Truyen3h.Co

Văn 12

Rừng xà nu

tolab0_0831

Súng nổ rung trời giận dữ

Người lên như nước vỡ bờ

Nước Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn, đứng dậy sáng lòa

Đã có những tháng ngày như thế, những tháng ngày đất nước hừng hực sục sôi trong khí thế của cuộc kháng chiến gian khổ mà anh hùng. Mảnh đất Tây Nguyên đã đi vào văn chương như một huyền thoại về những con người "đẹp từ như trong chân lí sinh ra", những con người mang vẻ đẹp, sức sống mãnh liệt như những Cây xà nu cao lớn chống lại kẻ thù để bảo vệ quê hương, đất nước. Nguyễn Trung Thành đã tái hiện xuất sắc vẻ đẹp đậm tính sử thi ấy thông qua truyện ngắn "Rừng xà nu" được in trong tập "Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc". Rừng xà nu đã đem lại ngỡ ngàng cho người đọc khi một truyện ngắn mà phản ánh được cả một cuộc đầu tranh chống Mỹ ngụy của người dân Tây Nguyên, vì vậy tính sử thi càng được tô đậm rõ nét hơn thông qua cách xây dựng nhân vật, hình tượng cây xà nu và ngôn ngữ của tác phẩm.

1. Nhan đề tác phẩm

- Truyện ngắn "Rừng xà nu" có thể được đặt những nhan đề khác như: "Những cây xà nu không bao giờ chết"; "Người anh hùng Tnú"; "Mảnh đất anh hùng"; "Đêm tái sinh", vv...nhưng tất cả những nhan đề trên có lẽ đều không thích hợp bằng nhan đề "Rừng xà nu". Nhan đề "Rừng xà nu" là một nhan đề phù hợp hơn cả, khi nó vừa thể hiện một hình ảnh gắn bó với dân làng-là đại diện cho số phận và vẻ đẹp của cộng đồng, vừa mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.

Cũng là một loài cây "ham ánh sáng mặt trời" như con người Tây Nguyên luôn vươn tới ánh sáng chân lý.

- Ý nghĩa tả thực: Là cây xà nu gắn bó với dân làng, một loài cây đặc biệt sinh trưởng mạnh nơi núi rừng Tây Nguyên. Cánh rừng xuất hiện trong tác phẩm, là cái nền cho không gian truyện, cũng là loài cây gắn bó với người dân làng Xô Man. Nó xuất hiện như một hình tượng trung tâm trong truyện ngắn, bởi lẽ xuyên suốt tác phẩm ta đều bắt gặp những cánh rừng xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời, hay những hình ảnh của xà nu trong đời sống hàng ngày của người dân.

-Ý nghĩa biểu tượng: Là chứng nhân không gì có thể đánh gục, luôn luôn theo sát những sự kiện lịch sử quan trọng của làng Xô Man. Là biểu tượng cho con người Tây Nguyên anh hùng với những phẩm chất cao đẹp: Kiên cường, bất khuất, đùm bọc lẫn nhau, vượt qua đau thương, quật khởi theo Đảng làm Cách mạng. Là sự nối tiếp các thế hệ, khẳng định sự tiếp nối tư tưởng hành động giữa những người dân làm Cách mạng. Một cây xà nu ngã xuống là sẽ có cây khác mọc lên, cũng giống như một thế hệ người dẫn làm cách mạng trôi qua sẽ lại có một thế hệ mới sẵn sàng tiếp nối.

2. Hình tượng cây xà nu

"Tây Nguyên ơi, rừng bao nhiêu lá...có hoa nào đẹp nhất rừng". Ai đã từng lắng nghe tiếng hát ấy trong những ngày sôi sục thời đánh Mĩ. Ai đã từng biết đến hoa Pơ-lang, loài hoa đẹp nhất của núi rừng Tây Nguyên có hàng ngàn cánh, nở tươi thơm mát đến hàng vạn năm đã được nói đến trong sử thi Đăm-Săn. Tiếng hát ấy, loài hoa ấy còn đem đến cho ta bao xúc động, bồi hồi khi nghĩ tới những phẩm chất anh hùng trong truyện ngắn
của Nguyễn Trung Thành

a. Hình tượng cây xà nu là hình tượng xuyên suốt, trung tâm góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm

Dùng biểu tượng của thiên nhiên không phải là việc xa lạ với Nguyễn Trung Thành, trong tác phẩm, cây xà nu chính là 1 hình tượng để gửi gắm bao suy nghĩ sâu sắc về vận mệnh của con người, đất nước, dân tộc...

- Nguyễn Trung Thành cũng đã từng gửi gắm tâm sự của mình về hình thành cốt truyện: "Cái truyện này sẽ bắt đầu bằng 1 khu rừng xà nu mà tôi sẽ ra sức tả 1 cách tạo hình và truyện sẽ kết thúc bằng cảnh rừng xà nu như 1 vĩ thanh xa mờ dần và bất tận".
Đi suốt chiều dài tác phẩm, không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Trung Thành lại miêu tả rừng xà nu tỉ mỉ, cụ thể, chi tiết với 1 cảm xúc say mê, mãnh liệt và bằng 1 ngôn ngữ giàu chất thơ đến vậy. Truyện có đến hơn hai mươi lần nhắc đến rừng xà nu ở nhiều biến thể khác nhau như "cây xà nu", "lá xà nu", "nhựa xà nu", "khói xà nu", "nhựa xà nu".

- Cây xà nu là hình tượng bao trùm là mạch sống mạch hồn của tác phẩm. Khi cầm bút sáng tác thiên truyện này, hình ảnh đầu tiên hiện về, khởi phát trong tâm trí ông là cây xà nu, những cánh rừng xà nu. Hình tượng thiên nhiên ấy đã trở thành chủ âm của tác phẩm, nó chiếm giữ những vị trí quan trọng nhất của truyện ngắn: Nhan đề, mở đầu và kết thúc. Hình ảnh cây xà nu còn trở đi trở lại nhiều lần tạo nên không gian đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên.

b. Ý nghĩa tả thực: Hình tượng cây xà nu gắn bó với con người Tây Nguyên, với cuộc sống dân làng Xô-man: (Đời sống vật chất và tinh thần).

