Truyen3h.Co

WHAT IF?

THE SECOND LETTER.

PRINCESSCINDERELLA37

___.SECOND LETTER: FIRST LOVE, THE PARADISE PIANO.___

1.

"Tháng tám năm 2016, trong một chương trình truyền hình về tài liệu khoa học đề cập đến sự nghiên cứu các hoạt động của não bộ loài người; trong số ba trường hợp khác thường được đưa ra thì em còn nhớ nhất ca thứ hai: một người phụ nữ ba mươi chín tuổi, sau khi nhấp một ngụm trong ly rượu Martini, hình ảnh cuối cùng về cô con gái, dường như lúc đó là đang mặc váy hồng, tóc vàng, tung tẩy chạy dọc hành lang và tay ôm một con gấu bông, bị nhoè đi; và khi người phụ nữ ấy tỉnh lại thì lúc đó mọi thứ xung quanh bà đã đổi khác. Bà đã già, vẫn nằm nghỉ trên ghế bành, chợt thức dậy sau một giấc ngủ trưa với toàn bộ nội thất trong phòng khách của căn nhà đều được đặt đúng tại vị trí của nó, hãy tha thứ nếu như em nhớ lầm một số chi tiết; tuy chỉ có một vài điểm khác là làm đảo lộn cuộc sống, hay không khớp với ký ức của bà về cái cuộc sống mà bà nghĩ đáng lý ra bà đang có, trước khi chợp mắt và đi vào giấc ngủ trưa Martini. Thế nhưng khi tỉnh lại, bà biết mình đã li dị với chồng cũ, tái hôn đã hai thập kỷ với một người đàn ông nào đó hoàn toàn xa lạ với ký ức của bà; bà đã sáu mươi hai tuổi và đứa con gái bé bỏng của bà nay đã lớn, từng bước chạy của cô bé như được tính mỗi bước tương đương bốn năm để tươi cười lao đến chỗ người mẹ đang nằm ngủ trên ghế bành.

Bác sĩ chẩn đoán, sau khi gạt bỏ hàng loạt các khả năng Mrs J. đã bị mắc các chứng bệnh khác liên quan đến tuổi già như Alzheimer, là bà đã bị đột quỵ và điều này đã dẫn đến việc bà bị mất trí nhớ, kể từ lúc bà ba mươi chín tuổi và nằm nghỉ trưa trên chiếc ghế bành, cho đến lúc thức giấc và mất trắng đi kí ức về hai mươi ba năm tiếp theo.

Thật khó để có thể nói là những điều mà em vừa kể có chút gì liên quan đến câu chuyện sắp tới. Nhưng hy vọng là anh, từ trường hợp của bà J., có thể hình dung ra chí ít được một số điều mà em sẽ đề cập đến sau đây."

Tuy vậy, không phải chỉ hai mươi ba năm, mà trong giấc mộng nghìn đời em đã mơ thấy có một người tu sĩ, như trong một tác phẩm hoạt hoạ của Whitton, nhưng từ tốn và thậm chí là mang tính chất gợi nhớ đến Normandy hơn, vào một buổi sớm tinh mơ, đang lúc cầu nguyện thì ông chợt trông thấy một con chim nhỏ màu xanh bỗng từ đâu bay đến, đậu trên thành của một chậu nước ngoài vườn và mỏ của nó liền thả xuống một chiếc lục lạc bé xíu kêu leng reng. Con chim cúi đầu, rơi nước mắt và giọt lệ chảy xuống hoà cùng vào với vũng nước ở trong chậu. Còn ông thầy tu thì bèn bật khóc.

