truyen ma2
ma dat dêm giao thừa
| Contributed by: phuochung | Views: 41.031
Nguyên Hà
Câu chuyện xảy ra vào năm 1978, tại mật khu Dương Minh Châu, một địa danh thuộc ranh giới tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, biên giới Cao Miên. Mật khu này, sau khi CS vào, được cải danh thành công trường Hồ Chứa Nước Dầu Tiếng, dưới quyền điều khiển của một cán bộ đảng viên trung kiên, danh xưng là chủ nhiệm công trường, đám công nhân ngụy chúng tôi thường gọi người cán bộ này là Chú Chín.
Chú Chín, như đã nói, vốn là một cán bộ miền Nam tập kết, có nhiều tuổi đảng, chú là người sinh trưởng ở miền Nam nên dù đã tập kết và trở thành đảng viên trung kiên của CS, Chú Chín vẫn có phong thái chân chất, ngôn ngữ thật thà và duy tâm như hầu hết những người sanh trưởng ở miền Nam nước Việt.
Tánh tình chú Chín nhân ái thâm trầm và, có một điều thật là lạ, cho dù chú đã đi tập kết, chiến đấu và sinh hoạt lâu năm như vậy trong hàng ngũ những người CS, Chú vẫn còn giữ được tánh nết nhu mì, biết thương người và đặc biệt hơn cả, Chú rất thương mến các anh chị em công nhân trong công trường làm việc dưới quyền điều động của chú, bất kể người công nhân đó thuộc thành phần con cái "ngụy quân ngụy quyền" bị trưng dụng đi làm thanh niên xung phong hay là những anh em cựu binh lính chế độ cũ như chúng tôi.
Thái độ của chú Chính khác xa với bản chất kiêu binh hống hách, nói phét như cuội vốn là cá tánh của giai cấp lãnh đạo CS mà chúng tôi thường thấy. Cho nên, đám công nhân chúng tôi bớt cảm thấy mặc cảm và, cũng có khi để tâm tìm hiểu thêm về con người riêng tư của Chú Chín.
Địa thế của công trường vốn dĩ là mật khu Dương Minh Châu trong thời chiến, nên nằm sâu tít trong rừng đèo heo hút gió, cây cối um tùm rậm rạp với rừng cỏ tranh che lấp đầu người. Có hai con đường độc đạo, quanh co nhỏ hẹp, nằm khuất trong đám cỏ tranh dành để đi bộ từ công trường ra tới xóm nhà dân cách khoảng chừng hai cây số với đầy rẫy những lỗ bom đào sâu dưới đất, miệng rộng như những cái ao khổng lồ. Người đi bộ nếu lỡ trượt chân rớt xuống, không có người trông thấy để tìm cách thả dây kéo lên thì xem như chết chắc vì khó lòng một mình người đó co ù thể tìm cách nắm được các nhúm cỏ tranh trơn tuột mà leo lên miệng hố cong vòng như cái lòng chảo sâu hoắm này.
Đã có ít nhất vài ba lần, các công nhân cơ hữu thuộc đội lao động thanh niên xung phong, vào những buổi chiều chán ngán cơm hẩm cá thiu ở công trường, họ chịu khó đi bộ ra xóm nhà dân bỏ tiền túi ra để có những bữa cơm "cải thiện", thay thế cho những bữa ăn quá đỗi đạm bạc, chỉ có vài bát cơm hẩm trong khẩu phần ẩm thực với vài ba con cá khô mục hoặc nhúm rau xanh tự trồng với vài muỗng nước muối mặn chát thay thế cho món ăn mặn hàng ngày.
Các anh chị em công nhân ở đây, phần lớn, là thành phần con cái chế độ cũ được Công Ty Xây Dựng Thủy Lợi 9 tọa lạc ở Thị Nghè điều lên vùng khỉ ho cò gáy này để tham gia lao động công trường. Công việc chung của họ là hàng ngày tiếng quân trên một con đường độc đạo khá rộng lớn, xe cộ có thể chạy qua lại được để tự khiêng những tảng đá khổng lồ do nhóm anh em tài xế chúng tôi lái những chiếc xe Liên Sô hiệu MA, xe ZIN ba số 5 lấy đá từ núi đá Biên Hòa hoặc Châu Thới chở về. Công việc thật là nhàm chán và nặng nhọc dưới ánh nắng thiêu đốt với từng cơn gió lốc phủ ngập đất đỏ thổi tới, bám lên những thân xác trẻ tuổi đầy hoa mộng còm cõi của họ hàng ngày.
Chúng tôi, tuy cũng là công nhân, nhưng có điều may mắn hơn là được điều động đi làm phụ xế trên những chiếc xe Zin 3 con 5 hoặc những chiếc xe MA của Liên Sô vĩ đại, hàng ngày được đi ra khỏi công trường về Châu Thới lấy đá để chở về đổ trên con đường lớn này để hoàn thành qui hoạch một con lộ tiêu chuẩn nối liền công trường với các thị xã xa xôi lân cận.
Nhờ được lái xe có giấy lệnh công tác của công trường do Chú Chín ký nhận, mỗi xe chúng tôi đều có trang bị súng ống cá nhân, có cán bộ chỉ đạo dẫn đầu mỗi lần đi công tác chở đá, nên nhóm anh em tài xế chúng tôi, từ tài xế chính (thường là những cán bộ, bộ đội) cho đến tài xế phụ là những người thuộc chế độ VNCH có chuyên môn cao như chúng tôi được tuyển dụng. Ngay từ những ngày đầu ra quân đi chở đá trên các tuyến đường thường lệ, tài xế chính, tài xế phụ chúng tôi dù có khác nhau về ý thức hệ hoặc danh xưng trong chế độ mới của VC, cũng đã rất "tâm đầu ý hợp" trên cả hai phương diện "làm tốt" công tác lẫn những "kỳ công" thu hoạch lợi nhuận trên các chuyến xe từ công trường đến nơi lấy đá bằng những chuyến buôn lậu có kế sách hẳn hòi.
Lợi tức thường từ những chuyến xe trống, nhưng với nhiều cách che giấu tinh vi, chúng tôi lùng sục mua rẻ những mặt hàng lấy từ những con buôn từ vùng biên giới gồm nào là thịt, mỡ heo, củi, gạo, đường, sữa, thuốc lá, v.v... Thật là những con số lợi nhuận rất đáng ca ngợi và hoan hỉ đối với cách lái xe lương tháng vài chục bạc èo uột như chúng tôi.
Từng bọc tiền lời kiếm được thường xuyên mỗi ngày đưa địa vị lao động của nhóm anh em tài xế chở đá chúng tôi đến một giai cấp tiền bạc rủng rỉnh đề huề, dù chỉ ngụy trang dưới một hình thức ngấm ngầm, hoàn toàn trái nghịch với bộ dạng lem nhem dầu mỡ, mồ hôi dầm dề trên những bộ quần áo bảo hộ lao động bạc phếch vì nắng cháy của đám lái xe chúng tôi. Lúc đã kiếm chác được khá nhiều tiền, chúng tôi cũng biết cách "xử lý" đúng điệu với Chú Chín chủ nhiệm công trường, anh phó chủ nhiệm, ban an ninh, đội bảo vệ... Tóm lại, kẻ nhiều người ít, tùy theo chức năng, tùy theo tình hình mà chia chác để giữ mối kiếm ăn lâu dài trong khi cả nước đang dần dần kéo nhau đi vào thời kỳ lang thang đói rách. Bọn công nhân chúng tôi thừa đủ kinh nghiệm khôn ngoan nên luôn luôn áp dụng cung cách ăn đồng chia đủ với tất cả mọi thành phần cán bộ viên chức thẩm quyền liên hệ, ngay cả các đội kiểm tra kinh tế trên các tuyến đường chúng tôi qua lại hàng ngày, chúng tôi cũng không quên đáp lại xứng đáng thái độ làm ngơ của "các đồng chí" mỗi lần nhận ra đoàn xe chở đá từ Công Trường Hồ Chứa Nước Dầu Tiếng hàng chục chiếc xe nối đuôi nhau chạy qua.
Từ lúc có tiền rừng bạc bể trong tay, anh em tài xế chánh, tài xế phụ của chúng tôi cũng không quên những đứa em đứa cháu hiện là những công nhân lao động thuộc nhóm thanh niên tiên tiến của công trường. Điều mà chúng tôi không bao giờ xao lãng về đám thanh thiếu nữ trẻ này, là đa số họ thuộc con cái "ngụy quân ngụy quyền", vốn là những chiến hữu ruột thịt trước đây của chúng tôi. Gặp các em thường xuyên, nhìn các em từng ngày đốt tàn tuổi xuân trên từng viên đá thô nhám trĩu nặng, thân thể mỗi ngày thêm khô héo tàn tạ trong những mùa mưa nắng khắc nghiệt của công trường, lòng tự ái ngấm ngầm không thể bộc lộ của đám tàn binh thua cuộc, chúng tôi chỉ biết im lặng thương xót ngậm ngùi cho tuổi trẻ các em. Nên chi, chuyện cho các em quá giang xe ra khu xóm dân thị xã kiếm thêm những bữa cơm "cải thiện", hay dúi cho các em dăm ba trăm bạc tiền Hồ, các em nữ chút tiền mọn để chi tiêu cho những nhu cầu gương lược trang điểm của con gái là chuyện không có gì cần suy nghĩ của đám tài xế đội lốt "giác ngộ tốt" như chúng tôi.
Các em cũng biết thân phận cam chịu những thua thiệt của hàng ngũ con cháu "ngụy quân ngụy quyền" bằng cách ngấm ngầm liên kết với nhau, gắn bó và chia xẻ nhau tất cả những tâm tư tình cảm tự nhiên nhất của tuổi trẻ. Các em âm thầm chịu đựng những tháng ngày lầm than ở công trường, bên ngoài không hé răng tỏ lộ một lời than van thống trách nhưng bên trong thì sùng sục lửa căm hờn. Rất ý hợp tâm đầu, các em tự biết, đám tài xế phụ chúng tôi tự biết. Chúng tôi kín đáo trao đổi và ngấm ngầm bảo vệ và cảm thông lẫn nhau. Trong số các em, có một cặp nam nữ trẻ tuổi mà tôi biết rõ tông tích, lý lịch. Đứa con trai trên Trần Mạnh Hùng, con của một sĩ quan VNCH cao cấp, thân phụ của Hùng, dĩ nhiên đã lên đường đi cải tạo "10 ngày" chưa thấy dạng trở về sau 2 năm 2 tháng. Đứa con gái, chỉ cần nhìn qua dáng dấp đích thị là một tiểu thư với tấm thân mình hạc xương mai, khuôn mặt bầu bĩnh thông minh đôn hậu như ánh trăng rằm. Bảo Quỳnh là tên đứa con gái, cựu nữ sinh Gia Long học giỏi, đàn dương cầm lại rất hay.
Bảo Quỳnh và Mạnh Hùng là cặp thanh niên trẻ tuổi và thầm lặng nhất của công trường. Họ yêu thương nhau, quấn quít bên nhau như bóng với hình đêm ngày sát cạnh, bất chấp những giáo điều lệnh lạc do chỉ thị của Đoàn của Đảng. Họ sống lủi thủi và lao động bên nhau cho đến một hôm công trường rộn rã lao xao về sự vắng mặt trong buổi điểm danh sáng của Bảo Quỳnh. Mạnh Hùng thì thần sắc như kẻ mất hồn. Em không thể trả lời trước ban Chủ Nhiệm về sự vắng mặt của cô bạn gái hiền lành xinh đẹp trong khi mọi người đều xác nhận chiều ngày hôm trước, hai người còn dẫn nhau đi bộ ra quán bà Tư Thái ngoài thị xã ăn cơm với đĩa dưa cải chua và 2 cánh gà rồi cùng dẫn nhau trở về công trường vào lúc trời vừa nhá nhem tối, có cơn mưa lất phất đầu mùa. Đám thanh niên trẻ đều khẳng định chính mắt họ nhìn thấy hai người ra khỏi nhà bà Tư Thái, trở về công trường theo con đường nhỏ quanh co dưới đám cỏ tranh rậm rạp. Lúc bấy giờ, trời còn tranh tối tranh sáng, nhưng đã không nhìn rõ bóng người, nếu người đi sau cách người đi trước chỉ trong dăm mười thước ngắn ngủi.
