ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Hàn Mặc Tử là hồn thơ đau thương nhưng là một nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới. Ông để lại cho văn học Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị như: "Gái quê", "Thơ điên", "Chơi giữa mùa trăng"... Đặc sắc và gây xúc động nhất là bài "Đây thôn Vĩ Dạ" được trích trong tập "Thơ điên". Bài thơ là bức tranh tuyệt đẹp về miền quê đất nước và là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.
"Đây thôn Vĩ Dạ" trước hết là một bài thơ miêu tả cảnh đẹp xứ Huế nổi tiếng nhưng bài thơ không bắt đầu bằng một câu thơ tả cảnh, mà bắt đầu bằng câu hỏi:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?"
Câu thơ thoáng như lời trách móc nhẹ nhàng pha chút hờn dỗi, tiếc nuối của ai đó. Nhưng đằng sau đấy là một lời chào mời thiết tha, niềm mong đợi tha thiết khách đến thăm để được thưởng thức một khung cảnh thiên nhiên đẹp đến dễ say lòng người. Đại từ "anh" trong câu thơ đã gây nên nhiều cách hiểu khác nhau. Có người hiểu "anh" là sự phân thân của nhân vật trữ tình – tác giả. Nhà thơ như tự vấn lòng mình sa lâu quá rồi, anh chưa một lần về mảnh đất thôn Vĩ thân quen để ngắm nhìn khung cảnh làng quê đẹp đẽ nên thơ? Có cách hiểu khác, người phát ngôn câu hỏi phải chăng là Hoàng Cúc dịu dàng kín đáo? Nếu quả thực câu thơ là tiếng nói trách móc ý tứ thì giữa tác giả và thôn Vĩ sẽ bị ngăn bởi không gian, thời gian và nhà thơ sẽ nhìn về thôn Vĩ trong tâm thế trông về, ngóng về. Vậy mà lời thơ lại cho ta cảm giác dường như Hàn Mặc Tử đang nói về một thôn Vĩ có thực, trực tiếp hiện lên qua tầm nhìn của mình. Ngay nhan đề bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ", từ "đây" đã thể hiện cảm nhận ấy.
"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên"
Bắt đầu bằng câu hỏi, nhưng câu hỏi đầy hàm ý đã giúp nhà thơ mở ra, gợi về cả một khung cảnh thiên nhiên thôn Vĩ sống động, tươi đẹp như bày ra trước mắt: "Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên".
Nhắc đến Vĩ Dạ thôn, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí nhà thơ là những "hàng cau"(cau là cảnh đẹp, cau là hồn quê Việt Nam). Bởi vì cau là loài cây thanh nhã, xinh xắn với thân hình thẳng tắp, tán lá xanh tươi; cau còn là loại cây rất thân thuộc với làng quê Việt Nam, nơi có phong tục ăn trầu từ ngàn đời nay.
Ở đây, hình ảnh "hàng cau" của Hàn Mặc Tử còn có chi tiết khó quên. Ấy là "nắng hàng cau, nắng mới lên". Điệp từ "nắng" gợi cho ta cảm giác ánh nắng mới lên buổi sớm biểu tượng cho sức sống, niềm vui như lan rộng tràn đầy đất trời, chiếu sáng lấp lánh những "hàng cau" còn đẫm sương đêm. Trong ánh ban mai, sắc xanh của những tàu cau như ngời lên bởi thứ ánh nắng tinh khôi, bừng sáng mà không chói chang gay gắt. "Nắng mới lên" không chỉ gợi lên cảm giác trong trẻo mới mẻ, tươi tắn mà còn mở ra một không gian, thời gian thôn Vĩ trong buổi sớm mai, trong sự bắt đầu.
Đúng là cảnh trong thơ Hàn Mặc Tử hiện ra trong ánh sáng lung linh của hoài niệm nên cũng lung linh ánh sáng, rực rỡ sắc màu và rất gợi cảm:
"Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"
Thiên nhiên thôn Vĩ được thi sĩ ngắm nhìn từ xa đến gần, từ toàn cảnh đến cụ thể. Câu thứ ba cất lên như một tiếng reo đầy thích thú, biểu lộ sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, ngưỡng mộ trước vẻ đẹp bất ngờ của vườn cây Vĩ Dạ... "Vườn ai mướt quá xanh như ngọc".