Cùng trưa hôm ấy, có một chú chim sẻ nhà, danh pháp khoa học là Passer Domesticus, mới tập bay và bị lạc mẹ, líu quíu, vừa mới từ trên sân thượng rơi xuống dưới tầng hai trong căn nhà của bà ngoại anh ở thôn quê. Chú chim nhỏ ấy cứ cố bay lên như mẹ đã dạy, nhưng đôi cánh non nớt ấy chỉ khiến chú bay như đang phi lên phía không trung, được khoảng tầm nửa mét rồi lại phải sà xuống, nhìn thảm thương không khác gì một con bọ cây xông vào từ ngoài cửa sổ, cứ kêu vù vù, bay qua bay lại rồi bám từ chỗ này sang chỗ khác ở trong nhà, giữa những tiếng nói ồn ào từ một đoạn quảng cáo giữa giờ, rồi bộ phim soap opera ăn khách lại tiếp tục được trình chiếu vang lên trên chiếc TV ngoài phòng khách, trước khi bị chị giúp việc Ines tìm ra và dùng khăn lau bàn quật thật mạnh, đuổi ra ngoài. Chú sẻ luống cuống một hồi rồi bất ngờ lao xuống chiếc bàn ăn, trước mặt cô bé Stephenie, cháu gái của bà cụ chủ nhà, năm nay mới lên năm và đang ngồi hí hoáy tô màu trong cuốn sách trẻ con đầy các tranh ảnh được vẽ lại từ những thước phim hoạt hình của Benjamin Renner hồi trước.

Bé Stephenie giật mình thốt lên trước lúc kịp nhận ra đó chỉ là một chú sẻ. Chị Ines và bé sau đó đã quyết định là chú sẻ cần phải được đưa về với mẹ của chú ở trên sân thượng. Trong khi đó thì bà ngoại Josie, bảy mươi tuổi, đang thiêm thiếp trên một chiếc ghế gấp Á Đông bằng gỗ mà hai năm trước, mẹ của bé Stephenie đã mua về từ Phố Trung Quốc. Khi đan áo len thì bà hạ ghế xuống, còn khi chuẩn bị ngủ thì bà lại nâng ghế lên. Tuổi già của bà cứ vậy trôi qua một cách bình thản ở Manosque, Xứ Sở Provence. Các cháu của bà về thăm nhà vào mỗi dịp hè, rồi bỗng bà nhớ ra đứa cháu trai của mình, anh họ của bé Stephenie trong lúc đang lơ mơ, "Cái gì cơ?... À, mà thằng Aleksandr đâu nhỉ?" Bà lẩm bẩm, rồi, chợt bừng tỉnh trong vài giây ngắn ngủi, bà lại đưa mắt thoáng nhìn sang cô giúp việc và đứa cháu gái, duỗi chân nâng cái ghế gấp lên, gió từ cây anh đào trồng trước cửa sổ len vào, thổi nhẹ khiến những trang giữa của cuốn tiểu thuyết đọc dở đang đặt ở trên bụng bà, lật qua. Tiếng ngáy phì phò của bà ngoại cất lên khe khẽ vào buổi trưa; bé Stephenie tò mò, lon ton bám theo chị Ines đang hai tay ẵm chú chim sẻ lên sân thượng để trả chú về với mẹ chú. Và không ai biết thằng cháu trai Aleksandr của bà từ sáng đến giờ đã chạy đi đâu cả.

2.

Những giấc mơ vẫn cứ luôn như vậy, anh không thể nào nhớ hết được mọi tình huống đã xảy ra trong đó cho dù có cố đến thế nào đi chăng nữa. Có những giấc mơ thật ngọt ngào và khiến cho chúng ta thiết tha muốn sống, ngỡ như một món quà trời ban mà chúng ta không thể nào quên được. Trí nhớ và trí tưởng tượng của chúng ta sẽ níu giữ và bồi đắp những chi tiết bị lãng quên, thiếu sót của giấc mộng ấy, đến nỗi có một ngày khi nhớ lại giấc mơ xưa cũ, trong phút đầu tiên chúng ta thậm chí còn không biết phần nào là mơ, phần nào là chỉ do chúng ta tự nghĩ ra để chắp vá, cố gắng hoàn thành nốt câu chuyện còn đang dang dở kia nữa. Phần chân thực nhất mà ý thức không thể kiểm soát được, hãy cứ cho là ân điểm của Thượng Đế đã ban cho chúng ta, mà trong một đêm may mắn nào đó chúng ta đã bị nhấn chìm xuống dưới đáy của con sông tiềm thức và được chạm đến món quà ấy, sẽ được kể bởi chính chúng ta. Nhưng còn cái phần thêu dệt kia thì đành phải nhờ những người dẫn chuyện khác. Bởi vì, thiết nghĩ chỉ có những người có thể đi được trong mơ kể cả vào ban ngày mới có thể chắp nối lại những chi tiết mà trí nhớ của loài người chúng ta đã lỡ bỏ quên dưới con sông tiềm thức được.

