Truyen3h.Co

Hãng Luật

2

TcKhng039

10

Thứ Bảy, sau cuộc thi lấy chứng chỉ, Mitch tránh văn phòng và ngôi nhà của anh, dành nguyên buổi sáng cho việc đào xới các luống hoa và chờ đợi. Việc tân trang đã hoàn thành, ngôi nhà nay đã trông tươm tất, và dĩ nhiên những khách thăm đầu tiên phải là cha mẹ của cô ấy. Abby đã lau dọn và đánh bóng suốt một tuần, và nay đã đến lúc. Cô hứa họ sẽ không ở lại lâu, chỉ vài giờ là cùng. Anh hứa sẽ cố gắng tử tế.

Mitch đã rửa và đánh bóng cả hai chiếc xe mới, và nay chúng trông như thể vừa rời khỏi nhà triển lãm. Thảm cỏ đã được tỉa tót bởi một cậu bé sống ở cuối đường, ông Rice đã bón phân được một tháng và nay nó trông như thảm cỏ sân golf vậy, như cách ông ta hay nói.

Họ đến vào buổi trưa và anh miễn cưỡng bước ra khỏi các luống hoa. Anh mỉm cười đón tiếp họ rồi xin cáo lui để tắm rửa. Anh biết họ không được thoải mái, nhưng anh muốn như thế. Anh tắm táp rất lâu trong khi Abby đưa họ đi xem từng món đồ nội thất, từng xentimét giấy dán tường. Những thứ này gây ấn tượng cho ông bà

Sutherland. Những thứ tủn mủn luôn gây ấn tượng cho họ.

Họ chỉ chăm chú vào những thứ người khác có hoặc không có. Ông ta là chủ tịch một ngân hàng nhỏ cấp hạt mà từ mười năm qua đã ở trên bờ vực phá sản. Bà ta thì quá kiêu hãnh để đi làm nên đã dành toàn bộ cuộc đời trưởng thành của mình cho việc tìm kiếm sự thăng tiến xã hội trong một thị trấn không có cơ hội nào cho sự thăng tiến ấy. Bà ta đã truy ra được rằng tổ tiên của bà có dính líu đến hoàng tộc của một quốc gia cổ đại nào đó, và điều này hẳn là gây ấn tượng cho các thợ mỏ ở Danesboro, Kentucky. Với quá nhiều sự quý phái như thế trong huyết quản, bà thấy bổn phận của mình là không làm ăn gì cả mà chỉ ngồi uống trà, chơi bài bridge, nói về chuyện tiền bạc của chồng, lên án những người kém may mắn hơn và làm việc không biết mệt mỏi cho Câu lạc bộ Làm vườn. Ông ta là một người trịnh trọng và thủ cựu, luôn nhảy dựng lên mỗi khi bà ta sủa và luôn sống trong nỗi sợ hãi vĩnh hằng là làm cho bà ta nổi đóa. Như thể có thông đồng với nhau, họ không ngừng thúc ép cô con gái của họ phải đạt thành tựu tốt nhất kể từ khi lọt lòng, nhưng quan trọng hơn cả là phải lấy được một tấm chồng tốt nhất. Con gái của họ đã nổi loạn và kết hôn với một thằng nhóc nhà nghèo không gia đình, chỉ có một bà mẹ điên và một người anh tội phạm.

"Cậu có một ngôi nhà đẹp đấy, Mitch," ông Sutherland nói trong nỗ lực phá băng. Họ ngồi vào bàn ăn trưa và bắt đầu chuyền đĩa cho nhau.

"Cảm ơn ông."

Không một lời nào khác, chỉ cảm ơn thôi. Anh tập trung vào các món ăn. Sẽ không có một nụ cười của anh trong bữa trưa. Anh càng ít nói bao nhiêu thì họ sẽ càng lúng túng bấy nhiêu. Anh muốn họ phải lúng túng, phải thấy mình có lỗi, mình sai trái. Anh muốn họ phải đổ mồ hôi, đổ cả máu nữa. Tẩy chay đám cưới là quyết định của họ. Đó là cái nhân họ đã gieo, đâu phải do anh gieo.

"Mọi thứ đều đáng yêu," mẹ của cô buột miệng, hướng về phía anh. "Cảm ơn."

"Chúng con rất tự hào về nó, mẹ ạ," Abby nói.

Cuộc trò chuyện lập tức xoay sang việc tân trang. Cánh đàn ông im lặng ăn trong khi cánh phụ nữ huyên thuyên suốt về việc những gì mà nhà trang trí đã làm cho phòng này hay phòng nọ. Có những lúc Abby hầu như tuyệt vọng, chẳng biết phải làm sao để lấp đầy bằng những lời nói về bất cứ điều gì thoảng qua đầu. Mitch hầu như thương xót cho cô, nhưng anh vẫn không rời mắt khỏi chiếc bàn. Con dao cắt bơ không thể cắt được sự căng thẳng.

"Vậy là con đã tìm được việc làm?" Bà Sutherland hỏi.

"Vâng. Con đã đi làm được một tuần kể từ thứ Hai. Con dạy lớp ba tại trường St. Andrew's Episcopal."

"Dạy học chẳng được bao nhiên tiền," cha của cô buột miệng. Lão này thật hết chỗ nói, Mitch nghĩ.

"Con không quan tâm đến tiền bạc, ba ạ. Con là giáo viên mà. Với con, đó là một nghề quan trọng nhất trần đời. Nếu con muốn tiền bạc thì con đã vào trường y rồi."

"Lớp ba," mẹ của cô lên tiếng. "Một độ tuổi thật dễ thương. Chẳng mấy chốc con sẽ muốn sinh con cho coi."

Mitch nghĩ rằng nếu có thứ gì đó thu hút được mấy người này đến Memphis một cách thường xuyên thì đó hẳn phải là đứa cháu ngoại. Và anh quyết định sẽ chờ thêm một thời gian dài nữa. Anh chưa từng bao giờ quanh quẩn bên đám con nít. Anh không có đứa cháu trai hay cháu gái nào, có lẽ chỉ ngoại trừ vài đứa nhóc không biết mặt mà Ray đã rải khắp đất nước. Và trong anh không phát triển một tình cảm thương mến nào đối với trẻ con.

"Chắc phải vài năm nữa, mẹ ạ."

Có lẽ sau khi mấy người chết quách đi, Mitch nghĩ.

"Cậu muốn có con phải không, Mitch?" mẹ vợ của anh hỏi.

"Chắc phải vài năm nữa."

Ông Sutherland đẩy chiếc đĩa ra và châm điếu thuốc lá. Vấn đề hút thuốc đã được thảo luận đi thảo luận lại trong những ngày trước cuộc viếng thăm. Mitch muốn cấm tuyệt đối việc hút thuốc trong ngôi nhà của anh, đặc biệt là với mấy người này. Họ tranh cãi kịch liệt và Abby đã thắng.

"Cuộc thi lấy chứng chỉ luật sư ra sao rồi?" ông bố vợ hỏi. Sắp thú vị rồi đây, Mitch nghĩ. "Gian nan," anh nói. Abby căng thẳng nhai thức ăn.

"Cậu nghĩ có vượt qua được không?"

"Hy vọng là được."

"Bao giờ thì cậu biết kết quả?"

"Sau bốn đến sáu tuần."

"Nó kéo dài bao lâu?"

"Bốn ngày."

"Từ khi chúng con dọn về đây, anh ấy chẳng làm gì cả ngoài việc học hành và đi làm. Mùa hè rồi con chẳng mấy khi gặp anh ấy," Abby nói.

Mitch mỉm cười với vợ. Thời gian vắng nhà là một chủ đề nhức nhối, và thật là thú vị khi nghe cô hóa giải nó.

"Chuyện gì xảy ra nếu cậu không vượt qua nó?" cha của cô hỏi.

"Tôi không biết. Tôi chưa từng nghĩ về điều đó."

"Nếu cậu vượt qua thì họ có cho cậu thăng chức không?"

Mitch quyết định phải tử tế như đã hứa. Nhưng chuyện này thật khó. "Vâng, sẽ có sự thăng tiến tốt và một khoản thưởng tốt."

"Hãng có bao nhiêu luật sư vậy?"

"Bốn mươi."

"Chúa ơi," bà Sutherland thốt lên. Bà châm điếu thuốc của mình. "Ở hạt Dane cũng không có nhiều như thế."

"Văn phòng của cậu ở đâu?" ông hỏi.

"Khu thương mại."

"Chúng tôi đi xem có được không?" bà hỏi.

"Để lúc khác đi. Nó không mở cửa cho khách tham quan vào thứ Bảy." Mitch thấy buồn cười với câu trả lời của anh. Không mở cửa với khách tham quan. Cứ như là một bảo tàng vậy. Abby linh cảm tai

họa. Cô bắt đầu nói về ngôi nhà thờ mà cô và chồng vừa gia nhập. Nó có bốn ngàn thành viên, một phòng thể dục và một sân bowling. Cô hát trong dàn hợp xướng và dạy hát cho những đứa bé tám tuổi trong trường học ngày Chủ nhật.

Mitch đến đó khi anh không bận việc, nhưng anh thường làm việc trong phần lớn các ngày Chủ nhật.

"Ba rất vui khi con xem nhà thờ như mái nhà của mình, Abby ạ," cha của cô nói với vẻ đầy sùng kính. Suốt nhiều năm qua, ông dẫn lễ mỗi Chủ nhật tại Nhà thờ thứ nhất của giáo hội Giám lý ở Danesboro, và sáu ngày còn lại thì ông thực hành không ngơi nghỉ thói tham lam và sự thao túng. Ông còn đều đặn nhưng kín kẽ theo đuổi rượu whiskey và phụ nữ.

Một sự im lặng bối rối đã diễn ra khi cuộc trò chuyện đi đến một điểm dừng. Ông châm thêm một điếu nữa. Cứ tiếp tục hút đi, lão già. Mitch nghĩ. Cứ mà hút tiếp đi.

"Ta dùng tráng miệng ngoài hàng hiên nhé," Abby nói và bắt đầu dọn bàn.

Họ tán dương tài làm vườn của anh, và anh chấp nhận những lời khen. Cũng cái cậu nhóc ở cuối đường đã tỉa cây, nhổ cỏ dại, xén hàng dậu và viền mép hàng hiên. Mitch chỉ thành thạo trong việc bứt cỏ dại và hốt phân chó. Anh cũng có thể vận hành chiếc máy xén cỏ, nhưng thường nhường việc đó cho ông Rice.

Abby phục vụ món bánh dâu và cà phê. Cô bất lực nhìn chồng, nhưng anh tỏ ra không khoan nhượng.

"Cậu có một ngôi nhà thực sự đẹp đấy," cha của cô nói phải đến lần thứ ba khi ông ngắm nghía khoảnh sân sau. Mitch có thể cảm nhận bộ não của ông đang làm việc. Ông đo đạc ngôi nhà và diện tích phụ cận, và sự hiếu kỳ đang trở nên không thể nào chịu đựng nổi. Chết tiệt, cái nhà này trị giá bao nhiêu? Đó là điều ông muốn biết. Tiền cọc là bao nhiêu? Trả góp là bao nhiêu mỗi tháng? Tất tật mọi thứ. Ông sẽ còn tiếp tục dọ dẫm cho đến khi giải được các thắc mắc này.

"Ngôi nhà thật đáng yêu," mẹ của cô nói dễ đến lần thứ mười. "Nó được xây khi nào vậy?" cha cô hỏi.

Mitch đặt chiếc đĩa của anh lên bàn rồi hắng giọng. Anh có thể cảm thấy điều đó đang đến.

"Nó được khoảng mười lăm năm tuổi," anh đáp.

"Bao nhiêu mét vuông?"

"Khoảng hai trăm tám mươi," Abby bồn chồn đáp.

Mitch trừng trừng nhìn cô. Sự điềm đạm của anh đang tan biến. "Ngôi nhà thật đáng yêu" mẹ của cô tuyệt vọng bổ sung. "Vay mới hay mua?" cha của cô hỏi như thể ông đang phỏng vấn một người xin vay với thế chấp yếu.

"Vay mới." Mitch nói rồi chờ đợi.

Abby cũng chờ đợi và cầu nguyện. Ông ta thì không chờ, không thể chờ. "Cậu trả bao nhiêu cho nó?"

Mitch hít một hơi sâu, chuẩn bị nói "Đủ lắm rồi." Nhưng Abby đã nhanh hơn. "Chúng con không trả nhiều, ba ạ." cô cứng cỏi nói cùng

một cái chau mày. "Chúng con có thừa khả năng để giải quyết chuyện tiền bạc."

Mitch cắn lưỡi, cố rặn một nụ cười.

Bà Sutherland đứng dậy. "Ta đi một vòng được không? Tôi muốn xem con sông và cái kim tự tháp lớn mà họ xây cạnh đó. Được không, Harold?"

Harold muốn có thêm thông tin về ngôi nhà, nhưng vợ ông lại đang kéo tay ông.

"Ý hay đấy." Abby nói.

Họ leo vào chiếc BMW mới coóng, rồi lên đường ngắm sông. Abby yêu cầu họ không hút thuốc trong xe mới. Mitch im lặng lái, cố tỏ ra tử tế.

11

Nina hấp tấp bước vào văn phòng, ôm theo xấp giấy tờ.

Bà đặt nó trước mặt sếp.

"Tôi cần chữ ký," bà nói rồi chìa cho anh chiếc bút của chính anh. "Mấy thứ này là gì?" Mitch hỏi trong lúc anh ngoan ngoãn ký tên mình.

"Đừng hỏi. Chỉ cần tin vào tôi là được."

"Tôi thấy có một từ sai chính tả trong bản thỏa thuận Landmark Partners."

"Đó là do máy tính."

"Vậy thì sửa lại cái máy tính đi."

"Tối nay ông về muộn cỡ nào?"

Mitch đọc lướt qua các tài liệu rồi ký vào từng cái. "Tôi không biết. Sao vậy?"

"Trông ông mệt mỏi lắm. Sao ông không về sớm nghỉ ngơi đi, khoảng mười giờ mười rưỡi gì đó. Mắt ông bắt đầu trông như mắt của Nathan Locke rồi đó."

"Vui nhỉ."

"Vợ ông gọi đó."

"Một phút nữa tôi gọi lại cho cô ta."

Khi anh ký xong, bà sốc lại các thư tín và tài liệu. "Năm giờ rồi, tôi về đây. Oliver Lambert đang chờ ông trong thư viện tầng một đấy."

"Oliver Lambert? Chờ tôi?"

"Ông ta nói vậy mà. Ông ta mới gọi đến cách đây chưa đầy năm phút. Bảo là có chuyện rất quan trọng."

Mitch chỉnh lại cà vạt rồi chạy ra hành lang, chạy xuống cầu thang, sau đó thong thả bước vào thư viện. Lambert, Avery và hình như hầu hết các đối tác đang ngồi quanh chiếc bàn họp. Toàn bộ các cộng sự cũng hiện diện, đứng sau các đối tác. Chiếc ghế đầu bàn được bỏ trống và đang chờ đợi. Căn phòng im phăng phắc, hầu như long trọng. Không có nụ cười nào. Lamar ở ngay sát bên, nhưng từ chối nhìn anh. Avery trông bẽn lẽn, kiểu như ngượng ngùng. Wally Hudson vân vê chiếc cà vạt nơ của ông và chầm chậm lắc đầu.

"Ngồi xuống đi, Mitch," ông Lambert nghiêm trọng nói. "Chúng tôi có chuyện phải thảo luận với anh."

Doug Turney khép cửa lại. Anh ngồi xuống, cố tìm một dấu hiệu trấn an dẫu nhỏ nhất. Không hề có. Các đối tác xoay ghế của họ hướng về anh, trong quá trình đó cũng xúm xít vào nhau. Các cộng sự quây quanh anh và nhìn xuống.

"Có chuyện gì vậy?" anh nhu mì hỏi, tuyệt vọng nhìn Avery. Những giọt mồ hôi nhỏ túa ra từ chân mày của anh. Tim anh giọng

như búa tạ. Anh thở nặng nhọc.

Oliver Lambert chồm qua mép bàn rồi tháo cặp kính lão. Ông chân thật chau mày như thể điều sắp nói sẽ gây ra đau đớn. "Chúng tôi vừa nhận một cuộc gọi từ Nasville, Mitch ạ, và chúng tôi muốn thảo luận với anh về cuộc gọi đó."

Cuộc thi lấy chứng chỉ. Cuộc thi lấy chứng chỉ. Cuộc thi lấy chứng chỉ. Lịch sử đã sang trang. Cuối cùng, một cộng sự của hãng Bendini tuyệt vời cũng đã trượt cuộc thi lấy chứng chỉ. Anh trừng trừng nhìn Avery, chỉ muốn hét lên, "Tất cả là lỗi tại ông!" Như thể đang bị nhức đầu, Avery véo cặp chân mày, cố tránh việc tiếp xúc bằng mắt. Lambert nhìn các đối tác khác đầy ngờ vực rồi quay sang McDeere. "Chúng tôi đã từng e ngại điều đó xảy ra, Mitch ạ."

Anh muốn nói, muốn trình bày rằng anh xứng đáng được cho thêm cơ hội, dẫu chỉ một lần duy nhất nữa. Cuộc thi đó sẽ được mở lại trong sáu tháng nữa và anh sẽ đứng đầu, anh sẽ không khiến cho họ phải bối rối thêm một lần nào nữa. Một cơn đau nhói chợt bột phát dưới thắt lưng.

"Vâng, thưa ông." anh nhũn nhặn nói trong thất bại.

Lambert bước vào cuộc tàn sát. "Chúng tôi không nhất thiết phải được thông báo điều này, nhưng đám người ở Nasville đã cho chúng ta biết anh đã đạt điểm cao nhất trong cuộc thi lấy chứng chỉ. Xin chúc mừng, luật sư."

Căn phòng bùng nổ tiếng cười và tiếng chúc mừng. Họ bu quanh anh, bắt tay anh, vỗ vai anh, cười cợt với anh. Avery lao đến với một

chiếc khăn tay mà ông dùng để chùi trán. Kendall Mahan giộng ba chai sâm banh lên bàn rồi bắt đầu cho nổ các nút bần. Một tua sâm banh được rót ra trong những chiếc ly nhựa. Cuối cùng, anh thở phào và toe toét. Anh nốc cạn ly sâm banh, và họ rót cho anh thêm một ly nữa.

Oliver Lambert nhẹ nhàng choàng tay quanh cổ của Mitch. "Mitch, chúng tôi rất tự hào về anh. Việc này xứng đáng một phần thưởng nho nhỏ. Tôi đang cầm theo đây một tấm séc của hãng trị giá hai ngàn đô la và tôi muốn trao cho anh như một sự tưởng thưởng nhỏ cho thành tựu này."

Có những tiếng huýt sáo và chép miệng.

"Dĩ nhiên đây là phần thưởng cộng thêm vào khoản nâng lương đáng kể mà anh vừa giành được."

Thêm những tiếng huýt sáo và chép miệng. Mitch cầm tấm séc mà không màng nhìn nó.

Ông Lambert đưa tay lên, yêu cầu giữ im lặng. "Nhân danh hãng, tôi muốn cho anh thấy cái này." Lamar trao cho ông một chiếc gói giấy nâu. Ông mở gói ra rồi vứt nó lên bàn.

"Đây là tấm biển đồng mà chúng tôi đã chuẩn bị sẵn cho ngày này. Như quý vị thấy, đó là bản sao một món văn phòng phẩm của hãng, hoàn tất bởi tất cả những cái tên. Như quý vị cũng đã thấy, cái tên Mitchell Y. McDeere đã được thêm vào phần tiêu đề."

Mitch đứng dậy, bối rối nhận phần thưởng. Sắc khí đã trở lại khuôn mặt anh, và rượu sâm banh cũng bắt đầu ngon. "Cảm ơn."

anh lí nhí nói.

Ba ngày sau, báo Memphis công bố tên các luật sư đã vượt qua cuộc thi lấy chứng chỉ. Abby cắt bài báo ra để đưa vào cuốn sổ lưu niệm rồi gửi các bản sao đến cha mẹ cô và Ray.

Mitch đã phát hiện một quán ăn ngon cách tòa nhà Bendini ba dãy phố, giữa đường Front và đường Riverside Drive, cạnh bờ sông. Nó là một nơi nhỏ bé chẳng mấy ai biết đến với rất ít thực khách và với món bánh mì xúc xích cay béo ngậy. Anh thích nó vì anh có thể lẻn ra ngoài và đọc soát một tài liệu trong khi ăn tại đó. Giờ thì anh đã là một cộng sự đang lên, anh có thể ăn bánh mì xúc xích vào buổi trưa và ghi hóa đơn một trăm năm mươi đô la mỗi giờ.

Một tuần sau khi tên anh được lên báo, anh ngồi một mình tại chiếc bàn ở phía đuôi quán ngon, ăn món xúc xích cay bằng chiếc nĩa. Quán trống trơn. Anh đọc bản cáo bạch dày hai phân rưỡi. Ông chủ quán người Hy Lạp đang gà gật ngủ phía sau quầy thu ngân.

Một người lạ đến gần bàn anh rồi dừng lại cách vài tấc. Anh ta lấy ra một thanh Juicy Fruit, cố gây càng nhiều tiếng ồn càng tốt. Khi nhận ra mình không được để ý, anh ta bước đến bàn của Mitch và ngồi xuống. Mitch nhìn qua phía bên kia tấm khăn trải bàn kẻ ô đỏ rồi đặt tập tài liệu xuống cạnh tách trà đá.

"Tôi có thể giúp được gì cho anh?" anh hỏi.

Người lạ liếc nhìn quầy thu ngân, nhìn những chiếc bàn trống rồi nhìn ra sau lưng. "Anh là McDeere phải không?"

Đó là một thứ tiếng Anh giàu âm điệu, rõ ràng là của người

Brooklyn. Mitch chăm chú nhìn anh ta. Anh ta trạc bốn mươi tuổi, tóc húi cua ở hai bên theo kiểu cách quân sự, một mớ tóc bạc xõa xuống gần chân mày. Bộ vest của anh ta là loại ba mảnh màu xanh dương, ít nhất chín mươi phần trăm là polyester. Cà vạt loại giả-lụa rẻ tiền. Anh ta không phải là người ăn mặc sành điệu, nhưng vẫn có sự tề chỉnh nhất định. Và cả cái vẻ ngạo mạn nữa.

"Phải. Anh là ai?" Mitch hỏi.

Anh ta thò tay vào túi và rút ra tấm huy hiệu. "Tarrance, Wayne Tarrance, đặc vụ FBI," anh ta nhướn mày rồi chờ đợi phản ứng. "Mời ngồi," Mitch nói.

"Xin phép nhé."

"Anh muốn khám xét tôi à?."

"Chưa đâu. Tôi chỉ muốn gặp anh thôi. Tôi thấy tên anh trên báo và nghe nói anh là người mới của Bendini, Lambert & Locke."

"Tại sao FBI lại quan tâm chuyện đó?"

"Chúng tôi đang theo dõi hãng này rất sát sao."

Mitch mất sự quan tâm đối với món bánh mì xúc xích cay. Anh đẩy chiếc đĩa ra giữa bàn, rót thêm chất làm ngọt vào chiếc tách Styrofoam lớn.

"Anh muốn uống gì không?"

"Không, cảm ơn."

"Tại sao anh phải theo dõi hãng Bendini?"

Tarrance mỉm cười nhìn về phía ông chủ quán Hy Lạp. "Hiện thời thì tôi không thể nói gì cả. Chúng tôi có những lý do của chúng tôi,

nhưng tôi không đến đây để nói về chuyện đó. Tôi đến để gặp anh và cảnh báo cho anh."

"Cảnh báo cho tôi?"

"Đúng, cảnh báo cho anh về hãng này."

"Tôi nghe đây."

"Có ba điều. Thứ nhất, đừng tin ai cả. Anh không thể tin bất cứ một người nào trong cái hãng này. Hãy nhớ lấy điều đó. Sau này cảnh báo đó sẽ trở nên quan trọng. Thứ hai, từng lời anh thốt ra, dù là ở nhà, ở văn phòng hay ở bất cứ nơi đâu trong tòa nhà, đều có khả năng bị nghe lén. Họ thậm chí có thể nghe lén trong xe của anh nữa đấy."

Mitch nhìn và lắng nghe chăm chú. Tarrance khoan khoái về sự chăm chú đó.

"Còn điều thứ ba?" Mitch hỏi.

"Điều thứ ba là tiền không mọc ra từ trên cây."

"Anh nói rõ hơn có được không?"

"Tạm thời thì không. Tôi nghĩ anh và tôi sẽ trở nên rất thân thiết. Tôi muốn anh tin tôi, và tôi biết tôi phải giành được sự tin tưởng của anh. Cho nên tôi không muốn đi quá nhanh. Chúng ta không thể gặp nhau trong văn phòng của anh hay văn phòng của tôi, và chúng ta không thể nói chuyện với nhau qua điện thoại. Cho nên thi thoảng tôi sẽ đến tìm anh. Trong khi chờ đợi, chỉ cần anh nhớ ba điều trên và giữ thận trọng."

Tarrance đứng dậy móc bóp. "Đây là danh thiếp của tôi. Điện

thoại nhà của tôi có ghi ở mặt sau. Hãy chỉ sử dụng nó qua điện thoại trả tiền."

Mitch nghiên cứu tấm danh thiếp. "Tại sao tôi phải gọi cho anh?"

"Anh không cần phải gọi trong một thời gian nữa, nhưng cứ giữ lấy nó đi."

Mitch bỏ nó vào túi áo.

"Còn một chuyện này nữa." Tarrance nói. "Chúng tôi đã thấy anh trong lễ tang của Hodge và Kozinski. Buồn, thực sự là buồn. Cái chết của họ không phải do tai nạn đâu." Với cả hai tay đút túi, anh ta nhìn xuống Mitch và mỉm cười.

"Tôi không hiểu."

Tarrance dợm bước ra cửa. "Lúc nào đó hãy gọi cho tôi, nhưng hãy cẩn thận. Nhớ đấy, họ đang nghe lén."

Vài phút sau bốn giờ, tiếng còi xe cất lên và Dutch bật dậy. Ông chửi đổng rồi bước đến trước ngọn đèn pha.

"Chết tiệt, Mitch. Mới có bốn giờ sáng. Anh đến đây làm gì vậy?"

"Xin lỗi nhé, Dutch. Tôi không ngủ được. Một đêm thao thức." Cánh cổng mở ra. Đến bảy giờ ba mươi anh đã đọc đủ công việc để giữ cho Nina bận rộn trong hai ngày. Khi phải dán mũi vào màn hình, bà ta sẽ bớt lắm chuyện. Mục tiêu trước mắt của anh là trở thành cộng sự đầu tiên có lý do chính đáng để tuyển thêm một thư ký thứ hai.

Lúc tám giờ, anh tạt qua văn phòng của Lamar và chờ đợi. Anh kiểm tra một hợp đồng rồi uống cà phê và bảo thư ký của Lamar

hãy lo công việc của bà ta. Lamar đến vào lúc tám giờ ba mươi.

"Chúng ta cần nói chuyện," Mitch nói sau khi khép cửa lại. Nếu tin theo lời của Tarrance thì văn phòng đã bị cài bọ và cuộc trò chuyện này sẽ bị ghi lại. Anh không chắc mình nên tin vào ai.

"Trông anh nghiêm trọng nhỉ," Lamar nói.

"Anh có bao giờ nghe ai nhắc đến một gã có tên là Tarrance, Wayne Tarrance, không?"

"Không."

"FBI đấy."

Lamar nhắm mắt lại. "FBI," anh lẩm bẩm.

"Đúng vậy. Hắn có huy hiệu hẳn hoi."

"Anh gặp hắn ở đâu?"

"Hắn đến gặp tôi tại quán Lansky'Deli trên đường Union. Hắn biết tôi là ai, biết tôi vừa thi đậu. Hắn nói hắn biết tất tật về hãng. Họ đang theo dõi chúng ta rất sát sao."

"Anh đã nói với Avery chưa?"

"Chưa. Chỉ với mỗi mình anh thôi. Tôi không chắc mình phải làm gì"

Lamar nhấc điện thoại lên. "Chúng ta cần phải báo cho Avery. Tôi nghĩ chuyện này đã từng xảy ra trước đây."

"Có chuyện gì vậy, Lamar?"

Lamar trao đổi với thư ký của Avery, bảo rằng đây là chuyện khẩn cấp. Vài giây sau ông ta đã ở đầu dây bên kia.

"Chúng tôi gặp một vấn đề nhỏ, Avery ạ. Hôm qua một đặc vụ FBI đã tiếp cận Mitch. Anh ta đang ở trong văn phòng của tôi." Lamar lắng nghe rồi nói với Mitch. "Ông ta dặn tôi giữ máy. Bảo là đang gọi cho Lambert."

"Tôi hiểu là chuyện này rất nghiêm trọng, Mitch nói.

"Đúng, nhưng đừng lo. Có cách để giải thích. Nó đã từng diễn ra trước đây."

Lamar kéo điện thoại đến sát hơn rồi lắng nghe những chỉ thị. Anh gác máy. "Họ muốn chúng ta đến văn phòng của Lambert trong mười phút nữa."

Avery, Royce McKnight, Oliver Lambert, Harold O'Kane và Nathan Locke đang chờ đợi. Họ bồn chồn đứng quanh chiếc bàn họp nhỏ, cố tỏ ra bình tĩnh khi Mitch bước vào.

"Mời ngồi, Nathan Locke nói với một nụ cười ngắn và cứng đờ. "Chúng tôi muốn anh kể lại tất cả."

"Cái gì đây?" Mitch trỏ chiếc máy ghi âm đặt giữa bàn.

"Chúng tôi không muốn bỏ lỡ bất cứ điều gì," Locke nói rồi trỏ vào chiếc ghế trống. Mitch ngồi xuống, nhìn Mắt Đen ở phía bên kia bàn. Avery ngồi giữa họ. Ai nấy lặng như tờ.

"Thôi được. Hôm qua tôi đang ăn trưa tại quán Lansky's Deli trên đường Union thì có một gã bước đến, ngồi đối diện với tôi bên kia bàn. Hắn biết tên tôi, cho tôi xem huy hiệu rồi xưng tên là Wayne Tarrance, đặc vụ của FBI. Tôi nhìn huy hiệu và thấy nó là đồ thật. Hắn nói hắn muốn gặp tôi vì tôi và hắn sẽ trở nên quen biết nhau.

Họ theo dõi hãng rất sát sao và hắn muốn tôi không được tin ai cả. Tôi hỏi hắn tại sao thì hắn nói hắn không có thời gian để giải thích, nhưng sẽ trình bày sau. Tôi không biết phải nói gì, chỉ biết nghe mà thôi. Hắn nói hắn sẽ liên lạc với tôi sau. Hắn đứng dậy bỏ đi và nói rằng họ đã thấy tôi ở các lễ tang. Rồi hắn nói cái chết của Kozinski và Hodge không phải là do tai nạn. Cuối cùng hắn đi khỏi. Toàn bộ cuộc trò chuyện diễn ra chưa đầy năm phút."

Mắt Đen nhìn chằm chặp Mitch và hấp thụ từng lời. "Trước đây anh đã bao giờ gặp hắn chưa?"

"Chưa bao giờ."

"Anh đã kể chuyện này với ai?"

"Chỉ với mỗi mình Lamar. Tôi kể cho anh ta trước tiên trong sáng nay."

"Còn vợ anh?"

"Không."

"Hắn có để lại cho anh số điện thoại nào để anh gọi lại không?" "Không."

"Tôi muốn biết từng lời hắn nói," Locke đòi hỏi.

"Những gì tôi nhớ tôi đã kể hết cho các ông rồi. Tôi không thể nhớ nguyên văn từng câu chữ."

"Anh chắc chứ?"

"Để tôi nghĩ một phút đã." Có vài điều anh đã giữ lại cho riêng mình. Anh nhìn chằm chặp Mắt Đen và anh biết Locke càng nghi ngờ tợn hơn.

"Xem nào. Hắn nói hắn thấy tên tôi trên báo và biết tôi là người mới ở đây. Chỉ thế thôi. Tôi đã kể hết rồi đó. Đó là một cuộc trò chuyện rất ngắn."

"Hãy cố nhớ tất cả mọi thứ. Locke vẫn khăng khăng.

"Tôi hỏi hắn có muốn uống trà không. Hắn từ chối."

Máy ghi âm được tắt, và các đối tác có vẻ thư giãn hơn một chút. Locke bước đến cửa sổ. "Mitch, chúng ta có rắc rối với FBI và IRS. Chuyện đó đã diễn ra từ vài năm nay. Một số thân chủ của chúng ta là những tay chơi lớn – những cá nhân giàu có kiếm được bạc triệu, chi tiêu bạc triệu và mong đợi chỉ trả một ít tiền thuế hay thậm chí không trả. Họ chi cho chúng ta hàng ngàn đô la để tránh thuế một cách hợp pháp. Chúng ta được tiếng là năng nổ, và chúng ta không ngại chớp thời cơ nếu các thân chủ của chúng ta bảo chúng ta. Chúng tôi đang nói về những doanh nhân rất phức tạp, những người hiểu rất rõ về rủi ro. Họ chi đẹp cho những sáng tạo của chúng ta. Một số vỏ bọc và hoạt động xóa sổ mà chúng ta thiết lập đã bị IRS thách thức. Chúng ta đã chật vật đấu với họ trong các cuộc tranh tụng về thuế suốt từ hai mươi năm qua. Họ không ưa chúng ta, chúng ta cũng chẳng ưa gì họ. Một số thân chủ của chúng ta không phải lúc nào cũng sở hữu một cấp độ đạo đức cao nhất, và họ đã bị FBI điều tra và quấy rối. Trong ba năm qua, cả chúng ta cũng đã bị quấy rối."

"Tarrance là một gã tép riu đang muốn có tên tuổi. Hắn đến đây chưa đầy một năm mà đã trở thành một cái gai. Anh không được nói

chuyện với hắn một lần nào nữa. Cuộc trò chuyện ngắn của anh hôm qua có lẽ đã được thu âm. Hắn rất nguy hiểm, cực kỳ nguy hiểm. Hắn không chơi đẹp, và anh sẽ sớm biết phần lớn bọn cớm đều không chơi đẹp."

"Bao nhiều người trong số các thân chủ này đã bị kết án?"

1 Trong nguyên bản là "write-off". Write-off được hiểu là hành động trong kế toán làm giảm giá trị của tài sản (mà mục đích là để tránh thuế). Ở đây xin tạm dịch là "hoạt động xóa sổ".

"Không một người nào cả. Và chúng ta đã thắng phần tranh tụng của mình với IRs."

"Còn Kozinski và Hodge thì sao?"

"Hỏi hay đấy," Oliver Lambert trả lời. "Chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra cả. Thoạt tiên nó nghe giống như một tai nạn, nhưng bây giờ thì chúng tôi không chắc. Có một người bản địa ở quần đảo đó đi cùng con tàu với Marty và Joe. Anh ta là đội trưởng kiêm hướng dẫn viên lặn. Nhà chức trách dưới đó nay lại bảo chúng ta rằng họ nghi ngờ gã này là một mắt xích quan trọng trong một đường dây ma túy đặt cơ sở tại Jamaica và có thể vụ nổ là nhằm vào hắn. Dĩ nhiên, hắn đã chết."

"Tôi nghĩ chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được cả, Royce McKnight bổ sung. "Cảnh sát dưới đó không tinh vi cho lắm. Chúng ta đã chọn cách bảo bọc cho các gia đình, và theo quan điểm của chúng ta thì đây chỉ là một tai nạn. Nói thẳng ra, chúng ta không biết phải xử trí thế nào cả."

"Chớ hé ra một lời nào với bất cứ ai," Locke căn dặn. "Tránh xa Tarrance, và nếu hắn liên lạc lại thì hãy báo ngay cho chúng tôi. Hiểu chưa?"

"Vâng thưa ông."

"Ngay cả với vợ anh, anh cũng không được kể," Avery nói.

Mitch gật đầu.

Sự nồng ấm kiểu cha chú đã trở lại trên khuôn mặt của Oliver Lambert. Ông mỉm cười, vân vê cặp kính lão. "Mitch này, chúng tôi biết chuyện này thật đáng sợ, nhưng chúng tôi đã quen với nó rồi. Cứ để chúng tôi xử lý và hãy tin tưởng chúng tôi. Chúng ta không sợ Tarrance, FBI, IRS hay bất cứ ai vì chúng ta chẳng làm gì sai cả. Anthony Bendini đã xây dựng hãng này bằng lao động gian khổ, bằng tài năng và đạo đức không suy suyển. Điều đó đã ngấm sâu vào tất cả chúng ta. Một số thân chủ của chúng ta không phải là những vị thánh, nhưng các luật sư có thể áp đặt đạo đức lên thân chủ của mình. Chúng tôi không muốn anh lo lắng về chuyện đó. Hãy tránh xa gã đó ra, hắn rất rất nguy hiểm. Nếu anh dung dưỡng hắn, hắn sẽ bạo tợn hơn và sẽ trở thành nỗi phiền toái.

Locke trỏ một ngón tay cong vẹo về phía Mitch. "Tiếp tục liên lạc với Tarrance là tự hủy hoại tương lai của anh trong hãng này." "Tôi hiểu," Mitch nói.

"Anh ta hiểu mà, Avery bênh vực. Locke trừng mắt nhìn Tolar. "Chúng tôi chỉ có bấy nhiêu để nói thôi," ông Lambert nói. "Cẩn thận nhé."

Mitch và Lamar đi ra cửa, tìm đến cầu thang ở gần nhất.

"Gọi DeVasher, Locke nói với Lambert trong lúc ông này gọi điện thoại. Chỉ trong vòng hai phút, hai đối tác cao cấp đã rời đi, đến ngồi trước chiếc bàn làm việc bề bộn của DeVasher.

"Anh đã nghe rồi chứ?" Locke hỏi.

"Dĩ nhiên tôi đã nghe, Nat. Chúng tôi đã nghe từng từ thằng nhóc ấy nói. Các anh xử vụ đó tốt đấy. Tôi nghĩ hắn sợ vãi đái và sẽ chạy mặt Tarrance."

"Lazarov thế nào?

"Tôi sẽ nói với ông ta. Ông ta là sếp mà. Chúng tôi không thể giả vờ như nó chưa xảy ra.

"Họ sẽ làm gì?"

