all x soobin; đồng tiền vạn lịch
1
Ngày xửa ngày xưa, có một người lái buôn.
Hắn tự là Vạn Lịch, danh xưng Anh Khoa, họ Trần. Tên tuổi hắn vang xa từ hạ lưu tới thượng nguồn, từ cửa biển lên mãi tận các bến sông sâu hút nội địa. Hắn buôn to, giàu có vào hạng nhất nhì trong nước, không chỉ vì hàng hóa chất cao như núi mà bởi mối kết giao với đủ hạng người, từ quan viên chốn nha môn tới những tay lưới cự phách vùng ven biển.
Trong tay hắn có ngót trăm chiếc thuyền đủ cỡ, từ thuyền mành, thuyền buồm đến ghe bầu. Mỗi chiếc đều mang dấu riêng, như vỏ gỗ lim, chạm trổ rồng mây, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Bên trong có buồng ăn, buồng nằm, khoang tiếp khách... bày biện lộng lẫy chẳng khác nào phủ đệ trên cạn.
Chỗ ngồi riêng của hắn luôn được vây quanh bởi gấm vóc, mành che theo mùa, mùa nồm thả lụa mỏng, mùa gió bấc kéo rèm nhung. Chén ăn, đũa gắp toàn bằng bạc nạm ngọc, có cái còn khảm cả vảy cá thần từ sông Chảy. Sàn thuyền lúc nào cũng bóng như gương, vì dưới chân luôn có kẻ hầu bò ra lau từng tấc một, không sót mảnh bụi nào. Mỗi lần hắn bước lên thuyền, hương trầm lan tỏa, chiêng báo hiệu, kẻ dưới phải cúi đầu, chẳng ai dám nhìn thẳng.
Người trong vùng kháo nhau:
Của cải mà Hà Bá dành cho ngư dân, bao nhiêu là cá lớn, ngọc trai, vật lạ, rốt cuộc đều rơi vào tay hắn.
Hắn không chỉ buôn sản vật, mà buôn luôn cả vận mệnh người dân ven sông. Đêm đêm, khi trăng lên, tiếng mái chèo từ đoàn thuyền Khoa rẽ nước mà đi như rắn thần trườn sóng.
Gió nổi lên, ai cũng lặng tiếng, không ai dám khấn Hà Bá, bởi người thực sự nắm giữ long mạch vùng sông nước này, chính là hắn.
Ấy vậy mà, kẻ đứng đầu cả một đế chế trên sông nước lại có cái tính nết khiến thiên hạ nghe tên mà chép miệng. Anh Khoa, danh xưng thì như bậc quân tử, mà lòng dạ lại hẹp như miệng chum. Hắn keo kiệt đến mức chẳng ai ở gần mà không lắc đầu ngao ngán. Từ miếng cá nhỏ xíu trong phần cơm của con hầu, tới từng mẻ lưới cá của người làm thuê, hắn đều tính từng li từng tí. Cá cỡ ngón tay cũng không được vứt đi, phải phơi khô, gỡ xương, làm mắm. Thừa ra một đấu gạo, một chén mắm, hắn cũng đem ghi sổ, trừ vào lương bổng tháng sau của gia nhân.
Trên thuyền hắn, ai ăn hơn, uống quá, dùng vật gì chưa xin phép, là lập tức bị ghi tội. Có đứa chỉ vì rót dư một chén rượu tiếp khách mà bị đày lên khoang chở nước mắm suốt ba tháng trời. Còn bọn tay chèo - những kẻ gồng lưng đưa thuyền hắn đi khắp ngả - mỗi ngày chỉ được ăn cháo với muối rang. Ngày nào đánh bắt được cá to thì hắn sai đem bỏ riêng một hòm, khóa lại, niêm phong bằng dấu sáp vàng có khắc tên mình - Vạn Lịch - như thể cá ấy được sinh ra là để dâng cho hắn.
Kẻ làm thuê dẫu có trung thành mấy, cũng không ai mong được hắn thưởng. Có lần, một lão lưới già lặn xuống nước cứu con trai hắn thoát đuối, tưởng đâu được hậu đãi, ai dè chỉ được thưởng đúng một cái đầu cá thu luộc, kèm theo câu "Đầu có nhiều xương, ăn kỹ vào". Lão ta về nhà khóc tức tưởi, gọi hắn là "Người giàu bạc lòng, vàng miệng mà ruột thì đồng khô cỏ cháy".
Kẻ sĩ qua sông, có người từng thốt: "Anh Khoa sống giữa nước, mà lòng dạ còn cạn hơn cái ao mùa hạn."
Dẫu tiếng tăm đồn thổi không tốt lành gì, nhưng Khoa lại cưới được một chàng vợ rất tử tế.
Chàng là Nguyễn Huỳnh Sơn, là con trai út của phú ông Tự Long nức tiếng gần xa ở đất Bắc. Gia đình chàng cũng giàu có không kém, một mình trấn giữ một vùng đất có dáng hình như ngôi sao, người ta gọi là nhà Sao Sáng. Nhà Sao Sáng nổi danh không chỉ nhờ ruộng tốt trâu béo mà còn bởi cái nết ăn ở có trước có sau, sống nghĩa sống tình, giàu mà không kiêu, rộng rãi như nước sông Gâm.
Khi hay tin Sơn phải xuôi Nam, về làm vợ của Khoa, cả vùng xôn xao như nước lũ tràn đồng. Người thì bảo hai nhà môn đăng hộ đối, người thì lắc đầu, thương cho cành ngọc rơi vào tay kẻ hà tiện rồi sau cũng hóa bạc tình.
Không ai hiểu vì sao Sơn lại chịu lấy Khoa. Mà chuyện cưới xin của họ cũng thành một giai thoại mà ba miền Bắc Trung Nam, từ người già đến trẻ nhỏ, từ kẻ nghèo đến lắm của, đi đâu người ta cũng nghe, cũng biết.
