2.
Thỉnh thoảng người ta vẫn hay đoán trước được vận mệnh đời mình. Như tôi, năm mười tuổi rời Thăng Long vào Phú Xuân để gả cho vua Cảnh Thịnh mình chưa từng biết mặt, tôi đã ảo não nghĩ sau này không được về Thăng Long nữa. Dù Thăng Long với tôi chẳng có gì ngoài người mẹ là Chiêu nghi và mười năm thơ ấu, lòng tôi vẫn dùng dằng không muốn đi.
Dù không phải nhà, chốn kinh kỳ đó vẫn là quê.
Nghĩ đến trăm năm sau mình chỉ còn lại nắm tro tàn vùi sâu dưới lớp đất Phú Xuân, tôi bây giờ chẳng lấy gì làm ảo não; bởi ảo não chỉ nảy sinh lúc thất vọng, khi cơ hội vẫn còn. Tôi hiện tại tuy không bi quan nhưng cũng chẳng nghĩ được lý do để tiếp tục khát vọng tìm về quê hương. Mẹ mất trong những ngày li loạn, nhiễu nhương, thành xưa đó với tôi dường như không còn bao nhiêu ý nghĩa.
Thăng Long bây giờ chỉ nơi phó thác những hoài niệm. Hôm tôi ở Duyệt Thị Đường xem kịch cùng Ngài Ngự, Thái hậu cùng các hậu phi và một số đại thần ngoại quốc, gánh hát tình cờ lại diễn vở kịch tôi từng xem khi lên năm. Lúc ấy tôi ngồi trong lòng mẹ, loay hoay tới lui chỉ để tìm bóng dáng vua cha, không để ý vở diễn nói gì. Có điều khi giọng người trên sân khấu vút cao, câu thoại của người đó khiến tôi nhớ mãi.
"Nếu biết mình không hợp áo bào, sao mi còn mặc lấy?"
Tôi của năm tuổi bảo mẹ rằng mình không hợp xem kịch, thế có được bỏ về trước khi kịch hạ màn không. Mẹ tôi lặng lẽ lắc đầu. Cái lắc đầu đó hệt như cách con tạo khước từ mọi cầu xin khi tôi thầm thưa mình không hợp làm Hoàng hậu chủ quản hậu cung, không hợp làm cung phi, cũng không hợp sinh con đẻ cái. Nếu ngược về lúc chưa được sinh ra, phỏng tôi đã từng hỏi trời già: tôi không hợp để tồn tại, thế có phải sống hay không?
Trời hẳn là nhắm mắt và đáp ứng một nửa "yêu sách" đớn hèn của tôi.
*
* *
Ngọc Ngôn và Ngọc Khuê rất ưa ngồi để tôi vừa kể chuyện vừa tết tóc cho. Từ lúc có thêm Quân, chúng thích kéo nhau ra sưởi nắng cùng tôi và thằng bé. Những hôm nắng ráo, bốn mẹ con chúng tôi ngồi trước hiên. Tôi bế Quân, ve vuốt, gãi rôm dọc sống lưng nhỏ bé, Ngọc Khuê và Ngọc Ngôn ôm mặt chăm chú nghe tôi kể về đô thành Thăng Long ngày cũ. Thật ra thuở ấy tôi còn chưa đi hết một góc Hoàng thành. Phố phường nhộn nhịp đằng sau những cửa ô trăm năm, những đợt chùa trẩy hội, đêm hội hoa đăng sáng rực chân trời, thú đàn ca văn nhã lúc thảnh thơi... toàn bộ đều do cung tì, thị nữ truyền lời nhau kể lại.
Phồn hoa tôi quyến luyến một thời sau rốt cũng chỉ là mộng tưởng. Tựa như trong giấc mơ hôm trước, tôi thấy mình trở về Thăng Long, cùng Dung chèo thuyền trên hồ Tây hái sen. Giấc mơ khiến tôi nhớ về cành đào đất bắc Đức Tây Sơn Thái Tổ từng mang về cho Bắc Cung hoàng hậu. Cành đào ấy là ký ức đẹp nhất chị Ngọc Hân còn giữ đến kỳ nhắm mắt xuôi tay.
