Truyen3h.Co

Tro tàn _ [MARHOON]

Ngờ đâu đôi lứa thiếu niên

xxxlorizzz

Con đường đất ngoằn ngoèo dẫn ra khỏi làng. Nó phải đi bộ suốt ba ngày để lên đến tỉnh, rồi tốn tận một tháng để bắt xe đi vào miền trong. Đó là một vùng đất xa lạ, nóng bức và ẩm ướt khác hẳn Bắc Kỳ.

Đồn điền rộng mênh mông. Hàng ngàn cây cao su thẳng tắp đứng san sát như một đội quân im lặng, cao vút che khuất cả bầu trời. Không khí nặng mùi nhựa sống và lá mục. Chủ đồn là người Pháp, quản lý trực tiếp là người Hoa kiều và vài cai người Việt. Họ tuyển phu dịch từ khắp nơi, hứa hẹn cơm no áo ấm, nhưng thực tế hoàn toàn khác.

Ngày làm việc bắt đầu từ 4 giờ sáng, khi sương còn dày đặc. Đình được phát một con dao cạo mủ sắc bén. Công việc chính của nó là cạo mủ cao su. Mỗi cây phải cạo đúng kỹ thuật, sâu vừa phải, không được để nhựa chảy quá nhiều cũng không được cạo nông, dòng nhựa sẽ đứt đoạn. Những ngày đầu tay còn run, vỏ cây khó cắt, có khi nó còn tự cắt vào tay mình, để lại những vết cắt sâu hoắm. Tuy vậy thì dần dần rồi cũng quen với nhịp độ. Mủ trắng đục chảy ra từng dòng, đựng vào những chiếc chén gắn trên thân cây. Sau đó là vác những thùng mủ nặng trĩu về trạm tập kết.

Cực nhọc nhất là lao động ban ngày: đào hố, vác gỗ, dọn rừng. Đất đỏ bazan dính như keo, trộn với mưa rừng thành bùn lầy. Chân tay nó lúc nào cũng bê bết bùn đất và nhựa đen. Da nó sạm lại, lưng oằn xuống dưới sức nặng. Ban đêm, công nhân nằm la liệt trong những căn lán tranh vách lá. Không giường, chỉ có những tấm chiếu rách trải trên nền đất đá, nằm vừa ẩm ướt vừa cộm lưng. Mùi mồ hôi, mùi nhựa, mùi máu và mùi sợ hãi hòa quyện thành một thứ không khí ngột ngạt đến tột cùng.

Đến mùa mưa thì lại càng ác mộng, bởi khi đó dịch sốt rét hoành hành. Nhiều người nằm một chỗ rồi không dậy nữa. Có người ho ra máu, người khác sốt mê man, sáng hôm sau chỗ nằm chỉ còn một cái xác vô hồn, trống rỗng. Cai quản lý chỉ việc kéo xác ra rừng chôn, không một lời thương xót.

May sao Đình không dính bệnh. Nó cứ im lặng mà làm việc, chẳng than vãn gì. Nhưng mỗi khi đêm về, khi nằm trong lán tối om, nỗi nhớ mới thực sự hành hạ nó. Nó nhớ con sông Đìa cạn nước, nhớ hàng dâm bụt đỏ, nhớ người mẹ dù ốm vẫn không nguôi lo cho nó, nhớ bàn tay gầy guộc và khuôn mặt của Huân, nhớ tiếng đọc chữ ê a ngày nào.

Thỉnh thoảng, Đình viết thư. Nhưng thư gửi về rất chậm, đôi khi phải mất hàng tháng mới tới. Vậy nên dần dần, nó cũng chẳng gửi nữa.

Ba năm trôi qua như một giấc mơ dài nặng nề. Một buổi sáng, cai thầu gọi tên Đình "Mãn hạn! Mày được về."

Đình đứng ngẩn ra một lúc, như không tin vào tai mình. Ba năm trời lao động cật lực, nó gầy rộc đi, da dẻ đen sạm như gỗ mun. Nó run rẩy cất tiếng thưa "Vậy thưa ông... tiền công của con thì sao ạ?"