Nghe đâu phú ông Tự Long ban đầu không ưng ý gì mối hôn sự này, nhất là khi tiếng tăm Trần Anh Khoa lan tới tận đất Bắc thì toàn những điều chẳng đẹp đẽ gì.
Nhưng chính Khoa là người hết gửi thư lại sai người chuyển ý suốt một năm trời, rồi cũng ngược thuyền chèo từ Nam ra Bắc để xin ông cho đôi lứa nên duyên, hắn còn đưa tự đưa ra tiền thách cưới với con số trên trời, chưa kể đến số sính lễ. Không chỉ vậy, ngày thuyền Vạn Lịch cập bến vùng Sao Sáng, hắn đã đứng giữa sân nhà họ Nguyễn mà cúi đầu lạy ba lạy, nói trước bàn dân thiên hạ rằng:
"Tôi không biết nói lời hoa mỹ, cũng không phải người rộng lượng ai cũng mến. Nhưng thưa ông, cả đời tôi chỉ có một lần muốn làm đúng một chuyện. Đó là cưới cậu Sơn về làm bạn đời."
Sau đó dĩ nhiên là bị cậu cả Việt Cường đuổi đi. Vì vốn cậu cả đã không ưa gì Khoa, hắn còn dám vác mặt đến đây mà hỏi cưới em trai ngọc ngà của cậu. Khác với ông Tự Long vẫn giữ lễ nghĩa mặt mũi cho Khoa mà ra vẻ cân nhắc, cậu cả lại nói thẳng lời từ chối, và cảnh cáo rằng nếu Khoa còn bén mảng đến cổng nhà họ Nguyễn một lần nữa thì đừng trách Nguyễn Việt Cường này làm thuyền hắn đắm dưới đáy sông.
Ấy vậy mà cái kẻ nổi danh keo kiệt, bủn xỉn, vừa bị bẽ mặt đó lại là kẻ thật lòng thật dạ, làm đủ sáu lễ để nghênh rước cậu út nhà anh về.
Lễ Nạp Thái là vào một buổi sáng khi sương vẫn còn đọng trên tàu lá chuối, ba chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ ghé bến nhà họ Nguyễn. Không trống, không chiêng, chỉ có người của nhà họ Trần bước lên, tay đôi chim nhạn, lễ bạc và một bức thư tay của chính Khoa.
Trong thư, Khoa viết:
"Kính gửi ông Tự Long,
Nước chảy xuôi dòng, tình người khó trái. Nay tôi ngỏ ý xin được cùng cậu Huỳnh Sơn nên duyên. Nếu ông không ưng, tôi vẫn xin giữ lễ kính trọng. Nếu ông thuận, tôi nguyện làm rể biết điều."
Phú ông ngồi nghe đọc thư, khẽ vuốt râu, không nói gì.
Lễ Vấn Danh diễn ra vào một ngày gió nhè nhẹ, sáng trời trong veo.
Người nhà họ Trần có ba người, mang đầy đủ các lễ vật chè, rượu, trầu, cau. Hai bên nói không nhiều, cũng là bên Nam bên Bắc, kẻ rộng lòng người giữ kẽ, kẻ kéo lôi người tĩnh lặng. Sau cùng, nhà họ Nguyễn trao cho ba người phương Nam một phong giấy điều, niêm dấu gia tộc.
Ai cũng biết, bên trong có ghi rõ tên họ, ngày sinh tháng đẻ của chàng Huỳnh Sơn. Thế nghĩa là đất Bắc đã ưng lòng sông Nam, và muốn tiến tới những lễ tiếp theo để đôi lứa về chung một nhà.
Nhưng rõ nhất phải là sau khi đoàn phương Nam gửi cho nhà Sao Sáng một bức thư tay từ Vạn Lịch, không rõ trong đó viết gì, mà cậu cả đọc xong thì chê chữ hắn như gà bới, cậu út chỉ cười, phú ông lại chép miệng, nói với ba người họ Trần:
"Bảo hắn giữ gió cho vừa, kẻo nghiêng thuyền đậu giữa lúc chờ duyên."
Thế là nhà họ Trần bắt tay chuẩn bị lễ Nạp Cát, đúng theo phong tục lễ nghi.
Ngày được chọn là mùng tám tháng Tám, giờ Tỵ - giờ hoàng đạo, tiết trời trong, nước sông lặng như tờ. Đoàn lễ đi sớm từ tinh mơ, gồm sáu người, hai bô lão, hai phụ lễ, một người khiêng tráp và một người đại diện họ nhà trai.
Trước đó có nghe bên nhà họ Trần hỏi nhà họ Nguyễn về lễ vật của lễ Nạp Cát, phú ông chỉ nêu ra những lễ căn bản cần có như buồng cau to ba bốn trăm quả, dăm chai rượu nếp, một mâm xôi giấc, chứ không đòi hỏi gì nhiều. Ấy vậy mà đến ngày, mâm lễ của nhà họ Trần khiến ai nấy cũng hết hồn, kể cả phú ông cũng sửng sốt.
Chín mâm lễ lớn lần lượt được đặt ngay ngắn thành hai hàng trước sân nhà họ Nguyễn. Mỗi mâm đều được phủ khăn điều, viền ren chỉ vàng, trang trí bằng cánh sen non và lá trầu tươi, gài thêm nhành phong lan - loài hoa chàng Huỳnh Sơn thích nhất.
Buồng cau nhà họ Trần chọn là loại cau tơ hái từ vườn riêng, chừng bốn trăm năm mươi quả, xanh bóng, đều đặn, buộc thành buồng to bằng vòng tay người lớn ôm. Buồng được treo trên khung gỗ mít, quấn lụa đỏ, cài hoa giấy hình chim phượng.