Mùa hạ ấy tôi đột nhiên da diết khát cầu một đóa sen gửi từ quê cũ. Nhưng quanh đi ngoảnh lại, mùa sen sắp qua mà tôi chỉ biết cười tự giễu, lần nữa gửi nỗi khắc khoải vào tiếng mưa rả rích trên mái ngói viện Thuận Huy.
Tháng bảy, bụng tôi lớn hơn, thế nhưng áo ngũ thân may hồi đầu xuân vẫn còn vừa vặn. Tôi hỏi Dung có sửa áo giúp không, em chỉ lắc đầu đưa gương soi cho tôi, mắt ầng ậng nước.
Soi không thấy mình trong đó, tôi thở dài cười cho qua chuyện.
Người đàn bà hai mươi lăm tuổi da mặt tái nhợt, hốc mắt trũng sâu, gò má trơ xương kia không phải công chúa Lê Ngọc Bình được mẹ tôi nâng niu, cũng không phải cung phi Lê Ngọc Bình mà Quang Toản từng bảo muốn gắn bó đến già. Tôi vẫn đinh ninh rằng bị lãng quên là việc đáng sợ, bởi vậy mà tám năm nay chưa bao giờ tôi thôi cố gắng khắc tạc những khuôn mặt cố nhân. Ngày ấy soi gương mới phát hiện, hóa ra nỗi bi ai lớn nhất đời người là tự lãng quên chính mình dù trí nhớ chưa lần mòn hao.
Ngược xuôi ngần ấy năm trường, ai cũng dần đánh mất bản thân của ngày đẹp nhất.
Tôi đột nhiên không quá xót thương hoàng hậu Tống Phúc thị nữa.
*
* *
Việc tôi nghĩ mình từng yêu Quang Toản cũng buồn cười như việc tôi nói mình nhớ Thăng Long song lại không muốn trở về vậy. Giả mà tôi đã từng yêu thật, đó cũng là chuyện của quá khứ rồi. Chiêu viên Lê thị hiện tại có tưởng đến y cũng chỉ quẩn quanh tự hỏi, liệu y có tha thứ cho quyết định của tôi hay không mà thôi. Hết lần này đến lần khác tôi dặn lòng là y sẽ, bởi đây gần như là bước đường mà y thay tôi xếp đặt: y muốn tôi sống bằng bất cứ giá nào.
Dẫu biết không có "nếu", tôi vẫn thầm ao ước ngày ấy Quang Toản bớt trù tính cho tôi đi. Tôi và y cùng ra Bắc Hà, chúng tôi có thể phải treo cổ thủ tiết như vợ chồng Quang Thùy ở ngoại thành Thăng Long. Nếu ngày đó nhìn thấu tương lai của tôi, lắm khi y đã nằng nặc kéo tôi cùng chạy ra bắc. Dù biết quyết định thế nào cũng có phần vị kỷ, nhưng cùng nhau chết tôi sẽ chẳng trách y, càng không phải âm thầm kêu gào tên y trong những đêm đau bệnh đến hôn mê như thế.
Tôi quá lạc lõng để nhớ tên một ai khác ngoài mẹ và Quang Toản. Nhưng mẹ đi xa rồi; còn Quang Toản, tôi vẫn ích kỷ cầu mong linh hồn y đang ngụ đâu đó ở đất Phú Xuân, sẽ đáp lời tôi khi tôi khẩn thiết xin được che chở. Cũng như những ngày tôi rời Thăng Long đến với Phú Xuân mờ bụi và nồng mùi thuốc súng, y là người duy nhất kiên nhẫn vỗ về tôi đêm đêm.
Giọng nói và bàn tay trẻ con ngày ấy tựa như cành đào đất bắc trong hồi ức của chị Ngọc Hân, có hương quê nhà, cũng có vị chát của nước mắt kẻ lãng lưu.
Chỉ hai, ba năm sau khi Quang Toản lên ngôi, Tây Sơn nội chiến gần như đến đỉnh điểm. Độ ấy y mới mười hai tuổi. Tôi gả cho y sau đó không lâu, cùng năm Cảnh Thịnh thứ ba. Thế lực Bùi Đắc Tuyên vừa được dẹp yên lại đến Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đối đầu nhau, khiến bao kẻ sĩ vong mạng oan uổng.