Tên cai quắc mắt nhìn nó "Mày chờ được ba năm chẳng lẽ không chờ được mấy ngày? Chẳng lẽ ông đây còn phải đớp dăm ba đồng bạc lẻ của mày à?"

Đình vội cúi đầu xin lỗi, chắp tay xá xá đi ra. Nó đang lâng lâng trong niềm sung sướng được trở về quê nhà sau ngần ấy năm xa cách, về nơi có mẹ, có Huân. Là nhà của nó


Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang.

Chủ đồn tuyên bố thêm đủ thứ chi phí, tiền công của hầu hết phu dịch đều bị cắt xén mạnh tay. Nó nhận lại số tiền công ít ỏi sau khi bị khấu trừ nào là những tiền ăn, tiền lán, tiền dụng cụ, tiền "bảo vệ",... Đến cuối cùng chỉ còn lại một phần rất nhỏ. Người ta bàn tán xôn xao, có người mạnh dạn đứng lên chửi thề "Cái lũ bất nhân bất nghĩa, không còn tính người! Mày cắn sinh mệnh của dân đen như thế, nuốt xuống bụng không thấy nghẹn họng à?"

Riêng Đình thì khác. Nó không gào thét cũng chẳng chửi bới gì. Nó chỉ đứng trước văn phòng quản lý, giọng trầm thấp và kiên quyết "Công sức chúng tôi làm ba năm trời vất vả cực nhọc, bán mạng mãi mới được dăm ba đồng lương về lo cho cửa nhà, mong sao cuộc sống khấm khá. Mong các ông hiểu cho."

Tên quản công người Hoa kiều cười nhạt "Thế còn tiền công chúng tao nuôi bọn mày bấy nhiêu lâu đó thì sao? Luật của đồn đã thế, chúng mày đã chấp nhận làm thì phải chịu, đừng kêu ca rách việc."

Đình nhìn thẳng vào mắt ông ta "Luật nào? Ông không trả tiền tử tế, tôi sẽ kiện ông lên cửa quan."

"Hahaha, mày kể chuyện tiếu lâm đấy à? Mấy thằng quan lại vô dụng của triều đình nước Nam chúng mày lo đút tiền cho bọn tao để giữ ghế đếm không xuể thì thôi, mày lại còn dám doạ ông à? Chúng mày đâu, bắt nó lại cho nó ngậm mồm vào cho ông!"

Câu nói ấy vừa dứt, vài tên cai gân guốc lao đến giữ chặt tay Đình. Chúng đánh nó một trận nhừ tử, rồi trói lại, giải đi. Đình bị giam trong một căn buồng ở rìa đồn điền. Nhà giam nhỏ, tối om bốc mùi ẩm mốc. Mùi phân chuột và rêu phong nồng nặc. Đình bị trói tay vào cọc gỗ, lưng dựa tường đất. Những vết thương trên người nó rát bỏng vì đòn roi. Nhưng cái đau thể xác không bằng nỗi đau trong lòng khi nó nghĩ đến mẹ, nghĩ đến Huân. Nghĩ đến con sông cạn và hàng dâm bụt đỏ hoe. Ba năm ở rừng cao su, nó tưởng mình đã cạn kiệt hết nước mắt, nhưng giờ đây nước mắt lại trào ra trong bóng tối. Không chỉ khóc cho thân phận mình, mà khóc cho những người nó yêu thương nữa.

Ngoài kia, mưa vẫn rơi không ngớt.


Khi tin về đến làng Đìa thì cũng đã vài tháng sau. Huân nghe được từ một người phu cùng về. Nó đứng lặng rất lâu dưới hiên nhà, tay siết chặt quyển sách cũ đến nhàu nát.