Rượu nếp thì không phải vài chai, mà là ba vò gốm lớn, mỗi vò cao ngang thắt lưng người trưởng lễ, niêm kín bằng sáp ong và lá chuối khô, dán giấy hồng điều viết bút lông hai chữ "Hỷ Sự". Bên cạnh đặt sẵn khay đồng nhỏ, hai chén men trắng, rót sẵn như chờ cụng chén kết giao.
Xôi gấc không phải một mâm thường, mà là hai mâm tròn, đồ bằng nếp cái hoa vàng thượng hạng, gấc đỏ au, ở giữa mỗi mâm có khắc chữ "Song Hỷ" bằng đậu xanh và hạt sen xếp thành hình cánh bướm. Gạo được chọn trước một tháng, gấc thì ngâm rượu ba ngày cho dậy màu.
Ngoài ba thứ chính ấy, nhà họ Trần còn chuẩn bị thêm một con lợn sữa quay da vàng mật ong, bụng rỗng để dễ cúng, miệng ngậm táo đỏ, đặt trên mẹt lót lá chuối non, xung quanh điểm xôi, trầu, gừng. Một mâm trà bánh, gồm trà sen ướp bảy lớp, bánh phu thê, bánh khảo, bánh cốm làng Vòng và một đĩa bánh in chữ Hỷ bằng bột nếp và mật mía, mỗi loại bày thành cặp. Một mâm vải vóc, gấm the, lụa điều, nhung tím, mỗi thứ một xấp, gói giấy bản, buộc dây chỉ đỏ.
Dân trong vùng Sao Sáng kéo ra xem đông nghịt. Người ta nhìn mà xuýt xoa:
"Mới hỏi lễ đã thế thì đến lúc cưới chắc phải rước bằng rồng!"
Mà nghe đâu dưới miền xuôi, Trần Anh Khoa đã tức khắc cho người treo phướn đỏ khắp các bến lớn ven sông:
"Khỉ giữ rừng, chó giữ nhà, Thân Tuất nên nghĩa, thuận hòa trăm năm."
Nghe rất thô, nhưng hắn lại cười khoái chí lắm, còn sai người vẽ luôn tranh cuộn có khỉ ôm hoa, chó nằm gác cửa, treo giữa gian nhà để cho có vía tốt.
Đến lễ Nạp Trưng thì khỏi cần phải nói.
Trên dưới ba chiếc thuyền lớn cập bến, thuyền nào thuyền nấy đều treo vải đỏ. Đoàn người bước từ cửa sông đến trước cổng nhà họ Nguyễn, áo the, khăn đóng, tay ai nấy đều khiêng vác mâm lễ cao hơn cả đầu, người sau nối người trước, dài suốt từ bến lên tới sân.
Họ gióng trống, khua chiêng, rền vang khắp cả đất Bắc.
Ngay cả nhà họ Nguyễn, vốn nổi tiếng danh giá khắp vùng, cũng có phen lúng túng. Họ đón đoàn, rối rít bưng lễ, tay run vì nặng thật, chứ không phải vì khách sáo. Cả sân nhà như hóa hội, trong ngoài nhộn nhịp, đèn đỏ trướng hồng, khói trầm lẩn khuất như sương. Anh Khoa làm đến cái mức mà cậu cả Việt Cường cũng phải bật cười, mặt rạng rỡ hẳn, còn chàng Huỳnh Sơn phải xấu hổ trốn miết trong nhà. Người hầu của cậu đi vào còn bảo:
"Bẩm cậu, hôm nay cả kinh thành cũng biết chuyện cậu đi lấy chồng rồi."
Lễ Thỉnh Kỳ, lý ra thì bên nào xin cưới cũng sẽ là bên định ngày. Nhưng Khoa lại không, hắn để phú ông chọn ngày, bất kể ngày nào nhà họ Nguyễn chọn, nhà họ Trần đều sẽ theo hết.
Cuối cùng là lễ Thân Nghinh, nghĩa là lễ cưới.
Ngày cưới được chọn là mười sáu tháng Tám, giờ Thìn - giờ hoàng đạo, tiết thu trong xanh, nắng trải vàng trên mặt sông như dát mật.
Không ai bảo ai, người lớn nhỏ đã rủ nhau ra đứng dọc hai bên đường lớn dẫn từ bến sông vào tận cổng nhà họ Nguyễn. Họ nghe đâu nhà họ Trần sẽ rước dâu bằng đoàn thuyền lớn, mà không phải một chiếc, cũng không phải ba chiếc như hôm Nạp Trưng, mà là mười hai chiếc thuyền đỏ, treo cờ hỷ, có lọng, có trống, có hương.
Trời còn chưa sáng hẳn, đoàn thuyền đã giăng hàng ngang sông, buồm vải lụa phấp phới, đèn lồng sáng như sao rơi mặt nước. Cờ xí đỏ thắm, thêu chỉ vàng, bay phần phật trong gió sớm. Trống nghi vệ gióng từng hồi dài, chiêng đồng rền theo sau, ngân đến tận mé rừng phía xa.
Đoàn thuyền rước đi trên lòng sông lấp lánh ánh nắng.
Người ta vẫn nhớ mãi cái dáng lóng ngóng của Khoa khi đỡ chàng Huỳnh Sơn bước xuống thuyền. Hai tay hắn run tới mức suýt làm rơi cả mâm trầu, miệng cứ ấp úng:
"Đ-Đi cẩn thận... coi chừng... nước nó trơn..."
Và thế là đôi bên về chung một nhà. Chàng Huỳnh Sơn giã từ đất mẹ thân yêu, xuôi dòng để về Nam chưởng quản cả một gia tài đồ sộ của Vạn Lịch.
...
"Đồ ngu! Đồ ăn hại!"