Câu thơ đã diễn tả rất thành công những vườn cây tươi tốt, sum xuê của Vĩ Dạ. Vườn của Vĩ Dạ với những cây cảnh, cây ăn quả được chăm sóc bởi bàn tay cần cù, khéo léo lại được tắm nắng gội mưa thường xuyên nên bóng nhẵn, tươi tốt, ánh lên như màu ngọc bích, long lanh. Về nghệ thuật ở câu thơ này, tác giả dùng thán từ "quá" và hình ảnh so sánh "xanh như ngọc'. Thi sĩ dùng tính từ "mướt" chứ không phải "mượt". Vì "mướt" ngoài ý nghĩa chỉ sự nhẵn bóng như mượt, còn có ý nghĩa tươi non, gợi vẻ óng ả, mỡ màng, trong trẻo, ánh lên như loáng nước, đã mô tả được thật tài tình cảnh vật tốt tươi chứa chan sức sống. Còn ngọc là loại đá quý có sắc bóng xanh biếc rất đẹp. Bằng lối so sánh độc đáo ấy, vườn thôn Vĩ hiện lên như "một viên ngọc lớn không chỉ óng ánh sắc xanh, mà còn đang toả vào không vào gian một màu xanh long lanh ánh sáng". Nhờ cái "nắng mới lên" ở câu trên rọi xuống màu xanh của vườn cây mới tạo ra cái "mướt" và "xanh như ngọc". Tả vườn ở câu thơ này, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã đạt đến độ tinh tế của một hoạ sĩ tài hoa. Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét: "Hàn Mặc Tử có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng láng".
Ngắm nhìn bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ thơ mộng, thi sĩ liên tưởng đến một hình ảnh thật bất ngờ thú vị: "Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Hình ảnh con người thấp thoáng ẩn hiện sau những cành lá trúc đã thổi vào khung cảnh tạo vật một sinh khí mới. Bóng dáng con người xuất hiện làm cho cảnh Vĩ Dạ vốn đã đẹp lại còn đẹp hơn nữa trong sự hài hoà giữa cảnh và người, giữa tĩnh và động. Câu thơ ngoài ý nghĩa tả thực, còn mang ý nghĩa tượng trưng cách điệu hoá. Cảnh và người tô điểm cho nhau. Cảnh xinh xắn, thơ mộng; người dịu dàng phúc hậu. Tất cả tạo nên một vẻ đẹp hài hoà, kín đáo nên thơ. Nhờ thế, câu thơ đã làm nổi bật cái linh hồn, phong cảnh vườn cây xứ Huế.
Tóm lại, bằng những chi tiết quen thuộc bình dị mà không kém phần độc đáo gợi cảm, Hàn Mặc Tử đã khắc hoạ được một bức tranh quê Vĩ Dạ - Huế tràn đầy sức sống với vẻ đẹp bất ngờ, có sự hài hoà giữa cảnh với người. Đoạn thơ cũng đã làm khơi dậy trong tâm hồn người đọc biết bao nỗi niềm quê hương, làng mạc Việt Nam thân yêu muôn đời.
Từ khổ thơ thứ nhất sang khổ thơ thứ hai, mạch thơ có sự chuyển đổi đột ngột, mở ra một thế giới khác của Huế, khác hẳn với thế giới ban đầu. Một bên là tràn trề ánh sáng, mướt xanh sự sống; một bên hiu hắt, u buồn, chia li, dẫu vẫn còn sự thơ mộng, êm đềm:
"Gió theo lối gió mây đường mầy
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Mạch thơ đã vận động đi từ ngoại cảnh vào tâm cảnh. Bức tranh sông nước, bờ bãi như trải dài và thấm sâu một nỗi buồn li biệt. Phải chăng mang nặng mặc cảm của một người thiết tha gắn bó với đời mà có nguy cơ phải chia lìa khỏi cõi đời và một mối tình đang ở dạng đơn phương chưa có những phút giây gặp gỡ ngọt ngào đã sớm rơi vào cảnh ngộ cay đắng, chia lìa nên cảnh như hoà vào lòng người mà sầu tủi chia li? Bởi đang trong tâm trạng như vậy, nên nhìn vào đâu cũng thấy cảnh vật như đang chia lìa, sầu tủi. Gió thổi mây bay theo quy luật tự nhiên, thường là một chiều, nhưng ở đây là đôi đường đứt gãy. Gió đóng khung trong gió, mây cuộn trong mây. Điệp từ "gió" và điệp từ "mây" đã tô đậm ý thơ ấy. Ngoài việc dùng điệp từ, câu thơ còn sử dụng phép đối và lối ngắt câu giữa dòng để nhấn mạnh ý. Và ngay hình ảnh "dòng nước buồn thiu" lặng im trôi và "hoa bắp lay" cũng không còn là hình ảnh thực mà nó đã nhuốm màu tâm trạng, mang hồn người. Cảnh có sự lay động nhưng là sự lay động, khẽ khàng, vật vờ, hiu hắt của hoa bắp chỉ làm tăng thêm sự tĩnh lặng, buồn vắng trong cảnh. Và đó cũng là cảm giác cô đơn, vắng lặng, buồn hiu hắt trong lòng thi sĩ. Hai câu thơ không chỉ nhằm tả cảnh, tả tình trong cảnh, mà dường như còn muốn tả cái nhịp điệu của cảnh. Đó là cái nhịp điệu êm ả, lững lờ, cái nét trầm tư không nơi nào có được của Huế đẹp và thơ. Hai câu thơ này có nhịp điệu khoan thai, chậm rãi cũng đã diễn tả thành công cảm xúc trên.