Vậy, Bảo Quỳnh đã thất lạc ở đâu? Trong khi Mạnh Quỳnh đã trở về được đến công trường đến sáng hôm nay, tự nhiên hóa thành người không còn thần trí?
Đến nước này chú Chín, Chủ nhiệm công trường đã không còn giữ yên lặng, ông ban hành một thông báo, trong đó, chú có lập lại những điều như trước đây chú đã từng căn dặn đám thanh niên:
- Bây đi đâu thì đi tao không ngăn cản. Nhưng phải nhớ trở lại công trường trước khi trời tối. Trong đêm, nếu phải đi vệ sinh thì phải vào nhà xí, không được đi bừa bãi ngoài hàng rào quanh công trường kẻo ma nó dẫn đi trong đêm thì ráng chịu, tao không có cách gỡ. Tưởng chú Chín đem ma ra làm chỉ thị dọa những đứa nhát gan theo lệ thường. Nào dè, cho đến hôm nay, Bảo Quỳnh tư nhiên biến mất, chú Chín mới tiết lộ cho đám tài xế chúng tôi biết như sau:
- Bảo Quỳnh mất tích chắc có lý do. Tao biết rõ lý do đó, nếu tao đoán không sai. Kể từ nay, đội thanh niên phải tuyệt đối chấp hành lệnh công trường, không được đi đứng bậy bạ trong đêm. Vùng đất này, tao đã từng sống trong thời chiến, tao biết quá rõ, ma quỷ lền khên không ngán chi người phàm. Chuyện bắt người trong đêm tối, dẫn sâu vào rừng sâu cho ăn toàn đất đá, vài ngày sau chỉ còn cái xác lạnh là chuyện đã từng xảy ra. Dạo chiến tranh còn, thiếu chi bọn lính cái đã xui xẻo bị ma dẫn đi cho ăn toàn đất đá, lúc tìm được đem về thì đã thành con ma dại, dở tỉnh dở mê không ra cái giống gì! Tao cá với bọn mày con Bảo Quỳnh là một sự tái diễn, nếu mình không phân tán thành nhiều toán đi lùng kiếm thì chỉ nội nhật hôm nay nó sẽ trở thành cái xác không hồn.
Nhìn khuôn mặt khắc khổ đầy trang nghiêm của chú Chín, nhóm tài xế chúng tôi bắt buộc phải tin những điều chú vừa nói là sự thật. Nghĩ đến đây, tóc gáy chúng tôi dựng đứng, mặt mũi người nào cũng thất sắc y như bị gặp ma.
Theo lệnh, chúng tôi đội tài xế gồm mười mấy chiếc xe của công trường chia nhau đi mỗi xe mỗi hướng. Phía sau thùng xe trống là các thanh niên xung phong. Chúng tôi rời công trường trong cái se lạnh của những ngày tháng cuối năm. Mặt trời mới vừa chớm khỏi những ngọn cây cao rải rác đó đây trong rừng, sương đêm còn đọng đầy trên từng cành cây bụi lá.
Sau nửa giờ lái xe len lỏi qua những tàn cây cao, che kín bởi đám cỏ tranh và phải lái thật khéo và tinh tế để tránh xe rơi xuống các hố bom sâu bị che kín bởi lá cây che lấp lâu ngày, xe chúng tôi ra khỏi đám cây cao um tùm ẩm thấp, nhìn thấy cả một cánh đồng cỏ hoang dưới nắng cháy của những ngày cuối năm.
Trước mắt chúng tôi hiện ra một hình ảnh kinh hoàng không phải trong đêm thâu u tối mà ngay giữa thanh niên bạch nhật có hàng chục con mắt chứng kiến: thân xác của Bảo Quỳnh nằm bất động trong một vũng nước lầy, quần áo tả tơi rách nát để lộ ra một thân thể lõa lồ với mảnh lưng trần trắng xanh như màu bạch ngọc đang ngả sang màu tái của xác chết không hồn. Chúng tôi thận trọng cầm súng xuống xe, từng bước tiến đến chỗ Bảo Quỳnh đang nằm bất động. Chú Chín đã đoán không sai.
Bảo Quỳnh đã bị ma đất trong rừng dẫn đi trong đêm tối, nó dẫn cô gái đáng thương này đi ngay trong cơn khiếp sợ mê sảng của Mạnh Hùng nên cho dù hai người có đang cùng đi chung, bị tách ra, Mạnh Hùng vẫn không còn tỉnh táo để chống lại ý muốn của loài ma rừng độc địa hòng cứu lấy cô bạn gái đáng thương. Ma rừng sai khiến bước chân không hồn của cô gái đi càng sâu vào rừng bao nhiều càng tốt, sau đó, ma đất xúi bẩy cô gái tự cào đất nhét kín vào mồm và nuốt vào cổ họng giống như người ăn xôi bắp cho đến khi đất ướt dẻo đọng kín cổ họng, không thở được nữa thì chết luôn. Nhưng sự độc địa của loài ma rừng này không phải chỉ có vậy. Trước cái chết kinh dị của người nữ công nhân vắn số và trẻ tuổi này, nàng sẽ trở thành một loại hồn ma linh thiêng và cực kỳ tàn nhẫn. Có nghĩa là hồn ma Bảo Quỳnh sẽ có ngày hiện về để gieo rắc thêm những cái chết khác nếu hồn ma còn vương vấn duyên nợ với bất cứ ai khi còn sống, hồn ma còn nặng nghĩa ân tình. Vậy ai sẽ là người phải nhận chịu số phận xui rủi này nếu không phải là Mạnh Hùng, vốn là người khi còn sống, Bảo Quỳnh đã tin yêu và vô cùng thương nhớ?
Chú Chín chủ nhiệm công trường, dù là một cán bộ trung kiên vô thần của đảng CS cũng lộ vẻ thất kinh khi nhận báo cáo đầu tiên của nhóm tìm kiếm báo về cái chết hiển nhiên của Bảo Quỳnh. Việc đầu tiên chú quyết định là, ngay lập tức, xin lệnh điều Mạnh Hùng về công tác ở thành phố để hòng cứu lấy sinh mạng của em vì chú dám đoan chắc hồn ma Bảo Quỳnh sẽ có lúc trở về lấy mạng của Mạnh Hùng, phải chết chung như số phận của Bảo Quỳnh.
Hôm đó là ngày 29 tháng Chạp. Những công nhân được hưởng đặc ân về nhà ăn tết đã được cấp giấy phép và được đội vận chuyển chở ra quốc lộ đón xe về vui xuân với gia đình. Công trường chỉ còn lại số ít cán bộ công nhân phải ở lại, chờ đợt đi phép thứ hai, sau tết. Nhưng, chú cũng không thể chờ đợi lâu hơn. Một mặt chú cho báo tin khẩn cấp cho thân nhân Bảo Quỳnh lên công trường nhận xác, mặt khác chú điện khẩn cấp về trung ương để xin quyết định cho Mạnh Hùng được sớm rời khỏi công trường.
Nhưng trời không chiều lòng người. Thủ Trưởng ở trung ương của Công Ty Xây Dựng Thủy Lợi 9 đã về quê tận Quảng Ninh ăn tết, nên đề nghị của Chủ nhiệm công trường Hồ Chứa Nước Dầu Tiếng đành phải đợi đến ngày ông thủ trưởng lớn hơn trở lại nhiệm sở mới có thể giải quyết. Vì vậy, Mạnh Hùng, dù chỉ cần đợi cho qua mấy ngày tết ngắn ngủi, cũng phải ở lại đón xuân hiu quạnh ở công trường với tâm trạng buồn đau thương nhớ cô bạn gái khi xưa.
Buổi chiều cuối năm nơi công trường đèo heo hút gió thật quạnh quẽ thê lương. Chú Chín ở miết trong phòng với vợ con nghe đài phát những bài hát đón xuân buồn thê thiết. Dưới hai dãy nhà ở của công nhân cũng lặng lẽ không một bóng người. Đội vận tải, với những chiếc xe ZIN, xe MA đã được bảo quản, lau chùi sạch sẽ nằm thẳng lớp im lìm, đám công nhân tài xế, phần đi phép, phần lẻn ra xóm nhà dân vui xuân nên công trường cũng chẳng có bóng dáng một ai.
Tôi và xế chính Nguyễn Văn Sinh làm sao chịu thấu cái quạnh quẽ của những giây phút giao mùa, bèn rủ nhau cuốc bộ ra nhà bà Tư Thái làm một bữa chén cuối năm say bí tỉ cần câu.
Hai chúng tôi, một cách mạng trái mùa, một tên lính thua trận, khoác lấy tay nhau, ngả nghiêng bước, chìm khuất trong đám cỏ tranh tối tăm tịch mịch, trở lại công trường với những cảm xúc hư không trống rỗng, không nghĩ gì tới những giờ phút còn lại của lúc giao mùa.
Bỗng nhiên, Sinh nghêu ngao cất cao một bài hát.... "Nếu mai không nở, tao đâu biết xuân về hay chưa..." Phải vậy không mày?. Rồi Sinh phá ra cười trong đêm tối, giữa cái rùng rợn của đêm trừ tịch trong đám cỏ tranh. Quá nửa khuya, tức là qua giao thừa, chúng tôi đang say ngủ, bỗng bàng hoàng thức giấc sau những tiếng la thất thanh vọng đến từ dãy nhà công nhân. Những cái đèn màu vàng ệch được bật sáng khắp nơi. Chúng tôi vội vã chạy về phía có tiếng thét gào ban nãy. Mạnh Hùng nằm chết tự lúc nào, xác vắt ngang ngưỡng cửa, tay chân mồm miệng dính đầy đất cát giống hệt như kiểu chết oan khiên của Bảo Quỳnh.
Thế là những kinh nghiệm ghê gớm về loại ma rừng của Chú Chín cùng những gì chú dự liệu đã xảy ra đúng như lời chú nói. Chỉ có điều là chú không thể chạy kịp được với thời gian để cố cứu mạng cho Mạnh Hùng. Phải chăng, đó là tại số mệnh. Số mệnh oan nghiệt của hai người trẻ tuổi thua cuộc vì trận chiến cha ông, vì họ đã yêu nhau đến chết cũng phải chịu chung nỗi ngậm ngùi?
Chú Chín buồn bã nhìn xác Mạnh Hùng, miệng lẩm bẩm:
- Mẹ! Đã biết mà không làm gì kịp.
Rõ ràng Bảo Quỳnh đã hóa thành loài ma đất, trở về công trường để biến thành con ma nữ đêm giao thừa để bắt hồn Mạnh Hùng phải cùng đi với em sang bên kia thế giới cho trọn nghĩa yêu đương, theo như thói quen của loài ma đất.
oOo
Welcome to VN.NET
01/12/10
Ma - Kẻ không tin ma quỷ
| Contributed by: phuochung | Views: 33.139
Người Kể Chuyện Ma
Tại một thành phố nhỏ, có một căn nhà bị thiên hạ đồn là có ma. Thực ra căn nhà hai từng khang trang này không có vẻ gì là nơi cư ngụ của ma quỷ. Bức tường cao phía trước sơn màu trắng. Trước nhà là một vườn hồng; sau nhà là thảm cỏ xanh với một cây xoài, một cây bưởi và vài bụi mía. Căn nhà trước đây thuộc quyền sở hữu của một luật sư già với người con gái duy nhất. Các bậc trưởng lão còn nhớ tới cô gái này đều nói rằng cô là người đẹp nhất trong tỉnh. Vị luật sư rất thương con, nhưng chẳng may cô gái lại chết trẻ.
Những người biết chuyện nói rằng cô gái thương yêu con trai một địa chủ nhưng vì lý do nào đó, người này không chấp thuận cho con trai lấy cô ta. Trong khi cặp trai gái đang đi lại với nhau thì chàng trai chợt lâm bạo bệnh qua đời khiến cô gái quá đau khổ nên không lâu sau đó cũng giã từ cõi thế.