- Cây xà nu gắn bó mật thiết với cuộc sống thường nhật của người dân làng Xô-man: Cây xà nu hiện lên trong tác phẩm là một loài cây đặc thù, tiêu biểu cho vùng đất Tây Nguyên. Cây xà nu luôn gắn bó gần gũi với đời sống của dân làng Xô man, có mặt trong đời sống hàng ngày của dân làng. Lửa xà nu cháy dần dật trong mỗi bếp, trong đống lửa của nhà ưng tập hợp dân làng, khói xà nu xông bảng nứa để Tnú và Mai học chữ, nhựa xà nu làm đuốc cho Dít giã gạo, cháy trong gió, trong mưa soi đường cho cụ Mết dẫn dân làng vào rừng lấy giáo mác. Mười ngón tay Tnú bị đốt vì giẻ tẩm nhựa xà nu, và chính vì cảnh tượng đau thương ấy dân làng đã nổi dậy để "đống lửa xà nu lớn giữa nhà" soi rõ "xác mười tên lính giặc nằm ngổn ngang".

- Cây xà nu còn tham gia vào những sự kiện trọng đại của dân làng: Cây xà nu cũng đã thấm sâu vào nếp cảm, nếp nghĩ của người Tây Nguyên. Tnú cảm nhận về cụ Mết "ngực cụ căng như cây xà nu lớn". Trong câu truyện vê Tnú, cụ Mết cũng nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào: "Không có gì mạnh bằng cây xà nu nước ta", cây xà nu đã trở thành máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của con người Tây Nguyên. Cây xà nu có mặt và tham dự vào tất cả sinh hoạt cộng đồng của người dân làng Xô-man. Dân làng Xô-man sinh ra dưới bóng cây xà nu, lớn lên với cây xà nu và khi chết đi cũng yên nghỉ dưới dưới bóng cây xà nu.

- Cây xà nu còn tham dự vào tất cả những sinh hoạt, những tâm tình, những nỗi buồn vui của con người Tây Nguyên trong cuộc chiến đấu anh dũng nọ. Rừng xà nu, cây xà nu như những con người, những tâm hồn vừa là nhân chứng, vừa tham gia vào bản anh hùng ca, vừa chịu đựng gian nan, vất và, chết chóc, đau thương của tội ác do kẻ thù gây ra.

c. Ý nghĩa biểu tượng

=> Nếu tác giả sử thi Đăm-săn tin vào cây thần Smuk thì các nhà thơ sử thi cách mạng dùng yếu tố kì ảo chỉ là để thể hiện ý tưởng: "Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây" ("Việt Bắc"-Tố Hữu) thì trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước ác liệt như thế Nguyễn Trung Thành đã tìm đến cây xà nu như biểu tượng của 1 sự sống bất diệt và những phẩm chất vô cùng cao đẹp của người dân Tây Nguyên.

- Vị trí, thế đứng của cây xà nu:

+ Đầu tiên là Nguyễn Trung Thành đã chọn vị trí và thế đứng cho cây xà nu thật khác lạ ở đầu tác phẩm: "Nằm trong tầm đại bác của đồn giặc", nằm trong sự hủy diệt bạo tàn: "Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào đồi xà nu cạnh con nước lớn". Truyện mở ra thế đứng của cây xà nu vừa đối đầu, vừa khắc nghiệt, vừa vẽ ra 1 ranh giới giữa sự sống và cái chết, giữa sự mất còn và tái sinh, giữa sự tàn phá khốc liệt của quân thù với sức sống mãnh liệt, không thể có gì khuất phục. Cách mở của câu chuyện thật gọn gàng, cô đúc mà vẫn đầy uy nghi tầm vóc.

+ Rừng xà nu nằm trong tầm đại bác của giặc vậy mà không có 1 thứ đại bác nào có thể hủy diệt được sức sống của nó vốn bắt rễ sâu trong lòng đất, không khuất phục nổi những con người vốn sinh ra từ truyền thống anh hùng, bất khuất của mảnh đất Tây Nguyên.

- Cây xà nu đau thương, mất mát:

+ Nguyễn Trung Thành đã điểm qua tất cả những thời khắc đối chọi khắc liệt nhất của rừng xà nu trong những năm tháng chiến tranh: "Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày 2 lần hoặc buổi sáng sớm hoặc xế chiều, hoặc đứng bóng hoặc xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy". Bom đạn Mĩ đã khiến "Cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào là không bị thương".

+ Tác giả đã chứng kiến nỗi đau của xà nu: "Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình đổ ào ào như một trận bão". Rồi "Có những cây con vừa lớn ngang tâm ngực người bị đạn đại bác chặt đứt làm đôi. Ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không lành được cứ loét mãi ra, năm mười hôm sau thì cây chết".

+ Các từ ngữ: Vết thương, cục máu lớn, loét mãi ra, chết,...là những từ ngữ diễn tả nỗi đau của con người. Nhà văn đó mang nỗi đau của con người để biểu đạt cho nỗi đau của cây. Do vậy, nỗi đau của cây tác động đến da thịt con người gợi lên cảm giác đau đớn. Cũng như xà nu, những con người Xô Man, thân thể và trái tim họ đầy thương tích. Cũng có những đời người như những cây xà nu bị chặt đứt tuổi xuân. Mai ngã xuống khi hạnh phúc lứa đôi và tình yêu tuổi trẻ đang tràn trề... Đó là chuỗi ngày đau thương của người dân làng Xô Man, những quần chúng bị giết vì nuôi cán bộ. Anh Xút bị giết, bà Nhãn bị chặt đầu... lưng Tnú ngang dọc những vết dao, mười đầu ngón tay anh bị kẻ thù thiêu cháy. Những người con ưu tú đã ngã xuống: Anh Quyết, Mai, cả đứa con thân yêu của Tnú.

