1
Thất bại sống trong tôi như một bộ phận cơ thể. Tôi cảm nhận được nó đập cùng nhịp với tim mình, giữ cho tôi sống, ngay cả những khi tôi chẳng muốn sống nữa.
Đêm khuya, thất bại ấy trườn đi, cuộn quanh phổi tôi và siết chặt mọi thứ. Tôi choàng tỉnh, cào cấu ngực mình, tuyệt vọng tìm kiếm cái thứ đang sống và quẫy đạp bên trong. Nó đang quấn quanh tim tôi hay đã trườn xuống bụng? Hay nó đang trườn dọc chân tôi? Vặn xoắn lên cánh tay tôi?
Nếu tìm thấy nó, có lẽ tôi có thể cắt bỏ khối u đang đập thình thịch này ra khỏi người, cái khối cứ làm hỏng mọi thứ.
Nhưng nếu tôi có thể cắt bỏ thất bại của mình, liệu còn gì sót lại ở tôi nữa không?
Tôi là một người sinh ra để cô độc. Có lẽ sai lầm đầu tiên của tôi là đã cố sống cuộc đời mình. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu tôi chỉ là một ký ức, một lời nguyền bị cắn đứt và một gã tồi tệ biến mất khỏi cuộc đời người phụ nữ và đứa con của mình.
Việc một người nghĩ rằng cuộc đời mọi người sẽ tốt hơn nếu anh ta chưa từng xuất hiện nói lên điều gì về con người ấy?
Xe cộ phía trước tôi ùn lại. Một hàng dài xe kẹt nối từ đèn đỏ dồn ngược ra tận đường cao tốc. Xe tôi kẹt đâu đó trên nhánh ra. Mỗi nhịp đèn chỉ có vài chiếc nhích được qua ngã tư.
Chỉ cần tới được đường cắt ngang là tôi thoát khỏi cơn ác mộng này. Quẹo phải một cái thôi là xong.
Đồng hồ trên bảng xe nhích thêm một phút. Đám xe trước mặt tôi đã đứng yên suốt ba phút.
Ai đó phía sau bấm còi. Phải rồi, chúng tôi chen chúc ở đây chỉ để chọc điên bất kỳ ai xếp tít xe thứ mười bảy đang thò đuôi ra ngoài dòng xe cộ mà thôi. Tôi trừng mắt nhìn kính chiếu hậu, chống khuỷu tay lên cửa sổ xe. Cứ bấm còi đi, ông bạn. Đèn sẽ xanh nhanh hơn đấy.
Một phút nữa trôi qua. Chết tiệt. Buổi tập đã bắt đầu được năm phút. Emmet không biết tôi sẽ tới, nên nếu tôi có lỡ không kịp thì cũng chẳng phải nó thất vọng gì.
Thực tế, nó sẽ phát điên lên khi tôi xuất hiện cho mà xem.
Tôi chẳng làm gì đúng được với con trai mình cả. Bất cứ việc gì cũng nhận về cùng một phản ứng: một cái lườm lì lợm, một ánh nhìn xéo nặng nề, một cánh cửa sập lại. Nó không muốn nói chuyện. Nó không muốn ăn tối với tôi. Nó dứt khoát không muốn dành với nhau quá chút ít thời gian nào ngoài mức tối thiểu nhất. Chúng tôi chỉ còn tương tác kiểu tình cờ, loại tương tác xảy ra khi hai người cùng chung bốn bức tường và một mái nhà mà không còn gì khác.
Điểm này thì nó giống mẹ nó.
Quan trọng nhất, Emmet đã không hề muốn mẹ nó phải chết.
Thật lòng mà nói? Có lẽ nó ước giá như tôi chết thay thì hơn.
Nó cũng đâu muốn chuyển nhà sang bên kia thị trấn, nhưng chúng tôi cũng may mắn tìm được căn nhà phố chật chội cũ kỹ này ở rìa Last Waters, nằm trong địa phận trường học của nó. Sau khi trả hết các khoản nợ, chúng tôi còn lại bao nhiêu đâu.
Một khoảng trống ở làn bên cạnh mở ra nhờ một tài xế mất tập trung cắm đầu vào điện thoại. Tôi vọt xe tải vào chỗ trống đó, vội vã vẫy tay cảm ơn qua vai một cách cẩu thả rồi lách qua ba làn xe. Xuyên qua trạm xăng, vòng qua tiệm McDonald’s. Tôi chạy vượt qua lối ra đầu tiên, như thể làm vậy thì hành vi phạm luật của mình sẽ chấp nhận được hơn. Tôi có đi lối tắt gần nhất đâu mà, thưa ngài cảnh sát.
Tất nhiên, chẳng có bóng cảnh sát nào quanh đây. Giao thông khu Dallas đẻ ra tai nạn nhanh hơn thỏ đẻ con, và cảnh sát còn bận nhiều việc hơn là rình ở giao lộ xem ai tạt xe qua bãi đỗ.
Không ai thấy tôi, hoặc nếu có thì cũng chẳng ai bận tâm. Thậm chí chẳng có ai bấm còi tôi nữa.
Nếu phải tóm tắt đời tôi, có lẽ phải gói gọn bằng một câu: Chẳng Ai Thèm Quan Tâm Đến Mày Đâu, Luke.
Nếu khoảnh khắc đó tôi có biến mất khỏi thế gian này, thì dấu hiệu duy nhất cho thấy tôi không còn nữa có lẽ chỉ là vài ngày sau con trai tôi nhắn tin gặng hỏi tại sao tôi chưa mua thêm sữa.
Trường Trung học Last Waters hiện ra trước mắt tôi. Ngôi trường này khổng lồ, một khuôn viên trải rộng phục vụ cả thị trấn và các cụm dân cư chưa hợp nhất quanh vùng. Nó được xây theo phong cách Texas cổ điển – gạch đỏ, thật nhiều gạch đỏ – và sau năm mươi năm, trông nó chẳng khác gì một trại giam.
Sân vận động bóng bầu dục chính là niềm tự hào của trường, và nó che lấp mọi thứ trong vùng ngoại ô nhỏ bé của chúng tôi. Đó là dụng ý cả, được ghi hẳn trong một quy định của thị trấn: không một công trình nào được xây cao hơn khán đài trên của sân vận động Last Waters.
Quy định đó như một lời hứa gửi đến phần còn lại của Texas. Thị trấn này sống vì bóng bầu dục, và trường chúng tôi sẽ đào tạo những huyền thoại.
Sân vận động được xây dạng lòng chảo: khán đài đội nhà cao bốn tầng, còn khán đài đội khách bé nhỏ chỉ cao hai tầng. Xét về kiến trúc, đó là một màn thị uy kiểu Texas. Đó cũng là ban giám hiệu trường nhận ra rằng họ có thể tăng gấp đôi doanh thu nếu dựng thêm hàng ghế bên phía khán đài đội nhà. Quả là một lựa chọn khôn ngoan. Mỗi trận đấu, chỗ ngồi nào cũng kín. Hai năm vừa rồi, tôi không sao mua nổi vé vào xem con trai mình thi đấu một trận sân nhà nào, dù là đội một hay dự bị. Giống như những phụ huynh thất sách khác không lo liệu trước, tôi đành ngồi lì ngoài bãi đỗ xe mà nghe loa phát thanh. Nếu cùng quẫn quá – mà quả tình tôi cũng đã từng – tôi có thể lảng vảng gần cổng cuối sân và cố hé nhìn qua mấy bụi cây nhà trường trồng để che tầm mắt.
5:17 chiều thứ Ba hôm ấy, buổi tập bóng đang diễn ra hết sức rộn ràng. Từ ngoài bãi đỗ, tôi nghe được tiếng các huấn luyện viên quát tháo và tiếng còi lanh lảnh của họ, tiếng bịch bịch và chát chát của những quả bóng bầu dục được ném đi bắt lấy.
Lần này cổng cuối sân đang mở. Tôi thực sự có thể cứ thế mà đi vào hay sao? Để xem buổi tập của đội Rodeo Riders Last Waters lừng danh ấy tập luyện?
Ở Texas có một số ít trường trung học nổi tiếng là lò đào tạo cầu thủ NFL, và thị trấn nhỏ của chúng tôi đang cố góp mặt vào danh sách đó.
Nếu bạn lái xe rời khỏi Dallas-Fort Worth tầm một giờ đồng hồ, bạn sẽ gặp một dải thảo nguyên phẳng lì của Texas, nơi một nhóm lữ hành kiệt sức đi về phương Tây đã dừng chân bên dòng sông quê tôi và quyết định đến đây thôi. Khu định cư họ lập nên được gọi là Last Waters, một cái tên tẻ nhạt nghĩ ra chỉ vì con đường mòn họ đang đi về hướng tây đã băng qua khúc cua cuối cùng của dòng sông ở rìa chốn định cư. Tốp nhà xập xệ đầy bụi họ dựng lên tụm quanh một trạm mậu dịch và khúc quanh của dòng nước đó, và đó là điểm dừng chân cuối cùng trên bản đồ cho những người đi khai hoang phương Tây để đuổi bắt giấc mộng và những lời hứa toàn bụi mờ họ từng được nghe.