Tiếng quát tháo ầm ầm như sóng cả vang lên ngay giữa bến sông. Nhưng người dân xung quanh dường như đã lấy làm quen, đứng lại xem chứ chẳng có tâm trạng gì. Bởi có gì mà lạ đâu, lại cái cảnh Vạn Lịch mắng nhiếc kẻ làm thuê thôi mà.
Vạn Lịch đứng trên cầu ván gỗ, áo gấm chẽn vạt sau. Gió sông thổi phần phật vạt áo dài gấm. Mặt hắn đỏ gay, trán nhăn chằng chịt, râu ria có chút tí ở cằm cũng dựng đứng. Phía dưới, một gã phu thuyền lom khom quỳ gối, mặt mũi bầm tím vì vừa bị gậy gõ trúng. Bên cạnh là hai sọt cá nát bấy vì chuyển tay chậm, để dập mẻ hàng vừa vớt được.
"Mắt mày mù hay não mày để ở nhà? Một con cá chép trầy vảy là mất hai quan bạc. Mười con là đủ trả lương cho mày ba tháng!"
Gã nọ lắp bắp xin tha, bảo do sóng lớn, trượt tay. Khoa không cần nghe. Giọng hắn vút lên như roi:
"Sóng lớn? Sóng lớn sao mấy cái thuyền khác hàng vẫn nguyên? Hay sóng chỉ vỗ mỗi cái bản mặt mày?! Cá đã dập đến thế này thì bán có chó nó mua! Tao nuôi mày để mày đổ cả chục quan bạc xuống sông à?!"
Vạn Lịch quát, cả bến như rúng lên một nhịp. Sau cùng, hắn tức điên lên đạp mấy cái huỳnh huỵch vào gã ta, khiến tên đàn ông đáng thương nằm co ro trên cầu ván, rồi hắn giậm chân đùng đùng bỏ lên thuyền.
Ngày thường, Vạn Lịch và đoàn thuyền sẽ rời đi để làm buôn, ít khi neo đậu ở bến. Hôm nay gặp đúng ngày hắn về thì lại xảy ra chuyện này, thế là con hầu hay thằng làm thuê nào cũng phải hứng chịu cơn thịnh nộ của chủ.
Tính tình Vạn Lịch là thế, đã hà tiện còn hay có thói quát mắng, thêm cả đống của cải chất đầy trên thuyền và cái quyền nắm trọn vùng sông nước, hắn muốn xử ai cũng chẳng ai dám nói gì. Dân chợ quen mặt hắn từ xa, nghe tiếng giày gõ trên ván gỗ là tự động nhấc vai nép vào mép lối.
Mà kể ra thì người ta cứ tưởng sau khi hắn cưới vợ, hắn sẽ lành tính hơn. Đúng là có lành tính. Lành tính với mỗi mình chàng Huỳnh Sơn. Người ta còn đùa rằng từ ngày rước chàng Huỳnh Sơn về phủ, thiên hạ có hai Vạn Lịch, một Vạn Lịch quát trời long đất lở ngoài bến sông, một Vạn Lịch ở trong nhà thì hiền tới mức tưởng bị bỏ bùa.
Theo lời mấy đứa hầu thì hắn ở nhà rất hiền, hắn chiều chàng Huỳnh Sơn đến cái mức tưởng là cung phụng tiên trên trời, chàng muốn gì hắn cũng cho, chàng cần gì hắn cũng có, chàng hỏi là hắn đáp, chàng nói là hắn nghe. Kể từ khi đón chàng về làm vợ, không ai thấy hắn lớn tiếng được nửa câu với chàng, ánh mắt luôn chực cười, luôn ăn nói nhỏ nhẹ, cười đùa với chàng, luôn sẵn sàng bước lùi một bước, dù trong nhà hắn chưa từng nhường ai điều gì.
Hắn giấu mọi điều phong ba bão táp ngoài kia, để dọn chỗ cho đóa phong lan hắn đã chẳng ngại sông sâu nước cả để rước về nhà.
Vậy nên dễ thấy rằng mới nãy thôi, Vạn Lịch còn quát tháo ngoài bến sông, dẫm đùng đùng trên cầu ván, mà vừa bước lên mũi thuyền, hắn đã nhỏ nhẹ lại ngay, mặt mày cũng giãn hẳn.
Khoa đi vào bên trong, qua hành lang lát gỗ gụ vẫn còn thơm mùi tinh dầu, vạt áo dài quệt khẽ lên tay vịn. Trong khoang chính, rèm lụa trắng được buộc gọn hai bên, gió sông lùa vào khiến bóng cây trúc tàu ngoài cửa sổ rung nhè nhẹ, bóng lá in lên vách như mực tàu loang trên lụa.
Chàng Huỳnh Sơn đang ngồi ở bộ phản thấp cạnh cửa sổ, tay cầm cuốn sách, lưng dựa vào gối gấm. Mái tóc đã búi gọn, áo mặc trong bằng lụa tơ tằm. Ánh nắng xiên từ mặt sông hắt lên, khiến da chàng như mỏng đi, gần như trong suốt.
Khoa không nói gì. Chỉ bước chậm tới, tháo khăn đội đầu, treo vào móc gỗ bên cạnh. Hắn rót một chén trà, đặt xuống bên cạnh chàng Huỳnh Sơn, người hầu vội kéo ghế ngồi cho hắn. Hắn ngồi xuống cạnh phản, như thể chàng Sơn là gốc cây, còn hắn là bóng râm.
Sơn chỉ đưa tay, đẩy chén trà về lại phía hắn, rồi lại lật tiếp trang sách. Chàng nói khẽ:
"Thấy rằng người cần uống chén này hơn là ông Vạn Lịch mới phải."