Một chú chim sẻ sà xuống bàn. Em gái nhỏ Stephenie sau đó ton ton đi theo sau chị giúp việc đang thận trọng bế chú sẻ sợ sệt. Trong căn nhà có vẻ gì đó êm đềm ánh nắng, líu ríu tiếng chim bách thanh mỗi sáng, lai rai và chậm rãi hơn nơi bé đã từng lớn lên ở vùng New England, Stephenie đã tìm thấy cho mình một người dẫn chuyện phổ thông và chuẩn mực của tuổi thơ mình: một nàng tiên mặc váy Tutu màu trắng, với những điệu nhún nhảy và quay vòng trong hũ kẹo của gia đình, chiếc váy rắc đường của cô có thể ban hạnh phúc đến cho mọi trẻ em trên thế giới. Tại sao Stephenie lại biết được điều này ư? Vì chính anh họ của bé, Aleksandr, đã kể cho bé nghe tuần trước mà.

– Không đúng, cậu đừng có nói dối. – Ferdinand, ngồi bên cạnh hai anh em, lại nhíu mày, làm ra vẻ bán tín bán nghi.

– Không, là thật đấy. – Aleksandr quay sang cả quyết. – Chính mẹ tớ đã kể cho tớ nghe mà. Mẹ còn nói không chỉ có tiên sugar plum đâu, mà còn có cả những cô tiên vào mỗi dịp trăng sáng lại mở hội nhảy múa trên những đoá hoa nữa kìa.

Nhân đây, cũng xin giới thiệu mẹ của Aleksandr đã từng mơ ước được trở thành một nữ diễn viên múa ballet ở Paris, tới mức mà cho đến nay, bà vẫn hay có thói quen đáng yêu là giữ những tấm thiệp xinh xẻo in hình vẽ của quý ông A. Rackham trong két tủ và hộp phấn trang điểm của bà. Trong những buổi tối an lành, trước khi tắt đèn đi ngủ, bà thường đặt con trai mình vào lòng, kể cho con nghe những câu chuyện cổ tích với một số đoạn mà bà thậm chí còn không nhớ chính xác là có xuất hiện trong bản gốc không, nhưng chắc chắn là có mặt trong phần sân khấu; và một kế hoạch sau đó được Aleksandr vạch ra để đến khuya cả ba anh em có thể trốn ra ngoài, xuống nhà bếp để lục tìm hũ kẹo đường mà cậu tin là sẽ có một cô tiên nhiệm màu nhảy múa ở trong đó, cho dù Ferdinand lại cứ khăng khăng bảo là nếu có thật, thì cô tiên răng cũng sẽ không thích cái cô tiên kẹo bọc đường đó hiện ra đâu. À, thì trẻ con ấy mà. Nhưng lúc đó, chị Ines bỗng dưng đứng ở đằng sau, lại nói là chị ấy có một ý tưởng thậm chí còn thơ mộng hơn nhiều: đó là đám nhóc tì, thay vì gần mười giờ rồi mà vẫn cứ tíu ta tíu tít bàn luận với nhau về dự định trốn chị ấy để đến đêm mò xuống bếp ăn vụng, thì nên đánh răng rồi chuẩn bị đi ngủ sớm đi. Thế là kế hoạch bị phá sản.