"Chẳng có gì nghiêm trọng cả. Chúng tôi sẽ canh chừng thằng nhóc hai mươi bốn trên hai mươi bốn và kiểm tra tất cả các cú điện thoại của hắn. Phải chờ thôi. Hắn chẳng chạy đi đâu được cả. Cũng còn tùy vào Tarrance nữa. Hắn sẽ lại tìm đến thằng nhóc, và lần tới chúng tôi sẽ có mặt ở đó. Hãy cố giữ chân hắn trong tòa nhà càng nhiều càng tốt. Khi hắn rời khỏi thì hãy cho chúng tôi biết, nếu được. Tôi không nghĩ tình hình lại tồi tệ đến mức đó đâu, thật đấy." "Tại sao chúng lại chọn McDeere?" Locke hỏi.

"Chiến lược mới, tôi đoán thế. Kozinski và Hodge đến gặp chúng, nhớ không? Có lẽ hai đứa nó nói nhiều hơn ta nghĩ. Tôi cũng chả biết nữa. Có lẽ chúng cho rằng McDeere là mắt xích yếu nhất vì hắn mới ra trường và chứa đầy mấy cái thứ lý tưởng tân binh ấy. Và cả

đạo đức nữa chứ. Đạo đức, giống như ông bạn Ollie đạo đức của tôi đây. Đó là một điều tốt, Ollie ạ, rất tốt nữa là khác."

"Câm miệng đi, DeVasher."

DeVasher thôi cười và bặm môi dưới. Ông bỏ qua và nhìn sang Locke. "Anh biết bước kế tiếp là gì rồi chứ? Nếu Tarrance ép tới, lão ngốc Lazarov một ngày nào đó sẽ gọi tôi và sai tôi khử hắn, làm cho hắn câm nín, bỏ hắn vào cái thùng rồi đem thả ngoài Vịnh. Và khi điều đó xảy ra thì cả đám quý ngài tôn kính các ông sẽ được về vườn sớm và rời khỏi cái đất nước này."

"Lazarov sẽ không ra lệnh giết đặc vụ."

"Ồ, đó là một bước đi điên rồ, nhưng Lazarov chẳng phải là một gã điên hay sao? Ông ta rất lo lắng về tình hình dưới này. Ông ta gọi rất nhiều cuộc, hỏi han đủ thứ chuyện. Tôi trả lời ông ta đủ kiểu. Đôi khi ông ta lắng nghe, đôi khi lại chửi bới. Đôi khi ông ta dọa sẽ nói với Ban quản trị. Nhưng nếu ông ta bảo tôi khử Tarrance thì tôi sẽ khử Tarrance."

"Anh làm tôi mắc ói," Lambert nói.

"Anh mắc ói hả, Ollie? Anh mà để cho một thằng nhóc luật sư khoác đầy hàng Gucci đi kết giao với Tarrance và bắt đầu ba hoa thì anh sẽ gặp nhiều chuyện còn tồi tệ hơn cả mắc ói nữa đấy. Nghe đây, tôi gợi ý hai bồ nên giữ cho McDeere bận rộn đến mức hắn chẳng còn thời gian đâu mà tơ tưởng đến Tarrance."

"Chúa ơi, DeVasher, hắn làm việc đã hai mươi giờ mỗi ngày rồi còn gì. Hắn đã khởi đầu cứ y như phát súng mà vẫn còn chưa chậm

lại."

"Chỉ cần các anh canh chừng hắn sít sao vào. Dặn Lamar Quin kết thân với hắn nhiều hơn nữa để trong đầu hắn có gì thì cứ thế mà tuôn ra hết."

"Ý hay," Locke nói. Ông nhìn Ollie. "Chúng ta hãy nói chuyện với Quin lâu lâu một chút. Hắn thân với McDeere, có thể họ sẽ càng gần gũi hơn."

"Thì đó, các bồ tèo, DeVasher nói. "Ngay lúc này McDeere đang sợ. Hắn sẽ không dám ngọ nguậy đâu. Nếu Tarrance liên lạc tiếp với hắn thì hắn sẽ làm y chang như những gì hắn làm hôm nay. Hắn sẽ chạy thẳng đến chỗ Lamar Quin. Hắn đã cho chúng ta thấy hắn đặt niềm tin vào ai."

"Đêm qua hắn có kể cho vợ nghe không?" Locke hỏi.

"Chúng tôi sẽ kiểm tra các băng ngay đây. Việc kiểm tra sẽ mất khoảng một giờ. Chúng ta có quá nhiều những con bọ chết tiệt trong cái thành phố này đến nỗi phải mất đến sáu cái máy tính mới moi ra được bất cứ điều gì."

Mitch nhìn qua cửa sổ trong văn phòng của Lamar và lựa lời một cách thận trọng. Anh nói rất ít. Giả sử Tarrance đúng thì sao? Giả sử mọi thứ đều bị ghi âm thì sao?

"Anh đã thấy dễ chịu hơn chưa?" Lamar hỏi.

"Vâng, tôi thấy đỡ rồi, tôi nghĩ vậy."

"Chuyện đó đã từng xảy ra trước đây," đúng như Locke nói.

"Ai? Ai bị tiếp cận trước đây vậy?"

"Tôi không nhớ. Hình như nó xảy ra cách đây ba bốn năm."

"Nhưng anh không nhớ đó là ai?"

"Không nhớ. Điều đó thì có gì là quan trọng?"

"Tôi chỉ muốn biết thôi. Tôi không hiểu tại sao họ lại chọn tôi, một tân binh, một trong số bốn mươi luật sư biết ít nhất về hãng và về các thân chủ của hãng. Tại sao họ lại chọn tôi?"

"Tôi không biết, Mitch. Mà này, sao anh không làm theo gợi ý của Locke đi. Hãy cố quên chuyện đó và tránh xa cái gã Tarrance ấy ra. Anh không việc gì phải nói chuyện với hắn trừ phi hắn có lệnh bắt anh. Nếu hắn ló mặt ra lần nữa thì hãy bảo hắn biến đi. Hắn nguy hiểm lắm đấy."

"Vâng, tôi nghĩ anh nói đúng." Mitch cố rặn một nụ cười rồi hướng ra cửa. "Tối mai chúng ta vẫn dùng bữa đấy chứ?"

"Chắc chắn rồi. Kay muốn nướng thịt và ăn cạnh hồ bơi. Ta bắt đầu muộn muộn một chút nhé, bảy giờ ba mươi chẳng hạn."

"Hẹn gặp anh lúc đó."

12

Cai ngục gọi tên anh, khám xét người rồi dẫn anh vào một căn phòng lớn, nơi một dãy các khoang nhỏ bị choán chỗ bởi khách thăm nuôi đang nói hoặc thì thào qua những tấm ngăn dày bằng kim loại.

"Số mười bốn." người cai ngục nói rồi trỏ ngón tay. Mitch bước đến khoang của anh rồi ngồi xuống. Một phút sau, Ray xuất hiện và ngồi xuống giữa các vách phân cách phía bên kia tấm ngăn. Nếu Ray không có vết sẹo trên trán và vài nếp nhăn quanh mắt, họ có thể bị lầm là anh em sinh đôi. Cả hai đều cao gần một mét chín, nặng khoảng tám mươi ký, mắt nhỏ xanh, gò má cao, và cằm rộng. Mọi người vẫn hay nói gia đình anh có dòng máu da đỏ, nhưng làn da sẫm màu đã thất lạc qua năm tháng trong các mỏ than.

Mitch đã không đến Brushy Mountain từ ba năm qua. Ba năm và ba tháng. Họ trao đổi thư từ với nhau cứ mỗi tháng hai lần, tháng nào cũng thế, đến nay đã tám năm.

"Tiếng Pháp của anh thế nào rồi?" Mitch cuối cùng hỏi. Cuộc kiểm tra trong quân đội đã phát hiện một năng khiếu ngôn ngữ đáng kinh

ngạc nơi Ray. Anh đã phục vụ hai năm ở Việt Nam trong vai trò thông ngôn. Anh đã làm chủ được tiếng Đức khi đóng quân ở nước này. Tiếng Tây Ban Nha lấy đi của anh những bốn năm, nhưng đó là do anh buộc lòng phải học qua cuốn từ điển trong thư viện nhà tù. Tiếng Pháp là dự án gần đây nhất của anh.

"Thông thạo, anh nghĩ vậy," Ray đáp. "Ở đây kể ra cũng khó nói. Anh không có nhiều dịp để thực hành. Dĩ nhiên họ không có dự án dạy tiếng Pháp nào, mà anh em ở đây hầu hết đều chỉ xài một ngôn ngữ. Tiếng Pháp chắc chắn là một ngôn ngữ đẹp nhất."

"Nó dễ học không?"

"Khó hơn tiếng Đức. Dĩ nhiên tiếng Đức dễ hơn rồi vì anh đã sống ở đó, và hồi đó ai cũng nói bằng tiếng Đức cả. Chú có biết năm mươi phần trăm ngôn ngữ của chúng ta đến từ tiếng Đức thông qua tiếng Anh cổ không?"

"Không, em không biết điều đó."

"Nó là thật đấy. Tiếng Anh và tiếng Đức là họ hàng với nhau đó."

"Kế tiếp là gì?"

"Có lẽ là tiếng Ý. Nó là tiếng Romance giống như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha vậy. Có lẽ cả tiếng Nga nữa. Có lẽ cả tiếng Hy Lạp. Anh đang đọc về các đảo ở Hy Lạp. Anh dự định sẽ sớm đến đó."

Mitch mỉm cười. Ray phải ngồi ít nhất bảy năm nữa mới được phóng thích.

"Chú nghĩ anh nói đùa à?" Ray hỏi. "Anh sắp ra khỏi đây đó,

Mitch, và chuyện đó sẽ sớm thôi."

"Kế hoạch của anh là gì?"

"Anh không thể nói được, nhưng anh đang thực hiện."

"Đừng làm vậy, Ray."

"Anh sẽ cần sự trợ giúp từ bên ngoài, và cần đủ tiền bạc để đi ra khỏi nước. Chỉ một ngàn là đủ. Chú lo được mà, đúng không? Chú không bị liên lụy gì đâu."

"Họ có nghe lén chúng ta không vậy?"

"Đôi khi."

"Ta nói sang chuyện khác đi."

"Được thôi. Abby thế nào?"

"Cô ấy ổn."

"Cô ấy đang ở đâu?"

"Ngay lúc này cô ấy đang ở nhà thờ. Cô ấy cũng muốn đến, nhưng em đã can."

"Anh sẽ rất vui nếu gặp được cô ấy. Các lá thư của chú nghe có vẻ như cô chú đang thực sự khấm khá. Nào là nhà mới, nào là xe hơi, nào là câu lạc bộ đồng quê. Anh rất tự hào về chú đấy. Trong vòng hai thế hệ, chú là người đầu tiên của dòng họ McDeere vươn được tới những thứ chết tiệt đó."

"Cha mẹ mình là những người tốt, Ray ạ. Họ không có cơ hội nào mà lại gặp nhiều vận rủi. Họ đã cố gắng hết sức."

Ray mỉm cười và nhìn đi chỗ khác. "Ừ, anh cũng nghĩ vậy. Chú có

nói chuyện với mẹ không?"

"Cũng đã khá lâu rồi."

"Mẹ vẫn ở Florida hả?"

"Em nghĩ vậy."

Họ ngừng nói và săm soi các ngón tay. Họ nghĩ đến mẹ họ. Phần lớn là những ý nghĩ đau đớn. Đã có những khoảng thời gian hạnh phúc hơn khi họ còn bé và cha họ vẫn còn sống. Bà chưa bao giờ hồi phục sau cái chết của ông và, sau khi Rusty chết, các dì các chú đã đưa anh vào một cơ sở từ thiện.

Ray lấy ngón tay rà theo những thanh kim loại nhỏ trên tấm ngăn. Anh nhìn ngón tay của mình.

"Ta nói chuyện gì khác đi."

Mitch gật đầu đồng ý. Có quá nhiều chuyện để nói, nhưng tất cả đều đã là quá khứ. Họ không có gì chung nhau ngoài quá khứ, và quá khứ đó tốt nhất là không nên đụng chạm đến.

"Trong một lá thư anh có nhắc đến một người bạn tù cũ hiện làm thám tử tư ở Memphis."

"Eddie Lomax. Hắn từng là cớm ở Memphis cho đến khi xộ khám vì tội hiếp dâm."

"Hiếp dâm?"

"Ừ. Hắn đã có một khoảng thời gian cam go tại đây. Bọn hiếp dâm không được nể trọng lắm ở nơi này. Cớm thì lại càng bị ghét. Xém chút nữa hắn đã bị giết chết, may mà có anh đứng ra. Hắn đã ra tù khoảng ba năm nay. Hắn viết thư cho anh suốt. Chủ yếu làm

công việc điều tra ly hôn."

"Hắn có tên trong niên giám không vậy?"

"969-3838. Chú cần hắn làm gì?"

"Người bạn luật sư của em có cô vợ dan díu từa lưa, nhưng anh ta lại không bắt được quả tang. Gã đó có giỏi không vậy?"

"Rất giỏi, hắn khoe thế. Kiếm được cũng bộn bạc."

"Em tin hắn được không?"

"Đùa à. Chỉ cần nói chú là em của anh, hắn sẽ sẵn sàng giết người vì chú đấy. Hắn sẽ giúp anh ra khỏi nơi đây, chỉ có điều là hắn chưa biết đó thôi. Chú phải nhắc nhở hắn chuyện đó."

"Em mong anh thôi đi."

Một cai ngục bước đến sau lưng Mitch.

"Ba phút nữa." anh ta nói.

"Em đem gì được cho anh?" Mitch hỏi.

"Anh muốn một đặc ân thứ thiệt, nếu chú không thấy phiền."

"Bất cứ thứ gì."

"Ra hiệu sách tìm một trong các bài học thâu băng dạy cách nào nói được tiếng Hy Lạp trong vòng hai mươi bốn giờ. Việc đó cộng thêm với một cuốn từ điển Hy Lạp – Anh thì quá tốt."

"Tuần tới em sẽ gửi cho anh."

"Cả tiếng Ý nữa được không?"

"Không có vấn đề gì."

"Anh chưa quyết sẽ đi Sicily hay đi các đảo Hy Lạp. Anh thực sự

rất giằng co đấy. Anh đã hỏi ông mục sư của nhà tù về chuyện này nhưng ông ta chẳng giúp gì được cả. Anh đã nghĩ đến việc hỏi cai ngục. Chú nghĩ sao?"

Mitch cười khúc khích và lắc đầu. "Sao anh không đi Úc nhỉ?"

"Ý hay. Gửi cho anh vài cuốn băng tiếng Úc và một cuốn từ điển luôn nhé."

Họ cùng cười rồi dừng lại. Họ nhìn nhau một lúc, chờ cai ngục báo hết giờ. Mitch nhìn vết sẹo trên trán Ray và nghĩ đến vô số những quầy rượu và vô số những cuộc ẩu đả đã không tránh khỏi dẫn đến vụ giết người. Tự vệ, Ray gọi nó là vậy. Nhiều năm qua anh chỉ muốn chửi rủa Ray vì sự ngu ngốc của anh ấy, nhưng cơn giận đã qua đi. Giờ thì anh chỉ muốn ôm anh ấy, đưa về nhà và giúp anh mình tìm việc làm.

"Đừng thương hại anh, Ray nói.

"Abby muốn viết thư cho anh đó."

"Anh sẽ thích lắm. Anh chỉ nhớ lờ mờ cô ấy là một thiếu nữ ở Danesboro, lẩn quẩn quanh cái nhà băng của ông bố ở trên đường Main Street. Bảo cô ấy gửi ảnh cho anh. Và anh cũng muốn xem ảnh ngôi nhà của cô chú nữa. Suốt một trăm năm qua chú là người nhà McDeere đầu tiên sở hữu bất động sản đấy."

"Em đi đây."

"Hãy giúp anh chuyện này. Anh nghĩ chú cần phải tìm mẹ, chỉ để đảm bảo bà vẫn còn sống. Giờ thì chú đã học hành xong rồi, sẽ là rất tốt nếu chú chịu liên lạc với mẹ."

"Em đã nghĩ đến chuyện này."

"Nghĩ nhiều hơn nữa đi, được chứ?"

"Chắc chắn rồi. Em sẽ thăm anh trong khoảng một tháng nữa."

DeVasher rít điếu Roi-Tan rồi nhả cả một buồng phổi khói vào chiếc máy lọc khí của ông ta.

"Chúng tôi đã tìm ra được Ray McDeere," ông hãnh diện tuyên bố.

"Ở đâu?" Ollie hỏi.

"Nhà tù Bang Brushy Mountain. Bị kết án vì tội giết người cấp độ hai tại Nashville cách đây tám năm và bị phạt tù mười lăm năm không ân xá. Tên thật là Raymond McDeere. Ba mươi mốt tuổi. Không gia đình. Phục vụ ba năm trong quân đội. Một tên rác rưởi bất lương. Một gã thất bại thứ thiệt."

"Anh làm sao tìm được hắn vậy?"

"Hôm qua hắn vừa được thằng em thăm nuôi. Chúng tôi bám theo đuôi thằng nhóc. Theo dõi hai mươi bốn trên hai mươi bốn, nhớ không?"

"Việc kết án hắn được tuyên bố công khai. Lẽ ra anh phải tìm ra hắn sớm hơn."

"Lẽ ra là thế, Ollie a, nếu đó là chuyện quan trọng. Nhưng nó có quan trọng đâu. Chúng tôi đang làm tốt công việc của mình.

"Mười lăm năm hả? Hắn giết ai vậy?"

"Chuyện tào lao ấy mà. Một đám say xỉn trong quán rượu ẩu đả để giành gái. Nhưng không có vũ khí. Cảnh sát và bên khám nghiệm tử thi nói rằng hắn đã giết chết nạn nhân bằng hai phát đấm làm

nứt sọ người ta."

"Sao lại là rác rưởi, bất lương?"

"Bất trị, bạo lực thì đúng hơn. Thêm vào câu chuyện đó, hắn còn tấn công một sĩ quan cảnh sát. Tôi không biết bằng cách nào hắn thoát khỏi tòa án binh. Có vẻ là một gã rất xấu."

"Anh nói đúng, chuyện đó không quan trọng. Anh còn biết chuyện gì khác không?"

"Không nhiều. Chúng ta đã cài bọ ở nhà hắn, đúng không? Không thấy hắn thủ thỉ gì với cô vợ về Tarrance. Chúng tôi đã nghe lén hắn hai mươi bốn trên hai mươi bốn và chẳng thấy hắn nhắc gì đến Tarrance với bất cứ ai."

Ollie mỉm cười và gật đầu tán thưởng. Ông rất tự hào về McDeere. Quả là một luật sư đáng nể.

"Còn về chuyện tình dục thì sao?"

"Chúng tôi chỉ có thể nghe mà thôi, Ollie. Nhưng chúng tôi nghe rất kỹ, và tôi nghĩ họ đã không làm chuyện ấy trong hai tuần qua. Dĩ nhiên, hắn phải ở đây đến mười sáu giờ mỗi ngày để làm cái phận sự luật sư-lính mới-nghiện việc mà các anh đã gài độ hắn. Có vẻ như cô ta đã bắt đầu ngán ngẩm. Có lẽ đó là một hội chứng chung của các cô vợ tân binh. Cô ta gọi cho mẹ rất nhiều cuộc, gọi collect-nên hắn chẳng hay biết gì cả. Cô ta than với mẹ rằng hắn đang thay đổi và nói đủ thứ chuyện tào lao kiểu đó. Cô ta nghĩ hắn làm việc cực nhọc như thế thì chẳng khác nào tự sát. Đó là những gì chúng tôi nghe thấy. Tóm lại là chúng tôi chẳng có tấm ảnh nào cả, Ollie ạ,

và tôi rất lấy làm tiếc vì tôi biết anh thích chúng như thế nào. Ngay khi có cơ hội đầu tiên, chúng tôi sẽ có vài tấm cho anh." Ollie nhìn bức tường và không nói năng gì.

"Nghe này, Ollie, tôi nghĩ chúng ta nên cử thằng nhóc đi công tác cùng Avery đến Grand Cayman. Anh thử coi xem có sắp xếp được không?"

"Không có vấn đề gì. Tôi hỏi lý do có được không?"

"Không phải ngay lúc này. Để sau anh khắc biết."

Tòa nhà nằm trong phân đoạn cho thuê giá thấp của khu thương mại, đi cách vài dãy phố là đến khu bóng đổ của các tòa tháp thép-và-kính hiện đại nằm san sát bên nhau cứ như thể đất đai là thứ gì đó khan hiếm ở Memphis vậy. Một bảng hiệu trên cửa hướng dẫn đi lên gác, nơi Eddie Lomax, thám tử tư, đặt văn phòng. Giờ giấc là theo hẹn. Cánh cửa trên gác ghi những quảng cáo về đủ kiểu điều tra: ly hôn, tai nạn, người thân mất tích, theo dõi. Quảng cáo trên sổ danh bạ có nhắc về kinh nghiệm làm cảnh sát, nhưng không đá động gì kết cục của con đường công danh đó. Nó liệt kê việc nghe trộm, các biện pháp trả đũa, quyền giám hộ trẻ em, chụp ảnh, bằng chứng tại tòa, phân tích căng thẳng từ giọng nói, phân bổ đầu tư, đòi bảo hiểm, đánh giá tiền hôn nhân. Đảm bảo, an toàn, được cấp phép, sẵn sàng phục vụ hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Đạo đức, khả tín, bảo mật, yên tâm.

Mitch thấy ấn tượng về mức độ tin cậy cao đó. Cuộc hẹn là vào lúc năm giờ chiều, và anh đã đến sớm vài phút. Một cô nàng tóc

vàng bạch kim mặc váy da bó sát, xỏ đôi ủng đen đồng điệu hỏi tên anh rồi trỏ vào một chiếc ghế màu cam bằng nhựa cứng ở cạnh cửa sổ. Eddie sẽ đến trong vòng một phút nữa. Anh kiểm tra chiếc ghế và nhận thấy nó phủ một lớp bụi mỏng và có nhiều vết đốm mà hình như là mỡ. Anh thoái thác, viện cớ bị đau lưng. Tammy nhún vai, trở lại với hoạt động nhai kẹo cao su và đánh máy một tài liệu gì đó. Mitch suy đoán đó hẳn phải là một báo cáo tiền hôn nhân hay có thể là một bản tổng kết theo dõi, và cũng có thể là bản kế hoạch tấn công trả đũa. Chiếc gạt tàn trên bàn làm việc của cô ta chứa đầy đọt thuốc dính son môi. Trong khi đánh máy bằng tay trái, tay phải của cô tức thời và chuẩn xác rút ra một điếu khác từ bao thuốc rồi nhét nó vào giữa đôi môi nhơm nhớp. Bằng một sự nhịp nhàng đáng nể, cô ta bật thứ gì đó bằng tay trái và ngọn lửa bùng lên ở đầu điếu thuốc mảnh và rất dài. Khi ngọn lửa biến mất, đôi môi cô mím lại một cách bản năng, kẹp chặt quanh điếu thuốc mảnh nhô ra ngoài, và toàn bộ cơ thể cô bắt đầu nuốt khói. Từ trở thành chữ, chữ trở thành câu, câu trở thành đoạn trong khi cô cuồng nhiệt nạp đầy các lá phổi. Cuối cùng, với một phân sót lại dưới dạng tro, cô nuốt khói vào, gỡ điếu thuốc khỏi đôi môi bằng những móng tay đỏ chói rồi phà ra một hơi mạnh. Khói cuồn cuộn dâng lên chiếc trần thạch cao thẫm màu, nơi nó đè lên lớp mây đang tồn tại và cuộn quanh chiếc đèn huỳnh quang treo gần đó. Cô ta cất tiếng ho. Một cơn ho sặc sụa và đau rát khiến mặt cô đỏ bừng và ngực cô rung chuyển cho đến khi nó nảy giật một cách nguy hiểm gần các con phím của chiếc máy đánh chữ. Cô chộp lấy chiếc tách gần đó, nốc cạn thứ bên

trong, rồi nhét lại điếu đầu lọc 1000 và gõ tiếp.

Sau hai phút, Mitch bắt đầu thấy hoảng sợ chất carbone monoxide. Anh phát hiện một lỗ nhỏ trên tấm kính cửa sổ, mà vì lý do nào đó đám nhền nhện đã không muốn giăng tơ để bít kín. Anh bước đến cách vài phân chiếc rèm tả tơi và bụi bặm, cố nhắm theo hướng chiếc lỗ mà hít thở. Anh cảm thấy buồn nôn. Có nhiều tiếng sặc sụa và khò khè nặng hơn phía sau anh. Anh cố mở cửa sổ, nhưng những lớp sơn nứt rạn từ lâu đã hàn cứng chốt cửa.

Đúng lúc anh bắt đầu chóng mặt, tiếng đánh máy và khói thuốc chợt dừng.

"Anh là luật sư hả?"

Mitch quay lại từ cửa sổ và nhìn cô thư ký. Lúc này cô ta đang ngồi trên mép bàn, chân vắt chéo, chiếc váy da màu đen vén cao trên đầu gối. Cô nhấp một ngụm Diet Pepsi.

"Đúng vậy."

"Làm cho một hãng lớn?"

"Đúng vậy."

"Tôi đã đoán thế. Tôi đoán được là nhờ bộ vest và chiếc áo cài khuy cổ dễ thương kiểu học đường cùng chiếc cà vạt lụa có họa tiết cánh hoa. Tôi luôn phân biệt được các luật sư hãng lớn. Họ trái ngược hoàn toàn với những gã loàng xoàng vẫn hay quanh quẩn ở Tòa án thành phố."

Khói đã tan và Mitch bắt đầu dễ thở hơn. Anh ngắm cặp giò của cô mà lúc này đang ở một tư thế rất khêu gợi và đòi hỏi sự ngưỡng

mộ. Giờ thì cô đang xem xét đến đôi giày của anh.

"Cô thích bộ vest này à?" anh hỏi.

"Nó đắt tiền, tôi dám nói như thế. Cà vạt cũng vậy. Tôi không chắc lắm về chiếc áo và đôi giày."

Mitch nhìn đôi ủng da, cặp giò, chiếc váy và chiếc áo len bó sát bộ ngực lớn, cố nghĩ ra câu nào đó dễ nghe. Cô thích thú với những tia nhìn tới lui đó và một lần nữa lại nhấp Diet Pepsi.

Khi uống đủ, cô hất đầu về phía cửa phòng của Eddie, "Anh vào được rồi đó. Eddie đang chờ."

Tay thám tử đang trao đổi qua điện thoại, cố thuyết phục một ông già đáng thương rằng cậu con của ông ta thực sự là một người đồng tính. Một người đồng tính rất lộ. Lomax trỏ vào chiếc ghế gỗ và Mitch ngồi xuống đó. Anh thấy hai cánh cửa sổ - cả hai đều rộng - và bỗng dưng thấy dễ thở.

Eddie trông có vẻ kinh tởm khi che ống nói lại. "Ông ta đang khóc," hắn thì thào với Mitch. Mitch mỉm cười cầu tài, như thể anh cũng thấy chuyện này là buồn cười. Eddie mang đôi giày da tắc kè màu xanh với mũi nhọn. Hắn mặc quần Levis, áo sơ mi loại gài cổ nhưng khuy cổ được mở đủ rộng để làm lộ ra bộ lông ngực sậm màu và hai sợi dây chuyền vàng nặng trịch cùng một sợi nữa hình như bằng ngọc lam. Hắn có vẻ bề ngoài giống như Tom Jones hay Humperdinck hay một trong những ca sĩ mắt đen với mái tóc rối bù, tóc mai dài và chiếc cằm khỏe khoắn.

"Tôi có ảnh chụp," Eddie nói rồi giật ống nghe ra khỏi tai khi ông

già khóc váng lên. Từ một tập hồ sơ, hắn rút ra năm tấm ảnh khổ hai-mươi hai-mươi-lăm rồi đẩy trượt nó qua bàn, rơi vào lòng Mitch. Đúng, họ quả là người đồng tính, cho dù họ có là ai đi nữa. Eddie hãnh diện mỉm cười với anh. Các xác chết nằm vương vãi trên sân khấu ở cái nơi có vẻ là một câu lạc bộ đồng tính luyến ái. Anh đặt xấp ảnh lên bàn làm việc rồi nhìn ra cửa sổ. Ảnh màu, chất lượng cao. Người chụp hẳn phải thường xuyên đến câu lạc bộ. Mitch nghĩ đến bản án cưỡng dâm. Một gã cớm bị đi tù vì tội hiếp dâm.

Lomax ngắt điện thoại. "Vậy ra cậu là em trai của Mitchell McDeere! Hân hạnh được biết cậu." Họ bắt tay nhau qua chiếc bàn.

"Rất hân hạnh," Mitch nói. "Tôi vừa đi thăm Ray hôm Chủ nhật."

"Tôi cảm thấy như đã quen cậu từ nhiều năm lắm rồi. Cậu trông y hệt như Ray vậy. Anh ấy có nói với tôi như thế. Cứ kể mãi về cậu. Tôi đoán anh ấy cũng đã kể cho cậu về tôi. Xuất thân cảnh sát. Bị kết án. Tội cưỡng dâm. Anh ấy có kể cho cậu rằng đó là vụ cưỡng dâm vị thành niên không? Có kể con bé đó mười bảy tuổi mà trông cứ như hai mươi lăm cho nên tôi bị dính khung không?"

"Anh ấy có nhắc đến chuyện đó. Ray không nói nhiều, anh biết mà."

"Anh ấy là một gã khủng. Tôi nợ anh ấy một mạng sống. Theo đúng nghĩa đen đấy nhé. Chúng xém nữa đã giết tôi trong tù khi phát hiện tôi là cớm. Ray đã đứng ra và ngay đến đám da đen cũng phải xì hơi. Anh ấy có thể gây tổn thất cho bất cứ ai nếu muốn."

"Anh ấy là toàn bộ gia đình của tôi đó."

"Phải, tôi biết. Cậu gắn bó với gã đó suốt nhiều năm trong cái xà-lim hai-mét-rưỡi nhân ba-mét-rưỡi, và cậu biết tất cả về anh ấy. Ray thường nói về cậu hàng giờ liền. Khi tôi được phóng thích thì cậu còn đang suy tính học trường luật."

"Tôi đã học xong từ tháng Sáu năm nay và đã đến làm việc cho Bendini, Lambert & Locke."

"Chưa bao giờ nghe cái tên này."

"Đó là một hãng nằm trên đường Front, chuyên về thuế và hoạt động công ty."

"Tôi từng làm việc rất nhiều cho các luật sư trong các vụ ly hôn nhếch nhác. Theo dõi, chụp ảnh, như mấy tấm này đây, thu thập những thứ rác rưởi để trình tòa." Hắn nói nhanh, với những từ và câu cụt lủn. Đôi bốt cao bồi gác lên bàn một cách điệu đàng như để khoe mẽ. "Ngoài ra, tôi còn chạy việc cho vài luật sư. Nếu tôi khui ra được một vụ tông xe hoặc một vụ gây thương tích cá nhân, tôi sẽ đi chào vòng vòng để xem ai là người sẽ cho tôi miếng ăn tốt nhất. Tôi mua được tòa nhà này là nhờ thế. Tiền bạc đến từ đó – thương tích cá nhân. Mấy gã luật sư này lấy đến bốn mươi phần trăm tiền phục hồi. Bốn mươi phần trăm!" Eddie lắc đầu kinh tởm như thể không tin nổi các luật sư tham lam hiện vẫn đang sống và hít thở trong cái thành phố này.

"Anh làm việc theo giờ à?" Mitch hỏi.

"Ba mươi đô, cộng với chi phí. Đêm qua tôi bỏ ra sáu giờ ngồi trong chiếc xe hơi của tôi bên ngoài một Holiday Inn, chờ gã chồng

của khách hàng rời khỏi căn phòng của hắn ta với một ả điếm để chụp thêm nhiều tấm ảnh nữa. Sáu giờ. Đó là một trăm tám mươi đô để ngồi tê mông đọc mấy tờ tạp chí bẩn và chờ đợi. Tôi tính tiền cô ta luôn cả bữa ăn tối."

Mitch chăm chú lắng nghe, như thể anh cũng mong làm được như vậy.

Tammy ló đầu qua cửa, báo rằng cô chuẩn bị về. Một đám mây mù len vào theo cô và Mitch vội nhìn ra các cửa sổ. Cô đóng sập cánh cửa lại.

"Một cô nàng tuyệt vời." Eddie nói. "Cô ta có chuyện rắc rối với anh chồng. Hắn là một tay tài xế xe tải cứ tưởng mình là Elvis. Tóc nhuộm đen tuyền, kiểu đuôi vịt, với tóc mai kiểu sườn cừu. Đeo kính mát bằng vàng dày cộp, loại kính mà Elvis vẫn đeo ấy. Khi không ở trên đường thì hắn ngồi quanh quẩn bên xe kéo, nghe mấy tập album của Elvis và xem mấy cuốn phim kinh khủng đó. Họ chuyển đến đây từ Ohio chỉ để thằng hề đó được ở gần mộ của Ông Vua nhạc Rock. Đoán thử xem hắn tên gì?"

"Tôi không biết."

"Elvis. Elvis Aaron Hemphill. Đổi tên hợp pháp sau cái chết của Ông Vua. Hắn làm cái công việc hóa thân đó trong các câu lạc bộ tối đèn ở khắp thành phố. Một đêm nọ tôi thấy hắn. Hắn mặc áo liền quần bó sát, phanh ngực đến tận rốn, trông chẳng ổn chút nào cả, thế mà hắn vẫn có gan khoác nó vào. Thật là buồn cho hắn. Giọng của hắn nghe mà mắc cười, hệt như ông tù trưởng da đỏ đang hát

hò quanh đám lửa vậy."

"Vậy vấn đề là gì?"

"Gái. Cậu không tin nổi đám cuồng Elvis ghé thăm thành phố này đâu. Họ lũ lượt đến để xem gã hề đó diễn nhại theo Ông Vua. Họ ném quần lót vào hắn, quần lót khổ lớn ấy, quần lót dành cho các mụ béo thừa cân, rồi hắn dùng nó để chùi trán và ném trả lại họ. Họ cho hắn số phòng của họ, và chúng tôi nghi ngờ rằng hắn lẩn lút ở đâu đó, tìm cách chơi trò mèo chuột hệt như Elvis vậy. Tôi vẫn chưa chộp được hắn."

Mitch không nghĩ ra bất kỳ hồi đáp nào cho tất cả những câu chuyện này. Anh cười toe như một gã ngốc, như thể đó thực sự là một câu chuyện hay ho. Lomax đọc vị anh rất tốt.

"Cậu gặp trục trặc gì với vợ à?"

"Không. Không phải chuyện đó. Tôi cần vài thông tin về bốn người. Ba người đã chết và một người còn sống."

"Có mùi thú vị à nhe. Tôi nghe đây."

Mitch rút ra tờ ghi chép từ túi áo. "Tôi mặc định chuyện này phải được giữ bí mật."

"Dĩ nhiên, cũng bí mật như chuyện của thân chủ cậu."

Mitch gật đầu tán thành, nhưng anh lại nghĩ đến câu chuyện giữa Tammy và Elvis và tự hỏi vì sao Lomax lại đem kể cho anh câu chuyện đó.

"Nó phải là tuyệt mật."

"Tôi đã nói nó sẽ vậy rồi mà. Tin tôi đi."

"Ba mươi đô mỗi giờ hả?"

"Với cậu, tôi chỉ tính hai mươi thôi. Ray giới thiệu cậu mà, nhớ không?"

"Tôi rất cảm kích."

"Mấy người đó là ai vậy?"

"Ba người chết từng là luật sư của hãng chúng tôi. Robert Lamm bị giết trong một tai nạn săn bắn đâu đó trên vùng núi Arkansas. Ông ta mất tích trong khoảng hai tuần rồi người ta tìm thấy ông với một viên đạn xuyên qua đầu. Đã có một cuộc khám nghiệm tử thi. Tôi chỉ biết có vậy. Alice Knauss chết năm 1977 trong một vụ tông xe ngay tại Memphis này. Người ta cho rằng một gã lái xe say xỉn đã tông cô ta. John Mickel tự sát năm 1984. Thi thể được tìm thấy trong văn phòng của ông ta. Ở đó có một khẩu súng và một thư tuyệt mệnh."

"Đó là tất cả những gì cậu biết?"

"Đúng vậy."

"Cậu đang tìm hiểu điều gì?"

"Tôi muốn biết tối đa những người này đã chết như thế nào. Những tình huống nào xoay quanh mỗi cái chết? Ai là người điều tra mỗi cái chết? Mọi câu hỏi hoặc nghi vấn chưa có giải đáp."

"Cậu nghi ngờ điều gì?"

"Ở thời điểm này thì chưa gì cả. Tôi chỉ tò mò thôi."

"Cậu đâu phải chỉ tò mò."

"Thôi được, tôi không chỉ tò mò. Nhưng tạm thời ta hãy dừng lại

ở đó nhé."

"Được. Gã thứ tư của cậu là ai?"

"Một người tên là Wayne Tarrance. Anh ta là đặc vụ FBI tại Memphis này."

"FBI!"

"Điều đó có gây phiền hà gì cho anh không?"

"Có đấy, nó gây phiền hà cho tôi. Tôi lấy bốn mươi mỗi giờ đối với cớm."

"Không vấn đề gì."

"Cậu muốn biết gì?"

"Kiểm tra anh ta. Anh ta đến đây đã bao lâu? Anh ta làm đặc vụ đã bao lâu? Uy tín của anh ta ra sao?"

"Chuyện đó thì dễ ẹc."

Mitch gập tờ giấy rồi nhét lại vào túi. "Việc này mất bao lâu?"

"Khoảng một tháng."

"Tốt."

"Mà này, tên cái hãng của cậu là gì?"

"Bendini, Lambert & Locke."

"Hai gã bị chết mùa hè rồi..."

"Họ là thành viên của hãng."

"Có nghi ngờ gì không?"

"Không."

"Tôi hỏi xong rồi đó."

"Nghe này, Eddie. Anh phải rất cẩn thận trong vụ này. Đừng gọi khi tôi ở văn phòng hay ở nhà. Tôi sẽ gọi lại cho anh sau, trong khoảng một tháng nữa. Tôi nghi ngờ mình đang bị theo dõi rất sát sao."

"Bởi ai?"

"Giá mà tôi biết được."

13

Avery mỉm cười trước các số liệu mà máy tính in ra.

"Trong tháng Mười, anh đã ghi hóa đơn trung bình là sáu mươi mốt giờ mỗi tuần."

"Tôi nghĩ là sáu mươi bốn," Mitch nói.