Mẹ Đình nghe tin thì không nói được câu nào. Bà ngồi tựa vào vách đất, mắt nhìn ra khoảng sân trống trải, thở dốc từng cơn. Đêm ấy bà sốt cao. Sáng hôm sau, bà ra đi trong im lặng, nhẹ nhàng như cách bà đã sống cả một đời người vậy. Tang ma được lo vội vã. Huân lo liệu mọi việc thay Đình. Nó chạy ngược chạy xuôi vay mượn tiền lo tang, viết giấy tờ báo tử. Người làng đến thắp nén nhang, nói vài câu an ủi quen thuộc rồi về, chẳng ai dám bàn nhiều về chuyện Đình bị giam. Ở cái thời này, chạm vào chuyện quan lại và chủ đồn là tự chuốc họa vào thân.

Đêm sau khi chôn cất mẹ Đình, Huân về nhà muộn. Ông giáo Châu đã ngồi chờ sẵn giữa nhà, cây roi mây đặt ngang đùi. Ánh đèn dầu leo lét chiếu lên khuôn mặt ông đầy nếp nhăn và uất khí. Không khí ngột ngạt đến nghẹt thở.

"Ngồi xuống."

Huân đứng yên tại chỗ. Ông giáo nhìn con trai, quắc mắt lên quát "Tao đã bảo mày đừng dính vào nhà thằng Đình rồi cơ mà? Nhìn nhà nó chẳng có ai tử tế đàng hoàng, từ bao nhiêu năm trước tao đã ra rả bên tai mày rằng mày đừng có dây dưa với nó nữa. Mày nhìn đấy, giờ thì sao? Mẹ nó chết, nó vào tù, mày thì chạy ngược chạy xuôi lo tang ma như con chó hầu của nhà nó. Mày thấy chưa? Mày được lợi lộc gì không hay chỉ tổ chuốc họa vào thân? Chỉ cần dính vào là cả nhà này có thể bị vạ lây. Tao lo cho mày, lo cho anh em mày, lo cho cái nhà này chứ ai!"

Huân đứng yên tại chỗ. Hai tay siết chặt đến trắng khớp. Nó ngẩng đầu, đôi mắt đỏ hoe nhưng vẫn đầy kiên định

"Bố đã dạy con bài học vỡ lòng rằng làm người phải có chữ Nhân, tức là tính người. Nghĩa tử là nghĩa tận, chẳng lẽ con lại thấy cảnh sa cơ mà bỏ mặc không cứu?"

Ông giáo cười lớn, tiếng cười chua chát, đầy khinh miệt xen lẫn bực tức "Cứu? Mày thì cứu nổi ai? Sinh ra đã là kiếp hèn, phải biết phận hèn mới sống nổi! Tao dạy mày chữ là để mày sống, chứ không phải để mày đi chết oan cho cái lý tưởng anh hùng thiên hạ của mày. Nhìn thằng Đình đi, giờ nó ra sao? Mẹ chết, tù tội, nhà tan nát. Mày muốn theo nó à? Muốn kéo cả nhà này xuống hố sâu theo nó à? Thùng gạo trong nhà này đang cạn kiệt kia kìa, muốn làm Nhân thì phải có cái đưa vào bụng đã!"

Huân run lên vì tức giận và đau đớn "Chẳng lẽ một người trước kia ngày nào cũng tâm niệm sống phải có đức như bố mà bây giờ cũng vì cái đói mà tha hoá bản chất ư?"

Ông giáo im lặng một thoáng. Trong ánh mắt ông xẹt qua một tia do dự, mâu thuẫn, nhưng nhanh chóng bị nỗi sợ hãi và ích kỷ lấn át. Ông quát lớn hơn, giọng đầy cay nghiệt "Đạo đức? Đạo đức cái con khỉ! Đạo đức không nuôi nổi cái bụng, không cứu được cái mạng thì giữ lấy đạo đức để làm quái gì! Tao tha hóa thì đã sao? Ít ra tao còn giữ được cái nhà này, giữ được mạng cho mày và các anh mày! Còn mày... mày cứ đi mà giữ đạo đức với thằng tù tội ấy đi! Tao không cần loại con trai như mày!"