Chị giúp việc Ines hai mươi mốt tuổi, học sinh của trường đào tạo y tá và điều dưỡng viên, vốn là con gái của một gia đình gốc nhập cư có bố mẹ làm việc ở một công ty chuyển phát bưu kiện, nhưng đến mùa hè thì chị cũng xin đi làm thêm các việc lặt vặt khác, bao gồm cả việc chăm sóc người già và trông trẻ ở những vùng thôn quê. Chị rất tận tuỵ với bà Josie, đối xử tốt với các cháu của bà nhưng đôi lúc lại tỏ ra lơ đãng trước những lời nói và "chuyện linh tinh" của bọn trẻ. Chị lắng nghe người yêu của chị hiện đang sống ở đâu đó, chắc là Grenoble, thì thầm tâm tình với anh qua điện thoại, và cả hai giữ máy hơn ba mươi phút gần như hằng đêm; nhưng sáng ngày ra khi làm việc chị lại có vẻ không để ý gì mấy đến cái xứ thần tiên của bé Stephenie.

Chợt bé Stephenie nhớ đến chuyện bố mình, sau một chuyến đi công tác ở Đông Nam Á, khi trở về định lục tìm quà cho con gái mình thì chú đã sờ vào túi áo, lấy ra một đoá hoa đã gần héo với một cánh hoa đã sắp rời ra, nhưng hương thơm của nó thì vẫn còn ngọt ngào vẹn nguyên như cũ. Chú lấy làm bất ngờ, "Chà, hoa thơm lâu thật đấy." Đó là hoa ngọc lan trắng. Bé Stephenie sau đó nhận được quà là một cái đèn lồng màu hồng và chúng ta sẽ cùng điểm danh các loài hoa sau đây ở ngoài vườn nhà bà ngoại Josie của bé: hoa hồng, hoa diên vĩ tím, hoa uất kim hương, hoa cúc trắng, hoa cúc La Mã, hoa bướm và hoa tiên ông, trên chỗ ban công còn có thêm những chậu nhỏ trồng các cây xương rồng cảnh và giống như là có lần Stephenie đi đến nhà trẻ ở New England, khi đứng ngoài chờ mẹ, bé đã tập đọc tên những loài hoa trồng ở trước cổng trường, "Rose, Purple Iris, Tulip, Daisy, Chamomile, Pansy," cái cuối cùng mọc thành từng cụm xanh, hồng, tím trên đầu thì bé không biết, đó là hyacinth. Bé lần lượt chỉ những bông hoa, vừa đọc vừa quay sang nhìn những ông bà già đang ngồi trên một băng ghế gỗ. Ông già mặt tỉnh khô, dáng người to béo và mang theo gậy chống lưng, còn ba bà già kia thì mỗi người một vẻ: một bà mặc áo váy màu hồng, bà kia vận màu xanh lơ, bà còn lại khoác màu lá mạ. Ông già chỉ im lặng nhìn cô bé, còn các bà già đội mũ hoa chuông thì hưởng ứng bằng cách tiếp lời với những cái tên hoa bé vừa nói bằng tiếng Pháp, "Rose, Iris, Tulipe, Marguerite, Chamomile, Pensee," cuối cùng thì là "Jasmine," giống y như tên của một bạn gái trong lớp nhà trẻ của bé, các bà vừa đồng thanh đọc, vừa mỉm cười, gật gù. Đó là các ông bà già vừa mới từ Quebec xuống chơi, giống như một cây phong lớn và ngồi bên cạnh là những nàng tiên hoa luống tuổi, đáp lại tất cả những đứa trẻ bằng giọng nói êm dịu, du dương.

Hãy nghĩ đến việc những cây xương rồng, tức Cactus, Cacti..., sống ở trên ban công nhà bà cũng đang hỏi nhau, "Ồ, một chú chim sẻ kìa, nhìn xem chú ta run chưa? Đó là một chú sẻ non bị lạc mẹ. Tổ của chú ở đâu? Ở trên cây anh đào, hay là ở những khoang thông gió trên cánh cửa? Chúng tôi từng nghe những chú chim bồ câu bảo là loài sẻ thường sống ở những nơi như thế." Rồi bỗng chốc bà ngoại Josie lại chợt tỉnh dậy, có lẽ hao hao giống như một loài hoa có lần bà đã nhìn thấy ở Xứ Sở Đông Dương, nghe một nhà khoa học nói là nó có tên Portulaca Grandiflora, tức hoa mười giờ, ngủ thâu đêm suốt sáng và thường chỉ nở vào khoảng thời gian giữa trưa. Lần này thì bà sực nhớ ra là mình còn có một số việc phải làm và bèn loay hoay ngồi dậy, dù vẫn mắt nhắm mắt mở, "Ô, thôi chết; đã mấy giờ rồi đấy? Bà phải đi ngay thôi, bà có hẹn với bạn của bà, Amélie." Bà đã quên hỏi về Aleksandr.