Quảng trường thị trấn của chúng tôi là một chứng tích Viễn Tây nguyên bản, với đủ trạm mậu dịch, cọc buộc ngựa và những tòa nhà mặt tiền giả được giữ gìn bởi các ủy ban bảo tồn lịch sử. Thị trấn đẹp như tranh, hoàn hảo hệt bưu thiếp. Phía tây, bên kia con sông chảy xuyên qua Khu Phố Cổ, trải dài một thảo nguyên bất tận và bầu trời thênh thang không chút ngăn trở.
Last Waters đủ gần Dallas để bị coi là vùng ngoại ô – nếu chịu nới lỏng định nghĩa “ngoại ô” – và cũng đủ xa thành phố để những người thích nói những câu kiểu như vậy gọi nơi đây là “Texas thứ thiệt”. Mà “Texas thứ thiệt”, tất nhiên, chỉ là chuyện hoang đường. Tôi sinh ra và lớn lên ở đây. Lớn lên ở San Antonio, học đại học ở Lubbock, rốt cuộc lại sống cuộc đời mình ở ngoại ô Dallas. Last Waters cũng Texas như bất cứ nơi nào tôi từng sống. Trong thị trấn chúng tôi có ba nông trại hữu cơ và trạm sạc điện cho xe ngay tại siêu thị. Tôi có thể tùy ý chọn sữa bò, sữa đậu nành, hạnh nhân, dê hay yến mạch mỗi khi đi chợ. Trường học và khu dân cư của chúng tôi rất đa dạng. Texas “thứ thiệt” nghĩa là sống và để người khác sống. Mở cửa giúp người lạ. Lịch sự, phải dạ thưa đàng hoàng. Và Rodeo Riders cố lên.
Đây không phải kiểu nơi mà một đứa lập dị như tôi ngày xưa lại dạt đến. Thực ra, nó là điều trái ngược hẳn với những gì tôi hình dung khi còn là một thằng nhóc punk ngày nào cũng tưởng mình biết tuốt. Tôi từng chế nhạo những nơi như thế này, cười nhạo sự đứng đắn đáng ngờ của tất cả những thứ ở đây. Giả tạo, giả tạo, giả tạo, tôi nghĩ. Tôi từng nói rằng có chết cũng không thèm đặt chân đến những chỗ như vậy. Rồi tôi lại phì tiếp một hơi cần sa và quên bẵng thêm một bài tập về nhà, và thầy cô cha mẹ tôi chỉ biết lắc đầu than tôi phí hoài tiềm năng, uổng phí tài năng.
Tất cả làn khói cần sa mịt mù đó cuối cùng cũng tan đi khi tôi hai mươi hai tuổi. Thực tại tóm gọn lấy tôi đau điếng ba tuần trước sinh nhật, vào học kỳ cuối đại học. Tôi lê lết qua năm học thứ năm với điểm trung bình 2.1, chuyên ngành cứ xoay tua giữa mỹ thuật, lịch sử mỹ thuật và triết học. Tôi chẳng biết mình muốn gì, chỉ biết những thứ đó, đó và đó đều không phải điều tôi muốn.
Bạn gái tôi hồi ấy, Riley, đã nói hai từ mà sẽ làm thay đổi cuộc đời bất cứ người đàn ông nào mãi mãi. Em có thai rồi.
Riley và tôi là một cặp bố mẹ trời ơi đất hỡi. Chúng tôi vốn chẳng có lý do gì để ở bên nhau, càng không nên liều lĩnh gộp chung gene di truyền của mình với nhau như thế.
Cả hai chúng tôi đều không giỏi nghĩ xa.
Khi gặp cô ấy, tôi đang tuyệt vọng với lần thứ hai thử học ngành mỹ thuật và trốn tiết ở một buổi diễn punk rock ngoài trường. Tôi lẻn vào quán bar — chưa đủ tuổi — và tôi núp trong góc tối, nhút nhát và cố thu mình lại như mọi khi. Tôi giấu điếu cần sa trong lòng bàn tay, cố hút trộm dù thật ra chẳng cần giấu giếm. Ai nấy ở đó đều đang phì phèo cả.
Giữa chừng tiết mục đầu tiên, cô gái xinh đẹp nhất tôi từng thấy nhẹ nhàng lách đến cạnh tôi. Nét mặt cô nghiêm nghị đến mức tôi tưởng cô là đặc vụ FBI hay CIA, hoặc thứ gì đó còn dữ dội hơn cả một cảnh sát địa phương tới tóm cổ tôi vì tội lẻn vào bar bằng chứng minh giả. Tôi càng lúc càng hoảng khi cô cứ nhìn tôi trừng trừng.
“Cho tôi xin một hơi được không?” cô nàng hỏi, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười.
Thế là tôi tiêu rồi. Tôi đưa cô ấy luôn phần còn lại điếu cỏ và cố ngậm miệng mình lại.
Riley khi đó là nghiên cứu sinh ngành toán, đang viết luận văn về các số nguyên tố siêu đặc biệt, cố giải những phương trình vô nghiệm. Cô bảo cô thích cách họa tiết bàn cờ trên mũ tôi tạo thành một số lượng dòng đen trắng là số nguyên tố. Tôi nói tôi thích cách cô nhuộm mặt dưới lớp tóc vàng của mình thành màu tím. Mái tóc mái của cô được cắt ngang, phong cách cổ điển, từ hồi nó còn chưa thành mốt. Cô ấy là chính mình, sống theo cách riêng. Tôi bị mê hoặc. Một tiếng sau, hai đứa đã lao vào nhau trong nhà vệ sinh.
Đêm đó tôi theo cô ấy về nhà, và gần như không bao giờ rời khỏi giường cô nữa. Một năm sau, sau hàng trăm đêm thức muộn cùng nhau phê pha, làm tình, bàn chuyện triết lý và phê phán thế giới hiện đại, Riley báo với tôi cô đã có thai.
Tôi có bốn tháng để chấn chỉnh lại bản thân. Nếu không ăn chơi lông bông nữa thì tôi có thể tốt nghiệp. Tôi đã định cứ rong chơi rồi năn nỉ bố mẹ cho học thêm một hai học kỳ nữa, nhưng lựa chọn đó giờ không còn nữa. Sau bao lần nhảy ngành của tôi, chuyên ngành duy nhất còn có thể ra trường được là nghiên cứu đại cương.
Tôi dành các buổi chiều ở trung tâm sinh viên, chăm chú tìm kiếm mục việc làm và tập trả lời phỏng vấn. Tôi cạo trọc mái tóc nhuộm đen của mình và để nó mọc lại. Tôi bỏ khuyên môi và hoa tai.
Cuối cùng, tôi cũng tìm được một nơi chịu tuyển mình. Công việc đó ở vị trí mới vào nghề và tận ngoài Dallas, cách trường tôi bảy tiếng lái xe. Ngày nhận được đề nghị làm việc, tôi cầu hôn Riley. Chúng tôi cưới nhau tại tòa án vào một ngày thứ Tư.
Riley đã mang thai tám tháng khi chúng tôi nhét tất cả đồ đạc mình có vào chiếc xe hatchback tôi mua một tuần trước đó. Người phụ nữ bán xe tặng tôi luôn chiếc ghế an toàn cũ cho em bé của bà khi thấy tôi và Riley xuất hiện trả tiền mặt cho chiếc xe cũ nát. Cứ mỗi giờ chạy xe, tôi lại phải dừng lại đổ nước két làm mát.
Chúng tôi đến định cư ở Last Waters. Riley chọn thị trấn này. Cô ấy nói ở đây có trường tốt và các chương trình STEM rất mạnh. Tôi thì thấy tên thị trấn này gợi nhiều liên tưởng và nghe thật mơ màng. Cả hai đứa đều thích giá nhà rẻ ở đây, ít nhất là hồi đó.
Một đứa trẻ sơ sinh chính là cú đá trời giáng vào lương tâm người đàn ông. Tôi đã lên kế hoạch và chuẩn bị sẵn sàng: đóng cũi, sơn phòng trẻ, đọc sách nuôi dạy trẻ, và bắt đầu công việc mới giờ hành chính, nhưng không gì, hoàn toàn không gì có thể chuẩn bị cho tôi giây phút lần đầu tiên tôi bế trên tay con trai mình, bé Emmet.
Trong khoảnh khắc đó, người đàn ông phải đưa ra một quyết định trong tích tắc: bạn đang ôm trong tay mãi mãi của mình, và bạn đang nhìn thẳng xuống họng súng đen ngòm của quãng đời còn lại. Hãy chọn ngay: Đàn ông lên, hay chạy trốn? Đã chọn thì không có đường lui.
Tôi ôm Emmet vào lòng và khóc những giọt nước mắt hạnh phúc, và lần đầu tiên, tôi cảm thấy đời mình thật sự đang hướng đến một điều gì đó đặc biệt.
Tôi đã lầm to.