Mạch thơ đã chuyển hẳn một thế giới thôn Vĩ thực và tràn đầy ánh nắng sang một thế giới mộng thấm đẫm ánh trăng ở khổ hai. Trăng dưới ngòi bút tài hoa của ông bỗng trở nên huyền ảo, tràn đầy vũ trụ, tạo nên không khí nửa thực, nửa hư như trong cõi mộng:
"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Chỉ có trong mộng thì sông mới là "sông trăng" và "thuyền" mới chở đầy trăng. Có khác chăng, ở đây thi sĩ Hàn Mặc Tử đã trăng hoá toàn bộ tạo vật, làm nên một không gian tràn ngập ánh trăng trong tâm tưởng. Trăng là biểu tượng cho cái đẹp, thiên nhiên, cuộc đời; cho sự thanh bình, hạnh phúc, niềm vui. Với Hàn Mặc Tử, trong cảnh ngộ lúc đó, trăng có ý nghĩa như một bám víu duy nhất, như người bạn tri âm tri kỷ giờ chỉ còn là nỗi ước ao, là sự khát khao gặp gỡ và nỗi niềm lo âu về sự muộn màng, dang dở. Nó đã trở thành một nỗi ám ảnh da diết. Cho nên, lời thơ của Tử cất lên như một câu hỏi đau đáu một nỗi niềm day dứt với một chữ "kịp" đầy phấp phỏng;
"Có chở trăng về kịp tối nay?"
Thế nhưng chữ "kịp" ở đây lửng lờ một câu hỏi: liệu có chở kịp trăng về trong tối hôm nay? Có thể kip và cũng có thể không còn kịp nữa... Tối nay là một khái niệm thời gian ngắn ngủi. Hàn Mặc Tử biết rằng sự sống của mình chỉ còn lại những giây phúc ngắn ngủi ở trần thế, sẽ có người đem hạnh phúc đến cho nhà thơ nhưng nếu đến trễ thì hạnh phúc ấy thật vô nghĩa.
Đây thôn Vĩ Dạ không chỉ xuất sắc về mặt nội dung, mà còn thể hiện được sự tài hoa của Hàn Mặc Tử thông qua nghệ thuật của tác phẩm. Hình ảnh thơ vô cùng độc đáo, gợi cảm. Ngôn ngữ thơ trong sáng, tinh tế, giàu liên tưởng. Âm điệu, nhịp thơ thì tinh tế, thiết tha. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật liên tưởng, biện pháp so sánh, nhân hóa, hoán dụ. Âm điệu hỏi bao trùm bài thơ, mang lại sự ám ảnh và tha thiết của một hồn thơ đầy khát khao với cuộc đời.
- Lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy ẩn khúc của nhà thơ.
- Trân trọng cuộc sống của bản thân.
- Khi còn sức lực, còn tuổi trẻ hãy cống hiến hết mình và làm những điều có ích cho xã hội như cách Hàn Mặc Tử đã trải qua với căn bệnh của mình.
- Học cách sống yêu đời, luôn lạc quan và hướng tới những điều tươi đẹp.
- Chúng ta phải biết trân trọng cuộc sống hiện có, cần nỗ lực hết mình để thực hiện khát vọng của bản thân.
Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" là một bức tranh đẹp về cảnh và người qua tâm hồn giàu tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ với nghệ thuật gợi liên tưởng, hoà quyện thiên nhiên với lòng người. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn nguyên nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. Qua đó, ta càng khâm phục hơn nghị lực sống của chính tác giả, cùng sự tài hoa của một nghệ sĩ giàu tình yêu thương.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co