Truyen3h.Co

all x soobin; đồng tiền vạn lịch

2

VayTaSeYeuAnh

Chàng Huỳnh Sơn bơ vơ một mình trên bãi biển. Sóng vỗ dập dìu vào bờ, gió đêm phả lạnh như nước đá. Chàng ngồi co chân trên một tảng đá, áo lụa quét cát, mắt vẫn hoe đỏ, môi bặm lại không cho tiếng thở dài thoát ra ngoài.

Gió biển thốc qua làm mái tóc chàng rối tung. Chàng Huỳnh Sơn vốn chăm chút bản thân lắm, chẳng khi nào để đầu bù tóc rối như vậy, thế mà giờ phút này đây, giữa mênh mông bờ cát và bóng tối, chàng cũng chẳng buồn chỉnh sửa.

Bỗng một tiếng động từ lối cát vang lên. Một dáng người lồm cồm từ phía rặng phi lao bước tới.

Là gã đánh giậm ban sáng.

Gã vẫn bận nguyên cái khố cũ, lưng trần, chân lấm bùn, tay xách theo một rổ lưới rách. Nhìn thấy Huỳnh Sơn ngồi đó, gã khựng lại, mắt tròn xoe, tay che vội lên ngực, lúng túng hơn hẳn, vẻ mặt hoang mang như vừa bắt gặp tiên trên trời rơi xuống biển.

"Ơ... cậu..."

Huỳnh Sơn nhìn gã, mắt lại thêm hoe đỏ. Trông thấy gương mặt đen sạm, tóc rối và chiếc khố cũ kỹ, chàng chợt bật khóc.

Gã đánh giậm thì ngẩn ngơ, tay buông cả bó đuốc xuống cát. Gã lóng ngóng lấy tay áo lau cát bám trên mặt, rồi lại dụi dụi mắt mình, tưởng mình đang mơ. Thấy chàng khóc quá, gã bối rối, hết đưa tay lên lại thả tay xuống, như thể muốn lau nước mắt cho chàng mà sợ không biết nên để tay ở đâu.

Chàng ngồi thụp xuống, nói giọng nghẹn lại:

"Hắn... hắn chửi rủa tôi, đuổi tôi đi..."

Gã vẫn chưa hiểu "hắn" là ai, chỉ biết một người đẹp như tranh vẽ đang vừa run vừa khóc ngay trước mặt mình.

"Em... em có sao không?" Gã hỏi, giọng run y như tay. "Ai đánh em? Em ăn gì chưa?"

Huỳnh Sơn lắc đầu, mái tóc rối đổ nghiêng che mất nửa gương mặt, bờ vai gầy trong lớp áo lụa mỏng run bần bật vì gió biển quất vào không ngớt. Một thoáng, trông chàng như một con cò mỏng manh lạc giữa trời sấm chớp, vừa lấm lem, vừa đáng thương, vừa kiêu hãnh một cách lạ lùng.

Gã đánh giậm luống cuống ngồi xuống cạnh chàng, vẫn chưa biết nên làm gì. Câu hỏi "ai đánh em" cứ treo lơ lửng trên môi, vì gã thật sự không nghĩ ra lại có kẻ đánh đập chàng đến mức này, mà trong trí óc đơn sơ của gã, chỉ có những tên cướp mới dám ra tay với người đẹp đến thế.

"Em có... có muốn ăn chút gì không? Tôi... tôi có nắm cơm nếp để dành..." Gã lục lọi trong cái giỏ mây, tay chân run rẩy như sợ chạm nhầm vào điều gì quý giá hơn mạng sống.

Chàng không đáp, chỉ tựa đầu vào đầu gối, nước mắt nhỏ tong tong lên hai bàn tay trắng muốt. Gió táp lên mặt biển, kéo theo mùi muối tanh, thổi lật cả vạt áo của chàng, khiến thân hình gầy guộc trông càng mong manh hơn nữa.

"Tôi... tôi có cái chăn," Gã lại lắp bắp, "Em... em đừng ngồi dưới cát thế..."

Gã đánh giậm vừa nói vừa lấy ra từ giỏ một cái chăn cũ, dính đầy vết cá, nhưng được gấp gọn gàng, sạch sẽ như chính cái lòng thành thật của người đưa nó ra. Gã không dám chạm vào chàng, chỉ quỳ một bên, lặng lẽ nhìn.

Một lúc sau, Huỳnh Sơn ngẩng lên, hai mắt vẫn đỏ hoe nhưng miệng đã mím lại, ánh nhìn như muốn lấy lại chút gì đó trong bản thân mình. Chàng nói, rất khẽ:

"Anh không cần phải sợ. Tôi không phải loại người có thể bị đánh mà không đánh lại. Chỉ là..."

Chàng dừng lại, giọng khàn đi:

"Chỉ là tôi mệt quá. Hắn nghi tôi thì tôi đành chịu, tôi không thể ở nổi trong cái nhà đó nữa."

Gã đánh giậm vẫn chưa hiểu hết, chỉ biết đưa tay gãi đầu, nhỏ nhẹ:

"Em... em cứ ngồi đây nghỉ đã. Không sao đâu, tôi... tôi sẽ ngồi đằng kia canh cho em."

Chàng Huỳnh Sơn khẽ rũ cát khỏi vạt áo, đứng dậy, nhìn gã đánh giậm dưới ánh trăng đang ngập ngừng như thể sợ chính lời nói của mình là một lời thất lễ. Gió biển thổi lồng lộng, tóc chàng rối tung, hai má đỏ lên vì gió lạnh. Nhưng đôi mắt vẫn sáng, vẫn trong, vẫn có một nét kiêu bạc ẩn nhẫn, như thể người đứng trước mặt gã không phải một người vừa bị đuổi đi, mà là một giai nhân chỉ đang tạm lạc bước giữa nhân gian.

"Anh... anh tên gì?" Chàng hỏi, giọng vẫn khàn khàn vì khóc.

"Dạ... dạ tôi tên Thiên. Trần Quốc Thiên." Gã lắp bắp, rồi lại vội cúi đầu, "Chẳng ai gọi đâu, chỉ quen là 'thằng đánh giậm'..."

Chàng gật nhẹ đầu, rồi sau một thoáng yên lặng, cất tiếng hỏi thẳng:

"Anh... có vợ con chưa?"

Gã ngớ ra một lúc, rồi lắc đầu như sợ bị hiểu nhầm:

"Chưa! Tôi... tôi đâu có vợ. Nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, một thân một mình, đi giậm từ nhỏ tới lớn. Không ai thèm lấy..."

Huỳnh Sơn im lặng nhìn gã, đôi mắt mệt mỏi nhưng ánh nhìn lại dường như đang soi xét tận đáy lòng người đối diện. Chàng đưa tay vuốt nhẹ mái tóc rối, rồi hạ giọng, nhỏ đến nỗi gần như tan vào tiếng sóng:

"Hắn bảo tôi dan díu với anh..."

Gã đánh giậm mở lớn mắt, bối rối nhìn quanh như thể sợ có ai khác nghe thấy. Gã không hiểu chữ "dan díu" nghĩa là gì, nhưng bản năng lại hiểu đây là thứ khiến người đẹp khóc đến thế, buồn đến thế, thì không tốt lành gì rồi.

Chàng tiếp lời, giọng run nhưng rất rõ:

"E là số tôi không lấy được kẻ giàu sang. Tôi xin lấy anh làm chồng. Dù có khổ sở thế nào đi nữa tôi cũng chịu được. Chúng ta sẽ làm ăn nuôi nhau. Anh đánh giậm, tôi vá lưới. Anh đi rừng, tôi nhóm bếp. Chúng ta sống như người thường. Tôi không cần gấm vóc, không cần chén vàng, không cần danh xưng gì nữa cả."

Gió như lặng đi một nhịp.

Gã đánh giậm ngây người, ngồi đờ ra như cây rơm bị sét đánh. Một lúc sau, gã bỗng lắc đầu liên tục:

"Không! Không được đâu! Em... em đẹp quá. Em như tiên trên trời. Còn tôi ấy, tôi hôi cá, tôi dốt, tôi chỉ biết mò tôm, mò cua..."