"Sáu mươi mốt là đủ tốt rồi. Thật đấy, chúng ta chưa từng có người nào mới năm đầu đã ghi hóa đơn trung bình trong tháng cao đến vậy. Nó có hợp thức không đấy?"

"Không đệm hàng. Thật ra tôi còn có thể đẩy lên cao hơn nữa."

"Anh làm việc bao nhiêu giờ mỗi tuần?"

"Từ tám mươi lăm đến chín mươi. Tôi có thể ghi hóa đơn bảy mươi lăm nếu muốn."

"Tôi khuyên anh không nên làm vậy, ít ra là trong hiện tại. Nó có thể gây ra chút ganh tỵ ở quanh đây. Các cộng sự trẻ đang theo dõi anh rất sát sao đấy."

"Ông muốn tôi giảm tốc?"

"Dĩ nhiên là không. Ngay hiện giờ, anh và tôi đã tụt lại một tháng

phía sau. Tôi chỉ lo những giờ đăng đẳng. Chỉ lo một chút thôi. Hầu hết các cộng sự đều khởi đầu như ngọn lửa cháy rừng – những tuần lễ tám mươi, chín mươi giờ - nhưng chỉ sau đôi ba tháng họ đã bị thiêu rụi. Sáu mươi lăm đến bảy mươi là trung bình. Nhưng hình như anh có một xung lực phi thường."

"Tôi không cần ngủ nhiều."

"Vợ anh nghĩ sao về chuyện này?"

"Chuyện đó có gì là quan trọng."

"Cô ấy có phiền hà về những giờ đăng đẳng không?"

Mitch nhìn chằm chặp Avery, nghĩ về cuộc cãi cọ đêm hôm trước, khi anh về ăn tối vào lúc ba phút trước nửa đêm. Đó là một cuộc chiến có kiểm soát, nhưng là một cuộc chiến tồi tệ nhất đến nay, và nó còn hứa hẹn sẽ bị những người khác theo dõi. Không có đất cho sự buông bỏ. Abby nói cô cảm thấy gần gũi với ông Rice hàng xóm còn hơn cả với chồng mình.

"Cô ấy hiểu. Tôi bảo cô ấy tôi có thể trở thành đối tác trong hai năm và nghỉ hưu trước tuổi ba mươi."

"Có vẻ như anh đang phấn đấu chuyện đó thật."

"Ông đâu phàn nàn gì, đúng không? Từng giờ mà tôi ghi hóa đơn trong tháng rồi đều nằm trong hồ sơ của ông, và ông đâu có vẻ gì quá quan tâm khi dồn việc cho tôi."

Avery đặt bản in lên chiếc tủ búp-phê và chau mày với Mitch. "Tôi chỉ mong anh không bị thiêu rụi hay lơ là việc nhà."

Có vẻ thật kỳ cục khi nhận lời khuyên về hôn nhân từ một gã đàn

ông đã bỏ vợ. Anh nhìn Avery với nhiều vẻ khinh khi nhất mà anh có thể tạo ra. "Ông không cần phải lo chuyện gì xảy ra trong nhà tôi. Chừng nào mà tôi còn hiệu quả nơi đây thì ông nên lấy đó làm mừng."

Avery chồm qua bàn. "Coi nào, Mitch, tôi không giỏi lắm trong những việc như thế. Nó đến từ cấp cao hơn. Lambert và McKnight lo rằng anh đang thúc đẩy hơi quá gắt. Ý tôi là năm giờ vào buổi sáng, sáng nào cũng như sáng nào, thậm chí cả một số ngày Chủ nhật. Như vậy là căng thẳng lắm đó, Mitch."

"Họ nói gì?"

"Không nói gì nhiều. Tin hay không thì tùy. Mitch, những người này đang thực sự quan tâm đến anh và gia đình anh. Họ muốn có các luật sư hạnh phúc với các bà vợ hạnh phúc. Nếu mọi thứ êm xuôi thì các luật sư cũng hiệu quả hơn. Lambert đặc biệt gia trưởng. Ông ấy đang lên kế hoạch nghỉ hưu sau vài năm nữa, và ông ấy đang tìm cách làm sống dậy những năm tháng vinh quang của ông ấy thông qua anh và những người trẻ khác. Nếu ông ấy hỏi han quá nhiều hay có chút vẻ dạy đời thì hãy bỏ qua cho ông ấy. Ông ấy xứng đáng để sắm vai cha chú ở nơi đây."

"Bảo họ là tôi ổn, Abby cũng ổn, tất cả chúng ta đều vui vẻ và tôi làm việc rất hiệu quả."

"Tốt. Giờ thì đến chuyện mới lạ đây. Tôi và anh sẽ đến Grand Cayman một tuần nữa tính từ ngày mai. Tôi phải gặp vài chủ ngân hàng người Cayman nhân danh Sonny Capps và ba thân chủ khác.

Chủ yếu là công việc, nhưng chúng ta luôn có thể tranh thủ đôi chút để lặn bình và lặn ống thở. Tôi đã nói với Royce McKnight rằng tôi cần anh, và ông ta đã chuẩn y chuyến đi. Ông ta nói có lẽ anh cần một chút R&R. Anh có muốn đi không đấy?"

"Dĩ nhiên, tôi chỉ hơi bất ngờ thôi."

"Đó là chuyến đi làm ăn nên không được mang vợ theo. Lambert hơi lo điều đó sẽ sinh sự ở nhà."

"Tôi nghĩ ông Lambert đang lo lắng quá nhiều về những gì xảy ra trong nhà tôi. Hãy nói với ông ấy rằng tôi kiểm soát được. Không có vấn đề gì cả."

"Vậy là anh sẽ đi?"

"Chắc chắn rồi. Tôi sẽ đi. Chúng ta sẽ ở đó trong bao lâu?"

"Vài ngày. Chúng ta sẽ ngụ tại một trong các căn hộ chung cư của hãng. Sonny Capps có thể ngụ trong một căn khác. Tôi đang cố lấy máy bay của hãng, nhưng chúng ta có thể sẽ phải dùng chuyến bay thương mại."

"Với tôi thì không có vấn đề gì."

Ở Miami, chỉ có hai hành khách trên chiếc Cayman Airways 727 là đeo cà vạt. Và sau một vòng Punch Rum khuyến mãi đầu tiên, Avery lấy chai của ông ra và nhét nó vào túi áo khoác. Món Punch Rum được phục vụ bởi các cô tiếp viên xinh đẹp da nâu người Cayman với những đôi mắt xanh và nụ cười duyên dáng. Các em dưới đó thật là tuyệt. Avery nói không chỉ một lần.

Mitch ngồi sát cửa sổ, cố giấu nỗi phấn khích từ chuyến đi nước

ngoài đầu tiên. Anh đã tìm được một cuốn sách về các đảo Cayman trong thư viện. Có tất cả ba đảo lớn: Grand Cayman, Little Cayman, và Cayman Brac. Hai hòn đảo nhỏ hơn có dân cư thưa thớt và hiếm khi có khách đến. Grand Cayman có mười tám ngàn dân, mười hai ngàn công ty đăng ký hoạt động và ba trăm ngân hàng. Dân cư gồm hai mươi phần trăm da trắng, hai mươi phần trăm da đen, và sáu mươi phần trăm còn lại thì không rõ, và cũng chẳng ai thèm quan tâm. Georgetown, thủ đô của nó, những năm gần đây đã trở thành một thiên đường thuế quốc tế với các chủ ngân hàng kín kẽ cũng giống như các chủ ngân hàng Thụy Sĩ. Không có thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế bất động sản hay thuế quà tặng. Một số công ty và một số khoản đầu tư được đảm bảo không thu thuế trong vòng năm mươi năm. Các hòn đảo là lãnh thổ thuộc Anh với chính quyền ổn định một cách bất bình thường. Thu nhập từ thuế xuất khẩu và du lịch được tài trợ cho bất cứ thứ gì mà chính quyền thấy cần thiết. Không có tội ác hay thất nghiệp.

Grand Cayman dài ba mươi bảy cây số và rộng mười hai cây số ở nhiều đoạn, nhưng từ trên không thì nó trông nhỏ hơn nhiều. Đó là một hòn núi đá nhỏ bao quanh bởi một vùng nước trong veo như ngọc bích. Việc hạ cánh diễn ra hầu như trên một hồ nước mặn, nhưng ở những giây cuối cùng một dải nhựa đường hiện ra và đón lấy máy bay. Họ xuống máy bay và nhanh chóng đi qua hải quan. Một anh chàng da đen chộp lấy các túi xách của Mitch rồi ném chúng cùng các túi xách của Avery vào thùng sau của một chiếc Ford LTD đời 1972. Mich trả tiền típ cho anh ta một cách hào phóng.

"Bãi Seven Mile!" Avery ra lệnh sau khi nốc cạn chỗ Punch Rum cuối cùng còn sót lại.

"Vâng, mon," người tài xế lè nhè nói. Anh ta bẻ lái chiếc taxi rồi vọt thẳng theo hướng Georgetown. Chiếc radio phát một điệu giậm giật. Người tài xế lắc lư, gõ nhịp bằng các ngón tay trên bánh lái. Anh ta đang đi ngược chiều, nhưng mọi người ở đây ai cũng làm thế cả. Mitch ngả sâu vào chiếc ghế mòn vẹt rồi bắt chéo hai chân. Chiếc xe không có máy điều hòa, chỉ có các cửa sổ để mở. Không khí nhiệt đới oi bức vuốt qua khuôn mặt anh, thổi tung mái tóc anh. Thật là dễ chịu.

Hòn đảo rất bằng phẳng, và con đường đến Georgetown nhộn nhịp những chiếc xe châu Âu, xe gắn máy và xe đạp. Các ngôi nhà đều nhỏ bé, chỉ một tầng lầu với mái tôn và những tác phẩm bích họa đầy chăm chút và nhiều màu sắc. Các thảm cỏ đều hẹp với những cọng cỏ thưa thớt, nhưng bụi bặm được quét dọn tươm tất. Khi họ đến gần thành phố, các ngôi nhà chuyển thành các cửa hàng cùng hàng ngàn tòa nhà ba tầng khung sơn trắng, nơi du khách đứng dưới các mái che để tránh nắng. Người tài xế đánh một vòng rất gắt rồi đột nhiên họ ở giữa một khu thương mại đông đúc với những tòa nhà ngân hàng hiện đại.

Avery đảm nhận vai trò hướng dẫn viên du lịch. "Ở đây, các ngân hàng đến từ khắp mọi nơi. Đức, Pháp, Anh, Canada, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Đan Mạch. Thậm chí cả Ả Rập Saudi và Israel nữa. Hơn ba trăm cái là ít nhất. Nó trở thành một thiên đường thuế rất lớn. Các chủ nhà băng ở đây cực kỳ im ắng. Họ làm cho đám Thụy Sĩ

trông cứ như một lũ khoác lác vậy."

Chiếc taxi chậm lại trong luồng giao thông dày đặc, và gió cũng ngừng thổi. "Tôi thấy có nhiều ngân hàng Canada," Mitch nói.

"Cái tòa nhà ngay chỗ kia là tòa Royal Bank của Montreal. Chúng ta sẽ đến đó vào lúc mười giờ sáng. Phần lớn công việc của chúng ta là với các ngân hàng Canada."

"Có lý do đặc biệt nào không?"

"Chúng rất an toàn, và rất kín kẽ nữa." Con đường đông đúc chợt rẽ ngang, đâm vào một con đường đông đúc khác. Bên kia đoạn giao nhau, sắc xanh Caribe lấp lánh xuất hiện ở chân trời. Một con tàu du lịch đang neo bên trong vịnh.

"Vịnh Hogsty đấy," Avery nói. "Đó là nơi bọn hải tặc đậu thuyền của chúng cách đây ba trăm năm. Chính Râu Đen đã quần thảo các hòn đảo này và chôn giấu của ăn cướp của hắn. Một số của cải đó đã được tìm ra cách đây vài năm trong một cái hang ở phía đông nơi đây, gần Boden Town." Mitch gật đầu như thể anh tin câu chuyện đó. Người tài xế mỉm cười với hình ảnh của chính anh ta trên tấm gương chiếu hậu.

Avery quẹt mồ hôi trán. "Nơi này luôn thu hút đám hải tặc. Một thời là Râu Đen, giờ thì là đám hải tặc thời hiện đại. Họ thành lập các tập đoàn rồi giấu tiền bạc ở đây. Có đúng vậy không, mon?"

"Đúng vậy đó, mon," người tài xế đáp lại.

"Đó là bãi Seven Mile," Avery nói. "Một trong những bãi biển đẹp và nổi tiếng nhất thế giới. Có đúng vậy không, mon?"

"Đúng vậy đó, mon."

"Cát trắng như đường. Nước trong veo, ấm áp. Những cô gái đẹp ấm áp. Có đúng vậy không, mon?"

"Đúng vậy đó, mon."

"Tối nay sẽ có tiệc ngoài trời ở Palms, đúng không?"

"Vâng, mon. Vào lúc sáu giờ."

"Quán đó ở sát căn hộ chung cư của chúng ta. Palms là một khách sạn nổi tiếng, với các hoạt động nóng nhất trên bãi biển."

Mitch mỉm cười, nhìn các khách sạn lướt qua. Anh nhớ lại cuộc phỏng vấn tại Harvard, khi Oliver Lambert rao giảng về việc hãng không tán thành việc ly hôn và gái gú. Và cả chuyện nhậu nhẹt nữa. Có lẽ Avery đã quên những bài thuyết pháp đó chăng? Cũng có thể là không.

Căn hộ chung cư nằm ở trung tâm của bãi Seven Mile Beach, ở sát bên một khu phức hợp và khách sạn Palms. Như kỳ vọng, những căn hộ mà hãng sở hữu đều rộng mênh mông và được trang trí rất bắt mắt. Avery nói chúng có thể được bán với giá tối thiểu là nửa triệu mỗi căn, nhưng chúng không phải để bán. Chúng cũng không phải để cho thuê. Chúng là nơi cư trú dành cho các luật sư đã mệt nhoài của hãng Bendini, Lambert & Locke. Và cả một số ít thân chủ rất được ưu ái nữa.

Từ ban công phòng ngủ ở tầng hai, Mitch ngắm những con thuyền nhỏ trôi lững lờ trên mặt biển lóng lánh. Mặt trời đã bắt đầu xuống thấp và những con sóng nhỏ phản chiếu những tia sáng theo

hàng triệu hướng khác nhau. Chiếc thuyền du lịch di chuyển chầm chậm ra khỏi đảo. Hàng chục người đang tản bộ trên bãi biển, đá cát, té nước, rượt theo đám ghẹ, uống Punch Rum và món bia Red Stripe của Jamaica. Nhạc điệu Caribe trôi dạt ra từ Palms, nơi một quầy bar có mái che thu hút tựa nam châm những kẻ lang thang trên bãi biển. Từ một túp lều tranh gần đó, người ta cho thuê ống thở, bè đôi và banh bóng chuyền.

Avery bước ra ban công trong chiếc quần lửng hoa hòe màu cam và vàng. Cơ thể ông gầy và săn chắc, không có một chỗ nhão nào. Ông sở hữu một phần lợi ích trong một câu lạc bộ sức khỏe ở Memphis và luyện tập hàng ngày. Hiển nhiên, trong câu lạc bộ này có những chiếc giường rám nắng. Mitch thấy rất ấn tượng.

"Anh thấy tôi ăn mặc thế nào?" Avery hỏi.

"Rất đẹp. Hợp với ông lắm đó."

"Tôi còn một chiếc quần nữa, nếu anh thích."

"Không, cảm ơn. Tôi sẽ trung thành với chiếc quần đùi thể thao Western Kentucky của tôi."

Avery nhấp một hơi thức uống rồi ngắm nghía khung cảnh. "Tôi đến đây đã hàng chục lần mà vẫn thấy phấn khích. Tôi từng nghĩ sẽ xuống đây ở khi nào về hưu."

"Thế thì tuyệt quá rồi. Ông có thể tản bộ trên bãi biển và rượt bắt mấy con ghẹ."

"Rồi chơi domino và uống Red Stipe nữa. Anh đã uống Red Stripe bao giờ chưa?"

"Chưa, theo như tôi nhớ."

"Ta làm một chai nhé."

Quầy bar ngoài trời có tên là Rumheads. Nó đang chật ních với khoảng ba mươi du khách và vài người địa phương ngồi cùng nhau chơi domino quanh một chiếc bàn gỗ. Avery vất vả chen qua đám đông rồi trở lại với hai chai bia. Họ tìm được một chỗ ngồi gần sòng domino.

"Tôi nghĩ đó là điều tôi sẽ làm khi nghỉ hưu. Tôi sẽ xuống đây chơi domoni sống qua ngày. Và uống Red Stripe nữa."

"Bia ngon nhỉ."

"Và khi tôi chán domino thì tôi sẽ chơi phóng phi tiêu." Ông hất đầu về một phía góc, nơi một đám người Anh say xỉn đang ném phi tiêu vào một tấm bia và chửi bới lẫn nhau. "Và khi tôi chán phi tiêu thì, xem nào, ai biết được tôi sẽ làm gì. Xin lỗi nhé." Ông tiến thẳng đến chiếc bàn ở mái hiên, nơi hai cô gái mặc bikini vừa ngồi xuống. Ông tự giới thiệu mình và họ mời ông ngồi. Mitch gọi một Red Stripe nữa rồi đi ra bãi biển. Xa xa, anh có thể trông thấy các tòa nhà ngân hàng của Georgetown. Anh bước theo hướng đó.

Thức ăn được bày biện lên những chiếc bàn xếp quanh bể bơi. Cá mú nướng, cá mập nướng, cá nục, tôm chiên, thịt rùa, hào biển, tôm và bánh tôm.

Tất cả đều từ biển và tất cả đều tươi. Khách túm tụm quanh các bàn tự phục vụ trong khi các hầu bàn nhốn nháo chạy tới lui với những bình gallon Punch Rum. Họ ăn trên những chiếc bàn nhỏ

ngoài sân, nhìn ra Rumheads và nhìn ra biển. Điệu reggae cất lên. Mặt trời lặn sau những áng mây rồi hạ xuống đến chân trời.

Mitch đi theo Avery băng qua buổi tiệc đứng và, như chờ đợi, họ đến chiếc bàn nơi hai cô gái đang ngồi chờ. Họ là chị em, cả hai đều ở độ tuổi cuối hai mươi, cả hai đều đã ly hôn, cả hai đều say xỉn. Cô gái tên Carrie đã mê tít Avery, còn cô kia, Julia, thì lập tức để mắt đến Mitch. Anh tự hỏi không biết Avery đã nói gì với họ.

"Em thấy anh đã lập gia đình," Julia thì thào khi sáp lại gần anh.

"Phải, và rất hạnh phúc."

Cô mỉm cười như thể chấp nhận sự khiêu khích. Avery và cô gái của ông đá lông nheo với nhau. Mitch vớ lấy một chiếc ly và nốc cạn.

Anh xiên thức ăn và không thể nghĩ đến gì khác ngoài Abby. Sẽ khó mà thanh minh nếu một sự thanh minh là cần thiết. Ăn tối với hai cô gái quyến rũ là một điều không thể thanh minh. Cuộc trò chuyện tại bàn trở nên ngượng nghịu và Mitch không nói thêm được lời nào. Một người phục vụ đặt một chiếc bình lớn lên bàn, và nó nhanh chóng được uống cạn. Avery trở nên khả ố. Ông nói với hai cô gái rằng anh từng chơi cho đội New York Giants, từng đoạt hai giải Super Bowl. Kiếm được hàng triệu đô trước khi bị một chấn thương đầu gối làm hủy hoại sự nghiệp. Mitch lắc đầu và uống thêm. Julia thèm nhỏ dãi và xích lại gần anh hơn nữa.

Băng nhạc tăng âm lượng, và đã đến lúc để khiêu vũ. Một nửa đám đông di chuyển đến một sàn nhảy bằng gỗ giữa bể bơi và bãi

biển, bên dưới hai ngọn cây.

"Ta khiêu vũ nhé!" Avery reo lên rồi tóm lấy cô gái của ông. Họ lách qua các bàn rồi nhanh chóng biến mất vào đám đông du khách đang giậm giật và xô đẩy.

Anh cảm thấy cô gái dịch lại sát hơn, rồi tay cô đặt lên đùi anh. "Anh có muốn nhảy không?" cô hỏi.

"Không."

"Tốt. Em cũng thế. Vậy anh muốn gì nào?" Cô cạ ngực lên bắp tay của anh và nhoẻn một nụ cười quyến rũ nhất, cách anh chỉ vài phân.

"Tôi không có kế hoạch làm gì cả."

Anh gỡ tay cô ra.

"Ô, coi nào. Ta vui vẻ chút đi. Vợ anh chẳng bao giờ biết đâu mà."

"Này, cô là một cô gái xinh đẹp, nhưng cô đang lãng phí thời gian với tôi đấy. Bây giờ hãy còn sớm, cô có thừa thời gian để lượm một anh chàng ngon lành."

"Chỉ có anh mới dễ thương."

Bàn tay đã trở lại, và Mitch hít một hơi sâu.

"Sao cô không biến đi."

"Xin lỗi, anh nói gì?"

Bàn tay lại rút về.

"Tôi nói cô biến đi."

Cô lui ra xa hơn. "Anh sao vậy?"

"Tôi có ác cảm với các loại bệnh truyền nhiễm. Biến đi."

"Vậy sao anh không tự biến đi."

"Một ý tưởng tuyệt vời. Tôi biến đây. Chúc bữa tối vui vẻ."

Mitch vớ lấy ly Punch Rum của anh rồi len lỏi qua đám người đang nhảy để trở ra quầy bar. Anh gọi một Red Stripe rồi ngồi một mình trong một góc nhỏ dưới hàng hiên. Bãi biển trước mắt anh vắng tanh. Ánh đèn của hàng chục con tàu đang chầm chậm di động trên mặt nước. Sau anh là âm thanh của Barefoot Boys và những tiếng cười trong đêm Caribe. Tuyệt lắm, anh nghĩ, nhưng sẽ còn tuyệt hơn nữa nếu như có Abby. Có thể họ sẽ đến đây nghỉ vào mùa hè năm tới. Họ cần có thời gian bên nhau, cách xa nhà và cách xa văn phòng. Có một khoảng cách giữa họ - một khoảng cách mà anh không thể xác định được. Một khoảng cách mà họ không thể thảo luận nhưng cả hai đều cảm nhận. Một khoảng cách mà anh sợ hãi.

"Anh đang nhìn gì vậy?" Giọng nói khiến anh giật mình. Một cô gái bước đến bàn và ngồi xuống cạnh anh. Cô là một người bản địa, da sẫm màu, mắt xanh hoặc lục nhạt. Không thể nào biết được trong bóng tối. Nhưng đó là một đôi mắt đẹp, rất nồng ấm và không hề ngượng ngùng. Mái tóc sậm và xoăn của cô xõa ra sau, hầu như đến tận eo. Cô là một sự pha trộn lạ lẫm giữa da đen, da trắng, và có lẽ là Latin. Và có lẽ còn nhiều hơn thế nữa. Cô mặc một chiếc bikini trắng, áo ngực trễ rất thấp, chỉ vừa vặn che bộ ngực lớn, và chiếc váy màu sáng của cô có đường xẻ ở hông làm lộ ra hầu như

mọi thứ khi cô ngồi bắt chéo chân. Không đi giày.

"Chẳng nhìn gì cụ thể cả" Mitch nói. Cô ta còn trẻ, có nụ cười thơ trẻ lộ ra một hàm răng hoàn hảo.

"Anh từ đâu đến vậy?" cô hỏi.

"Hoa Kỳ."

Cô khúc khích cười. "Dĩ nhiên là vậy rồi. Tại đâu ở Hoa Kỳ?" Đó là một thứ tiếng Anh mềm mại, êm dịu, chuẩn xác, tự tin đối với một người Caribe.

"Memphis."

"Có rất nhiều người đến đây từ Memphis. Rất nhiều người đi lặn."

"Em sống ở đây à?" anh hỏi.

"Vâng. Cả đời em. Mẹ em là người bản địa. Ba em đến từ Anh. Ông ấy đã đi rồi, trở về nơi mà từ đó ông ấy đến."

"Em uống chút gì không?"

"Có. Rum và Soda."

Anh đứng ở quầy bar để chờ các món uống. Một thứ gì đó âm ỉ, bồn chồn nhói lên trong bao tử. Anh có thể lẩn vào màn đêm, biến mất trong đám đông rồi tìm đường trở về khu chung cư một cách an toàn. Anh có thể khóa trái cửa rồi đọc một cuốn sách về các thiên đường thuế quốc tế. Thế thì chán quá. Cộng thêm với việc Avery lúc này đang ở đó với cô nàng bé bỏng nóng hổi của ông ta. Cô bé ấy vô hại, Rum và Red Stripe nói với anh như vậy. Họ sẽ uống cùng nhau đôi ba ly rồi nói lời từ biệt.

Anh trở lại với các thức uống và ngồi đối mặt với cô gái, ngồi xa

nhất có thể. Chỉ có hai người họ ở hàng hiên.

"Anh có phải là người đi lặn không?" cô hỏi.

"Không. Tin hay không tùy em, nhưng anh ở đây là vì công việc. Anh là một luật sư và anh đã có cuộc họp với vài ông chủ ngân hàng sáng hôm nay."

"Anh còn ở đây bao lâu?"

"Vài ngày nữa." Anh lịch sự nhưng ngắn gọn. Càng ít nói bao nhiêu thì càng an toàn bấy nhiêu. Cô đổi chân, bắt chéo rồi mỉm cười ngây thơ. Anh cảm thấy mình yếu ớt.

"Em bao nhiêu tuổi?" anh hỏi.

"Em hai mươi tuổi, và tên em là Eilene. Em khá lớn tuổi rồi."

"Anh là Mitch."

Bao tử của anh giần giật và anh cảm thấy hơi choáng. Anh nhấp nhanh ly bia của mình. Anh liếc nhìn đồng hồ. Cô theo dõi với cùng một nụ cười quyến rũ.

"Anh đẹp trai lắm."

Đó là một lời ngỏ hơi vội vã. Giữ bình tĩnh, anh tự răn mình, hãy giữ bình tĩnh.

"Cảm ơn em."

"Anh có phải là một người chơi thể thao không?"

"Kiểu như thế. Sao em lại hỏi vậy?"

"Trông anh giống người chơi thể thao. Anh rất vạm vỡ và chắc khỏe."

Chính cái cách cô nhấn mạnh từ "chắc khỏe" đã khiến bao tử anh quặn đau trở lại. Anh ngắm cơ thể cô và cố rặn ra vài lời khen nào đó không mang tính khêu gợi. Hãy quên cái cơ thể đó đi.

"Em làm việc ở đâu?" anh hỏi, hướng đến một lĩnh vực ít nhạy cảm hơn.

"Em là thư ký tại một cửa hàng nữ trang trong thành phố."

"Em sống ở đâu?"

"Ở Georgetown. Còn anh đang ở đâu?"

"Tại căn chung cư ở kế bên." Anh hất đầu về phía đó, và cô quay sang trái. Cô muốn thấy tòa chung cư, anh thầm nghĩ. Cô nhấp thức uống.

"Sao anh không dự tiệc?" cô hỏi.

"Anh không thích tiệc tùng."

"Vậy anh có thích bãi biển không?"

"Nó đẹp lắm."

"Dưới ánh trăng nó còn đẹp hơn nữa."

Cũng lại nụ cười ấy. Anh không thể nói năng gì.

"Có một quầy bar hay hơn dọc bãi biển, cách đây khoảng một cây số rưỡi," cô nói. "Ta đi bộ đến đó nhé."

"Anh không biết nữa, anh phải về thôi. Anh có việc phải làm trước sáng mai."

Cô bật cười, đứng dậy. "Không ai ở Cayman lại dậy sớm thế đâu. Thôi nào. Em còn nợ anh một chầu nước."

"Không. Anh tốt nhất không nên uống."

Cô nắm tay anh và anh đi theo cô từ hàng hiên ra bãi biển. Họ im lặng bước đi cho đến khi Palms khuất dạng và tiếng nhạc nhỏ dần. Lúc này mặt trăng đã lên cao và sáng hơn, và bãi biển thì vắng ngắt. Cô tháo thứ gì đó rồi cởi váy, để lộ ra tất cả ngoại trừ một mảnh dây quanh eo và một mảnh dây giữa hai chân. Cô cuộn chiếc váy lại, vắt nó lên cổ anh, rồi nắm lấy tay anh.

Điều gì đó mách bảo anh phải chạy. Phải vứt chai bia vào đại dương. Vứt chiếc váy lên cát. Phải bỏ chạy trối chết. Chạy về khu chung cư. Khóa cửa lại. Khóa cửa sổ lại. Chạy. Chạy. Chạy.

Nhưng điều gì đó cũng bảo anh phải hãy thư giãn. Đó chỉ là một cuộc vui vô hại. Hãy uống thêm đôi chút. Nếu có chuyện gì xảy ra thì hãy cứ tận hưởng. Sẽ chẳng ai hay biết. Memphis ở cách đây hàng ngàn dặm. Avery sẽ không biết. Mà Avery thì liên quan gì? Ông ta còn nói gì được chứ? Ai ai cũng đều như vậy cả. Nó từng một lần diễn ra lúc anh ở trung học, trước khi anh kết hôn và sau khi anh dính líu, anh đã đổ lỗi cho bia, cho quá nhiều bia. Và rồi anh đã sống sót mà không bị dính vết sẹo lớn nào cả. Thời gian sẽ xử lý chuyện đó. Abby sẽ chẳng bao giờ biết. Chạy. Chạy. Chạy.

Họ đi bộ một cây số rưỡi và không thấy có quầy bar nào cả. Bãi biển tối đen. Một đám mây toa rập che khuất mặt trăng. Họ không gặp một ai kể từ Rumheads. Cô lôi tay anh về phía những chiếc ghế nhựa bãi biển gần mép nước. "Mình nghỉ ngơi chút đi," cô nói. Anh uống nốt chai bia.

"Anh im lặng mãi thế?" cô nói.

"Em muốn anh nói gì?"

"Anh nghĩ em có đẹp không?"

"Em đẹp lắm. Và thân hình em cũng đẹp nữa."

Cô ngồi lên mép ghế và sục chân trong nước. "Ta đi tắm nhé."

"Anh, ờ, anh không hứng thú lắm."

"Coi nào, Mitch. Em thích tắm lắm."

"Cứ đi đi. Anh sẽ canh chừng đồ."

Cô quỳ xuống cát, cạnh bên anh, mặt đối mặt với anh, chỉ cách có vài phân. Bằng một thao tác chầm chậm, cô đưa tay ra sau cổ.

Cô cởi khóa mảnh bikini trên và để nó rơi ra, thật chậm. Ngực của cô nay đã lớn hơn nhiều. Nó tì lên cẳng tay trái của anh. Cô trao mảnh bikini cho anh. "Cầm giúp em." Nó mềm mại, trắng muốt và cân nặng chưa đến năm gam. Anh như bị tê liệt. Mới cách đây vài phút còn nặng nhọc, hơi thở anh nay đã dừng hoàn toàn.

Cô đi chầm chậm ra biển. Sợi dây trắng không che bất cứ thứ gì phía sau. Mái tóc sẫm tuyệt đẹp của cô xõa đến eo. Cô khoắng nước đến đầu gối rồi trở lại bãi biển.

"Lại đây, Mitch. Nước dễ chịu lắm." Cô nhoẻn nụ cười rạng rỡ và anh trông thấy nó. Anh mân mê mảnh bikini trên và hiểu rằng đó là cơ hội cuối cùng của anh để bỏ chạy. Nhưng anh đang ngây ngất và yếu đuối. Việc chạy thoát đòi hỏi anh phải có nhiều sức mạnh hơn tất cả những gì anh có thể tập hợp. Anh muốn chỉ ngồi đó và biết đâu cô sẽ bỏ đi. Biết đâu cô sẽ bị chết đuối. Biết đâu thủy triều sẽ ra

tay, cuốn cô vào đại dương.

"Đi nào, Mitch."

Anh cởi áo ra và bì bõm bước vào nước. Cô mỉm cười, quan sát anh. Và khi anh đến gần cô, cô cầm lấy tay anh, dẫn anh đến chỗ nước sâu hơn. Cô vòng tay quanh cổ anh, và họ hôn nhau. Anh lần ra những sợi dây. Họ hôn nhau lần nữa.

Cô đột ngột dừng lại và, không nói một lời, chạy thẳng về bãi biển. Cô ngồi trên cát, giữa hai chiếc ghế, tháo nốt phần còn lại của chiếc bikini. Anh ngụp đầu xuống nước và nín thở tưởng như đến bất tận. Khi anh trồi lên, cô đang ngồi ngả ra sau, chống cùi chỏ trên cát. Anh nhìn quanh bãi biển và, dĩ nhiên, chẳng thấy ai. Chính vào khoảnh khắc đó, mặt trăng lại rúc vào một đám mây khác. Không có một chiếc thuyền nào, không có một chiếc bè nào, hay một chiếc xuồng, một người đi bơi, một người lặn biển, bất cứ thứ gì hay bất cứ ai đang di chuyển trên mặt nước.

"Anh không thể làm việc đó," anh lẩm bẩm qua hàm răng nghiến chặt.

"Anh nói gì vậy, Mitch?"

"Anh không thể làm việc đó," anh hét lên.

"Nhưng em muốn anh."

"Anh không thể."

"Coi nào, Mitch. Không ai biết đâu mà."

Sẽ không ai biết đâu. Không ai biết. Anh chầm chậm bước đến cô. Sẽ không ai biết đâu.

Ở băng sau chiếc taxi là sự im lặng tuyệt đối khi các luật sư đi xe đến Georgetown. Họ đã muộn giờ. Họ đã ngủ quên và lỡ mất bữa sáng. Cả hai đều không được khỏe lắm. Avery đặc biệt bơ phờ. Đôi mắt ông đỏ ngầu và khuôn mặt nhợt nhạt. Ông chưa kịp cạo râu.

Vượt qua luồng giao thông dày đặc, người tài xế dừng xe trước ngân hàng Royal Bank of Montreal. Chưa gì mà hơi nóng và cái ẩm đã gây ra ngột ngạt.

Randolph Osgood là chủ ngân hàng, một gã người Anh tẻ nhạt trong bộ vest xanh dương hai hàng nút, cặp kính sừng gọng đen, vầng trán cao bóng loáng và chiếc mũi nhọn hoắt. Ông ta đón tiếp Avery như một người bạn cũ, rồi tự giới thiệu với Mitch. Họ được dẫn vào một văn phòng rộng ở tầng hai nhìn ra vịnh Hogsty Bay. Hai thư ký đang chờ sẵn.

"Chính xác ông cần gì vậy, Avery?" Osgood lí nhí hỏi.

"Ta hãy kích hoạt bằng cà phê đi nhé. Tôi cần bản tổng kết toàn bộ các tài khoản của Capps, Al Coscia, Dolph Hemmba, Ratzlaff Partners và Greene Group."

"Vâng, và ông muốn lui lại cỡ bao lâu?"

"Sáu tháng. Từng tài khoản một."

Osgood búng ngón tay với một trong các thư ký. Cô ta đi ra rồi trở vào với một khay cà phê và bánh ngọt. Cô thứ ba thì lấy sổ ghi chép.

"Dĩ nhiên, Avery, chúng tôi cần sự cho phép và quyền hạn của luật sư cho từng thân chủ này," Osgood nói.

"Chúng ở cả trong hồ sơ," Avery nói trong khi mở chiếc cặp.

"Đúng, nhưng chúng hết hạn rồi. Chúng tôi cần những hồ sơ cập nhật. Từng tài khoản một."

"Được." Avery đẩy một hồ sơ sang phía bên kia bàn. "Chúng ở cả trong đó. Mọi thứ đều đã được cập nhật." Ông nháy mắt với Mitch.

Một thư ký cầm hồ sơ rồi trải các tài liệu lên bàn. Từng văn kiện được soi mói bởi cả hai thư ký, rồi bởi đích thân Osgoods. Các luật sư ngồi uống cà phê và chờ đợi.

Osgood mỉm cười, nói, "Có vẻ mọi thứ đều ổn. Chúng tôi sẽ ghi các biên bản. Ông còn cần gì khác không?"

"Tôi cần thiết lập ba công ty. Hai cho Sonny Capps và một cho Green Group. Chúng tôi sẽ đi theo quy trình thường lệ. Ngân hàng sẽ đóng vai trò bảo hộ, vân vân."

"Tôi sẽ cung cấp các tài liệu cần thiết," Osgoods nói rồi nhìn sang một cô thư ký. "Còn gì nữa không?"

"Tạm thời chỉ có thế."

"Rất tốt. Ba mươi phút nữa chúng ta sẽ có các biên bản đó. Các ông dùng bữa trưa cùng tôi nhé?"

"Tôi xin lỗi, Radolph. Tôi phải từ chối thôi. Mitch và tôi đã có hẹn trước. Có lẽ để mai đi."

Mitch biết chẳng có cuộc hẹn trước nào cả, ít ra từ phía anh. "Có lẽ vậy," Osgoods đáp. Ông rời phòng cùng các cô thư ký. Avery khép cửa rồi tháo cà vạt. Ông bước đến cửa sổ và nhấp một ngụm cà phê. "Này, Mitch, tôi xin lỗi vụ tối qua nhé. Rất xin lỗi. Tôi hơi xỉn

nên không được sáng suốt lắm. Tôi đã sai khi đẩy cô gái đó cho anh."

"Lời xin lỗi được chấp nhận. Đừng để chuyện đó diễn ra lần nữa nhé."

"Không đâu, tôi hứa đấy."

"Cô ta có ngon lành không?"

"Tôi nghĩ là ngon. Tôi cũng chẳng nhớ nhiều lắm. Anh làm gì với em gái của cô ta vậy?"

"Cô ta bảo tôi biến đi. Tôi ra bãi biển rồi đi dạo một lúc."

Avery cắn miếng bánh rồi chùi mép. "Anh biết tôi ly thân rồi mà. Chúng tôi có lẽ sẽ ly dị sau chừng một năm nữa. Tôi rất kín kẽ vì cuộc ly hôn có thể sẽ rất tệ hại. Hãng có một điều luật bất thành văn: những gì chúng ta làm ở xa Memphis thì sẽ phải ở lại cái nơi xa xăm ấy. Hiểu chưa?"

"Coi nào, Avery, ông biết tôi sẽ không kể cho ai mà."

"Tôi biết, tôi biết."