Khoa cũng không chối từ, cầm chén trà uống cạn một hơi. Hắn vốn là con buôn, nào biết trà đạo, lễ nghĩa, văn nho cái gì. Đâu giống chàng Huỳnh Sơn, uống trà là phải trà Thái Nguyên còn tươi, loại hái sớm, ướp cẩn, để trong hũ sành bịt kín bằng giấy bản. Trước khi pha, phải hong ấm, tráng chén, nấu nước sôi già mà không được để sôi quá. Khi chàng uống là sẽ nhâm nhi, thưởng thức cái vị tươi, vị thanh của trà, chứ chẳng ực một lần hết chén như hắn.
Uống xong chén trà thì Khoa cũng coi như hạ nhiệt, vì hắn biết đây là ẩn ý của chàng Huỳnh Sơn, muốn nhắc hắn đừng có để cái giận làm hỏng đầu óc mình.
"Đau..."
Sơn đang đọc sách bỗng thốt lên một tiếng. Chân rụt lại. Hóa ra là đứa hầu bóp chân cho chàng bất cẩn, mạnh tay chệch khớp, khiến chàng đau đến nín thở. Chàng nhíu hàng chân mày, nhưng không nói nặng lời. Chỉ khẽ đặt tay lên gối, ngồi dậy, nghiêng đầu một chút.
"Đồ ăn hại! Có mỗi việc bóp chân cho cậu mà mày cũng làm không xong nữa à?!"
Khoa lập tức nạt nộ đứa hầu, giọng rít lên, sắc như dao mỏng. Hắn chưa kịp nguôi cơn giận ngoài bến, giờ lại thấy chàng Huỳnh Sơn đau, lòng nóng bừng như lửa táp. Đứa hầu lập tức đập đầu xuống sàn, run rẩy, miệng xin lỗi không ngừng.
"Cút ra ngoài!" Khoa bước đến, đuổi cổ nó ra khỏi khoang. Đứa hầu vội vã chạy đi trước khi bị xử. Cửa kéo đóng lại sau lưng nó, để lại chỉ còn hai người trong khoang.
Chàng Huỳnh Sơn vẫn ngồi yên tại chỗ, sách đã được đặt xuống, một tay tựa lên gối, tay còn lại cầm quạt, đầu nghiêng nghiêng tựa lên bệ cửa sổ. Khoa ngồi xuống cuối phản, cầm lấy bàn chân nhỏ vừa bị bóp mạnh. Tay hắn vốn thô, móng cắt cục mịch, da có chỗ trầy do kéo neo, thế mà lúc xoa lên cổ chân trắng như sứ ấy, lại nhẹ đến mức như sợ làm bầm da.
Chàng để yên, ngoan ngoãn tựa đầu vào gối, mí mắt khép hờ, hàng lông mi dài cong vút hắt bóng xuống gò má. Dáng nằm ấy, ai nhìn cũng phải mềm lòng. Thỉnh thoảng, chàng khẽ nghiêng mặt, môi cong lên như chờ một câu dỗ ngon, nhưng lại không đòi hỏi. Cái kiểu nhõng nhẹo mà chẳng nói ra lời, càng khiến người ta muốn chiều.
"Cứ thế cũng sợ điếng người, e rằng cả thuyền này rồi sẽ chỉ còn tiếng anh mà chẳng còn người nào chịu ở lại." Giọng chàng như chính chén trà, thanh, mát, dịu.
Khoa vẫn đăm đăm vào bàn chân trắng nõn trong tay mình. "Bọn nó cứ chọc anh điên lên ấy chứ."
"Sau này giận thì đi tắm cho mát người đi, đừng có đứng giữa bến sông mà hét, làm người ta giật mình."
"Thế là mỗi lần bọn nó làm anh bực là anh sẽ kéo cậu Sơn đi tắm chung, đúng không?"
Chàng Huỳnh Sơn lườm hắn, rụt chân lại.
"Vô liêm sỉ."
"Người Nam còn biết nói mấy câu vô liêm sỉ hơn như này đó, cậu Sơn có muốn nghe không?"
"... Ông Vạn Lịch đi ra chơi với cá đi... Này, anh làm gì thế?... Này, trời còn đang sáng đấy nhé!"
"Em nói gì thế, ở trong áo em thì anh thấy gì sáng hay tối."
...
Vạn Lịch không chỉ keo kiệt, hà tiện, mà còn cái tính đa nghi - thứ độc tính thường thấy ở những kẻ giàu lên nhanh, tự dựng cơ nghiệp mà chẳng tin được ai ngoài chính mình.
Hắn không tin người làm. Cơm bưng nước rót phải kiểm lại hai lần. Tính sổ cuối ngày, đích thân hắn ngồi đối chứng từng món, từng xu. Có những lúc chỉ một cọng hành bị cắt thừa, hắn cũng kêu là phí. Người làm quanh thuyền đứa nào cũng biết, nếu muốn yên thân thì phải tính cả từng giọt nước mắm.
Hắn càng không tin bạn làm ăn. Thư từ từ thuyền khác gửi đến, hắn không đọc liền. Đợi đêm, thắp đèn, đóng cửa khoang, hắn mới trải từng tờ ra, cẩn thận như người ta đọc di chúc. Thậm chí, có những bức thư viết tay của người thân tín lâu năm, hắn cũng đưa lên soi dưới đèn dầu xem có nét nào lạ hay không.
Với Vạn Lịch, cái gì cũng ngờ, ai cũng nghĩ xấu. Với tiền, hắn đã dè chừng từng đồng bạc lẻ. Với người, hắn lại càng nhìn đâu cũng thấy dấu hiệu phản bội, từ trong ánh mắt cho tới cử chỉ nhỏ nhất.
Và từ ngày cưới chàng Huỳnh Sơn, cái tính ấy lại hóa thành một thứ ghen tuông lặng lẽ nhưng gắt như muối xát vào sợi gân rách. Hắn ghen với người đối diện, ghen với người xưa, ghen với người chưa từng gặp. Hắn ghen với cả cái gió đầu xuân khẽ lùa vào cổ áo chàng, ghen với ánh nắng rọi lên mái tóc, ghen với tiếng gọi "cậu Sơn" phát ra từ miệng kẻ khác.