"Nhưng anh đã không nghi ngờ tôi, anh đã nhìn tôi như nhìn một con người. Tôi muốn làm người, không muốn làm một món đồ được thờ trong hộp kính." Chàng mím môi, bước một bước lại gần gã, cúi đầu nói chậm rãi.

Thiên vội vã đứng bật dậy rồi lại ngồi thụp xuống, tay chân luống cuống:

"Tôi... tôi chỉ có cái chòi thôi. Không có giường đẹp, cũng không có gối gấm. Mà tôi... tôi không biết ăn nói giỏi, cũng chẳng có ai hầu hạ. Nhưng mà tôi... tôi biết làm cá, nấu cháo. Tôi mà có em... à không, có vợ như em, tôi sẽ làm hết. Em không phải làm gì cả, tôi giậm cá, tôi nhóm bếp, tôi lấy nước, tôi quạt muỗi!"

Nói tới đây, gã đỏ mặt, rồi lại cười ngây ngô:

"Nhưng mà... nếu em lấy tôi... thì tôi phải đi mượn áo cưới. Có phải mặc áo cưới không?"

Huỳnh Sơn nhìn gã ngẩn tò te, bỗng phì cười, rồi lại òa khóc. Khóc vì chua chát, vì kiệt quệ, vì cảm động, và cũng vì cái sự ngốc nghếch mà trong trẻo đến lạ của một kẻ thật thà vừa được hứa lấy một người như chàng.

...

Và rồi họ ở bên nhau, nên duyên đôi lứa giữa rừng giữa biển.

Chẳng có sính lễ, cũng chẳng có trầu cau.

Nơi gã ở là chốn xa xôi, nghèo nàn, chất phát, không ai biết gì về gã làm buôn Vạn Lịch hay chàng giai nhân Huỳnh Sơn, như thể là một thế giới riêng biệt. Cả cái làng ở xa lắc xa lơ này chẳng ai nghe tiếng trống đưa dâu, chỉ thấy một sớm tinh mơ, thằng đánh giậm Trần Quốc Thiên lội bùn bế một giai nhân áo lụa, tóc rối. Mấy bà đi chợ về thấy thì xầm xì, mấy ông ngồi bến đò thì nheo mắt cười khẩy, bảo: "Thằng Thiên bắt được tiên sa!"

Nhưng rồi cũng thôi. Vì sống với nhau mà êm ấm, thuận hòa, thì kệ người ta nói gì.

Chàng Huỳnh Sơn, người từng làm nghiêng nước nghiêng thành, từng khiến quan lớn trong triều tiếc ngẩn ngơ chỉ vì một ánh nhìn, nay cởi bỏ áo gấm lụa điều, sống trong căn lều tranh vách đất giữa đồng sâu. Còn gã đánh giậm Trần Quốc Thiên vốn đã khờ khạo từ nhỏ, chữ nghĩa không rành, chỉ biết mò cua bắt cá, thì cứ ngây ngô mà thương chàng, thương không sao để đâu cho hết.

Gã đánh giậm vẫn ngày ngày dậy từ tinh mơ, khi trời còn chưa kịp sáng hẳn, xách theo cái giỏ tre, cây chĩa tre vót nhọn, lội qua mấy đoạn đầm sâu rậm lác. Lưng trần, chân đất, vai rắn rỏi như người quen gió sương, tay bắt cá tôm, tay kéo vó, đến trưa thì về.

Nhưng mà chàng Huỳnh Sơn - vốn sinh ra đã quen ăn cơm nấu bếp lò gốm, mặc áo lụa dệt tay, tay cầm quạt mo mà người ta bưng nước đến tận chỗ. Nay về ở với Trần Quốc Thiên, giữa đồng sâu rừng thẳm, đến cái cối giã gạo chàng còn chưa thấy bao giờ, thì bảo sao chàng biết nấu cơm, nhóm lửa, hay đào khoai giữa mùa nắng gắt.

Buổi đầu, chàng cũng có thử. Đổ gạo vào nồi không vo. Thổi bếp thì khói mù trời, sặc đến ho cả tiếng. Nồi cơm khét lẹt, cháy đáy, sống mặt. Chàng đứng đó, quạt lấy quạt để, vừa quạt vừa suýt khóc, còn gã đánh giậm thì chạy vào thấy thế chỉ cười:

"Không sao đâu em, cơm sống thì mình làm cháo. Cháy thì mình cạo cái ngon bên trên ăn trước."

Thiên chưa từng trách chàng điều gì, cũng chẳng khi nào cằn nhằn. Thấy chàng vụng về, gã càng thương. Thấy chàng lóng ngóng gấp chiếu, gã ngồi ngay bên cầm tay chỉ dẫn. Thấy chàng ngồi lóng ngóng vá áo, gã dúi vào tay một củ khoai nướng nóng hổi: "Thôi nghỉ đi, để anh làm."

Chàng Huỳnh Sơn vốn là cậu út nhà phú ông Tự Long, một bước đi ra chợ có kiệu đưa, một câu nói có kẻ vâng dạ mười lời. Bây giờ ngồi giữa hiên nhà lợp lá dừa, ăn cá nướng bằng tay, vẫn chưa hết vụng về, nhưng trong mắt Thiên, chàng như ngọc rơi xuống ruộng, dẫu có lấm bùn, vẫn sáng rỡ.

Họ chẳng bao giờ cãi nhau. Thiên ngốc nghếch, có đôi khi làm rớt bát, vấp cửa, hay đi về muộn quên mang theo cá, nhưng Sơn chưa một lần quát mắng. Ngược lại, gã cũng không bao giờ lớn tiếng, dù có hôm về thấy nồi cơm khê, hay gà ăn mất giống rau non mới trồng. Gã chỉ cười hề hề, xắn tay áo lên làm lại từ đầu.

Có lần, chàng tự ái, nói:

"Em chẳng làm được gì. Chẳng nấu được cơm, chẳng biết đốn củi. Cũng không cày ruộng, không bắt cá giỏi như anh..."

Thiên nghe xong chỉ gãi đầu cười khờ:

"Thì em đẹp. Đẹp là được rồi."

Chàng nghe xong, giận lắm, mím môi quay đi. Nhưng sau đó lại khẽ cười. Cười kiểu của người từng được nâng niu như báu vật, giờ lại được yêu thương một cách bình dị đến thế, mà vẫn ấm lòng.

Có bữa, trời mưa lâm râm, gió hắt nghiêng cả mái lá. Thiên đi giậm về, ướt sũng từ đầu đến chân. Chàng Sơn vừa chạy ra đón, vừa mắng yêu:

"Anh đi đâu giờ này đấy? Nước lớn còn gió ngược, té xuống sình chết trôi thì ai ở nhà với tôi hả?"

Thiên gãi đầu cười, chìa ra một con cá lóc còn sống nhảy lạch bạch trong tay áo:

"Thấy nó bơi ngang lối, tưởng về tay không uổng công nên anh quăng chài bắt đại."

Chàng nhìn con cá một lúc, rồi khẽ cười. Cười mím môi, như nụ cười năm xưa khi có người đem gấm vóc, trầm hương đến hỏi cưới, mà chẳng ai đoán nổi là chàng sẽ về làm vợ một gã đánh giậm khờ.

Mỗi ngày của họ giản đơn như gió chiều thổi qua bụi chuối sau hè. Sáng, Thiên đi giậm. Trưa, Sơn nấu cơm. Chiều, Thiên vo gạo, Sơn nhóm bếp. Tối, cả hai ngồi trước hiên nghe tiếng côn trùng, chàng Sơn tựa vai gã Thiên khờ, tay mân mê cái khăn cũ, miệng bảo:

"Cái khăn này rách rồi đó."

Thiên gật gù:

"Thì mai anh đem vá."

