Văn Phan (Yên Mỹ), gia đình ông Hoàng Thế Qua (Ân Thi)… Phong trào xây dựng khu dân cư tiến tiến, làng văn hoá, khu phố văn hoá, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội ngày càng có những bước phát triển vững chắc. Đây là cơ sở để có được một xã hội ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, lành mạnh về văn hoá. Đến nay, toàn tỉnh đã có 923/963 khu dân cư tiên tiến (đạt 95,84%), 606 làng văn hoá đạt 72%. Có 66 xã trên địa bàn tỉnh có 100% làng văn hoá; có 693/778 (đạt 89,07%) cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu văn hoá. Nhiều làng văn hoá tiêu biểu như: Làng Lỗ Xá, xã Nhân Hoà, huyện Mỹ Hào; làng Thiết Trụ, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, Làng Mễ Đậu, xã Việt Hưng, huyện Văn Lâm… Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội được thực hiện tốt. Toàn tỉnh đã tổ chức được 2.500 buổi toạ đàm, diễn đàn, hội thảo sinh hoạt chuyên đề về “cưới vui, tiết kiệm trong thanh niên”; tổ chức cho 36.572 lượt cán bộ, ĐVTN ký cam kết tham gia thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, có trên 5.300 đám cưới thực hiện “cưới vui, tiết kiệm”. Tiêu biểu là ở các huyện Phù Cừ, Khoái Châu, Kim Động. Việc tang dần đi vào nền nếp, nhiều địa phương quy hoạch được nghĩa trang nhân dân và được coi là công trình văn hoá. Lễ hội được tổ chức trang trọng, thực hiện tốt các quy định của Trung ương, của tỉnh. Nạn cờ bạc, bói toán, mê tín dị đoan tại lễ hội dần được loại bỏ.

10 năm qua, phong trào học tập, lao động, sáng tạo, thi đua yêu nước được các ban, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng. Toàn tỉnh đã biểu dương, khen thưởng 175 gia đình văn hóa tiêu biểu ở 10 huyện, thành phố; 96 làng, khu phố xuất sắc tiêu biểu; Toàn tỉnh có 258 nghìn lượt CNVCLĐ được bình xét lao động tiên tiến, 12.917 lượt chiến sỹ thi đua các cấp... Phong trào thi đua “giỏi việc nước, đảm việc nhà” đã được CNVCLĐ tham gia nhiệt tình, có 23.813 lượt chị đạt danh hiệu “hai giỏi” cấp tỉnh và cấp Trung ương, 6.762 chị đạt chiến sỹ thi đua các cấp, trong đó có 24 chị đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp tỉnh và Trung ương, 15 chị được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng Hai và Ba, Chính phủ tặng bằng khen; 07 chị được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, thày thuốc ưu tú; có hàng nghìn giáo viên dạy giỏi; hàng nghìn chiến sỹ thi đua, lao động giỏi ở các ngành, các địa phương…. Toàn tỉnh có 105 đề tài nghiên cứu khoa học và gần 15.000 sáng kiến kinh nghiệm của cán bộ, công nhân, viên chức lao động tham gia, có giá trị làm lợi hàng trăm tỷ đồng đã được Hội đồng khoa học các cấp công nhận. Toàn tỉnh năm 2009 đã có 153 trường đạt chuẩn quốc gia, học sinh giỏi quốc gia đạt 39 giải (trong đó có 2 em đạt giải nhất môn Hoá học và tin học, một em đạt giải ba hoá quốc tế)...