Quang Toản không thích hợp làm vua. Y nói lời ấy với tôi và còn nhiều điều khác về sự bất lực của mình trước cảnh tứ trụ đại thần tị hiềm lẫn nhau khi bọn tôi lén lút ra sông Hương câu cá. Tháng ba thiều quang rạng rỡ, trời lững thững những mây, tán cây soi bóng trong con nước lặng lờ xuôi chảy. Tôi thiếp đi trên cánh tay Quang Toản, bỏ quên những muộn phiền y vừa trút, thầm nghĩ "yên hoa tam nguyệt" mình từng đọc chắc cũng đến thế mà thôi.
Quả thật là như vậy. Những mùa xuân sau chúng tôi ngày càng trưởng thành. Quang Toản bận bịu chính sự, tôi cũng dần quen với việc không ai kề cạnh an ủi, quen loanh quanh dạo ở nội cung, chiều chiều lại đến thủy đình hóng mát. Tôi tảng lờ đi cuộc đao thương bên ngoài và những mưu tính, ám hại bên trong, thậm chí có chút chờ mong một ngày không xa sẽ được về trời nhờ tên bay đạn lạc.
Thảng hoặc ngắm nắng tháng ba rơi trên mái ngói cung điện Phú Xuân, tôi ngơ ngẩn thở dài. "Yên hoa tam nguyệt" ra cũng chỉ có thế.
Một năm sau cuộc tiến đánh Quảng Nam của Ngài Ngự vào năm Cảnh Thịnh thứ năm, mâu thuẫn nội bộ triều Tây Sơn dậy như sóng dữ. Nguyễn Bảo định hàng triều Nguyễn bị nhấn nước chết, Lê Trung bị buộc tội khởi mưu phải chịu cảnh chém đầu, thiếu phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết sau đó không lâu. Trong tứ trụ đại thần, Trần Quang Diệu sớm đã bị thu binh quyền, Nguyễn Văn Huấn chết vì gièm pha, khiến trung thần triều Tây Sơn ngày một nản chí. Quang Toản kể với tôi tất cả bằng nụ cười đầy ý vị. Trước tôi chẳng biết vì đâu y tin tưởng tôi, sau khi thấy nụ cười ấy rồi tôi mới hiểu rõ một hai.
Nhà Lê vong, Quang Trung băng hà, chị Ngọc Hân mất hết quyền lực phải đưa con đến sống ở chùa Kim Tiền. Tôi ở cung điện Phú Xuân, nhỏ nhoi và cô lẻ, xung quanh toàn là người của Tây Sơn nên chẳng khác nào bị giam hãm. Chỉ một câu khai tử của y, ngay đến nửa lời tôi cũng khó lòng loan ra.
Cũng may y chỉ dừng ở cái cười đầy đe dọa. Quang Toản tự nhận nhu nhược nhưng chưa từng nói mình sẽ thuần lương, cao khiết như nắng tháng ba. Y có thể không kìm hãm được bọn lộng quyền nhưng việc cơ bản nhất là giữ kín quốc sự y vẫn thừa khả năng.
Tôi khi ấy rất muốn nghĩ do y tin mình nên mới chia sẻ việc nước với một người con gái suốt ngày vùi chân trong cung cấm, vậy mà cuối cùng vẫn không tự thuyết phục được bản thân. Chẳng biết là may mắn hay bất hạnh, sự tỉnh táo khi ấy đã ngăn tôi lao vào tình yêu như con thiêu thân. Có lẽ với tôi của thuở thiếu thời, đó là may mắn; còn tôi của hiện tại lại tiếc nuối không thôi. Tôi thừa hiểu mình chẳng còn bao nhiêu thời gian nữa. Sống ngần ấy năm không được ai lưu luyến cũng chẳng lưu luyến ai, đó là thất bại buồn cười, cũng là lãng phí rất lớn.