Họ sống như vậy. Một người vụng về, một người khờ khạo. Một người không biết nấu cơm, một người không nỡ chê bai. Một người từng bước ra là có người trải chiếu, một người thì suốt đời chỉ biết lội bùn đi giậm. Vậy mà cũng sống với nhau yên bình, không một lời cãi vã. Không có gì lộng lẫy, nhưng có cái tình cứ chồng chất mỗi ngày, như rạ khô xếp cao lên thành mái, che nắng che mưa, che cả những quá khứ người ta từng muốn quên đi.

...

Ba năm trôi qua, chàng Huỳnh Sơn và gã đánh giậm Quốc Thiên sống yên lành bên nhau dưới mái lều nhỏ cạnh rừng sát biển. Đàn gà nở thêm mấy lứa, ao sau nhà có sẵn cá rô, cá lóc, còn trên bếp, cơm lúc nào cũng thơm mùi sắn nếp lẫn tro bếp ấm. Tuy nghèo, nhưng chàng vẫn vá áo bằng kim đồng, may khăn bằng chỉ đỏ, những thứ cũ kỹ còn sót lại từ thuở sống trong nhung gấm.

Một hôm trời mưa lớn, nước chảy ào ào xuống mái. Thiên ở nhà, thấy đàn gà cứ bay nhảy lung tung, tranh nhau mổ vào thúng đựng đồ của vợ. Trong thúng có cái bọc vải cũ cũ, lẫn đâu một thỏi vàng chàng Sơn từng giấu đem theo, coi như kỷ vật, chứ chẳng tiêu xài gì. Gã Thiên thấy con gà chồm vô thúng thì bực, bốc đại cái vật gì trong đó mà chọi. Nào ngờ, ném trúng ngay thỏi vàng, nó bay qua cửa, rơi tõm xuống sông.

Một lát sau, chàng Huỳnh Sơn bước ra, thấy thúng đổ, gà tản, hỏi:

"Anh làm gì thế?"

Gã gãi đầu:

"Mấy con gà nó phá quá, anh ném đồ đuổi đi."

Chàng ngó xuống sàn, nhìn vào thúng, rồi nhìn ra sông, mặt tái đi:

"Kìa... người sao mà ngu đần thế! Anh có biết anh vừa ném cái gì không?!"

Huỳnh Sơn trừng mắt:

"Đó là vàng! Vàng thật đấy! Vàng quý nhất trên đời này chứ chẳng phải củ khoai!"

Gã Thiên gãi đầu, ngơ ngác nói:

"Thứ ấy thì thiếu gì đâu. Tôi mò cá ở cái vũng gần rặng bần, lâu lâu cũng thấy cục giống vậy. Cứ tưởng sắt gỉ, tôi vứt đi hết rồi. Em thích mấy cái đó hả? Giờ anh lội ra đó mò về cho em nhé."

Đến lượt Huỳnh Sơn ngẩn cả người. Chàng lặng đi một lúc, rồi hối hả giục Thiên:

"Anh dẫn em đi xem cái vũng đấy xem nào!"

Thiên tuy không hiểu gì, nhưng thấy chàng hấp tấp, thì hắn cũng hối hả xách rổ, nắm tay chàng dẫn đường. Họ men theo bờ cát, vòng qua mấy khúc đìa nước đục, lội xuống cái vũng nhỏ bị lùm bần che kín. Thiên chỉ tay:

"Hồi sáng anh thấy một cục ở kia, dưới chân cây sú đấy."

Huỳnh Sơn không kịp chờ nghe hết, vén áo xắn quần, bước xuống vũng nước. Bùn ngập quá mắt cá, lạnh buốt. Quốc Thiên ở trên bờ hết hồn, tưởng đâu mình gây chuyện lớn nên chàng mới phản ứng như vậy, hắn cũng lội xuống theo. 

Chẳng bao lâu, Huỳnh Sơn nhặt được một thỏi kim loại vẫn còn dính bùn. Chàng lau nhẹ lên mặt, rồi sững sờ khi thấy dấu ấn quen thuộc - một ký hiệu nhỏ bằng chữ Nôm khắc nơi mép thỏi, chính là ấn triện của Trần Anh Khoa, tự là Vạn Lịch.

Ngay lập tức, tim chàng như có người bóp nghẹt.

Gã Thiên đứng sau lưng vẫn thắc mắc:

"Đấy là gì mà vậy em? Thứ này không ăn được đâu. Về ăn cơm em nấu còn ngon hơn đó..."

Huỳnh Sơn không nói. Gió thổi qua vách lau sậy, nước sông lăn tăn vỗ vào bắp chân. Chàng nghiêng người, hôn cái chóc vào môi Thiên.

Ngay ngày hôm đó, hai vợ chồng bèn quay lại vũng ấy lần nữa, và quả nhiên, không chỉ một mà là cả chục thỏi nằm lẫn lộn trong bùn lầy. Có cái vỡ góc, có cái móp méo, nhưng tất cả đều là vàng thực, và đều mang dấu hiệu của Vạn Lịch.

Nguyên do là sau ngày đuổi Huỳnh Sơn, chuyện làm ăn của Vạn Lịch càng lúc càng sa sút. Hắn mất một mối lớn, rồi hai, rồi ba. Một chuyến thuyền chở hàng vượt biển gặp bão lớn, đắm mất cả đoàn. Người còn sống thì dạt vào bờ, Vạn Lịch cũng chỉ giữ nổi mạng mình, còn bao nhiêu vàng bạc gom góp suốt mười năm thì chìm nghỉm xuống lòng sông, chính là cái vũng mà Thiên mò cá mỗi ngày.

Vậy là, cơ nghiệp nhà Vạn Lịch, vòng một vòng trời đất, lại rơi về tay Huỳnh Sơn - người năm xưa bị hắn đuổi đi không thương tiếc.

...

Từ ngày nhặt được vàng, đời sống hai người đổi khác hẳn.

Huỳnh Sơn chẳng tiêu pha nhiều, chỉ trích ra một ít đem bán, lấy tiền sửa sang lại mái nhà lá cho đàng hoàng hơn. Căn lều cũ dựng bằng cây rừng thì gỡ đi, thay vào đó là căn nhà ba gian lợp ngói, cột gỗ mộc, nền lát gạch đỏ, ngoài sân có rào tre, trong vườn trồng đầy rau trái. Bàn ghế không cao sang, nhưng vững vàng, sạch sẽ. Chiếu trải có tua, nồi niêu sáng bóng, bếp luôn đỏ lửa như lòng người nồng hậu.

Gã Thiên vẫn mặc áo cũ quần cũ, dù trong tủ đã có cả chục bộ áo quần lụa là, gấm vóc. Gã không quen giày dép, đi đâu cũng chân trần, có bữa đi giậm về lội qua sân đất dính cả bùn lên thềm gạch, còn gã thì chỉ biết chạy lại xin chàng cái hôn. Gã chẳng thay đổi gì, cứ sáng sớm lại xách vó ra đi, tới chiều về là xoa đầu vợ, cười hề hề: "Anh bắt được con cá bông to lắm!"

...

Sau khi có tiền, Huỳnh Sơn mới thật sự để ý, chồng mình... đúng là khờ thật. Đã khờ lại còn hiền, ai nói gì cũng tin, ai kêu gì cũng làm. Gặp người tử tế thì không sao, chứ gặp bọn giảo hoạt thì thể nào cũng bị dắt mũi.

Một hôm, chàng ngồi hong tóc bên hiên, thấy Thiên lúi húi băm rau chuối cho gà mà ngón tay dính bùn đầy. Chàng khẽ thở dài, khuyên:

"Ngày mai anh ra chợ đi, phải học cách chơi bời với thiên hạ, để biết đời nó rộng, người ta sống ra sao, nói thế nào.."

Thiên nghe lời, hôm sau quả nhiên ăn mặc tử tế, mang đôi guốc mới chàng mua cho, còn chải đầu thẳng thớm. Gã ra xóm, thấy ai đang chuyện trò là gật đầu chào, hỏi han đủ điều. Thấy ai cười là gã cười theo, thấy ai bán quà là gã lân la lại đứng. Nhưng khốn thay, ai cũng biết gã là "thằng đánh giậm khờ khờ" ngày trước, nay dù có áo quần là lượt, giọng vẫn quê mùa, mắt vẫn khờ khạo.