Với tinh thần tương thân, tương ái, uống nước nhớ nguồn, phong trào xóa đói giảm nghèo, nhân đạo từ thiện được các ngành, các cấp đặt biệt quan tâm chăm lo và đã thu được nhiều kết quả có ý nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng. Toàn tỉnh đã trợ cấp cho 83.639 khẩu thuộc hộ nghèo trong tỉnh với số tiền 16.727.800.000 đồng; cấp 130.765 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo với kinh phí 78.197 triệu đồng…Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm 2%, đến nay tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 3%. Toàn tỉnh đã quyên góp ủng hộ xây dựng quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”  được 23,5 tỷ đồng; xây mới 50 nhà, sửa chữa, nâng cấp 60 nhà tình nghĩa; tu sửa, ủng hộ 50 nghĩa trang, nhà tưởng niệm liệt sỹ; tặng sổ tiết kiệm cho hàng trăm thương binh, gia đình liệt sỹ. Đến 30/4/2005, đã xoá nhà tranh tre vách đất cho các hộ nghèo trên địa bàn tỉnh...

Các công trình kiến trúc văn hoá được đầu tư khang trang, đáp ứng nhu cầu hội họp, sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, câu lạc bộ sở thích của nhân dân các địa phương. Toàn tỉnh có 133/161 xã, phường, thị trấn có nhà văn hoá kiêm hội trường, đạt 82,6%, 640/840 thôn, làng, khu phố có nhà văn hoá, địa điểm sinh hoạt, đạt 76,1%. Nhiều địa phương xây dựng được nhà văn hoá cao tầng khang trang, sạch đẹp như các thôn thuộc xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, thôn Thiết Trụ, xã Bình Minh, thôn Đình Dù, xã Đình Dù, Thôn Như Quỳnh, Thị trấn Như quỳnh (Văn Lâm)…. Chất lượng các hoạt động văn hoá, văn nghệ được nâng cao. Công tác xã hội hoá được đẩy mạnh, mỗi năm huy động được hàng chục tỷ đồng cho việc tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, xây dựng nhà văn hoá thôn, làng, khu phố, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá.

Bên cạnh đó, còn nhiều phong trào thi đua yêu nước của các cấp, các ngành đoàn thể được triển khai lồng ghép vào các hoạt động thường xuyên của đơn vị.

10 năm qua, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" của tỉnh đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, tạo ra những bước chuyển biến mạnh mẽ từ trong ý thức của mỗi người dân, song vẫn còn một số hạn chế, tồn tại cần khắc phục như: hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào các cấp còn chưa thường xuyên, chưa có chương trình kế hoạch cụ thể; sự phối kết hợp của các ban, ngành, đoàn thể trong việc thực hiện phong trào chưa chặt chẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động phong trào ở một số địa phương còn yếu; việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội tuy có những chuyển biến tích cực song tình trạng ăn uống tràn lan chưa loại bỏ được triệt để, đặc biệt hiện nay có sự gia tăng trong việc tổ chức đám cưới của một bộ phận cán bộ có chức, có quyền; các hoạt động văn hoá văn nghệ chưa thực sự phong phú, hấp dẫn và lôi cuốn sự tham gia của người dân, nhất là giới trẻ, dẫn đến tình trạng một bộ phận thanh thiếu niên xa ngã vào những trò chơi cũng như tham gia các hoạt động văn hoá thiếu lành mạnh; các thiết chế văn hoá, thể dục thể thao hoạt động chưa có hiệu quả; một số cán bộ làm công tác phong trào thiếu nhiệt tình, trách nhiệm. Việc huy động nguồn xã hội hoá cho các hoạt động của phong trào còn ít. Việc đầu tư kinh phí từ nguồn ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp nên hiệu quả của một số phong trào chưa cao.