Chàng Huỳnh Sơn bước ra ngoài khoang, là hắn nhìn theo từ bóng in trên sàn. Chàng Huỳnh Sơn cười với ai, dù chỉ là cái mỉm môi lịch sự, là hắn đã nhớ mặt người đó. Chàng Huỳnh Sơn Sơn cúi xuống giúp người hầu nhặt chén trà đổ, là hắn sẽ thẩm tra xem trước đó hai người có đi qua hành lang với nhau không. Mỗi lá thư gửi cho chàng, hắn đều xem trước. Mỗi người đến tìm chàng, hắn hỏi đích danh, thân thích mấy đời. Chàng muốn về quê, hắn phái ba thuyền đi trước dò đường. Có lần, chàng Huỳnh Sơn chỉ khen một giống hoa mọc ở bờ bên kia sông, hôm sau thức dậy, cả khoang thuyền đã tràn ngập sắc hoa đó vì Khoa sợ chàng sẽ quay đầu ngắm cảnh phía bên kia một lần nữa.
Ngay cả khi chàng Huỳnh Sơn ngủ, hắn cũng không rời xa quá ba gian phòng. Hắn thức dậy sớm, ngồi ngoài hiên nghe tiếng guốc ai gõ trên ván. Mỗi đêm, hắn đích thân đi khóa các ngạch cửa vì sợ có thằng nào lẻn nào dan díu với vợ hắn.
Chàng Huỳnh Sơn biết hết những tính tình xấu nết đó của Vạn Lịch. Chàng không ghét hắn, cũng không trách hắn. Bởi vì rõ ràng là hắn vẫn luôn yêu thương chàng, vẫn luôn chiều chuộng chàng, vẫn luôn cho chàng cái niềm hạnh phúc không thua kém gì những ngày chàng còn ở với cha và anh. Vả lại, hắn chưa từng keo kiệt gì số vàng bạc châu báu của mình với chàng, chàng được ăn ngon mặc sướng, vải vóc lụa là đủ đầy.
Thế nên mới nói, chàng Huỳnh Sơn sống trong cái sướng mà cũng không hẳn là sướng, chịu đựng cái khổ mà cũng không hẳn là khổ.
...
Một hôm, thuyền của Vạn Lịch đậu lại ở một bãi vắng, nơi bờ lau um tùm, chỉ có tiếng chim nước và tiếng sóng nhỏ rì rào. Cả đoàn thuyền dừng nghỉ để tránh nước lớn, người trên bờ, kẻ dưới khoang, ai nấy cũng tranh thủ chợp mắt, chỉ còn tiếng gió thổi lật nhẹ những tấm bạt phơi hàng.
Huỳnh Sơn ngồi trước mũi thuyền, lưng dựa vào tay vịn gỗ mun, một tay cầm quạt giấy phe phẩy, mắt nhìn lơ đãng ra sông. Gió thổi khiến tà áo lụa mỏng lay nhẹ, mái tóc ngắn của chàng rối một chút nhưng lại tăng thêm vẻ yêu kiều lười biếng như mèo nằm nắng.
Bỗng dưới bãi cát lội lên một người đánh giậm. Gã đàn ông dong dỏng cao, mình đóng khố, tóc rối, vai mang lưới, chân tay lấm láp bùn đất, bước lại gần mép nước.
Gã ngẩng đầu nhìn về phía thuyền, nói với giọng quê mùa nhưng không đến nỗi khúm núm:
"Người trên thuyền có thể cho tôi xin miếng trầu chấm không?"
Huỳnh Sơn hơi nghiêng đầu nhìn xuống. Dáng gã dãi dầu, chắc sống nhờ sông nước, mà mặt mũi lại thật thà. Chàng khẽ nhíu mày rồi dịu giọng hỏi:
"Đánh bắt cả buổi mà chẳng được gì sao?"
Gã lắc đầu cười: "Hôm nay nước kỳ quá, tôm cá trốn đi đâu hết rồi."
Chàng thở ra, vừa tiếc vừa thương, rồi không nói gì thêm. Đứng dậy, đi vào trong khoang một lát, trở ra với chiếc cơi trầu bằng vàng, nắp nạm xà cừ, đựng mấy miếng trầu têm cánh phượng đã têm sẵn.
Chàng nghiêng người đưa cơi trầu cho gã, nụ cười hiền hậu, phong thái ung dung.
"Ăn cho đỡ mỏi." Chàng nói.
Người đánh giậm vừa cúi đầu cảm ơn thì trong khoang sau vang lên tiếng động mạnh. Một bóng người bật dậy. Vạn Lịch thức giấc mà không thấy vợ đâu. Mắt còn chưa mở hẳn, hắn đã bước xầm xầm ra boong thuyền, áo ngủ buộc vội ngang hông, tóc xõa rối như tổ quạ. Hắn không nói không rằng, nhảy phắt tới bên mũi thuyền, giật chiếc cơi trầu trong tay Huỳnh Sơn, ném thẳng xuống sông.
Người đánh giậm hoảng quá lùi ra sau, suýt trượt chân ngã khỏi bờ. Vạn Lịch chưa hả giận, chỉ thẳng vào mặt y, quát:
"Cút! Mày dám giở trò gì với vợ tao? Mày tưởng mày ngồi ngang hàng được với tao chắc?!"
Huỳnh Sơn ngồi im, chẳng nói câu nào. Chàng chỉ đưa mắt nhìn cái cơi trầu bị ném xuống nước, ánh nắng chiều phản chiếu lên mặt sông khiến lòng hơi chùng xuống.