Liên tiếp mấy hôm, cứ sáng sớm là Thiên đi, tới tận chiều mới lò dò về, chân dính bùn, tay rỗng không. Huỳnh Sơn thấy thế bèn hỏi:

"Thế nào? Đã làm quen được ai chưa?"

Thiên gãi đầu, cười như có lỗi: "Chưa. Họ bận lắm. Không ai chơi với anh cả."

Chàng thở dài một tiếng dài như tiếng sáo, rồi lẩm bẩm như than trời trách đất:

"Khờ chi mà khờ lạ. Mấy ngày trời đi ra đi vô, không bám được lấy một người. Chắc chỉ có chơi với ngỗng là hợp."

Thiên nghe thế thì nhìn quanh, rồi thật thà hỏi:

"Nhà mình có ngỗng mà em?"

Huỳnh Sơn không biết nên khóc hay nên cười, chỉ lấy khăn trùm mặt, gục đầu xuống đùi, bất lực thở ra mấy hơi.

...

Nghe vợ than chơi với phỗng còn hơn, gã đánh giậm Trần Quốc Thiên tưởng thật. Hôm sau, trời vừa sáng bảnh mắt, gã xách nón rơm, xỏ đôi guốc gãy một quai, lầm lũi đi bộ băng qua hai quả đồi, bốn ruộng nước, tìm đến một ngôi đền vắng ở bên kia rừng.

Ngôi đền ấy rêu phong cũ kỹ, chẳng có ai trông coi, chỉ có gió thổi qua cổng đá và đôi phỗng đá ngồi nhe răng cười trơ trẽn ở hai bên sân.

Thiên lom khom bước lại, lễ phép:

"Chào hai anh. Tôi tên Quốc Thiên. Nhà tôi gần đây. Tôi có vợ rồi, đẹp lắm. Tên là Huỳnh Sơn. Mấy bữa đi ra đi vô chẳng ai chịu nói chuyện, vợ tôi bảo tôi nên chơi với các anh, cho mở mang đầu óc."

Thấy tượng phỗng vẫn cười, gã mừng rỡ, tưởng người ta ưng ý. Gã liền cười đáp lại, rồi sà vào ngồi giữa, quàng vai bá cổ hai bên, vỗ lưng phỗng cái "bép" như thể bạn thân mười năm không gặp.

"Các anh không biết đâu. Vợ tôi có tài ca hát rất hay, vợ tôi còn biết đàn nữa. Hát bài gì cũng hay. Đàn cái gì cũng giỏi. Hồi mới cưới về, vợ tôi chỉ ngồi tựa cửa sổ, gảy một khúc là chim bay về đậu kín mái, cá dưới ao nhảy lên nghe. Còn tôi thì đứng sau vách mà tim đập thình thịch."

Thiên nói, mắt long lanh, tay vỗ nhẹ lên đầu gối bức tượng phỗng như người ta vỗ vai bạn hiền. "Da vợ tôi trắng như bún, tóc mượt như tơ. Mỗi lần hong tóc ngoài sân, cả xóm phải đi vòng xa, không dám nhìn gần vì sợ chói mắt. Còn cái giọng nói, trời ơi, nhẹ như khói bếp sớm, nghe xong chỉ muốn lấy chăn trùm đầu nằm mơ tiếp."

Phỗng vẫn nhe răng cười, chẳng đáp. Thiên thấy vậy lại tưởng bạn mình đang ngượng, bèn vỗ tay cười:

"À ha, các anh xấu hổ rồi phải không? Biết là vợ tôi đẹp mà, tôi cũng xấu hổ lắm, chứ bộ không đâu! Đi đâu ai cũng hỏi: 'Sao ông lấy được người như tiên thế?' Tôi cũng chỉ biết gãi đầu cười trừ, mình được thương mà, sao trả lời được, đúng không ông anh?"

Rồi gã cười khì, đưa một miếng bánh in nhét vào miệng phỗng, giọng thì thầm:

"Nè, các anh ăn đi. Không ngon bằng tay vợ tôi làm đâu, nhưng thôi có lòng là được."

Tượng vẫn câm lặng. Gã chợt xị mặt xuống:

"Sao không nói gì hết trơn vậy? Không khen vợ tôi lấy một câu hả?"

Gã bực mình, đứng phắt dậy, chống nạnh:

"Tôi bắt chuyện đã đời, khoe vợ mỏi miệng mà các anh cứ ngậm hột thị như thế là sao? Tình nghĩa cái gì? Bạn bè cái gì? Câm như hến vậy thì chơi làm gì!"

Thế là gã nổi cáu, lấy chân hẩy phỗng một cái. Bức tượng mất thăng bằng lăn kềnh xuống nền sân. Thiên khờ khạo có biết chuyện mình mới làm đâu, gã chạy một mạch về nhà, vừa chạy vừa rấm rứt:

"Không ai thương tôi bằng vợ tôi hết... mai mốt tôi không thèm chơi với ai nữa... tôi chỉ chơi với vợ thôi..."

Về tới nhà, chàng Huỳnh Sơn đang ngồi nhặt đậu, thấy chồng chạy về với mặt ấm ức, liền hỏi:

"Anh đi đâu từ sáng tới giờ?"

Gã đặt mông xuống đất, thở hồng hộc:

"Đi chơi. Với tượng."

"Với tượng nào?"

"Tượng phỗng ở miếu sau đồi. Anh nghe lời em, anh tới chơi. Anh còn mời ăn, còn kể chuyện, còn khoe em với tụi nó. Mà tụi nó cứ nhe răng ra cười không nói gì. Anh tức quá, xô một đứa ngã lăn ra rồi."

Huỳnh Sơn sững người, mắt trợn tròn:

"Anh... phá tượng đền?!"

"Ừ, tượng mà, chứ có người đâu. Nhưng em nói rồi mà, tượng còn hơn người!"

Chàng đập trán, ngửa mặt than trời:

"Lạy trời cho chồng con một ít khôn thôi cũng được..."

Còn Thiên thì lại chìa tay ra:

"Em cho anh hôn cái rồi anh học khôn liền."

...

Không ngờ ngôi đền mà gã đánh giậm Trần Quốc Thiên tìm đến trò chuyện cùng hai bức tượng phỗng lại chính là nơi phát tích linh thiêng của Hoàng triều. Từ đời trước, đền ấy vốn được dân trong vùng thờ phụng như một nơi địa linh nhân kiệt, hễ có việc trọng đại trong triều thì đều có người lặng lẽ đến khấn vái. Ai ngờ, chỉ vì một gã nhà quê khờ khạo không hiểu sự đời, dám xô ngã tượng phỗng, mà một tai họa chẳng ngờ lại giáng xuống kinh thành.

Hôm ấy, đúng canh ba, trong cung đột nhiên nghe tiếng Thiên tử kêu đau, nửa người dưới tê liệt không nhúc nhích được. Bao nhiêu ngự y, lương y trong ngoài triều đình đều được triệu vào, bắt mạch kê đơn, dùng kim cứu, nấu thang thuốc, thậm chí cả cúng bái và tụng chú. Thế nhưng, bệnh nhà vua chẳng những không thuyên giảm mà còn nặng thêm. Vua ngồi cũng không nổi, chân tay như gỗ mục, miệng méo, giọng nghẹn, mạch không đều như trống vỡ.

Lúc đó trong triều mới mời đến một vị quan thái bốc lừng danh phương Nam, râu dài đến rốn, mắt như nửa nhắm nửa mở. Ông ngồi giữa điện, gieo quẻ ba lần, rồi bỗng rùng mình quát:

"Long mạch động rồi! Động ở phía đông, đất phát tích nhà vua có kẻ xúc phạm!"

Cả triều xôn xao, lập tức cho ngựa trạm phi về vùng phát tích ở phía hạ lưu sông Bé, đến ngôi đền cổ bên rừng, chính là nơi mà gã đánh giậm khờ từng đến bắt chuyện rồi cuối cùng bực tức xô đổ tượng phỗng.