Vị luật sư già sống cô đơn giữa căn nhà mênh mông trong niềm thương nhớ đứa con bất hạnh. Khi ông qua đời, căn nhà và tất cả tài sản được ông để lại cho một đứa cháu. Khi người cháu từ trần, căn nhà được để lại cho đứa con trai còn trẻ của ông ta. Vì còn độc thân, chàng trai không cần tới căn nhà, nên đã trao cho một công ty địa ốc nhờ cho mướn, và chính những người đầu tiên - và cuối cùng - mướn căn nhà này đã đồn là nhà có ma.
Thoạt tiên, họ rất hài lòng với căn nhà, nhưng một thời gian sau, những sự việc kỳ quái bắt đầu xẩy ra. Những cánh cửa tự động đóng mở khi không một ai đứng gần. Khi người vợ trẻ của người mướn nhà đang quét dọn căn phòng ngủ bỏ trống, bà chợt nghe tiếng ngăn kéo mở ra rồi đóng lại sau lưng, nhưng khi bà quay lại thì không thấy một... con ma nào.
Nhiều khi những đồ đạc trong nhà như bị một bàn tay vô hình giở lên rồi đặt xuống ngay trước mắt mọi người khiến họ có cảm tưởng là trong nhà luôn luôn có những hồn ma sống chung với họ.
Tuy sợ, cặp vợ chồng mướn nhà cảm thấy vẫn có thể chấp nhận được, vì ngôi nhà tuy rộng rãi khang trang nhưng lại được cho mướn với giá tương đối phải chăng. Nhưng với những người giúp việc thì không. Những người này đều nói rằng họ có cảm tưởng như lúc nào cũng có người theo dõi họ, và mỗi lần họ đặt vật gì xuống, vật đó lại tự động di chuyển sang nơi khác ngay. Họ không hiểu tại sao, nhưng mỗi khi lãnh lương xong là họ xin nghỉ.
Một hôm bà vợ trẻ bước vào phòng khách giữa lúc đứa con trai nhỏ của bà đang lăn một trái banh trên sàn nhà. Mỗi khi tới giữa phòng, trái banh lại tự động lăn trở lại phía cậu bé như có người đang chơi với cậu tuy người mẹ không thấy một ai.
Thấy mẹ đứng sững sờ, cậu bé nhìn mẹ cười thích thú và la lớn:
- Cô đẹp, cô đẹp.
Bà mẹ như chợt tỉnh, khuôn mặt ửng hồng của bà bỗng trở nên xanh lét như tàu lá chuối. Không kịp suy nghĩ, bà vội vã bồng con phóng ra cửa, chạy thẳng sang một nhà hàng xóm và không một ai có thể thuyết phục bà trở lại nhà.
Vợ chồng bà dọn đi ngay sau đó.
Chàng thanh niên chủ nhà là một người thực tế, không tin những chuyện thần linh, quỷ quái mà chàng cho là chỉ để dọa đàn bà con nít. Chàng rất bực mình vì những lời đồn đại của thiên hạ là nhà có ma. Dĩ nhiên không ai có quyền cấm cặp vợ chồng trẻ mướn nhà thuật lại những gì đã xẩy ra cho họ.
Nhưng sự bực bội của chàng trai chủ nhà có thể bắt nguồn từ một lý do quan trọng hơn nhiều: Chàng đã tìm được một người con gái mà chàng muốn thành hôn. Rủi thay, câu chuyện về căn nhà ma đã lọt vào tai nàng, và nàng lại là người có cái "đức tính" chung của hầu hết các đấng đàn bà con gái trên cõi đời này là rất sợ ma!
Nàng nói với chàng rằng nàng cũng rất yêu chàng và cũng muốn được xây dựng... nông thôn với chàng. Nhưng nàng nói thẳng là nàng sẽ không bao giờ bước chân vào căn nhà ma đó. Thế mới phiền!
Là người không tin ma quỷ, chàng cho nàng hay rằng chàng sẽ vào ở trong nhà một mình để chứng minh rằng không hề có con ma nào ở đó.
Rồi chàng lừng lững dọn vào nhà.
Tuy những cánh cửa vẫn tự động đóng mở nhưng chàng trai không nghĩ gì tới chuyện ma quỷ. Chàng sửa lại những bản lề cho chắc chắn. Nhưng khi những cánh cửa vẫn đóng mở tự động, chàng cho rằng có lẽ vì gió lọt vào nhà qua những khe hở, tạo nên tình trạng bất thường đó mà thôi.
Dù sao chàng cũng nghe thấy tiếng ngăn kéo và cửa tủ mở và đóng. Cả những ly tách đựng trong tủ nhiều khi cũng kêu leng keng như bị đụng chạm hoặc di chuyển. Một vài lần chàng nghe cả tiếng nước chảy trong bồn rửa chén nhưng khi tới coi thì vòi nước vẫn khóa chặt và bồn rửa chén vẫn khô không khốc!
Vì biết chắc trong nhà chỉ có mình chàng, chàng thanh niên lý luận là có lẽ căn nhà cũ nào cũng có những tiếng động quái gở đó do tường hoặc sàn nhà phát ra. Chàng cố tình không thèm để ý nữa và cũng cố tình "quên" giải thích hiện tượng nước chảy.
Ngay cả khi quyển sách mà chàng vừa gấp lại để sang một bên tự động lật ra từng trang một cách chậm chạp như có người giở ra đọc, chàng cũng cho rằng có lẽ vì có ngọn gió thổi qua cửa sổ một cách đều đặn, tuy sau đó chàng nhận thấy tất cả các cửa sổ đều đóng kín.
Dù sao đi nữa chàng vẫn không tin là nhà có ma, vẫn tiếp tục ở đó một mình, vẫn tiếp tục thuyết phục vị hôn thê lập gia đình và sống chung với chàng (trong căn nhà "ma" đó!).
Dĩ nhiên chàng cả quyết với nàng là căn nhà không hề có ma quỷ gì hết vì chàng ở đó một mình đã khá lâu rồi mà vẫn chưa thấy con ma nào hết và vẫn an toàn trên xa lộ.
Đáng buồn thay, nàng vẫn không tin và vẫn tiếp tục... sợ ma!
Câu chuyện lủng củng kéo dài tới khi chàng được nghỉ hè và chàng nghĩ rằng bây giờ là lúc chàng có thì giờ dọn dẹp lại ngôi nhà cho ngăn nắp cũng như để làm một vài việc muốn làm.
Trong căn phòng nhỏ trên lầu, có nhiều quần áo của vị luật sư và cô con gái đã qua đời. Chàng thanh niên nghĩ rằng chàng thật có tội khi để mớ quần áo đắt tiền này mục nát trong khi nhiều người không quần áo. Chàng dự trù đem tất cả mớ quần áo cũ tới cho một cơ quan từ thiện.
Chàng bèn đem mấy cái thùng không lên căn phòng nhỏ và khởi sự xếp mớ quần áo của vị luật sư vào trước. Sau khi chất đầy ba thùng, chàng cài tạm nắp thùng lại và quay sang chuẩn bị xếp mớ đồ của cô gái.
Khi vừa mở cửa tủ áo, chàng chợt nghe một tiếng thở dài khiến chàng hơi giật mình. Tuy nhiên chàng bật cười vì sự nhút nhát bất ngờ của mình và nghĩ rằng có lẽ vì không khí chuyển động tạo ra âm thanh như tiếng thở dài. Hoặc cũng có thể sự chuyển động không khí khiến những bộ áo quần cạ vào nhau tựa như tiếng thở dài.
Sau một phút hơi căng thẳng đó, chàng cẩn thận lấy ra từng món một, xếp vào thùng. Vừa là việc chàng vừa cảm thấy buồn buồn khi nhớ tới người bà con - cô gái con ông luật sư mà chàng phải gọi bằng bà - từ trần khi còn quá trẻ.
Sau khi bỏ năm sáu cái áo vào thùng, cái áo kế tiếp khiến chàng ngạc nhiên vì hơi nặng hơn thường lệ. Chàng lẩm bẩm "áo may bằng lụa, tại sao lại nặng kỳ cục như vậy?".
Nghĩ rằng người quá cố có thể để một vật gì trong túi, chàng bèn thò tay vào túi áo và lấy ra được một lá thư viết trên giấy hoa tiên và một quyển sổ nhỏ màu đỏ. Lá thư đề tên cô gái và địa chỉ bên ngoài.
Chàng thanh niên bèn đặt cái áo xuống, bước tới sát bên cửa sổ mở thư ra đọc. Tuy không phải người có tính tò mò, không hiểu tại sao chàng cảm thấy như bị một sức mạnh vô hình nào đó thúc giục chàng phải đọc lá thư:
"Em thương yêu. Dù mọi người cố giấu không ai nói với anh, anh biết mình đang lâm trọng bệnh và có lẽ chúng mình sẽ không còn gặp lại nhau trên cõi đời này nữa! Nếu anh có chết, xin hãy hứa với anh một điều là khi em không còn thích cõi trần này, hãy cho xây mộ em bên cạnh mộ anh để chúng mình khi sống phải cách chia nhưng khi chết sẽ bên nhau mãi mãi.
"Thương em muôn vàn,
"Người yêu bất hạnh của em".
Sau khi cẩn thận đọc đi đọc lại lá thư tới ba bốn lần, chàng thanh niên đứng yên suy nghĩ và nhớ lại câu chuyện người địa chủ cương quyết chống lại mối tình của con trai ông và cô gái.
Rồi chàng mở quyển sổ nhỏ màu đỏ ra xem. Đó là một quyển nhật ký với ngày tháng trên đầu mỗi trang. Những trang đầu viết về những công việc vặt vãnh trong nhà. Có trang ghi việc may vá, trang khác ghi việc làm mấy hũ mứt, nhưng những trang sau bắt đầu viết nhiều về chuyện tình của cô gái.
Nàng viết về việc đôi bên gặp gỡ, lần trò chuyện đầu tiên, khi chàng trai thố lộ tình yêu, việc hai người trù tính chuyện hôn nhân trong khi vẫn cố thuyết phục thân phụ chàng trai. Họ tin rằng ông sẽ xiêu lòng trước tình yêu của họ. Nhưng thời gian không về phe với họ. Quyển nhật ký viết về lá thư - mà chàng trai vừa đọc - khiến nàng gần như điên loạn. Trang sau đó chỉ có mấy chữ "chàng đã chết!". Kế tiếp là những trang giấy trắng cho tới gần cuối quyển sổ nhỏ.
Rồi ở một trong những trang cuối cùng, chàng trai đọc được:
"Tôi biết là tôi đang chết lần mòn. Tôi xin ba tôi hứa với tôi là sẽ xin cha chàng cho mộ tôi xây cạnh mộ chàng, nhưng ba tôi quay đi không nói. "Tôi nghĩ rằng vì danh dự, cha tôi sẽ không nói chuyện với người đã không chấp nhận tôi. Nhưng chàng ơi, nếu ba em không nói, em sẽ tìm cách để được đến với chàng. Hồn em sẽ không siêu thoát nếu không được ở bên chàng..."
Quyển sổ nhỏ kết thúc ở đó, dở dang, như sự dở dang của người con gái. Cả tình yêu lẫn cuộc đời!
Chàng thanh niên bỏ cả lá thư và quyển nhật ký vào túi, bước xuống nhà. Những thùng quần áo có thể chờ thêm một đôi ngày. Chàng biết chàng phải làm gì ngay lập tức vì chàng không muốn hồn người con gái phải tiếp tục đợi chờ.
Sau khi thay quần áo, trước khi bước ra cửa, chàng trai nhìn vào nhà nói lớn như nói với một người đối diện:
- Bà không có gì phải lo lắng nữa. Cháu sẽ tìm mọi cách sắp xếp cho bà, bà cứ yên tâm.
Rồi chàng tìm tới trang trại của vị địa chủ khó tính, người từng làm khổ đứa con trai duy nhất của ông cũng như cô gái. Ông cũng đã qua đời từ lâu và người cai quản trang trại bây giờ là một người cháu của ông. Sau khi đọc kỹ lá thư và quyển nhật ký do chàng trai đem lại, người trại chủ thở dài:
- Năm mươi năm! Năm mươi năm dài chờ đợi! Thật là tội nghiệp!
