Truyen3h.Co

Văn 12

Vợ chồng A Phủ - ĐTMX

tolab0_0831


Nam Cao đã từng khẳng định "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm , khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có". Đối với nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng, sáng tạo là yếu tố then chốt để quyết định sự sống còn của một người nghệ sỹ. Hiểu được điều đó, Tô Hoài đã xây dựng cho mình một phong cách độc đáo, một gương mặt khác lạ trên văn đàn văn học Việt Nam. Trích đoạn "Vợ chồng A Phủ" chính là minh chứng cho phong cách độc đáo ấy của Tô Hoài. Tác giả của đoạn trích là một trong những cây bút có số lượng tác phẩm đạt kỉ lục trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thời trẻ, ông phải vất vả lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề, chính điều này đã giúp ông am hiểu, đồng cảm với cuộc sống của những người lao động khốn khổ. Hơn 60 năm cầm bút, ông đã cho ra đời hơn 160 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau. Hơn nữa Tô Hoài còn là một nhà văn có vốn hiểu biết phong phú và sâu sắc về nhiều lĩnh vực đời sống. Đặc biệt là ông có khả năng miêu tả tâm lý nhân vật tài tình kết hợp lối viết truyện giàu chất thơ, vốn từ giàu có sinh động đôi khi rất bình dân và thông tục. Trích đoạn "Vợ chồng A Phủ" được viết năm 1952, là kết quả của chuyến đi tám tháng Tô Hoài cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, kháng chiến chống Pháp Truyện được in trong tập "Truyện Tây Bắc", được tặng giải nhất giải thưởng Hội Văn nghệ năm 1954 - 1955. Sau này Tô Hoài đã viết thành kịch bản phim và truyện "Vợ chồng A Phủ" được dựng thành phim. Chính Tô Hoài đã nói rằng "Đất nước và con người miền Tây đã để thương để nhớ trong tôi nhiều quá... Hình ảnh một Tây Bắc đau thương và dũng cảm lúc nào cũng thành nét thành hình trong tâm trí tôi. Đó là một ám ảnh mạnh mẽ thúc đẩy tôi sáng tác. Ngoài ra, trích đoạn "Vợ chồng A Phủ" đã phần nào phản ánh cuộc sống cơ cực, tăm tối của đồng bào dân tộc thiểu số dưới sự thống trị của bọn thực dân, phong kiến tay sai. Bên cạnh đó là tinh thần phản kháng khát khao tự do của đồng bào dân tộc. Đoạn trích nằm ở phần giữa của trích đoạn "Vợ chồng A Phủ". Trước đó, nhà văn đã mở đầu tác phẩm bằng một đoạn giới thiệu về sự xuất hiện của Mị. "Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá tra vừa trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai cạnh tàu ngựa. Nhà văn vẽ nên một bức chân dung thiếu phụ buồn khiến cho người đọc phải chú ý. Nhà thống lí giàu sang tấp nập vậy mà sao con người phải buồn, phải khổ vậy. Qua đây, tác giả dùng thủ pháp tạo tình huống đẩy vấn đề, hé mở cho người đọc về một cuộc đời đầy éo le, bi kịch của nhân vật Mị. Đồng thời nhà văn tạo tâm thế dẫn dắt chúng ta bước vào một thế giới Tây Bắc xa xăm, đậm màu sắc cổ tích.

Mị vốn là cô gái Mèo trẻ trung, xinh đẹp như bông hoa ban giữa núi rừng Tây Bắc cheo leo. Mị chăm chỉ, hiếu thảo, giàu khát vọng tự do, bao nhiêu chàng trai ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Nhưng vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ trong nhà thống lí, phải mua lấy kiếp đời trâu ngựa, bị bóc lột cùng kiệt về sức lao động. Không những thế, cô còn bị đối xử tàn bạo, bị trói đứng, bị đạp vào mặt, thậm chí bị đánh ngã ở chân cầu thang. Những ngày tháng sống trong nhà thống lí Pá Tra như địa ngục trần gian đổi với Mị. Cô bị giam cầm trong một căn buồng chật hẹp, chỉ có một lỗ vuông bằng bàn tay, trông ra thấy một màu trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Thời khắc ngày - đêm, sớm - tối không còn ý nghĩa gì đối với Mị, Mị đã bị chai sạn về ý thức và tâm hồn. Mị phải chịu sự đè nén của cả thần quyền và cường quyền. Những ngày về làm dâu trong nhà thống lí, có đến mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc. Tiếng khóc của Mị là minh chứng cho sự phản kháng, không chấp nhận số phận. Mị cũng từng trốn về nhà, định ăn lá ngón tự tử. Đó là ý thức phản kháng hôn nhân, khát vọng giải phóng cuộc đời. Mị còn muốn khóc, còn muốn chết tức là còn ý thức về thân phận, còn muốn sống một cuộc sống ý nghĩa hơn.

Sức sống tiềm của Mị tưởng như đã bị vùi dập thì nay bỗng trỗi dậy trong đêm tình mùa xuân. Khung cảnh thiên nhiên đất trời Hồng Ngài khiến cho lòng người thêm rạo rực. Gió và rét dữ dội, vụ mùa vừa mới xong, mọi người ăn tết sớm cỏ gianh vàng ửng. Những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá xòe như cánh bướm sặc sỡ. Tiếng trẻ con chơi đánh pao cười ầm lên trước sân. Khung cảnh mùa xuân như có men say, cựa quậy, rạo rực, đem đến niềm vui phơi phới. Giữa khung cảnh ấy vang lên tiếng sáo. Tiếng sáo xuất hiện theo trình tự không gian và thời gian: tiếng sáo văng vẳng ngoài đầu núi lúc xa lúc gần, tiếng sáo lấp ló như gương mặt của ai đó lúc ẩn lúc hiện, tiếng sáo lửng lơ bay ngoài đường như tiếng ai đó đang gọi, như bóng hình ai đó đang chờ
"Mày có con trai, con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai, con gái
Ta đi tìm người yêu"

Tiếng sáo tha thiết, bổi hổi, đối với Mị tiếng sáo là biểu tượng sinh động nhất của tình yêu và tuổi trẻ. Tiếng sáo còn là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc xuyên suốt toàn bộ cảnh đêm tình mùa xuân.