Khi đoàn quan tỉnh và lính hầu kéo đến, họ thấy ngay bức tượng phỗng ở góc sân đã lăn nghiêng. Cỏ rêu bám quanh, dấu giày còn hằn rõ trên đất bùn. Quan đầu tỉnh run cả người, lập tức truyền chuẩn bị lễ vật, vàng mã, trống chiêng, cho lập đàn tế xin lỗi linh thần.

Nhưng đến lúc muốn dựng tượng dậy thì kỳ lạ thay. Ba người, rồi năm người, rồi cả chục người vào mó tay nâng, mà tượng không nhúc nhích lấy một li. Lính hầu được lệnh đem đòn gỗ, lấy dây thừng buộc ngang bụng tượng, hàng chục binh sĩ cùng gồng mình kéo, nhưng chẳng khác gì lôi một trái núi. Tượng trơ trơ giữa đất như mọc rễ tự thuở khai thiên.

Tin ấy bắn về kinh đô, nhà vua nghe mà lo như lửa cháy đến gấu áo. Bệnh mình đã nguy, tượng lại không nhấc lên được, linh khí triều đình như bị chặn mất lối về. Lập tức truyền ban lệnh xuống cả thiên hạ: hễ ai có tài phép gì, dựng nổi pho tượng phỗng lên bệ cũ thì sẽ được trọng thưởng, vàng bạc châu báu ba hòm, thóc gạo năm kho, cùng sắc phong "ân nhân phục tượng" khắc tên vào sử sách.

Bảng yết được treo khắp các chợ huyện, đình làng, miếu lớn. Dân chúng xúm lại coi, ai nấy nhao nhao bàn tán. Có người bảo phải cúng ba ngày ba đêm, có người bảo phải có thầy pháp tận núi Ba Vì về mới yểm được. Mấy ông thầy râu tóc rối bù cũng tranh nhau đứng ra múa bùa vẽ chú nhưng chỉ làm tượng lấm lem chứ chẳng hề nhúc nhích.

Hôm ấy, Huỳnh Sơn đi chợ, ghé ngang đình làng thì trông thấy bảng yết. Chàng đọc xong liền xếp rổ cá lại, ngồi lên thềm đình ngẫm nghĩ. Khi về, lúc chồng đang loay hoay cắt nan đan rổ, chàng chống cằm hỏi:

"Hôm đó... cái tượng phỗng ở đền, anh đẩy làm sao mà nó ngã được?"

Thiên ngẩng lên, tròn mắt:

"Cái tượng đó hả? Anh chỉ đẩy nhẹ một cái. Tại nó cứ cười hoài, anh giận."

"Ừm..." Chàng gật gù, "Thế giờ... nếu bảo anh dựng nó lên lại, anh làm được không?"

Gã nhìn chàng, mắt mở to như thể vừa nghe bảo đi hái sao trên trời:

"Nó đổ thì anh dựng lại chứ sao? Cái tượng chứ có phải con trâu đâu mà khó!"

Huỳnh Sơn chống cằm cười khẽ, ánh mắt lấp lánh:

"Thế thì giờ ta đến đền. Có khi cái tính khờ của anh lại cứu được cả vua đấy."

"Mà vua là ai vậy em?"

...

Huỳnh Sơn bèn cùng chồng ra đình, chàng mặc áo gấm lam nhạt, chồng thì vẫn bộ bà ba cũ, còn lấm lem vệt bùn giậm. Dân chúng thấy hai người ăn mặc khác nhau một trời một vực thì xầm xì bàn tán, người cười, kẻ chê. Nhưng chàng Huỳnh Sơn mặc kệ, chỉ lặng lẽ nắm tay chồng tiến lên trước tấm bảng yết, lễ phép bảo với quan tỉnh, xin cho chồng thử dựng pho tượng.

Quan thấy họ, một người đẹp như tượng ngọc, một người lại khờ đến mức lấm lét nép sau lưng vợ, thì bật cười. Nhưng ngẫm đi ngẫm lại, ai dựng cũng không xong, vậy thử một kẻ khờ khạo cũng chẳng thiệt gì.

Thế là quan sai lính dẹp đường, để gã đánh giậm tiến vào.

Thiên cúi đầu, lom khom bước tới trước pho tượng, ngước nhìn cái mặt đá vẫn nhe răng ra như cười trêu ngươi. Gã lẩm bẩm:

"Lần trước ngã được, lần này chắc cũng đứng được thôi..."

Rồi như không, gã đưa tay ra, khẽ đẩy một cái.

Lạ thay, pho tượng to bằng hai người ôm, nặng như đá núi, vậy mà lắc một cái rồi đứng phắt dậy như người vừa chợp mắt ngủ trưa.

Mọi người há hốc mồm. Quan tỉnh giật mình, còn lính hầu thì quỳ rạp xuống đất. Thiên thì vẫn ngơ ngác:

"Ơ? Được rồi hả? Vợ ơi, anh dựng được rồi này!"

Huỳnh Sơn thấy thế thì mím môi cười khẽ.

Tin đó truyền về kinh, vua nghe nói thì kinh ngạc vô cùng. Đêm tượng đứng dậy, bệnh của nhà vua cũng thuyên giảm. Một tuần sau thì khỏi hẳn.

Vua sai mang lễ vật đến thưởng cho vợ chồng. Vàng bạc châu báu gấm vóc ê hề, lễ quan mang bảng ban:

"Vua hỏi, hai ngươi muốn gì?"

Chàng Huỳnh Sơn bước ra cúi đầu, đáp:

"Chúng thần không dám nhận thưởng lớn. Chỉ xin một chức tuần ty ở bến sông, để sống yên phận, có ích cho dân."

Nhà vua ở kinh thành nghe người bẩm báo thì cười lớn, bảo rằng: "Người như hắn giữ cả cửa trời cũng được, nữa là một khúc sông!" Thế là hạ chiếu cho hai vợ chồng nhậm chức.

Có chức lại có sẵn vàng chôn cất mấy nơi, họ đưa ra dựng nhà cửa bên bến nước. Lầu son ngói đỏ, cột lim kèo gụ, mái hiên cong như lưỡi phượng, cửa sổ lợp kính màu, sàn gạch bông từ tận phương Nam mang về. Đằng trước có ao thả sen, có cầu nhỏ bắt sang vườn, đằng sau chuồng gà chuồng vịt tách biệt, sạch sẽ thơm tho.

Mà lạ thay, dù giàu, Thiên vẫn cứ một mực như xưa. Được phát cho áo gấm, gã vẫn mặc khố, bảo rằng áo mới cứng quá, ngứa vai. Còn giày da thì bỏ xó, chân trần đi cho dễ trèo thuyền.

Cứ thế, tiếng đồn lan xa. Người người tìm đến xem người đàn ông đánh giậm ngu ngơ lấy được tiên giáng thế. Nhưng họ chẳng thấy gì cao sang quyền quý cả. Chỉ thấy một người đàn ông mỗi chiều lại dắt tay chàng tiên đi dạo bên bờ sông.

Khách ghe bầu đi ngang ai cũng trầm trồ. Có người bảo:

"Cái anh đánh giậm khờ khạo mà cưới được tiên trên trời. Thiên hạ khôn lanh mấy đời cũng chẳng bằng một chữ Phúc của hắn!"

Từ đó, hai vợ chồng nổi tiếng khắp vùng, không chỉ vì giàu có, mà còn bởi chuyện tình lạ đời, như cổ tích giáng trần.

...

Một hôm, thuyền buôn cũ kỹ cập bến sông, neo lại trước cửa nha tuần. Thuyền không còn cờ xí rợp trời như xưa, chỉ còn vài mảnh vải bám vào sào gãy. Gió thổi, phập phều như áo của người đã chết đuối.

Người giữ trạm thuế vào báo:

"Dạ bẩm, có một chiếc thuyền nhỏ xin nộp thuế chở hàng tôm khô với thúng cá mắm."

"Là thuyền ai?"