+ Miêu tả cái chết cây xà nu, câu văn của Nguyễn Trung Thành không hề chìm lặng mà kết tinh những vẻ đẹp hùng tráng "ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra tràn trễ, thơm ngào ngạt, long lanh dưới nắng hè".

- Cây xà nu có sức sống bất diệt:

+ Tác giả đã phát hiện được vẻ đẹp và sức sống mãnh liệt của cây xà nu: "Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy". Đây là yếu tố cơ bản để xà nu vượt qua giới hạn của sự sống và cái chết. Sự sống tồn tại ngay trong sự hủy diệt: "Cạnh một cây xà nu mới ngã gục đó có bốn năm cây con mọc lên". Tác giả sử dụng cách nói đối lập (ngã gục- mọc lên; một-bốn năm: Cây này ngã xuống đã có cây con khác mọc lên, sự hủy diệt, tàn phá của bom đạn giặc Mĩ chỉ là 1, còn sức sống trỗi dậy của cây xà nu là 4,5) để khẳng định một khát vọng thật của sự sống.

+ Cây xà nu đã tự đứng lên bằng sức sống mãnh liệt của mình: "Cây con mọc lên, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời". "Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như trên thân thể cường tráng. Chúng vươn lên rất nhanh thay thế những cây đã ngã..". Bom đạn tàn phá thế nào đi chăng nữa, cây xà nu vẫn có 1 sức sống diệu kì. Cây xà nu cứ thế làm tròn nhiệm vụ cao cả của mình: "Cứ thế, 2,3 năm nay, rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra che chở cho dân làng".

+ Viết "Rừng xà nu", Nguyễn Trung Thành không xuất phát từ cảm hứng đau thương mà từ cảm hứng bi hùng-tái sinh cho nên giọng văn cũng không giấu niềm tự hào, tươi vui khi miêu tả về sức sống của rừng xà nu. Nhựa của cây xà nu cứ thế truyền nguyên vẹn từ cây cổ thụ sang cây con mới mọc thì dòng máu những người anh hùng của Tây Nguyên bất khuất cũng truyền nguyên vẹn từ lồng ngực của những người già sang nguyên vẹn trái tim của những người trẻ.

- Cây xà nu ham ánh sáng: Cây xà nu ham khí trời cũng giống như dân làng Xô Man yêu thích tự do. Cả rừng xà nu đua nhau vươn lên đón thứ ánh nắng chói chang của mùa hè, rọi xuống từng luồng thẳng tắp. Xà nu đẹp một vẻ đẹp hùng tráng, man dại đẫm tố chất núi rừng. Cây xà nu vươn lên ham ánh sáng giống như người dân làng Xô-man yêu tự do, hướng tới Đảng, Cách mạng. Cây xà nu cũng là một nhân chứng lịch sử chứng kiến sự đau thương, mất mát và vùng lên quật khởi của người dân Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ ác liệt.

- Các thế hệ cây xà nu, cũng tương ứng với các thế hệ con người làng Xô Man: Cụ Mết có bộ ngực "căng như một cây xà nu lớn", tay "sần sùi như vỏ cây xà nu". Cụ Mết chính là cây xà nu cổ thụ hội tụ tất cả sức mạnh của rừng xà nu. Tnú cường tráng như một cây xà nu trưởng thành được tôi luyện trong đau thương đã trưởng thành mà không đại bác nào giết nổi. Dít trưởng thành trong thử thách với bản lĩnh và nghị lực phi thường cũng giống như xà nu phóng lên rất nhanh tiếp lấy ánh mặt trời. Còn bé Heng là mầm xà nu đang được các thế hệ xà nu trao cho những tố chất cần thiết để sẵn sàng thay thế trong cuộc chiến cam go còn có thể phải kéo dài.

- Cây xà nu còn biểu tượng cho niềm tin vào Đảng, Cách mạng qua câu nói của cụ Mết: "Đảng còn, núi nước này còn". Nguyễn Trung Thành đã "Biến cả rừng xà nu thành cả hệ thống hình ảnh được mô tả song song với hệ thống nhân vật". (Nguyễn Đăng Mạnh). Hay nói cách khác, hình tượng thiên nhiên, hình tượng con người được ứng chiếu, soi rọi lẫn nhau. Chúng đều có cảnh ngộ và số phận riêng.

* Nghệ thuật: Trong quá trình miêu tả rừng xà nu, cây xà nu, nhà văn đã sử dụng nhân hóa như một phép tu từ chủ đạo. Ông luôn lấy nỗi đau và vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực để nói về xà nu, khiến xà nu trở thành một ẩn dụ cho con người, một biểu tượng của Tẩy Nguyên bất khuất, kiên cường. Giọng văn kể chuyển đều đặn, sử dụng các biện pháp tu từ, so sánh, phép đối và kết cấu đầu cuối tương ứng.

=> Hình tượng cây xà nu là 1 sáng tạo nghệ thuật đáng kể của Nguyễn Trung Thành. Tác giả lựa chọn hình ảnh cây xà nu và đem lại cho nó những ý nghĩa mới, những lớp ý nghĩa rất nghĩa rất khác nhau qua cách viết vừa gợi, vừa tả của tác giả. Cây xà nu là một hình tượng mang tầm vóc của thời đại, vừa là hiện thân của quá khứ với các phong tục, tập quán truyền nối nhiều đời và nó cũng chính là cốt cách của dũng khí cách mạng. Sức sống của cây xà nu tượng trưng cho sự trường tồn của dân tộc. Ngọn lửa xà nu tượng trưng cho ánh sáng của Cách mạng, còn dáng lao thẳng lên bầu trời của nó tượng trưng cho vẻ đẹp của 1 thế hệ đã làm nên lịch sử băng mồ hôi và máu của mình như trong lời thơ của Chế Lan Viên:

Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ như cha, như vợ như chồng

Ôi tổ quốc nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông

("Sao chiến thắng")