Vạn Lịch quay sang Huỳnh Sơn, mặt còn hằm hằm nhưng tay đã giơ ra đỡ lấy khuỷu tay chàng như thói quen. Hắn thở phì một tiếng, hậm hực lẩm bẩm gì đó, rồi ôm ngang eo chàng, kéo vào khoang trong như sợ nếu chần chừ một khắc thôi, ai đó sẽ cướp mất.
Bên ngoài, sóng nước vẫn lặng. Chỉ có chiếc lá trầu trôi dập dềnh giữa dòng, rồi tan ra như chưa từng hiện diện.
...
Đêm đó, sau khi sóng gió ngoài mũi thuyền đã yên, trời bắt đầu trở gió. Mây tụ dần về cuối chân trời, ánh trăng như bị một lớp mỏng xám phủ lên. Trong khoang chính, ngọn đèn dầu lập lòe, in bóng hai người chồng chéo lên vách gỗ.
Huỳnh Sơn ngồi quay lưng lại, tay cầm cuốn sách nhưng mắt không nhìn chữ nào. Môi mím lại, cằm hơi hất lên, sống lưng thẳng tắp. Dáng ngồi của chàng đẹp đến lạnh lùng. Cái quạt giấy thường ngày chàng hay phe phẩy, giờ bị gập lại, đặt thẳng xuống phản như một lời tuyên bố.
Vạn Lịch ngồi đối diện, cởi trần, tóc vẫn còn ẩm vì mồ hôi chưa kịp lau. Hắn nhìn chàng, mắt cáu bẳn, nhưng tay lại vò lấy vạt áo mình như cố kìm lại một cơn sốt nóng bên trong. Cuối cùng, không chịu nổi nữa, hắn bật lên:
"Em giận cái gì? Hả? Nó là cái giống gì mà em phải rót trầu hỏi han? Tôi thấy mà điên cả người!"
Chàng vẫn không quay lại, chỉ nhẹ giọng:
"Lúc đó tôi không nghĩ nhiều, chỉ thấy người ta khổ, xin trầu thì cho. Mấy miếng trầu thôi, đâu có đánh đổi cả thanh danh nhà họ Trần? Hay... Anh tưởng tôi tư tình với nó à?"
"Đúng!" Vạn Lịch không kìm được, gào lên. "Tôi thấy cái cách em nhìn nó! Cái cách em nói nhẹ nhàng với nó! Cái cách em đưa tay ra cho nó cúi đầu nhận lấy! Tôi đã muốn móc mắt nó ra rồi!"
Vạn Lịch đứng bật dậy, bước tới hai bước, giọng khàn hơn:
"Em là của tôi! Tôi cưới em, nuôi em, bảo vệ em! Em phải ở trong tay tôi, không được rơi vào mắt đứa nào khác!"
"Anh nghĩ tôi là cái gì? Con chim trong lầu son của anh à?"
Vạn Lịch sững sờ, rồi run lên, mặt đỏ bừng:
"Chỉ vì một thằng đánh giậm mà em đối xử với tôi như thế hả?! Rốt cuộc nó cho em cái gì rồi?!
Tiếng gằn của Vạn Lịch vang lên trong khoang thuyền như sấm sét giữa trời quang. Hắn đứng đó, thở hổn hển, hai tay nắm chặt, mắt đỏ hoe như người sắp phát điên. Gân trên cổ nổi lên, cả người căng cứng vì tức giận không biết đổ vào đâu.
"Nó cho em được cái gì? Một thằng nghèo nàn dơ bẩn như nó thì cho được em cái gì trừ mấy con tôm tép bé xíu hả?!"
Hắn tiến lên một bước, chỉ tay về phía cửa vừa đóng sập lại:
"Còn tôi? Tôi cho em thuyền lớn, áo lụa, chén ngọc, vàng đúc từng cơi trầu! Cái sàn em bước lên cũng là gỗ quý tôi lót bằng tay mình. Thế mà em dám nhìn tôi như thể tôi là kẻ tội lỗi vì đã không để em rót trầu cho một thằng không tên?!"
Hắn đập mạnh tay xuống bàn, đồ trà văng xuống, bể tan tành.
"Em nói đi, có phải em chán tôi rồi không? Có phải em thấy tôi thô lỗ, nhàm chán, không dịu dàng như mấy thằng học trò trôi sông lạc chợ em hay liếc nhìn?!"
Giọng hắn bỗng nghẹn lại:
"Hay là em thấy tôi không xứng với em nữa rồi? Một thằng làm buôn vẫn không đáng mặt làm chồng của cậu út nhà Sao Sáng nức tiếng khắp kinh thành phải không? Em chán cảnh sống trên thuyền, muốn tìm một bến khác? Rốt cuộc thì cái thuyền rách này vẫn không đáng để cho đóa phong lan mà cả Hoàng thượng cũng đem lòng yêu mến phải vùi chôn mãi mãi phải không? Nói đi. Em nói đi..."
"Nếu phải nói nó đã cho tôi cái gì, thì đó là nó nhìn tôi như nhìn một con người."
Vạn Lịch sững lại, như bị ai tát thẳng vào mặt.
Cái kiểu điềm tĩnh lúc này của Huỳnh Sơn khiến người ta sợ hơn cả gào thét. Gương mặt chàng vẫn đẹp như cũ, nhưng ánh mắt lại khác. Chàng không còn dịu dàng với Vạn Lịch, không còn chiều chuộng với Vạn Lịch, mà như đang lật một trang sách cũ kỹ, nơi từng chữ, từng nét đều là những điều mà Vạn Lịch chưa bao giờ dám nhìn thẳng.
Hắn chết lặng.
"Anh cứ canh tôi, giữ tôi như giữ một món đồ... Rốt cuộc thì trong cái căn nhà này, tôi chẳng thấy mình được là con người đúng nghĩa. Thậm chí những người nghèo khổ, nhơ nhuốc ngoài kia còn sống đáng hơn cả tôi."