Ít ra thì tôi rất tận tụy với Emmet. Tôi yêu việc được làm ba của Emmet. Khi thằng bé còn nhỏ, tôi thường chọc nó cười bằng một loạt giọng nhại ngớ ngẩn và đủ kiểu giọng bịa ra. Tôi giả giọng Nga hoặc Đức lúc hai bố con vẫy vùng trong bồn tắm, giả giọng Úc khi con đánh răng. Sau khi tôi đặt con lên giường, tôi sẽ lấy một cuốn sách và đọc bằng một mớ giọng trộn lẫn tất cả những kiểu giọng khác nhau mà tôi nghĩ ra được. Tôi hay bắt chước các nhân vật hoạt hình trong những sáng thứ Bảy hai cha con cày phim, khi chúng tôi rúc vào ghế sofa và ăn pancake sô-cô-la chip. Xem hoạt hình xong, hai bố con cùng vẽ ở bàn bếp, bày la liệt sách tô màu, giấy in và bút sáp màu. Tôi thường dán đầy buồng làm việc của mình những bức vẽ Emmet vẽ tặng tôi. Tôi cũng hay dùng băng dính dán những bức phác thảo tôi vẽ cho con lên đầu giường của nó.
Riley và tôi bắt đầu nảy sinh vấn đề từ rất sớm, và rất căng. Khi rời Lubbock, cô ấy quyết tâm hoàn thành tấm bằng tiến sĩ. Suốt hai năm, cô ấy phải tung hứng giữa các phương trình và định lý với nhu cầu của Emmet hồi còn bú mớm. Mỗi khi tôi đi làm về, tôi lại trông con để cô ấy biến mất vào phòng làm việc, đóng cửa lại và khóa luôn. Chúng tôi xa cách nhau rất nhanh.
Buổi tập bóng của Emmet chật kín người trên khán đài. Khán đài đội nhà đầy những ông bố bà mẹ đang ngồi xem đội tập luyện. Vài người còn đem cả thùng đá và chăn ra ghế bậc như thể họ định biến buổi tập thành buổi picnic. Các em nhỏ hơn thì chạy nhảy lên xuống bậc thang sân vận động. Tôi nán lại phía sau khu cầu môn gần cổng. Tôi không chắc mình thuộc về nơi này. Không, tôi biết mình chẳng thuộc về nơi này.
Tôi rà mắt khắp sân, tìm kiếm chiếc áo số 99. Emmet và tôi đã cùng chọn số áo đó khi thằng bé chuyển từ đội tí hon sang đội thiếu niên. Hôm ấy nó đang tô màu trong cuốn sách tô màu Dallas Cowboys, còn tôi đang cố vẽ lại đường cong của nụ cười năm tuổi của thằng bé vào sổ phác thảo. Con nên chọn số mấy hả ba?
Con nên chọn số 99. Tôi cho nó một lý do khác nhau mỗi lần nó hỏi. Vì mình có thể quẩy như năm 1999. Vì số chín là số ngầu nhất, mà ở đây lại có tới hai số chín! Lúc đó nó mới năm tuổi, và bảng cửu chương vẫn còn là điều bí ẩn với nó. Vì ba yêu con chín nhân chín lần. Con biết bằng bao nhiêu không? Thằng bé đã phá lên cười, lắc đầu, ngước nhìn tôi như thể tôi xứng đáng với tất cả tình yêu trong mắt nó. Là vô cực đó, con trai. Là mãi mãi.
Sao thằng bé vẫn giữ số 99 nhỉ? Có biết bao nhiêu năm từ khi nó mới năm tuổi đến mười bảy tuổi. Nó có thể đổi số áo bất cứ lúc nào. Tôi luôn nghĩ thế nào nó cũng sẽ đổi thôi.
Kia rồi. Tôi thấy con trai mình ở gần đường biên, đang tập cùng một huấn luyện viên. Nó thở dốc, mũ bảo hiểm cầm trên tay, mái tóc vàng xơ xác đẫm mồ hôi rủ xuống che mắt. Nó cau mày, như mọi khi, nhưng vẫn chăm chú nghe lời huấn luyện viên. Nghe rất kỹ. Gật đầu lia lịa. Tôi thấy môi nó mấp máy mấy tiếng Vâng, thưa huấn luyện viên trước khi nó đội mũ trở lại và chạy về phía các đồng đội.
Hiểu biết của tôi về bóng bầu dục chỉ giới hạn trong những mảnh vụn góp nhặt được qua các trận đấu của Emmet. Bóng bầu dục với tôi là một môn khó hiểu. Thể thao chưa bao giờ là sở trường của tôi. Hồi nhỏ, tôi đã khóc khi bị gọi vào đội đá bóng. Bọn con trai khác mang găng bóng chày và bóng bầu dục đến trường, còn tôi mang theo bút chì màu. Hội họa là cuộc đời tôi, và tôi lớn lên thành một chàng trai trẻ hay trầm tư u sầu, mộng mơ trong những vệt chấm phá Monet và những vòng xoáy Van Gogh.
Ở Texas có truyền thống cho con trai chơi bóng bầu dục từ lúc ba, bốn tuổi. Bóng bầu dục ở đây là một thứ tôn giáo cổ truyền, và những đêm thứ Sáu dưới ánh đèn sân vận động chính là nhà thờ của chúng tôi. Tôi không nghĩ lúc bốn tuổi Emmet sẽ trở thành một ngôi sao đột phá. Lúc đó bọn trẻ chẳng có gì ngoài sự đáng yêu, chạy loạn vòng quanh trong những bộ đồ bảo hộ tí hon và chiếc mũ mà chúng còn chẳng nhìn nổi ra ngoài. Trò chơi chỉ là màn chạy loăng quăng, với các huấn luyện viên tung quả bóng bằng một tay vào đám nhóc đang bu lại. Phần lớn bọn trẻ tham gia cũng chỉ vì mấy miếng cam và que kem sau trận đấu.
Chính Riley là người dạy Emmet cách bắt bóng và ném bóng. Tuy là một thiên tài toán học và một kẻ nổi loạn văn hóa pop, Riley cũng vẫn đậm chất con gái Texas. Cô ấy lớn lên với mái tóc tết bím và việc cổ vũ cho các anh trai mỗi khi họ nghiền nát đội bạn dưới ánh đèn sân vận động Kerrville. Cô ấy rành bóng bầu dục như rành các phương trình đại số.
Nếu anh ném một quả bóng bầu dục về phía tôi, chắc nó sẽ đập trúng mặt tôi mất. Tôi hoàn toàn không biết bắt bóng thế nào. Cầm bóng ra sao. Tôi đã thử ném một lần, nhưng quả bóng dội vào hàng rào rồi văng bật sang sân nhà hàng xóm, xoay tít như một cái đĩa bay.
Tôi phải thừa nhận, tôi thấy thoáng rùng mình lo sợ khi Emmet bắt đầu “có nhiều triển vọng”, theo lời các huấn luyện viên đội nhi đồng của nó. Họ biết cái gì chứ, tôi đã nghĩ. Thằng bé mới sáu tuổi. Sáu tuổi thì làm sao thể hiện năng khiếu bóng bầu dục xuất sắc được.
Rồi Emmet được rút khỏi đội “Kỵ Sĩ Nhí” của lớp một và đưa vào đội tuyển chọn toàn quận.
Lên lớp bốn, nó được mời tham gia buổi tuyển chọn cấp trung học cơ sở toàn bang Texas.
Tới lớp tám, nó đã là một hậu vệ cản phá tiêu biểu toàn bang.
Năm lớp chín, nó là cầu thủ xuất phát của đội dự bị trường và được mời lên tập cùng đội tuyển chính, để “chuẩn bị cho lúc chúng tôi đôn em lên”.
Trong suốt quãng thời gian đó, Riley luôn có mặt. Cô đính kim sa lên một chiếc áo đấu gắn số của con và sơn nhũ tên nó lên sau áo. Bóng bầu dục là thế giới của hai mẹ con họ, mối kết nối đặc biệt giữa mẹ và con trai mà tôi chưa bao giờ được tham gia, một câu lạc bộ mà tôi không bao giờ được mời nhập hội.
Điều đó không đau đớn lắm khi Emmet vẫn còn thích xem hoạt hình trên ghế sofa với tôi hoặc cùng vẽ ở bàn bếp. Hai cha con vẫn còn thời gian bên nhau, và nó vẫn là thằng bạn nhỏ của tôi.
Nhưng Emmet rồi cũng lớn, như bao đứa trẻ khác, và những buổi tô màu được thay bằng bài tập về nhà, hoạt hình cuối tuần nhường chỗ cho các trận bóng thứ Bảy, cuộc sống của nó kín đặc những buổi tập và những bài rèn luyện sau giờ học, và đột nhiên chẳng còn lúc nào cho bất cứ thứ gì ngoài bóng bầu dục.
Mà điều đó có nghĩa cuộc đời con trai tôi không còn thời gian dành cho tôi nữa.
Tôi đã cố học. Có lần, tôi nhờ Riley chỉ cho tôi về bóng bầu dục. Tôi tưởng tượng hai vợ chồng rúc vào sofa với nhau như hồi còn ôm nhau trên giường ký túc xá của cô ấy. Tôi sẽ lắng nghe cô giải thích từng lượt xuống bóng, từng thước sân, phân biệt chiến thuật chạy hay ném. Tôi khao khát được mời bước vào thế giới bí mật của hai mẹ con họ.
“Em không thể tin anh chẳng biết gì về mấy cái này” – đó là tất cả những gì giữa tôi và Riley trong lần đó. “Anh là dân Texas mà, phải không?”
Sự khinh miệt trong giọng cô ấy khiến tôi co rúm lại. Tôi không bao giờ thử lại nữa.