May mắn hơn nữa, vị trại chủ này lại là người tin rằng có một thế giới vô hình mà ông nói là "thế giới bên kia".
Ông bèn liên lạc ngay với luật sư của ông để sắp xếp mọi việc, và chỉ hai tuần sau, hai kẻ yêu nhau nhưng không lấy được nhau khi còn sống đã được nằm bên nhau trong hai ngôi mộ song song.
Sau khi thắp mấy nén nhang trên hai nấm mộ còn nồng mùi xi măng, trở về nhà, chàng trai cảm thấy ngôi nhà có vẻ hoàn toàn khác hẳn khi rõ rệt trong nhà bây giờ chỉ còn có một mình chàng. Không còn những tiếng cửa tự động mở, đóng, không còn tiếng ngăn kéo đóng mở, không còn tiếng nước chảy ào ào hoặc rỉ rả... chỉ có những tiếng động do chính chàng gây ra.
Rồi chàng mời vị hôn thê tới dùng cơm vào một buổi chiều, đem theo cả một bà cô nổi tiếng là người có thể "ngửi" thấy mùi ma.
Khi ngồi vào bàn ăn, bà cô nhìn quanh nheo mũi mấy cái rồi nói với cô gái:
- Thiên hạ chỉ đồn bậy! Nhà này làm gì có ma. Nếu có, dù chỉ một con cô cũng biết liền một khi.
Cô gái yên tâm và không lâu sau đó hai người thành hôn và sống bên nhau thật hạnh phúc trong ngôi nhà khang trang không có vẻ gì là nơi cư ngụ của ma quỷ.
Lâu dần, thiên hạ quên hẳn câu chuyện căn nhà này từng bị coi là - và thực sự - có ma.
Chỉ có chàng thanh niên là vẫn còn nhớ vì chàng đã thay đổi: Tuy không hề nói với ai, ngay cả vợ chàng, bây giờ chàng biết rằng trên đời này quả thật có ma
Ma - Đường tắt
| Contributed by: phuochung | Views: 7.334
Người Kể Chuyện Ma
Mọi người hỏi tôi tại sao tôi thay đổi. Họ nói rằng bây giờ tôi lặng lẽ quá, âm thầm quá, và sống thu mình như một con ốc cố thu mình vào trong vỏ. Một vài người còn cho rằng tôi có vẻ hơi bất thường.
Có lẽ họ nói đúng, tuy họ không biết tại sao. Riêng tôi thì biết rằng mình đã thay đổi từ đêm hè năm đó...
... Năm đó, thầy mẹ tôi cho phép tôi ra ở với một người chú nhân dịp nghỉ hè. Tạm rời bỏ Sài Gòn đầy xe cộ và bụi bậm, những ngày hè của tôi trong trang trại của chú thật thần tiên.
Hôm đó là một ngày hè lý tưởng của một mùa hè lý tưởng. Tôi vùng vẫy trong hồ tắm cách nhà chú tôi vài cây số cùng mấy người bạn mới cư ngụ gần hồ. Sau một hồi bơi lội thỏa thích, chúng tôi mua bánh mì thịt, nước mía rồi kéo nhau ra công viên vừa ăn vừa nói chuyện trên trời dưới đất. Mấy người bạn mới say mê nghe tôi kể chuyện Sài Gòn, nơi đối với họ là một "quốc gia" văn minh xa xôi nào đó.
Câu chuyện kéo dài hầu như không dứt và thì giờ trôi qua thật nhanh. Khi chúng tôi chia tay hẹn gặp lại vào ngày hôm sau, trời đã về chiều. Những người bạn mới của tôi đi bộ về nhà quanh khu hồ tắm, còn tôi thì phải đạp xe về nhà chú ở bên kia hai ngọn đèo.
Tôi đạp xe lên một đỉnh đèo hướng về phía nhà chú tôi. Lên tới đỉnh, tôi thở hào hển và phải ngưng lại nghỉ ngơi vì quá mỏi mệt. Lúc đó chỉ có mình tôi đứng giữa đỉnh đèo trong bóng hoàng hôn. Tôi mệt quá nên không thể đạp tiếp được và cũng không thể làm việc gì khác hơn ngoài việc đứng ngắm những tia nắng cuối cùng xuyên qua những cành cây kẽ lá.
Xung quanh tôi không một tiếng động, không cả tiếng lá rì rào. Giữa cảnh hoang vu đó, khi bóng đêm từ từ rủ xuống, tự nhiên tôi cảm thấy như có một luồng hơi lạnh chạy dọc theo xương sống và có cảm tưởng rằng mình là kẻ duy nhất còn sống sót trên cõi đời này. Khu vực này xa xôi quá và hoàn toàn xa lạ đối với tôi.
Nhìn xuống phía chân đèo, tôi thấy con đường nhỏ chia làm hai nhánh. Đã nhiều lần hai chú cháu tôi chạy xuống đèo trên chiếc xe hơi cũ của chú. Chú tôi luôn luôn theo con đường bên phải về nhà, một con đường gồ ghề khúc khuỷu và khá xa.
Có lần tôi hỏi chú con đường bên trái dẫn về đâu, chú nói rằng đó là một con đường tắt. Rồi chú nói lầm thầm những gì mà tôi chỉ còn nhớ đại khái là bây giờ không còn ai xử dụng con đường đó nữa. Thực ra tôi không nhớ chú nói cái gì.
Xung quanh tôi, trời bắt đầu tối hẳn và tôi biết tôi phải đạp về ngay nếu không muốn bị lạc trong đêm tối. Tôi bèn nhảy lên xe để xe trôi xuống. Khi tới ngã ba, không hiểu bị mãnh lực nào thúc đẩy, tôi quyết định chạy theo con đường bên trái, "đường tắt".
Cho tới bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao tôi lại có sự lựa chọn đó! Có thể vì óc phiêu lưu mạo hiểm muốn đi thử con đường mới? Có thể vì đã quá trễ nên tôi muốn về nhà mau hơn bằng con đường tắt? Hoặc vì bị một sức mạnh huyền bí nào thúc đẩy? Tôi không biết!
Chiếc xe đạp của tôi lăn trên con đường đất lồi lõm, gồ ghề, bụi bay mù mịt. Trong bóng tối, đột nhiên tôi thấy con đường trước mặt biến mất và chiếc xe đạp của tôi lao thẳng vào một bức tường tăm tối khổng lồ. Tôi vội thắng giựt xe lại và ước thầm phải chi mình cứ đi theo đường cũ.
Nhưng rồi tôi nhận thấy con đường vẫn đang xuống dốc và nếu muốn quay trở lại, tôi sẽ phải leo dốc! Tôi mệt quá rồi và cứ để chiếc xe trôi nhanh trên con đường vắng ngắt.
Khi xe chạy tới khoảng đất bằng, tôi phải đạp mạnh hơn để giữ nguyên tốc độ. Tuy hai chân mỏi nhừ nhưng tôi cố không để ý mà chỉ ráng đạp nhanh trên con đường tối đen như mực mà ánh sáng duy nhất là ánh trăng lưỡi liềm vừa hiện ra sau những hàng cây, rọi xuống núi đồi một ánh sáng mờ mờ như sữa đục.
Thỉnh thoảng, khi vầng trăng non bị mây che phủ, tôi lại như mất dấu con đường trước mặt. Nhưng lần lần, mắt tôi làm quen với bóng tối và tôi thấy con đường phía trước giống như một tấm vải trải dài mờ mờ trong đêm tối, hai bên tối đen như mực.
Đột nhiên bánh trước của tôi sụt xuống một cái ổ gà khá lớn. Tôi phải nắm chặt tay lái mới giữ được thăng bằng. Đúng lúc đó vầng trăng lưỡi liềm chui ra khỏi đám mây, rọi xuống một làn ánh sáng mờ nhạt nhưng cũng đủ để tôi thấy mình đang đạp về phía một... nghĩa trang! Xa xa, giữa những tấm mộ bia trắng xóa ngả nghiêng như những bóng người đang nghiêng ngả chờ tôi là bóng đen khổng lồ của một ngôi nhà mồ vĩ đại. Đột nhiên xương sống tôi lạnh buốt. Một ý tưởng vụt đến với tôi. Quay lại, quay lại ngay! Nhưng tôi vội gạt đi ngay. Không được, mình đã đi xa quá rồi!
Tôi bèn cố gắng đạp nhanh hơn nữa và cố không nhìn về phía nghĩa trang. Nhưng khi vùng mộ địa mỗi lúc một gần thì chiếc xe cũ kỹ cọc cạnh của tôi lại có vẻ chậm chạp, nặng nề hơn. Rôi tôi chợt kinh hoàng khi nhận thấy bánh trước đang bị xì hơi! Tiếng xì nhè nhẹ như có vẻ diễu cợt những nỗ lực tuyệt vọng của tôi. Rồi không biết tại sao chiếc xe chạy chậm hẳn trước khi ngưng lại ngay cổng nghĩa trang.
Tôi liếc nhìn những tấm mộ bia trắng xoá như những quân nhân xếp hàng nghiêng ngả dưới ánh trăng, đang lặng lẽ nhìn tôi bằng ánh mắt ma quái lạnh lùng.
Trong một giây, tôi đã toan quẳng xe bỏ chạy. Nhưng tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh, cúi xuống kiểm soát bánh xe. Đúng như sự lo sợ của tôi, bánh trước xẹp lép! Khi tôi đang chuẩn bị bơm xe thì đột nhiên những tiếng lách cách quái gở như tiếng xương người chạm vào nhau từ phía nghĩa trang vọng lại khiến tôi nổi da gà và một lần nữa toan vứt xe bỏ chạy. Nhưng rồi tất cả lại yên lặng.
Tôi cố nghĩ rằng có lẽ mình chỉ tưởng tượng, hoặc đó chỉ là tiếng cành cây chạm vào nhau. Điều khó khăn nhất là tôi cố không liếc nhìn về hướng nghĩa trang.
Thu hết can đảm, tôi run run lấy cái bơm ở khung xe ra, cúi xuống mở nắp van, nhưng đôi tay run rẩy của tôi làm rớt cái bơm xuống đất, chạm vào vành xe vang lên một tiếng khiến tôi suýt giật mình. Tuy vẫn run lẩy bẩy, tôi cố gắng bơm thật lẹ. Có thể nói trong đời tôi, chưa bao giờ tôi bơm lẹ như thế. Tiếng hơi bơm vào xì ra khò khè như tiếng người bị bóp cổ đang cố ngáp ngáp. Tôi cũng thở mỗi lúc một nhanh, nhưng đột nhiên tôi như nín thở. Âm thanh lách cách lạ lùng mà tôi nghe lúc trước, bây giờ dường như đang tiến lại phía sau tôi. Tôi quay phắt lại, nhưng trong bóng tối mịt mù tôi không thấy gì hết.
Tôi vội vã bơm lẹ hơn. Tiếng hơi bơm xì xì pha lẫn những tiếng thở phì phò mà tôi nghe thật rõ, những tiếng thở của chính tôi. Rồi những tiếng lách cách quái gở lại vang lên và dường như đang tiếp tục tiến tới sau lưng tôi mỗi lúc một gần. Tôi bèn hát thật lớn như muốn át tiếng động quái gở đó trong lúc vừa tiếp tục bơm hết tốc lực vừa tự nhủ phải lập tức bỏ chạy khỏi nơi này, bỏ chạy trước khi cái âm thanh lách cách ma quái tới sát sau lưng.
Ý nghĩ này khiến tôi không cần kiểm soát xem bánh xe đã đủ cứng hay chưa, giựt vội vòi bơm ra, cài cái bơm sau lưng, vặn đầu van lại và leo lên xe. Khi một chân tôi vừa đặt lên bàn đạp thì đột nhiên tôi cảm thấy hãi hùng tới độ muốn ngất xỉu khi cảm thấy như có năm móng tay nhọn hoắt đặt nhẹ lên đầu tôi trước khi từ từ bò xuống gáy. Tuy sự kinh hoàng khiến tôi gần như tê liệt nhưng cũng chính sự kinh hoàng cực độ đó đã khiến chân tôi đạp mạnh trên bàn đạp và chiếc xe lao về phía trước... Hành động bất chợt này khiến những móng tay nhọn hoắt trên gáy tôi, hoặc bất cứ cái gì, biến mất, có lẽ bị rớt xuống mặt đường khi chiếc xe bất ngờ phóng tới.