Mitch thấy mừng về cái điều luật bất thành văn này. Anh đã thức dậy với ý thức mình vừa phạm trọng tội. Anh đã nghĩ đến cô ta trên giường, trong phòng tắm, trên taxi, và nay anh thấy khó mà tập trung vào bất cứ việc gì. Anh thậm chí đã nhận ra mình đang nhòm ngó các cửa hàng nữ trang khi họ đến Georgetown.

"Tôi có câu hỏi này." Mitch nói.

Avery gật đầu và ăn bánh.

"Khi Oliver Lambert, McKnight, và cả băng họ tuyển mộ tôi cách

đây vài tháng, tôi thấy rất ấn tượng về việc họ liên tục nhắc nhở về sự nghiêm ngặt của hãng đối với chuyện ly hôn, gái gú, nhậu nhẹt, ma túy, tất tật mọi thứ chỉ ngoại trừ công việc và tiền bạc. Đó là lý do tôi nhận việc. Tôi đã thấy công việc và tiền bạc rồi đó, nhưng nay tôi lại đang thấy những thứ khác. Các ông sai ở chỗ nào vậy? Hay tất cả mọi người đều như thế cả?"

"Tôi không thích câu hỏi của anh."

"Tôi biết ông không thích. Nhưng tôi muốn có câu trả lời. Tôi xứng đáng để nhận câu trả lời. Tôi cảm thấy như mình bị lừa dối vậy."

"Vậy anh định làm gì? Rời khỏi hãng vì tôi uống rượu và làm tình với một con điếm ư?"

"Tôi chưa từng nghĩ đến việc rời khỏi hãng."

"Tốt. Đừng nghĩ."

"Nhưng tôi có quyền được nhận câu trả lời."

"Được rồi, nghe đây. Tôi là gã lông bông nhất trong hãng, và họ sẽ xuống tay rất nặng khi tôi đả động đến chuyện ly hôn. Tôi gạ gẫm phụ nữ hết lần này đến lần khác, nhưng chẳng ai hay biết cả. Hay ít ra là họ không bắt thóp được tôi. Tôi chắc chắn các đối tác khác cũng làm vậy, nhưng anh sẽ chẳng bao giờ bắt thóp được họ. Không phải tất cả bọn họ, nhưng là một vài người. Hầu hết đều có hôn nhân rất ổn định và luôn chân thành với vợ mình. Tôi thì luôn là một gã xấu, nhưng họ chịu đựng tôi vì tôi quá giỏi. Họ biết tôi uống rượu vào bữa trưa và đôi khi cả trong văn phòng; họ biết tôi vi

phạm một số luật lệ thiêng liêng của họ, thế mà họ vẫn cứ phong tôi làm đối tác bởi vì họ cần tôi. Và nay tôi đã là đối tác rồi thì họ chẳng thể làm được gì nữa. Tôi không phải là một gã quá tệ đâu, Mitch ạ."

"Tôi có nói ông tệ hồi nào đâu."

"Tôi không hoàn hảo. Một số họ cũng như thế, tin tôi đi. Họ là những cỗ máy, những con rô bốt. Họ sống, họ ăn, họ ngủ, tất cả đều vì Bendini, Lambert & Locke. Tôi thì thích được vui vẻ một chút."

"Cho nên ông là một ngoại lệ..."

"Tôi không chỉ biết có luật lệ, đúng vậy. Và tôi sẽ không xin lỗi về chuyện đó."

"Tôi đâu đã đòi hỏi ông xin lỗi. Chỉ là muốn làm rõ thôi mà."

"Vậy thì đã rõ chưa?"

"Đã. Tôi luôn ngưỡng mộ sự thẳng thắn của ông."

"Còn tôi thì luôn ngưỡng mộ tính kỷ luật của anh. Một người đàn ông mạnh mẽ luôn trung thành với vợ bất chấp các cám dỗ như anh vừa trải qua đêm qua. Tôi thì không được mạnh mẽ như thế, không muốn thì đúng hơn."

Cám dỗ. Anh đã nghĩ đến việc đi dọ xét các cửa hàng nữ trang trong giờ ăn trưa.

"Coi nào, Avery, tôi đâu phải là ông thánh, và tôi cũng chẳng thấy sốc chút nào cả. Tôi không phải là kẻ đi phán xét, cả đời tôi đã bị phán xét quá đủ rồi. Tôi chỉ thấy lúng túng về các luật lệ thôi, chỉ có vậy."

"Các luật lệ không bao giờ thay đổi. Chúng được khắc trên bê

tông, trên đá granite. Nếu vi phạm quá nhiều thì sẽ bị cho ra rìa. Hoặc là cứ vi phạm xả láng đi, nhưng đừng có để bị bắt thóp."

"Nghe cũng có lý lẽ đấy."

Osgoods và nhóm thư ký trở vào phòng với các bảng in tài liệu từ máy tính. Họ chất thành những chồng ngay ngắn trên bàn và đã sắp xếp toàn bộ theo ký tự.

Đống tài liệu này sẽ giữ các ông bận rộn một vài ngày," Osgoods nói với một nụ cười giả tạo. Ông búng ngón tay và các cô thư ký biến mất. "Nếu các ông cần gì thì có tôi ở văn phòng."

"Vâng, cảm ơn," Avery nói khi cầm lên bộ hồ sơ đầu tiên. Mitch cởi áo vest và nới lỏng cà vạt.

"Chính xác chúng ta đang làm gì ở đây?" anh hỏi.

"Hai việc. Thứ nhất, chúng ta sẽ rà soát đầu vô của tất cả các tài khoản này. Chúng ta chủ yếu tìm lãi suất thu về, tỉ giá nào, bao nhiêu, vân vân. Chúng ta sẽ tiến hành kiểm toán chặt chẽ đối với từng tài khoản để đảm bảo lãi suất đến được nơi nó phải đến. Lấy ví dụ, Dolph Hemmba gửi lãi suất của ông ta đến chín ngân hàng khác nhau tại Bahamas. Điều đó là ngu ngốc, nhưng nó lại làm cho ông ta vui. Nó cũng khiến cho không ai có thể đeo theo được, chỉ ngoại trừ tôi ra. Ông ta có khoảng mười hai triệu trong ngân hàng này, cho nên cũng đáng để theo lắm chứ. Ông ta có thể tự làm việc đó, nhưng lại cảm thấy nên giao cho tôi thì tốt hơn. Với mức phí hai trăm năm mươi mỗi giờ, tôi cứ mặc kệ. Chúng ta sẽ kiểm tra lãi suất mà ngân hàng này đang trả cho từng tài khoản. Tỷ giá dao động tùy

theo số lượng nhân tố. Điều này đã được sự nhiệm ý với ngân hàng, và đó là một cách tốt để giữ cho họ lương thiện."

"Tôi nghĩ họ lương thiện mà."

"Họ là vậy, nhưng họ là chủ ngân hàng, nhớ không? Anh phải tìm gần ba mươi tài khoản ở đây, và khi ra về chúng ta sẽ biết được cán cân chính xác, lãi suất thu về là bao nhiêu và đang đi về đâu. Thứ hai, chúng ta có ba công ty thuộc quyền tài phán của người Cayman. Đó là một công việc pháp lý khá dễ dàng và có thể thực hiện ở Memphis. Nhưng các thân chủ lại nghĩ rằng chúng ta phải đến đây mới làm được việc đó. Nhớ chưa, chúng ta đang giao dịch với những người đầu tư đến hàng triệu. Vài trăm ngàn cho chi phí pháp lý chẳng bõ bèn gì với họ cả."

Mitch lật giở tập bản in về Hemmba. "Gã Hemmba này là ai vậy? Tôi chưa từng nghe về ông ta."

"Tôi có cả đống thân chủ mà anh chưa từng nghe. Hemmbar là một nhà nông lớn ở Arkansas, một trong những chủ đất lớn nhất bang."

"Hai mươi triệu đô la?"

"Đó chỉ là trong ngân hàng này."

"Hẳn là rất nhiều bông và đậu nành."

"Hãy chỉ nói rằng ông ta có những đầu tư mạo hiểm khác."

"Chẳng hạn như?"

"Tôi thực sự không thể nói."

"Hợp pháp hay bất hợp pháp?"

"Hãy chỉ nói rằng ông ta đang giấu IRS hai mươi triệu cộng lãi suất tại nhiều ngân hàng Caribe."

"Chúng ta có đang giúp ông ta không?"

Avery trải các tài liệu lên một bên đầu bàn rồi bắt đầu kiểm tra những đầu vô. Mitch nhìn và chờ câu trả lời. Sự im lặng trở nên nặng nề hơn và rõ ràng câu trả lời sẽ không đến. Anh có thể ép, nhưng anh đã có quá nhiều câu hỏi trong một ngày. Anh xắn tay áo lên và bắt đầu làm việc.

Đến trưa, anh được biết về "cuộc hẹn trước" của Avery. Cô gái của ông đang đợi ông trong một cuộc hẹn hò nhỏ ở chung cư. Ông gợi ý họ nghỉ giải lao trong vài giờ và nhắc đến một quán cà phê ở khu thương mại mà Mitch nên đến thử.

Thay vì uống cà phê, Mitch tìm đến Thư viện Georgetown ở cách ngân hàng bốn dãy phố. Ở tầng một, anh được hướng dẫn đến khu vực các tờ báo định kỳ, nơi anh tìm ra chiếc kệ chứa đầy những ấn bản cũ của tờ The Daily Caymanian. Anh dò lại sáu tháng trước rồi rút ra tờ tập san đề ngày 27 tháng Sáu. Anh trải nó ra chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ hướng ra đường. Anh nhìn ra cửa sổ, rồi nhìn kỹ hơn nữa. Có một gã đàn ông mà mới đây anh vừa gặp trên con đường gần ngân hàng. Hắn ngồi sau tay lái một chiếc Chevette vàng bệ rạc đậu trên con đường nhỏ đối diện với thư viện. Đó là một gã chắc nịch, tóc đen, có dáng dấp người nước ngoài. Hắn mặc một chiếc sơ mi sặc sỡ màu lục và cam, đeo kính mát du lịch loại rẻ tiền.

Cũng chiếc Chevette ấy và cũng gã lái xe ấy đã đậu trước cửa

hàng đồ lưu niệm gần ngân hàng. Và nay, chỉ mới ít lâu sau, nó đã đậu ở cách bốn dãy phố. Một người bản địa đi xe đạp dừng lại cạnh hắn và nhận một điếu thuốc lá. Gã đàn ông trong xe trỏ vào thư viện. Gã bản địa bỏ xe đạp lại, nhanh chóng băng qua đường.

Mitch gập tờ báo lại, nhét nó vào túi áo vest. Anh đi qua hai dãy kệ, tìm một tờ National Geographic, rồi ra bàn ngồi. Anh nghiền ngẫm tờ tạp chí và chăm chú nghe ngóng. Gã bản địa lên cầu thang, nhận ra anh, bước ra sau anh, có vẻ như dừng lại để ngó thử anh đọc gì, rồi hắn xuống thang và biến mất. Mitch chờ một lúc rồi trở lại cửa sổ. Gã bản địa đang nhận thêm một điều thuốc nữa và đang nói gì đó với gã ngồi trong chiếc Chevette. Hắn châm thuốc rồi lái xe đi.

Mitch trải tờ báo ra bàn rồi đọc lướt qua các tiêu đề phóng sự về hai luật sư người Mỹ và hướng dẫn viên lặn biển của họ bị chết trong một tai nạn bí ẩn một ngày trước đó. Anh ghi nhớ trong đầu rồi trả lại tờ báo.

Chiếc Chevette vẫn đang theo dõi. Anh băng qua ngay trước mặt nó, vượt qua một dãy phố rồi đi thẳng về hướng ngân hàng. Khu mua sắm bị ép chặt giữa các tòa nhà ngân hàng và vịnh Hogsty Bay. Các con đường đều hẹp và ngập tràn du khách đi bộ, du khách đi xe máy, du khách trong các căn hộ cho thuê. Anh củi vest ra, tạt vào một cửa hiệu bán áo thun mà trên gác có một quán nước nhỏ. Anh leo lên cầu thang, gọi một lon Coca, rồi ra ngồi ngoài ban công.

Chỉ sau vài phút, gã bản địa đi xe đạp đã ở trong quán. Hắn uống Red Stripe và quan sát từ phía sau tờ thực đơn in thủ công. Mitch

nhấp lon Coca, nhìn khung cảnh nhộn nhạo ở bên dưới. Không thấy bóng dáng chiếc Chevette, nhưng anh biết nó đang ở gần đó. Anh thấy một người đàn ông khác nhìn anh đăm đăm từ ngoài đường rồi biến mất. Rồi đến một phụ nữ. Liệu anh có bị hoang tưởng không vậy? Rồi chiếc Chevette rẽ góc đi qua hai dãy phố và chầm chậm di chuyển ngay phía dưới anh.

Anh vào cửa hàng áo thun và mua một cặp kính mát. Anh đi bộ một dãy phố rồi tạt vào một lối đi nhỏ. Anh thấy một cửa hàng quần áo lớn dành cho du khách và đi vào đó qua cửa hông. Anh chăm chú nhìn ra đường và chẳng thấy gì cả. Những chiếc giá chất đầy quần lửng và áo thun đủ màu sắc – những y phục mà dân bản địa không bao giờ mua mà người Mỹ thì lại luôn mê mẩn.

Anh vẫn thủ cựu: quần lửng trắng, áo pullover đỏ. Anh tìm thấy một đôi dép rơm cách chi đó trông khá hợp với chiếc nón rơm mà anh ưng ý. Cô bán hàng cười khúc khích và chỉ cho anh phòng thay đồ. Anh kiểm tra con đường một lần nữa. Không có gì cả. Quần áo mặc vừa vặn và anh xin phép cô gái cho anh để lại bộ đồ vest và đôi giày ở sau tiệm trong vài giờ. "Được mà, mon," cô ta nói. Anh thanh toán bằng tiền mặt, rồi dúi cho cô một tờ mười đô và nhờ cô gọi giùm taxi. Cô ta khen anh rất đẹp trai.

Anh sốt ruột nhìn đường cho đến khi chiếc taxi đến. Anh lao qua vỉa hè, chui vội vào băng sau. "Đến khu nhà lặn Abanks," anh nói. "Chỗ đó xa lắm, mon."

Mitch ném tờ hai mươi đô lên ghế. "Cứ đi đi. Để ý gương chiếu

hậu. Nếu có ai đi theo thì báo cho tôi biết."

Anh ta cầm lấy tiền. "Vâng, mon."

Đội chiếc nón mới, Mitch ngồi thấp xuống trên băng ghế sau trong khi người tài xế lần đường xuống Shedden Road, ra ngoài khu mua bán, bọc qua Hogsty Bay, rồi đâm ra hướng đông, vượt qua Red Bay, ra khỏi thành phố Georgetown rồi đi vào một con đường dẫn đến Bodden Town.

"Ông đang chạy trốn ai vậy, mon?"

Mitch mỉm cười, hạ cửa sổ cạnh anh xuống. "Sở Thuế vụ." Anh nghĩ đùa như thế là duyên, nhưng người tài xế xem chừng lại rối trí. Trên các đảo này làm gì có thuế và nhân viên thu thuế, anh sực nhớ. Người tài xế tiếp tục lái trong im lặng.

Theo báo chí, người hướng dẫn viên lặn là Philip Abanks, con trai của Barry Abanks, chủ nhân của khu nhà lặn. Khi chết, anh ta mới mười chín tuổi. Ba người đã chết đuối khi một vụ nổ nào đó đã xảy ra với con tàu. Một vụ nổ rất bí ẩn. Các thi thể được tìm thấy dưới mặt nước gần hai mươi lăm mét, vẫn mặc nguyên đồ lặn. Không có nhân chứng nào về vụ nổ, và cũng không có lời giải thích nào về lý do nó xảy ra cách hai dặm ngoài khơi, trong một khu vực lạ đối với người đi lặn. Bài báo nói có rất nhiều câu hỏi không có lời giải đáp.

Boden Town là một ngôi làng nhỏ cách Georgetown hai mươi phút đi xe. Khu nhà lặn nằm ở phía nam thị trấn trên một dải bờ biển biệt lập.

"Có ai đi theo chúng ta không?" Mitch hỏi.

Người tài xế lắc đầu.

"Làm tốt lắm. Đây là bốn mươi đô." Mitch nhìn đồng hồ. "Bây giờ là gần một giờ. Anh trở lại đây chính xác vào lúc hai giờ rưỡi có được không?"

"Được chứ, mon."

Con đường kết thúc ở rìa của bãi biển rồi biến thành một khu vực đậu xe đá trắng dưới bóng hàng chục cây cọ hoàng gia. Tòa nhà mặt tiền của khu nhà lặn là một ngôi nhà lớn hai tầng với mái tôn và cầu thang ngoài dẫn đến trung tâm ở tầng hai. Người ta gọi nó là Grand House. Nó được sơn màu lam nhạt với những đường viền trang trí sơn chỉn chu màu trắng, bị khuất một phần bởi những dây leo vịnh và những bụi hoa bỉ ngạn. Những kiến trúc chạm trổ bằng tay được sơn màu hồng. Các cửa chớp gỗ vững chãi thì sơn màu ô liu. Nó từng là trụ sở kiêm phòng ăn của khu nhà lặn Abanks. Ở bên trái của nó, những cây cọ thưa dần, và có một lối xe nhỏ lượn quanh Grand House rồi đổ dốc xuống một khu vực đá trắng rộng lớn. Mỗi bên có một nhóm chừng một chục nhà lều mái tranh, nơi trú ngụ của những người đi lặn. Một mê cung những lề đường lát gỗ chạy từ các nhà lều ra đến trung tâm của khu nhà lặn: quầy bar ngoài trời ở gần mép nước.

Mitch đi thẳng ra quầy bar, hướng đến những âm thanh giậm giật và những tiếng cười đùa quen thuộc. Nó giống như Rumheads, chỉ thiếu có đám đông. Sau vài phút, người phục vụ quầy, Henry, bưng ra cho Mitch một Red Stripe.

"Barry Abanks đang ở đâu?" Mitch hỏi.

Henry hất đầu ra biển rồi trở vào quầy bar. Ngoài xa, cách chừng tám trăm mét, một con tàu chầm chậm lướt đi trên mặt nước tĩnh lặng, hướng về phía khu nhà lặn. Mitch ăn một bánh phô mai và nhìn các thanh domino.

Con tàu đậu tại một cầu tàu giữa quán bar và một nhà lều lớn có hàng chữ CỬA HÀNG LẶN sơn trên cửa sổ. Những người đi lặn nhảy từ tàu xuống với các túi thiết bị, rồi, không có ngoại lệ nào, họ tiến thẳng đến quầy bar. Một người đàn ông thấp và đậm đứng cạnh con tàu, quát tháo các mệnh lệnh cho các thủy thủ trong khi họ đưa những bình lặn rỗng lên cầu tàu. Ông đội một chiếc nón bóng chày màu trắng, ngoài ra không có gì nhiều nhặn. Một chiếc túi đen nhỏ che phủ hết đũng quần và phần lớn phần mông phía sau của ông. Căn cứ theo làn da nâu dày, có vẻ như ông không mặc gì nhiều suốt năm mươi năm qua. Ông vào cửa hàng lặn, quát tháo các đội trưởng và thủy thủ, rồi đi đến quầy bar. Ông phớt lờ đám đông, tiến thẳng đến chiếc tủ lạnh, nơi ông lấy ra một chai Heineken, khui nắp rồi hớp một hơi dài.

Người phục vụ quầy nói gì đó với Abanks rồi hất đầu về phía Mitch. Ông khui một chai Heneiken nữa rồi bước đến bàn của Mitch. Ông không cười.

"Anh tìm tôi?" Đó hầu như chỉ là một cái nhếch mép.

"Ông là Abanks?"

"Chính tôi đây. Anh muốn gì?"

"Tôi muốn trao đổi với ông vài phút."

Ông hớp lon bia rồi nhìn ra đại dương. "Tôi bận lắm. Tàu lặn của tôi sắp đi sau bốn mươi phút nữa."

"Tôi tên là Mitch McDeere. Tôi là một luật sư đến từ Memphis." Abanks nhìn anh bằng đôi mắt nâu ti hí. Mitch đã giành được sự lắng nghe của ông.

"Vậy thì?"

"Hai người chết cùng con trai của ông là bạn của tôi. Chuyện này không thể chỉ nói vài phút là xong."

Abanks ngồi lên chiếc ghế đẩu, chống cùi chỏ lên gối. "Đó không phải là loại chủ đề tôi ưa thích."

"Tôi biết. Tôi xin lỗi."

"Cảnh sát dặn tôi không được trao đổi với bất cứ ai."

"Đây là chuyện kín, tôi hứa đấy."

Abanks nheo mắt nhìn màn nước xanh chói sáng. Khuôn mặt và hai tay ông mang những vết sẹo của cả một đời đi biển, một cuộc đời mười tám mét dưới mặt nước, hướng dẫn cho những người mới biết lặn cách đi qua và bọc quanh những rạn san hô và những con tàu đắm.

"Anh muốn biết điều gì?" ông dịu giọng hỏi.

"Chúng ta nói chuyện ở nơi nào khác có được không?"

"Dĩ nhiên. Ta đi dạo một chút nhé." Ông quát Henry, nói vài lời tại bàn của những người đi lặn rồi rời đi. Họ tản bộ trên bãi biển.

"Tôi muốn nói chuyện về vụ tai nạn," Mitch nói.

"Anh cứ việc hỏi. Tôi có thể không trả lời."

"Điều gì đã gây ra vụ nổ?"

"Tôi không biết. Có lẽ là chiếc máy nén khí. Có lẽ là do xăng. Chúng tôi không biết chắc. Con tàu bị hư hại nghiêm trọng và hầu hết các manh mối đều đã mất trong ngọn lửa."

"Đó có phải là tàu của ông không?"

"Phải. Một trong những con tàu nhỏ của tôi, một chiếc mười tám mét. Các ông bạn của anh đã thuê nó cho buổi sáng."

"Các xác chết được tìm thấy ở đâu?"

"Ở độ sâu hai mươi bốn mét. Các xác chết không có gì đáng ngờ, chỉ ngoại trừ việc không thấy có vết phỏng hoặc vết thương chỉ ra rằng họ hiện diện trong vụ nổ. Cho nên tôi nghĩ chính điều đó đã làm cho các xác chết có vẻ rất khả nghi."

"Bên pháp y nói họ chết đuối."

"Phải, họ chết đuối. Nhưng các ông bạn của anh đang mở bình hết cỡ, điều này đã được một trong những thầy dạy lặn của tôi xem xét. Nó hoạt động hoàn hảo. Họ là những người lặn giỏi."

"Con trai ông thì sao?"

"Nó thì không mở bình hết cỡ, nhưng nó bơi như cá vậy."

"Vụ nổ xảy ra ở đâu?"

"Họ lên kế hoạch lặn dọc theo một loạt cấu trúc san hô tại Roger's Wreck Point. Anh có thông thạo hòn đảo này không vậy?"

"Không."

"Nó nằm tại East Bay ở Northeastern Point. Các bạn của anh chưa từng lặn ở đó, và con tôi đã gợi ý họ đi thử. Chúng tôi quen biết tốt với các ông bạn của anh. Họ là những người lặn có kinh nghiệm và nghiêm túc. Họ luôn muốn đi tàu riêng và không băn khoăn gì về chuyện tiền bạc. Và họ luôn muốn Philip làm đội trưởng cho họ. Chúng tôi không biết họ có lặn tại Northeastern Point hay không. Con tàu được tìm thấy đang bốc cháy trên biển cách đó những hai hải lý, cách xa bất cứ địa điểm lặn nào của chúng tôi."

"Liệu có phải nó trôi dạt không?"

"Không thể nào. Nếu có trục trặc về động cơ, Philip đã sử dụng radio rồi. Chúng tôi có thiết bị hiện đại, và các thầy dạy lặn của chúng tôi luôn cập nhật các thiết bị nơi cửa hàng lặn. Không cách chi vụ nổ diễn ra ở Northeastern Point. Không ai trông thấy hoặc nghe thấy nó, và quanh đó luôn có người. Thứ hai, ở vùng nước này, một con tàu hỏng hóc không thể nào trôi dạt đến hai hải lý. Giả như con tàu có quả thực bị trôi dạt đi nữa, làm cách nào anh giải thích việc các thi thể trôi dạt ở độ sâu hai mươi bốn mét dưới nước? Họ được tìm thấy cách con tàu trong phạm vi hai mươi mét."

"Ai tìm thấy họ?"

"Người của tôi. Chúng tôi bắt được bản tin qua radio, rồi tôi phái một đội đến. Chúng tôi biết đó là tàu của chúng tôi, và người của tôi bắt đầu lặn xuống. Chỉ vài phút là họ tìm thấy các thi thể."

"Tôi biết chuyện này rất khó để kể lại."

Abanks uống cạn chai bia của ông rồi ném nó vào một thùng rác bằng gỗ. "Vâng, đúng vậy. Nhưng thời gian cũng giúp làm nguôi ngoai nỗi đau. Tại sao anh quan tâm nhiều thế?"

"Các gia đình đặt ra nhiều câu hỏi."

"Tôi rất tiếc cho họ. Tôi đã gặp các bà vợ của họ hồi năm ngoái. Họ đã ở một tuần cùng chúng tôi. Những con người thật là tốt."

"Có thể nào họ đơn giản đang khám phá một vùng biển mới thì chuyện đó xảy ra?"

"Vâng, có thể. Nhưng khả năng đó rất thấp. Các con tàu của chúng tôi luôn báo cáo từng dịch chuyển từ điểm lặn này đến điểm lặn kế tiếp. Đó là một quy trình chuẩn, không có ngoại lệ nào. Tôi đã từng đuổi việc một đội trưởng thợ lặn vì không báo cáo một địa điểm trước khi đi đến một địa điểm kế tiếp. Con tôi là đội trưởng giỏi nhất đảo. Nó lớn lên trong các vùng nước này. Nó sẽ chẳng bao giờ quên báo cáo các di chuyển của nó ở trên biển. Chỉ đơn giản là thế. Cảnh sát tin rằng đó là điều đã xảy ra, nhưng họ buộc lòng phải tin vào điều gì đó. Đó là cách giải thích duy nhất mà họ có."

"Nhưng họ giải thích thế nào về tình trạng của các thi thể?"

"Họ không thể giải thích. Theo như họ, đó đơn giản chỉ là một tai nạn khi lặn mà thôi."

"Nó có đúng là tai nạn không?"

"Tôi nghĩ là không."

Lúc này đôi dép đã gây phồng rộp nên Mitch tháo nó ra. Họ quay lại và bắt đầu đi ngược về khu nhà lặn.

"Nếu không phải là tai nạn thì là gì?"

Abanks cắm đầu bước, dõi theo những con ốc đại dương dọc bãi biển. Lần đầu tiên ông mỉm cười. "Còn khả năng nào khác nữa chứ?"

"Có tin đồn ở Memphis rằng chuyện này có dính dáng đến ma túy."

"Kể tôi nghe về tin đồn đó đi."

"Chúng tôi nghe nói con của ông đang làm việc cho một băng ma túy. Có khả năng hôm đó anh ta dùng con tàu để gặp gỡ một tay buôn ma túy và đã có tranh chấp diễn ra khiến cho các ông bạn của tôi bị liên lụy."

Abanks lại mỉm cười và lắc đầu. "Không phải là Philip. Theo như tôi biết thì nó chưa bao giờ dùng ma túy, và tôi biết chắc nó không buôn bán ma túy. Nó không quan tâm đến tiền bạc. Chỉ mê gái và lặn."

"Không có khả năng nào?"

"Không, không có khả năng nào cả. Tôi chưa từng nghe tin đồn này, và tôi cũng không tin ở Memphis họ biết được nhiều hơn. Đây chỉ là một hòn đảo nhỏ, có chuyện gì thì giờ này tôi đã nghe thấy rồi. Nó hoàn toàn sai sự thật."

Cuộc trò chuyện kết thúc và họ dừng lại cạnh quầy bar.

"Tôi xin anh một đặc ân." Abanks nói. "Đừng nói bất kỳ điều gì cho các gia đình. Tôi không thể chứng minh những gì tôi biết là đúng, cho nên tốt nhất là đừng để ai biết cả. Đặc biệt là các gia

đình."

"Tôi sẽ không nói cho ai hết. Và tôi cũng yêu cầu ông không nói cho ai về cuộc trò chuyện của chúng ta. Ai đó có thể lần theo tôi đến đây và đặt ra những câu hỏi về cuộc viếng thăm của tôi. Hãy chỉ nói chúng ta bàn về chuyện đi lặn.

"Được."

"Vợ tôi và tôi sẽ đến đây nghỉ phép vào mùa hè tới. Tôi chắc chắn sẽ tìm đến ông."

14

Trường St. Andrew's Episcopal tọa lạc phía sau một nhà thờ cùng tên. Nó nằm trên một khu đất năm mẫu ở trung tâm Memphis với mật độ cây cối dày đặc, được tỉa tót hoàn hảo. Gạch trắng và vàng thi thoảng lại lấp ló nơi mà các cây thường xuân vì lý do nào đó lại rẽ hướng và theo đuổi một lộ trình khác. Những dãy hoàng dương bị xén cụt nằm đối xứng ở hai bên lề và hai mặt của một sân chơi nhỏ. Đó là một tòa nhà hình chữ L nằm thinh lặng dưới bóng râm của hàng chục ngọn sồi lâu năm. Được yêu mến bởi vẻ độc đáo của nó, St. Andrew's là trường tư thục mắc tiền nhất ở Memphis cho các năm học từ nhà trẻ cho đến lớp sáu. Các bậc cha mẹ khá giả phải đăng ký vào danh sách chờ ngay sau khi sinh con.

Mitch dừng chiếc BMW trong bãi đậu giữa trường học và nhà thờ. Chiếc Peugeot màu đỏ tía của Abby bình thản đậu cách ba dãy ở phía dưới. Anh đã đến một cách bất ngờ. Máy bay hạ cánh sớm một giờ nên anh tạt về nhà để thay một bộ đồ cho ra dáng luật sư hơn. Anh sẽ gặp cô rồi vài giờ sau sẽ trở lại cái chốn làm việc với mức giá một trăm năm mươi đô.

Anh muốn gặp cô nơi đây, tại trường học, mà không hề báo trước.

Một đòn phủ đầu. Một cách đối phó. Anh sẽ nói "xin chào!" Anh nhớ cô. Anh nóng lòng muốn gặp cô, cho nên anh tạt qua trường. Anh sẽ rất lanh lẹ. Cú chạm và cảm xúc đầu tiên, những lời đầu tiên sau sự cố ở bãi biển. Có thể nào cô biết được chỉ bằng cách nhìn anh? Có thể nào cô đọc được ánh mắt anh. Có thể nào cô nhận ra chút căng thẳng trong giọng nói của anh? Không đâu, nếu cô bị tập kích. Không đâu nếu cô thấy hài lòng về cuộc viếng thăm đó.

Anh xiết bánh lái rồi nhìn chiếc xe của cô. Ngu thật! Đúng là đần độn! Tại sao anh không chạy? Tại sao anh không ném chiếc váy xuống cát rồi bỏ chạy như ma đuổi. Nhưng anh đã không làm như vậy. Chết tiệt, anh lại còn tự nhủ sẽ không ai biết. Chết tiệt, cho nên giờ đây anh phải phủi câu chuyện này và tự nhủ rằng ai cũng làm như thế cả.

Trên máy bay, anh đã vạch kế hoạch. Thứ nhất, anh sẽ đợi đến tối khuya và nói cho cô biết sự thật. Anh không được nói dối, không được sống trong dối trá. Anh phải thú nhận chuyện đó, phải kể cho cô chính xác những gì đã xảy ra. Biết đâu cô sẽ hiểu. Tại sao hầu hết đàn ông – chết tiệt, hầu như tất cả mọi người đàn ông – đều thực hiện cái cú lao đầu đó? Động thái thứ hai của anh sẽ tùy thuộc vào phản ứng của cô. Nếu cô điềm tĩnh và tỏ ra có chút cảm thông, anh sẽ nói với cô rằng anh rất tiếc, rất rất tiếc, và chuyện đó sẽ không bao giờ lặp lại nữa. Nếu cô tan vỡ ra từng mảnh thì anh sẽ cầu xin cô, chính xác là van xin cô tha thứ và anh sẽ thề trên Kinh

Thánh rằng đó chỉ là một sự lầm lỡ và nó sẽ không bao giờ xảy ra một lần nữa. Anh sẽ nói với cô rằng anh yêu cô, anh tôn thờ cô biết chừng nào, và làm ơn hãy cho anh một cơ hội nữa. Và nếu cô bắt đầu thu dọn hành lý thì, đến nước đó, có lẽ anh sẽ nhận ra rằng... lẽ ra anh không nên nói.

"Hãy chối bay chối biến!" Giáo sư luật hình sự của anh tại Harvard là một người cấp tiến tên là Moskowtz. Ông ta đã làm nên tên tuổi bằng cách bảo vệ những tên khủng bố, ám sát và lạm dụng trẻ em. Lý thuyết bào chữa của ông ta rất đơn giản: Chối! Chối! Và chối!

Không bao giờ công nhận một sự kiện nào, một mẩu bằng chứng cỏn con nào có thể vạch tội.

Khi họ hạ cánh xuống Miami, anh đã nhớ đến Moskowitz và bắt đầu thảo ra Kế hoạch B, vận dụng cả chuyến viếng thăm bất ngờ ở trường học và bữa tối muộn lãng mạn ở nhà hàng mà cô yêu thích. Và không được đả động đến điều gì cả, ngoại trừ công việc nhọc nhằn ở Cayman. Anh mở cửa xe, nghĩ đến nụ cười xinh đẹp của cô, khuôn mặt tin tưởng của cô, mà cảm thấy muốn ói. Một cơn đau nhức nhối và âm ỉ phát ra từ thẳm sâu trong bao tử. Anh bước chầm chậm đến cửa trước trong làn gió cuối thu.

Sảnh trường trống rỗng và im ắng. Bên phải anh là văn phòng của hiệu trưởng. Anh chờ một lúc ở hành lang, chờ để được trông thấy, nhưng chẳng có ai ở đó cả. Anh lặng lẽ bước cho đến khi, từ bên trong lớp học thứ ba, anh nghe thấy giọng nói tuyệt vời của vợ. Cô đang vật vã với các bảng cửu chương thì anh ló đầu qua cửa và

mỉm cười. Cô sững người rồi khúc khích cười. Cô xin phép cáo lui, dặn các em cứ ngồi lại tại chỗ và đọc trang kế tiếp. Cô khép cửa lại.

"Anh làm gì ở đây vậy?" cô hỏi khi anh túm lấy cô và ép cô vào tường. Cô bối rối nhìn xuôi theo hành lang.

"Anh nhớ em," anh nói với tất cả niềm tin. Anh ôm chặt lấy cô trong một khoảnh khắc tuyệt vời. Anh hôn cổ cô, ngửi mùi hương ngọt ngào của cô. Nhưng rồi cô gái đó đã trở lại. Mày là một cục phân, tại sao mày không chạy luôn cho rồi!

"Anh về hồi nào vậy?" cô hỏi trong lúc chỉnh lại mái tóc và liếc nhìn hành lang.

"Khoảng một giờ trước. Trông em tuyệt lắm."

Đôi mắt cô ngấn nước. Đôi mắt thật tuyệt vời và chân thành biết mấy.

"Chuyến đi của anh thế nào?"

"Ổn. Anh nhớ em. Không có em bên cạnh thì chẳng có gì là vui vẻ cả."

Nụ cười của cô nở rộng và cô nhìn đi nơi khác. "Em cũng nhớ anh lắm."

Họ nắm tay nhau bước ra cửa trước.

"Anh muốn một cuộc hẹn hò tối nay," anh nói.

"Anh không phải đi làm à?"

"Không, anh không phải đi làm. Anh phải đi với vợ của anh đến nhà hàng yêu thích của cô ta. Chúng mình sẽ ăn và uống rượu mắc tiền rồi sẽ nán lại muộn, và chúng mình sẽ trần truồng khi nào về

đến nhà."

"Anh nhớ em thật rồi." Cô hôn anh lần nữa, hôn lên môi, rồi nhìn dọc hành lang. "Nhưng anh phải ra khỏi đây trước khi có ai đó trông thấy anh." Họ bước nhanh đến cửa trước mà không bị ai bắt gặp. Anh hít sâu bầu không khí mát lạnh rồi bước nhanh đến chiếc xe của mình. Anh đã thành công. Anh đã nhìn vào đôi mắt ấy, đã ôm cô và hôn cô như xưa nay vẫn thế. Cô đã không nghi ngờ gì cả. Cô đã động lòng, thậm chí đã xúc động.

DeVasher lo lắng bước qua bước lại sau chiếc bàn làm việc của ông, bồn chồn rít điếu Roi-Tan. Ông ngồi xuống chiếc ghế xoay sờn cũ, cố tập trung vào một bản ghi nhớ, nhưng rồi lại đứng bật dậy và bước tới bước lui. Ông nhìn đồng hồ tay. Ông gọi cô thư ký. Ông gọi thư ký của Oliver Lambert. Ông bước nhanh hơn nữa. Cuối cùng, mười bảy phút sau đó, Ollie được kiểm tra an ninh và bước vào văn phòng của DeVasher. Đứng sau bàn làm việc, DeVasher gườm gườm nhìn Ollie.

"Anh đến muộn!"

"Tôi đang rất bận." Ollie đáp khi ngồi xuống chiếc ghế giả da sờn mòn. "Có chuyện gì mà toáng lên vậy?"

Trên khuôn mặt của DeVasher bỗng chốc nở ra một nụ cười nham hiểm và tàn ác. Ông hệ trọng mở ngăn kéo rồi hãnh diện vứt qua bàn một chiếc phong bì lớn màu vàng kem. Nó rơi vào lòng của Ollie.

"Một trong những việc tốt nhất mà chúng tôi từng thực hiện."

Lambert mở phong bì và há hốc miệng trước những tấm ảnh trắng đen khổ hai-mươi hai-mươi-lăm. Ông chăm chú xem từng tấm, đưa chúng lên sát mũi chỉ cách có vài phân, cố ghi nhớ từng chi tiết. DeVasher hãnh diện nhìn.

Lambert xem lại chúng lần nữa rồi bắt đầu thở nặng nhọc. "Không thể tin nổi."

"Đúng. Chúng tôi cũng nghĩ thế."

"Cô gái đó là ai vậy?" Ollie hỏi, mắt vẫn không rời xấp ảnh.