3. Hình tượng nhân vật Tnú

-> Nguyễn Trung Thành là nhà văn có mặt trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc. Nếu như trong cuộc kháng chiến chống Pháp ta đã bắt gặp 1 anh hùng Núp ở làng Kong Hoa thì trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ở làng Xô Man ta lại gặp 1 Tnú anh hùng với đầy đủ phẩm chất, khát vọng của người dân Tây Nguyên (Tnú có tên thật là anh Đề người Xê-đăng nhưng tên giống người Kinh nên trong tác phẩm, Nguyễn Trung Thành đổi thành Tnú). Nguyễn Trung Thành viết tác phẩm này theo như lời hối thúc của nhà thơ Thu Bồn là viết bản "Hịch tướng sĩ của thế kỉ XX thời đánh Mĩ.

a. Lai lịch, xuất thân: (Cuộc đời của Tnú được khắc họa qua 2 giai đoạn, giai đoạn từ khi còn nhỏ cho tới khi làm liên lạc cho anh Quyết và có vợ. Giai đoạn từ lúc vợ con bị giết đến khi anh vùng lên để trả thù).

- Tnú là người có tuổi thơ bất hạnh.

- Tnú là người Strá, mồ côi cha mẹ từ rất sớm, được dân làng Xô Man cưu mang, đùm bọc. Có lẽ vì thế, ngay từ nhỏ Tnú gắn bó với buôn làng và được hun đúc mang những phẩm chất tiêu biểu của dân làng XôMan: Yêu quê hương, yêu tự do, trung thành với Cách mạng, gan góc, dũng cảm, thông minh, gan dạ, giàu tự trọng... Thật đúng như lời cụ Mết đã nói về Tnú "Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta".

b. Tnú điển hình cho con người có những tính cách Tây Nguyên

=> Nguyễn Trung Thành là nhà văn có nhiều thành công khi viết về đề tài chiến tranh Cách mạng và đặc biệt thành công viết về đề tài miền núi-Tây Nguyên. Là nhà văn sớm mở đường đưa văn học vào mảnh đất Tây Nguyên, trên mảnh đất Tây Nguyên ấy, nhà văn đã xây dựng được những tòa lâu đài, nguy nga, tráng lệ.

→ Tnú là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Câu chuyện về cuộc đời của anh là 1 câu chuyện đã được "sử thi hóa" của cụ Mết. Cuộc đời, số phận của Tnú tiêu biểu cho cuộc đời, số phận các dân tộc Tây Nguyên thời chống Mĩ cứu nước: "Rừng xà nu là truyện của 1 đời và được kể trong 1 đêm. Đó là cái đêm dài như cả 1 đời". (Nguyên Ngọc).

* Trước hết Tnú là người gan góc, dũng cảm, kiên cường và trí tuệ:

- Ngày còn nhỏ: Tnú là cậu bé liên lạc gan góc, dũng cảm, một lòng với cách mạng.

+ Ngay từ thời còn nhỏ, Tnú đã cùng Mai vào rừng tiếp tế, nuôi giấu anh Quyết cán bộ Đảng "nằm vùng", và học chữ. Tnú đã đi ba ngày đường tới núi Ngọc Linh mang về một xà lét đầy đá trắng làm phấn. Đó là lòng "khát chữ" để vươn lên làm người và vươn tới ánh sáng cách mạng của anh, của người Strá quê anh.

+ Học chữ thua Mai thì lấy đá đập vào đầu. Điều ấy thể hiện ý thức của lòng tự trọng và ý chí quyết tâm cao.

+ Nhưng đi giao liên thì đầu anh "sáng lạ lùng". Giặc vây các ngả đường, Tnú leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi "xé rừng mà đi", lọt qua tất cả các vòng vây. Qua sông, Tnú lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình. Tru biết là chỗ nước mạnh giặc "không ngờ". Thật là mưu trí.

+ Bị giặc phục kích, họng súng giặc "chĩa vào tai lạnh ngắt", Tnú nuốt luôn cái thư bí mật của anh Quyết gửi về huyện. Giặc tra tấn dã man. Chúng giải anh về làng, bắt Tnú khai người nào là cộng sản. Anh đặt tay lên bụng mình nói: "Ở đây này!". Lưng anh đầy những vết dao chém của lũ giặc. Tnú đã bất khuất hiện ngang, trung thành vô hạn với cách mạng. Anh có bao giờ quên lời cụ Mết dạy: "Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn!"

- Khi lớn lên: Tnú có một trái tim sục sôi căm giận và yêu thương.

+ Sau 3 năm bị tù ở ngục Kông Tum, Tnú vượt ngục trở về làng. Cả làng vui mừng đón anh ở nhà ưng. Tnú đọc thư tuyệt mệnh của anh Quyết cho cả làng nghe. Lần thứ hai anh lại đi ba ngày lên núi Ngọc Linh, không lấy đá trắng làm phấn mà mang về một gùi nặng đá mài. Cả làng Xô Man, ngày thì phát rẫy, đêm đêm mài vũ khí. Tnú trở thành chỉ huy đội du kích. Với lũ giặc, với thằng Dục ác ôn thì Tnú là "con cọp" nếu không giết sớm, nay nó làm loạn rừng này rồi!.

+ Nguyễn Trung Thành đã đặt nhân vật vào một tình huống khốc liệt nhất để tô đậm tính cách anh hùng của Tnú. Thằng Dục kéo một tiểu đội về làng Xô Man. Ngọn roi của giặc không từ một ai. Tiếng kêu khóc dậy làng. Xảo quyệt, nham hiểm, thằng Dục bắt mẹ con Mai, với âm mưu bắt "cọp cái và cọp con" để "dụ cọp đực"! Mẹ con Mai bị đánh chết bằng trận mưa cây sắt. Chỉ có hai bàn tay không, Tnú nhảy xổ vào lũ giặc để cứu vợ con. "Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm chặt lấy mẹ con Mai". Anh nguyền rủa lũ giặc là "Đồ ăn thịt người!". Hai mắt Tnú là "hai cục lửa lớn". Tnú bị giặc bắt, trói bằng dây rừng. Thằng Dục ác ôn đã dùng giẻ tẩm nhựa xà nu tra tấn anh. Mười ngón tay Tnú đã thành mười ngọn đuốc. Lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng! Máu anh mặn chát ở đầu lưỡi. Tnú "cắn nát môi" chịu đựng. Tnú lẫm liệt hiên ngang "không thèm kêu van!". Khí phách hiên ngang bất khuất của Tnú như một khúc tráng ca anh hùng mang màu sắc sử thi thần kì.