Trong đêm tối, tôi cắm đầu cắm cổ đạp như bị ma đuổi, bỏ lại sau lưng những tấm mộ bia mỗi lúc một xa. Tuy đầu óc tôi như tê liệt, toàn thân tôi lạnh buốt, nhưng nhờ trời đôi chân tôi, như một cái máy, vẫn tiếp tục đạp không ngừng. Tôi đạp mãi trong bóng tối tới khi bánh trước lọt vào một cái ổ gà khiến tôi loạng choạng, cùng lúc những tiếng lách cách quái gở lại vang lên ngay ở sau lưng. Không cần nhìn lại - không dám thì đúng hơn, tôi biết là "cái gì" đó vẫn đuổi theo tôi sát nút. Có thể là một bộ xuơng, có thể là một cánh tay, một bàn tay, có thể là bất cứ cái gì nhưng điều chắc chắn "cái gì" đó phải thuộc về thế giới bên kiạ Và tôi cắm đầu cắm cổ cố đạp thật nhanh dù đang leo dốc.
Gần tới đầu dốc tôi thở hồng hộc và cảm thấy đôi chân nặng như chì. Nghĩ rằng có lẽ mình đã được an toàn, tôi vừa lơi chân thì những tiếng lách cách sau lưng lại vang lên thật rõ và tôi lại cắm đầu cắm cổ đạp điên cuồng.
Trên đoạn đường "thiên lý", thỉnh thoảng những tiếng lách cách lại vang lên ngay sát sau lưng tôi như cảnh cáo rằng tôi không thể được an toàn. Tôi có ý nghĩ là "cái gì" đó cố tình chơi trò cân não khiến thần kinh tôi căng thẳng tới độ trở thành điên loạn.
Bây giờ chiếc xe của tôi đang đổ dốc nhưng tôi không dám giảm tốc độ. "Cái gì" đó dường như cũng gia tăng tốc độ rượt theo gấp rút vì thỉnh thoảng tôi vẫn nghe những tiếng lách cách thật rõ sau lưng.
Cuối cùng dưới ánh trăng mờ nhạt, tôi nhìn thấy bóng dáng căn trại của chú tôi cùng những ánh đèn. Tôi mừng như kẻ chết đi sống lại, quẹo gấp vào con đường đất dẫn vào trại và tiếp tục đạp thật nhanh.
Rồi tôi thấy chú tôi đang đứng trước cổng trại, trên tay cầm một cái đèn bão, có lẽ đang nóng ruột chờ tôi. Nhìn thấy chú, tôi tự nhủ tất cả những gì tôi nhìn thấy và cảm thấy trước đó... ngã ba, khu mộ địa, những móng tay nhọn hoắt, những tiếng lách cách ma quái... chỉ là tưởng tượng.
Tôi đạp thẳng tới chỗ chú tôi đang đứng, thắng đánh két một cái, nhảy xuống xe đứng thở hổn hển không nói được một lời giữa lúc hai buồng phổi như muốn nổ tung. Lúc đó tôi chỉ muốn buông xe ra nằm dài xuống đất, tuy nhiên tôi biết tôi phải trả lời những câu hỏi của chú tôi trước đã.
Nhưng tôi ngạc nhiên khi thấy chú không nói một lời. Tôi nhìn vào mắt chú và dưới ánh đèn bão, đôi mắt chú đầy vẻ hãi hùng. Chú không nhìn tôi mà nhìn trừng trừng vào cái yên xe.
Tôi nhìn theo tầm mắt chú và chân tay tôi run bắn lên, để chiếc xe đổ ầm xuống đất: Tôi thấy thật rõ năm móng tay nhọn hoắt ghim chặt vào sau yên xe, những móng nhọn của một cánh tay xương trắng hếu.
oOo
Người con gái ở dốc Cầu Kiệu
| Contributed by: phuochung | Views: 27.085
Phạm Văn Thuận
Đã một năm trôi qua kể từ ngày gia đình Thanh dọn về ở khu "xóm vắng" vùng Đakao này. Gọi là "xóm vắng" vì ở cái xóm tân lập này chỉ đếm được hơn mười nóc gia và có khoảng hai mươi lăm nhân khẩu.
Vào những năm cuối thập niên bốn mươi và đầu thập niên năm mươi của thế kỷ hai mươi thì dân số thành phố Saigon-Gia Định chỉ vỏn vẹn khoảng trên dưới hai trăm năm chục ngàn người.
Gia đình Thanh chạy loạn chiến tranh giữa Việt Minh và quân đội Pháp từ miền Trung vào. Thật may mắn là ba của Thanh có người bạn đang là công chức ở Sở Bưu điện thành phố và, cũng đang ngụ không lâu ở cái "xóm vắng" này nên gia đình Thanh kiếm được một miếng đất nhỏ ở đây và dựng tạm một căn nhà bằng vật liệu nhẹ để phòng khi mưa nắng.
Thanh là con trai một nên ba má Thanh đã dành tất cả những gì có được đều cho một mình Thanh. Thanh đã hai mươi tuổi rồi và tuy rất thông minh nhưng việc học thì thường bị gián đoạn luôn vì chiến cuộc.
Nhìn cảnh gia đình luôn thiếu trước hụt sau, Thanh cũng muốn tìm một việc làm để phụ giúp cho kinh tế gia đình khá hơn và để mẹ Thanh không phải vất vả mỗi sáng với gánh xôi nặng trĩu trên vai đi dạo khắp phố phường.
Ba Thanh thì không muốn con trai mình phải lận đận và không có tương lai nên ông thường khuyên con phải cố gắng học hành cho thành đạt. Ông thường nói: "Học đến nơi đến chốn trước là ấm cho bản thân, sau là vợ con con được nhờ chứ lúc đó ba mẹ còn đâu để mà nhờ". Tuy nghe lời dạy của ba mẹ, nhưng Thanh cũng nhờ vài người bạn cùng trường tìm cho một công việc dạy kèm trẻ tại nhà.
Một ngày kia,Thanh được bạn bè giới thiệu một công việc như ý muốn là dạy kèm cho bốn em nhỏ. Ngày đầu tiên đi nói chuyện để nhận việc, Thanh không dấu nổi vẻ thất vọng khi được cho biết công việc dạy học được bắt đầu vào lúc 19h và chấm dứt lúc 22h30. Thất vọng là vì nơi mà Thanh mỗi tối phải đến ở tận ngã tư Phú Nhuận, cách nhà Thanh khoảng năm cây số hơn. Vùng đó hơi xa nhà mà lại quá vắng vẻ vì còn nhiều đồng ruộng.
Thời gian mà Thanh phải đi và về vào thời điểm đó thì không làm sao có phương tiện để di chuyển được. Thấy Thanh lo lắng, ba Thanh hỏi chuyện và khi biết nguyện vọng của con thì ông nói:
- Mỗi tối ba sẽ đưa con đi và đón con về bằng xe mobilette của ba. Ba cũng cần ra ngoài một chút vào buổi tối cho khỏe người. Khi nào gia đình mình khá một chút thì sẽ sắm cho con chiếc xe đạp.
Nghe ông nói vậy Thanh cũng ậm ừ cho qua chuyện vì Thanh biết là cả ngày ông làm trong Sở Bưu điện, tối về ông cũng muốn có những giây phút bên mẹ Thanh cho bà vui vì mẹ Thanh là một tiểu thư đài các khi quen ba Thanh. Cũng vì chiến tranh nên gia đình phải tạm thời gặp khó khăn.
Ngày đầu tiên nhận việc, Thanh rất vui vì bốn em mà Thanh dạy kèm đều rất ngoan. Bốn em này ở cùng một xóm và học cùng một trường công lập Võ Tánh trên đường Võ Di Nguỵ Các em rất yếu về môn toán và Việt văn. Một ngày nọ, ba của Thanh đến đón anh trễ. Thanh thả bộ ngang qua ngã tư Phú Nhuận thì Thanh để ý thấy có một xe thổ mộ, là loại xe ngựa chở khách rất thịnh hành vào thời điểm này và thường đậu ở ngã tư để đón khách.
Thấy Thanh, người xà ích vội ngồi thẳng dậy và mời:
- Cậu đi xe cậu ơi.
Thanh cám ơn người xà ích và nhân tiện cũng hỏi cho biết giá cả từ đây về nhà Thanh, và Thanh hứa sẽ đi vào một dịp khác.
Ba của Thanh đã đồng ý với đề nghị của Thanh là từ thứ hai đầu tuần tới, ông chỉ phải đưa Thanh bận đi mà thôi. Khi về thì Thanh sẽ về bằng xe thổ mộ. Thanh cho biết là tiền xe chỉ mất khoảng năm cắc (0,50 xu). Mỗi tháng Thanh dạy kèm từ thứ hai đến thứ sáu là năm ngày, như vậy mỗi tháng mất khoảng mười đồng tiền xẹ Tiền công kèm bốn em, mỗi em một tháng là mười lăm đồng, vị chi Thanh vẫn còn dư đến năm mươi đồng. Thấy con tính như vậy nên ba Thanh cũng tạm yên lòng. Sau một tháng dạy kèm cho bốn em. Lần đầu tiên trong đời, Thanh cầm trong tay số tiền lương mà Thanh kiếm được. Thanh đã yêu cầu mẹ từ nay không phải thức khuya dậy sớm với gánh xôi cực nhọc nữa. Thanh sẽ dựng cho mẹ một sạp báo ở đầu xóm "cho mẹ vui vì có công việc làm".
Kể từ tháng thứ hai, các em vì mến Thanh nên sau giờ học các em muốn Thanh ngồi lại để "kể đủ thứ chuyện gì mà thầy Thanh biết".
Từ đó, mỗi đêm Thanh ngồi nán lại với các em thêm một giờ.
Từ nơi dạy học, Thanh ra đến chỗ xe thổ mộ là mười một giờ bốn mươi phút đêm.
Người xà ích không lộ một vẻ gì nôn nóng và thái độ thì cũng vẫn bình thản như mọi hôm.
Đường sá vào những năm đó rất vắng vẻ. Hằng đêm, Thanh từ nơi dạy kèm đi ra đến xe thổ mộ, luôn luôn cũng chỉ có một mình Thanh chứ tuyệt nhiên không có một bóng người hay chiếc xe nào khác chạy trên đường. Nhà cửa ở khu ngã tư Phú Nhuận cũng rất ít oi và nhiều đồng ruộng. Nhà ở hai bên con đường Võ Di Nguy từ ngã tư Phú Nhuận lên đến Đakao thì im lìm then cài cửa đóng.
Cũng có đôi lúc Thanh rùng mình nghĩ vu vơ về những chuyện ma quái nhưng Thanh vội gạt đi những ý nghĩ đó. Thanh thường nhìn lén người xà ích, Thanh thấy ông ta thật bình thản nên cũng có phần yên tâm hơn và bớt suy nghĩ những điều không hay. Gọi người xà ích là ông chứ Thanh nghĩ tuổi của ông ta chỉ ngoài ba mươi.
Đêm nay cũng giống như mọi đêm. Thanh ngồi quay lưng lại với người xà ích để hai chân được thòng xuống cái bàn đạp dùng để cho khách bước lên xe. Nhìn cảnh vật hai bên đường đêm nay Thanh thấy sao nó tối tăm quá, mặc dầu nó cũng như mọi đêm qua.
Đèn không đủ soi sáng lắm ở hai bên đường... nhất là khoảng từ chợ Phú Nhuận lên đến cầu Kiệu. Thanh nghĩ quẩn là nếu chẳng may có một bọn cướp nào đó xông ra chận chiếc xe thổ mộ và bắt Thanh dẫn đi vào con hẻm nào đó thì cũng chẳng có ai dám đuổi theo. Cảnh sát cũng chưa chắc đã dám đuổi theo nói chi đến người dân thường.