Vậy là, đứa cháu trai Aleksandr của bà Josie cùng với bạn thân của cậu, Ferdinand, đã đi rong chơi suốt từ sáng đến giờ, để lại cô em gái nhỏ Stephenie ở nhà, bằng lòng với việc tô màu tập tranh mới mà anh họ đã mua cho em tuần trước. Trong cuốn sách giáo khoa thời kỳ cải cách của đất nước em cũng có lần kể một câu chuyện tương tự. Họ là ba anh em sinh ba, sau khi ăn sáng xong, bà của họ để ý là chỉ có cậu em út đứng lên giúp bà dọn dẹp, gom những vụn bánh mì còn vương vãi trên mặt bàn và mang ra cửa sổ cho những chú chim bồ câu mổ ăn, còn hai người anh trai của cậu thì lại vô tư bỏ ra ngoài dạo chơi. Blanche Chantilly đã có lần phổ nhạc về điều này; nào trò đánh trận giả, đá bóng giữa hè phố, trò nhảy dây, chơi cút bắt.

Thế thì chúng ta cùng chơi tập kịch nhé. – Đám con gái hào hứng có ý kiến.

Xin lỗi, nhưng tụi này không thích chơi trò của bọn con gái. – Các hiệp sĩ tí hon hiên ngang đáp.

Cái nhìn của các bạn nữ chợt đổi khác ngay.

Nhưng tụi tớ muốn làm công chúa.

Công chúa ở đâu ra mà lắm thế?

Chỉ có một thôi, bộ các cậu đang giả ngốc đấy à?

Một ý kiến khác được đưa ra, hay là cả bọn chơi trò, "Đàn cừu của người chăn chiên trên núi Luberon," vốn nổi tiếng là thân thiện với các cháu nhi đồng đi. Trò chơi gồm có vai chú chó canh gác, bầy cừu trắng ngây thơ và một con sói háu đói. Ai thua oẳn tù tì thì sẽ bị làm sói, nếu bắt được hai con cừu trong đàn thì sói sẽ thắng, còn chú chó canh gác thì sẽ có nhiệm vụ phải bảo vệ đàn cừu khỏi bị thú dữ ăn thịt. Thế là cả đám vào vai động vật luôn, khỏi cần phải công chúa với hiệp sĩ làm gì cho mệt. Ý kiến này ngay lập tức bị các thành viên trong hoàng tộc gạt bỏ. Những người lớn du lịch đến Xứ Sở Provence, trong trí tưởng tượng của những người chưa từng bao giờ đến đó mà chỉ nhìn thấy qua những giấc mơ như em, dường như lúc nào cũng đi trong một cái bầu không khí như có một lớp vải Tulle hồng phấn che bên ngoài và nụ cười thấp thoáng kiểu Pavlov's, vào quán cà phê và lên tầng hai, cho rằng sẽ nên thơ hơn nếu được nheo mắt ngắm nhìn xuống khung cảnh của một phần khu phố dưới bầu trời trong xanh như ngọc, ánh nắng ngập tràn như trong ký ức về một số hoạ phẩm và đôi mắt nghệ sĩ của Pissarro, mặc dù em chỉ dựa vào kiến thức ít ỏi cùng trí nhớ mập mờ chủ quan của mình mà không thể hối tiếc gì được vì đã lỡ ngủ gật trong lớp học vẽ ở trường. Họ nhìn xuống đường phố, vỉa hè phía dưới và thấy các bé thiếu nhi – không phải như cái cách mà bố mẹ của các bé thường thấy, là hình như thời này được sống trong sung túc quá nên nhiều lúc con họ như hoá man hoá dại rồi hay sao, mà lại đi cãi nhau vì những chuyện đẩu đâu mà không thèm về phụ giúp bố mẹ đi – đang chơi đùa.