+ Cụ Mết và đội du kích tràn lên nhà ưng giết hết sạch bọn ác ôn, cứu sống được Tnú. Vết thương lành, ngón nào cũng cụt một đốt, nhưng Tnú còn cầm được giáo, bắn súng được, anh lại đi tìm cách mạng, gia nhập Giải phóng quân, đi tìm Mỹ - Diệm, để trả thù cho mẹ con Mai, cho bà con làng Xô Man. Anh đã xông xuống hầm ngầm đồn giặc, không dùng súng, không dùng dao, mà dùng hai bàn tay, mười ngón tay cụt bóp cổ thằng chỉ huy! Với Tnú, "chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục!".

* Tnú là người có tính kỉ luật cao và tuyệt đối trung thành với cách mạng:

- Khi đi lực lượng xa nhà 3 năm, tuy nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng phải được cấp trên cho phép thì anh mới về và về chỉ đúng trong 1 đêm.

- Bị giặc bắt tra tấn nhưng không hề khai, bị giam thì vượt ngục về làm Cách mạng, đi liên lạc thì bị địch bắt, địch tra hỏi chỉ tay vào bụng và khai: "Cộng sản ở đây". Bị địch bắt đốt đôi bàn tay mà vẫn nhớ lời anh Quyết dặn: "Người chiến sĩ không hề kêu van".

* Tnú là người biết vươn lên mọi đau đớn và bi kịch cá nhân và gia đình:

=> Nguyễn Trung Thành đã từng nói: "Không phải vì văn chương mà cần đến những người anh hùng mà vì người anh hùng mà cần thấy cần văn chương. Vì chỉ có văn chương mới hi vọng làm cho những con người anh hùng bất tử".

- Bi kịch bản thân: Tnú mồ côi bố mẹ từ nhỏ cả cha lẫn mẹ, lớn lên trong vòng tay yêu thương của bản làng và trở thành người con ưu tú mang những phẩm chất của bản làng Bản thân Tnú bị giặc bắt, bị tra tấn dã man: "tấm lưng chẳng chịt những vết chém, 2 bàn

tay bị đốt mỗi ngón chỉ còn 2 đốt".

- Bi kịch gia đình: Vợ con bị sát hại nhưng Tnú không hề nao núng, khuất phục, kiên gan gia nhập bộ đội để cầm súng bảo vệ bản làng, tổ quốc.

* Tnú là người giàu lòng thương yêu người thân, bản làng và căm thù giặc sâu sắc, cháy

bỏng:

- Tình yêu thương với buôn làng:

+ Khi về tới làng, anh rửa chân, rửa mặt bằng nước con suối đầu làng.

+ Nguyễn Trung Thành đã miêu tả nhịp chày giã gạo nói lên thật xúc động tình yêu làng của Tnú. Từ xa, anh đã nhận ra "tiếng chày dồn dập của làng anh". Đã 3 năm nay, "nỗi nhớ day dứt lòng anh chính là tiếng chày đó", tiếng chày "chuyên cần rộn rã" của mẹ anh xa xưa, của những người đàn bà và những cô gái Strá, của Mai và Dít, "từ ngày lọt lòng Anh ta đã nghe thấy tiếng chày ấy rồi". Vì căm giận mà Tnú đi đánh giặc, vì yêu thương, vì nhớ làng, nhớ tiếng chày giã gạo nơi chôn nhau cắt rốn mà anh trở về thăm làng, chỉ một đêm thôi, rồi anh lại ra đi với bao lưu luyến.

Tnú là người giàu lòng thương yêu người thân: Khi chứng kiến vợ con Mai bị tra tấn dã man anh không kìm được nỗi đau đang đốt cháy trong lòng mình. "Anh đã bứt hàng chục trái vả mà không hay. Anh chồm dậy. Ở chỗ con mắt anh là 2 cục máu lớn". Tình yêu và sự căm thù đã kết tinh thành ngọn lửa rực cháy tỏng mắt anh, anh thét lên, tiếng thét bật thành lời hiệu triệu chiến đấu. Anh xông ra giữa vòng vây để cứu mẹ con Mai khi trong tay không có 1 thứ vũ khí gì.

- Tnú có lòng căm thù giặc sâu sắc, cháy bỏng:

+ Càng đau thương, càng mất mát thì lòng căm thù giặc càng sâu sắc, chảy bỏng. Ở anh, sự kiên cường, kiêu hãnh có thừa, không bao giờ khuất phục cường quyền, trong lòng ngực anh vẫn đau đáu, chan chứa yêu thương, sức mạnh căm thù...Nhưng tất cả vẫn chưa đủ để anh bảo vệ tình yêu và đứa con của mình. Vì sao vậy? Vì Tnú chỉ có 2 bàn tay không giữa 1 bầy ác ôn khát máu đầy vũ khí. Chính vì thế sua này cụ Mết đã rút ra chân lí: "Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo".

+ Quan niệm của Tnú: "Đã là giặc thì đứa nào cũng là thằng Dục cả". Tnú có 3 mối thù lớn: Mối thù bản thân đối với giặc, của gia đình Tnú và của cả dân làng Xô-man. Từ tình yêu thương người thân, bản làng, lòng căm thù giặc sâu sắc đã biến thành hành động cụ thể: Dù 2 bàn tay của Tnú mỗi ngón vẫn còn 2 đốt nhưng vẫn gia nhập lực lượng quân giải phóng để bảo vệ quê hương.

c. Tnú điển hình cho con đường đấu tranh đến với Cách mạng cả người dân Tây Nguyên

Cuộc đời bi tráng và con đường đến với cách mạng của Tnú điển hình cho con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên, góp phần làm sáng tỏ chân lí của thời đại Phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng; đấu trang là con đường tất yếu để tự giải phóng. Hình tượng rừng xa nu và Tnú có quan hệ khăng khít, bổ sung cho nhau. Rừng xà nu chỉ giữ được màu xanh bất diệt khi có những con người biết hi sinh như Tnú; sự hi sinh của những con người như Tnú góp phần làm cho những cánh rừng xà

nu mãi xanh tươi.