Đang miên man suy nghĩ thì đột nhiên chiếc xe thổ mộ từ từ chạy chậm lại vì có người đứng đón xe.
Thanh quay đầu lại nhìn thì cũng vừa lúc người xà ích lên tiếng:
- Cô đi xe, cô ơi.
- Qua khỏi cầu Kiệu là bao nhiêu tiền hả chú?
- Dạ,mười xu cô ạ.
Thanh ngồi tránh qua một bên để người khách bước lên. Khách là một cô gái. Cô gái mặc áo dài nên cô ta cũng ngồi giống như Thanh đang ngồi để hai chân không phải bị gò cong lại như khi ngồi trong lòng xe.
Thanh là một thanh niên mới lớn và rất rụt rè trong giao thiệp, nhất là với phái nữ. Tuy đang là ban đêm và trời lạnh, nhưng Thanh cảm thấy mặt nóng bừng khi Thanh liếc mắt nhìn trộm người con gái và phát giác ra nàng rất đẹp.
Mùi thơm của da thịt nàng tỏa ra đã làm cho Thanh ngây ngất thêm và làm cho Thanh thêm rụt rè hơn. Người con gái thì từ khi lên xe chỉ cúi mặt xuống như tìm kiếm vật gì đó dưới lòng đường và, ôm sát chồng sách vào lòng như sợ nó bị ai đó giựt đi.
Thoảng chốc, người con gái mới ngước mặt lên một chút và rồi lại nhìn xuống mặt đường. Nàng tỏ ra e thẹn khi thỉnh thoảng đụng phải người Thanh vì chiếc xe thổ mộ bị gập ghềnh bởi mặt đường không được bằng phẳng lắm.
Xe vừa chạy lên giữa cầu thì người con gái quay lại nói với người xà ích:
- Ngừng ở ngay dốc đầu cầu bên kia nghe chú.
Sau khi trả tiền xong, người con gái xuống xe và thoăn thoắt bước xuống những bực thềm để đi vào xóm nhà gần đó mà Thanh nhìn theo thì không thấy một nhà nào có ánh đèn.
Hôm sau, cũng đúng tại địa điểm cũ, người con gái cũng ra đón xe và người xà ích cũng nói lời mời khách như ông đã từng mời Thanh và cô gái mà Thanh đã được nghe.
Hôm sau nữa là nhằm ngày thứ sáu, cuối tuần, người con gái đó cũng ra đón xe như hai hôm trước nên Thanh không biết người con gái đó ngày hôm sau và ngày sau nữa có ra đón xe không.
Thanh mong sao cho mau qua hết tuần để gặp lại người con gái đó. Cả ngày Thanh cứ thắc mắc về người con gái. Nàng làm gì và từ đâu ra đón xe vào cái giờ mà trên đường không một bóng người qua lại.
A, có lẽ người con gái đó cũng đi dạy kèm trẻ như Thanh chăng. Thanh để ý là nàng cũng ôm một chồng sách giống như Thanh vậy. Nàng không thể là... Thanh vội xua đuổi ý nghĩ kinh dị trong đầu và Thanh an tâm là nàng không phải là ma hiện ra để chọc ghẹo chàng.
Tối hôm thứ hai đầu tuần, bà chủ nhà mà Thanh đến dạy kèm cho biết là Thanh được về sớm hơn một giờ vì lũ trẻ mà Thanh dạy kèm được bà đưa đi đến nhà của người bạn bà chơi.
Thanh thả bộ ra ngã tư Phú Nhuận. Người xà ích và chiếc xe thổ mộ chưa đến. Thời gian còn lâu mới đến giờ Thanh ra về nên Thanh thả bộ dọc theo con đường Võ Duy Nguy để nhìn ngắm các cửa tiệm.
Bên cạnh trường công lập Võ Tánh là tòa nhà của Hội Đồng Xã Phú Nhuận. Xa hơn chút nữa về bên trái là rạp hát xi nê Văn Cầm. Một rạp hát nhỏ mà phía sau rạp có một số nhà tranh và còn nhiều đồng ruộng. Phía trước rạp bên kia đường là một cái đình mà Thanh không biết tên. Phía trước cái đình có một cái phông tên nước mà giờ này thì không có ai đến lấy nước nữa. Đi thêm một quãng đường nữa là đến ngôi chợ Phú Nhuận. Giờ này thì dĩ nhiên là chợ cũng không còn nhóm họp buôn bán gì.
Từ ngôi chợ hướng dài đến chân cầu Kiệu là một dãy nhà lá, nhà tôn lẫn lộn và không có căn nào có tầng lầu. Phía sau những căn nhà đó cũng là những thửa ruộng còn lênh láng nước. Bất chợt Thanh nhìn về phía xa xa nơi ba ngày qua có người con gái cũng hằng đêm cùng Thanh trên chiếc xe thổ mộ. Nơi đó hiện có vài căn nhà có đốt đèn. Thanh đoán người con gái có lẽ giờ này đang ngồi một trong những căn nhà đó.
Thanh nhìn đồng hồ và vội bước nhanh về khu ngã tư Phú Nhuận. Đến nơi Thanh thấy chiếc xe thổ mộ đã đậu sẵn tự bao giờ. Người xà ích có lẽ quá mệt cho một ngày lao động nên đã nằm ngả lưng ra sàn xe. Thanh không muốn làm mất giấc ngủ mệt nhọc của người xà ích, nhưng Thanh phải giả bộ tằng hắng để người xà ích biết là Thanh đã đến vì Thanh cảm thấy lo nếu để người con gái đứng chờ xe trong một quãng đường quá vắng vẻ.
Đêm nay, với bao sự mong đợi được gặp lại người con gái cùng đi trên chiếc xe với Thanh trong mấy đêm qua thì, chiếc xe thổ mộ vẫn bình thản chạy qua nơi có người con gái đứng đón xe hằng đêm.
Thanh cảm thấy một nỗi buồn man mác xâm chiếm vào tâm hồn chàng. Thanh nhìn liếc người xà ích, ông vẫn bình thản cầm cương như không để ý gì đến việc vắng bóng một người khách đêm nay.
Đã một tuần lễ trôi qua. Ba mẹ Thanh không thể không lo lắng khi thấy con trai mình có vẻ bồn chồn lo lắng một điều gì.
Các em nhỏ mà Thanh dạy kèm cũng "không thấy thích thú những câu chuyện mà thầy Thanh kể nữa". Những câu chuyện không đầu không đuôi và thường kết thúc bằng một câu:
- Ngày mai thầy kể tiếp.
Tối hôm nay khi Thanh vừa ra đến chiếc xe thổ mộ thì trời cũng vừa bắt đầu lâm râm mưa. Một cơn mưa nhẹ đầu mùa. Thanh bước uể oải lên xe và chàng ngồi co chân trong lòng xẹ Thanh không muốn đôi giầy mà chàng đang mang bị ướt.
- Cô đi xe, cô ơi!
Thanh như bị điện giựt, chàng ngồi thẳng dậy và ngoái cổ lại nhìn vì chàng biết chắc người xà ích mời người khách mà Thanh đang mong đợi. Người con gái bước lên xe. Nàng hơi lúng túng vì không biết phải ngồi làm sao thì Thanh đã lẹ làng ngồi tránh ra phía ngoài.
Khi người xà ích chuẩn bị cho xe chạy thì cô gái lên tiếng:
- Cả tuần nay bị cảm mà bây giờ lại gặp mưa nữa...thật là xui xẻo quá!
Thanh quay lại nhìn người con gái vì Thanh không biết là nàng nói chuyện với Thanh hay với người xà ích. Người con gái đang hướng mặt về phía trước và, hình như nàng nói câu đó mà không chủ đích nói với ai. Thấy đây là cơ hội mà Thanh đã ấp ủ trong lòng cả tuần qua, và đã... hứa với lòng là Thanh sẽ mạnh dạn để được làm quen với người mà Thanh rất mong nhớ.
Hít một hơi cho đầy lồng phổi, Thanh nói:
- Cô nên có một cái áo mưa.
Nói xong câu đó, Thanh thấy mình quả là không có duyên ăn nói. Chính Thanh cũng không ngờ là có một cơn mưa bất chợt như đêm nay để đem theo áo mưa thì làm sao cô gái biết trước được để mang theo cái áo mưa. Nhưng cô gái đã nở một nụ cười với Thanh và nói:
- Em... cũng không ngờ là hôm nay lại mưa.
Thanh nhìn cô gái mà trong lòng thật xao xuyến. Nàng có một nụ cười quá xinh đẹp, với một hàm răng thật trắng và thật đều đặn.
Thanh muốn nói thêm một câu gì đó mà Thanh không làm sao mở miệng được. Hai tay Thanh thì cứ hết chắp vào nhau lại xoa xoa như là đang bị lạnh lắm.
Sự im lặng thật dài. Chỉ có tiếng vó ngựa là gõ đều đều trên mặt đường.
Phút chốc mà chiếc xe thổ mộ đã lên đỉnh cầu và đang đổ dốc. Người xà ích đang ghìm cương để chiếc xe từ từ dừng lại. Tự nhiên Thanh buột miệng:
- Cô hãy đi mau về nhà để kẻo ướt. Tôi xin được trả tiền xe đêm nay cho cô.
Một lần nữa, cô gái nhìn Thanh nở một nụ cười thật tươi và lí nhí câu cám ơn rồi bước lẹ xuống những bực thềm dẫn vào khu nhà phía xa.
Có lẽ người xà ích đã nghe câu nói của Thanh với cô gái nên khi cô ta vừa xuống xe là người xà ích vẫy vẫy cái dây cương để cho con ngựa biết là nó phải tiếp tục cuộc hành trình.
Ba mẹ Thanh đang ngồi chờ đón Thanh. Hai ông bà ngạc nhiên thấy Thanh bước vào nhà và vừa đi vừa huýt sáo một bài hát vui nhộn. Ba mẹ Thanh nhìn nhau và trên gương mặt của hai người cũng thật rạng rỡ như cũng đang có những niềm vui với nhau.
- Thưa cô, tôi xin phép được...
Thanh vừa đi lại trong phòng ngủ, vừa làm điệu bộ nghiêng mình về phía trước và vừa nói. Nhưng Thanh nghĩ làm như vậy không được vì khi xe thổ mộ ngừng là cô gái bước lên xe ngay trong khi Thanh vẫn đang còn ngồi trên xe thì không thể nghiêng mình được. Chẳng lẽ vừa ngồi vừa nghiêng mình.
Dù sao thì cô gái cũng đã có để ý đến mình nên cô gái đã đồng ý cho mình trả tiền cuốc xe.
Nghĩ vậy nên Thanh yên tâm và...hứa với lòng là sẽ mạnh dạn hơn trong lần gặp đêm mai.
- Có lẽ...cô cũng dạy kèm trẻ ở gần chỗ cô đứng đón xe ?
- Đúng vậy. Sao...anh biết?
- Tôi đoán vậy thôi vì...anh cũng dạy kèm cho bốn đứa trẻ ở khu ngã tư Phú Nhuận.
Im lặng một lúc, Thanh nói về công việc của anh và hỏi cô gái:
- Anh dạy môn toán và Việt văn. Nhà... em ở...dưới đó hả?
- Dạ, xuống hết các bực thềm rồi quẹo phải và đi theo mé sông đến căn nhà cuối cùng là nhà em đó. Em sống với ba vì mẹ em mất lâu rồi. Ban ngày em đi may tới chiều mới về. Ăn cơm xong là đi đến gần chỗ mà em thường đứng đón xe để dạy kèm cho hai em bé gái học môn sử ký. Em tên là Thơm. A, tới nơi rồi. Thôi em về nhe. Hẹn anh đêm mai. Cám ơn anh đã trả tiền xe cho em. Hôm nay xin cho em được tự trả nghe.
- Không đáng bao nhiêu mà. Em cứ tự nhiên đi về nhà đi, lát nữa anh trả luôn tiền xe cho. Tên anh là Thanh.
- Cám ơn anh Thanh nhiều lắm.
Thanh thật sung sướng trong lòng biết bao. Lầu đầu tiên được làm quen với một người con gái, mà lại là người con gái đẹp nữa; và lại là người có học nữa. Như vậy là cô gái đã thật sự có cảm tình với mình nhiều lắm rồi.