Để đẩy mạnh chất lượng phong trào trong thời gian tới, Ban chỉ đạo các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát phong trào hơn nữa; tiếp tục nâng cao nhận thức của người dân về phong trào bằng các hình thức tuyên truyền, cổ động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, sinh hoạt các loại hình câu lạc bộ... Chú trọng chất lượng, hiệu quả của các phong trào nòng cốt như: phong trào xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư tiên tiến, làng, khu phố, cơ quan, đơn vị văn hoá, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Thực hiện lồng ghép các hoạt động của phong trào TDĐKXDĐSVH với các phong trào thi đua yêu nước của các cấp, các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở. Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá, nhất là ở cơ sở. Tập trung xây dựng thiết chế văn hoá, khu vui chơi cho thanh thiếu nhi và tổ chức có hiệu phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao phù hợp với từng địa phương, tạo cho người dân được phát huy khả năng sáng tạo cũng như được hưởng thụ các giá trị văn hoá tinh thần. Chú trọng việc kiểm tra thực hiện phong trào ở các địa phương cơ sở trong tỉnh. Thường xuyên sơ kết, tổng kết nêu gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến rút ra những bài học kinh nghiệm dể tiếp tục thúc đẩy phong trào.

Việc thực hiện tốt phong trào thi đua “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” góp phần tích cực vào tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng tỉnh nhà thành tỉnh mạnh trong cả nước.

Phong trào sâu rộng từ Trung ương đến địa phương

10 năm qua, phong trào TDĐKXDĐSVH đã thực sự đi vào đời sống, trở thành một phong trào thi đua yêu nước rộng lớn của quần chúng, ngày càng phát triển mạnh mẽ, mang lại những thành tựu to lớn, toàn diện và sâu sắc, khẳng định sự đúng đắn trong chủ trương của Đảng.

Kể từ khi phát động đến nay, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện và nâng cao chất lượng phong trào, để các nội dung thấm sâu vào mọi tầng lớp xã hội, tạo sự chuyển biến tích cực trong tư tưởng, đạo đức, lối sống và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Sau Hội nghị toàn quốc tổng kết 5 năm thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH giai đoạn 2000 – 2005, BCĐTW đã tiếp tục cụ thể hóa và bổ sung thêm một số nội dung và giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào TDĐKXDĐSVH giai đoạn 2006 – 2010 với mục tiêu: 80% gia đình được công nhận Gia đình văn hoá; 70% số làng (thôn, ấp, bản…) có nhà văn hoá, sân thể thao tổ chức hoạt động có hiệu quả; 80% số xã, phường, thị trấn có thiết chế văn hoá thông tin đạt chuẩn quốc gia; 80% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp… đạt chuẩn văn hoá.

Trong khi đó, các cấp ủy Đảng, chính quyền ở các địa phương đã tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh chất lượng phong trào, nhất là phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về mục đích, yêu cầu, nội dung và tiêu chí của phong trào. Hàng vạn cuộc vận động trên cả nước đã diễn ra, hơn 500 tài liệu nghiệp vụ, mở trên 1000 lớp tập huấn cho hơn 150.000 lượt cán bộ văn hóa cơ sở về phong trào TDĐKXDĐSVH. Đồng thời tổ chức các hội nghị sơ kết, tổng kết, triển khai phong trào nhằm kịp thời động viên, khen thưởng, tuyên dương những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện phong trào. Sau 10 năm triển khai, phong trào TDĐKXDĐSVH  đã phát triển đều khắp và lan tỏa đến các cơ sở, nhiều mô hình mới, nhiều giải pháp hay từ thực tiễn được nhân rộng. Thông qua phong trào đã góp phần đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương, từng bước xây dựng đạo đức, lối sống trong nhân dân; tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi...

Có thể nói, đây là một phong trào có quy mô lớn cả về bề rộng và chiều sâu. Nhiều chính sách văn hóa được ban hành và thực hiện có hiệu quả; mức đầu tư ngân sách Nhà nước ở các cấp cho xây dựng đời sống văn hóa đều tăng. Các ngành, đoàn thể trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, cơ sở đều vào cuộc thực hiện phong trào.