=> Nhân vật Tnú có cuộc đời bi tráng, đau thương mà anh hùng. Qua nhân vật Tnú và câu chuyện về làng Xô Man, tác giả ca ngợi tinh thần bất khuất, sức mạnh quật khởi của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng, con người Việt Nam nói chung trong cuộc đấu tranh giải phóng dẫn tộc và khẳng định chân lí của thời đại: Để giữ gìn sự sống của đất nước, nhân dẫn, không có con đường nào khác là phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù.

Tác giả xây dựng nhân vật Tnú bằng nghệ thuật độc đáo. Tnú vừa có những nét riêng cá tính sống động, vừa mang phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu. Lời văn với những câu văn giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu, khi thâm trầm, khi tha thiết, trang nghiêm.

→ Nhân vật Tnú được khắc tạc đậm tính sử thi - nhân vật ấy gánh nặng số phận lịch sử. Dù có nhiều dị biệt nhưng Tnú vẫn là kiểu nhân vật sánh vai với các anh hùng trong trường ca Đăm-Săn, Xinh Nhã của núi rừng Tây Nguyên hay người anh hùng Ra-ma trong sử thi "Ramayana" của Ấn Độ.

4. Hình tượng đôi bàn tay Tnú

- Là một hình ảnh xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm, là một chi tiết nghệ thuật đầy sức ám ảnh. Bàn tay là biểu tượng sức sống, nghị lực, ý chí căm thù giặc và tinh thần vô song + Là bàn tay cầm phấn viết chữ do anh Quyết dạy cho; là bàn tay cầm đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt khi không học được chữ; cũng là bàn tay đặt lên bụng mình mà khảng khái nói: "Cộng sản ở đây này!"

+ Là bàn tay đã từng áp vào má Mai mà cảm nhận những giọt nước mắt của Mai sau nhiều ngày xa cách

+ Cũng bàn tay ấy đã chịu sự trừng phạt của quân thù, khi bị quấn giẻ tẩm dầu xà nu rồi châm lửa đốt, trở thành bàn tay mà mỗi ngón chỉ còn hai đốt.

+ Đến cuối truyện, đó là bàn tay đã bóp chết tên chỉ huy đồn giặc ngay trong hầm ngầm cố thủ của nó.

- Là một hình ảnh mang nhiều ý nghĩa biểu tượng:

+ Bàn tay Tnú là một chi tiết nghệ thuật đặc biệt, qua bàn tay có thể thấy được cuộc đời, số phận và tính cách của nhân vật.

+ Bàn tay của Tnú cũng trải qua một cuộc hành trình như chính cuộc đời nhiều thăng trầm của anh: Khi còn lành lặn và bị giặc đốt mỗi ngón một đốt; cùng anh trải qua những dấu mốc quan trọng của số phận.

+ Lúc còn nhỏ là đôi bàn tay lành lặn, Tnú đã dùng bàn tay ấy dắt Mai lên rẫy trồng tỉa khi còn bé, đã xách xà lét giấu vài lon gạo đi nuôi anh Quyết ở trong rừng, đã cầm viên phấn bằng đá trắng để học từng chữ cái, để rồi chính bàn tay ấy, cũng tự lấy đá dập vào đầu vì học mãi không vào. Đó là bàn tay của sự dũng cảm, gan dạ, khảng khái, là bàn tay thể hiện quyết tâm đến với cách mạng. Đó cũng là bàn tay mà Mai đã run run cầm lấy trong ngày Tnú thoát ngục Kon Tum, để rồi áp lên má khóc: "ứa nước mắt khóc, không phải vì như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã lớn, vừa xấu hổ vừa thương yêu...". Và rồi cũng chính bàn tay ấy, đã để tuột mất hai người quan trọng nhất đời mình, đã không thể bảo vệ được Mai và con, là bàn tay của yêu thương và sự mất mát.

+ Lúc bàn tay nguyên vẹn không còn nữa, mỗi ngón bị cụt mất 1 đốt, bàn tay vừa là một nỗi đau không bao giờ Tnú có thể quên, cũng là một minh chứng lịch sử hùng hồn cho dân làng Xô Man ngày ấy. Khi chấp nhận sự thực "mười ngón tay mày vẫn cụt thế à, không mọc ra được nữa à...", cũng là lúc cụ Mết quả quyết: "Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng được." Và quả thật sau này, chính bàn tay ấy đã trở thành bàn tay quả báo, bàn tay tự mình trừng trị những kẻ là nguồn gốc của mọi thương đau...

=> Đôi bàn tay của Tnú cũng có một cuộc đời giống như cuộc đời của anh và dân làng Xô Man, phải hứng chịu đau đớn, mất mát rồi vùng lên mạnh mẽ, quyết liệt. Đôi bàn tay ấy thành chứng tích của tội ác và lòng hận thù và sau này nó trở thành bàn tay quả báo cùng với dân làng vùng lên quật khởi.

5. Nhân vật cụ Mết, Mai, Dít, Heng

a. Nhân vật cụ Mết

- Cụ Mết có lẽ là cây xà nu đại thụ. Cụ sợi dây nối giữa xa xưa và hiện đại, là pho sử sống của làng Xô man. Cụ chính là linh hồn, là vị tướng chỉ huy tài tình của dân làng, phải chăng "cây xà nu ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho dân làng" chính là hình ảnh cụ Mết - vị già làng đáng kính. Trải bao bao sóng dập gió vùi những cây đại thụ ấy ngày càng chắc chắn hơn, rễ cây bám sâu vào từng thớ đất buôn làng. Như đã nói ở trên, cây xà nu như một chứng nhân lịch sử.