"Dạ, chủ thuyền khai tên Trần Anh Khoa."

Nghe đến đó, chàng chỉ gật đầu nhẹ, rồi thong thả phất tay áo:

"Mời chủ thuyền đích thân vào trình. Thuyền lớn hay nhỏ cũng phải theo lệ."

Lát sau, một người đàn ông bước vào. Áo bạc, quần vá, dép cỏ mòn gót. Vành khăn xô lệch bên trán, mặt sạm nắng, gò má hóp lại như người từng trải cả gió biển lẫn nỗi đau đời. Chính là Trần Anh Khoa, người từng một thời nức tiếng kinh thành, cưỡi ngựa bọc yên vàng đi cưới tiên, giờ lại lầm lũi bước vào công đường như cái bóng không hồn.

Trên công án, Huỳnh Sơn ngồi thẳng lưng, tay cầm bút son, ánh mắt bình thản như mặt nước mùa thu. Thiên thì đứng một bên, vai khoác dải khăn vắt vội, tay cầm quạt, mặt mày rạng rỡ hồn nhiên như đứa trẻ đang học đứng nghiêm.

Khoa ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt người xưa.

Trong khoảnh khắc, tim gã như bị ai bóp nghẹt.

Huỳnh Sơn vẫn vậy. Không, phải nói là còn đẹp hơn xưa. Đẹp đến mức khiến cả căn công đường mờ đi, chỉ còn chàng là sáng. Áo gấm chẽn eo, cổ tay thêu chỉ kim, tóc búi cao cài trâm ngọc, trán mướt như trăng mười sáu rọi vào lòng người một vệt sáng vừa trong vừa lạnh. Nhưng vẻ đẹp ấy giờ không còn là của một giai nhân được nâng niu trong gấm vóc, không còn là kẻ yếu mềm gã giấu sau lưng như thuở nào. Mà là một vị quan. Một người ngồi uy nghiêm trên án đường, thảo một câu, phán một chữ, đã đủ khiến cả một vùng nín lặng.

Hóa ra, đây mới là dáng vẻ em muốn sao?

Một chốn quyền uy, một tấm áo gấm, một danh phận khiến người ta phải nghiêng mình.

Chàng ngồi kia, gọi người đàn ông kế bên là "chồng", là "anh", là "nhà tôi".

Không phải ta. Không phải thằng Trần Anh Khoa ngạo nghễ cưỡi ngựa rước em về giữa trời hoa lụa.

Không phải kẻ từng đứng giữa thiên hạ mà hét rằng: "Tiên xuống trần, ta cưới được tiên!"

Mà lại chính là thằng đánh giậm năm nào.

Cái thằng đen đúa, đầu trần, toàn thân chỉ lấy một mảnh khố rách. Cái thằng ngày đó đã ghé vào mạn thuyền của hắn xin một miếng trầu, cái thằng mà hắn đã mắng nhiếc thậm tệ vì dám nhìn vợ hắn. Cái thằng nghèo nàn mà hắn đã nhạo báng sẽ không bao giờ mang đến cho chàng bất kỳ tình yêu nào xứng đáng. Cái thằng thấp cổ bé họng mà hắn đã từng muốn móc mắt, lột da, moi tim.

Gã đánh giậm khốn kiếp đó... giờ thì đứng đó như chủ nhân thực thụ, tay cầm quạt, mắt nhìn Huỳnh Sơn đầy trìu mến. Khi thấy chàng khát, gã cúi xuống lấy vỏ bầu, rót nước gừng, đưa tận tay. Huỳnh Sơn đón lấy, mắt vẫn không rời hắn, khẽ cười, nụ cười ấm như bếp lửa. Chàng còn đưa tay vuốt mấy sợi tóc rối của gã, thì thầm gì đó vào tai khiến gã đánh giậm bật cười khúc khích như một đứa trẻ.

Trần Anh Khoa đứng chết trân.

Hắn thấy hai người nọ không hề e dè. Họ cười, họ chạm, họ ôm nhau ngay trước công đường, nơi mà hắn từng tưởng chỉ có mình mới đủ quyền rước người kia vào làm dâu.

Ngực hắn đau thắt. Đau như bị xé từng mảnh. Cái tên "Sơn" bật lên đầu lưỡi nhưng hắn không thể gọi.

Phải rồi... người kia không còn là "em" của hắn nữa. Không còn là chàng trai hắn từng cõng qua suối, từng bế lên kiệu giữa phố chợ như rước tiên hạ phàm. Không còn là người đứng sau lưng hắn trong những buổi yến tiệc, nói khẽ vào tai hắn những lời khiến cả triều đình ghen tức. Người ấy giờ đã có chồng mới. Một kẻ chẳng có gì ngoài lòng thành. Nhưng là người biết ngồi rửa chân cho chàng sau một ngày chàng thụ án. Là người biết ngồi bên cạnh vuốt tóc chàng, dẫu tay còn vương mùi cá.

"Nếu phải nói nó đã cho tôi cái gì, thì đó là nó nhìn tôi như nhìn một con người."

Hắn bật cười. Một tiếng cười lạc lõng, lặng như một vết thương cũ bị gió lạnh lùa vào.

Hắn thì không ư?

Với chàng, Vạn Lịch đã nhìn chàng như một chiến lợi phẩm. Một món trang sức đẹp nhất để khoác lên vinh quang của mình.

Một giấc mộng mà hắn tưởng đã nắm trọn, để rồi giờ đây, tỉnh dậy, tay trắng, lòng hoang.

Huỳnh Sơn sau khi nói chuyện với Quốc Thiên xong mới quay sang người đàn ông nãy giờ đang chết trân bên dưới.

Chàng cười với hắn:

"Biết rằng anh vẫn đi buôn, em về kiếm chốn nha môn ngồi tuần. Dù anh buôn bán xa gần, làm sao tránh khỏi cửa tuần em đây."

Trần Anh Khoa đứng lặng như bị đóng đinh xuống nền gạch.

Trong khoảnh khắc, hắn cảm thấy tất cả thị thành, những vàng bạc, những thuyền bè, sổ nợ, tất thảy đều chẳng đáng một ánh mắt quay lại của người kia.

Nhưng ánh mắt đó đã không còn dành cho hắn nữa.

Tên Quốc Thiên kia vẫn cười hiền lành, lấy bút đóng dấu, rồi quay sang đưa tờ giấy cho vợ. Tay gã dính bùn đất, còn tay chàng vẫn trắng muốt. Nhưng khi tay họ chạm nhau, không có lấy một vệt ngại ngần.

Rõ ràng là năm xưa, hắn và chàng cũng đã từng như thế, khi bàn tay cầm bao nhiêu bạc bẩn của con buôn luôn được bàn tay chỉ chạm vào đàn vào sách của giai nhân nắm lấy.

Rõ ràng là năm xưa, đó là vị trí của hắn.

Hắn đã từng có chàng, từng ôm chàng trong tay giữa đêm thuyền rẽ nước cùng trăng, từng gọi "Sơn ơi" mà nghe như gọi một giấc mơ. Hắn từng nghĩ chỉ cần đem cả thế gian dưới chân thì người kia sẽ ở lại.

Khoa cúi đầu. Lưng hắn gù xuống như bị đá đè.

Trần Anh Khoa, người từng đội trời đạp đất, từng buôn một chuyến là đếm bạc cả tháng, từng cưỡi ngựa rước người yêu dưới mưa pháo, từng nghĩ rằng cả thế gian này chẳng có gì không thuộc về mình. Giờ chỉ còn lại cái vành khăn xô bạc trắng, cái quần vá và cái thân thể gầy gò như bóng ma đi lạc.

Mặt sông lấp lánh phản chiếu nắng chiều.

Hắn không khóc. Nhưng đôi mắt đỏ ngầu như máu ứa ngược vào tim. Hắn lùi bước, mỗi bước đi như kéo lê cả một đoạn kiêu hãnh cũ. Mà có lẽ kiêu hãnh ấy cũng đã mục ruỗng từ cái ngày hắn rống lên, "Tôi sẽ moi tim nó ra! Xem xem nó có yêu em bằng tôi không!"

