Chương 6
Màn đêm sập xuống, nuốt chửng bến cảng hạ lưu vào một thứ bóng tối đặc quánh. Tiếng động cơ chiếc taxi lịm dần phía xa, trả lại tiếng mưa phùn rơi tí tách và âm thanh gầm gừ đứt quãng của những con sóng vỗ vào chân mạn tàu. Cảnh sát Scotland Yard chưa tới. Khu nhà kho phía trước im lìm như một ngôi mộ hoang, không đèn pha, không rào chắn. Vài ánh đèn đường vàng vọt từ đại lộ hắt lại qua màn sương mù dày đặc, biến những vũng nước sình lầy trên mặt sàn xi măng thành những tấm gương vỡ loang lổ.
John Watson xách hộp dụng cụ dã chiến bên tay trái. Anh sải bước dứt khoát, duy trì khoảng cách mười centimet sát cạnh Sherlock Holmes hướng về phía cửa nhà kho tối tăm. Mặt sàn xi măng ngổn ngang những cuộn dây cáp hoen rỉ và sũng nước mưa trơn trượt. Đế giày bốt của John trượt mạnh sang ngang một nhịp ngắn. Thân người anh loạng choạng, mất trọng tâm, đổ nghiêng hẳn về phía bên trái.
Một phản xạ cơ học chuẩn xác đến cực đoan.
Lòng bàn tay trái của Sherlock áp chặt vào khuỷu tay phải của John.
Sức nặng của một người lính đổ dồn lên năm đầu ngón tay vị thám tử, nóng rực và chân thực qua hai lớp vải dạ sũng nước. Mùi hăng hắc của rỉ sét bến cảng bị bạt đi, nhường chỗ cho mùi mưa phùn lạnh lẽo còn vương trên tay áo len của John, quyện với hương xà phòng cạo râu nồng đượm xộc thẳng vào khứu giác Sherlock. Dưới lớp áo choàng Belstaff, các bó cơ trên cánh tay Sherlock căng cứng, thớ vải dã chiến của John bị siết chặt, rúm ró lại dưới một lực bấu mang theo ham muốn định vị tuyệt đối. Khi cơ thể John tìm lại được điểm thăng bằng trên hai chân, năm đầu ngón tay kia vẫn không nới lỏng dù chỉ một milimet. Sherlock dắt John tiếp tục bước đi trong bóng tối, một thế chủ động áp sát trần trụi dưới màn mưa.
John khựng bước chân lại. Anh quay đầu sang, nhìn thẳng vào gương mặt dửng dưng, ướt nước mưa của Sherlock dưới làn sương mù. Cơ mặt John nheo lại, anh cằn nhằn bằng giọng cộc lốc, khàn đặc vì lạnh:
"Tôi chỉ hơi trượt chân thôi, Sherlock. Anh định dắt tôi đi như dắt một đứa trẻ lên ba đến hiện trường đấy à? Thả ra, tôi tự đi được."
Sherlock không quay đầu lại. Ánh mắt xám của anh găm chặt vào lối đi tối tăm, sâu hoắm của nhà kho phía trước. Anh nói rất nhanh, chất giọng phẳng lặng, cơ học đè bạt mọi lời chất vấn:
"Dây cáp cao áp số bốn phía bên trái đang bị rò rỉ lớp cách điện do ma sát với nước mưa. Biên độ sải bước của anh cần giảm xuống mười lăm phần trăm và duy trì bán kính mười centimet sát cạnh tôi để tránh vùng nhiễm điện cục bộ."
Tràng ngụy biến khô khốc đổ xuống như một thuật toán bất khả xâm phạm. Ý tưởng về một vùng nhiễm điện chết chóc là điểm neo duy nhất giữ chân người lính ở lại trong quỹ đạo an toàn của vị thám tử. John đứng hình, nhìn trân trân vào góc mặt nghiêng đóng băng của Sherlock trong một giây dài.
Anh khẽ thở hắt ra một hơi dứt khoát qua cánh mũi. Các bó cơ trên cánh tay phải của John hoàn toàn buông lỏng, bả vai hạ thấp xuống. Sự bài xích biến mất, nhường chỗ cho một giao ước im lặng giữa hai cơ thể. John không giằng co, chấp nhận bị khóa chặt trong bán kính mười centimet sát sườn.
Họ tiếp tục sải bước chậm rãi qua vũng sình lầy lội, tiến thẳng về phía cửa nhà kho tối tăm. Năm đầu ngón tay trái của Sherlock siết nhẹ một cú cơ học trên thớ vải áo John, ghi nhận một nấc thang tiếp theo của sự chiếm hữu đã được thiết lập thành công.
Hai luồng sáng từ đèn pin dã chiến rạch đôi bóng tối quánh đặc bên trong nhà kho, quét qua những mảng sàn xi măng bám đầy dầu mỡ bẩn thỉu trước khi dừng lại trên một hình hài bất động. Gã thợ máy nằm gục bên cạnh đống cáp rỉ, cơ thể gầy guộc đã bắt đầu chuyển sang thể lạnh của tử thi.