"Em nói cái gì vậy?! Tôi xử tệ với em bao giờ?" Vạn Lịch giận run người, "Đừng có nói như thể tôi chưa từng vì em mà làm tất cả! Em muốn gì mà tôi không cho? Em cần gì mà tôi không lấy? Em nói gì mà tôi nghe? Em làm gì mà tôi không thuận? Khắp cả nước Nam này đều biết Trần Anh Khoa chiều chuộng Nguyễn Huỳnh Sơn đến mức nào! Tôi đã yêu em đến thế, Sơn à!"
"Anh chiều tôi, nhưng không tôn trọng tôi." Chàng rít lên, môi mím chặt, mắt long lanh như sắp vỡ. "Anh yêu tôi, nhưng lại yêu bằng cách cột chặt từng bước tôi đi. Từng người tôi gặp, từng lời tôi nói, từng bức thư tôi nhận, anh cũng phải kiểm soát hết. Đó không phải là tình yêu. Khoa à. Đó là giam cầm!"
Cơn gió ngoài sông thổi vào, làm bức rèm lụa bên khung cửa khẽ bay. Chàng đứng dưới ánh đèn mờ, như một bức họa sống động của buổi chia ly.
"Rằng bao nhiêu năm qua," Chàng nói tiếp, giọng chàng lặng mà xót xa, "Anh đã trả cho cha tôi ba mươi hòm lụa điều, mười cặp ngà voi, năm đấu trầm hương, cùng với mười ba rương vàng nén, chở trên bốn chiếc thuyền riêng, chỉ để đón tôi về rồi nhốt trong cái lầu son gác tía mà anh tự gọi là tình yêu."
"Ít nhất thì cái tình yêu đó còn bằng vàng!" Vạn Lịch gào lên, giọng vỡ ra, không còn giữ được chút gì gọi là lý trí. Còn cái thằng khố rách áo ôm mà đêm nay em đã vì nó mà lớn tiếng với tôi, nó có làm cả đời cũng không có được một cắc! Thế thì nó lấy gì yêu em hả? Thế thì nó lấy gì để rước tiên từ trời vào nhà như năm đó thằng Trần Anh Khoa này đã làm hả? Em muốn vì nó đúng không? Bây giờ tôi cho người đi tìm nó, tôi sẽ móc mắt nó, lột da nó, rồi moi tim nó ra! Xem xem nó có yêu em nhiều bằng tôi không!"
Hắn bước sầm sập tới trước mặt chàng, mắt đỏ như máu, ngón tay chỉ vào ngực mình.
Sóng vỗ vào mạn thuyền, đôi chim nhạn bị kinh động, lìa xa.
"Tôi đã nói đến thế rồi, mà anh vẫn không hiểu sao..."
Huỳnh Sơn đứng thẳng người, không lùi cũng không né tránh. Giọng chàng mỏng như sợi tơ nhưng bén như lưỡi dao rạch ngang sự cuồng loạn của hắn.
Chàng tiến một bước, chỉ một bước, nhưng đủ để Vạn Lịch giật mình.
"Vậy thì nghe cho rõ đây, nếu tình yêu của anh phải chứng minh bằng việc móc mắt, lột da người khác, thì tôi thà làm một kẻ nghèo rách áo, chết dưới sông cũng không cần được yêu như thế."
Câu nói rơi xuống như tảng đá thả vào lòng nước. Mặt sông tĩnh lặng nhưng dưới sâu là những đợt sóng ngầm dữ dội.
Vạn Lịch đứng im, rồi như kẻ mất hồn. Tay hắn rơi xuống, giọng nói rút cạn.
"Em nói vậy là... em muốn bỏ tôi sao?"
Vạn Lịch thốt lên câu ấy như một kẻ đứng bên miệng vực. Hắn chờ một cái lắc đầu, một câu phủ nhận, chờ chàng Huỳnh Sơn sẽ ôm hắn và bảo "không". Chờ một thứ dịu dàng quen thuộc để kéo hắn khỏi cơn hoảng loạn đang dâng đến tận đỉnh đầu.
Nhưng vợ hắn chỉ đứng đó, và nhìn hắn như nhìn người dưng.
Lặng đến nỗi Vạn Lịch nghe được cả tiếng máu đập sau mang tai mình. Và chính sự im lặng đó đã khiến hắn buột miệng:
"Được! Em muốn đi thì cứ đi!"
Giữa tiếng sóng vỗ và đêm đen, câu nói đó dội lại trong lòng khoang như một án lệnh.
"Đi luôn đi! Đừng quay lại nữa! Cậu Huỳnh Sơn cao quý muốn sống đời phóng khoáng, thì đi đi! Tôi không giữ nữa! Lão Vạn Lịch này, thằng Anh Khoa này không giữ nữa!"
Giọng Vạn Lịch càng nói càng cao, như thể càng gào to thì càng át được nỗi đau đang trào dâng. Hắn giẫm mạnh xuống sàn, tay chỉ về phía cửa:
"Ra khỏi thuyền tôi! Ra khỏi cái nhà này! Ra khỏi đời tôi!"
Vạt áo gấm của Huỳnh Sơn đong đưa.
"Không cần ông Vạn Lịch phải nhắc."
Bước chân chàng nhẹ tênh.
Nhưng mỗi bước rời đi, lại như lưỡi cưa cắt vào từng thớ thịt trong ngực Vạn Lịch.
Hắn đứng chết lặng, gương mặt giãn ra trong kinh hoàng, mắt dõi theo bóng người yêu kiều ấy khuất sau rèm thuyền, rồi biến mất vào đêm.
Cửa khép lại.
Tiếng khóa gió sập xuống.
Sông vẫn chảy.
Thuyền vẫn trôi.
Chỉ còn lại hắn - Vạn Lịch - kẻ đã có tất cả, và vừa đánh mất điều duy nhất khiến thế giới của hắn như có tất cả.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co