"Một con điếm ở địa phương. Trông đẹp đấy chứ nhỉ? Chúng tôi chưa bao giờ sử dụng ả trước đây, nhưng anh có thể đặt cược rằng chúng tôi sẽ còn sử dụng lại."

"Tôi muốn gặp cô ta, càng nhanh càng tốt."

"Không có vấn đề gì. Tôi cũng hình dung anh muốn gặp."

"Thật khó tin. Cô ta làm cách nào vậy?"

"Lúc đầu thì có vẻ khó khăn. Hắn bảo cô gái đầu tiên biến đi. Avery có một ả khác, nhưng lính của anh không thích cô bạn của ả này. Hắn bỏ đi, đến chỗ quầy bar nhỏ trên bãi biển. Đó là lúc cô nàng của chúng tôi ở đó xuất hiện. Ả đúng là chuyên nghiệp."

"Người của anh đang ở đâu?"

"Ở khắp nơi. Mấy bức này được chụp từ phía sau một cây cọ, cách khoảng hai mươi lăm mét. Rất tài tình phải không?"

"Rất tài tình. Hãy thưởng cho tay nhiếp ảnh. Họ lăn lộn trên cát mất bao lâu?"

"Khá lâu. Chúng rất ăn ý nhau."

"Tôi nghĩ hắn thực sự rất thích."

"Chúng tôi đã may mắn. Bãi biển trống trơn và việc canh giờ là hoàn hảo."

Lambert đưa một tấm ảnh lên trần, ngay sát mắt ông. "Anh rửa cho tôi một bộ rồi chứ?" ông hỏi từ phía sau tấm ảnh.

"Dĩ nhiên, Ollie. Tôi biết anh thích những tấm ảnh mà."

"Tôi cứ ngỡ McDeere phải cứng cỏi hơn thế."

"Hắn cứng cỏi đấy chớ, nhưng hắn cũng là con người. Và hắn cũng chẳng ngốc đâu. Tuy không chắc chắn nhưng tôi nghĩ hắn biết chúng tôi theo dõi hắn vào cái hôm sau đó, trong giờ ăn trưa. Hình như hắn đã nghi ngờ cho nên hắn bắt đầu lượn lẹo quanh khu phố mua sắm. Và rồi hắn biến mất. Hắn đến muộn một giờ cuộc họp với Avery ở ngân hàng."

"Hắn đi đâu?"

"Chúng tôi không biết. Chúng tôi theo dõi hắn chỉ vì tò mò mà thôi, chẳng có gì nghiêm trọng cả. Hắn đã ở một quán nước chết tiệt tại khu thương mại, chúng tôi chỉ biết có vậy. Nhưng hắn đã biến mất."

"Theo dõi hắn kỹ vào. Hắn làm tôi lo đấy."

DeVasher phe phẩy chiếc phong bì màu kem. "Khỏi lo đi, Ollie. Giờ thì chúng ta đã nắm thóp được hắn rồi! Hắn sẽ sẵn sàng giết người vì chúng ta nếu hắn biết cái này."

"Tarrance sao rồi?"

"Không thấy tăm hơi. McDeere không nhắc gì đến hắn với bất cứ ai, ít ra là bất cứ ai mà chúng ta đã nghe lén. Tarrance có những lúc cũng khó theo dấu, nhưng tôi nghĩ hắn vẫn chưa làm được gì."

"Nhớ mở to mắt ra nhé."

"Đừng lo phía tôi, Ollie. Các anh là luật sư, là nhà tư vấn, là bề trên, và các anh có cái khoản tám-trên-mười của các anh. Các anh lo vận hành hãng, còn tôi thì lo việc theo dõi."

"Ở nhà McDeere mọi chuyện thế nào?"

"Không được tốt lắm. Cô ta rất bình thản về chuyến đi."

"Cô ta làm gì khi hắn đi vắng?"

"Này nhé, cô ta chẳng phải là loại người thích quanh quẩn trong nhà đâu. Hai buổi tối, cô ta và vợ của Quin đã ra ngoài ăn uống tại vài tửu quán của mấy đứa nhóc hãnh tiến. Rồi sau đó họ đi xem phim. Có một tối cô ta ra ngoài cùng với một người đồng nghiệp ở trường học. Cô ta cũng mua sắm chút đỉnh. Cô ta cũng thường xuyên gọi cho mẹ, gọi collect. Dĩ nhiên giữa cu cậu của chúng ta và cha mẹ của cô ta không có tình cảm mặn nồng gì, và cô ta muốn xốc lại chuyện đó. Cô ta và bà mẹ rất gắn bó với nhau và cô ta thực sự buồn phiền vì không thể có được một đại gia đình hạnh phúc. Cô ta muốn về Kentucky dịp Giáng sinh, và cô ta đang lo hắn không chịu đi. Có rất nhiều va chạm. Nhiều chuyện ngấm ngầm ở bên dưới. Cô ta nói với mẹ rằng hắn làm việc quá nhiều, và mẹ cô ta nói đó là vì hắn muốn khoe mẽ với họ. Tôi không thích cái cách bà ta nói, Ollie ạ. Không có thiện cảm."

"Cứ nghe ngóng đi nhé. Chúng tôi đã thử cho hắn giảm tốc lại, nhưng hắn là một cỗ máy."

"Ừ, với mức một trăm năm mươi đô mỗi giờ, tôi biết các anh muốn hắn phải chậm lại. Sao anh không cắt số giờ làm việc của toàn bộ các cộng sự xuống còn bốn mươi mỗi tuần để họ còn có thời gian bên gia đình? Anh cũng nên cắt bớt lương của chính anh, bán bớt một vài chiếc Jag đi, đem cầm bớt mấy viên kim cương của bà vợ già nhà anh rồi mua một căn nhà nhỏ hơn bên cạnh một câu lạc bộ đồng quê."

"Câm miệng đi, DeVasher." Oliver đùng đùng bỏ ra khỏi văn phòng. DeVasher đỏ cả mặt bởi trận cười ngặt nghẽo. Và khi văn phòng chẳng còn ai, ông cất các tấm ảnh vào một tủ hồ sơ và khóa lại. "Mitchell McDeere," ông lảm nhảm một mình với nụ cười tạng rỡ, "giờ thì chú mày đã thuộc về tao rồi nhé."

15

Trưa thứ Sáu, hai tuần trước Giáng sinh, Abby tạm biệt các học sinh rồi rời trường St. Andrew's đi nghỉ lễ. Lúc một giờ, cô đậu xe ở một lô đầy những chiếc Volvo, BMW, Saab, và nhiều chiếc Peugeot. Trong mưa lạnh, cô hấp tấp bước đến một nhà kính đông đúc, nơi giới trẻ phong lưu tụ tập để ăn bánh quiche, dùng món fajita, canh đậu đen và các loại rau quả. Đây hiện là điểm nóng trong năm của Kay Quin, và cũng là bữa trưa thứ hai họ ăn cùng nhau trong tháng qua. Kay đến trễ, như thường lệ.

Đó là một tình bạn vẫn đang trong một quá trình phát triển ban đầu. Với bản chất thận trọng, Abby chưa bao giờ vội vã kết thân với người lạ. Ba năm ở Harvard, cô không có bạn bè, và cô đã học được rất nhiều về tính tự chủ. Trong sáu tháng ở Memphis, cô đã gặp gỡ ở nhà thờ một nhóm nhỏ những người có triển vọng kết thân. Ở trường, cô cũng gặp một người nữa, nhưng cô chuyển biến rất thận trọng.

Thoạt đầu, Kay Quin thúc ép rất dữ. Cô ta đã lập tức trở thành hướng dẫn viên du lịch, nhà tư vấn mua sắm, và thậm chí cả nhà

trang trí nữa. Nhưng Abby chỉ nhích từ từ. Mỗi chuyến viếng thăm, cô học hỏi thêm chút ít, và cẩn thận quan sát người bạn mới của mình. Họ đã dùng bữa nhiều lần tại nhà của Quin. Họ gặp nhau trong các bữa tiệc tối và lễ lạc của hãng, nhưng luôn luôn giữa đám đông. Và họ đã vui vẻ cùng nhau tại bốn bữa trưa kéo dài trong những cuộc tụ tập nóng nhất của những nam thanh nữ tú tại Memphis, những người có sở hữu thẻ Master Card Vàng. Kay để ý đến xe hơi, nhà cửa và y phục, nhưng vờ như không quan tâm tất cả những thứ đó. Kay muốn là bạn, một người bạn thân, một người bạn tâm tình, nhưng Abby giữ khoảng cách, chỉ để Kay nhích tới từng chút một.

Mô hình nhái của chiếc hộp nhạc thập niên 1950 nằm ở tầng một, phía dưới bàn của Abby và gần quầy bar, nơi một đám đông đứng nhấp rượu trong khi chờ bàn trống. Sau mười phút và sau hai bản Roy Orbison, Kay len qua đám đông ở cửa trước rồi nhìn lên tầng ba. Abby mỉm cười, vẫy tay. Họ ôm nhau, hôn nhẹ lên má nhau để không trao đổi cả son môi.

"Xin lỗi, chị đến trễ," Kay nói.

"Không sao, em quen rồi."

"Nơi này chật chội nhỉ," Kay nói, ngạc nhiên nhìn xung quanh. Nó vẫn luôn chật chội như thế. "Vậy là cô đã nghỉ dạy?"

"Vâng. Mới một giờ trước. Em được nghỉ đến ngày 6 tháng Một."

Họ ngắm nghía trang phục của nhau, bình luận về việc họ thon thả và trẻ đẹp ra sao. Mua sắm dịp Giáng sinh lập tức trở thành chủ

đề chính, và họ bắt đầu nói về các cửa hiệu, về những đợt hạ giá, về trẻ em... cho đến khi rượu được mang đến. Abby gọi món tôm càng chiên chảo, nhưng Kay thì vẫn trung thành với món bánh quiche bông cải xanh.

"Kế hoạch Giáng sinh của cô là gì?" Kay hỏi.

"Em chưa định gì cả. Em muốn đến Kentucky gặp gia đình em, nhưng em sợ Mitch không đi. Em đã thử bóng gió vài lần, nhưng lần nào cũng bị bỏ ngoài tai."

"Chú ấy vẫn không ưa cha mẹ cô?"

"Chẳng có gì thay đổi cả. Thật ra chúng em không bàn luận về họ. Em không biết phải xử sự như thế nào nữa."

"Nếu thật thận trọng cô sẽ hình dung ra thôi."

"Vâng, và phải thật kiên nhẫn nữa. Mỗi ngày em đều cầu nguyện một phép lạ nho nhỏ."

"Nghe như cô đang cần có một phép lạ lớn đấy. Chú ấy làm việc có nặng nề như Lamar nói không?"

"Em chưa từng biết có ai làm việc căng hơn anh ấy. Mười tám giờ mỗi ngày từ thứ Hai đến thứ Sáu, tám giờ vào thứ Bảy. Chủ nhật là ngày nghỉ mà anh ấy vẫn dành ra năm hay sáu giờ để làm việc. Thời gian anh ấy dành cho em vào Chủ nhật còn ít hơn thế."

"Có phải tôi vừa nghe đôi chút thất vọng không đấy?"

"Rất nhiều nữa là khác, Kay ạ. Em đã kiên nhẫn, nhưng sự thể vẫn cứ tồi tệ đi. Em đã bắt đầu cảm thấy mình giống như một bà góa vậy. Em đã chán ngấy việc ngủ trên trường kỷ, chờ anh ấy về

nhà."

"Cô nằm đó để đợi ăn và tình dục à?"

"Giá mà được như thế. Anh ấy quá mệt mỏi để làm tình. Đó không còn là một ưu tiên nữa rồi. Thế mà anh ấy đã từng là một người đàn ông không biết thế nào là đủ. Ý em là chúng em đã gần như giết lẫn nhau hồi ở trường luật. Giờ thì mỗi tuần chỉ một lần đã là may lắm rồi. Anh ấy về nhà, ăn uống - nếu như có đủ sức để ăn uống - rồi lên giường ngủ. Em phải rất may mắn mới được anh ấy trò chuyện vài phút trước khi ngủ thiếp đi. Em thèm trò chuyện với người lớn, Kay ạ. Em đã dành cả tám giờ đồng hồ mỗi ngày bên những đứa bé tám tuổi, và em thèm khát những lời nhiều hơn ba âm tiết. Em đã cố giải thích điều đó với anh ấy, nhưng chưa gì anh ấy đã ngáy ran. Chị đã từng trải qua chuyện này với Lamar chưa?"

"Cũng đại khái như thế. Anh ấy làm việc bảy mươi giờ mỗi tuần trong năm đầu tiên. Tôi nghĩ tất cả bọn họ đều thế cả. Đó kiểu như là bước khởi đầu để xây dựng tình đoàn kết vậy. Một thứ nghi lễ của nam giới để họ chứng tỏ nam tính của mình. Nhưng hầu hết họ đều xì hơi sau một năm và cắt xuống chỉ còn sáu mươi lăm giờ. Họ vẫn làm việc vất vả đấy, nhưng không còn theo cái lối kamikaze của năm tân binh đầu tiên."

"Lamar có làm việc mỗi thứ Bảy không?"

"Vài giờ trong hầu hết các thứ Bảy. Không bao giờ vào Chủ nhật. Tôi đã cứng rắn với anh ấy. Dĩ nhiên, nếu là một thời hạn chót quan trọng hay vào mùa thuế, tất cả bọn họ đều làm việc hai mươi bốn

trên hai mươi bốn. Tôi nghĩ cũng khó mà trách Mitch."

"Anh ấy chẳng chịu giảm tốc chút nào cả. Anh ấy cứ như bị ma nhập vậy. Đôi lúc anh ấy mãi đến tận bình minh mới về đến nhà, chỉ tắm táp qua loa rồi quay đầu về văn phòng."

"Lamar nói chú ấy đã trở thành một huyền thoại trong hãng." Abby nhấp rượu rồi nhìn thanh ray của quầy bar. "Hay thật đấy. Em đã kết hôn với một huyền thoại."

"Cô có nghĩ đến chuyện sinh con không?"

"Chuyện đó đòi hỏi phải có tình dục, nhớ không?"

"Coi nào Abby, làm gì tệ đến mức đó."

"Em chưa sẵn sàng để sinh con. Em không thể sắm vai một bà mẹ đơn thân. Em yêu chồng của em, nhưng biết đâu, vào thời điểm đó của cuộc đời, anh ấy lại có một cuộc họp quan trọng khủng khiếp nào đó và sẽ bỏ lại em một mình trong phòng sinh, khi tử cung đã mở ra tám phân. Anh ấy không còn nghĩ đến gì khác ngoại trừ cái hãng luật chết tiệt đó."

Kay chồm qua bàn, nhẹ nhàng nắm hai bàn tay của Abby. "Sẽ ổn thôi," cô nói với một nụ cười quả quyết và vẻ mặt khôn ngoan. "Năm đầu tiên là khó khăn nhất. Mọi việc sẽ tốt hơn lên, tôi hứa đấy."

Abby mỉm cười. "Em xin lỗi."

Người phục vụ bàn bưng các món của họ đến, và họ gọi thêm rượu. Tôm càng ninh trong bơ và nước sốt tỏi tạo ra một hương vị thơm phức. Bánh quiche nguội nằm tách biệt trên một giường rau diếp, đệm những viên cà chua non.

Kay xiên một khúc bông cải xanh rồi nhai nó. "Cô biết không, Abby, hãng khuyến khích việc sinh con đấy."

"Em không quan tâm. Hiện thời em không ưa hãng. Em đang cạnh tranh với hãng, và em đang thua nặng. Cho nên em không quan tâm họ muốn gì. Họ không thể lập kế hoạch cho gia đình em thay cho em được. Em không hiểu tại sao họ quan tâm đến thế những việc không phải là của họ. Nơi này thật là kỳ quái, Kay ạ. Em không thể chạm được một ngón tay vào hãng, thế mà những người này vẫn làm em sởn cả gai ốc."

"Họ muốn có các luật sư hạnh phúc với những gia đình ổn định."

"Còn em thì muốn có lại chồng của em. Họ đang trong quá trình tước đoạt anh ấy, cho nên gia đình cũng chẳng thể nào ổn định được. Nếu họ chịu buông tha anh ấy, có lẽ chúng em sẽ được bình thường như mọi người khác và sẽ có một khoảnh sân đầy ắp trẻ em. Nhưng không phải là bây giờ."

Rượu đến và món tôm càng cũng đã nguội. Cô ăn từ tốn và uống ly rượu của cô. Kay tìm kiếm những lĩnh vực ít nhạy cảm hơn. "Lamar nói Mitch đã đến Cayman hồi tháng trước."

"Vâng, anh ấy và Avery đã ở đó ba ngày. Thuần túy công việc, anh ấy bảo như thế. Chị đã đến đó chưa?"

"Năm nào cũng đến. Đó là một nơi xinh đẹp với những bãi biển lộng lẫy và ấm áp. Bọn chị đi vào tháng Bảy mỗi năm, khi trường học đóng cửa. Hãng có sở hữu hai căn hộ chung cư lớn ở ngay sát bãi biển."

"Mitch muốn đi nghỉ ở đó vào tháng Ba, trong dịp nghỉ xuân của em."

"Cô chú phải đi mới được. Trước khi có con, bọn chị chẳng làm gì cả ngoài việc nằm ườn trên bãi biển, uống Rum và làm tình. Đó là lý do vì sao hãng cung cấp các căn hộ chung cư và cả máy bay nữa, nếu may mắn. Họ làm việc vất vả nhưng họ ủng hộ nhu cầu giải trí."

"Đứng nhắc đến hãng nữa, Kay. Em không muốn nghe kể họ thích gì hay ghét gì, làm gì hay không làm gì, khuyến khích gì hay bài bác gì."

"Tình hình sẽ cải thiện thôi, Abby ạ, tôi hứa đấy. Cô phải hiểu rằng chồng cô và chồng tôi đều là những luật sư rất giỏi, nhưng họ không thể kiếm được nhiều tiền như thế ở bất cứ nơi đâu khác. Và chị em mình sẽ phải lái những chiếc Buick mới thay vì những chiếc Peugeot hay Mercedes-Benze mói."

Abby cắt đôi con tôm rồi chấm nó vào nước sốt bơ và tỏi. Cô xiên một phần bằng chiếc nĩa rồi đẩy đĩa ra xa. Ly rượu đã cạn sạch.

"Em biết, Kay ạ, em biết rồi. Nhưng cuộc sống có nhiều thứ chết tiệt còn quan trọng hơn cả khoảnh sân lớn hay một chiếc Peugeot. Có vẻ như chẳng ai quanh đây nhận ra điều đó cả. Em thề đấy, em nghĩ chúng em còn hạnh phúc hơn khi sống trong căn hộ hai phòng tại Cambridge."

"Cô mới chỉ ở đây có vài tháng. Đến lúc nào đó Mitch sẽ chậm lại thôi, và vợ chồng cô sẽ trở lại với cuộc sống nề nếp rất lâu trước khi những đứa bé McDeere chạy tung tăng ngoài sân, rất lâu trước khi

Mitch được trở thành đối tác, cô cũng biết vậy mà. Tin tôi đi, Abby, mọi thứ sẽ tốt hơn lên rất nhiều. Cô đang trải qua một giai đoạn mà tất cả chúng tôi từng trải qua, và chúng tôi đều đã vượt qua được."

"Cảm ơn Kay, dĩ nhiên em hy vọng chị nói đúng."

Đó là một công viên nhỏ rộng hai hoặc ba mẫu, nằm trên một dốc đứng nhìn xuống con sông. Một dãy đại bác và hai pho tượng đồng nhắc nhở về những những người lính dũng cảm của Liên minh Miền Nam đã chiến đấu để bảo vệ con sông và thành phố. Dưới tượng đài một vị tướng và con ngựa của ông ta, một gã say rượu nằm co quắp. Chiếc thùng các tông và tấm mền tả tơi của hắn chẳng che chắn được là bao trước cái lạnh tê tái và những hạt lấm tấm của cơn mưa lạnh. Năm mươi mét bên dưới, giao thông đêm đang hối hả diễn ra dọc theo đường Riverside Drive. Trời đã tối.

Mitch bước đến dãy đại bác, đứng nhìn xuống con sông và những cây cầu dẫn đến Arkansas. Anh kéo khóa chiếc áo mưa, lật cổ áo trùm quanh tai. Anh nhìn đồng hồ. Anh chờ đợi.

Tòa nhà Bendini thoáng thấp cách đó sáu dãy phố. Anh đã đậu xe tại một ga ra ở khu trung tâm rồi đón taxi để trở lại con sông. Anh tin chắc không bị ai bám theo. Anh chờ đợi.

Gió buốt lạnh thổi đến từ con sông làm ửng đỏ khuôn mặt anh, nhắc nhở anh về những mùa đông ở Kentucky sau khi cha mẹ anh bỏ đi. Những mùa đông lạnh giá. Những mùa đông cô đơn và lẻ loi. Anh mặc những chiếc áo khoác chuyền lại từ một người anh họ hay một người bạn, và chúng không bao giờ đủ ấm. Những bộ đồ khính.

Anh cố xua đi những ý nghĩ đó.

Cơn mưa lạnh giá chuyển thành cơn mưa tuyết. Những hạt tuyết nhỏ vương trên tóc anh, nảy trên vỉa hè quanh anh. Anh nhìn đồng hồ. Có tiếng bước chân, rồi một bóng hình bước vội đến các khẩu đại bác. Ai đó dừng lại rồi chầm chậm tiến đến gần.

"Mitch hå?"

Đó là Eddie Lomax, trong quần Jeans và áo khoác dài. Bộ ria mép rậm và chiếc nón cao bồi trắng khiến anh trông như trong một mẩu quảng cáo thuốc lá. Gã Marlboro.

"Phải, tôi đây."

Lomax bước đến gần hơn phía bên kia khẩu đại bác. Họ đứng nhìn con sông, giống như những lính gác của Liên minh Miền Nam. "Anh có bị bám theo không đấy?" Mitch hỏi.

"Không, tôi không nghĩ vậy. Còn cậu?"

"Không."

Mitch nhìn giao thông trên đường Riverside Drive và xa hơn nữa là con sông. Lomas đút tay sâu trong túi. "Gần đây cậu có nói chuyện với Ray không?" Lomax hỏi.

"Không." Câu trả lời cụt lủn như thể muốn nói, tôi không đứng đây trong mưa tuyết để mà tán gẫu.

"Anh đã tìm được gì?" Mitch hỏi mà không nhìn.

Lomax châm một điếu thuốc và giờ đây mới đúng là Gã Marlboro. "Về ba luật sư, tôi có tìm được chút ít thông tin. Alice Knauss chết trong một vụ tông xe năm 1977. Báo cáo của cảnh sát nói cô ta bị

một gã lái xe say rượu tông phải, nhưng điều khá kỳ lạ là chưa ai tìm ra gã lái xe đó. Vụ tông xe diễn ra vào khoảng nửa đêm ngày thứ Tư. Cô ta làm việc muộn ở văn phòng và đang lái xe về nhà. Cô ta sống ở phía đông, tại Sycamore View, và khi ở cách chung cư của cô ta chừng một dặm thì bị một chiếc bán tải một tấn tông phải. Tai nạn diễn ra trên đường New London. Cô ta đang lái chiếc Fiat nhỏ sành điệu của mình thì nó bị bể tung ra từng mảnh. Không có nhân chứng. Khi cảnh sát đến nơi thì chiếc bán tải trống rỗng. Gã lái xe biệt tăm. Họ truy bảng số xe thì thấy chiếc bán tải đã bị đánh cắp tại đường St. Louis cách đó ba ngày. Không có dấu vân tay, chẳng có gì cả."

"Họ có lấy dấu vân tay à?"

"Phải. Tôi có quen tay thanh tra phụ trách vụ này. Họ nghi ngờ nhưng chẳng có manh mối nào cả. Có một chai whiskey vỡ trên sàn xe, cho nên họ quy cho gã lái xe tội say rượu rồi khép hồ sơ lại."

"Khám nghiệm tử thi thì sao?"

"Không có. Nguyên do cái chết của cô ta là quá hiển hiện."

"Nghe có vẻ đáng ngờ."

"Rất đáng ngờ nữa là khác. Cả ba người họ đều chết một cách đáng ngờ. Robert Lamm là một người thích săn nai ở Arkansas. Ông ta và vài người bạn có một trại săn nai ở hạt Izard tại Ozarks. Họ đi săn hai hoặc ba lần mỗi năm khi vào mùa. Sau một buổi sáng ở trong rừng, mọi người quay về nhà lều chỉ trừ Lamm ra. Họ tìm kiếm trong hai tuần rồi phát hiện ông ta nằm trong một khe núi, bị lá che

lấp một phần. Ông ta bị bắn một phát vào đầu, và người ta chỉ biết có vậy. Họ loại trừ khả năng tự sát, nhưng họ đơn giản không có đủ bằng chứng để khởi đầu việc điều tra."

"Vậy là ông ta bị giết?"

"Có vẻ thế. Xét nghiệm tử thi cho thấy lỗ vào ở đáy sọ và vết thương ở đầu ra làm toang phần lớn khuôn mặt của ông ta. Không thể nào là tự sát được."

"Có thể đó chỉ là tai nạn."

"Có thể. Ông ta có thể bị trúng phải một viên đạn nhắm vào con hươu nào đó, nhưng chuyện này rất khó xảy ra. Ông ta được tìm thấy ở cách khá xa những người đi săn, tại một khu vực mà các tay đi săn hiếm khi nào đặt chân đến. Các bạn của ông ta nói họ không hề nghe hoặc nhìn thấy các tay đi săn khác vào buổi sáng mà ông ta biến mất. Tôi đã nói chuyện với tay cảnh sát trưởng mà nay đã là cựu cảnh sát trưởng, và ông ta tin chắc đó là một vụ giết người. Ông ta tuyên bố có bằng chứng rằng xác chết đã được cố tình che lấp."

"Chỉ có thế thôi?"

"Ừ, về phần Lamm thì chỉ có thế."

"Còn Mickel thì sao?"

"Rất đáng buồn. Anh ta tự sát năm 1984 ở tuổi ba mươi tư. Tự bắn vào thái dương bên phải bằng khẩu Smith & Wesson.357. Anh ta để lại một lá thư tuyệt mệnh dài trong đó anh ta nói về cô vợ cũ mà anh ta hy vọng sẽ tha thứ cho anh ta và tất cả những chuyện

tào lao khác. Anh ta nói vĩnh biệt mấy đứa con và bà mẹ của anh ta. Thực sự rất cảm động."

"Nó có phải là viết tay không?"

"Không. Nó được đánh máy, chuyện này không có gì là bất thường vì anh ta gõ khá nhiều. Anh ta có một chiếc IBM Selectrics trong văn phòng, và lá thư được gõ từ chiếc máy này. Anh ta viết tháu khủng khiếp."

"Vậy có gì là khả nghi?"

"Khẩu súng. Anh ta chưa từng mua khẩu súng nào trong đời. Không ai biết nó ở đâu ra. Không đăng ký, không số xê-ri, không gì cả. Một trong số các người bạn của anh ta tại hãng được cho là có nói gì đó, đại khái là Mickel có nói rằng anh ta đã mua một khẩu súng để tự vệ. Có vẻ như anh ta có vài vấn đề về tình cảm."

"Anh nghĩ sao?"

Lomax ném đọt thuốc vào cơn mưa giá lạnh. Nó rơi xuống vỉa hè. Anh khom hai tay lên miệng và hà hơi vào chúng. "Tôi không biết. Tôi không tin một luật sư thuế vụ không có kiến thức gì về súng lại sở hữu một khẩu không đăng ký mà cũng chẳng có số xê-ri. Một gã như vậy mà mua súng thì sẽ đơn giản đi đến tiệm bán súng, điền vào giấy tờ rồi mua một khẩu mới, trông thật đẹp mắt và bóng lộn. Khẩu súng này đã ít nhất mười tuổi và đã được cải tiến bởi những tay chuyên nghiệp."

"Cảnh sát có điều tra không?"

"Cũng không hẳn. Hồ sơ đã được mở rồi khép lại."

"Anh ta có ký tên vào lá thư không?"

"Có, nhưng tôi không biết đã có ai kiểm tra chữ ký chưa. Anh ta và vợ đã ly dị được một năm, và cô ta đã trở về Baltimore."

Mitch cài lại chiếc nút trên cùng của áo khoác rồi phủi tuyết trên cổ áo. Cơn mưa tuyết nặng hạt hơn, và vỉa hè đã trắng xóa. Những cột băng nhỏ bắt đầu hình thành dưới nòng khẩu đại bác. Giao thông chậm lại trên đường Riverside khi các bánh xe bắt đầu trượt và xoay.

"Vậy anh nghĩ gì về cái hãng nhỏ của chúng tôi?" Mitch hỏi, mắt nhìn ra con sông ở xa xa.

"Đó là một nơi làm việc nguy hiểm. Họ đã mất năm luật sư trong vòng mười lăm năm qua. Đó chẳng phải là một thành tích an toàn tốt lắm đâu."

"Năm luật sư?"

"Nếu tính cả Hodge và Kozinski. Nguồn tin của tôi cho biết đã có vài câu hỏi không có lời giải đáp."

"Tôi không thuê anh để điều tra hai người này."

"Tôi cũng đâu tính tiền anh việc đó. Tôi chỉ tò mò thôi, chỉ có vậy."

"Tôi nợ anh bao nhiêu?"

"Sáu trăm hai mươi."

"Tôi sẽ trả cho anh bằng tiền mặt. Không lưu sổ sách gì cả, được chứ?"

"Hợp ý tôi đó. Tôi thích tiền mặt."

Mitch quay mặt khỏi con sông, nhìn những tòa nhà cao cách công viên ba dãy phố. Giờ thì anh đã thấm lạnh, nhưng anh không vội rời đi. Lomax quan sát anh qua khóe mắt.

"Cậu có vấn đề gì phải không, anh bạn?"

"Sao anh hỏi vậy?" Mitch hỏi lại.

"Nếu là tôi thì tôi sẽ không làm việc ở đó. Ý tôi là tôi không biết cậu làm gì, nhưng tôi ngờ rằng cậu biết rất nhiều nhưng lại không nói ra. Chúng ta đang đứng đây, dưới mưa tuyết, chỉ vì chúng ta không muốn bị nhìn thấy. Chúng ta không thể nói chuyện qua điện thoại. Chúng ta không thể gặp nhau ở văn phòng của cậu. Giờ thì cậu không muốn gặp cả ở văn phòng của tôi. Cậu lúc nào cũng nghĩ mình bị theo dõi. Cậu dặn dò tôi phải cẩn thận và thường xuyên nhìn ra sau vì cậu sợ bọn họ - cũng chả biết là ai nữa - có thể bám theo tôi. Có năm luật sư trong cái hãng đó đã chết trong những hoàn cảnh rất đáng ngờ, và cậu thì hành xử cứ như cậu là người kế tiếp vậy. Đúng đấy, tôi nói cậu đang gặp phải nhiều vấn đề. Nhiều vấn đề lớn."

"Tarrance thì thế nào?"

"Một trong những đặc vụ giỏi nhất của họ. Được thuyên chuyển về đây khoảng hai năm về trước."

"Từ đâu?"

"New York."

Gã say rượu trở mình trên con ngựa đồng và rơi xuống vỉa hè.

Hắn rên lên, khập khễnh đi thu thập các thùng các tông và chăn mền rồi bỏ đi về hướng khu thương mại. Lomax quay ngoắt lại, lo âu nhìn.

"Chỉ là một gã lang thang," Mitch nói. Cả hai đều nhẹ nhõm.

"Chúng ta đang trốn ai vậy?" Lomax hỏi.

"Giá như tôi biết."

Lomax quan sát kỹ khuôn mặt Mitch. "Tôi nghĩ là cậu biết." Mitch không nói gì cả.

"Này, Mitch, cậu không trả tiền để tôi tham gia vào. Tôi ý thức điều đó. Nhưng trực giác mách bảo tôi rằng cậu đang gặp rắc rối, và tôi nghĩ cậu cần một người bạn, một người nào đó có thể tin cậy được. Nếu cậu cần thì tôi có thể giúp. Tôi không biết mấy gã xấu đó là ai, nhưng tôi tin chắc chúng rất nguy hiểm."

"Cảm ơn." Mitch nói mà không nhìn, cứ như thể đã đến lúc Lomax phải ra về và để yên cho anh đứng một lúc nữa trong mưa tuyết.

"Tôi sẵn sàng nhảy xuống con sông này vì Ray McDeere, và chắc chắn tôi có thể giúp đỡ cậu em của anh ấy."

Mitch khẽ gật đầu nhưng vẫn không nói gì. Lomax châm thêm một điếu thuốc nữa rồi đá vào cột băng bằng chiếc giày da tắc kè.

"Hãy gọi cho tôi bất cứ lúc nào. Và nhớ cẩn thận đấy. Chúng đang ở ngoài đó, và chúng sẽ chơi tất tay."

Tại ngã tư giữa đường Madison và đường Cooper ở trung tâm thành phố, các tòa nhà hai tầng cũ kỹ đã được phục chế thành những quán bar độc thân, quán nhậu, cửa hàng quà tặng và vài

quán ăn ngon. Ngã tư này còn được biết đến dưới cái tên Overton Square, và nó cung cấp cho Memphis một cuộc sống về đêm tốt nhất ở nơi này. Một nhà hát và một nhà sách bổ sung thêm nét văn hóa. Giữa đường Madison là những hàng cây chạy dọc. Vào những dịp cuối tuần nhộn nhịp, nơi đây tràn ngập những sinh viên đại học và các thủy thủ đến từ căn cứ hải quân. Vào những đêm trong tuần, các quán ăn vẫn đầy bàn nhưng yên tĩnh và không phải chen chúc. Paulette's là một quán ăn duyên dáng mang phong cách Pháp nằm trong một tòa nhà quét vôi trắng. Nó nổi tiếng nhờ danh mục rượu của nó, cùng các món tráng miệng và chất giọng êm ái của người đàn ông ngồi ở chiếc đại dương cầm Steinway. Đến cùng sự phong lưu đột ngột là một bộ sưu tập các thẻ tín dụng, và vợ chồng McDeere đã sử dụng chúng trong cuộc truy lùng những quán ăn tốt nhất trong thành phố. Cho đến lúc này, Paulette's vẫn là quán ăn yêu thích nhất.

Mitch ngồi ở quầy bar, uống cà phê và canh chừng cửa trước. Anh đến sớm và đã lên kế hoạch như thế. Anh gọi cho cô trước đó ba giờ, hỏi anh có thể hẹn cô lúc bảy giờ hay không. Cô hỏi có chuyện gì, và anh nói sẽ giải thích sau. Kể từ khi ở Cayman, anh biết có ai đó đang bám đuôi, đang theo dõi, đang nghe ngóng. Tháng vừa rồi anh đã rất thận trọng khi nói chuyện qua điện thoại. Anh phát hiện mình thường xuyên quan sát gương chiếu hậu. Anh thậm chí lựa từng lời những khi ở trong nhà. Ai đó đang theo dõi và nghe ngóng, anh chắc chắn điều đó.

Abby ùa vào theo gió lạnh, đảo mắt nhìn quanh quán ăn để tìm

chồng. Anh đón cô trước quầy bar rồi hôn nhẹ lên má. Cô cởi áo khoác rồi cùng anh đi theo người quản lý đến một chiếc bàn nhỏ trong một dãy bàn nhỏ đầy những người trong tầm nghe. Mitch nhìn quanh, tìm một chiếc bàn khác, nhưng chẳng có bàn nào trống cả. Anh cảm ơn người quản lý rồi ngồi xuống đối diện vợ.

"Dịp gì vậy anh?" cô ngờ vực hỏi.

"Anh phải có lý do mới đi ăn tối được với vợ hay sao?"

"Đúng vậy. Bây giờ là bảy giờ tối thứ Hai, mà anh lại không ở văn phòng. Đây nhất định phải là một dịp đặc biệt."

Một người phục vụ lách qua giữa chiếc bàn của họ và chiếc bàn kế bên. Anh ta hỏi họ uống gì. Vui lòng cho hai ly rượu trắng. Một lần nữa Mitch đảo mắt nhìn quanh và thoáng thấy một quý ông đang ngồi một mình ở cách năm chiếc bàn. Khuôn mặt ông ta trông quen quen. Khi Mitch nhìn lần nữa, khuôn mặt đã trượt xuống sau cuốn sổ thực đơn.

"Có chuyện gì vậy, Mitch?"

Anh đặt tay lên tay cô rồi nghiêm nghị chau mày. "Abby, chúng ta cần nói chuyện."

Bàn tay cô hơi rụt lại và cô thôi cười. "Nói chuyện gì?"

Anh hạ giọng. "Một chuyện rất nghiêm trọng."

Cô thở hắt ra một hơi dài rồi nói, "Chờ rượu ra có được không? Có thể em sẽ cần nó."

Mitch lại nhìn khuôn mặt phía sau sổ thực đơn. "Chúng ta không thể nói chuyện ở đây được."

"Vậy chúng ta đến đây làm gì?"

"Nghe này, Abby, em biết phòng vệ sinh ở đâu rồi chứ? Xuống hành lang đằng kia rồi rẽ phải."

"Vâng, em biết rồi."

"Có một cánh cửa hậu ở cuối hành lang. Nó đi ra con đường hông sau quán ăn. Anh muốn em đến phòng vệ sinh rồi đi thẳng ra cánh cửa đó."

Cô không nói gì cả. Cặp chân mày của cô cụp xuống và đôi mắt cô nheo lại. Đầu cô hơi nghiêng nhẹ sang phải.

"Tin anh đi, Abby. Anh sẽ giải thích sau. Anh sẽ gặp lại em ở bên ngoài và chúng ta sẽ tìm một quán khác để ăn. Anh không thể nói chuyện ở đây được."

"Anh làm em sợ đấy."

"Làm ơn đi," anh xiết chặt tay cô, quả quyết nói. "Mọi thứ đều ổn. Anh sẽ lấy áo khoác của em."

Cô đứng dậy, mang theo bóp và rời khỏi căn phòng. Mitch lo lắng nhìn người đàn ông có khuôn mặt quen quen. Ông ta bất chợt đứng dậy để chào đón một quý bà lớn tuổi rồi mời bà ta về bàn của ông. Ông ta không để ý Abby đã ra ngoài.

Trên con đường phía sau quán Paulette's, Mitch choàng áo khoác lên vai Abby rồi trỏ về hướng đông.