Ngẫm nghĩ, tôi lại thơ thẩn nhếch khóe môi. Quang Toản bảo tôi lớn chậm, khờ khạo cũng không phải không có lý. Chẳng nói đâu xa, chỉ so với hậu phi của Ngài Ngự, tôi rõ là kẻ thiếu khôn ngoan thừa tuổi tác, càng già càng ưa nhớ chuyện hồi con trẻ.
Đong ngày đếm tháng, hóa ra chỉ gom được bấy nhiêu để hoài niệm. Không thể trách cuộc đời ngắn dài, chỉ trách qua bể cả nương dâu rồi tôi lại níu không nổi hồi ức. Dù có sống thêm mười năm tôi cũng không phải là tôi thực, mà là một chiếc áo rỗng biết đi. Xưa nay thân bất do kỷ không phải chuyện hiếm.
Quang Toản có từng yêu tôi hay không, tôi chẳng biết. Chỉ nhớ vào cái đêm chúng tôi thực sự nên nghĩa phu thê, y từng để tôi gối đầu lên tay mình và hỏi tôi muốn làm gì nhất. Tôi lúc ấy bảo nhớ Thăng Long quá, muốn về thắp hương cho mẹ. Tôi muốn ba mươi ra Hoàng thành xem đốt pháo, Nguyên Tiêu thì vừa uống chè đặc vừa đọc thơ dưới trăng tròn. Tháng ba ngắm hoa gạo, hoa xoan, đến Thanh Minh thì đi tảo mộ. Tháng tư thả diều, tháng năm tự gói bánh ăn Đoan Ngọ, tháng sáu ăn hết lựu, nhãn, vải, chèo thuyền hái sen ở hồ Tây, xem người ta ướp chè trong những búp sen hồng nõn. Tháng bảy đi câu, ra vườn hái măng về hầm, ăn thêm một bát chè nhãn nhục hạt sen thanh dịu để xua bớt cơn nhiệt cuối mùa. Đêm rằm tháng tám dạo phố chợ chơi Trung Thu, chờ đến tháng chín lại ra ngoài Hoàng thành thăm hồ Tả vọng. Từ tháng mười trốn miết ở nhà sưởi than, hoặc cuộn người trong chăn tránh rét, hoặc xiên lũ muồm muỗm thành một xâu rồi mang đi nướng ăn, đồ một chõ xôi ăn với cá kho khô trong niêu đất.
Quang Toản bảo sau này thỉnh thoảng y sẽ đưa tôi thăm thú khắp Bắc Hà, lại ghé về Thăng Long dăm hôm. Tôi cười to, bảo tin ai chứ chẳng tin y được. Y thừa biết thế, cũng chẳng có vẻ tin mình. Chúng tôi chỉ nhìn nhau cười, cười đến khi nước mắt tôi ướt gối.
Thứ sót lại trong ký ức của tôi về đêm đó, ngoài những lời hứa hẹn đầy tuyệt vọng chỉ có một màu xám xịt tang thương. Hoàng cung Phú Xuân im lìm, sự sống tựa hồ chôn sâu dưới tro tàn, biết đâu chừng ngày mai sẽ rã rượi, tan hoang theo dấu chân những toán lính công thành và quân Tây Sơn rời thành thủ mạng.
Dù đã trù sẵn kết cục, những thứ ập đến sau tháng năm năm Bảo Hưng nguyên niên vẫn khiến tất thảy trong tôi như nắng Phú Xuân sau trận mưa rào, rơi giòn trên mái ngói lưu ly, vỡ tan hay vẹn lành cũng mông lung như ảo mộng.
*
* *
Tôi vươn vai, đưa tay xoa bả vai đã mỏi, đánh mắt ra vạt nắng ngoài sân. Giờ này hẳn đã quá ngọ rồi, cả viện Thuận Huy im ắng, chỉ nghe sợi gió thu sượt qua khe hoa văn trên cửa sổ. Tiếng con trẻ không còn vẳng bên tai, người tôi hốt nhiên buồn buồn, chán ngắt. Ngóng con mãi tôi mới sực nhớ, bèn hỏi Dung:
- Ba đứa ngủ cả rồi à?