Cuộc sống còn lâu mới hoàn hảo, nhưng ít nhất thì nó vẫn đang tiếp diễn. Giữa tôi và Riley đã có những rạn nứt sâu hoắm. Những điểm từng hấp dẫn chúng tôi lúc đầu dần dần lại trở thành những thứ đẩy chúng tôi ra xa nhau khi thời gian trôi qua. Tôi cho rằng cô lạnh lùng, vô cảm, xa cách. Tôi héo mòn trong một sa mạc khát khao tình cảm. Cô thì cho rằng tôi quá đa cảm và chẳng biết mình là ai.
Những cơn hưng phấn và bực dọc nhường chỗ cho mệt mỏi, rồi dẫn tới né tránh và thu mình. Chúng tôi xa nhau dần. Nỗi bất hạnh của cô ấy trở nên chua chát, hóa thành độc tố. Lan tràn. Chúng tôi như hai ngôi sao chổi xoay quanh con trai, cẩn trọng để quỹ đạo của mình không bao giờ giao nhau. Để chúng tôi không bao giờ phải nhìn thấy nhau, không bao giờ phải nói chuyện với nhau, thậm chí không phải nhìn mặt nhau trong chính ngôi nhà của mình.
Để sau đi, tôi cứ tự nhủ. Sau mùa giải này, hoặc sau năm học này. Emmet vẫn chỉ là một đứa trẻ. Chúng ta sẽ giải quyết tất cả sau.
Emmet lên mười, rồi mười hai, rồi mười bốn. Tuổi dậy thì kéo căng rồi bứt đứt nốt sợi dây liên kết mong manh cuối cùng giữa tôi và nó. Nó né những cái hôn buổi sáng tôi đặt lên đỉnh đầu nó, đóng sầm cửa phòng tắm ngay trước mặt khi tôi thử diễn lại giọng Úc đã rỉ sét của mình lúc nó đang đánh răng. Không phải chỉ mình tôi là nó không chịu nổi. Nó và Riley cãi nhau về mọi thứ: bài tập về nhà của nó, chuyện nó lề mề trong lúc tập luyện, tại sao phòng nó như ổ lợn, rằng nó cần tắm thường xuyên hơn, phải tự giặt quần áo, mang bát đĩa bẩn từ phòng ngủ xuống, đừng lén uống nước ngọt buổi tối. Nếu tôi cố can thiệp, một hoặc cả hai mẹ con sẽ trút cơn giận sang tôi.
Đôi khi, tôi cố tình hứng chịu bực bội thay cho con. Riley và Emmet có thể cãi nhau cho đến khi cả hai gào lên, cho đến khi tường nhà rung chuyển, cho đến khi cửa đóng sầm sập, cho đến khi mắt họ đỏ mọng và gân guốc trên trán nổi hết lên. Khi tôi và Riley cãi nhau, chỉ là những câu cộc lốc, sắc lạnh và những khoảng lặng rực mùi căm hờn. Tôi có thể nhận lấy những lời cô ấy nói và chôn vùi chúng đi, nhét chúng vào một chỗ mà tôi sẽ không bao giờ phải nghe chúng nữa. Tôi nghĩ mình cũng có thể chịu được những cái đảo mắt của Emmet, cả tiếng Trời ạ, ba thôi đi của nó, cả cánh cửa phòng nó đóng sầm lại. Chỉ là giai đoạn tuổi mới lớn thôi mà. Chỉ là thời kỳ khó khăn thôi. Rồi chúng tôi sẽ vượt qua.
Cuộc sống vẫn cứ thế.
Rồi bỗng chốc chẳng còn nữa.
Lẽ ra cô ấy phải có mặt ở đây, nhưng cô ấy đã không còn. Chỉ còn mỗi tôi. Ông bố thừa thãi. Phụ huynh lựa chọn cuối cùng. Tôi không phải người mà Emmet muốn, nhưng giờ tôi là tất cả những gì nó có.
Điều đó quả là tin tệ cho thằng bé, bởi khi tôi đứng nhìn nó tập luyện, tôi đã chạm trần kiến thức bóng bầu dục của mình. Tôi biết Emmet chơi ở vị trí hậu vệ cản phá, và tôi biết năm nay nó vào đội hình chính.
Tôi chỉ biết thông tin sau cùng đó vì tôi đã lục trong thùng rác ra một lá thư rách nát. Thư gửi cho Riley, từ Hội Phụ huynh Cổ vũ Rodeo Riders Last Waters, chúc mừng những thành tích của Emmet và chào đón cô gia nhập đội ngũ các bà mẹ bóng bầu dục của đội tuyển chính. Các bà mẹ đội tuyển chính là những người giữ cho chương trình này vận hành, thư viết. Chúng ta là chất keo gắn kết những chàng trai này lại với nhau và giúp họ vượt qua những năm tháng bóng bầu dục trung học. Tình yêu và sự nuôi dưỡng của chúng ta giúp định hướng những người trẻ này trên con đường tương lai. Và chúng tôi rất cần chị cùng tham gia.
Rõ ràng là chẳng ai báo cho hội phụ huynh biết rằng Riley đã không thể ở bên họ nữa.
Tôi đã có thể gửi email. Tôi đã có thể viết vội vài dòng hoặc thậm chí in cáo phó của Riley và bỏ vào một phong bì. Tôi đâu cần thiết phải đích thân đến đây để báo với họ rằng Riley đã mất và cô ấy sẽ không thể là một trong những bà mẹ chăm sóc cho các cậu trai kia.
Nếu bây giờ tôi rời đi, Emmet thậm chí sẽ không biết tôi từng ghé qua. Tôi có thể tạt mua một chiếc pizza trên đường về, để sẵn trên quầy cho nó. Nó sẽ chẳng hay biết gì, và việc tôi xuất hiện cũng sẽ không trở thành thêm một lý do ủ ê oán hận khác, một trong hàng ngàn vết thương tôi đã gây ra cho con trai mình chỉ riêng trong năm qua.
“Chào anh.”
Một giọng nói cất lên từ phía sau lưng tôi. Ấm áp, thân thiện. Chắc không phải nhân viên bảo vệ sắp đuổi tôi ra ngoài. Dù vậy, tôi vẫn không thuộc về nơi này. Có lẽ tôi có thể chuồn ra xe chỉ với một tiếng chào khe khẽ.
Không dễ thế. Người đàn ông phía sau đang đứng chắn đường tôi. “Trông anh quen quen. Anh có phải... bố của Emmet Hale không?” Anh ấy nghiêng đầu, ánh mắt nhìn tôi từ trên xuống dưới.
Có gì nhiều để mà nhìn đâu. Tôi bốn mươi tuổi, và trông cũng đúng tuổi. Đuôi mắt đầy vết chân chim, mái tóc điểm những sợi bạc. Điểm duy nhất tạm gọi là được ở tôi có lẽ là thân hình mảnh dẻ, gân guốc, gầy nhẳng mà chẳng cần cố. Dáng người kiểu dân chạy bộ, dù tôi chẳng thích chạy. Tôi không tăng cân, nhưng cũng chẳng lên cơ bắp.
Còn người đàn ông này hẳn dành không ít thời gian trong phòng gym. Anh ấy có thân hình cân đối hơn nhiều, được trời phú cho vóc dáng nam tính chuẩn mực: vai rộng thu lại ở eo thon, tuyệt nhiên không chút mỡ bụng. Anh mặc quần tây và áo phông Hội Phụ huynh Cổ vũ Rodeo Riders. Mái tóc anh trông có vẻ mềm mại và được vuốt ngược, cắt tỉa gọn ghẽ, trông như chẳng cần cố mà vẫn đâu ra đấy, ngay cả khi đã cuối ngày.
Còn tôi thường trông như vừa bò ra khỏi nấm mồ của chính mình. Sự chán chường có cách khiến thần sắc tôi phờ phạc nặng nề.
Anh ấy trông như sống nhờ ăn hạnh phúc. Anh ấy có vẻ trạc tuổi tôi, nếu không muốn nói hơn tôi một hai tuổi. Không phải dựa trên vẻ ngoài. Mà là ở phong thái. Anh ấy toát lên sự vững vàng ổn định theo một cách mà cả đời tôi vẫn hằng tìm kiếm. Sự vững chãi.
Tôi lắc đầu, không hẳn để đáp “không” mà để cố xua đi những mớ tơ nhện trong đầu. “Anh biết con trai tôi à?”
Anh ấy cười. Nụ cười như thắp sáng cả gương mặt từ bên trong. “Emmet đúng là con trai anh! Tôi nghĩ thế mà. Hai cha con giống nhau lắm.”
“Hầu hết mọi người đều nói nó giống mẹ nó hơn.” Câu đó bật ra trước khi tôi kịp dừng lại. Tôi quay đi, nheo mắt nhìn về phía mặt trời đang lặn. “Đó là lý do tôi có mặt ở đây. Bên anh đã gửi một lá thư tới nhà tôi...” Tôi khoát tay chỉ vào chiếc áo phông của anh ấy, chỗ hình anh chàng cao bồi hoạt hình đang tung dây bắt trái bóng bầu dục xuyên qua khung thành màu vàng. “Mong anh bỏ mẹ của Emmet ra khỏi danh sách gửi thư. Cô ấy mất rồi.”
Cũng có nhiều cách nói uyển chuyển, nhẹ nhàng hơn, nhưng một năm sau biến cố đó, tôi đã cạn kiệt những lời khách sáo. Chúng đã bị mài mòn khỏi tôi từ lâu.