- Tấm lòng cụ Mết đối với cách mạng trước sau như một. Cụ đã từng nói: "Cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn". Trong những năm đen tối, cụ cùng dân làng Xô-man, từ thanh niên, ông già bà già, đến lũ trẻ đi nuôi và gác cho cán bộ: năm năm chưa hề có một cán bộ bị giặc bắt hay giết trong rừng làng này. Cụ Mết là linh hồn của làng Xô-man. Chính cụ đã lãnh đạo dân làng đồng khởi. Hình ảnh ông cụ mắt sáng và xếch ngược, ngực căng như một cây xà nu lớn, cất tiếng nói vang vang như một mệnh lệnh thôi thúc họ vùng lên tiêu diệt kẻ thù thật rực rỡ như trong một trang sử thi anh hùng.

- Câu nói của cụ Mết: "Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo" gióng như một chân lí, một lời hiệu triệu thúc giục tinh thần đánh giặc.

b. Nhân vật Dít

Dit là nhân vật tiêu biểu cho những cô gái Tây Nguyên thời chống Mĩ, trưởng thành từ những đau thương và quật khởi của dân làng. Trong thời gian dân làng Xô-man chuẩn bị chiến đấu, rồi bị địch bao vây, cụ Mết và Tnú dẫn đám thanh niên vào rừng. Chỉ có con Dít nhỏ, lanh lẹn, cứ sẩm tối lại bò theo máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên. Khi bị giặc bắt, Dít bị chúng bắn dọa, đạn chỉ sượt qua tai, sém lóc, cày đầy quanh hai chân nhỏ... đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản...

- Ngày Mai bị giặc đánh chết và Tnú ra đi, trong khi mọi người, cả cụ già, đều khóc vì cái chết của Mai và Dít vẫn lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh. Tất cả chi tiết trên thể hiện tính cách kiên cường, sức chịu đựng phi phường của Dít, biết dồn nén đau thương để nung nấu lòng căm thù. Như những người con đã khuất của làng Xô-man, Dít căm thù trên cơ sở nhận thức rõ bản chất của kẻ thù, để quyết tâm chiến đấu tiêu diệt chúng.

- Khi Tnú về thăm làng, Dít đã là bí thư chi bộ vừa là chính trị viên xã đội. Như ngày nào, đôi mắt Dít vẫn mở to, bình thản, trong suốt khi gặp lại Tnú. Dù trong lòng rất vui mừng, Dít vẫn thực hiện trách nhiệm kiểm tra giấy về phép của anh. Rồi từ chỗ gọi Tnú là đồng chí, Dít chuyển sang gọi là anh, xưng em thật tự nhiên, như người em gái nhỏ của Mai và Tnú ngày xưa và tỏ bày tỏ tình thân thiết: "Sao anh về có một đêm thôi? (...). Bọn em miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi".

c. Nhân vật bé Heng

- Ngày Tnú ra đi lực lượng, bé Heng mới đứng ngang bụng anh, chưa biết mang củi, chí

mới đeo cái xà-lét nhỏ xíu theo người lớn ra rẫy. Ngày Tnú về phép, bé Heng trưởng thành, với cách ăn mặc và trang bị ra vẻ một người lính, một chiến sĩ du kích của bản làng. Làng Xô-man giờ đây trở thành làng chiến đấu và con đường vào làng phải qua hai cái dốc chẳng chịt hầm chông, hố chông ngăn chặn địch. Bé Heng đã góp phần không nhỏ vừa việc thiết lập những công sự này, nên tỏ ra rất hãnh diện.

- Nếu cụ Mết xứng đáng với hình ảnh cây xà nu đại thụ giữa rừng xà nu bạt ngàn xanh thẫm, thì bé Heng tượng trưng cho cây xà nu mới lớn ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời, sẽ phát triển đến đâu, chưa ai lường được.

6. Tính sử thi của tác phẩm

a. Khái niệm Sử thi:

- Sử thi là những áng văn tự sự (bằng văn vần hoặc văn xuôi), có quy mô hoành tráng, miêu tả và ca ngợi những thành tựu, những sự kiện có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với cộng đông, ca ngợi những anh hùng bộ tộc mang sức mạnh thần kỳ, tiêu biểu cho phẩm chất và khát vọng của bộ tộc (như anh hùng Rama trong Sử thi "Ramayana"; Hecto trong sử thi "Iliat", "Ôđixê" của Hy Lạp...Ở Việt Nam có người anh hùng Đăm Săn trong "Bài ca Đăm Săn" của người Ê-đê.

- Mỗi bộ sử thi chính là niềm tự hào to lớn của dân tộc đó. Sử thi thời cổ đại là thể loại một đi không trở lại. Nền văn học hiện nay không còn thể loại sử thi nữa nhưng cái không khí, tính chất của sử thi vẫn được người cầm bút mang vào trong các sáng tác. Và chất sử thị đã làm nên giá trị, làm nên sức sống cho từng trang viết, làm sống lại không khí hùng tráng của một thời đại anh hùng. Một số truyện ngắn tiêu biểu minh họa cho sự tồn tại của nền văn học sử thi trong Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 như: tiểu thuyết "Hòn Đất" của Anh Đức, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Đất ta mênh mông của Dương Hương Ly...

b. Qua chủ đề tác phẩm

- Trước hết ở chủ đề mà tác phẩm đặt ra có ý nghĩa sống còn với cách mạng Việt Nam, những sự kiện có tính chất toàn dân được nhắc tới. Những chuyện xảy ra với làng Xô man hoàn toàn không có ý nghĩa cá biệt. Chúng là chuyện chung của cả Tây Nguyên, cả miền Nam, cả nước trong những ngày chiến đấu chống đế quốc Mĩ. Tình thế bị o ép của làng Xô Man trước ngày đồng khởi là bức tranh sinh động về cuộc sống đau thương của đồng bào miền Nam trong những ngày Mĩ-Diệm thi hành luật 10-59, khủng bố dữ dội những người yêu nước, những người kháng chiến cũ. Trước sự tàn ác của kẻ thù, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường duy nhất là cầm vũ khí vùng lên chiến đấu giải phóng quê hương. Khi làng Xô Man đứng dậy thì gương mặt của làng lúc này lại chính là gương mặt của cả nước trong những ngày quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ - một gương mặt rạng rỡ, tự tin, điềm tĩnh đón nhận những thử thách mới.