Cái tát vang lên khô khốc. Má Huân đỏ ửng. Ông giáo run run chỉ tay về phía cửa, giọng khản đặc "Muốn đi thì cút! Cút khỏi nhà tao ngay đêm nay!"

Huân đứng im hồi lâu, nước mắt lăn dài trên má nóng rát. Nó cúi đầu, lạy ba lạy trước đấng sinh thành "Con trai bất hiếu."

Nói xong, Huân quay lưng, bước vào buồng gói ghém đồ đạc. Cũng chẳng có gì nhiều, chỉ vài bộ quần áo rách và mấy quyển sách cũ. Khi nó bước ra khỏi cửa, ông giáo vẫn ngồi đó, lưng còng xuống, tay siết chặt cây roi đến run lên, ánh mắt vừa giận dữ vừa hoang mang.

Huân đi trong bóng tối, nước mắt rơi không ngừng. Mỗi bước chân là một lần xé toạc lòng mình.

 Nó biết, sau đêm nay, nó không còn nhà nữa.

Nhưng nó không hối hận vì đã sống đúng với lòng mình.


Ba tháng sau, Đình được thả.

Khi trở về làng, trời trong xanh, khác hẳn với cái trời âm u hôm cả nhà tiễn nó đi, sự trái ngược sao mà phũ phàng đến đau lòng. Đình bước vào làng với thân xác tiều tụy, mắt trũng sâu như hai hố đen. Nhà nó trống hoác. Mùi tro tàn và nhang lạnh vẫn còn vương. Trên chiếc bàn xiêu vẹo giữa nhà, một bài vị bằng gỗ đơn sơ được đặt ở đó.

Đình đứng giữa sân, gió thổi qua vách tranh kêu xào xạc vừa như tiếc khóc than cũng như tiếng cười nhạo trước cuộc đời đầy đắng cay của nó. Nó quỳ sụp xuống trước mộ mẹ, thắp nén nhang, ngồi đó từ trưa đến tối mịt. Nó không khóc. Nước mắt nó đã hoá cạn khô từ lâu lắm rồi. Chỉ còn lại một khoảng trống mênh mông, lạnh buốt đến thấu tim.

Nó sang đến nhà Huân, thì nhìn thấy ông giáo Châu cũng đang hấp hối trên giường bệnh. Kể từ ngày Huân đi, ông cũng cứ yếu dần như thế.

Vậy là chẳng còn ai nữa rồi.

Trong đêm trăng thâu nằm trên chiếc chõng tre cũ kỹ, Đình nghe gió lùa qua kẽ vách. Lòng nó rỗng không đến mức đáng sợ. Mẹ mất. Huân đi. Nó nhận ra mình đã mất tất cả những gì níu giữ nó với cuộc đời này.

Sáng hôm sau, Đình rời làng mà không nói với ai. Nó đi dọc con sông Đìa gắn liền với kí ức của nó, qua những thửa ruộng khô cằn, rồi rẽ sang con đường đất bùn nhão nhoẹt dẫn ra khỏi làng. Nó không biết là mình sẽ đi đâu. Chỉ biết phải đi. Nếu dừng lại, nỗi đau sẽ nuốt chửng nó ngay lập tức. Nó phải rời khỏi nơi cội nguồn của sự tuyệt vọng trong nó, dẫu đây có là nơi nó lớn lên.

Nó lang thang như một bóng ma. Nó làm đủ thứ. Làm thuê, ngủ nhờ, đói thì nhịn, mệt thì ngồi bờ đường. Người ta nhìn nó bằng ánh mắt thương hại xen lẫn e dè. Đình dần quên mất mình từng là ai, quê quán ở đâu, bố mẹ tên gì, quên cả từng có một người tên Kim Châu Huân, từng có một mái nhà, từng có một dòng sông và hàng dâm bụt đỏ hoe chờ đợi nó trở về. Nó muốn quên đi tất cả, bởi khi nhớ thì những hình ảnh ấy đau đớn như vết dao cứa sâu vào tận tâm khảm.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co