Mắt anh ấy mở lớn. Phản ứng của anh ấy điềm tĩnh hơn hầu hết những người nghe tôi báo tin này. Không một cơn bột phát đau buồn kiểu Texas, không há hốc hay níu chặt tay tôi, không Lạy Chúa thương xót, không Tôi thật vô cùng tiếc thương.
“Chắc chắn rồi. Tôi sẽ lo việc đó tối nay.” Giọng anh ấy lập tức nghiêm túc. “Tôi rất xin lỗi vì lá thư ấy đã được gửi đi. Nó cho chiến dịch tuyển các bà mẹ, đúng không?” Anh ấy nhăn mặt. “Thành thật xin lỗi anh.”
“Cảm ơn.” Tôi nặn ra một nụ cười lịch sự, gượng gạo. Xong việc rồi. Đến lúc phải đi.
Tôi cau mày. “Nhưng sao anh biết con trai tôi?”
Emmet không phải kiểu người hòa đồng dễ kết bạn – nó hưởng sự hướng nội gấp đôi từ cả mẹ nó lẫn tôi – và theo những gì tôi tìm hiểu được sau khi gửi email hỏi trợ lý huấn luyện viên, nó chỉ vừa được gọi lên đội chính trong trại tập huấn bóng vừa rồi.
“Emmet và con trai tôi là bạn của nhau.” Nếu câu hỏi của tôi làm anh ấy chạnh lòng, anh ấy cũng không để lộ. “Thằng bé qua nhà chúng tôi chơi suốt mùa hè này. Nó với Bowen tập luyện tới tấp ngoài sân sau. Tôi suýt nữa đã sơn luôn vạch sân bóng lên cỏ cho chúng nó.” Anh ấy lại mỉm cười, như thể nụ cười đối với anh dễ dàng lắm vậy.
Đó là một cảm giác thật lạ lùng, khi có người nói cho bạn một điều về chính con mình mà bạn chẳng hề biết. Tôi thấy lòng mình như bị khoét rỗng, trống hoác, như thể tôi vừa trả lời sai một câu chính tả cơ bản nhất trong cuộc thi đánh vần – nhầm lẫn there với their trước cả một sân vận động đầy người. “Ồ.”
“Bowen muốn chắc rằng Emmet sẽ được lên đội chính năm nay.”
Không biết anh ấy có hay đây là lần thứ hai Emmet được gọi lên đội chính không nhỉ? Lần đầu chỉ kéo dài có một ngày rưỡi. Nó mười sáu tuổi – vừa sinh nhật mười sáu tuần đó – và được vào đội chính là điều duy nhất Emmet khao khát. Nó được gọi lên ngay ngày đầu tiên của trại tập huấn. Riley đã đưa nó đến sân vận động này. Nhưng cô ấy không bao giờ đến đón nó về.
Tôi xoay xoay chùm chìa khóa, vỗ nó vào lòng bàn tay. “Con trai anh là ai? Tôi đang cố nhớ các bạn của Emmet mà không nghĩ ra cái tên đó.”
Hoàn toàn dối trá. Đến một người bạn của Emmet tôi còn không kể được tên nào. Nó hẳn phải có vài người bạn, đúng không? Điều duy nhất tôi biết chắc là tôi chưa từng thấy người đàn ông này bao giờ.
“Bowen Larsen.” Anh ấy chỉ tay về phía giữa sân. “Số 16.”
Ồ. Thì ra là Bowen đó. Ánh mắt tôi dừng lại ở con số 16 nhỏ thêu kim tuyến lóng lánh trên ngực áo anh ấy, ngay phía trên trái tim. Chính số 16 đó. Thằng nhóc từng xuất hiện trên nửa tá bài báo của tờ báo địa phương. “Ngôi sao lớn tiếp theo của làng bóng bầu dục.”
“Xin lỗi. Tôi không nhận ra—”
Anh ấy mỉm cười, đưa tay ra. “Tôi là Landon. Landon Larsen, ba của Bowen.”
“Luke Hale. Và giờ đến lượt tôi phải xin lỗi. Tôi không hề biết con trai tôi đã ở nhà anh suốt mùa hè vừa rồi.” Hẳn đó là thất bại làm cha, chắc chắn vậy. Chẳng lẽ tôi lại không biết con mình ở đâu hay sao? Tôi cứ tưởng nó ru rú trong phòng nó, như mọi khi. Tôi chỉ lần được dấu vết sự tồn tại của nó qua đống bát đĩa chất trong bồn rửa và lượng sữa vơi dần trong tủ lạnh.
Landon khoát tay gạt lời xin lỗi của tôi. “Emmet tuyệt lắm. Rất lịch sự.”
Tôi khịt mũi.
“Ừ thì, thực ra tôi chưa từng nghe thằng bé nói câu nào...” Anh ấy cười, thú nhận.
“Thế mới đúng là con trai tôi.” Mặc cho tất cả, tôi vẫn mỉm cười.
“Ba ơi!”
Khi có một đứa trẻ gọi “Ba ơi,” bất cứ ai làm ba cũng đều ngoảnh lại theo phản xạ. Tất nhiên, đã nhiều năm rồi Emmet không gọi tôi như thế. Dạo gần đây tôi chỉ còn nghe tiếng “Ba” mỗi khi nó buông ra ở cuối một câu cằn nhằn giận dữ. Hết sữa rồi, ba. Đừng có hỏi, ba. Để con yên, ba.
Bowen Larsen, tiền vệ xuất sắc, người hùng của thị trấn – cậu bé đã tiếp quản đội Rodeo Riders Last Waters mùa rồi sau khi tiền vệ chính chấn thương đầu gối – đang chạy băng qua khu cầu môn về phía chúng tôi. Khung cảnh trông đến là lố bịch, như bước ra từ một bộ phim: ánh nắng xiên nghiêng rọi vào sân vận động sau lưng cậu ta, tỏa ra quầng sáng vàng trên khán đài khi phần còn lại của đội đang tập luyện. Tiếng còi hối thúc, các huấn luyện viên vỗ tay. Tiếng đinh giày lạo xạo trên cỏ, tiếng bóng đập bình bịch vào áo và giáp. Bowen mỉm cười, một nụ cười nửa miệng phảng phất giống nụ cười của ba cậu ta.
Bowen cao lồng ngồng vượt hẳn cả tôi và Landon. Tôi và Landon cao xấp xỉ nhau, khoảng tầm một mét tám, nhưng tôi vẫn phải ngước lên mới chạm được ánh mắt Bowen. Tóc cậu ta dài, xoăn, được buộc túm sau đỉnh đầu. Trán cậu cuốn một chiếc khăn bandana ướt đẫm mồ hôi, buộc bên dưới mớ tóc rối bù.
Cậu ta quăng một chùm chìa khóa xe cho Landon. “Của ba đây.”
“Cảm ơn con, nhóc. Ba nợ con lần này.”
“Vâng, không có gì đâu. Ba đã lấy—”
“Ba lấy rồi. Đủ mọi thứ trong danh sách. Tất cả ở ghế trước xe con đó. Ba còn mua thêm nước tăng lực Monster cho con, với mấy thứ kẹo sâu chua lè gớm ghiếc đó nữa.”
“Tuyệt!” Bowen lại cười tươi rói với ba mình. Ánh mắt cậu lướt sang phía tôi.
“Bowen, đây là chú Luke Hale,” Landon giới thiệu. “Bố của Emmet.”
Trong mắt Bowen ánh lên sự nhận ra, cùng với gì đó khác nữa. Cậu ta hơi chần chừ rồi mới cất lời. “Rất vui được gặp chú, chú Luke. Em mừng là Emmet được lên đội chính năm nay. Cậu ấy tập luyện rất chăm, và cậu ấy xứng đáng có mặt ở đây.”
Thằng bé năm ngoái cũng đã tập chăm lắm, nhưng thành quả lại bị tước mất — “Ba cháu nói cháu và Emmet cùng tập luyện suốt mùa hè à?”
“Dạ, bọn cháu có ạ. Cậu ấy thật sự đã lên cơ. Bật cả chế độ ‘quái thú’, mà vậy thì tốt vì đội cháu đang cần sức mạnh cứng cáp ở vị trí của cậu ấy.”
“Hậu vệ cản phá, trung vệ phòng ngự.” Tôi chỉ chắc khoảng sáu mươi phần trăm là mình nói đúng.
Bowen cười. “Vậy là chú cũng biết đấy chứ. Emmet không dám chắc chú biết mấy chuyện này. Nhưng đúng vậy, cậu ấy chắc chắn là người mà đội năm nay đang cần.”
Tôi không biết phải nói gì với Bowen, với huyền thoại bóng bầu dục của thị trấn này – với bạn của Emmet – người mà rõ ràng đã biết đủ nhiều về tôi để biết rằng tôi chẳng biết một tí gì về bóng bầu dục. Hay về chính Emmet. Ừ thì, Em à, ít nhất con cũng đang chịu nói chuyện với ai đó.
“Larsen!” Tiếng thét vang lên từ giữa sân. Vang vọng khắp khán đài, dội khắp sân vận động. Huấn luyện viên Pierce hai tay chống lên đầu, cử chỉ cậu đang làm cái quái gì thế hả ăn khớp với vẻ mặt giận dữ của ông. “Cậu đang làm trò quỷ gì vậy? Quay lại tập ngay!”