Truyện ngắn Rừng xà nu được in trong tập truyện ngắn "Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc". Tác phẩm được viết vào năm 1965. Đây là thời điểm Mỹ đổ quân tham chiến ở miền Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam ở vào hồi quyết liệt: giặc Mỹ điên cuồng đánh phá Cách mạng miền Nam. Trước sự hủy diệt tàn bạo của kẻ thù, tinh thần đấu tranh cách mạng của nhân dân (từ miền ngược đến miền xuôi) càng kiên cường và bất khuất "Họ đã xuống đường và đem cả lương tâm và nhân phẩm bắn tỏa lên bầu trời đầy giặc giã" (Chu Lai)

c. Qua hình tượng nhân vật

- Nhân vật Tnú

- Cụ Mết, Mai, Dít, Heng

Nước Việt Nam từ trong biển máu

Người vươn lên như một thiên thần.

(Tố Hữu).

d. Qua hình tượng cây xà nu

- Ý nghĩa tả thực

- Ý nghĩa biểu tượng.

Một cây ngả cả rừng cây lại mọc

Người tiếp người đã mấy vạn mùa xuân.

(Nguyễn Trung Thành).

e. Qua nghệ thuật của tác phẩm

- Hình thức kể chuyện với cách tạo không khí truyện rất Tây Nguyên đậm đà màu sắc sử thi truyền thống. Nó làm ta nhớ đến lối kể khan (Kê trường ca) trong sinh hoạt cộng đồng mang tính chất truyền thống. Bao trùm lên toàn bộ thiên truyện là một khung cảnh nghiêm trang, hào khí lại vừa mang đậm chất lãng mạn cuốn hút về làng Xô man bất khuất kiên

cường.

- Giọng văn trong "Rừng xà nu" là giọng văn mang âm hưởng vang dội như tiếng cồng tiếng chiêng của đất rừng Tây Nguyên đại ngàn hùng vĩ. Giọng văn đó ẩn chứa chất liệu làm nên tính sử thi hoàng tráng của tác phẩm.

- Kết cấu truyện theo lối vòng tròn hay còn gọi là đầu cuối tương ứng. Chính kết cấu đó tạo nên dư âm hùng tráng. Lối kết cấu này như cái khung bền vững để nhà văn khai triển câu truyện. Đây là lối kết cấu vừa đóng vừa mở. Câu chuyện đóng lại để mở một câu truyện khác. Điều này làm chúng ta tưởng tượng đây chỉ là một chương trong lịch sử ngàn đời của người Xô man, chỉ là một chương trong bản anh hùng ca vô tận của Tây Nguyên. - Biện pháp nhân cách hóa, miêu tả cây xà nu như con người Xô Man. Vì vậy cây xanh hiện ra như một nhân vật của câu truyện. Nguyễn Trung Thành đã biến rừng xà nu thành cả một hệ thống hình ảnh được miêu tả song song với hệ thống hình tượng nhân vật.

7. Thành công về nghệ thuật

- Tô đậm không khí, màu sắc đậm chất Tây Nguyên (bức tranh thiên nhiên; ngôn ngữ, tâm lí, hành động của nhân vật)

- Xây dựng thành công hai tuyến nhân vật đối lập gay gắt: giữa kẻ thù (thẳng Dục) với lực lượng cách mạng, đại diện là các thế hệ nối tiếp nhau vừa có những nét cá tính sống động vừa mang những phẩm chất có tính khái quát, tiêu biểu (cụ Mết, Tnú, Dít,...)

- Khắc họa thành công hình tượng cây xà nu vừa hiện thực vừa mang đậm ý nghĩa biểu tượng, đem lại chất sử thi và lãng mạn, bay bổng cho thiên truyện.

- Nghệ thuật trần thuật sinh động (đan cài câu chuyện về cuộc đời Tnú và cuộc nổi dậy của dân làng Xô Man; xen kẽ thời gian kể chuyện và thời gian của các sự kiện; phối hợp các điểm nhìn...) tạo nên giọng điệu, âm hưởng phù hợp với không gian Tây Nguyên.

8. Ý nghĩa văn bản

Rừng xà nu là câu chuyện về quá trình trưởng thành trong nhận thức cách mạng của một con người, cũng như của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Chân lí tất yếu mà họ nhận ra là: Chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới có thể đè bẹp được bạo lực phản cách mạng.



Tôi yêu say mê cây xà nu. Ấy là một cây hùng vĩ và cao thượng, man dại và trong sạch. Mỗi cây cao vút, vạm vỡ ứ nhựa. Tán lá vừa thanh vừa rắn rỏi, mênh mông tưởng như đã sống ngàn đời, còn sống đến ngàn đời sau. Trong dụng ý miêu tả của mình, Nguyễn Trung Thành đã lựa chọn cánh rừng xà nu bạt ngàn nằm cạnh con nước lớn, chạy xa tít tắp đến tận chân trời để làm nền cảnh cho tác phẩm của mình, để từ đó hiện lên là hình ảnh một tập thể anh hùng Tây Nguyên bất khuất, kiên cường. Đó là những con người mãi mãi đi vào huyền thoại của thế kỉ 20, đi vào những trang sử hào hùng của dân tộc. Và trong những đêm tối được ngọn lửa của Cách mạng soi đường, những trang viết về họ vẫn luôn được thăng hoa, được ghi nhớ và được kể lại cho đến muôn đời sau. Trong vang vọng của núi rừng, trong tâm trí người Xô Man cũng như bạn đọc vẫn còn đây câu nói trầm ấm đầy uy lực của cụ Mết "Nhớ lấy, ghi nhớ... Chúng nó cầm súng, mình phải cầm mác".

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co