 Mở đầu đoạn trích là hành động Mị uống rượu. "Mị lén lấy hũ rượu, uống ừng ực từng bát, Mị uống như nuốt cho trôi đi những đắng cay, tủi cực". Khi đau khổ, người ta thường tìm đến rượu để giải sầu như trước đây Hồ Xuân Hương đã từng viết: "Chén rượu hương đưa chưa say lại tỉnh" hay người xưa có câu "Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu". Sự tác động của mùa xuân và hơi men đã khiến Mị chối bỏ thực tại, tìm về với quá khứ. Mị lịm đi và nhớ về những ngày trước, lúc này chỉ có thể xác của Mị thuộc về hiện tại khổ đau còn tâm hồn, tư tưởng đã quay trở về quá khứ đẹp đẽ: "Ngày xưa Mị thổi sáo cũng hay như thổi lá, biết bao nhiêu chàng trai ngày đêm đi theo Mị". Từ cõi quên, Mị trở về cõi nhớ, ý thức về quyền sống và quyền tự do đang dần trở lại. "Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi". Những câu văn ngắn như dựng nhân vật dậy đi dậy lại nôn nao trên trang sách, đồng thời tăng thêm sự sinh động cho tác phẩm. Nhưng khi nghĩ đến thực tại, Mị chỉ muốn ăn lá ngón tự tử chứ không buồn nhớ lại nữa. Mị đã vượt qua tình trạng sống phí thời gian trước đây. Sự phản kháng dù là tiêu cực nhưng cho thấy trong sâu thẳm tâm hồn Mị luôn tồn tại khát vọng sống tự do mãnh liệt, một cuộc sống thực sự con người, được yêu thương hạnh phúc. Ngay khi khát vọng sống bùng lên mạnh mẽ, Mị dám chấp nhận cái chết để từ bỏ cuộc sống đau khổ, thì tiếng sáo lại xuất hiện đầy hữu ý, tiếng sáo đã khiến cuộc nổi loạn trong Mị không dừng lại ở tư tưởng mà biến thành hành động. Mị đến góc nhà lấy ống mỡ, bỏ vào đĩa đèn cho sáng.  Câu văn nhiều vế, liên tiếp liệt kê hành động của Mị, dường như Mị không chỉ muốn thắp lên ánh sáng vật lí xua tan cái tối tăm của căn phòng, mà còn thắp lên niềm mơ ước, hi vọng về hạnh phúc. Hình ảnh ngọn đèn gợi ta liên tưởng đến nhân vật Tràng trong tác phẩm "Vợ nhặt", anh giơ chai dầu con lên khoe giữa những ngày đói khát với niềm hi vọng, sức sống mãnh liệt trong tâm hồn. Mị búi lại tóc, lấy váy để chuẩn bị đi chơi. Những hành động này cho thấy sự bùng nổ mạnh mẽ, dữ dội trong tâm lí Mị, gắn với sự trỗi dậy của khát vọng hạnh phúc. Nhưng chính lúc đấy, A Sử xuất hiện, chặn đứng cuộc vượt thoát của Mị. A Sử trói đứng Mị vào cái cột trong buồng. A Sử như một cơn gió lạnh va vào dập tắt ngọn lửa ham sống bùng lên trong con người Mị. Hành động của hắn thật tàn nhẫn, không một chút xót thương nào đối với người khác, mà ở đây là vợ hắn, "tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại". Nhưng cường quyền lúc này chỉ trói buộc được thể xác của Mị còn khát vọng hạnh phúc, sống đã mạnh liệt đến mức Mị vượt ngục tinh thần. Bởi vậy, dù chân tay không cựa quậy được, nhưng Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo, tiếng sáo đưa Mị lên những cuộc chơi, đám chơi và đêm đó Mị sống giữa hai cõi mơ và thực: thực cô ý thức được mình không bằng con ngựa nhưng mơ lại giúp Mị vượt thoát khỏi thực tại khổ đau để sống trọn vẹn với quá khứ đẹp đẽ của mình. Thông qua nhân vật Mị, Tô Hoài đã phản ánh nỗi khổ cực của người dân miền núi dưới ách áp bức thống trị của bọn chúa đất phong kiến và thực dân Pháp.

Bằng tài năng của mình, nhà văn đã miêu tả tâm lý nhân vật một cách tinh tế, đạt tới phép biện chứng tâm hồn "kết hợp cách kể chuyện độc đáo, trao ngòi bút cho nhân vật tự nói lên nỗi niềm, thân phận, khát vọng của mình. Vì vậy mà nỗi lòng thêm thấm thía, sức sống càng thêm sâu sắc.

Se-drin đã từng nói: "Văn học chân chính nằm ngoài sự băng hoại của thời gian, chỉ mình nó không thừa nhận cái chết". Có lẽ mãi về sau, chúng ta sẽ không quên. quên "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài - một truyện ngắn đã xuất sắc diễn tả chân thực hình ảnh người nông dân dưới sự áp bức của thần quyền và cường quyền. Họ là những người luôn hướng về sự sống và khát vọng tự do mãnh liệt. "Vợ chồng A Phủ" cũng như các sáng tác khác của Tô Hoài mãi ngời sáng và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.


Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co