Trong những bộ phim nói về lịch sử của Xứ Sở Trung Hoa, người ta có lần đã đề cập đến việc chọn ra người đẹp nhất bằng cách thả một con bươm bướm, nếu con bướm đó đậu lên mái tóc của người thiếu nữ nào thì cô gái đó sẽ được coi là người đẹp nhất. Vì thế mà trò oẳn tù tì lập tức bị bãi bỏ. Sau đó, S. nôn nóng bèn thắc mắc với E. đang vênh cằm, hỏi là không hiểu các công nữ tiểu thư Xứ Viễn Đông bây giờ đang muốn các hiệp sĩ tí hon làm gì: bắt cho họ một con bướm vàng, hay là ngồi chờ để bọn họ oẳn tù tì rồi quyết định nhanh nhanh cho nó xong phứt chuyện này đi, chứ cà kê với lũ đàn bà con gái như vầy rắc rối quá. "Không, người nào xinh nhất thì sẽ được làm công chúa," C. tóc thắt bím, tức Ciselpheme, thậm chí còn bực bội đáp bảo S. đội mũ cát két, tức Samuel, rằng cậu ta thật thô thiển mà con gái thì chẳng đứa nào lại thích chơi với những kẻ thô thiển cả. Thế là bọn con gái cùng la ó lên đồng tình. Để đáp lại điều này, trong một bộ phim nói về nàng A... nào đó, ở Xứ Sở Mermaids In Principality, và đất nước Italia hồi thế kỷ 18, trên một sân khấu với cánh gà và những mô hình cây cỏ ở đằng sau, ông thầy dạy lễ nghi diện mớ tóc giả quý phái đang chỉ bảo cung cách cư xử và tác phong cho những chàng hiệp sĩ hào hoa và các quý cô duyên dáng trong tương lai; người chỉ huy dàn nhạc bước ra và chúng ta, những người du khách đến với Xứ Sở Provence tươi đẹp, đầy ánh nắng trong mơ của Dawnsbury sẽ ngồi trong nhà hát và nhìn thấy hai nhóm nam và nữ đứng ở hai bên phía sân khấu. Những bé gái ăn mặc như các nàng tiên hoa; còn các bé trai vận đồ như chàng thuyền trưởng và những thuỷ thủ trên đoàn tàu viễn dương được vinh dự mang tên Christopher Columbus. Đoạn kịch Opera của chúng ta được diễn ra với Libretto như sau:

Ciselpheme Van Der L'Arlesienne, hát, giọng kiêu kỳ, nhịp điệu vừa phải, dụ dỗ, trên nền nhạc có tiếng hót líu lo tươi tắn của những chú chim –

Sao lại im lặng thế, hỡi các trang anh hào?

Chẳng lẽ các cậu lại không nhìn thấy rõ, ai mới là người xứng đáng nhất, Cho ngôi vị công chúa này hay sao?

Chẳng lẽ khi bầu ra người thủ lĩnh đứng đầu cả binh đoàn, Các cậu lại dùng un, deux, trois để đưa ra phán quyết à?

CÁC BÔNG HOA NHÍ KHÁC, đứng đằng sau Ciselpheme cũng chép miệng hùa theo, giọng kéo dài với vẻ giễu cợt, đồng ca rằng –

Ái chà chà,

Cánh đàn ông đằng kia,

Sao mà lại lề mề, chậm chạp thế không biết!

MỘT BÉ TRAI, nói –

"Ơ, nhưng đúng là tụi này đã dùng trò bao, kéo, búa, Để quyết định xem ai là thủ lĩnh trong ngày mà."

MỘT ĐỨA KHÁC, cũng tiến lên, nói nhanh – "Này, thế các đằng ấy không chịu oẳn tù tì,

Thì để tụi này tung xúc xắc hộ cho nhé!"

ĐOÀN THUỶ THỦ TÍ HON, bèn xông vào túm lấy miệng hai người đồng đội – "Suỵt... uỵt, các cậu be bé cái miệng thôi,

Lỡ bị nghe thấy, thì chúng ta có mà ở đó tha hồ nghe bọn con gái la ó!"