"Anh sẽ giải thích," anh nói chẳng biết đến lần thứ mấy. Xuôi theo con đường khoảng ba mươi mét, họ đi vào giữa hai tòa nhà rồi đi tiếp đến lối vào phía trước của Bombay Bicycle Club, một quán bar

dành cho những người độc thân với thức ăn ngon và nhạc blues sống. Mitch nhìn người đầu bếp, quan sát hai phòng ăn, rồi trỏ vào chiếc bàn ở góc phía sau.

"Bàn này," anh nói.

Mitch ngồi đâu lưng vào tường, mặt hướng ra phòng ăn và cửa trước. Góc họ ngồi rất tối, chiếc bàn được soi sáng bằng nến. Họ gọi thêm rượu.

Abby ngồi bất động, nhìn anh không chớp mắt, quan sát từng động thái và chờ đợi.

"Em có nhớ cái anh chàng có tên là Rick Acklin ở Western Kentucky không?"

"Không." cô nói mà môi không động đậy.

"Anh ta chơi bóng chày, sống ở ký túc xá. Anh nghĩ em đã gặp anh ta một lần. Một anh chàng rất tốt, trông rất đàng hoàng, một sinh viên giỏi. Anh nghĩ anh ta đến từ Bowling Green. Anh không thân với anh ta, nhưng anh và anh ta có quen biết nhau."

Cô nhún vai, chờ đợi.

"Chuyện là vầy. Anh ta ra trường một năm trước chúng ta rồi đến học trường luật ở Wake Forest, và hiện thời anh ta đang làm việc cho FBI tại đây, ở ngay Memphis này." Anh chằm chặp nhìn cô để xem từ "FBI" liệu có gây tác động gì hay không. Không hề. "Hôm nay, trong lúc anh đang ăn trưa tại quán hot dog của Obleo trên đường Main thì Rick bỗng đâu bước đến chào hỏi anh. Cứ như đó là sự ngẫu nhiên vậy. Anh và anh ta trò chuyện với nhau được vài phút

thì có một đặc vụ khác bước đến và ngồi xuống, một gã có tên là Tarrance. Đây là lần thứ hai Tarrance bám theo anh kể từ khi anh đậu cuộc thi lấy chứng chỉ."

"Lần thứ hai...?"

"Đúng. Kể từ tháng Tám."

"Và họ là... đặc vụ FBI?"

"Đúng, có huy hiệu hẳn hoi. Tarrance là một đặc vụ lão luyện từ New York đến. Đã ở đây khoảng hai năm. Acklin thì là lính mới, được họ đưa vào cách đây ba tháng."

"Họ muốn gì?"

Rượu đến và Mitch lại nhìn quanh quất Câu lạc bộ. Ban nhạc đang chuẩn bị trình diễn trên một sân khấu nhỏ ở góc xa. Quán bar đầy nghẹt những người bảnh bao và chuyên nghiệp đang tán gẫu với nhau không dứt. Người phục vụ trỏ vào cuốn sổ thực đơn chưa mở. "Để sau," Mitch thô lỗ nói.

"Abby, anh không biết họ muốn gì. Cuộc gặp đầu tiên là vào tháng Tám, ngay sau khi tên anh được in trên báo do anh đậu cuộc thi lấy chứng chỉ." Anh nhấp rượu rồi kể lại lớp lang từng chi tiết cuộc viếng thăm của Tarrance tại quán Deli của Lansky trên đường Union. Anh kể lại những cảnh báo về việc không nên tin tưởng bất cứ ai, về những nơi phải tránh nói. Anh kể về cuộc họp với Locke Lambert và các đối tác khác. Anh trình bày lập luận của họ về lý do vì sao FBI lại quan tâm đến hãng nhiều như vậy. Anh cho biết đã thảo luận với Lamar và đã tin từng lời những gì Locke và Lambert

nói. Abby uống từng lời, nhưng vẫn nhịn không hỏi.

"Và hôm nay, trong lúc anh mải lo công việc, ngồi ngốn ổ bánh mì hành ba tấc, cái anh chàng học chung ở đại học đó lại bước đến, bảo anh rằng họ - FBI - biết chắc chắn điện thoại của anh đã bị nghe lén, nhà của anh đã bị cài bọ, và có ai đó ở Bendini, Lambert & Locke đang biết rõ khi nào anh hắt hơi và khi nào anh đi cầu. Nghĩ coi, Abby, Rick Acklin được điều chuyển đến đây sau khi anh vượt qua cuộc thi lấy chứng chỉ. Trùng hợp đấy chứ, hả?"

"Nhưng họ muốn gì cơ chứ?"

"Họ không nói. Họ không thể nói cho anh biết. Họ muốn anh tin tưởng họ, đại loại như thế, anh cũng không biết nữa, Abby. Anh không có chút ý niệm họ đeo đuổi điều gì. Nhưng họ đã chọn anh vì lý do nào đó."

"Anh đã kể cho Lamar về cuộc viếng thăm lần này chưa?"

"Chưa. Anh chưa kể cho ai cả, chỉ ngoại trừ em ra. Và anh cũng không định kể cho bất cứ ai."

Cô hớp một ngụm rượu. "Điện thoại của chúng mình đã bị ghi âm?"

"Đó là theo lời của FBI. Nhưng họ làm sao mà biết được cơ chứ?"

"Họ không ngốc đâu, Mitch. Nếu FBI nói với em rằng điện thoại của em bị nghe lén thì em sẽ tin họ. Anh không tin sao?"

"Anh chẳng biết phải tin ai nữa. Locke và Lambert tỏ ra rất mạch lạc và đáng tin khi họ trình bày việc hãng đã chiến đấu như thế nào với IRS và FBI. Anh muốn tin họ lắm chứ, nhưng lại có quá nhiều

điều mập mờ. Hãy nhìn sự việc như thế này: nếu hãng có một thân chủ giàu có, những kẻ mờ ám đáng bị FBI chọc ngoáy, thế thì tại sao họ lại chọn anh - một tân binh, một người biết ít nhất - để mà bám theo. Anh biết gì nào? Anh chỉ làm việc với các hồ sơ mà người khác trao cho anh. Anh không có thân chủ của riêng anh. Ai bảo gì anh làm nấy. Sao họ không bám theo một đối tác đi?"

"Có lẽ họ muốn anh chỉ điểm một trong các thân chủ."

"Không cách chi. Anh là một luật sư và anh đã tuyên thệ giữ bí mật những việc làm của thân chủ."

"Anh có thấy giao dịch bất hợp pháp nào không?"

Anh bẻ các khớp ngón tay rồi đảo mắt quanh phòng. Anh mỉm cười với cô. Rượu đã ngấm và đang phát huy tác dụng. "Anh lẽ ra không trả lời câu hỏi này, ngay cả với em, Abby. Nhưng câu trả lời của anh là không. Anh đã làm việc với hơn hai mươi hồ sơ liên quan đến các thân chủ của Avery, và thi thoảng là vài thân chủ khác, và anh chưa thấy điều gì khả nghi cả. Có thể là vài vụ lách thuế nhiều rủi ro, nhưng chúng không phải là bất hợp pháp. Anh đã có thắc mắc về những tài khoản ngân hàng mà anh thấy tại Cayman, nhưng chúng chẳng có gì là nghiêm trọng cả."

Cayman! Bao tử anh sa xuống khi nghĩ đến cô gái ngoài bãi biển. Anh cảm thấy buồn nôn.

Người phục vụ lảng vảng gần đó, nhìn cuốn sổ thực đơn.

"Thêm rượu," Mitch gọi, trỏ vào những chiếc ly.

Abby khom xuống sát các ngọn nến. Trông cô rất hoang mang.

"Nhưng ai nghe lén điện thoại của chúng ta vậy?"

"Anh không có chút ý niệm nào cả nếu quả thật nó bị nghe lén. Trong lần gặp đầu tiên hồi tháng Tám, Tarrance ngụ ý đó là người trong hãng. Ý anh là anh hiểu như vậy. Anh ta dặn không được tin bất cứ ai trong hãng. Bảo rằng mọi điều anh nói đều có khả năng bị nghe lén và ghi âm. Anh nghĩ anh ta ngụ ý họ đã làm việc đó."

"Ông Locke thì nói gì về chuyện này?"

"Chẳng nói gì cả. Anh không kể cho ông ta biết. Anh giữ kín vài điều cho riêng anh."

"Ai đó đang nghe lén điện thoại của chúng ta và cài bọ trong nhà của chúng ta?"

"Có lẽ cả trong xe của chúng ta nữa. Hôm nay, Rick Acklin đã làm toáng chuyện này. Anh ta cứ nhắc đi nhắc lại, dặn dò anh không được nói bất cứ điều gì mà anh không muốn bị nghe lén."

"Mitch, chuyện này thật không thể tin nổi. Tại sao một hãng luật lại làm vậy chứ?"

Anh chầm chậm lắc đầu, nhìn những ly rượu cạn. "Anh không có chút ý niệm nào, em yêu. Không một chút ý niệm nào cả."

Người phục vụ đặt hai ly rượu mới lên bàn rồi khoanh tay ra phía sau đứng nhìn. "Quý khách có gọi món không ạ?" anh ta hỏi. "Để vài phút nữa," Abby nói.

"Chúng tôi sẽ gọi anh khi nào sẵn sàng." Mitch nói thêm.

"Anh có tin chuyện đó không, Mitch?"

"Anh nghĩ có gì đó đã bị thổi phồng. Nó giống như một câu

chuyện hoang đường vậy."

Cô chậm rãi chắp hai tay trên bàn và nhìn anh với ánh mắt cực kỳ sợ hãi. Anh kể lại câu chuyện về Hodge và Kozinski, bắt đầu với Tarrance ở quán deli, rồi đến Cayman, khi anh bị bám đuôi, và rồi là cuộc gặp Abanks. Anh thuật lại tất cả những gì Abanks nói. Rồi đến Eddie Lomax và cái chết của Alice Knauss, Robert Lamm và John Mickel.

"Em mất cả khẩu vị" cô nói khi anh kể xong.

"Anh cũng thế. Nhưng bây giờ em đã biết rồi thì anh thấy đỡ nhiều."

"Sao anh không nói cho em biết sớm hơn?"

"Anh đã hy vọng chuyện đó sẽ qua đi. Anh hy vọng Tarrance sẽ để yên cho anh và tìm ra ai khác mà dày vò. Nhưng anh ta đến đây là để trụ lại. Đó là lý do vì sao Rick Acklin được điều chuyển đến Memphis. Là để khai thác anh đó! Anh đã được FBI lựa chọn cho một sứ mệnh mà anh chẳng hề hay biết."

"Em thấy sợ."

"Chúng ta phải cẩn thận, Abby ạ. Chúng ta phải tiếp tục sống như thể không nghi ngờ gì cả."

"Em không tin chuyện đó. Em đang ngồi đây nghe anh nhưng lại không tin những gì anh nói. Chuyện đó không phải là thật, Mitch ạ. Chẳng nhẽ anh kỳ vọng em chấp nhận sống trong một ngôi nhà bị cài bọ và các điện thoại bị nghe lén, và kẻ nào đó, từ đâu đó, đang rình nghe bất cứ điều gì chúng ta nói?"

"Em có ý nào hay hơn không?"

"Có đấy. Ta hãy thuê cái gã Lomax đó đến kiểm tra ngôi nhà của chúng ta."

"Anh đã nghĩ đến chuyện này rồi. Nhưng lỡ hắn tìm được cái gì đó thì sao? Em thử nghĩ đi. Nếu chúng ta biết chắc nhà của chúng ta bị gài bọ thì sao? Kế tiếp phải làm gì? Lỡ hắn làm hỏng một thiết bị cài đặt thì sao? Họ - chẳng biết họ là những gã chết tiệt nào nữa -sẽ biết rằng chúng ta đã biết. Điều đó quá nguy hiểm, ít ra là trong lúc này. Có lẽ phải để sau thôi."

"Thật điên rồ, Mitch. Chắc chúng ta phải chạy ra sân sau thì mới nói chuyện với nhau được."

"Dĩ nhiên không phải vậy. Chúng ta có thể sử dụng sân trước."

"Em không thích anh đùa giỡn vào lúc này."

"Anh xin lỗi. Coi nào, Abby, chúng ta hãy cứ bình thường và nhẫn nại một thời gian. Tarrance đã thuyết phục được anh rằng anh ta nghiêm túc, và anh ta sẽ không bao giờ quên anh đâu. Anh không thể ngăn được anh ta. Anh ta đến tìm anh, nhớ đi. Anh nghĩ họ bám theo anh rồi đợi dịp phục kích. Tạm thời, điều quan trọng là chúng ta phải cư xử như bình thường."

"Bình thường? Anh nghĩ xem, những ngày qua đã có được mấy cuộc trò chuyện bình thường trong nhà của chúng ta. Em thậm chí còn thấy thương hại cho họ nếu họ phải rình nghe một cuộc trao đổi rõ nghĩa. Em chỉ toàn trò chuyện với Hearsey mà thôi."

17

Tuyết đã tan từ lâu trước Giáng sinh, để lại mặt đất ẩm và mở đường cho thời tiết lễ hội truyền thống của phương nam: bầu trời xám xịt và những cơn mưa lạnh. Memphis từng chứng kiến hai kỳ Giáng sinh tuyết trắng trong vòng chín mươi năm qua, và các chuyên gia dự báo trong một thế kỷ tới sẽ không còn dịp nào như thế nữa.

Kentucky cũng có tuyết, nhưng đường xá quang đãng. Abby gọi cho cha mẹ cô vào sáng sớm hôm Giáng sinh, sau khi cô chuẩn bị xong hành lý. Cô sắp được về nhà, cô tự nhủ, nhưng cô sẽ phải về một mình. Họ bảo họ thất vọng, và gợi ý cô nên ở lại nếu chuyến đi gây rắc rối. Nhưng cô vẫn khăng khăng. Đó sẽ là một hành trình mười tiếng đồng hồ. Giao thông sẽ thông suốt, và cô sẽ đến đó khi trời tối.

Mitch nói rất ít. Anh trải tờ báo sáng lên sàn, cạnh ngọn cây, và giả vờ như đang tập trung vào đó trong khi cô chất đồ lên xe. Con chó nấp đâu đó dưới chiếc ghế như thể đang chờ đợi một sự bùng nổ. Những món quà họ tặng nhau đã được mở và xếp gọn trên

trường kỷ. Quần áo, phấn son, các tập album, và món quà đặc biệt cho cô là một áo khoác lông chồn dài cả thân người. Lần đầu tiên trong cuộc hôn nhân trẻ, tiền bạc có rủng rỉnh để chi tiêu dịp Giáng sinh.

Cô xỏ chiếc áo khoác rồi bước đến tờ báo. "Em đi đây," cô nói dịu dàng nhưng quả quyết. Anh từ từ đứng dậy và nhìn cô.

"Em ước gì có anh đi cùng." cô nói.

"Có lẽ để năm tới."

Đó là một lời nói dối, và họ biết điều đó. Nhưng nó nghe lọt tai, nghe hứa hẹn.

"Bảo trọng nhé!"

"Nhớ chăm sóc con chó của em."

"Anh và nó sẽ ổn thôi." Anh nắm vai cô và hôn lên má cô. Anh nhìn cô, mỉm cười. Cô thật đẹp, đẹp hơn nhiều so với khi họ kết hôn. Ở tuổi hai mươi bốn, trông cô đúng với tuổi của mình, nhưng càng thêm tuổi thì cô lại càng xinh đẹp. Họ bước đến ga ra, và anh giúp cô lên xe. Họ hôn nhau lần nữa, rồi cô lùi xe vào lối đi. Chúc mừng Giáng sinh, anh nói với con chó.

Sau một giờ quan sát các bờ tường, anh vứt hai bộ y phục lên chiếc BMW, đặt Hearsey lên ghế trước rồi lái xe rời thành phố. Anh lái về hướng nam, theo đường Xuyên bang 55 ra khỏi Memphis, rồi đi về hướng Mississippi. Con đường tuy hoang vắng nhưng anh vẫn giữ một bên mắt dòm chừng gương chiếu hậu. Cứ chính xác sau sáu phút, con chó lại rên lên ư ử, và Mitch phải dừng xe bên lề đường –

nếu có thể thì chỉ dừng trên một ngọn đồi. Khi đó anh sẽ tìm một đám cây để nấp và quan sát giao thông trong khi Hearsey làm công chuyện của nó. Anh không thấy điều gì bất thường cả. Sau năm lần dừng xe, anh biết chắc mình không bị đeo bám. Rõ ràng họ đã nghỉ ngơi trong ngày Giáng sinh.

Sau sáu tiếng đồng hồ, anh đã ở Mobile. Hai giờ sau, anh vượt qua vịnh Pensacola rồi lái thẳng đến Emerald Coast thuộc Florida. Cao tốc 98 băng qua các thị trấn duyên hải Navarre, Fort Walton Beach, Destin và Sandestin. Nó đi qua nhiều cụm nhà chung cư và nhà nghỉ, hàng dặm những trung tâm mua sắm, hàng chuỗi những công viên giải trí giảm giá và hàng lô lốc những cửa hàng áo thun giá rẻ, phần lớn đã khóa cửa và bỏ bê từ dịp lễ Lao động. Rồi cao tốc tiếp tục kéo dài hàng cây số, không ùn tắc, không hỗn độn, chỉ duy nhất một cảnh quan tuyệt diệu những bãi biển trắng như tuyết, những vùng nước rực rỡ màu lục bảo của Vịnh. Phía đông Sandestin, cao tốc dần hẹp lại và rời khỏi bờ biển, và trong suốt một giờ anh đã lái xe đi một mình trên cả hai làn đường mà chẳng có gì để nhìn ngoại trừ những khu rừng và thi thoảng là những trạm xăng tự phục vụ hoặc những cửa hàng tiện ích.

Lúc nhá nhem, anh băng qua một nhà cao tầng, nơi có một biển hiệu ghi rằng bãi Panama City còn cách khoảng mười ba cây số. Cao tốc gặp lại bờ biển tại địa điểm nó rẽ nhánh và cho sự lựa chọn giữa đánh vòng qua phía bắc hoặc đi theo một con lộ với cảnh quan đẹp đến thẳng cái nơi được gọi là Miracle Strip. Anh chọn con lộ cảnh quan đẹp ven biển – dải đất kéo dài hai mươi ba cây số dọc bờ biển,

hai bên là những căn chung cư, nhà nghỉ giá rẻ, bãi xe kéo, nhà tranh nghỉ mát, cửa hàng thức ăn nhanh, cửa hàng áo thun. Đó chính là bãi Panama City.

Trong vô vàn những căn chung cư, phần lớn các căn phòng bị bỏ trống. Nhưng cũng có vài chiếc xe đậu gần đó vì vậy anh đoán rằng vẫn có vài gia đình đang nghỉ mát ở bãi biển trong dịp Giáng sinh. Một Giáng sinh với thời tiết nóng nực. Nhưng ít ra họ cũng được bên nhau, anh thầm nhủ. Con chó sủa, và anh dừng lại bên một cầu tàu nơi những người đàn ông từ Pensylvania, Ohio và Canada đang câu cá và ngắm màn nước đen.

Anh chầm chậm lái đi trên Miracle Strip. Hearsay chồm lên cửa xe, nhìn khung cảnh. Nó sủa khi xe đi qua những ngọn đèn neon chớp nháy của một nhà nghỉ tường gạch xỉ thi thoảng xuất hiện, quảng cáo cho sự hiếu khách và giá rẻ của nó. Giáng sinh ở Miracle Strip khiến mọi nơi đều đóng cửa ngoại trừ vài quán cà phê và nhà nghỉ cứng đầu.

Anh dừng lại đổ xăng tại một cây Texaco, nơi có người quản lý thân thiện hiếm thấy.

"Đường San Luis ở đâu?" Mitch hỏi.

"Vâng, vâng," anh ta nói bằng chất giọng nặng của người miền tây. "Đến đèn giao thông thứ hai, rẽ phải. Đèn đầu tiên, rẽ trái là đến San Luis."

Khu lân cận là một vùng ngoại ô hỗn độn với những ngôi nhà di động cũ. Gọi là di động, nhưng có vẻ như chúng đã không đi đâu cả

trong suốt nhiều thập kỷ. Những chiếc xe đầu kéo nằm san sát bên nhau như những dãy domino. Những lối xe ngắn và hẹp có vẻ chỉ cách nhau vài phân. Chúng chứa đầy những chiếc bán tải cũ, và những bàn ghế ngoài trời gỉ sét. Những con đường đều chật ních xe đậu, xe phế liệu, xe thải. Xe gắn máy và xe đạp được dựa lên các cầu kéo và những tay cầm của máy xén cỏ ló ra ở dưới đáy mỗi ngôi nhà. Một tấm biển hiệu gọi nơi này là "làng xe hưu trí": "Làng hưu trí San Pedro Estates, cách Emerald Coast tám trăm mét." Nói đúng hơn, nó giống như một khu ổ chuột trên bánh hơi, hay một dự án cho thuê xe đầu kéo.

Anh tìm ra đường San Luis và đột nhiên thấy bồn chồn. Nó lượn vòng vèo và hẹp dần, trông còn thậm tệ hơn cả các "nhà hưu trí." Anh lái chậm, lo lắng nhìn số đường, quan sát vô vàn những bảng số xe ngoài-bang. Con đường trống trơn, ngoại trừ những xe đậu và xe thải.

Nhà số 486 San Luis là một trong những căn nhà cũ nhất và bé nhất. Nó chỉ nhỉnh hơn chút đỉnh so với xe cắm trại. Lớp sơn nguyên thủy hình như là màu bạc, nhưng nó đã nứt nẻ và bong tróc. Một tấm mái màu xanh lục đậm phủ trên nóc và xuôi xuống một điểm phía trên các cửa sổ. Kính xe không còn nữa. Một cửa sổ phía trên cầu kéo bị gãy thảm hại, chỉ còn đính vào khung nhờ một đoạn băng keo điện màu xám. Một cổng vòm nhỏ bao quanh lối vào duy nhất. Cửa ngoài để ngỏ và, qua tấm rèm che, Mitch nhìn thấy một chiếc tivi màu và bóng dáng một người đàn ông đang đi tới đi lui.

Đó không phải là những gì anh muốn thấy. Anh đã quyết không

bao giờ gặp người chồng thứ hai của mẹ, và nay lại càng không phải lúc. Anh lái xe đi, ước gì mình không đến. Anh tìm thấy ở Strip chiếc vòm mái quen thuộc của một Holiday Inn. Khách sạn trống trơn nhưng vẫn mở cửa. Anh giấu chiếc xe khỏi cao tốc, rồi đăng ký nhận phòng dưới cái tên Eddie Lomax, từ Danesboro, Kentucky. Anh trả bằng tiền mặt để lấy một phòng đơn trông ra biển.

Niên giám điện thoại của bãi Panama City liệt kê ba quán ăn Waffle Hut tại Strip. Anh nằm vắt ngang chiếc giường của khách sạn và quay số đầu tiên. Trật. Anh quay số thứ hai rồi cũng xin gặp bà Eva Ainsworth. Chờ một chút, ai đó nói. Anh ngắt điện thoại. Đã là mười một giờ đêm. Anh đã chợp mắt trong hai giờ. Chiếc taxi mất hai mươi phút để đến Holiday Inn. Người tài xế bắt đầu phân trần rằng ông đã về đến nhà, đang cùng vợ con và họ hàng thưởng thức món gà tây thì bị người điều phối gọi đến. Ông nói về tình hình Giáng sinh năm nay. Nói ông đã mong được ở cả ngày bên gia đình, khỏi phải lo nghĩ gì về công việc, chí ít là vào ngày này trong cả năm. Mitch thả một tờ hai mươi lên ghế trước và yêu cầu ông im lặng.

"Waffle Hut thì có gì hay ho chứ, anh bạn?" ông tài xế hỏi.

"Ông cứ lo lái đi."

"Waffle, đúng không?" Ông ta cười rồi làu bàu gì đó, chỉnh lại âm lượng chiếc radio và dò sóng đài phát thanh mà ông yêu thích. Ông liếc nhìn tấm gương rồi nhìn ra cửa sổ, huýt sáo một lúc rồi nói, "Điều gì đưa anh xuống tuốt dưới này vào dịp Giáng sinh vậy?"

"Tôi tìm một người."

"Ai vậy?"

"Một người phụ nữ."

"Chúng ta ai cũng đều thế. Có cụ thể là người nào không?"

"Một người quen cũ."

"Cô ta ở Waffle Hut à?"

"Tôi nghĩ vậy."

"Anh kiểu như là thám tử tư, phải không?"

"Không."

"Tôi ngờ lắm."

"Sao ông không lo lái xe đi?"

Waffle Hut là một tòa nhà nhỏ vuông vắn, trông như một chiếc hộp, với khoảng một chục bàn ăn và một chiếc quầy dài đối diện với bếp nướng, nơi mọi món đều được nấu lộ thiên. Những cửa sổ kính tráng thủy nằm dọc một bên gần các bàn để khách có thể nhìn ra Strip và các căn chung cư xa xa trong lúc thưởng thức món bánh quế hồ đào và thịt xông khói. Bãi xe nhỏ hầu như chật kín, và Mitch hướng dẫn ông tài xế đến một lô trống gần tòa nhà.

"Anh có xuống không?" ông tài xế hỏi.

"Không. Ông cứ để đồng hồ chạy đi."

"Trời, vụ này lạ đấy."

"Ông sẽ được trả tiền."

"Anh làm vậy là phải."

Mitch nhoài tới, tì hai tay lên ghế trước. Chiếc đồng hồ khẽ nhịp khi anh dò xét những thực khách ở bên trong. Ông tài xế lắc đầu, ngồi thụp sâu trên ghế, nhưng vẫn tò mò nhìn.

Ở góc phòng, gần máy bán thuốc lá, có một chiếc bàn nơi những du khách to béo mặc áo sơ mi dài, chân trắng vớ đen, đang ngồi uống cà phê. Tất cả mọi người đều nói cùng một lúc khi họ nhìn vào các cuốn sổ thực đơn. Gã chủ xị mặc chiếc sơ mi không cài khuy để lộ sợi dây chuyền vàng nặng trịch trên đám lông ngực. Hắn có mớ tóc mai dày với nhiều sợi bạc, đầu đội chiếc nón lưỡi trai bóng chày Phillies. Và hắn cứ liên tục nhìn về hướng nhà bếp, tìm kiếm cô phục vụ.

"Anh đã thấy cô ta chưa?" ông tài xế hỏi.

Mitch không trả lời. Anh chau mày, chồm tới.

Bà đột ngột xuất hiện, đứng cạnh bàn với cuốn sổ gọi món và cây viết. Gã chủ xị nói câu gì đó khôi hài, và đám người béo phá lên cười. Bà không cười mà tiếp tục ghi. Trông bà mảnh mai và gầy đi rất nhiều. Quá nhiều nữa là khác. Bộ đồng phục đen trắng vừa khít, bó sát bờ eo hẹp. Mái tóc bạc của bà cột gọn gàng ra sau, ẩn dưới chiếc nón bê rê của Waffle Hut. Bà năm nay đã năm mươi mốt tuổi và, từ xa, trông bà đúng với độ tuổi của mình. Không có gì tệ đi. Bà có vẻ sắc sảo. Khi ghi xong tờ đặt món, bà giằng lấy cuốn sổ thực đơn từ tay họ, nói câu gì đó lịch sự, hơi mỉm cười rồi biến mất. Bà di chuyển nhanh nhẹn giữa các bàn, rót cà phê, trao những chai tương cà, chuyển lời đặt món cho đầu bếp.

Mitch thư giãn. Chiếc đồng hồ chầm chậm gõ nhịp.

"Là bà ta à?" ông tài xế hỏi.

"Phải."

"Giờ thì sao?"

"Tôi không biết."

"Vậy, ta đi tìm bà ta nhé?"

Mitch lặng thinh dõi theo các thao tác của bà. Bà rót cà phê cho một người đàn ông ngồi một mình. Ông ta nói gì đó và bà mỉm cười. Một nụ cười duyên dáng và tuyệt vời. Một nụ cười mà anh đã thấy hàng ngàn lần trong bóng tối, khi ngước mắt nhìn trần nhà. Nụ cười của mẹ anh.

Mội màn sương nhẹ bắt đầu ập xuống. Sau từng chặp mười giây, các cần gạt nước lại lau tấm kính chắn gió. Đã gần nửa đêm, ngày Giáng sinh.

Ông tài xế sốt ruột vỗ bánh lái, lộ rõ sự bồn chồn. Ông ngồi ngập sâu hơn vào ghế rồi đổi tư thế. "Ta còn ngồi đây bao lâu nữa?"

"Không lâu."

"Trời ạ, chuyện gì lạ thế này?"

"Ông sẽ được trả tiền."

"Trời, tiền đâu phải là tất cả. Đây là Giáng sinh mà. Tôi còn có mấy đứa nhỏ ở nhà, họ hàng đến viếng thăm, gà tây và rượu đã sẵn sàng để mà chén, thế mà tôi lại ngồi đây, trước cái quán Waffle này, để anh nhìn một bà già qua cửa sổ."

"Đó là mẹ của tôi đấy."

"Sao cơ?"

"Ông đã nghe rồi đó."

"Trời đất. Tôi lãnh đủ rồi."

"Ông im miệng đi có được không?"

"Được thôi. Anh sẽ nói chuyện với bà ta chứ? Ý tôi nói đây là Giáng sinh mà, và anh đã tìm ra được mẹ anh. Anh sẽ đến gặp bà ấy phải không?"

"Không. Không phải lúc này."

Mitch ngồi lại vào ghế, nhìn bãi biển tối đen ở bên kia cao tốc. "Ta đi nào."

Rạng sáng, anh mặc vào chiếc quần Jeans và áo nỉ, không mang vớ, không đi giày. Anh đưa Hearsay đi dạo trên bãi biển. Anh đi về hướng đông, tiến về phía những quầng sáng cam đầu tiên lấp ló phía chân trời. Những lọn sóng vỡ ra hiền hòa cách đó ba mươi mét rồi lặng lẽ dạt vào bờ. Cát mát lạnh và ẩm ướt. Bầu trời quang đãng, đầy những con mòng biển đang trò chuyện với nhau không dứt. Hearsay lóc cóc chạy ra biển rồi tức tối tháo lui khi ngọn sóng kế tiếp sủi bọt trắng ập tới. Với một con chó nhà thì dải cát và làn nước bất tận là một thứ gì đó đòi hỏi được khám phá. Nó chạy trước Mitch khoảng một trăm mét.

Sau khoảng ba cây số rưỡi, anh đi đến một cầu tàu, một cấu trúc lớn bằng bê tông dài khoảng sáu mươi mét từ bãi biển ra đại dương. Giờ đây đã hết sợ, Hearsay lao ra đó rồi chạy đến một xô mồi cạnh

hai người đàn ông đang đứng bất động nhìn xuống nước. Mitch bước qua sau lưng họ rồi đi đến đầu mút của cầu tàu, nơi hàng chục người câu cá thi thoảng trò chuyện với nhau và chờ lúc để quăng dây. Con chó cạ vào chân Mitch và trở nên yên ắng. Mặt trời đang dần trở lại rực rỡ. Suốt nhiều dặm, nước biển đã bắt đầu lấp lánh, chuyển từ màu đen sang màu xanh lục.

Mitch tựa vào lan can và rùng mình trước một cơn gió lạnh. Đôi chân trần của anh tê cóng và đóng sạn. Cách nhiều cây số dọc bãi biển theo cả hai hướng, các khách sạn và nhà nghỉ đang yên ắng chờ ban ngày. Bãi biển không có lấy một mống người. Một cầu tàu khác nhô ra biển ở cách đó nhiều cây số. Những người câu cá nói với nhau bằng thứ âm điệu chói tai và rành rọt của dân phương bắc. Mitch phải lắng nghe khá lâu mới hiểu rằng cá đã không cắn câu. Anh nhìn ra biển. Nhìn xuống phía đông nam, anh chợt nghĩ đến Cayman và Abanks. Và anh nghĩ đến cô gái trong thoáng chốc rồi biến mất. Anh sẽ trở lại các đảo vào tháng Ba để nghỉ phép cùng vợ. Cái cô gái chết tiệt đó! Chắc chắn anh sẽ không gặp lại cô ta. Anh sẽ đi lặn cùng Abanks và phát triển một tình bạn. Hai người sẽ uống Heineken và Red Stripe trong quán bar của ông ta, nói với nhau về Hodge và Kozinski. Ông ấy sẽ bám theo bất cứ gã nào bám theo anh. Nay Abby đã trở thành đồng lõa, cô sẽ giúp anh.

Người đàn ông chờ trọng bóng tối, cạnh chiếc Lincoln Town Car. Ông ta sốt ruột nhìn đồng hồ rồi liếc nhìn ánh sáng mờ trên vỉa hè đang tan biến dần ở phía trước tòa nhà. Ở tầng hai, một ngọn đèn vụt tắt. Một phút sau, gã thám tử bước từ tòa nhà ra xe. Người đàn

ông tiến về phía đó.

"Ông là Eddie Lomax?" ông ta lo lắng hỏi.

Lomax bước chậm rồi dừng lại. Họ đứng giáp mặt với nhau, "Phải. Còn ông là ai?"

Người đàn ông giữ hai tay trong túi. Trời lạnh và ẩm, và ông ta đang run rẩy.

"Al Kilbury. Tôi cần sự giúp đỡ, thưa ông Lomax. Thực sự là rất tệ. Tôi sẽ trả cho ông ngay bây giờ. Bằng tiền mặt. Bất cứ giá nào ông muốn. Xin hãy giúp tôi."

"Giờ này muộn rồi, ông bạn."

"Làm ơn đi. Tôi có tiền. Ông cứ ra giá đi. Ông phải giúp tôi, ông Lomax." Ông ta rút ra một cọc tiền mặt từ túi quần bên trái rồi đứng đó, sẵn sàng để đếm. Lomax nhìn cọc tiền rồi nhìn ra sau lưng. "Vấn đề là gì?"

"Vợ tôi. Trong một giờ nữa có khả năng cô ta sẽ gặp một gã đàn ông tại một nhà nghỉ ở South Memphis. Tôi đã có số phòng và mọi thứ. Tôi chỉ cần ông đi cùng và chụp ảnh lúc chúng đến và đi."

"Sao ông biết chuyện đó?"

"Nghe lén điện thoại. Cô ta làm việc chung với gã đó, và tôi đã nghi ngờ. Tôi là một người giàu có, ông Lomax ạ, và tôi nhất định phải thắng cuộc ly hôn. Tôi sẽ trả cho ông một ngàn bằng tiền mặt ngay bây giờ." Ông ta nhanh nhẩu lột mười tờ giấy bạc rồi trao ra. Lomax cầm tiền. "Được rồi. Để tôi lấy máy ảnh đã."

"Làm ơn nhanh lên. Mọi thứ đều bằng tiền mặt, được chứ? Không

ghi chép."

"Hợp ý tôi đấy," Lomax nói khi bước về lại tòa nhà.

Hai mươi phút sau, chiếc Lincoln chầm chậm lăn bánh trong bãi đậu chật cứng của một Days Inn. Kilbury trỏ vào một căn phòng tầng hai ở phía sau nhà nghỉ, rồi trỏ vào một không gian đậu xe cạnh chiếc van Chevy nâu. Lomax cẩn thận lùi xe dọc chiếc van, rồi đậu chiếc Town Car của anh. Kilbury một lần nước trỏ vào căn phòng, một lần nữa nhìn đồng hồ, và một lần nữa nói với Lomax ông ta cảm kích các dịch vụ của anh như thế nào. Lomax nghĩ đến tiền. Một ngàn đô cho hai giờ làm việc. Không hề tệ. Anh lấy máy ảnh ra, bỏ cuộn phim vào rồi canh chỉnh ánh sáng. Kilbury sốt ruột nhìn, mắt ông đảo liên tục, hết từ chiếc máy ảnh sang đến căn phòng phía bên kia bãi đậu. Trông ông có vẻ đau đớn. Ông nói về vợ và những năm tháng tuyệt vời bên nhau. Và rồi tại sao? Tại sao cô ta lại làm vậy?

Lomax nghe ông nói và quan sát những dãy xe đậu phía trước. Anh nhấc máy ảnh lên. Anh đã không để ý đến cánh cửa của chiếc van nâu. Nó từ từ và lặng lẽ trượt mở phía sau lưng anh, cách anh chỉ một mét. Một gã đàn ông mặc áo khoác đen cao cổ, đeo găng tay đen, đang hụp thấp trong chiếc van và chờ đợi. Khi bãi xe im ắng, hắn nhảy ra khỏi chiếc van, giật mở cánh cửa sau bên trái của chiếc Lincoln rồi bắn ba phát vào sau ót của Eddie. Súng được gắn giảm thanh nên ở bên ngoài xe không ai nghe thấy được. Eddie gục chết trên bánh lái. Kilbury nhảy ra từ chiếc Lincoln, chạy nhanh đến

chiếc van rồi phóng đi cùng với gã sát thủ.

18

Sau ba ngày không ghi hóa đơn thời gian, không sản lượng; sau ba ngày bị đày ải khỏi chốn tôn nghiêm của họ; sau ba ngày của gà tây và thịt nguội, của sốt việt quất và những món đồ chơi mới chưa lắp ráp, những luật sư được nghỉ ngơi và hồi sức của Bendini, Lambert & Locke đã quay trở lại pháo đài của họ trên đường Front với một tinh thần phục thù. Lúc bảy giờ ba mươi, bãi đậu đã chật kín. Họ ngồi cố định và khoan khoái sau những chiếc bàn làm việc nặng trịch, uống hàng lít cà phê, ngẫm nghĩ về những thư từ, trao đổi, tài liệu, và lẩm bẩm một cách cáu kỉnh và thiếu mạch lạc vào những chiếc máy đọc-ghi. Họ sủa những mệnh lệnh vào các thư ký, lục sự, trợ lý và lẫn nhau. Dọc những hành lang và quanh phòng cà phê, chỉ có rất ít lời chào hỏi kiểu như "anh đón Giáng sinh như thế nào", nhưng ngay cả một chuyện phiếm cũng chỉ diễn ra hời hợt vì chúng không ghi được hóa đơn. Âm thanh máy đánh chữ, máy nội đàm và giọng của các thư ký hòa trộn thành một tiếng rì rầm đầy vinh quang khi "sở đúc tiền" được hồi phục sau dịp Giáng sinh phiền toái. Oliver Lambert đi dọc các hành lang, hài lòng mỉm cười và lắng nghe

- chỉ lắng nghe thôi - cái âm thanh của sự thịnh vượng tính theo giờ.