- Dạ bẩm, vâng ạ. - Dung phe phẩy quạt cho tôi, hàm răng đen nhánh thấp thoáng sau cái cười mỉm - Giờ đã qua đầu giờ mùi rồi, bà nghỉ tay để em hầu bà nghỉ trưa.
Tôi không vội đáp lời Dung, chỉ mân mê món đồ trên tay. Ngọc Ngôn vòi tôi khâu túi tiền cho con bé, Ngọc Khuê thấy thế cũng làm nũng xin xỏ. Mang thai nhàn hạ đến chán, tôi bèn khâu cho chúng mỗi đứa một chiếc, chẳng biết vì sao càng khâu càng nhiều, quên cả giờ giấc. Vừa túi tiền, vừa khăn tay và túi hương, tôi khâu như thể làm của để dành cho con dù những thứ đấy đều có kẻ dưới lo liệu. Cũng bởi giờ đây, tôi mơ hồ nhận ra mình chẳng còn bao nhiêu thời gian ở bên cạnh con. Nếu không thể chăm chúng tới mai sau, tôi muốn nhân lúc chưa yếu quá làm sẵn thứ gì cho con mình. Thực tâm tôi không nề hà con trẻ chê những món đấy xấu hơn đồ của thợ thêu may. Chúng có thể gọi đấy là quà hoặc có thể kể như di vật từ người mẹ vắn số, miễn sao chúng nhận lấy, đặt đâu đó gần nơi mình sống để tôi được bên con cả đời.
Vốn tự nhủ lòng không nên xót xa sớm, tôi vẫn ủ rũ thất thần, không tài nào thêu nốt cánh xoan dang dở. Tôi chán chường đặt cả xuống, theo thói quen tựa lưng lên gối xếp. Một tay tôi nhẹ nhàng vuốt ve bụng, thầm nghĩ việc cuối cùng mình phải làm sau khi vượt cạn là gửi gắm chúng cho một người đáng tin, cậy người ta trông nom đến lớn.
Có điều, chắc gì tôi đã đợi được đến ngày con chào đời? Và không có thân mẫu cận kề, chắc gì con tôi an khang đến ngày trưởng thành.
- Ngủ thôi, bà ạ.
Khi tôi đương sầu não, Dung đứng cạnh sập chắn hướng ánh sáng, nài nỉ tôi nên nghỉ trưa. Tôi gật đầu. Ngủ một giấc và mơ thấy những điều tốt đẹp, biết đâu chừng tôi không còn quá bi quan hay thiếu sức sống.
Buổi trưa hôm ấy tôi chập chờn trong vài lần mộng mị. Mùi mưa đầu thu hóa thành mùi của nước mắt, vị mặn đắng in hằn nơi chót lưỡi. Mái ngói mờ rêu không biết của viện Thuận Huy hay Thăng Long ngày xưa bốc cháy ngùn ngụt, mà thứ châm ngòi chỉ là một vạt nắng gắt giòn của đất Phú Xuân.
Bóng người ẩn hiện chốn khói lửa mịt mù, một bàn tay đưa ra, rồi cả vòng tay ôm lấy tôi âu yếm, vỗ về. Ngẩng đầu, ngắm hoa gạo đỏ đến mải mê, một góc trời đượm mùi Thăng Long tôi hằng mong nhớ, và nắng tháng ba thuở thịnh Đường dịu dàng đậu trong đôi mắt có ánh nhìn xa xăm.
_____
Chú thích
[1] Yên hoa tam nguyệt: Lấy từ câu thơ "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" của Lý Bạch trong bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng.
Mình chú ý và sử dụng ý thơ này khi đọc "Tháng ba" trong tập thơ "Tấm" của tam. Cảm ơn bạn nhiều lắm! ^-^
Nguồn tư liệu
Phần này có nhắc đến một số mốc thời gian và các chi tiết về nếp sống trong Tử Cấm thành Huế, mình tham khảo ở Wikipedia và đối chiếu với các nguồn:
- Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim).
- Sử ta chuyện xưa kể lại (quyển 3 & 4).
- Đời sống cung đình triều Nguyễn (Tôn Thất Bình).
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co