THUYỀN TRƯỞNG Aleksandr, thì thầm qua vai đám bạn –

Ở nhà, tớ có một đứa em họ,

Nhưng tiếc thay, sáng nay lại không mang nó đi theo,

Để giải quyết cho ổn thoả chuyện này, khỏi dính líu đến những cuộc cãi vã vặt vãnh. (Những đứa khác: "Pourquoi?"). Tiếng Pháp: "Tại sao cơ?"

(... nói đáp lại...) "Bởi vì có ai lại đi bắt tội một thằng anh muốn để cho em gái nó làm công chúa bao giờ!"

(... Đoạn, khoát tay về phía các nàng hoa, nói với Ferdinand,) –

Kìa, Ferdinand, hãy nhìn đám tiên hoa kia,

Nói xem: Bông Hoa nào là khiến cậu cảm thấy vui mắt, vừa lòng nhất?

Ferdinand nửa như quan sát nửa như nhìn vào khoảng không, im lặng.

ĐỒNG CA của các nàng thơ đội vòng nguyệt quế, không phải là những nàng tiên hoa, mặc váy trắng và đi chân trần, trên giai điệu có tiếng đàn hạc dịu mát như tiếng nước suối nguồn –

Hãy nhớ về một thi sĩ buồn khổ,

Thời còn trẻ, muốn vươn đến bầu trời,

Tin vào những điều cao cả, nhưng trái tim lại phải trải qua bao điều ngang trái, Tự hỏi là nàng đã để lạc mất hạnh phúc ở đâu.

Trong căn phòng nàng vẫn ngoảnh đầu nhìn lại, lời thủ thỉ với người tình trong mộng,

Vẫn còn vẹn nguyên, như xưa kia nàng đã ngủ yên trên chiếc gối được dệt nên bởi những sợi chỉ vàng của ánh nắng.

Ferdinand, cất lời –

Bông hoa xinh đẹp nhất – vậy là tôi đã thấy,

Vượt qua bao phù du, như bầu trời thiêng liêng vẫn dõi theo chúng ta, Qua những áng mây vô minh che phủ –

Nép mình trong góc, im lặng nhưng trìu mến hơn. Ngay cả khi nàng tiên của đoá hoa đẹp nhất đó,

Có mái tóc màu nâu xỉn, không cười, và nhạt nhoà lút đằng sau những thiên thần yêu kiều, diễm lệ.

NGƯỜI ĐỌC THƠ –

"Và ngay cả khi đó chỉ là ở trong mơ thôi,

Bông hoa ấy, và cả người tình dấu yêu đã trao nó cho em,

Anh, trong tay là Vẻ Đẹp trong sáng nhất, mãi khiến cho trái tim em cất lên lời vui sống."

Có một chuyện ngụ ngôn được người đời trước truyền khẩu lại, kể về một chú cá trê trắng, danh pháp khoa học là Clarias Batrachus, sống trong bể nuôi và hằng ngày đã quen đớp những miếng thịt thừa, các con cá bé xíu và tôm tép ngon lành được những người thả mồi rải xuống. Chợt một hôm, họ chỉ thả lèo tèo vài miếng rau diếp xuống mặt bể, thế là chú cá trê bơi ở dưới đáy, tưởng đã đến giờ ăn trưa bèn hớn hở ngoi lên; nhưng khi thấy nổi lềnh bềnh trên mặt nước chỉ là món rau diếp đơn sơ, nhạt miệng, thì chú ta bèn lắc đầu nguầy nguậy, ra chiều không vừa ý rồi quẫy đuôi bỏ đi với vẻ chưng hửng, như thể đang muốn nói với mấy người thả mồi rằng, "Các bố này đùa đấy à?"... Thái độ của chú cá trê đó cũng tương tự như thái độ lúc bấy giờ của nàng thơ Ciselpheme, khi lũ con trai đã bất ngờ không chọn cô bé, mà lại là Valeria – một cô bạn gái câm lặng, có nét biểu cảm lạnh lùng, làm Công Chúa của Ferdinand trong số mọi Nàng Thơ của Xứ Sở Thần Tiên Provence.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co