John Watson dứt khoát quỳ một chân xuống sàn. Anh đặt chiếc hộp dụng cụ y khoa dã chiến sang bên cạnh, tiếng kim loại va chạm với nền xi măng dội lên một tiếng cạch gọn lỏn. Đôi bàn tay chuyên nghiệp của người lính nhanh chóng vươn ra, lật mở mí mắt và kiểm tra phần niêm mạc miệng của nạn nhân. Tròng mắt John nheo lại dưới ánh đèn pin, anh bắn ra những thông tin lâm sàng bằng chất giọng trầm, đanh sắc:
"Đồng tử co thắt nhẹ, niêm mạc vòm họng có vệt sẫm màu nhưng không có mùi hạnh nhân đặc trưng của xyanua. Đây không phải một ca đầu độc thông thường, Sherlock. Có dấu hiệu rõ rệt của một cơn co thắt phế quản cấp tính, tương tự như sốc phản vệ bộc phát bạo liệt gây nghẹt thở."
Sherlock Holmes không chậm trễ một nhịp. Anh sải bước tới, quỳ một chân xuống ngay sát bên cạnh, ép sát cơ thể mình vào bả vai của John để cùng nhìn xuống nạn nhân. Vạt áo choàng Belstaff rủ xuống, đè nhẹ lên một góc gấu áo khoác dã chiến của John, khóa chặt họ vào một khoảng không gian chung đầy bức bối.
Sherlock đưa kính lúp áp sát vào vết dầu máy loang lổ trên túi áo tử thi. Trong lúc rướn người để tính toán tiêu cự, các ngón tay phải của Sherlock chầm chậm dịch chuyển. Dưới danh nghĩa gạt một dải ốc vít gỉ bám cạnh xác chết để thu thập mẫu vật, mu bàn tay anh đè nhẹ, sượt qua làn da mu bàn tay trái của John.
Sự thô ráp, ấm nóng từ mu bàn tay của người lính dội ngược vào các dây thần kinh của vị thám tử, bẻ gãy mọi logic của một bộ óc thiên tài. Trong khoảnh khắc ấy, mùi dầu máy hôi hám và mùi tử khí xung quanh hoàn toàn bị bạt đi, nhường chỗ cho mùi của sương đêm và mùi xà phòng cạo râu nhạt nhòa bốc lên từ người John. Sherlock cảm nhận rõ mồn một từng nhịp mạch đập dồn dập dưới lớp da của John, nóng rực như một nguồn nhiệt duy nhất giữa nhà kho lạnh lẽo. Lực ép từ mu bàn tay anh tăng lên, găm cố định vị trí chạm như một dấu bản quyền không thể bôi xóa.
John bị vướng hướng thao tác y tế do sự hiện diện quá sát của vị thám tử. Anh quay sang nhìn thẳng mặt Sherlock ở cự ly gần đến mức có thể đếm được những hạt sương bám trên hàng mi anh. John cằn nhằn cộc lốc:
"Anh có thể lùi ra một chút không? Tay anh che mất luồng ánh sáng đèn pin của tôi rồi."
Sherlock giữ nguyên ngón tay đang sượt trên mu bàn tay John, không dịch chuyển lấy một milimet. Cơ mặt anh đóng băng vô cảm, nhưng những từ ngữ tuôn ra lại mang tần số dồn dập, sắc bén của một tràng thoại bẻ ghi toàn bộ vụ án:
"Góc nghiêng ba mươi độ của đèn pin đang tạo ra dải bóng mờ sinh học trên móng tay nạn nhân. Nhìn vào sắc tố xanh tím ngoại biên đi, Watson. Đây là độc chất Ancaloit gốc bazơ thế hệ mới — một dạng hợp chất hữu cơ dùng trong công nghiệp tàu biển chuyên dụng nhưng đã bị biến tính cấu trúc để bốc hơi ngay khi tiếp xúc với nhiệt độ phòng. Hung thủ không cho nạn nhân uống độc, hắn ngầm bôi nó lên cần gạt động cơ để độc chất thẩmấuthẩm thấu qua da tay khi gã thợ máy khởi động tàu."
Tràng thông tin về độc chất công nghiệp lập tức cuốn lấy tư duy logic của anh, trở thành điểm neo giữ hai người ở lại trong một khoảng cách bức bối. Không một lời thừa thãi, John dứt khoát rụt bàn tay trái đang bị đè ép về, cúi xuống lật hộp dụng cụ để lấy ra chiếc panh y tế, kẹp một mẫu vải dính dầu trên ngực tử thi.