Buổi trưa, Lamar bước vào văn phòng, khom xuống bàn làm việc. Mitch đang vùi đầu vào một giao dịch dầu hỏa và khí đốt với Indonesia.

"Ăn trưa nhé?" anh hỏi.

"Không, cảm ơn. Tôi đang bị trễ."

"Chúng ta ai chẳng thế. Tôi nghĩ chúng ta có thể chạy xuống quán Front Street Deli làm vài chén lẩu cay."

"Tôi xin kiếu. Cảm ơn."

Lamar quay đầu nhìn ra cửa rồi khom xuống sát hơn, như thể anh đang có những tin tức đặc biệt để chia sẻ. "Anh biết hôm này là ngày bao nhiêu rồi chứ?"

Mitch liếc nhìn đồng hồ đeo tay. "Ngày hai mươi tám."

"Đúng. Và anh biết chuyện gì xảy ra vào ngày hai mươi tám tháng Mười hai mỗi năm rồi chứ?"

"Anh phải đi tẩy ruột."

"Phải. Và gì nữa?"

"Thôi được, tôi chịu thua. Chuyện gì xảy ra vậy?

"Ngay lúc này đây, tại phòng ăn ở tầng năm, tất cả các đối tác đang tụ tập ăn trưa với vịt quay và rượu vang Pháp."

"Rượu vang? Vào bữa trưa?"

"Phải. Đó là một dịp rất đặc biệt."

"Dịp gì?"

"Sau khi họ ăn xong, khoảng một tiếng đồng hồ, Roosevelt và Jessica Frances sẽ rời đi và Lambert sẽ khóa cửa lại. Rồi chỉ còn lại toàn là đối tác, anh hiểu chưa. Chỉ toàn là đối tác thôi. Và Lambert sẽ công bố bản tổng kết tài chính trong năm. Nó sẽ liệt kê tất cả các đối tác, và bên dưới từng cái tên sẽ là một con số thể hiện tổng số ghi hóa đơn trong năm. Rồi ở trang kế tiếp sẽ là tổng số lợi nhuận ròng sau chi phí. Rồi, căn cứ theo năng suất, họ sẽ chia miếng bánh!"

Mitch chờ đợi từng lời. "Và rồi?"

"Và rồi, năm ngoái miếng bánh trung bình là ba trăm năm chục ngàn. Và dĩ nhiên, nó được chờ đợi sẽ còn cao hơn nữa trong năm nay. Năm nào cũng tăng cả."

"Ba trăm năm chục ngàn!" Mitch chầm chậm lặp lại.

"Đúng. Và đó mới chỉ là trung bình. Locke sẽ gom gần một triệu. Victor Miliga sẽ bám sát ở vị trí số hai."

"Còn chúng ta thì sao?"

"Chúng ta cũng sẽ có một miếng. Một miếng bánh nhỏ thôi. Năm ngoái nó trung bình là vào khoảng chín ngàn. Còn tùy thuộc anh đã ở đây bao lâu và năng suất của anh."

"Ta đi xem được không?"

"Họ không bán vé vào xem đâu, ngay cả cho Tổng thống. Nó được xem là một cuộc họp mật, dù tất cả chúng ta ai cũng biết cả. Tin đồn sẽ bắt đầu lan xuống muộn hơn trong chiều nay."

"Khi nào thì họ bỏ phiếu chọn ai là đối tác kế tiếp?"

"Thông thường thì điều đó sẽ phải diễn ra trong hôm nay. Nhưng theo những lời đồn đại thì năm nay có thể sẽ không có đối tác mới do vụ Marty và Joe. Tôi nghĩ Marty là người xếp hàng kế tiếp, sau đó đến lượt Joe. Giờ thì họ có lẽ sẽ đợi thêm một hay hai năm nữa."

"Vậy người xếp hàng kế tiếp nữa là ai?"

Lamar đứng dậy và hãnh diện mỉm cười. "Anh bạn, một năm nữa kể từ hôm nay, tôi sẽ trở thành đối tác của Bendini, Lambert & Locke. Tôi chính là người xếp hàng kế tiếp, vì vậy đừng có cản đường tôi trong năm nay đấy nhé."

"Tôi thì nghe nói đó là Massengill – Cần phải nói thêm rằng anh ta là một người đến từ Harvard."

"Massengill chẳng làm được gì ra hồn. Tôi dự định sẽ ghi hóa đơn một trăm bốn mươi giờ mỗi tuần trong năm mươi hai tuần tới, và mấy bác đó sẽ phải van xin tôi nhận vị trí đối tác. Tôi sẽ lên tầng bốn, còn Massengill sẽ chui xuống tầng hầm cùng với các trợ lý của hắn."

"Tôi thì đặt cược vào Massengill đấy."

"Hắn là một gã nhát cáy. Tôi sẽ vật hắn xuống đất. Ta đi làm một chén lẩu cay đi, tôi sẽ tiết lộ chiến lược của tôi."

"Cảm ơn, tôi phải làm việc."

Lamar vênh váo bước ra khỏi văn phòng, băng ngang qua Nina, người lúc đó đang ôm một chồng hồ sơ. Bà đặt nó xuống một góc bừa bộn trên bàn.

"Tôi đi ăn trưa đây. Ông có cần gì không?"

"Không, cảm ơn. À vâng, cho tôi xin một Coca ăn kiêng."

Các hành lang vắng lặng trong bữa trưa khi các thư ký tẩu thoát khỏi tòa nhà, đi bộ đến khu thương mại, và rúc vào hàng chục tiệm cà phê nhỏ và quán ăn ngon ở gần đó. Với việc một nửa số luật sư ở tầng năm đang tiếp tục đếm tiền, tiếng rì rầm của chia chác đã tạm thời gián đoạn.

Mitch tìm được một quả táo trên bàn của Nina và dùng tay chùi sạch nó. Anh mở một cuốn cẩm nang về các quy định của IRS, đặt nó lên chiếc máy photocopy sau bàn làm việc của Nina rồi bấm vào nút in màu xanh. Một đèn cảnh báo màu đỏ bật lên cùng một thông điệp nhấp nháy: nhập số hồ sơ. Anh lùi lại, nhìn chiếc máy photocopy. Phải rồi, nó là chiếc máy mới. Bên cạnh nút in là một nút khác ghi chữ "by pass." Anh nhấn ngón cái lên đó. Một tiếng còi chói tai bột phát từ trong máy, và toàn bộ bảng điều khiển bật lên màu đỏ chói. Anh tuyệt vọng nhìn quanh. Chẳng thấy ai cả. Anh cuống quýt chộp lấy cuốn cẩm nang.

"Có chuyện gì ở đây vậy?" ai đó thắc mắc về tiếng rít của máy photocopy.

"Tôi không biết!" Mitch la lớn, vẫy vẫy cuốn cẩm nang.

Lela Pointer - một bà thư ký quá già để có thể đi bộ từ tòa nhà đến quán ăn trưa - bước ra sau máy rồi bật một cái nút. Tiếng còi tắt ngúm.

"Chuyện quái gì vậy?" Mitch hổn hển nói.

"Họ không báo cho ông biết à?" bà hỏi rồi giật lấy cuốn cẩm nang

và đặt nó lại vào chỗ. Đôi mắt nhỏ hung dữ của bà khoan một lỗ vào anh, cứ như thể bà vừa bắt quả tang anh đang làm điều rằng bậy gì đó.

"Có ai nói gì đâu. Chuyện gì vậy?"

"Chúng ta có một hệ thống photocopy mới," bà khinh khỉnh giảng giải. "Nó được thiết lập một ngày sau Giáng sinh. Ông phải nhập mã số hồ sơ thì máy mới chạy được. Thư ký của ông lẽ ra phải nói cho ông biết."

"Ý bà là cái máy này sẽ không sao chép nếu tôi không chịu nhấn một con số gồm mười chữ số?"

"Đúng vậy."

"Còn nếu sao chép bình thường, không phải là hồ sơ cụ thể nào, thì sao?"

"Thì không sao chép được. Ông Lambert nói chúng ta đã mất quá nhiều tiền bạc cho các bản sao ngoài hạng mục ghi hóa đơn. Cho nên, kể từ nay, mỗi bản sao sẽ tự động ghi hóa đơn cho một hồ sơ. Ông nhấn số trước. Máy sẽ ghi lại số bản sao rồi gửi nó cho máy chủ, nơi nó sẽ đi đến tài khoản của thân chủ để lập hóa đơn."

"Còn các bản sao cá nhân thì sao?"

Lela lắc đầu, ra vẻ như hoàn toàn thất vọng. "Không thể nào tin nổi thư ký của ông lại không nói cho ông biết tất cả những chuyện đó."

"Phải, bà ta không nói. Vậy sao bà không giúp tôi đi."

"Ông có mã truy cập bốn con số của riêng ông. Cuối mỗi tháng

ông phải lập hóa đơn cho các bản sao cá nhân của ông."

Mitch nhìn cỗ máy và lắc đầu. "Tại sao phải có cái hệ thống báo động chết tiệt đó?"

"Ông Lambert nói sau ba mươi ngày nữa họ sẽ ngắt báo động. Ngay hiện thời thì nó là cần thiết cho những người như ông. Ông ta rất nghiêm túc về chuyện đó. Ông ta nói chúng ta đã mất đến hàng ngàn đô la cho các bản sao không ghi hóa đơn."

"Được rồi. Và tôi đoán mọi máy photocopy trong tòa nhà đều đã được thay thế?"

Bà hài lòng mỉm cười. "Phải, toàn bộ mười bảy cái."

"Cảm ơn." Mitch trở lại văn phòng của anh để tìm kiếm mã hồ sơ.

Vào lúc ba giờ chiều ngày hôm đó, buổi mừng công trên tầng năm đã đi đến một kết cục vui vẻ, và các đối tác - nay đã giàu có hơn và say xỉn hơn – bước ra khỏi phòng ăn và đi xuống văn phòng của họ ở các tầng dưới. Avery, Oliver Lambert và Nathan Locke đi qua hành lang ngắn đến bức tường an ninh và bấm nút. DeVasher đang chờ. Ông phẩy tay về phía những chiếc ghế trong văn phòng của mình rồi bảo họ ngồi xuống. Lambert luân chuyển những điếu xì gà vấn tay của Honduras, và mọi người đều châm lửa.

"Hình như mọi người đều đang trong tinh thần lễ lạc," DeVasher nói với một nụ cười nhếch mép. "Bao nhiêu vậy? Ba trăm chín chục ngàn bình quân, đúng không?"

"Đúng vậy, DeVasher, Lambert nói. "Một năm rất tốt." Ông chầm chậm nhả khỏi rồi thổi những vòng khói thuốc tròn lên trần nhà.

"Mọi người đều có một Giáng sinh tuyệt vời cả chứ?" DeVasher hỏi.

"Anh nghĩ gì trong đầu vậy?" Locke hỏi.

"Xin chúc mừng Giáng sinh cho cả anh nữa, Nat. Chỉ có một ít điều. Hai hôm trước tôi vừa gặp Lazarov ở New Orleans. Ông ta không đón mừng ngày Chúa ra đời, các anh biết rồi đấy. Tôi cập nhật cho ông ta về tình hình dưới này, trong đó nhấn mạnh vụ McDeere và FBI. Tôi trấn an ông ta rằng đã không có tiếp xúc nào thêm kể từ sau cuộc gặp ban đầu. Ông ta không tin điều đó lắm và bảo rằng sẽ kiểm tra thông qua các nguồn của ông ta ở trong Cục. Tôi không hiểu ông ta nói vậy là ý gì, nhưng tôi là ai mà dám đặt câu hỏi cho ông ta cơ chứ? Ông ta chỉ đạo tôi bám sát McDeere hai mươi bốn trên hai mươi bốn trong vòng sáu tháng tới. Tôi bảo ông ta rằng chúng ta đại để đã làm như vậy rồi. Ông ta không muốn có một tình huống Hodge-Kozinski khác. Ông ta rất lo lắng chuyện đó. McDeere không được rời khỏi thành phố để làm công việc của hãng trừ phi ít nhất có hai người của chúng ta đi theo hắn."

"Hắn sắp đi Washington trong hai tuần nữa." Avery nói.

"Để làm gì?"

"Viện Thuế Hoa Kỳ. Đó là một cuộc hội thảo bốn ngày mà chúng tôi luôn đòi hỏi nơi các cộng sự mới. Đối với hắn, chuyến đi đó sẽ có vẻ rất hứa hẹn, và hắn sẽ rất nghi ngờ nếu như nó bị hủy."

"Chúng tôi đã đăng ký cho hắn vào tháng Chín," Ollie bổ sung.

"Để tôi xem liệu Lazarov có thông qua hay không." DeVasher nói. "Cho tôi ngày giờ, chuyến bay và khách sạn đăng ký. Ông ta sẽ

không thích lắm đâu."

"Trong dịp Giáng sinh có chuyện gì xảy ra không?"

"Không có gì nhiều. Vợ hắn muốn về nhà của cô ta ở Kentucky. Cô ta hiện vẫn đang ở đó. McDeere mang theo con chó, lái xe đến bãi Panama City. Chỉ có hắn và con chó. Chán chết đi được. Rồi hắn lái đến Birmingham, ngụ tại một Holiday Inn khác, rồi sáng sớm hôm qua hắn lái đến Brushy Mountain để thăm thằng anh. Một chuyến đi vô hại."

"Hắn nói gì với vợ?" Avery hỏi.

"Chẳng nói gì cả, chúng tôi chỉ biết được có thế. Rất khó nghe ngóng được điều gì."

"Ông còn theo dõi ai khác không?" Avery hỏi.

"Chúng tôi đang nghe lén tất cả bọn họ, nhưng kiểu như chỉ hú họa mà thôi. Chúng ta thực sự không có đối tượng tình nghi nào khác ngoài McDeere, và sự nghi ngờ đó cũng chỉ là do Tarrance gây ra. Ngay lúc này, mọi thứ đều yên ắng."

"Hắn phải đi Washington thôi, DeVasher ạ," Avery khăng khăng.

"Được rồi, được rồi. Tôi sẽ hỏi xin Lazarov. Ông ta sẽ bắt chúng tôi cử năm người đi theo dõi cho coi. Đúng là một lão ngốc."

Ernie's Airport Lounge quả thật nằm ở gần sân bay. Sau ba lần nỗ lực, Mitch cũng đã tìm ra nó và nay anh đang đậu xe giữa hai chiếc xe đi bùn bốn bánh với những tảng bùn lớn bám đầy các lốp xe và đèn pha.

Bãi đậu chứa đầy những chiếc xe dạng này. Anh nhìn quanh rồi

tháo cà vạt một cách bản năng. Đã gần mười một giờ. Quán bar Ernie's Airport Lounge vừa sâu, vừa dài lại vừa tăm tối, với những bảng hiệu bia sặc sỡ chớp nháy trên các cửa sổ sơn.

Anh xem lại tờ nhắn, chỉ để cho chắc chắn. "Ông McDeere thân mến. Xin vui lòng gặp tôi tối nay tại Ernie's Lounge ở Winchester vào tối muộn. Đây là về Eddie Lomax. Rất quan trọng. Tammy Hemphill, thư ký của ông ta."

Khi anh về đến nhà thì tờ nhắn đã được đính trên cửa vào nhà bếp. Anh nhớ ra cô ta trong chuyến thăm duy nhất tại văn phòng của Eddie hồi tháng Mười một. Anh nhớ đến chiếc váy da bó sát, bộ ngực lớn, mái tóc nhuộm vàng, đôi môi đỏ nhơm nhớp và khói thuốc cuồn cuộn từ lỗ mũi. Anh nhớ cả câu chuyện của cô ta với gã chồng Elvis.

Cánh cửa mở ra mà không có sự cố nào, và anh lách vào trong. Một dãy bàn bi da chiếm hết nửa bên trái của căn phòng. Qua bóng tối và khói đen, anh dần nhận ra một sàn nhảy nho nhỏ ở phía sau. Bên phải là một quầy bar dài, loại quầy bar của quán rượu, chật ních các cao bồi nam và cao bồi nữ, tất cả đều uống Bud cổ dài. Có vẻ như không ai nhận ra anh, Anh bước nhanh đến cuối quầy bar rồi lẻn ngồi xuống một chiếc ghế. "Bud cổ dài," anh nói với người phục vụ quầy.

Tammy đến trước cả chai bia. Cô đang ngồi chờ trên một băng ghế chật kín, cạnh các bàn bi da. Cô mặc một chiếc quần Jeans bó sát và sờn mòn, áo Jeans bằng vải thô bạc màu, xỏ đôi giày cao gót

đỏ đỏng đảnh. Tóc cô mới vừa được nhuộm vàng.

"Cảm ơn anh đã đến," cô nói. "Tôi đã chờ bốn tiếng đồng hồ. Tôi không biết cách nào khác để tìm anh."

Mitch gật đầu và mỉm cười như muốn nói, "Không sao. Cô đã làm đúng."

"Có chuyện gì vậy?" anh hỏi.

Cô nhìn quanh quất. "Chúng ta cần nói chuyện, nhưng không phải ở đây."

"Cô có gợi ý nơi đâu không?"

"Ta lái xe đi vòng vòng có được không?"

"Được chứ, nhưng không phải trong xe tôi. Nó, ơ, có lẽ đó không phải là một ý hay."

"Tôi có xe. Nó cũ rồi, nhưng không sao cả."

Mitch trả tiền bia rồi theo cô ra cửa. Gã cao bồi ngồi gần cửa thốt lên, "Coi kìa. Thằng nhóc mặc đồ bộ vừa xuất hiện là đã lượm luôn con bé trong vòng ba mươi giây."

Mitch mỉm cười với hắn rồi đi vội ra ngoài. Chiếc Volswagen Rabbit cũ kỹ nằm thấp lè tè giữa dãy xe đi bùn khổng lồ. Cô mở khóa xe, và Mitch lom khom lách vào chiếc ghế bừa bộn. Cô nhấn ga và xoay chìa năm lần. Mitch nín thở cho đến khi nó nổ máy.

"Anh muốn đi đâu?" cô hỏi.

Đi đâu cũng được, miễn là không bị nhìn thấy, Mitch nghĩ, "Cô là người lái mà."

"Anh đã lập gia đình, đúng không?" cô hỏi.

"Phải. Còn cô?"

"Đã. Và chồng của tôi sẽ không hiểu cái tình huống hiện thời. Đó là lý do vì sao tôi chọn cái nơi rác rưởi này. Chúng tôi chưa bao giờ đến đây."

Cô nói cứ như thể cô và chồng có thành kiến đối với các quán rượu của dân miệt vườn.

"Tôi nghĩ vợ tôi cũng sẽ không hiểu. Nhưng cô ấy hiện ở ngoài thành phố."

Tammy lái theo hướng ra sân bay. "Tôi có một ý này," cô xiết chặt bánh lái, bồn chồn nói.

"Ý gì vậy?" Mitch hỏi.

"Chúng ta đều đã nghe về chuyện Eddie phải không?"

"Phải."

"Anh gặp anh ấy lần cuối vào lúc nào?"

"Chúng tôi gặp nhau trước Giáng sinh, cách đây khoảng mười ngày. Đó kiểu như là một cuộc gặp bí mật."

"Tôi cũng nghĩ vậy. Anh ấy không ghi chép gì cả về công việc mà anh ấy đang làm cho anh. Anh ấy bảo anh muốn thế. Anh ấy không nói nhiều với tôi. Nhưng tôi và Eddie, chúng tôi, ơ, chúng tôi... rất thân nhau."

Mitch không biết phải đáp lại ra sao.

"Ý tôi là chúng tôi rất thân thiết. Anh hiểu tôi nói chứ?"

Mitch ậm ừ rồi nhấp chai cổ dài.

"Anh ấy có kể cho tôi nghe những điều mà tôi nghĩ anh ấy không nên kể. Anh ấy nói anh là một trường hợp thực sự đặc biệt. Anh ấy nói một số luật sư trong hãng của anh đã chết trong những tình huống đáng ngờ, và anh luôn nghĩ có ai đó bám theo và nghe lén anh. Điều đó thực sự quá sức kỳ lạ đối với một hãng luật."

Quá nhiều tiết lộ để là một bí mật, Mitch nghĩ. "Đúng vậy."

Cô vòng xe, lái ra khỏi sân bay rồi đi thẳng đến bạt ngàn những chiếc xe đang đậu.

"Sau khi làm xong công việc cho anh, anh ấy có lần đã nói với tôi trên giường, chỉ một lần thôi, rằng anh nghĩ chính anh ấy cũng đang bị bám theo. Đó là vào trước Giáng sinh ba ngày. Tôi hỏi anh ấy ai bám theo. Anh ấy nói không biết, nhưng có nhắc đến vụ của anh và nói gì đó về khả năng đó là cùng những kẻ đã bám theo anh. Anh ấy không nói gì nhiều."

Cô dừng lại ở khu vực đậu xe ngắn hạn ở gần nhà ga sân bay. "Còn ai khác có thể theo dõi anh ta không?" Mitch hỏi.

"Không ai cả. Anh ấy là một thám tử giỏi, không bao giờ để lại dấu vết. Anh ấy là cựu cớm và cựu tù cơ mà. Anh ấy rất lọc lõi. Anh ấy được trả tiền để bám theo người khác và thu thập các thứ rác rưởi. Không ai bám đuôi được anh ấy đâu. Không bao giờ."

"Vậy thì ai đã giết anh ta?"

"Kẻ đã bám theo anh ấy. Báo chí nói hình như anh ấy bị bắt gặp lúc đang rình mò một gã nhà giàu nào đó và đã bị thủ tiêu. Điều đó

không đúng."

Bất chợt, như từ hư vô, cô rút ra điếu đầu lọc 1000 rồi châm lửa ở một bên đầu. Mitch quay cửa sổ xuống.

"Tôi hút thuốc có làm phiền gì anh không?" cô hỏi.

"Không, miễn là cô thổi ra đằng kia," anh nói, trỏ vào cửa sổ xe phía bên cô.

"Nói tóm lại là tôi sợ. Eddie tin rằng những kẻ bám theo anh ấy là những kẻ cực kỳ nguy hiểm và cực kỳ thông minh. Rất tinh vi, anh ấy nói vậy. Và nếu họ giết anh ấy thì liệu họ sẽ làm gì tôi? Có thể họ nghĩ tôi không biết gì cả. Tôi đã không đến văn phòng từ cái ngày anh ấy bị giết. Tôi không định trở lại đó nữa."

"Nếu tôi là cô thì tôi cũng không trở lại."

"Tôi đâu có ngu. Tôi làm việc cho anh ấy suốt hai năm nay và đã học được nhiều điều. Có nhiều gã điên ở ngoài kia. Chúng tôi đã thấy đủ loại."

"Họ bắn anh ta ra sao?"

"Anh ấy có người bạn ở bộ phận Án mạng. Anh này đã bí mật cho tôi biết rằng Eddie bị bắn ba phát vào sau ót bằng một khẩu 22 ly ở cự ly gần. Họ không có manh mối nào cả. Anh ta nói vụ đó rất gọn gàng và chuyên nghiệp."

Mitch nốc cạn chai cổ cao rồi đặt nó lên sàn xe, gia nhập cùng nửa tá lon bia rỗng. Gọn gàng và chuyên nghiệp.

"Thật là vô lý," cô lặp lại. "Ý tôi là làm sao ai đó có thể lẻn ra phía sau Eddie, rồi bằng cách nào đó leo vào băng ghế sau và bắn ba

phát vào sau ót của anh ấy được? Mà anh ấy thậm chí cũng đâu nhất thiết phải ở đó."

"Có thể anh ta ngủ quên rồi bị phục kích."

"Không. Anh ấy đổi tốc độ đủ kiểu mỗi khi làm việc muộn vào ban đêm. Luôn luôn cảnh giác."

"Có ghi chép gì ở văn phòng không?"

"Ghi chép về anh à?"

"Đúng, về tôi."

"Tôi không tin. Tôi chưa từng thấy có ghi chép nào cả. Anh ấy nói đó là anh muốn thế."

"Đúng vậy," Mitch nhẹ nhõm nói. Anh nhìn chiếc 727 đang cất cánh theo hướng bắc. Bãi đậu rung chuyển.

"Tôi thật sự rất sợ, Mitch ạ. Tôi gọi anh là Mitch có được không?"

"Dĩ nhiên. Tại sao không chứ?"

"Tôi nghĩ anh ấy bị giết vì cái việc mà anh ấy làm cho anh. Chỉ có thể là vậy. Và nếu họ giết anh ấy vì anh ấy biết gì đó thì có thể họ cũng nghĩ là tôi biết. Anh nghĩ sao?"

"Tôi sẽ không chấp nhận mọi rủi ro."

"Tôi có thể biến mất một thời gian. Chồng tôi chỉ làm chút việc vặt ở một câu lạc bộ đêm, và chúng tôi có thể di chuyển nếu cần thiết phải làm thế. Tôi chưa kể cho anh ấy tất cả những chuyện này, nhưng tôi nghĩ tôi phải kể thôi. Anh nghĩ sao?"

"Cô định đi đâu?"

"Little Rock. St. Louis, Nashville. Anh ấy sắp bị cho nghỉ việc nên chúng tôi có thể đi loanh quanh, tôi nghĩ vậy." Giọng cô chùng xuống. Cô châm một điếu nữa.

Gọn gàng và chuyên nghiệp, Mitch lặp lại với chính anh. Anh liếc nhìn cô và nhận ra một giọt lệ lăn dài trên má. Cô không xấu, nhưng những năm tháng ở quán bar và câu lạc bộ đêm đã buộc cô phải trả giá. Thể tạng cô khỏe mạnh, và nếu không có mái tóc nhuộm vàng và không trang điểm thái quá thì cô cũng có chút hấp dẫn ở độ tuổi của mình. Bốn mươi, anh đoán thế.

Cô rít một hơi mạnh rồi phả một đám mây khói dâng cao trong chiếc Rabbit. "Tôi nghĩ chúng ta đang ở trên cùng một con thuyền, có phải vậy không? Ý tôi là họ đang săn đuổi cả hai ta. Họ đã giết tất cả mấy người luật sư đó, và giờ là đến phiên Eddie. Tôi đoán anh và tôi sẽ là những người kế tiếp."

Đừng ếm khói, chị hai, hãy nhả nó ra đi. "Nghe đây, ta hãy làm như sau. Ta cần giữ liên lạc với nhau. Cô không được gọi vào số điện thoại của tôi và chúng ta không được để ai nhìn thấy đang ở cạnh nhau. Vợ tôi đã biết mọi chuyện, và tôi sẽ kể cho cô ấy về cuộc gặp nhỏ này. Đừng lo về cô ấy. Mỗi tuần một lần, hãy viết một vài dòng để tôi biết cô đang ở đâu. Tên mẹ của cô là gì?"

"Doris."

"Tốt. Đó là mật danh của cô. Bất cứ thứ gì cô gửi cho tôi hãy ký tên là Doris."

"Họ có đọc thư từ của anh không?"

"Có thể lắm, Doris, có thể lắm."

19

Lúc năm giờ chiều. Mitch tắt đèn văn phòng của anh, cầm theo cả hai chiếc cặp và dừng lại tại bàn của Nina. Bà kẹp điện thoại vào một bên vai trong khi gõ vào chiếc IBM. Thấy anh, bà thò tay vào ngăn kéo, lấy ra chiếc phòng bì. "Đây là tờ xác nhận đặt phòng của anh tại Capitol Hilton," bà nói vào chiếc điện thoại.

"Bài đọc ở trên bàn của tôi," anh nói. "Hẹn gặp bà vào thứ Hai." Anh theo cầu thang lên tầng bốn, đi đến văn phòng ở góc của Avery, nơi một cuộc náo loạn nhỏ đang diễn ra. Một thư ký đang nhồi nhét các hồ sơ vào một chiếc cặp khổng lồ. Một thư ký khác đang đấu khẩu gay gắt với Avery, ông này thì đang la hét vào điện thoại với ai đó. Một trợ lý phát ra các mệnh lệnh cho bà thư ký đầu.

Avery sập điện thoại. "Anh đã chuẩn bị xong chưa?" ông hỏi Mitch. "Chỉ còn chờ có ông nữa thôi." Mitch đáp.

"Tôi không tìm thấy hồ sơ Greemark," bà thư ký vặc lại viên trợ lý. "Nó nằm trong hồ sơ Rocconi đó," viên trợ lý nói.

"Tôi đâu có cần hồ sơ Greenmark!" Avery hét lên. "Tôi phải nói bao nhiều lần với các người đây? Các người có bị điếc không vậy?"

Bà thư ký nhìn Avery. "Không điếc, tôi nghe rất tốt. Và tôi đã nghe ông nói rõ mồn một, Hãy mang theo hồ sơ Greenmark."

"Chiếc limousin đang đợi," bà thư ký kia lên tiếng.

"Tôi không cần cái hồ sơ Greenmark chết tiệt đó!" Avery hét lớn. "Còn hồ sơ Rocconi thì sao?" viên trợ lý hỏi.

"Đúng rồi! Đúng! Lần thứ mười rồi đấy nhé. Tôi cần hồ sơ Rocconi!"

"Máy bay đang chờ," bà thư ký kia nói.

Một chiếc cặp đã được đóng và khóa lại. Avery lục tung các tài liệu trên bàn làm việc của ông. "Hồ sơ Fender đâu rồi? Các hồ sơ của tôi đâu cả rồi? Tại sao không bao giờ thấy hồ sơ nào hết vậy?"

"Fender ở đây," bà thư ký đầu nói trong khi nhồi nhét nó vào một chiếc cặp khác.

Avery nhìn một mảnh giấy ghi chú. "Được rồi. Tôi đã có Fender, Rocconi, Cambridge Partners, Green Group, Sonny Capps, Okati, Burton Brothers, Galveston Freight, và McQuade, đúng không?"

"Vâng, vâng, vâng," bà thư ký đầu nói.

"Có tất cả bọn họ rồi đấy," viên trợ lý nói.

"Thật không thể tin nổi." Avery nói khi với lấy chiếc áo vest. "Ta đi thôi." Ông sải chân bước qua cửa. Các bà thư ký, viên trợ lý và Mitch nối gót theo sau. Mitch xách hai chiếc cặp, viên trợ lý cũng xách hai chiếc và một bà thư ký xách một chiếc. Bà kia đang nguệch ngoạc các ghi chú trong khi Avery sủa ra những mệnh lệnh và đòi hỏi những việc phải thực hiện xong trong khi ông đi vắng. Đoàn tùy

tùng chen chúc vào chiếc thang máy nhỏ để đi xuống tầng một. Bên ngoài, người tài xế bật dậy để hành động, mở các cánh cửa và chất hành lý vào cốp xe. Mitch và Avery buông mình xuống băng ghế sau. "Thư giãn đi, Avery," Mitch nói. "Ông sắp có ba ngày ở Cayman mà, thư giãn đi."

"Phải, phải rồi. Tôi đã mang theo đủ công việc để làm cho nguyên cả tháng. Tôi có những thân chủ đang gào thét vì sự lẩn tránh của tôi; họ đang hăm kiện tội vì tội lạm dụng luật pháp; tôi đã bị tụt lại phía sau những hai tháng; và giờ đây thì anh lại sắp đi dự một cuộc hội thảo về thuế chán ngấy trong bốn ngày tại Washington. Thời biểu của ông rất tuyệt đấy, ông McDeere. Đúng là rất tuyệt."

Avery mở tủ, pha một món cocktail. Mitch từ chối. Chiếc limo bọc quanh đường Riverside Drive trong giờ giao thông cao điểm. Sau ba ngụm Gin, vị đối tác bắt đầu hổn hển.

"Giáo dục thường xuyên. Đúng là một trò đùa." Avery nói.

"Ông từng trải qua nó khi còn là tân binh. Và nếu như tôi không lầm thì mới đây ông đã dành hai tuần cho một hội thảo quốc tế về thuế tại Honolulu. Hay là ông quên mất rồi?"

"Đó là công việc. Tất cả đều là công việc. Anh có mang theo các hồ sơ của anh không đấy?"

"Dĩ nhiên, Avery. Tôi được kỳ vọng sẽ dự hội thảo thuế tám giờ mỗi ngày, học về các tu chính mới nhất về thuế mà Quốc hội đặt ra cho chúng ta, và trong thời gian rảnh rỗi thì phải ghi hóa đơn năm giờ mỗi ngày."

"Sáu, nếu như anh có thể. Chúng ta đã bị tụt lại phía sau rồi đó, Mitch."

"Lúc nào chúng ta chẳng tụt lại phía sau, Avery. Pha thêm một cocktail nữa đi. Ông cần được thư giãn."

"Tôi dự định sẽ thư giãn ở Rumheads."

Mitch nghĩ đến quầy bar với Red Stripe, domino, phi tiêu và nhất là bikini dây. Và cả cô gái nữa.

"Đây có phải là chuyến bay đầu tiên của anh trên Lear không?" Avery hỏi, nay đã thoải mái hơn.

"Vâng, tôi đã ở đây bảy tháng, và mãi đến bây giờ mới sắp được nhìn thấy cái máy bay. Tôi mà biết chuyện này từ hồi tháng Ba thì tôi đã đi làm cho một hãng ở Wall Street."

"Anh không thuộc về Wall Street đâu. Anh biết mấy gã ở đó làm gì không? Họ có ba trăm luật sư trong một hãng, đúng không nào? Và mỗi năm họ thuê ba mươi cộng sự mới, có thể còn hơn thế. Ai cũng muốn có việc làm vì đó là Wall Street mà, đúng không nào? Và sau khoảng một tháng họ sẽ gom toàn bộ ba mươi người này vào một căn phòng bự và thông báo rằng họ kỳ vọng những anh chàng này làm việc chín mươi giờ mỗi tuần trong suốt năm năm, và đến hết năm năm thì một nửa đã ra đi mất rồi. Doanh thu là không thể tin nổi. Họ muốn giết các tân binh, bắt tân binh ghi hóa đơn lên đến một trăm, một trăm năm mươi đô mỗi giờ. Họ muốn chồng chất gánh nặng lên tân binh rồi đá đít mấy cậu nhóc đó. Wall Street là vậy đó. Và những cậu nhóc ở đó chẳng bao giờ thấy được chiếc máy

bay nào của hãng đâu. Thậm chí chiếc limo của hãng cũng chẳng thấy nữa là. Anh thực sự là may mắn lắm đấy, Mitch. Anh phải tạ ơn Chúa mỗi ngày vì chúng tôi đã nhận anh vào đây, vào cái hãng Bendini, Lambert & Locke tốt đẹp này."

"Chín mươi giờ dễ như bỡn. Tôi có thể sử dụng thời gian còn lại."

"Điều đó sẽ được tưởng thưởng. Anh đã nghe về tiền thưởng của tôi năm ngoái chưa?"

"Chưa."

"Bốn-tám-năm. Không tệ phải không? Và đó mới chỉ là tiền thưởng thôi nhé."

"Tôi được sáu ngàn," Mitch nói.

"Cứ bám theo tôi, anh sẽ sớm ở trong đội ngoại hạng."

"Vâng, nhưng trước hết tôi phải trải qua cái giáo dục thường xuyên đó đã."

Mười phút sau, chiếc limo rẽ vào một con đường dẫn đến dãy nhà chứa máy bay. Memphis Aero, một tấm biển ghi là vậy. Một chiếc Lear 55 bạc mượt mà đang chầm chậm tiến đến ga hàng không. "Nó đấy." Avery nói.

Những chiếc cặp và hành lý được nhanh chóng chất lên máy bay, và chỉ trong vòng vài phút máy bay đã sẵn sàng để cất cánh. Mitch cài dây an toàn rồi chiêm ngưỡng khoang máy bay da-và-đồng. Nó trông hào nhoáng và xa hoa, đúng anh như kỳ vọng. Avery pha một ly cocktail nữa rồi cài dây.

Một giờ năm mươi phút sau, chiếc Lear bắt đầu hạ cánh xuống

sân bay quốc tế Baltimore-Washington. Sau khi nó lăn bánh đến một điểm dừng, Avery và Mitch xuống một sân trải nhựa đường và mở cửa khoang hành lý. Avery trỏ vào một người đàn ông mặc đồng phục đứng gần cổng. "Đây là tài xế của anh. Chiếc limo ở phía trước. Cứ đi theo anh ta. Anh còn ở cách Capital Hilton khoảng bốn mươi phút đi xe nữa."

"Một chiếc limo khác hả?" Mitch hỏi.

"Đúng. Ở Wall Street họ sẽ chẳng đối xử với anh như thế."

Họ bắt tay nhau rồi Avery leo trở vào máy bay. Việc nạp lại nhiên liệu mất ba mươi phút, và khi chiếc Lear cất cánh, trở về hướng nam, ông lại ngủ tiếp.

Ba giờ sau, chiếc Lear hạ cánh xuống Georgetown, Grand Cayman. Nó lăn bánh qua một ga hàng không, đi đến một nhà chứa máy bay rất nhỏ, nơi nó sẽ ngụ lại qua đêm. Một nhân viên an ninh chờ Avery cùng hành lý của ông rồi hộ tống ông đến ga hàng không và di qua hải quan. Người phi công và phụ lái làm các thủ tục sau khi bay. Cả họ cũng được hộ tống qua ga hàng không.

Sau nửa đêm, những ngọn đèn trong nhà chứa máy bay được tắt và nửa tá máy bay chìm trong bóng tối. Một cửa hông mở ra và ba người đàn ông, một trong số đó là Avery, bước vào và đi nhanh đến chiếc Lear 55. Avery mở khoang hành lý, và ba người vội vã khuân xuống hai mươi lăm chiếc thùng các tông nặng. Trong cái nóng nhiệt đới oi ả, nhà chứa máy bay giống như một lò lửa. Họ nhễ nhãi mồ hội nhưng không nói gì cả cho đến khi toàn bộ những chiếc thùng

được lấy ra khỏi máy bay.

"Cả thảy phải là hai mươi lăm cái. Đếm thử xem," Avery nói với một gã bản địa bắp thịt cuồn cuộn, mặc chiếc áo ba lỗ với khẩu súng dắt bên hông. Một gã khác cầm bìa kẹp hồ sơ, nhìn chằm chặp như thể hắn ta là một thư ký nhận hàng trong một nhà kho. Gã bản địa đếm nhanh, mồ hôi chảy tong tỏng lên những chiếc thùng. "Đúng rồi. Hai mươi lăm."

"Là bao nhiêu?" gã cầm bìa kẹp hồ sơ hỏi.

"Sáu triệu rưỡi."

"Toàn bộ là tiền mặt?"

"Toàn bộ là tiền mặt. Đô la Mỹ. Tờ một trăm và tờ hai chục. Ta chất nó lên đi."