Giờ thì hắn biết câu trả lời rồi. Không cần moi tim ai cả.

Hắn đi như cái bóng trôi về nơi không có ánh sáng.

Vừa thẹn, vừa uất, hắn trở về thuyền, ôm mặt ngồi như kẻ mất hồn. Suốt đêm hôm ấy, không ai thấy hắn ăn, cũng không thấy thắp đèn. Đến sáng hôm sau, người ta thấy hắn để lại một phong thư, bên trong là giấy kê khai tất cả của cải, xin dâng hết cho quan tuần và phu nhân để chuộc lỗi xưa.

Cuối tờ đơn, hắn nguệch ngoạc mấy chữ:

"Của này là lỗi, xin gửi lại người."

Đêm ấy, chàng pha một ấm trà, rót ba chén, một cho mình, một cho Thiên, và một đặt trước hiên nhà, chỗ có ánh trăng soi xuống sàn gạch đỏ. Chén trà đó không ai động đến. Đến sáng hôm sau, trong lòng chén, xác một con thiêu thân nằm úp, đôi cánh lấp lánh ánh bạc.

Thiên hỏi:

"Chén này cho ai mà không uống?"

Chàng đáp khẽ:

"Cho người xưa."

...

Lại thêm một đêm, không ai thấy quan tuần ngủ. Người hầu kẻ hạ đã lui hết, dinh quan tối om, chỉ còn một chấm lửa nhỏ lập lòe cuối hiên. Huỳnh Sơn ngồi một mình trên cây cầu ván phía sau, nơi ngày trước từng treo võng cho chồng nằm nghỉ, nơi từng rửa cá, nhóm bếp, phơi nắng những bữa cơm đầu tiên khi còn nghèo.

Tóc chàng rối, bờ vai không khoác áo gấm mà chỉ trùm một tấm choàng mỏng, gió lật lên hoài. Không ai biết chàng ra ngồi từ bao giờ. Người gác đêm đi ngang còn tưởng là tượng gỗ ai dựng đó, vì chàng không động đậy lấy một ly.

Ánh trăng đầu tháng mờ nhạt rơi xuống mặt nước, soi rõ bóng một người không còn là tiên, cũng không còn là phu nhân quan tuần, chỉ là một kẻ trần thế, đang gục đầu lên hai chân mà khóc.

Chàng khóc rất khẽ. Không ai nghe tiếng, chỉ thấy vai run từng hồi, hai tay bóp chặt vạt áo trước ngực như kìm nén một cơn đau không thể gọi tên. Không ai biết trong lòng chàng nghĩ gì. Chỉ thấy dáng người ấy ngồi lom khom như một kẻ đã đi qua cả gấm vóc lẫn rách rưới, qua yêu thương, qua oán giận, qua rạng rỡ và qua tan nát.

Gió nổi lên, lá tre xào xạc. Chàng cúi đầu, tay nắm chặt lấy mép áo mà nói nhỏ như nói với bóng mình:

"Đáng lẽ tôi phải hiểu... là anh yêu tôi... Nhưng tôi hiểu muộn quá rồi..."

Câu ấy bay vào mưa. Và mưa thì chẳng khi nào giữ lại điều gì cả.

Đúng lúc đó, từ mé nước có tiếng "rào" nhẹ. Ban đầu, chàng không để ý. Tưởng là cá quẫy. Nhưng rồi lại thêm tiếng rào nữa, như người lội nước. Mặt nước bỗng dềnh lên, rồi từ giữa dòng sông đen đặc đó, một cái đầu người nhô lên. Tóc ướt sũng, mắt mở thao láo, miệng thở hổn hển như vừa bơi hàng trăm sải.

Chàng ngẩng phắt lên.

Người dưới nước ráng bơi tới, vừa lội vừa thở hồng hộc. Đến khi gần sát bờ mới dừng lại, bám vào cọc cầu, thều thào:

"Sơn ơi..."

Chàng Huỳnh Sơn kinh hãi nhìn cái bóng người ướt sũng bên dưới, cái gương mặt đó, dẫu đã gầy sọp, mắt hõm sâu, tóc tai râu ria bết dính, môi tím bợt vì lạnh, nhưng Huỳnh Sơn vẫn nhận ra ngay. Là Trần Anh Khoa. Là Vạn Lịch. Là cái tên mà suốt một đời chàng chẳng biết phải thương hận thế nào cho đủ.

Chàng thở dốc, lùi lại một bước, tưởng như chân vừa giẫm trúng gai. Trái tim đập thình thịch trong lồng ngực, không phải vì sợ, mà vì một nỗi chấn động chẳng thể gọi tên.

"Không phải anh chết rồi sao?" Huỳnh Sơn nói mà môi run run, "Sao... Lẽ nào... anh thành ma về ám tôi à?"

Kẻ dưới sông vẫn níu lấy cọc cầu, nước chảy qua người như trôi cả máu thịt. Hắn ngước lên nhìn chàng, cười méo mó:

"Tôi chưa chết. Mà thật ra thì tôi cũng tính chết rồi. Nhưng đang tròng dây vào cổ thì nhớ thằng thợ mộc ở phố Dừa còn nợ tôi mười quan. Nghĩ bụng chết cũng chẳng xong khi còn bị lừa... Thế là đi đòi nợ đã..."

Chàng chưa kịp đáp, hắn đã cười khùng khục, rồi lại ho vì lạnh. Nước nhỏ từ cằm xuống như tắm mưa.

"Tôi định bụng, đòi xong thì chết. Nhưng bơi ngang qua nghe tiếng ai khóc... quen quá... nghe muốn rụng tim. Quay lại nhìn, hóa ra là em."

Huỳnh Sơn không nói gì. Môi run run, mắt đỏ hoe. Chàng nhìn Khoa vịn gỗ trèo lên cầu ván, ướt như chuột, toàn thân lạnh ngắt. Hắn nhìn chàng, rồi bật cười mà như mếu. Chàng vẫn đứng yên như tượng, như thể cú sốc này chàng chưa vượt qua được. Khoa vươn tay, ôm lấy chân chàng, hơi lạnh từ người hắn truyền qua lớp áo, truyền thẳng vào máu trong da thịt của chàng.

Mưa cứ thế trút xuống, từng hạt nặng như đá rơi trên mái cầu ván, trên vai Huỳnh Sơn, và trên cả cái thân người ướt nhẹp đang quỳ dưới chân chàng.

Gã bật cười khùng khục, vừa cười vừa ho.

"Tôi nghĩ ... mình chết thì chết, nhưng em khóc như vậy, sợ là ma cũng không nỡ. Thôi thì bơi qua đây dỗ em xong lại về treo cổ sau cũng không muộn... "

Rồi như thể không thể kiềm được nữa, Khoa bật khóc.

Không phải thứ khóc nghẹn ngào kín đáo của kẻ còn giữ thể diện, mà là tiếng khóc xé ruột của một người đàn ông đã chẳng còn gì để giữ lại cho mình.

Tiếng khóc vỡ ra từ ngực, run lên từng chặp, hoà lẫn với tiếng gió đêm rít qua những rặng tre bên sông. Mưa không át nổi tiếng nấc của hắn.

Hắn ngồi thụp xuống, hai tay ôm chặt chân chàng, mặt vùi vào lớp vải, vai rung như thể sắp tan vào bùn đất. Lưng hắn còng lại, không phải vì tuổi tác, mà vì một gánh nặng vô hình, như thể suốt mấy năm qua, hắn vẫn gồng mình mang theo một cái bóng, bóng hình người cũ, tiếng cười cũ, hương tóc cũ.

Nước mưa từ tóc hắn chảy dài xuống mặt, hoà cùng nước mắt, rơi thành vũng trên ván gỗ, rồi nhỏ tong tong xuống mặt sông đen thẫm. Hắn ngồi đó, ướt sũng, đáng thương như một đứa bé đi lạc, vừa ho, vừa sụt sùi, vừa lắp bắp những câu vô nghĩa:

"... Tôi nhớ em... tôi nhớ... tôi nhớ em đến cái mức tôi nghĩ mình điên rồi..."