“Con phải đi rồi. Cảm ơn ba!” Bowen chạy biến đi, chỉ còn lại một vệt mờ của mồ hôi và áo đấu.
Số 99 tức tốc chạy về phía Bowen và hai đứa cùng chạy chậm tới đường biên, nơi Emmet lột phắt mũ bảo hiểm ra và cau có. Bowen vò tung mái tóc của Emmet trước khi cậu ta lao về giữa sân nơi huấn luyện viên Pierce đang chờ, trông ông như sắp đứt mạch máu đến nơi nếu Bowen bắt ông phải chờ thêm năm giây nữa.
Emmet trừng mắt nhìn về phía khu cầu môn. Dù ở khoảng cách hơn năm chục thước, tôi vẫn có thể cảm nhận sự khinh ghét của nó như một cú đấm thụi vào sườn mình. Đi đi. Tôi đưa tay lên, cố vẫy vẫy.
Emmet đội mũ trở lại. Nó vẫn quay lưng về phía tôi.
Sẽ ra sao nếu tôi và Emmet có được sự thân thiết tự nhiên như Bowen và Landon? Nếu hai cha con có thể mỉm cười với nhau – hoặc thậm chí chỉ cần ở gần nhau – mà giữa chúng tôi không có cả một đại dương tuyệt vọng ngăn cách? Liệu có thế giới nào đó mà hai cha con tôi hơn cả những kẻ xa lạ? Hay tôi đã mất con trai mình vĩnh viễn rồi?
Giữa hai chúng tôi còn lại gì chăng? Liệu nó có còn nhớ những sáng thứ Bảy ăn pancake và xem hoạt hình? Hay nó chỉ nhớ khoảng cách lạnh lùng giữa hai cha con?
Cả sân bóng nhòe đi. Tôi cúi đầu xuống, cố không gục ngã trước mặt Landon, người rõ ràng là một ông bố vượt trội hơn hẳn bên con trai. Anh ấy đã làm gì để gần gũi với Bowen đến thế? Chắc là luôn có mặt rồi. Ở mọi trận đấu, mọi buổi tập. Trời ạ, anh ấy còn là một phụ huynh cốt cán nữa, phải không? Anh ấy có chiếc áo phông minh chứng điều đó, với số áo của con trai lấp lánh kim tuyến ngay trên ngực.
“Emmet đang trong kiểu tâm trạng tuổi mới lớn thôi, nhỉ?”
Tôi cứ đăm đăm nhìn xuống mặt cỏ, nhìn khoảng xanh giữa đôi giày mình. Tôi đã không khóc suốt nhiều năm, và chết tiệt, tôi sẽ không để mình bật khóc ở đây, ngay tại buổi tập của Emmet. Nó sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi. Tôi gật đầu. “Vợ tôi, Riley— Cô ấy đã cùng thằng bé làm hết mấy chuyện này. Tôi thì chẳng giỏi giang gì mấy vụ thể thao. Tôi chưa bao giờ biết cầm đầu nào của quả bóng bầu dục để ném, hay cầm đầu nào của gậy bóng chày để đánh.”
Landon bật cười khẽ. “À thì, bóng bầu dục có hai đầu y hệt nhau, và anh hướng quả bóng theo phía nào thì nó sẽ bay hướng đó. Còn gậy bóng chày thì tôi không giúp được anh rồi. Hai ta mà bị quẳng vào sân bóng chày thì đúng là mù dắt mù.”
Tôi nghẹn lại một tiếng nức nở. Sao anh ấy lại tử tế với mình như vậy? “Hồi nãy là sao thế, anh và Bowen ấy?”
“Hai bố con tôi giúp đỡ lẫn nhau thôi. Bowen được nghỉ tiết sáu giữa ngày, còn tôi thì họp hành kín lịch. Sáng nay hai bố con đổi xe cho nhau để nó đi thay dầu xe giúp tôi. Nó cần mua sách môn tiếng Anh với một đống linh tinh nữa, nhưng nó không có thời gian đi lo hết. Tôi đã tranh thủ mua đầy đủ cho nó trước buổi tập.”
Làm cha quá nhẹ nhàng. Yêu thương quá nhẹ nhàng. Nếu tôi mà nhờ Emmet giúp tôi đi thay dầu xe tải, chắc nó sẽ đảo mắt, có lẽ buông một câu kiểu như, “Đến cái đó ba cũng không tự lo được, hả ba?”
“Hai bố con anh thân thiết thật.”
“Thì, chúng tôi bỏ công sức vun đắp mà.” Landon đút hai tay vào túi quần âu. Anh đứng gần đến mức tôi có thể cảm nhận hơi ấm tỏa ra từ bờ vai anh. “Đâu phải dễ dàng gì. Tuổi mới lớn vốn chẳng bao giờ dễ, nhưng hai cha con tôi vẫn luôn cố gắng. Làm bố thì cũng có nhiều kiểu khác nhau,” anh nói thêm, giọng giữ nhẹ nhàng. “Đâu phải chỉ có kiểu mê thể thao thôi đâu.”
Tôi miết lưỡi qua hàm răng, cố gắng – nhưng thất bại – để ngăn không cho cằm mình run lên. “Tôi không biết phải làm gì nữa.” Lời thú nhận thật đau đớn, những chữ ấy cào xé trong cổ họng tôi.
“Đâu có ai biết chứ. Làm cha mẹ giống như lái một chiếc xe không phanh vậy. Anh nắm chặt vô lăng và bám cho chắc, cầu trời cho mình đừng đâm sầm quá mạnh.”
Bụng tôi thắt lại. Nếu Landon không cẩn thận, chắc tôi sắp nôn đầy lên đôi giày Oxford mũi bọc kim loại rất đắt tiền của anh mất.
“Sao anh không thử làm tình nguyện viên?” Giọng Landon nhẹ nhàng.
Tôi sặc ra một tiếng cười nhạt. Chắc chắn tôi sẽ làm hỏng chuyện đó, giống như tôi đã làm hỏng mọi thứ khác. “Tôi đâu có biết phải làm gì.”
“Đâu phải đi làm trọng tài. Anh không cần phải là bình luận viên thể thao hay người đọc chiến thuật. Làm tình nguyện viên là một cách để gần gũi con hơn thôi. Tôi có nhiều thời gian bên Bowen hơn chính là nhờ những việc tôi làm cùng đội bóng và hội phụ huynh cổ vũ.”
Anh ấy hất hàm về phía sau chúng tôi, về phía một chiếc bàn có bóng bay cột ở các góc và trang hoàng bằng những màu đỏ mận, trắng và vàng của trường. Một tấm băngrôn của Hội Phụ huynh Cổ vũ Rodeo Riders Last Waters treo trước bàn. Ba bà mẹ đang làm việc phía sau bàn, ai cũng mặc một chiếc áo phông giống của Landon với số áo của con trai họ đính trên ngực. Một trong các cô mẹ buộc tóc lại bằng ruy băng. Một cô khác đội một chiếc mũ visor đính đá lấp lánh bên dưới mái tóc mái phồng, chữ Last Waters uốn lượn phía trước mũ bằng những viên ngọc lấp lánh màu đỏ mận.
“Tối nay bọn tôi có buổi vận động kết nạp thành viên hội phụ huynh cổ vũ,” Landon nói.
Bức thư đó. Lý do mà tôi có mặt ở đây. “Tôi tưởng chỉ dành cho các bà mẹ thôi chứ.”
“Phần lớn tình nguyện viên là các bà mẹ. Cũng có vài ông bố tham gia lác đác. Như tôi đây.” Anh cười toe, nghiêng đầu sang một bên. Anh thân thiện đến mức không gì cản nổi. Và tốt bụng. Tốt bụng hơn mức tôi đáng được nhận. “Nếu anh muốn tham gia, tôi có thể thu xếp cho anh vài chân tốt. Tôi quen phó chủ tịch hội cổ vũ.”
“Ồ vậy à?” Không biết đó sẽ là mẹ nào trong mấy người ở bàn kia nhỉ? Tôi đoán chắc là bà lấp lánh kia.
Landon nhún vai, trông vừa tự hào vừa ngượng ngùng cùng lúc. “Chính là tôi đây.”
Tôi sửng sốt.
“Như tôi nói, làm tình nguyện viên giúp tôi có nhiều thời gian bên Bowen hơn. Tôi rất thích.” Anh nhăn mặt cười, nheo mắt, nhún vai, tất cả cùng một lúc. “Anh thử xem? Nếu ghét thì anh không bao giờ phải quay lại nữa. Nhưng nếu anh thích thì…”
Chẳng phải đó chính là điều tôi mong muốn sao? Có thêm thời gian bên Emmet, và một cơ hội, chỉ một cơ hội nhỏ nhoi thôi, để kết nối lại với con? Để cố gắng bắc lại nhịp cầu qua vực thẳm giữa hai cha con, và biết đâu, biết đâu, lại được làm ba của thằng bé một lần nữa? Trở thành người mà Emmet tin tưởng, thậm chí yêu quý, chứ không chỉ đơn thuần là gã mà nó trút căm hờn và khinh bỉ.