Thanh lại mong một ngày mau trôi qua.
- Anh Thanh đối tốt với em nhiều lắm. Em...
Người con gái ngập ngừng như có điều gì khó nói lắm. Thanh liền tiếp lời:
- Em...muốn nói gì với anh thì cứ nói, đừng ngại.
- Em muốn mời anh vào nhà em uống ly trà cho biết nhà. Nhưng em thật sự ngại quá vì nhà em quá nghèo. Em.... sợ anh không được vui.
- Được em mời đến nhà là quý lắm rồi. Gia đình anh cũng đâu phải thuộc loại giàu có sang trọng gì mà dám chê bai ai.
- Vậy anh thử hỏi xem "ông xe ngựa" có chịu chờ để đón anh về không.
Tuy làm như chỉ chú tâm vào việc điều khiển cho con ngựa chạy đúng hướng đúng đường. Nhưng khi nghe cô gái nói đến "ông xe ngựa" là ông lên tiếng ngay:
- Cô chú cứ tự nhiên. Tôi chờ bao lâu cũng được mà. Nhà tôi cũng ở gần đây thôi.
Qua dốc cầu và khi xe ngừng lại hẳn, Thanh mau mắn bước xuống trước. Thanh muốn đưa tay đỡ người con gái mà không dám.
Thanh lẽo đẽo theo sau người con gái như một cái bóng. Vì đường đi quá tối nên cô gái đã vấp vào một vật gì đó nằm trên đường và ngã chúi về phía trước. Thanh mau mắn ôm ngang lưng người con gái để đỡ cho nàng khỏi té.
Thân thể người con gái chạm vào tay Thanh và chuyền qua Thanh một cảm giác thật lạnh. Thanh thật ái ngại cho người con gái. Tại sao nàng lại không mang hờ theo một cái áo ấm vào ban đêm. Thanh nhớ lại mấy đêm qua, người con gái thường hay ngồi co ro và ôm sát chồng sách vào lòng như để hơi ấm không thoát ra ngoài được. Thanh nghĩ và thấy thương người con gái nhiều hơn. Anh quyết tâm sẽ tặng người con gái cái áo ấm vào đêm mai.
Đi hết một dãy nhà khoảng bảy hay tám căn gì đó thì Thanh và người con gái đến trước một căn nhà ở cuối dãy nhà mà Thanh vừa đi qua. Căn nhà khá nhỏ nhoi được bao bọc xung quanh bằng ván cây mỏng và nóc nhà lợp bằng lá.
Người con gái dùng tay đẩy nhẹ cánh cửa và bước vào nhà. Trước mặt Thanh là một cái bàn nhỏ và có một cái đèn dầu cũng nhỏ xíu để bên trên. Kế bên cái đèn là một ấm đựng trà và bốn cái tách được đựng trong một cái dĩa bằng nhôm.
Sau cái bàn đó là một cái giường được che bởi một tấm màn trắng rất sạch sẽ đã được kéo qua để chẹ Phía bên trái là nhà bếp. Cạnh cái bếp có mắc một cái võng và có một người đàn ông đang nằm trên đó mà Thanh đoán là ba của cô gái. Người con gái lên tiếng khi người đàn ông bỏ chân xuống khỏi cái võng như dự định đứng lên.
- Đây là anh Thanh, người đã trả tiền xe cho con mà con đã kể với ba.
Thanh không thấy được rõ mặt người đàn ông vì ánh đèn dầu không đủ soi sáng khắp căn nhà. Thanh gật đầu và lí nhí trong miệng câu chào.
- Anh ngồi xuống đó đi. Em pha trà anh uống cho ấm. Em bị lạnh quá. Em sợ bị bịnh lắm.
- Ừ,người em lạnh lắm. Em đi làm đêm mà ăn mặc như vậy dễ bị bịnh lắm đó.
- Em cũng định tới đầu tháng này em sẽ mua một cái áo lạnh thật dầy, chứ mỗi đêm cứ như vầy thì sợ sẽ không kéo dài được lâu.
Thanh nhớ lại là người con gái chỉ mới ra đón xe trong vài tuần nay thôi, chứ lúc Thanh mới nhận việc dạy kèm thì đâu có thấy người con gái này ra đón xe. Nàng nói tới đầu tháng sẽ mua áo, như vậy là nàng chờ đầu tháng có lương rồi mới mua áo.
Thanh thấy thương người con gái này quá. Nàng chân thật quá. Nàng ăn nói thật tự nhiên và rất thân tình với Thanh.
- Anh uống nước đi.. cho ấm.
Vì mãi suy nghĩ nên Thanh không để ý người con gái đã rót ly nước cho Thanh tự lúc nào.
Thanh bưng ly nước lên và uống cạn.
Người của Thanh lúc này tự dưng nóng lên. Cái đầu thì bần thần như có đeo chì. Mắt thì nhìn cảnh vật xung quanh như mờ mờ ảo ảo.
Người con gái nhìn Thanh và nói với vẻ đầy lo lắng:
- Anh Thanh có sao không? Hình như anh bị cảm rồi. Hay anh lại nằm tạm trên cái giường này để em cạo gió cho.
Nói rồi người con gái bước tới dìu Thanh lại cái giường và cởi áo của Thanh ra để cạo gió.
Tỉnh dậy, Thanh thấy ba mẹ anh đang ngồi bên giường anh trong bệnh viện Tân Định.
Ba mẹ Thanh cho biết là những người ở xóm dốc cầu Kiệu phát giác anh bị bất tỉnh nằm trong một nghĩa địa nhỏ gần đó và cảnh sát đã đưa anh vào đây.
Thanh không biết là anh mơ hay tỉnh. Chuyện vừa qua là có thật hay chỉ là mợ Tại sao anh lại nằm bất tỉnh trong một nghĩa địa nào đó. Như vậy người con gái mà Thanh gặp gỡ là...ma ?
Thật không thể tin được! Theo các truyện ma quái mà Thanh đã đọc thì...con ngựa của người xà ích sẽ có phản ứng nếu người con gái đó là ma.
Thanh từ từ nhớ lại những chuyện đã xảy ra đêm hôm qua với anh. Thanh quyết định xin xuất viện sáng nay để cùng với ba Thanh đến xóm dốc cầu Kiệu tìm căn nhà của người con gái.
Khi Thanh và ba của Thanh đến trước căn nhà cuối cùng bên con sông ở dốc cầu Kiệu thì Thanh nhận biết đây không phải là căn nhà mà Thanh đã đến đêm qua.
Đang dáo dác tìm căn nhà mà Thanh muốn tìm thì một người đàn ông trong căn nhà cuối cùng trong xóm mà Thanh và ba Thanh đang đứng bước ra hỏi:
- ông và cậu muốn tìm ai?
- Tôi muốn tìm căn nhà của cô Thơm làm nghề may ở trong khu này.
- A, cậu là người hồi sáng đã bị bất tỉnh và nằm trong cái nghĩa địa đằng kia đó phải không? Cô Thơm thì tôi không biết. Vả lại ở đây cũng không có ai làm nghề thợ may cả. Nhưng ở chỗ cái nghĩa địa nhỏ mà cậu bị bất tỉnh đó, thì vào khoảng vài năm trước có một căn nhà của hai cha con. Người cha làm nghề chạy xe thổ mộ mướn. Người con gái thì làm nghề may, nhưng tôi không biết tên là gì vì tôi chỉ mới dọn về đây thôi. Tôi nghe những người xung quanh kể lại là có một ngày kia có một bọn lính Nhật vào đây. Chúng đã thay nhau hiếp cô thợ may. Vừa lúc người cha đi làm về, ông thấy vậy nên đã lấy cây rựa bửa củi ra chém tụi lính Nhật. Tụi lính đó đã bắn người cha chết liền tại chỗ. Cũng vì muốn phi tang nên tụi lính Nhật đã bắn cô gái chết luôn rồi đốt nhà. Căn nhà đang cháy dở dang thì một cơn mưa đổ xuống và dập tắt đám cháy. Người dân ở đây tìm thấy xác chết của hai cha con bị tụi lính Nhật giết nhưng chưa bị cháy hết nên đã được chôn ngay tại chỗ căn nhà đó. Sau này mấy người trong xóm qua đời, người nhà đem chôn cạnh ngay hai cái mả của hai cha con người xà ích và riết rồi thành cái nghĩa địa nhỏ.
Tháng 12 năm 1974.
Thanh hiện là một sĩ quan cao cấp còn sống độc thân của Q.L.V.N.C.H.và là Giáo sư giảng dạy tại trường Võ Bị và trường Chiến Tranh Chính Trị tại Đà Lạt.
Một đêm kia, Thanh ngồi trong một căn phòng thật kín đáo để nghiên cứu một vấn đề gì đó trong một cuốn sách mà Thanh mới nhận được hồi chiều.
Đêm nay, nơi Thanh đang ngồi bị cúp điện. Người lính cận vệ đã thắp tạm cho Thanh một cây đèn cầy để anh làm việc.
Trong một lúc Thanh ngẩng đầu lên. Bất chợt anh thấy có bóng một người phụ nữ hiện lên trên vách tường và di chuyển từ cuối phòng đến chỗ anh đang ngồi thì biến mất.
Thanh nhìn lại phía sau xem ai đang đi đến. Anh rùng mình khi thấy tất cả cửa phòng đều đã được đóng kỹ. Bên ngoài thì tối đen vì vẫn chưa có điện và cây đèn cầy thì đang để trước mặt anh.
Thanh bình tĩnh ngồi xuống và nhìn về phía vừa xuất hiện cái bóng của một người con gái để tìm câu giải thích cho cái hiện tượng vừa xảy ra.
Câu giải thích mãi mãi vẫn nằm trong lòng Thanh vì anh biết rằng nếu anh có kể chuyện này ra thì cũng chẳng một ai tin câu chuyện của anh.
Có ma hay không?
| Contributed by: Admin | Views: 60.987
Người Kể Chuyện Ma
Lời nói đầu: Ma quỷ là một vấn đề đã có tự ngàn xưa. Ngày còn nhỏ, chúng ta ai mà chả có lần ngồi co rút hai chân nghe kể chuyện mạ Tuy nhiên, ngày nay nhiều người cho rằng ma quỷ chỉ là sản phẩm của óc tưởng tượng.
Có lẽ chỉ những ai đã gặp ma mới biết là có ma, còn những người chưa bao giờ gặp thì nửa tin nửa ngờ, nhất là quý bà.
Người viết xin không có ý kiến về vấn đề ma quỷ này mà chỉ xin thuật lại hầu quý vị một số những câu chuyện ma do các độc giả cuả một tờ báo Úc kể lại. Cũng xin nói thêm rằng hầu hết các địa danh trong chuyện đều thuộc tiểu bang New South Wales.
*
Cách đây 19 năm, Mary là phụ tá thanh tra tại khám đường Mullawa dành cho nữ phạm nhân tại tiểu bang NSW. Một hôm, trong tường thành khám đường, Mary thấy một con ma bước ra khỏi cơn mưa. Cô thuật lại:
- Thật hết sức lạ lùng! Hôm đó, sau khi gặp giám đốc khám đường, tôi băng qua đường để về văn phòng thì đột nhiên có một cái gì khiến tôi quay lại và thấy một cô gái tóc dài đen nhánh trong bộ đồ màu xanh nước biển đứng thu mình bên lề đường. Tôi la lớn bảo cô ta vào bên trong rồi quay đi. Nhưng ngay sau đó khi tôi nhìn lại, cô ta đã biến mất.
Tôi bước vào phòng giặt, nơi trước kia được dùng làm nhà xác và hỏi xem cô gái ướt nhẹp kia đâu rồi. Không ai thấy cô ta hết. Tôi chợt nhớ là tù nhân không được để tóc dài như vậy và lối ăn bận cũng khác, và tôi băn khoăn tự hỏi cô gái đó là ai.
Sau đó, Mary nghỉ phép và khi trở lại làm việc, câu chuyện của cô được một nhân viên khác của khám đường xác nhận. Mary nói:
- Người này là nhân viên mới và không hề biết gì về câu chuyện của tôi, nhưng đã kể lại cho tôi nghe câu chuyện y hệt như tôi vừa kể hầu quý vị.