Những kết quả đạt được

Phong trào TDĐKXDĐSVH được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể quan tâm, chỉ đạo và tạo điều kiện; được các tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng mạnh mẽ, nên đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Phong trào “Người tốt, việc tốt”: Công tác biểu dương “Người tốt, việc tốt” tạo nên những tấm gương sáng, cổ vũ mọi người tham gia phong trào TDĐKXDĐSVH. Đã có 1,2 triệu “người tốt, việc tốt”, trong đó, ở cấp tỉnh có trên 249.000 người, cấp huyện có 239.000 người và cấp xã là 712.000 người vinh dự được suy tôn. Đây được xem là phong trào góp phần xây dựng con người về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống lành mạnh, có ý chí vươn lên thoát nghèo; tạo hạt nhân tích cực xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng văn hóa – xã hội ở khu dân cư; có tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ mọi người.

Phong trào xây dựng gia đình văn hóa: Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động xây dựng gia đình văn hóa, tổ chức tốt việc bình bầu nên chất lượng gia đình văn hóa ở đa số các địa phương đã được nâng lên. Tính đến nay, cả nước đã có 16 triệu gia đình được công nhận “gia đình văn hóa” (đạt tỷ lệ 70,8%), có 58.284/86.761 làng (thôn, ấp, bản, buôn, tổ dân số…) văn hóa được công nhận. Đã có trên 16.000 gia đình văn hóa làm giàu từ sản xuất nông nghiệp hàng hóa, tạo việc làm cho hàng vạn lao động ở nông thôn góp phần ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế.

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội: Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội đã có những chuyển biến đáng kể. Các thủ tục trong việc cưới, hỏi được đơn giản nhưng vẫn đảm bảo chu đáo, phù hợp với thuần phong, mỹ tục và điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, địa phương. Nếu như việc tổ chức đám cưới đang dần được tiết kiệm bằng những hình thức báo hỷ, giảm lượng khách mời, thay tiệc mặn bằng tiệc ngọt, tổ chức đám cưới tập thể…; thì việc tang lễ ở các địa phương lại được tổ chức một cách nghiêm túc, tuân thủ, đảm bảo các quy định về vệ sinh môi trường và trật tự an toàn xã hội. Hoạt động lễ hội gắn với phát triển du lịch, giao lưu và trùng tu, tôn tạo di tích – lịch sử văn hóa, nạn cờ bạc, cá độ giảm 60%, hoạt động mê tín, dị đoan giảm 59%, tổ chức tràn lan, lãng phí giảm 47%. Ngoài ra, nhờ đẩy mạnh thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH mà truyền thống đoàn kết và đạo lý dân tộc đã được phát huy…

Nhằm tiếp tục phát triển sâu rộng hơn nữa phong trào TDĐKXDĐSVH, Bộ VHTT&DL cũng đã phối hợp với các cơ quan chức năng đề ra chương trình hành động cho giai đoạn 2011 – 2015. Theo đó, phấn đấu đến năm 2015 sẽ có 70% gia đình được công nhận và giữ vững danh hiệu “Gia đình văn hoá”; 60% làng, thôn, ấp, bản...; tổ dân phố, khu phố, cụm dân cư... được công nhận và giữ vững danh hiệu “Làng văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”; 70% đơn vị (cơ quan, công sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, Công an nhân dân...), đạt chuẩn văn hóa; 10% xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và 30% trở lên người dân tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên.

Giải quyết vấn đề hàng rong tại TPHCM: Cần xây dựng chính sách việc làm phù hợp với phát triển đô thị

Để giải quyết vấn đề bán hàng rong và một số loại công việc ít nhiều làm ảnh hưởng đến trật tự đô thị và mỹ quan thành phố (TP), tôi xin đề xuất một số ý kiến:

- TP cần nghiên cứu xây dựng một chương trình về việc làm và chính sách việc làm đảm bảo phát triển đô thị và trật tự đô thị giai đoạn 2009-2015. Trước mắt, cần tăng cường một số giải pháp quản lý và hỗ trợ đối với những người đang làm công việc này, cụ thể:

Tổ chức khảo sát thực trạng lao động tự do (trong đó có bán hàng rong) tại khu vực nội thành. Có thể thí điểm trước tại quận 1, quận 3, quận 10 để hiểu rõ đặc điểm, hoàn cảnh, nguyện vọng, nhu cầu hỗ trợ về công việc làm hoặc đào tạo nghề cho người lao động chuyển đổi nghề phù hợp yêu cầu thị trường lao động.