"Đưa nó đi đâu đây?"

"Quebecbang. Họ đang chờ chúng ta đấy."

Mỗi người tóm lấy một thùng. Họ bước trong bóng tối đến cánh cửa hông, nơi một đồng bọn của bọ đang chờ với một khẩu Uzi. Những chiếc thùng được chất lên một chiếc van cũ tồi tàn, với dòng chữ SẢN XUẤT TẠI CAYMAN dán cẩu thả ở bên hông. Các gã bản địa ngồi ôm súng, đợi đến khi gã thư ký lái xe rời nhà chứa máy bay, đi về hướng khu thương mại của Georgetown.

Việc đăng ký bắt đầu vào lúc tám giờ bên ngoài hội trường Century Room trên gác lửng. Mitch đến sớm, ký tên, lượm cuốn tài liệu nặng có tên anh in ngay ngắn trên bìa. Anh đi vào, chọn một chỗ gần trung tâm căn phòng lớn. Số người đăng ký được hạn chế

dưới hai trăm, một tờ rơi nói vậy. Một người phục vụ mang cà phê đến và Mitch mở tờ Washington Post ra xem. Tin tức chủ yếu là một tá phóng sự về Redkins thân yêu, người đã trở lại với giải Super Bowl...

Căn phòng từ từ đông dần lên khi các luật sư thuế trên khắp đất nước tập hợp lại để nghe những phát triển mới nhất trong luật thuế vốn thay đổi từng ngày. Vài phút trước chín giờ, một luật sư bảnh chọe, trông có phần loai choai, lẳng lặng ngồi xuống bên trái Mitch. Mitch liếc nhìn anh ta rồi trở lại với tờ báo. Khi căn phòng đã đầy, người điều phối chào mừng mọi người rồi giới thiệu diễn giả đầu tiên. Một nghị sĩ nào đó từ Oregon, chủ tịch của tiểu ban House Ways and Means. Khi ông ta lên bục để bắt đầu phần trình bày dự kiến trong một giờ, gã luật sư bên trái Mitch nghiêng sang anh và đưa tay ra bắt.

"Chào Mitch," anh ta thì thầm. "Tôi là Grant Harbison, FBI." Anh ta trao cho Mitch một tấm thẻ.

Ông nghị sĩ khởi đầu bằng một câu chuyện tiếu lâm mà Mitch không nghe. Anh nghiên cứu tấm thẻ, giữ nó ở gần ngực. Có năm người ngồi cách anh trong phạm vi dưới một mét. Anh không quen ai trong căn phòng, nhưng anh hẳn sẽ bối rối nếu ai đó biết anh đang cầm một tấm thẻ của FBI. Sau năm phút, Mitch bắn vào Harbison một cái nhìn trống rỗng.

Harbison thì thầm, "Tôi cần gặp anh vài phút."

"Nếu tôi bận thì sao?" Mitch hỏi.

Từ cuốn sổ tay hội thảo, người đặc vụ trượt ra một chiếc phòng bì trắng không ghi chữ và trao nó cho Mitch. Anh để nó ở gần ngực rồi mở ra. Lá thư được viết tay. Chạy dọc trên đỉnh là một dòng chữ tuy nhỏ nhưng đầy uy lực. Nội dung của nó khá giản dị: "Văn phòng Giám đốc – FBI."

Thư viết:

Ông McDeere thân mến,

Tôi muốn nói chuyện với ông trong chốc lát vào giờ ăn trưa. Xin làm ơn thực hiện theo hướng dẫn của đặc vụ Harbison. Sẽ không lâu đâu. Chúng tôi rất trân trọng sự hợp tác của ông.

Cảm ơn ông.

F. DENTON VOYLES - Giám đốc

Mitch gập lá thư trong phong bì rồi từ từ nhét nó vào cuốn sổ tay. Rất trân trọng sự hợp tác của ông. Từ Giám đốc FBI. Anh nhận ra điều quan trọng là phải giữ sự điềm tĩnh. Phải giữ cho khuôn mặt bình thản và tĩnh tại, như thể đó chỉ là một phép xã giao đơn giản. Nhưng anh lại đang chà xát thái dương bằng cả hai tay và nhìn chúi xuống sàn. Anh nhắm mắt và cảm thấy choáng váng. FBI. Ngồi ngay bên cạnh anh! Đang chờ anh. Ông Giám đốc, và có trời biết còn ai khác nữa. Tarrance hẳn đang ở đâu đây.

Bất chợt, căn phòng bột phát những tiếng cười do đoạn tháo nút của ông nghị sĩ. Harbison nghiêng nhanh về phía anh, thì thào, "Gặp tôi tại phòng vệ sinh nam ở góc phòng trong mười phút nữa." Người đặc vụ bỏ lại cuốn sổ tay của anh ta trên bàn rồi đi ra giữa những

tiếng cười.

Mitch lật giở phần đầu của cuốn sổ tay, giả tảng như đang nghiên cứu tài liệu. Ông nghị sĩ đang kể lại chi tiết cuộc đấu tranh dũng cảm của ông nhằm bảo vệ những thiên đường thuế cho những người da trắng giàu có, đồng thời làm giảm nhẹ gánh nặng thuế má của các tầng lớp lao động. Dưới sự dẫn dắt không sợ hãi của ông, tiểu ban đã khước từ bản báo cáo tư pháp về việc hạn chế miễn trừ cho hoạt động khai thác dầu hỏa và khí đốt. Một mình ông là cả một đội quân tại Cơ quan khai báo Thuế.

Mitch chờ mười lăm phút, rồi thêm năm phút nữa, rồi bắt đầu húng hắng ho. Anh cần uống nước, và, với một tay che miệng, anh lách qua những chiếc ghế để ra sau phòng rồi đi ra cửa hậu. Trong phòng vệ sinh nam, Harbison đang rửa tay dễ đến lần thứ mười. Mitch bước đền bồn rửa cạnh anh ta rồi vặn nước lạnh. "Các anh muốn gì?" Mitch hỏi.

Harbison nhìn Mitch qua tấm gương. "Tôi chỉ làm theo lệnh. Giám đốc Voyles muốn gặp riêng anh và tôi được cử đến đón."

"Ông ta muốn gì chứ?"

"Tôi sẽ không nhanh nhẩu đoán, nhưng tôi biết chắc chuyện này rất quan trọng."

Mitch thận trọng nhìn quanh phòng vệ sinh. Nó trống trơn. "Còn nếu như tôi quá bận, không gặp được ông ta?"

Harbison khóa nước rồi rũ tay trong bồn. "Cuộc gặp này là không thể tránh, Mitch ạ. Đừng làm mình làm mẩy nữa. Khi cuộc hội thảo

nhỏ của anh tạm dừng để mọi người ăn trưa, anh hãy tìm chiếc taxi mang số 8667 đậu ở bên ngoài, phía bên tay trái của cổng chính. Nó sẽ đưa anh đến Đài Tưởng niệm Cựu Chiến binh Việt Nam, và chúng tôi sẽ ở đó. Anh phải cẩn thận. Hai người bọn chúng đã theo anh đến đây từ Memphis."

"Hai người của ai?"

"Những gã từ Memphis. Hãy làm theo chúng tôi nói, chúng sẽ chẳng hay biết gì đâu."

Người điều phối cảm ơn diễn giả thứ hai - một giáo sư thuế đến từ Đại học New York - rồi tuyên bố giải tán để mọi người dùng bữa trưa. Mitch không nói gì với người lái taxi. Anh ta phóng xe như một gã điên, và họ nhanh chóng biến mất trong luồng giao thông. Mười lăm phút sau, họ đậu xe gần Đài Tưởng niệm.

"Đừng ra ngoài vội," người tài xế nói bằng một giọng uy quyền. Mitch ngồi yên tại chỗ. Trong mười phút, anh không động đậy hay nói năng gì cả. Cuối cùng, một chiếc Ford Escort màu trắng trờ tới, lướt qua chiếc taxi rồi bóp còi và phóng tiếp. Người tài xế nhìn phía trước rồi nói, "Ổn rồi. Hãy đi đến Bức Tường. Chừng năm phút nữa họ sẽ tìm đến anh."

Mitch bước lên vỉa hè, và chiếc taxi đi khỏi. Anh đút sâu hai tay vào túi chiếc áo khoác len, chậm rãi bước về phía Đài Tưởng niệm. Những cơn gió mạnh rét buốt từ phương bắc thổi lá bay tản mác khắp mọi hướng. Anh rùng mình, kéo cổ áo khoác lên trùm quanh tai.

Một người hành hương duy nhất ngồi đóng băng trên chiếc xe lăn, mắt dán vào Bức Tường. Một tấm chăn dày trùm kín lên ông.

Dưới chiếc nón bê rê ngụy trang quá khổ, một cặp kính mát phi công che khuất đôi mắt ông. Ông ngồi gần rìa bức tường, cạnh những cái tên của những người đã mất năm 1972. Mitch lần theo số năm dọc vỉa hè, cho đến khi anh dừng lại gần chiếc xe lăn. Anh tìm cái tên của một người đã đột nhiên bị rơi vào quên lãng. Anh hít một hơi sâu và nhận ra sự tê dại ở hai chân và bao tử. Anh chầm chậm hướng mắt xuống, và rồi, ở gần đáy, nó đây rồi. Nó được khắc lên một cách chỉn chu, một cách không suy suyển, hệt như tất cả những dòng chữ khắc khác. Đó là cái tên Rusty McDeere.

Một lẵng hoa băng giá và héo tàn nằm ở một phía bên tượng đài, chỉ cách vài phân dưới tên của anh ấy. Mitch nhẹ nhàng đặt nó sang bên rồi quỳ xuống trước Bức Tường. Anh chạm vào những con chữ khắc tên Rusty. Rusty. Rusty McDeere. Mãi mãi tuổi mười tám. Bảy tuần ở chiến trường thì bị giẫm phải mìn. Cái chết là tức thời, họ nói thế. Theo lời Ray thì họ luôn nói thế. Mitch quệt một giọt lệ nhỏ rồi đứng nhìn dọc chiều dài của Bức Tường. Anh nghĩ đến năm mươi tám ngàn gia đình đã được thông báo cái chết là tức thời và chẳng ai phải đau đớn ở nơi đó.

"Mitch, họ đang chờ đấy."

Anh quay lại, nhìn người đàn ông trên xe lăn, người duy nhất trong tầm mắt. Cặp kính phi công nhìn sững Bức Tường và không hề ngước lên. Mitch nhìn quanh quất mọi hướng.

"Thư giãn đi, Mitch. Chúng tôi đã phong tỏa nơi này rồi. Chúng không bám theo được đâu."

"Ông là ai?" Mitch hỏi.

"Chỉ là một người trong băng. Anh phải tin chúng tôi, Mitch. Ông Giám đốc có những lời quan trọng, những lời có thể cứu mạng anh đấy."

"Ông ta ở đâu?" Người đàn ông trên xe lăn quay đầu lại, nhìn dọc theo vỉa hè. "Hãy đi theo lối này. Họ sẽ tìm đến anh"

Mitch nhìn thêm một lúc cái tên của anh trai rồi bước qua sau lưng chiếc xe lăn. Anh đi qua bức tượng ba người lính. Anh bước chậm, chờ đợi, hai tay đút sâu trong túi. Vượt qua bức tượng khoảng năm mươi mét, Wayne Tarrance xuất hiện từ sau một gốc cây rồi sóng bước cạnh anh.

"Cứ đi tiếp đi," anh ta nói.

"Tôi không ngạc nhiên khi thấy anh ở đây," Mitch nói.

"Cứ bước tiếp đi. Chúng tôi biết có ít nhất hai tên lưu manh đã bay đến trước anh từ Memphis. Chúng ở cùng khách sạn, ngay bên cạnh anh đó. Nhưng chúng không bám theo anh đến đây đâu. Tôi nghĩ chúng đã bị mất dấu."

"Chuyện quái gì vậy, Tarrance?"

"Anh sẽ sớm biết thôi. Cứ bước đi. Nhưng hãy thư giãn, không ai bám theo anh đâu, ngoại trừ khoảng hai mươi đặc vụ chúng tôi."

"Hai mươi?"

"Phải. Chúng tôi đã phong tỏa nơi này. Chúng tôi muốn đảm bảo

đám con hoang từ Memphis đó không ló mặt ở nơi đây. Tôi nghĩ chúng không hiện diện ở đây đâu."

"Chúng là ai?"

"Ông Giám đốc sẽ trình bày."

"Tại sao ông Giám đốc phải dây vào?"

"Anh hỏi nhiều quá đấy, Mitch."

"Còn anh thì trả lời quá ít."

Tarrance trỏ sang phải. Họ rời vỉa hè, đi đến một băng ghế xi măng nặng ở gần một chiếc cầu cạn dẫn vào một cánh rừng nhỏ. Nước trong ao bên dưới đã đóng băng trắng xóa.

"Ngồi xuống đi," Tarrance ra lệnh.

Họ ngồi xuống. Hai người đàn ông băng qua chiếc cầu cạn. Mitch lập tức nhận ra người thấp hơn là Voyles. E. Denton Voyles, Giám đốc FBI dưới ba đời Tổng thống. Một người ăn nói cứng rắn, luôn nặng tay với tội ác và nổi tiếng không khoan nhượng.

Mitch tôn trọng đứng dậy khi họ dừng lại ở băng ghế. Voyles chìa một bàn tay lạnh giá rồi nhìn Mitch, nhoẻn một nụ cười rộng từ khuôn mặt tròn trĩnh đã nổi tiếng khắp thế giới. Họ bắt tay nhau và xưng tên. Voyles trỏ vào băng ghế. Tarrance và người đặc vụ kia bước đến chiếc cầu cạn, dõi mắt nhìn chân trời. Mitch nhìn sang bên kia chiếc ao, thấy có hai người đàn ông khoác áo đen trông na ná như nhau với mái tóc hớt cao. Hẳn là các đặc vụ. Họ đứng tựa vào một gốc cây ở cách chừng một trăm mét. Voyles ngồi sát bên Mitch, chân của họ chạm nhau. Một chiếc mũ phớt nâu phủ một bên chiếc

đầu to và hói. Ông ta ít nhất đã bảy mươi tuổi, nhưng cặp mắt màu lục sậm vẫn láu liên một cách mãnh liệt và không bỏ sót bất cứ điều gì. Hai người ngồi bất động trên băng ghế lạnh, đôi tay đút sâu vào túi áo khoác.

"Tôi rất trân trọng việc ông đã tới," Voyles mở lời.

"Tôi cảm thấy mình không có lựa chọn nào. Các ông làm gắt quá."

"Vâng. Chuyện đó là rất quan trọng đối với chúng tôi."

Mitch hít một hơi sâu. "Ông có biết tôi bối rối và sợ hãi biết chừng nào không? Tôi vô cùng hoang mang. Tôi mong được có một lời giải thích, thưa ông."

"Ông McDeere, tôi gọi ông là Mitch có được không?"

"Dĩ nhiên. Sao lại không chứ."

"Tốt lắm, Mitch, tôi là một người rất kiệm lời. Và điều mà tôi sắp nói với anh chắc chắc sẽ khiến anh thấy sốc. Anh sẽ thấy khiếp hãi. Có thể anh sẽ không tin tôi. Nhưng tôi đảm bảo với anh đó là sự thật, và với sự giúp đỡ của anh chúng tôi sẽ cứu được mạng anh." Mitch ngồi ngay ngắn lại và chờ đợi.

"Mitch, không một luật sư nào rời khỏi hãng luật của anh mà còn sống. Ba người đã thử làm vậy, và cả ba đều bị giết. Hai người chuẩn bị ra đi và họ đã chết vào mùa hè năm ngoái. Bất cứ luật sư nào gia nhập Bendini, Lambert & Locke đều không bao giờ rời khỏi hãng, trừ khi nghỉ hưu và chịu ngậm miệng. Và khi nghỉ hưu thì người đó đã trở thành đồng mưu và không thể hé răng. Hãng có

một hoạt động theo dõi rất nghiêm ngặt ở tầng năm. Chúng theo dõi anh, và đôi khi cả vợ của anh nữa. Chúng đang ở đây, tại Washington này, trong khi chúng ta đang nói chuyện. Anh thấy đấy, Mitch, hãng này không chỉ là một hãng luật. Nó là chi nhánh của một tổ chức kinh doanh rất lớn, một tổ chức kinh doanh rất sinh lợi. Và rất bất hợp pháp nữa. Hãng không phải là do các đối tác sở hữu đâu."

Mitch quay mặt lại, chăm chú nhìn ông. Vị Giám đốc nhìn chiếc ao đóng băng và nói. "Anh biết đó, Mitch, hãng luật Bendini, Lambert & Locke được sở hữu bởi gia đình tội ác Morolto ở Chicago. Đám mafia. Đám tội phạm. Chúng tổ chức những vụ giết người từ trên đó. Và đó là lý do vì sao chúng ta ngồi ở đây." Ông nắm chặt đầu gối của Mitch, nhìn sát khuôn mặt anh, chỉ cách chừng mười lăm phân. "Chúng là mafia, Mitch ạ, và chúng bất lương bỏ mẹ đi được."

"Tôi không tin điều đó," anh nói, cứng người vì sợ hãi. Giọng của anh yếu ớt và thều thào.

Ông Giám đốc mỉm cười. "Có đấy Mitch, anh tin. Anh đã nghi ngờ từ ít lâu nay rồi. Đó là lý do vì sao anh trao đổi với Abanks ở Cayman. Đó là lý do anh thuê gã thám tử nhếch nhác đó và khiến cho hắn bị mấy gã ở tầng năm giết chết. Anh biết cái hãng này bốc mùi như thế nào mà, Mitch."

Mitch khom xuống, chống các cùi chỏ lên hai gối. Anh nhìn mặt đất giữa hai đôi giày của anh. "Tôi không tin," anh lầm bầm yếu ớt.

"Hiện tại, chúng tôi có thể nói rằng hai mươi lăm phần trăm thân

chủ của chúng - hay thân chủ của anh không biết chừng - là hợp pháp. Trong hãng có một số luật sư rất tốt. Họ làm những công việc thuế má và chứng khoán cho các thân chủ giàu có. Đó là một tấm bình phong rất tốt. Hầu hết các hồ sơ anh làm việc đến nay đều là hợp pháp. Đó là cách chúng hoạt động. Chúng đưa vào một tân binh, ném tiền vào mặt anh ta, mua BMW cho anh ta, mua nhà, chi tất cả các khoản nhạc jazz và tiệc tùng, các chuyến đi đến Cayman. Rồi chúng thúc vào mông anh ta bằng những thứ thực sự hợp pháp, những thân chủ đích thực, những công việc luật sư đích thực. Điều đó diễn ra trong vài năm, và các tân binh không nghi ngờ gì cả, đúng không nào? Đó là một hãng tuyệt vời, với một đám người tuyệt vời. Tiền bạc thì rủng rỉnh. Ô này, một thứ đều rất tuyệt. Rồi sau năm hay sáu năm, khi tiền bạc đang rất tốt đẹp, khi chúng đã sở hữu các khoản thế chấp của anh, khi anh có vợ, sinh con và mọi thứ đều đang yên ổn thì chúng thả trái bom ra và nói lên sự thật. Không có lối thoát nào đâu. Đó là mafia, Mitch ạ. Những gã này không đùa được đâu. Chúng sẽ giết một trong các con của anh hay vợ anh, chúng cóc cần biết. Anh đang kiếm nhiều tiền hơn ở bất cứ nơi đâu khác. Anh bị hăm dọa vì anh có một gia đình vốn chẳng là cái quái gì đối với đám tội phạm đó. Vậy thì anh làm gì, Mitch? Anh sẽ ở lại. Anh không thể ra đi. Nếu ở lại anh sẽ kiếm được bạc triệu và sẽ nghỉ hưu với gia đình yên ổn. Còn nếu anh muốn ra đi thì anh sẽ kết thúc bằng tấm ảnh của chính anh treo trên tường thư viện ở tầng một. Chúng rất có sức thuyết phục đấy."

Mitch chà thái dương và bắt đầu run rẩy.

"Này, Mitch, tôi biết anh đang có hàng ngàn câu hỏi. Được thôi. Vậy tôi sẽ tiếp tục nói cho anh những gì tôi biết được. Năm luật sư chết đều muốn rời khỏi hãng sau khi biết sự thật. Chúng tôi chưa bao giờ trao đổi với ba luật sư đầu vì, nói thẳng ra, chúng tôi chẳng biết gì về cái hãng này cho đến cách đây bảy năm. Chúng làm việc xuất sắc, giữ sự kín kẽ và không để lại chút dấu vết nào cả. Ba người đầu chỉ muốn rời bỏ, có lẽ vậy, và thế là họ được cho ra đi trong những cỗ quan tài. Hodge và Kozinski thì khác. Họ tiếp cận chúng tôi và, trong khoảng một năm, chúng tôi đã có nhiều cuộc gặp mặt. Chúng tung trái bom vào Kozinski sau khi anh ta đã ở đó được bảy năm. Anh ta kể cho Hodge. Họ thì thào với nhau trong suốt một năm. Kozinski sắp được phong đối tác và muốn ra đi trước khi việc đó xảy ra. Cho nên anh ta và Hodge đã lấy cái quyết định chết người là ra đi. Họ chưa bao giờ nghi ngờ về cái chết của ba người đầu, hay ít nhất họ chưa bao giờ nhắc đến chuyện đó với chúng tôi. Chúng tôi cử Wayne Tarrance đến Memphis để lôi kéo họ. Tarrance là một chuyên gia về tội ác có tổ chức từ New York. Đang lúc anh ta và hai luật sư này trở nên thân thiết thì chuyện đó xảy ra ở Cayman. Những gã ở Memphis giỏi lắm đấy, Mitch. Chớ bao giờ quên điều đó. Chúng nhận tiền và thuê những tay giỏi nhất. Cho nên, sau khi Hodge và Kozinski bị giết, tôi đã quyết phải truy bằng được cái hãng này. Nếu phá được nó, chúng tôi có thể truy tố mọi thành viên máu mặt của gia đình Morolto. Có thể sẽ có hơn năm trăm cáo trạng. Trốn thuế, rửa tiền, tống tiền, thứ gì cũng có cả. Việc này có thể hạ gục gia đình Morolto, và nó có thể là một trong

những đòn giáng hủy diệt nhất trong ba mươi năm qua vào tội ác có tổ chức. Và, Mitch ạ, tất cả đều có trong các hồ sơ tại cái hãng Bendini be bé và im hơi lặng tiếng này tại Memphis."

"Tại sao lại là Memphis?"

"À, câu hỏi rất hay. Ai lại đi nghi ngờ một hãng nhỏ ở Memphis, Tennessee, cơ chứ? Không có hoạt động lưu manh nào dưới đó cả. Chỉ là một thành phố ven sông yên tĩnh, đáng yêu và hiền hòa. Durham, Topeca, hay Wichita Falls thì cũng được đấy, nhưng chúng đã chọn Memphis. Nó đủ lớn để che giấu một hãng bốn mươi người. Một sự lựa chọn hoàn hảo."

"Ý ông là tất cả các đối tác..." Giọng của anh lạc đi.

"Đúng vậy, tất cả các đối tác đều biết luật và chơi theo luật. Chúng tôi ngờ rằng đa số các cộng sự cũng biết, nhưng điều đó cũng khó nói. Có quá nhiều điều chúng tôi chưa biết, Mitch ạ. Tôi không thể giải thích cách vận hành của hãng và ai đang điều khiển nó. Nhưng chúng tôi cực kỳ nghi ngờ ở dưới đó đang có nhiều hoạt động phạm pháp."

"Như là?"

"Gian lận thuế. Chúng làm tất cả những công việc về thuế cho đám Morolto. Chúng lập những hồ sơ lợi nhuận thu về trông sao cho đẹp đẽ, gọn gàng, dễ nhìn và chỉ báo cáo một phần nhỏ thu nhập. Chúng rửa tiền như điên dại. Chúng dựng lên những hoạt động kinh doanh hợp pháp bằng tiền bẩn. Cái ngân hàng ở St. Louis đó... Thân chủ lớn hả? Nó là gì vậy?"

"Đảm bảo thương mại."

"Phải, đúng rồi. Nó là do mafia sở hữu. Hãng làm tất cả những phần việc pháp lý cho nó. Morolto thu về khoảng ba trăm triệu mỗi năm tiền cờ bạc, ma túy, cá cược, mọi thứ. Toàn bộ là tiền mặt, đúng không? Phần lớn số tiền đó đi qua các ngân hàng ở Cayman. Làm sao nó di chuyển được từ Chicago đến các đảo đó ư? Anh có ý nào không? Máy bay, chúng tôi ngờ là vậy. Chiếc Lear mạ vàng mà anh dùng để bay lên đây đang quay lại Georgetown với tần suất mỗi tuần một lần đấy!"

Mitch ngồi thẳng dậy, nhìn Tarrance, người đã ra khỏi tầm nghe và nay đang đứng trên chiếc cầu cạn. "Vậy sao ông không xúc tiến các truy tố của ông và phá banh nó luôn đi?"

"Chúng tôi không thể. Nhưng chúng tôi sẽ, tôi đảm bảo với anh đó. Tôi đã tung năm đặc vụ cho dự án ở Memphis và ba đặc vụ tại Washington này. Tôi sẽ tóm được chúng, Mitch, tôi thề với anh đấy. Nhưng chúng tôi cần có ai đó ở bên trong. Chúng rất thông minh. Chúng có rất nhiều tiền. Chúng cực kỳ thận trọng, và chúng không phạm sai lầm. Tôi tin chúng tôi cần có sự giúp đỡ của anh hay một thành viên nào khác của hãng. Chúng tôi cần các bản sao hồ sơ, các bản sao chứng từ ngân hàng, các bản sao của hàng triệu tài liệu vốn chỉ đến được từ bên trong mà thôi. Bằng không sẽ chỉ là vô vọng."

"Và tôi đã được chọn?"

"Và anh đã được chọn. Nếu anh khước từ thì anh cứ việc đi tiếp con đường của anh, kiếm hàng đống tiền và trở thành một luật sư

thành đạt. Nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực. Chúng tôi sẽ đợi một cộng sự mới kế tiếp và cố gắng chiêu dụ anh ta. Và nếu việc đó không có tác dụng, chúng tôi sẽ chuyển sang một trong những cộng sự cao tuổi hơn, người nào đó có sự can đảm, có đạo đức, có khí phách để làm điều phải. Một ngày nào đó chúng tôi sẽ tìm ra được người này, Mitch ạ, và khi điều đó diễn ra thì chúng tôi sẽ truy tố anh cùng toàn bộ những gã còn lại và đá cái mông giàu có thành đạt của anh vào nhà tù. Điều đó sẽ đến, con trai ạ, tin tôi đi."

Vào khoảnh khắc đó, tại nơi đó và thời điểm đó, Mitch đã tin lời ông. "Ông Voyles, tôi bị lạnh. Ta đi bộ loanh quanh có được không?"

"Dĩ nhiên, Mitch."

Họ bước chầm chậm trên vỉa hè, đi về hướng Đài Tưởng niệm Việt Nam. Mitch liếc nhìn ra sau. Tarrance và người đặc vụ kia đang đi theo cách một quãng. Một đặc vụ khác trong trang phục nâu sậm đang cảnh giác ngồi trên băng ghế công viên trên vỉa hè.

"Anthony Bendini là ai?" Mitch hỏi.

"Ông ta kết hôn với một người trong gia đình Morolto vào năm 1939. Là con rể của lão già. Hồi đó họ có một hoạt động tại Philadelphia, và ông ta được cài vào đó. Rồi, trong những năm bốn mươi, vì lý do nào đó, ông ta được cử đến Memphis để dựng hãng. Ông ta là một luật sư giỏi, theo như những gì chúng tôi biết."

Hàng ngàn câu hỏi ngập tràn trong óc anh, tranh nhau để được nêu. Anh cố tỏ ra điềm tĩnh, kiểm soát, ngờ vực.

"Oliver Lambert thì sao?"

"Đó là một ông hoàng. Một đối tác cấp cao hoàn hảo, người biết tất tật về Hodge và Kozinski lẫn kế hoạch thủ tiêu họ. Lần sau anh gặp 'ông Lambert' quanh văn phòng thì hãy nhớ rằng hắn là một gã sát nhân máu lạnh. Dĩ nhiên, hắn không có lựa chọn nào. Nếu hắn không hợp tác thì hắn sẽ được tìm thấy nổi lềnh bềnh ở đâu đó. Tất cả bọn họ đều thế cả, Mitch ạ. Họ bắt đầu cũng hệt như anh thôi. Trẻ, sáng láng, tham vọng. Rồi đột nhiên một ngày nọ họ bị lún sâu đến mức không còn nơi nào khác để mà đi. Thế là họ tham gia vào luôn, làm việc chăm chỉ, thực hiện cái công việc đồ sộ là lập ra tấm bình phong thật tốt để trông có vẻ là một hãng luật nhỏ đáng kính. Mỗi năm chúng lại tuyển một luật sư trẻ sáng láng với gia cảnh nghèo khó, không có tiền bạc của gia đình, với một cô vợ đang thèm sinh con. Rồi chúng ném tiền vào anh ta và ký kết với anh ta."

Mitch nghĩ đến tiền bạc, đến khoản lương hậu hĩnh từ một hãng nhỏ bé ở Memphis. Anh nghĩ đến chiếc xe, đến khoản vay thế chấp lãi suất thấp. Anh đã hướng đến Wall Street, nhưng đã bị lôi kéo bởi tiền bạc. Chỉ vì tiền bạc. "Nathan Locke thì thế nào?"

Ông Giám đốc mỉm cười. "Locke lại là một câu chuyện khác. Hắn lớn lên ở Chicago, là một tên nhóc nghèo chuyên chạy việc vặt cho lão Morolto từ lúc mới lên mười. Suốt đời, hắn là gã chạy vặt, cố cày cuốc để vượt qua trường luật. Và rồi lão già cử hắn xuống phía nam cùng Anthony Bendini trong nhánh cổ cồn trắng của gia đình. Hắn luôn là một lính cưng của lão già."

"Morolto chết khi nào?"

"Mười một năm trước ở tuổi tám mươi tám. Lão có hai đứa con trai nhầy nhụa Mickey the Mouth và Joey the Priest. Mickey sống ở Las Vegas và giữ một vai trò hạn hẹp trong hoạt động kinh doanh của gia đình. Joey mới chính là ông trùm."

Vỉa hè ra đến đoạn giao nhau với một vỉa hè khác. Xa xa bên trái, tượng đài Washington vươn lên trong gió lạnh. Ở bên phải là lối đi bộ dẫn đến Bức Tường. Một nhóm người đang săm soi nó, tìm kiếm những cái tên của con trai, của chồng, hay của bạn. Mitch đi thẳng đến Bức Tường. Họ bước chầm chậm.

Mitch nhỏ nhẹ nói, "Tôi không hiểu bằng cách nào hãng có thể làm quá nhiều việc bất hợp pháp như vậy mà vẫn giữ được sự kín kẽ. Nơi này chứa đầy những thư ký, lục sự và trợ lý."

"Nhận xét tốt đấy, nhưng đó là một nhận xét mà tôi không thể giải đáp được hoàn toàn. Chúng tôi nghĩ nó vận hành như hai hãng khác nhau. Một hãng thì hợp pháp, với những cộng sự mới, phần lớn các thư ký và trợ lý, cạnh đó là các cộng sự và đối tác cấp cao làm những công việc bẩn thỉu. Hodge và Kozinski sắp trao cho chúng tôi hàng đống thông tin, nhưng họ không bao giờ còn làm được việc đó nữa. Hodge có lần nói với Tarrance về một nhóm trợ lý ở tầng hầm mà anh ta biết rất ít. Họ làm việc trực tiếp với Milligan, McKnight cùng vài đối tác khác, và không ai biết chắc mình đang làm gì. Các thư ký biết mọi chuyện, và chúng tôi nghĩ một số họ cũng đã tham gia vào. Nếu quả vậy, tôi tin chắc họ đã được trả tiền và quá sợ hãi để có thể nói ra. Hãy suy nghĩ đi, Mitch. Nếu anh làm việc ở đó, kiếm được nhiều tiền, nhiều phúc lợi, rồi anh biết nếu đặt ra quá

nhiều câu hỏi hoặc bắt đầu bép xép thì sẽ bị kết liễu ở trên sông, khi đó anh sẽ làm gì? Anh sẽ ngậm miệng và nhận tiền."

Họ dừng lại ở đầu Bức Tường, nơi có tấm đá hoa cương đen khởi đầu từ sát mặt đất và chạy dài bảy mươi lăm mét cho đến khi nó khép thành góc với dãy những tấm biển tương tự thứ hai. Cách khoảng mười tám mét, một cặp vợ chồng già đang nhìn Bức Tường và sụt sùi khóc. Họ ôm nhau để giữ ấm và cũng để tăng sức mạnh. Bà mẹ cúi xuống, đặt một khung ảnh trắng đen lên chân Bức Tường. Ông bố đặt xuống cạnh đó một chiếp hộp giày chứa đầy những kỷ vật thời trung học. Những chương trình thi đấu bóng bầu dục, những tấm ảnh chụp cả lớp, những lá thư tình, những móc khóa, và một sợi dây chuyền vàng. Họ khóc lớn hơn. Mitch quay lưng lại Bức Tường, nhìn tượng đài Washington. Ông Giám đốc quan sát đôi mắt anh. "Vậy tôi phải làm gì?" Mitch hỏi.

"Trước hết, hãy ngậm chặt miệng. Nếu anh bắt đầu đặt câu hỏi thì mạng anh sẽ lâm nguy. Mạng của vợ anh cũng thế. Đừng sinh con trong tương lai gần. Con cái sẽ là những mục tiêu dễ. Tốt nhất hãy sắm vai khờ khạo, cứ ra vẻ như mọi thứ đều tuyệt vời và anh vẫn đang lên kế hoạch để trở thành luật sư vĩ đại nhất. Thứ hai, anh phải quyết định. Không phải ngay bây giờ, nhưng sớm thôi. Anh phải quyết định có hợp tác hay không. Nếu anh chọn hỗ trợ chúng tôi, dĩ nhiên chúng tôi sẽ làm cho quyết định đó là xứng đáng cho bản thân anh. Nếu anh quyết định không hợp tác, chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi hãng cho đến khi nào tiếp cận được một cộng sự khác. Như tôi đã nói, một ngày nào đó chúng tôi sẽ tìm ra người có đủ khí

phách và sẽ triệt hạ đám con hoang đó. Và gia đình tội ác Morolto như ta thấy ngày nay sẽ thôi tồn tại. Chúng tôi sẽ bảo vệ anh, Mitch, và anh sẽ không bao giờ phải làm việc nữa suốt cuộc đời."

"Cuộc đời nào? Nếu như còn sống thì tôi sẽ phải vĩnh viễn sống trong sợ hãi. Tôi đã nghe nhiều câu chuyện về những nhân chứng được cho là FBI đang bảo vệ. Mười năm sau, chiếc xe nổ tung khi họ đang de nó để đi đến chỗ làm. Thi thể của họ văng tung tóe khắp cả ba dãy phố. Đám tội phạm chúng không bao giờ quên, ông Giám đốc ạ. Ông biết điều đó mà."

Ông Giám đốc nhìn đồng hồ. "Tốt nhất anh nên về kẻo chúng nghi ngờ. Tarrance sẽ liên lạc lại. Hãy tin anh ta, Mitch. Anh ta đang cố cứu mạng của anh đấy. Anh ta có toàn quyền hành động thay mặt tôi. Nếu anh ta nói với anh điều gì thì anh nên hiểu điều đó đến từ tôi. Anh ta có thể thương lượng với anh."

"Thương lượng gì cơ?"

"Các điều khoản, Mitch ạ. Những gì chúng tôi mang đến cho anh để đổi lấy việc anh giúp chúng tôi. Chúng tôi muốn gia đình Morolto, và anh có thể giao nộp nó. Anh cứ ra giá của anh đi. Thông qua FBI, chính phủ sẽ đáp ứng. Trong phạm vi hợp lý, dĩ nhiên. Và khoản chi đó đến từ tôi, Mitch ạ."

Họ chầm chậm bước dọc Bức Tường và dừng lại cạnh người đặc vụ trên xe lăn. Voyles trỏ ngón tay. "Kìa, chiếc taxi đang đợi anh, số 1073, cùng với tài xế. Anh nên đi ngay đi. Chúng ta sẽ không gặp nhau nữa, nhưng Tarrance sẽ liên lạc với anh trong vài tuần tới. Làm

ơn hãy suy nghĩ về những điều tôi nói. Đừng tự thuyết phục mình rằng hãng đó là bất khả chiến bại và có thể hoạt động vĩnh viễn, bởi vì tôi sẽ không cho phép điều đó. Chúng tôi sẽ ra tay trong một tương lai gần, tôi hứa đấy. Tôi chỉ hy vọng anh đứng về phía chúng tôi."

"Tôi không hiểu các ông kỳ vọng tôi làm gì."

"Tarrance đã có kế hoạch tác chiến. Rất nhiều điều sẽ tùy thuộc vào anh và những gì anh biết nếu như anh chịu tham gia."

"Tham gia?"

"Đúng vậy, Mitch. Một khi anh tham gia thì sẽ không còn đường lui nữa đâu. Chúng có thể còn tàn bạo hơn bất cứ tổ chức nào trên thế gian."

"Tại sao các ông lại chọn tôi?"

"Chúng tôi phải chọn một ai đó. Không, nói vậy không đúng. Chúng tôi chọn anh vì anh có đủ khí phách để bước ra khỏi đó. Ngoài vợ của anh ra, anh không có gia đình, không có mối dây ràng buộc nào, không có cội rễ nào. Tất cả những ai anh quan tâm đều làm tổn thương anh, ngoại trừ Abby ra. Anh tự nuôi nấng mình và bằng cách đó anh đã trở nên tự lực và độc lập. Anh không cần cái hãng đó. Anh có thể rời bỏ nó. Anh đã trở nên rắn rỏi và chai sạn qua năm tháng. Và anh có thừa thông minh để thoát ra, Mitch ạ. Anh sẽ không để cho chúng tóm. Đó là lý do vì sao chúng tôi chọn anh. Chúc một ngày tốt lành, Mitch. Cảm ơn vì đã đến. Tốt nhất anh nên đi ngay."

Voyles quay lại rồi bước nhanh. Tarrance chờ ở cuối Bức Tường và gửi đến anh một cái chào nhanh như thể muốn nói, "Chậm quá -mau lên đi. 

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co