Khuôn mặt từng hớn hở, từng ngạo nghễ, giờ dúm dó như một bức tranh nhòe nhoẹt dưới mưa. Hốc mắt sâu, trán bầm một vệt, môi tím lại vì lạnh, gã không còn là Vạn Lịch uy nghi ngày nào. Chỉ là một bóng người thê lương, vật vờ như ma đói dạt về bên sông.

Hắn ngẩng lên, đôi mắt sưng đỏ, giọng hắn lạc đi trong tiếng mưa rơi, nghẹn ngào như thể những lời nói ra cũng mang theo máu trong tim:

"Sơn ơi... tôi không còn chi hết... nhưng tim tôi... vẫn còn em."

Và hắn lại gục xuống, vai run bần bật như cỏ gặp gió chướng, nức nở từng hồi, như thể nếu đêm ấy không được khóc, hắn sẽ chết thật, chết vì những thứ không ai thấy, nhưng đã ăn mòn hắn từ rất lâu rồi.

Mưa vẫn rơi, đều đều, như thể đêm ấy trời cũng đang khóc theo.

Huỳnh Sơn vẫn không nói lời nào, chỉ ngồi phịch xuống ngay tại mép cầu ván. Chàng gỡ tay hắn ra khỏi chân mình, rồi ôm chầm lấy hắn.

Một cái ôm nhẹ như sợ người kia tan ra mất. Trần Anh Khoa lạnh như nước sông, vai gầy và người ướt lướt thướt, thế mà lúc ấy, Huỳnh Sơn chỉ thấy như mình đang ôm một nỗi đau lớn hơn cả trời đất.

Gió thổi rát mặt. Mưa rả rích bay ngang. Nhưng hai người đàn ông ngồi cạnh nhau trên mặt ván trơn trợt ấy, không ai nhúc nhích. Một người khóc như xé ruột xé gan, một người ngồi lặng thinh.

Lâu lắm, Khoa mới nói, giọng vẫn sụt sùi như con nít:

"Em sống có vui không? Với thằng đánh giậm đó?"

Chàng im lặng một lúc, rồi gật đầu.

"Có. Vui."

Khoa mím môi, quay mặt đi. Gã nuốt nước mắt vào trong, chỉ còn môi run bần bật.

Một lát sau, Huỳnh Sơn hỏi:

"Còn anh? Giờ anh tính sao?"

Khoa không đáp ngay. Hắn ngẩng mặt lên trời, như thể chờ cơn mưa tạt mạnh vào mắt cho khỏi phải khóc nữa. Nhưng đôi mắt vẫn đỏ hoe, cái cằm bạnh ra cứng cỏi ngày nào giờ run lập cập như người lên cơn sốt.

"Tôi... không biết tính gì nữa." Hắn khàn giọng, nói như gió lùa qua ngực rỗng "Tưởng đâu chết là xong, ai ngờ... em lại khóc."

Huỳnh Sơn nhìn hắn. Nhìn thật lâu. Đôi mắt vẫn sâu, vẫn đẹp như ngày nào, nhưng giờ trong đó không chỉ có trách móc, oán hận, mà còn có cả thương xót, thương cho một người lạc đường, dẫu có đi tới tận chân trời cũng không tìm được lối về.

"Anh sẽ không chết đâu," Chàng nói, giọng khẽ như gió mưa, "Người như anh, số khổ lắm nhưng chưa tới lúc chết. Cái tội của anh, tôi tha. Nhưng anh phải sống, sống cho tử tế."

Trời vẫn chưa tạnh. Mưa như cố ở lại thêm chút nữa để chứng kiến cái khoảnh khắc kỳ lạ ấy, nơi một người từng mất tất cả được trao lại một cơ hội sống, không bằng tiền bạc, không bằng chức vị, mà bằng lòng người.

...

Từ hôm Trần Anh Khoa trồi lên giữa đêm mưa gió, người ta bảo cuộc đời chàng Huỳnh Sơn lại rẽ thêm một nhánh nữa. Mà nhánh ấy kỳ lạ lắm, chàng  sống giữa hai người chồng, một thì khờ khạo, một thì nóng nảy, được cả hai nâng niu, yêu thương, chiều chuộng.

Từ ngày cả ba cùng sống chung, trong nhà quan tuần bên sông ngày nào cũng rộn tiếng cười tiếng ghen. Một người thì đi đánh giậm, về rửa chân cho vợ rồi nằm gối lên đùi chàng mà kể chuyện bắt cá. Một người thì ra ngồi trước sân đếm sổ thuế, miệng càm ràm nhưng tối đến vẫn lén xuống bếp sắc thuốc cho chàng uống. Còn chàng thì mặc áo gấm ngồi đánh đàn, rót trà, đưa mắt liếc ai cũng khiến người đó thấy như được mùa.

Rồi có năm ấy, hạn hán kéo dài, ruộng nứt như miệng rắn, ghe thuyền mắc kẹt giữa lòng sông khô. Thuế vẫn phải nộp, mà dân chẳng có chi ngoài thúng rỗng và mắt hõm sâu. Quan trên thì thúc, quan dưới thì lo. Cả vùng xôn xao. Chàng Huỳnh Sơn làm tuần ty mà chẳng buộc lòng nào thắt cổ dân mình.

Một đêm, khi cả nhà đã ngủ, chàng ngồi một mình bên án gỗ lim, mở rương gỗ cũ, nhìn đống vàng bạc của Vạn Lịch mà chàng và Thiên đã nhặt được trước kia, chúng vẫn nguyên vẹn như hôm nào. Những thỏi vàng ấy từng là sính lễ cưới chàng, từng đổi lấy vinh hoa, từng gây ra đổ vỡ. Giờ nằm im như giấc mộng không tan.

Chàng khẽ nói:

"Của này không phải của ta. Là tai họa người khác để lại. Giờ ta giữ, chẳng qua chỉ là giữ lỗi thay người mà thôi. Vậy thì ta đem chuộc phúc. Người giàu sang đổ xuống tay kẻ nghèo, thì tội kia mới nhẹ đi được."

Sáng hôm sau, Huỳnh Sơn dâng sớ lên triều, xin phép đem số vàng ấy đúc một loại tiền riêng. Chàng đặt tên nó là "Đồng tiền Vạn Lịch", không phải để vinh danh người đã chết nay được sống, mà để nhắc những kẻ còn sống rằng:

Có những đồng tiền từng mua được cả người, nhưng không giữ nổi trái tim.

Vua đọc sớ, cảm phục đức độ chàng, liền cho phép ngay.

Tiền Vạn Lịch được đem phân phát cho dân nghèo trong vùng. Nhà nào neo đơn, nhà nào mất mùa, nhà nào con cái đi làm chưa kịp gửi tiền về, đều được chàng cho người mang tới. Cứ vậy, mùa sau người ta lại thấy làng xóm đủ đầy hơn, tiếng cãi vã ít đi, tiếng trống làng lại vang lên trong lễ cưới, lễ đầy tháng, lễ dựng nhà mới.

Dân gian kể lại rằng những đồng tiền Vạn Lịch ấy, sau khi phát hết cho dân, đã theo người ta tản mát khắp vùng. Có người cất kỹ trong hộc tủ, có người bỏ lẫn với thóc giống, lại có kẻ đem theo khi rời làng đi tha hương. Rồi năm tháng qua đi, người mất, nhà đổ, chiến tranh lửa loạn, bao nhiêu thứ rơi xuống đất mà không ai hay.

Ngày nay, thi thoảng người ta vẫn còn đào được đồng "Vạn Lịch", coi như của quý, đem bọc gấm cất kỹ.

Lại có câu hát lưu truyền không biết từ đời nào, không biết đi đâu về đâu:

"Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng,

Anh tiếc công anh dan díu với chàng bấy lâu."

Mà người ta chẳng biết chắc cái câu ấy là nói về Vạn Lịch, hay là lời của cả thế gian từng mất đi một Huỳnh Sơn.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co