Có chính sách hỗ trợ vốn đặc biệt ưu đãi đối với các dự án của tập thể, cá nhân người lao động bán hàng rong ở khu vực nội thành thực hiện việc chuyển nghề tự do sang nghề nghiệp ổn định trong các cơ sở sản xuất kinh doanh, các khu công nghiệp, khu chế xuất TP hoặc chuyển việc nội thành ra vùng ven và ngoại thành.

Tổ chức các chương trình thông tin thị trường lao động, tư vấn giới thiệu việc làm theo địa bàn phường giúp người lao động tìm hiểu, chuyển đổi công việc phù hợp.

- Trong phạm vi chức năng của Trung tâm Giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động – Thương binh Xã hội TP, hiện nay trung tâm cũng thường xuyên phối hợp với phòng lao động TBXH, các ban xóa đói giảm nghèo của các quận, huyện để hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người lao động có nhu cầu chuyển đổi nghề, đặc biệt trong 2 năm 2007 - 2008, trung tâm đã phối hợp với các hội phụ nữ quận nội thành tư vấn về kỹ năng tự tạo việc làm, thông tin thị trường lao động cho trên 3.000 người buôn bán tự do. Thời gian tới, để nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ giữa người lao động chuyển đổi nghề, trung tâm có thể tham gia những công việc như:

Phối hợp với các cơ quan chức năng và các trung tâm giới thiệu việc làm thuộc hệ thống Nhà nước thực hiện công tác khảo sát nhu cầu việc làm, chuyển nghề, nhu cầu vay vốn của người lao động.

Thông tin thị trường lao động, ngành nghề của TP phù hợp với điều kiện, sở trường của người lao động cần chuyển đổi việc làm.

Tư vấn việc làm, giới thiệu việc làm bằng các hoạt động chuyên đề theo từng phường, xã. Thực hiện tổ chức các hoạt động giao dịch việc làm giữa doanh nghiệp và người lao động trực tiếp tại phường, xã.

Tư vấn đào tạo cho người lao động có nhu cầu chuyển đổi nghề về kỹ năng tự tổ chức việc làm ổn định, kỹ năng tìm việc làm ổn định phù hợp phát triển thị trường lao động TP.

Phối hợp với các trung tâm giới thiệu việc làm các tỉnh để thông tin việc làm của địa phương, giới thiệu việc làm cho những người nhập cư đang làm việc tại TP có nguyện vọng và điều kiện trở lại quê hương làm việc sinh sống ổn định.

- Phải làm thế nào để có một nếp văn minh thương mại, hạn chế hoạt động “kinh tế vỉa hè” thưa bà?

- Cần tổ chức những con đường, khu vực theo ô phố - đặc thù quy hoạch đô thị, như các tuyến phố văn minh thương mại ở Hà Nội để duy trì và phát triển “kinh tế vỉa hè”, vừa giải quyết nhu cầu sinh sống của người bán, người mua, vừa đảm bảo mỹ quan, trật tự đô thị và có thể khai thác, bảo tồn “văn hóa vỉa hè” như một di sản văn hóa phi vật thể. Tăng cường mạng lưới cửa hàng nhỏ lẻ, siêu thị mini trong các khu vực tập trung dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất… từ đó quy hoạch, cơ cấu lại cho những con phố khang trang sạch đẹp hơn, từng bước hạn chế “kinh tế vỉa hè” và hình thành nên thói quen văn minh đô thị, mua bán hàng hóa trong các trung tâm thương mại đảm bảo chất lượng, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm.  

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co