Tôi sợ lắm. Nếu tôi không thử, nếu tôi chẳng bao giờ thử, thì tôi sẽ không thể thất bại tệ hơn những gì mình đã thất bại. Nhỡ đâu tôi đưa tay ra mà Emmet lại không muốn đáp lại? Hoặc tệ hơn, nhỡ đâu nó hắt hủi tôi?
Nhỡ đâu, sau khi tôi dốc cạn lòng mình, con trai tôi lại lấy giày đinh giẫm nát nó dưới chân?
Ở ngoài tầm mắt của con và cơn giận dữ của nó vẫn dễ dàng hơn.
Dễ dàng hơn, nhưng vô nghĩa. Tôi khổ sở. Còn khổ sở hơn cả một năm trước, và hồi đó tôi đã nghĩ chẳng thể tệ hơn được nữa.
Đây không phải cuộc sống mà tôi muốn cho mình hay cho Emmet. Nó cũng chẳng phải điều tôi muốn cho Riley, nhưng cuộc đời Riley đã kết thúc rồi. Giờ chỉ còn tôi và Emmet, và hai cha con phải đưa ra lựa chọn. Cố gắng cứu vãn ván bài số phận đã chia cho chúng tôi, hoặc… cứ mờ nhạt dần đi, tôi nghĩ. Nếu tôi không làm gì cả, vài năm nữa, tất cả những gì giữa tôi và Emmet sẽ chỉ là một cái tên ở đầu bên kia của chuỗi tin nhắn nguội ngắt.
Chỉ một cơ hội. Một cơ hội nhỏ nhoi. Đó là tất cả những gì tôi khao khát. “Được. Ghi tên tôi vào. Tôi sẽ tham gia.”
“Tuyệt!” Landon rạng rỡ. “Tôi nghĩ anh sẽ thích mà. Thật đấy.”
“Anh sẽ phải giúp tôi đấy. Tôi không biết gì về mấy cái này đâu.”
“Tôi sẽ chỉ cho anh chính xác đầu nhọn của quả bóng bầu dục hướng về đâu và nên ủng hộ đội nào.” Landon nháy mắt. “Tôi hứa, anh không có gì phải lo đâu—”
“Landon!” Cô phụ huynh lấp lánh xuất hiện. “Anh kiếm được ai thế này?” Cô ta xoay sang phía tôi một nụ cười Texas rạng rỡ hết cỡ. Cô ấy đúng chất Texas: đôi mắt xanh to tròn, mái tóc vàng bồng bềnh. Tính cách rực rỡ toát ra từ cô. Và vòng một cũng bự, bó trong chiếc áo phông cổ vũ và sơ vin với chiếc quần short bé xíu, đôi chân rám nắng miên man trong đôi xăng-đan quai mảnh. Số áo của con trai cô, in trên ngực, là 35.
“Annie Doyle, đây là anh Luke Hale. Bố của Emmet.” Landon xoay người để Annie và tôi đối diện nhau thay vì để cô ấy chỉ nói chuyện với anh. “Luke, đây là Annie, mẹ của Jason. Jason là chạy cánh chính của đội, và nó với Bowen đã chơi cùng nhau ba năm nay. Annie là chủ tịch hội chúng tôi.”
Tôi thầm cảm kích những gợi ý tinh tế Landon đang cung cấp cho mình. Chạy cánh. Chơi cùng Bowen ba năm. Điều đó có nghĩa Jason là học sinh cuối cấp, trên Emmet một khóa. Tôi đưa tay ra cho Annie bắt. “Hân hạnh được gặp cô, bà Doyle.”
“Là Ms.,” cô chỉnh ngay, không bỏ lỡ nhịp nào. Nếu cô có biết gì về tôi, có nhận ra cái tên của tôi chăng nữa, thì cô cũng không thể hiện. “Và tôi cũng rất hân hạnh, Luke. Vậy Landon đã thuyết phục anh tham gia vào nhóm nhỏ của chúng tôi rồi à?”
Nhóm “nhỏ”. Phải rồi. Đây là những phụ huynh năng nổ, những siêu phụ huynh. Những ông bố bà mẹ tốt. Tôi làm gì có cửa chung chạ trong đám họ. “Đúng vậy.” Tôi cố nặn ra một nụ cười gượng về phía Landon.
“Tuyệt vời!” Annie khoác tay qua vai tôi và hướng dẫn tôi về phía bàn. “Chúng ta đăng ký cho anh ngay, để anh có thể tham gia các hoạt động tuần này với mọi người.”
Sau đó cô ấy quay về tác phong công việc. Có nhiều biểu mẫu hơn tôi tưởng chỉ để đăng ký một chân phụ huynh tình nguyện, và thoáng chốc tôi hoảng hốt. Tôi đã nhúng tay quá sâu, và dù sao Emmet cũng sẽ không muốn tôi góp mặt vào chuyện này. Tôi chỉ đang chuốc lấy cơn giận của nó mà thôi.
Nhưng khi tôi đặt bảng kẹp giấy xuống, ánh mắt tôi bắt gặp Landon và Bowen, lại đứng cạnh nhau khi buổi tập sắp kết thúc. Bowen đang kể cho Landon nghe một câu chuyện, và dù tôi không nghe thấy cậu nói gì, tôi vẫn hiểu qua ngôn ngữ cơ thể. Bowen hoàn toàn nhập tâm, diễn tả cho ba xem. Cậu giả vờ bắt bóng, giả vờ chắn đối thủ, rồi bật nhảy lên không trung chụp lấy quả bóng tưởng tượng. Landon ngửa đầu cười phá lên, tiếng cười vang rộn, trong trẻo đến mức tôi còn nghe được từ bên này khu cầu môn.
Trời ơi, tôi khao khát điều đó biết bao, khao khát có được kiểu quan hệ ấy với con trai mình.
Con trai tôi. Ánh mắt tôi đảo khắp sân cho đến khi tìm thấy số 99 đang quẳng đôi giày đinh và chai nước vào túi thể thao. Cơn giận bốc ra từ người nó. Nó quay lưng lại phía tôi, nhưng tôi vẫn có thể đọc được sự phẫn uất hờn dỗi qua những đường nét căng cứng nơi bờ vai nó.
Emmet giật mạnh khóa kéo túi cho đóng lại. Nắm lấy quai xách. Cúi đầu xuống và hít một hơi thật sâu. Tôi vội nguệch ngoạc ký tên mình vào mẫu đăng ký và đưa lại cho Annie. Cô ấy đang mải trò chuyện với một nhóm phụ huynh khác, và tất cả những gì tôi nhận được từ cô là một cái vẫy tay kèm câu, “Chúng tôi sẽ gọi cho anh sau!”
Vậy là đủ với tôi rồi. Tôi cần phải tới chỗ con trai mình.
Landon và Bowen đã biến mất, nhưng Emmet vẫn nán lại ở khu cầu môn như một mùi khó chịu. Nó vắt bộ giáp bảo hộ lên một bên vai, vẫn để nguyên dưới áo đấu, và mồ hôi nhỏ giọt đều đặn từ gấu áo. “Thằng Bowen bảo vì ba đến đây rồi nên ba sẽ chở con về.” Nó gườm gườm nhìn xuống đôi dép mình.
Chẳng lẽ thường ngày Bowen vẫn chở Emmet sau buổi tập? Tôi biết ngày nào nó cũng “được cho đi nhờ” về. Tôi thường lái xe rời văn phòng muộn hơn để tránh chạm mặt Emmet. Sẽ dễ dàng hơn cho cả hai nếu khi tôi về tới nhà, Emmet đã ở sẵn trong phòng, đóng cửa lại và nhai pizza cuộn hay bánh nhân thịt đông lạnh. “Tất nhiên rồi. Dù sao hai cha con mình cũng về cùng đường.” Tôi cố nặn ra một nụ cười. Trông nó như một cái nhăn nhó.
Emmet cứ nhìn chằm chằm xuống cỏ như thể muốn đất dưới chân nó nứt ra nuốt chửng nó đi.
Hai cha con đi về phía xe tải của tôi trong một sự im lặng mong manh. Emmet quăng bộ giáp bảo hộ, áo đấu và túi xách vào thùng xe, rồi sụp người xuống ghế trước. Nó đã chúi mặt vào điện thoại trước khi thắt dây an toàn. Từ nó tỏa ra từng đợt sóng đừng có nói gì với con.
Tôi lái xe đưa hai cha con về nhà mà không nói một lời.
Nó quăng cái túi và bộ giáp xuống thảm phòng khách, đá đôi dép ra, rồi lê bước vào bếp. Tôi nấn ná lại trong phòng giặt. Sao việc ở chung một phòng với con trai mình lại khó khăn đến vậy?
Mặc kệ. Đến giờ ăn tối rồi, và cả hai cha con đều đang đói. Tôi có thịt gà trong tủ đông – Chúa mới biết đã để bao lâu – và rau củ đóng hộp trong tủ. Tôi có thể làm gì đó cho hai cha con ăn, và ít ra chúng tôi có thể nhai theo hướng về phía nhau. Tôi thừa biết đừng mơ hai cha con sẽ nói chuyện.
“Sữa đâu rồi, ba?”
Như mọi khi, ba là cái gai nhọn, là nọc độc ở cuối câu. Tôi sụm người dựa vào quầy bếp. “Ba mới mua thêm một bình hai ngày trước mà.”
“Vâng, hai ngày.” Emmet gườm gườm.