David cư ngụ tại Maroubra nói rằng anh là người rất đa nghi nhưng không thể cắt nghĩa được sự hiện diện của hồn ma người anh của anh đi tới đi lui trong nhà.
David cho biết:
- Anh tôi thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi vào năm 1981. Trong tai nạn đó anh bị mất một chân.
Kể từ đó, những sự việc lạ lùng đã xẩy ra trong nhà. Mọi vật di chuyển một cách bí mật trong đêm; những cái gạt tàn thuốc từ phòng khách tìm được đường vào phòng ngủ của tôi; Ti Vi tự nhiên bật lên giữa đêm và đèn ngoài hành lang nhiều khi không chịu tắt!
Tôi nghĩ rằng linh hồn của anh tôi đi khắp nơi trong nhà vì nhiều khi tôi nhìn thấy một người chỉ có một chân trong phòng.
Đôi khi David bị đánh thức giữa đêm vì những tiếng động trong phòng nhỏ để quần áo - người Úc gọi là walk-in wardrobe. Tiếng động đó giống như có người đang lục lạo lung tung để tìm một chiếc giầy bị mất hoặc một cái gì tương tự. David kể tiếp:
- Khi tôi bước vào coi thì giầy dép bị vứt lung tung đè lẫn lên nhau, trong khi những cái áo đã được máng đàng hoàng cũng nằm lăn dưới đất.
David nói thêm rằng hồn ma này chỉ xuất hiện ngoài phòng khách và trong cái phòng ngủ mà hai anh em David thường ngủ chung trước khi người anh thiệt mạng.
Một đêm, Michael bị đánh thức bởi hồn ma của một thổ dân trong phòng ngủ của anh ở Lalor Park. Michael thuật lại:
- Tôi chỉ mới ở đó được có một tuần. Đêm hôm đó, tự nhiên tôi thức giấc vào lúc nửa đêm.
Tôi nhìn thấy một thổ dân bước xuyên qua cửa phòng ngủ của tôi, tiến tới sát bên giường, ngừng lại nhìn tôi. Rồi ông ta đi ngang qua phòng và bước xuyên qua tường đi mất.
Michael, 29 tuổi, không hề sợ hãi và năm năm sau vẫn còn ở đó. Anh nói:
- Thỉnh thoảng tôi lại thoáng nhìn thấy ông ta và ông ta có vẻ là một con ma vui vẻ. Ông ta ở đây cũng khá lâu và không gây phiền hà gì cho ai hết.
Quá bực bội với con ma ám ảnh căn nhà của bà tại Bilgola Plateau, Lorna bèn cho con ma... chết luôn!
Câu chuyện nghe có vẻ bất thường và hơi khó tin này là một câu chuyện có thật 100 phần trăm.
Cách đây 14 năm, hai vợ chồng Lorna dọn tới căn nhà được xây bởi một người tên là Charlie.
Vợ chồng Lorna thường bị đánh thức bởi những tiếng động bất thường mà họ không tìm được nguồn gốc. Sau khi nói chuyện với hàng xóm, họ khám phá ra là Charlie đã chết trong căn nhà này vì chứng đau tim, và những tiếng động bất thường mà họ vẫn nghe do hồn ma Charlie gây ra.
Một buổi chiều, vợ chồng Lorna đi ngủ sớm, nhưng Charlie - tên vợ chồng Lorna đặt cho con ma - lại gây thật nhiều tiếng động khiến hai người không tài nào ngủ được.
Lorna, 52 tuổi, kể lại:
- Bực quá, tôi cho hồn ma Charlie một trận.
Tôi nói với hồn ma rằng căn nhà này là của vợ chồng tôi và chỉ đủ chỗ cho hai vợ chồng tôi. Ông ta không có lý do gì nấn ná lại đây. Muốn sống muốn tốt ông ta phải lập tức đi chỗ khác. Đừng để tôi nổi giận lên, đến lúc đó ông ta có muốn đi cũng không còn kịp nữa.
Việc đó xẩy ra cách đây đã bốn năm và có lẽ Charlie là một con ma biết điều, biết chúng tôi không bằng lòng cho ông ở trong nhà. Từ đó tới nay chúng tôi không còn bị con ma Charlie quấy rầy nữa.
Sáu tháng sau khi Sylvia, vợ của Jim qua đời, Sylvia đã trở lại dưới một hình thức khác.
Jim thuật lại:
- Một buổi tối, tôi ngồi trước bàn. Trên bàn là một cái gạt tàn thuốc, một cái ly và một cái dĩa.
Khi tôi nhìn cái dĩa thì nó tự động di chuyển về phía tôi. Tôi nói "Làm nữa đi Syvia", và cái dĩa tiến về phía tôi thêm hai ba phân nữa.
Jim, 64 tuổi, bèn kiểm soát xem cái bàn có vững chãi hay không. Rất vững. Jim cũng nghe Sylvia, người vợ từ trần một cách đột ngột của ông, gõ cửa. Jim nói:
- Tôi thức dậy thật sớm, luôn luôn cùng giờ, và nghe tiếng gõ cửa.
Khi ông ra mở cửa, không bao giờ có người nào ở bên ngoài. Con trai của Jim cũng nhìn thấy hồn ma Sylvia trong nhà ở Wollongong, một thành phố biển cách Sydney trên dưới một trăm cây số.
Jim cho biết:
- Con trai tôi cũng nhìn thấy vợ tôi đứng trước cửa phòng ngủ thứ nhì trong nhà. Như vậy, không phải chỉ mình tôi nhìn thấy Sylvia.
Dennis thề sẽ không bao giờ ăn cắp trái cây nữa sau khi bị một con ma bắt gặp.
Denis, 49 tuổi, lớn lên tại Greenacre, Sydney. Ông cư ngụ gần một căn nhà cây cũ kỹ có nhiều cây ăn trái của một cặp vợ chồng già. Dennis và lũ bạn thường ăn cắp mớ trái cây khiến ông già rất giận dữ. Dennis hồi tưởng lại:
- Khi đó vào khoảng năm 1950, hai vợ chồng ông già từ trần cách nhau một tuần, tôi không nhớ tại sao. Một tuần lễ sau khi họ chết, tôi và một thằng bạn tới hái mấy trái mận. Bạn tôi leo lên cây và tôi đứng canh dưới đất. Mặc dù chiều hôm đó trời gió và mưa, tôi nhận thấy một luồng khói bốc lên từ đường cống. Mới đầu tôi không để ý cho tới khi cuộn khói tròn, đường kính khoảng 3 thước tiến về phía chúng tôi.
Khi còn cách chúng tôi khoảng 12 thước, trái banh khói trở lên cao hơn, hẹp lại và nổi trên mặt cỏ. Đột nhiên tôi tự hỏi tại sao gió không thổi trái banh khói đó đi trong khi cỏ cây bị gió thổi ngả nghiêng. Tôi la lớn gọi bạn tôi nhảy xuống, vừa la vừa chỉ vào trái banh khói. Bạn tôi bay từ trên cây xuống đánh ụỳch một cái và chúng tôi chạy nhanh như hỏa tiễn.
Dennis, hiện cư ngụ tại Padstow, nói rằng ông không phải là người tin dị đoan nhưng không thể nào cắt nghĩa được về sự hiện diện bất thường của trái banh khói ma quái đó:
- Tôi chỉ có thể kết luận được rằng đó có thể là sự kết tụ sinh lực của một người nào từng sống trong căn nhà đó.
Colin, cư ngụ tại Darlinghurst, Sydney, nhớ lại giây phút linh hồn vợ ông lìa khỏi xác sau 14 ngày hôn mệ Ông kể lại:
- Vợ tôi và tôi bị một tai nạn xe hơi và nàng được đưa vào bệnh viện Newcastle.
Nàng bị hôn mê, và sau 11 ngày, bác sĩ nói rằng vợ tôi chỉ còn sống được mấy tiếng đồng hồ nữa. Thực ra nàng đã sống thêm được ba ngày.
Vào ngày thứ nhì, tôi và một người anh đang ở bên cạnh giường nàng thì mọi vật đột nhiên trở nên hoàn toàn yên tĩnh, giống như có một cái gì bao bọc chúng tôi.
Chúng tôi nhìn thấy các bác sĩ và y tá làm việc trong phòng bệnh khẩn cấp nhưng không nghe thấy gì hết. Tôi nhìn vợ tôi và những gì chúng tôi thấy thật không tưởng tượng nổi. Phía ngoài của vợ tôi "thoát xác" từ thân thể nàng, dâng lên từ từ và ở đó khoảng 60 giây trước khi biến mất.
Tôi hiểu rằng vợ tôi đã ra đi. Nàng tắt thở vào hôm sau.
Peter, cư ngụ tại Mona Vale, còn nhớ rất rõ việc nhìn thấy một con ma vào tháng Mười Hai năm 1976. Lúc đó Peter và người em rể đang câu cá tại một vị trí xa xôi tại Towanton, gần Noosa Heads, tiểu bang Queensland.
Ông kể lại:
- Chúng tôi đang đứng câu trên cái phà dùng để chuyên chở xe hơi. Đột nhiên chúng tôi nghe có tiếng lào xào trong những bụi cây mà chúng tôi đoán là một con possum hoặc con kangaroo.
Tiếp theo là những âm thanh như tiếng cành cây bị bẻ, làm như có ai đang cố tình dọa chúng tôi.
Hai đứa chúng tôi chạy vội lên xe và khi nhìn lại, chúng tôi nhận thấy một hình người mờ mờ với hai lỗ mắt đen thui.
Peter nói rằng hồn ma đứng tựa vào một hàng rào, một tay đặt ở một bên đầu và "nhìn thẳng vào chúng tôi".
Ông kể tiếp:
- Khi tôi bật đèn xe hướng về bóng ma thì nó biến mất, nhưng khi tôi tắt đèn, nó lại hiện ra tại cùng vị trí lúc trước.
Chúng tôi bèn lái xe tới nhà em rể tôi cách đó một cây số, lấy một cây đánh cricket và một con dao dài rồi trở lại. Khi chúng tôi tới nơi, bóng ma vẫn còn đó. Tôi chớp đèn thì nó biến mất và khi tôi tắt đèn, nó lại hiện ra.
Quá kinh hoàng, chúng tôi lái tới ty cảnh sát Towanton. Các nhân viên cảnh sát cho là hai đứa chúng tôi điên, nhưng họ thấy rõ là có một cái gì đó khiến chúng tôi sợ hãi.
Một cảnh sát viên đi theo chúng tôi tới chỗ cũ nhưng bóng ma đã biến mất không để lại một dấu vết gì. Tuy nhiên, nhân viên cảnh sát này tin ở những gì chúng tôi nói nên đã ở lại đó tới hai tiếng đồng hồ.
Con ma không hề trở lại.
Walter đang lái xe ở miền Nam nước Anh cùng một người bạn thì thấy một cô gái đứng bên lề đường xin quá giang. Walter, 54 tuổi, thuật lại:
- Lúc đó trời mưa tầm tã nên chúng tôi tắp vào lề cho cô gái lên xe.
Cô nhảy lên xe với chúng tôi và cho biết địa chỉ. Cô ta rất yên lặng và cả hai đứa chúng tôi đều không để ý nhiều tới cô ta. Khi tới địa chỉ của cô gái, chúng tôi ngừng xe, quay lại nhìn cô thì cô ta đã biến mất. Tò mò, chúng tôi tới gõ cửa căn nhà. Một thiếu phụ ra mở cửa và sau khi nghe chúng tôi thuật lại câu chuyện, hỏi chúng tôi đã cho cô ta lên xe ở chỗ nào. Khi tôi cho biết địa điểm, bà nói:
- Đó là nơi con tôi thiệt mạng cách đây bẩy năm. Khi đó tôi mới chợt nhớ ra là khi cô gái bước lên xe, cô không hề bị ướt dù trời mưa tầm tã.
Walter, cư ngụ tại Padstow, hiện rất tin tưởng vào vấn đề siêu nhiên.
oOo
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co