Hai ngày là quá đủ để Emmet uống cạn ít nhất một bình sữa. “Ba xin lỗi.”
“Con cần nó để pha bột protein đó, ba.” Ba đúng là một kẻ thất bại.
“Ba đã nói ba xin lỗi rồi mà.”
Emmet chỉ khịt mũi, vẫn quay lưng về phía tôi, khi nó vặn mở nắp cái hũ bột protein khổng lồ. Nếu có một tiêu chuẩn tối thiểu nào đó cho việc làm cha, có lẽ việc giữ cho con trai mình không thiếu bột protein sẽ giúp tôi ghi được điểm nào đó. Nó có sáu cái hũ to tướng xếp thành hàng trên kệ bếp cạnh những hộp ngũ cốc của nó.
“Sao ba lại đến buổi tập?”
Tôi lôi thịt gà ra trong lúc cố nghĩ ra câu trả lời ít châm ngòi nhất cho câu hỏi của nó. Nó sẽ ghét tôi hơn nếu tôi nói rằng tôi muốn đến xem nó, hay nếu nó biết tôi đã đăng ký làm tình nguyện viên? Tôi được tạm hoãn chừng ba mươi giây khi nó xay bột protein – với nước lã, tội nghiệp thằng bé bị thiếu thốn – và tôi bắt đầu rã đông mấy ức gà đông lạnh. Nó tu sinh tố ừng ực trực tiếp từ cối xay, trừng mắt nhìn sàn nhà bên trái tôi giữa những ngụm khổng lồ.
“Ba đã đăng ký làm tình nguyện viên,” cuối cùng tôi nói.
Im lặng. Tôi loay hoay với cái thớt. Căn chỉnh các cạnh, đặt nó song song với mặt bàn.
“Để làm gì?”
“Vì ba muốn vậy. Ba muốn được xem các trận đấu của con.” Và ở cái thị trấn này không thể mua nổi vé vào sân vận động ấy đâu, tin ba đi, ba thử rồi. “Ba muốn được góp mặt trong cuộc sống của con—”
Emmet quay phắt đi, thả rầm cái cối xay xuống và đẩy mạnh hũ bột protein vào tường bếp. Nó trút cơn giận vào từng cử động, giật mạnh ngăn kéo và chộp lấy một cái thìa, vồ lấy lọ bơ đậu phộng rồi giật nắp ra. Nó múc một muỗng đầy và trừng trừng nhìn chỗ bơ đậu phộng đó như thể đó là tất cả những gì sai trái trên đời. “Trước giờ ba có bao giờ quan tâm đâu. Sao bây giờ lại quan tâm?”
“Emmet—”
Nó tọng cái thìa bơ vào miệng rồi hầm hầm bỏ ra khỏi bếp.
Giờ thì tôi muốn ném vỡ thứ gì đó. Tôi muốn phang cái thớt vào tường, quẳng hết dao xuống đất. Tôi muốn chạy theo Emmet và nói với nó rằng nó sai rồi, rằng tôi có quan tâm, tôi vẫn luôn quan tâm. Tôi muốn nó nhìn tôi, thật sự nhìn tôi. Tôi muốn nó gọi một tiếng Ba mà không kéo vần với Con ghét ba biết bao.
Nhưng cuối cùng tôi chỉ bám chặt mép bồn rửa và trân trân nhìn mấy miếng ức gà nhũn nhèo trôi bồng bềnh trong nước ấm. “Riley,” tôi thì thào. “Sao em nỡ làm thế với cha con anh chứ?”
---
Emmet, như mọi khi, ở yên trong phòng. Tôi áp chảo thịt gà trong căn bếp lặng ngắt, chỉ có tiếng sụt sùi của tôi hòa theo tiếng xèo xèo lốp bốp. Có gì đó đang tích tụ, có gì đó sắp ập đến. Sự tất yếu của nó áp sát lấy tôi như một đám mây giông ùn ùn nơi chân trời. Cho Emmet ăn. Đến cửa hàng.
Tôi để một đĩa ức gà và đậu que hâm nóng trên bàn, và tôi không nhắn tin cho Emmet cho đến khi đã ra xe tải. Bữa tối ba để trên bàn cho con. Ba sẽ quay về sau một lát.
Ở cửa hàng, tôi lấy thêm một bình sữa, thêm một vỉ trứng. Thêm bơ đậu phộng. Cả vài thanh bánh protein nữa. Tôi vẫn lẳng lặng nhét chúng vào túi xách của Emmet mỗi tuần, tối Chủ nhật lại lôi đám vỏ bao rỗng ra khỏi phòng nó. Bột pha Gatorade. Rẻ hơn mua từng chai pha sẵn. Nó vẫn dùng thứ đó như thể kẹo ngọt vậy. Mà thực ra, nó cũng chẳng khác gì đường.
Mãi đến khi quay lại xe tải tôi mới vỡ òa. Tại sao lại là đêm đó, sau biết bao đêm từ khi đó đến giờ, tôi không biết nữa. Đã có hàng trăm đêm giống đêm nay, khi Emmet giận dữ và ủ rũ và không muốn ở quanh tôi, và ít nhất hàng trăm đêm tôi cũng quên không giữ sẵn sữa trong tủ.
Không phải vì những lời nói, cũng không phải vì bữa tối hỏng bét hay bình sữa thiếu, mà không hiểu sao, tối nay lại là đêm tôi rạn vỡ. Những giọt nước mắt mà tôi chưa từng khóc, suốt một năm ba tuần qua, giờ cay xè nơi mí mắt nhắm nghiền. Tôi nắm chặt vô lăng và gập người ôm lấy bình sữa, nghiến răng gào lên. Trán tôi đập vào lớp da ghế. Tôi muốn lái xe đi biệt. Tôi muốn biến mất. Tôi muốn đổi chỗ cho Riley.
Điện thoại tôi rung lên trong túi quần kaki. Ngốc làm sao, ý nghĩ đầu tiên của tôi là Emmet. Những tin nhắn của hai cha con tôi chỉ đi một chiều: tôi nhắn cho nó, và tôi nhận lại sự im lặng. Bữa tối trên bàn thì đổi lại một cái đĩa trống trong bồn rửa. Dọn phòng đi thì tôi nhận được cả chục cái bát đĩa bẩn. Ba đang giặt đồ thì một giỏ đầy mùi hôi hám xuất hiện trên cầu thang.
Nó đã mấy tháng không nhắn cho tôi lấy một chữ. Tôi phải kéo mãi, kéo mãi xuống mới tìm thấy được một chữ ok.
Vậy nên, không, người nhắn cho tôi chẳng phải con trai tôi. Chắc lại là tin rác thôi. Ba tin nhắn gần nhất tôi nhận được đều là tin quảng cáo. Nhưng dù vậy, tôi vẫn chộp lấy điện thoại như thể đó là sợi dây cứu mạng.
Chào Luke, tôi là Landon đây. Hôm nay chúng ta gặp nhau ở buổi tập.
Tôi bật cười thành tiếng một cái. Như thể tôi có thể quên nổi cuộc gặp với ông bố nhà người ta.
Tôi muốn trao đổi thêm về việc anh tình nguyện. Mọi thứ ổn cả rồi nhé! Mọi thủ tục đều xong. Tôi đã chủ động xếp anh làm cùng tôi tuần này. Nếu anh thích hay ghét việc nào, chúng ta có thể điều chỉnh, nhưng tôi muốn anh được thử qua những gì có thể làm. Tôi cũng nghĩ anh có thể sẽ thoải mái hơn khi có một ông bố khác cùng làm.
Tạm dịch: Tôi biết anh mù tịt về bóng bầu dục, và quẳng anh vào đám các bà mẹ cổ vũ chẳng khác nào để một đứa bé cho bầy sói cả.
Vậy nhé! Tôi sẽ cho làm áo phông cho anh và chuẩn bị sẵn. Chương trình đầu tiên của chúng ta là tối thứ Năm này: bữa tối cho đội. Anh tới trường trước 4:30 được không? Nếu không cũng không sao. Anh đến lúc nào tiện thì đến. Nhắn tôi một tiếng tôi sẽ ra đón anh ở ngoài trung tâm thể thao.
Tôi lóng ngóng nhắn lại, Tôi đến 4:30 được.
Tuyệt! Tôi nghĩ anh sẽ thích buổi ăn tối của đội. Nó nhẹ nhàng thôi, chúng ta chỉ cần cho bọn trẻ ăn. Cũng giống như ở nhà thôi. :)
Tôi lại bật cười. Nghe được đấy.
Có gì thắc mắc thì nhắn tôi nhé. Còn không, hẹn gặp anh thứ Năm.
Được. Gặp anh thứ Năm.
Hôm nay gặp được anh thật vui, Luke.
Tôi nhét điện thoại trở lại túi quần và siết chặt vô lăng. Tựa đầu lên ghế. Hít vào, rồi thở ra.
Nếu tôi không đi ngay, bình sữa của Emmet sẽ hỏng mất.
Những sáng thứ Bảy xem hoạt hình. Những chiếc bánh pancake và những nụ cười cùng những giọng nói giả ngộ nghĩnh. Cùng nhau vẽ ở bàn bếp trong bộ đồ ngủ giống hệt nhau.
Tôi muốn có con trai tôi trở lại, chết tiệt.
Tôi vào số lái xe tải và hướng thẳng về nhà.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co