Khi làn da của John rời đi, năm đầu ngón tay phải của Sherlock vẫn giữ nguyên tư thế gọng kìm trên khoảng không sàn xi măng lạnh ngắt trong một phần mười giây. Sự hụt hẫng của xúc giác dội vào hệ thần kinh. Anh chầm chậm thu tay về, năm ngón tay siết chặt lấy phần thân kim loại nhám sần của chiếc đèn pin đang cầm đến mức các thớ cơ trên cánh tay nổi gân chằng chịt.
Sherlock đứng thẳng người dậy. Lồng ngực anh dưới lớp áo Belstaff phập phồng mạnh mẽ, anh thở hắt ra một hơi dứt khoát, biến hơi thở thành một luồng khói trắng nhạt dưới cái lạnh căm căm của nhà kho bến cảng. Anh nhìn thẳng vào khoảng tối sâu hoắm phía sau nhà kho, nói bằng tông giọng dửng dưng như một cỗ máy lập trình:
"Độc chất bốc hơi trong vòng sáu mươi phút. Điều đó có nghĩa là hung thủ chỉ vừa mới rời khỏi boong tàu kéo mang số hiệu bốn mươi mốt cách đây chưa đầy mười phút. Hắn không chạy ra đại lộ sương mù, hắn đang lẩn trốn ngay trong vành đai các bồn chứa nhiên liệu áp lực cao phía sau nhà kho này."
Cạch.
John đóng sập nắp hộp dụng cụ y khoa bằng một tiếng động khô khốc, xé toạc không gian trống trải. Anh đứng bật dậy, tay phải cầm chặt chiếc đèn pin dã chiến, quét một luồng sáng dài, sắc lạnh về phía cánh cửa hậu của nhà kho.
Sherlock thong thả nới lỏng lực siết ở tay cầm đèn pin. Anh bước lên một bước, bả vai áo Belstaff lại chủ động áp sát, tái thiết lập cự ly mười centimet sát cạnh vai John. Trong tư thế đồng hành cực đoan ấy, hai bóng lưng cùng tiến thẳng vào vùng tối sâu hơn của bến cảng.
Màn đêm sương mù đặc quánh bao phủ lấy vành đai các bồn chứa nhiên liệu áp lực cao như một mê cung bằng sắt thép khổng lồ. Để khép góc tìm kiếm một cách tối ưu, John Watson và Sherlock Holmes dứt khoát chia nhau ra hai ngả, tách biệt hoàn toàn phạm vi quan sát.
John Watson di chuyển một mình vào hành lang hẹp, tối đen được kẹp giữa hai vách bồn chứa bằng thép cao vút. Một tay anh xách hộp dụng cụ y khoa, tay còn lại lia luồng sáng dã chiến của chiếc đèn pin quét liên tục dọc theo các đường ống rỉ sét đang rỉ nước mưa tong tỏng. Không gian hoang vắng đến lạnh người, chỉ có tiếng bước chân anh nện trên nền xi măng.
Một bóng đen lao mạnh ra từ góc khuất của van xả áp lực ngay phía sau lưng John. Gã thợ máy vung một thanh gậy sắt công trường thô đặc, giáng thẳng một cú bạo lực vào lưng anh.
Nghe tiếng gió rít xé toạc màn sương, John lách người né tránh theo bản năng phòng thủ của một quân nhân. Nhưng khoảng cách quá gần, thanh gậy sắt đập trúng bả vai sau của anh với một lực cơ học tàn nhẫn. John không ngã. Anh nghiến chặt răng chịu đựng cơn đau nhói dội lên, dứt khoát vứt bỏ chiếc đèn pin xuống đất, vung tay phải đấm thẳng một cú móc sấm sét vào quai hàm gã thợ máy để phản đòn.
Gã thợ máy loạng choạng lùi lại. Không để đối phương kịp lấy lại thăng bằng, John lao áp sát, áp dụng thế khóa cận chiến của quân đội. Hai tay anh chộp chặt lấy cổ tay cầm gậy của hung thủ, đồng thời thúc mạnh đầu gối vào bụng hắn để cưỡng ép tước vũ khí. Thanh gậy sắt tuột khỏi tay gã thợ máy, rơi bộp xuống sàn xi măng sũng nước.
Bị dồn vào đường cùng, gã thợ máy điên cuồng vặn mạnh toàn bộ thân người để thoát thế khóa. Hắn dùng lực của cả hai tay, bẻ ngược cổ tay trái của John ra sau lưng với một góc độ cực đoan.
Một tiếng khực khô khốc vang lên.
Khớp vai trái của John bị trật trục hoàn toàn.
Cơn đau vật lý bạo liệt dội thẳng vào trung khu thần kinh, xé toạc mọi ranh giới của sự chịu đựng. Gương mặt John nhăn gắt lại, mồ hôi lạnh lập tức ứa ra hòa cùng nước mưa, mang theo mùi mặn chát của bùn đất và sương đêm bám chặt trên da thịt. Không gian hẹp bỗng chốc chỉ còn tiếng thở dốc đứt quãng của người lính và mùi rỉ sét nồng nặc bốc lên từ vách thép bồn chứa. Anh dùng cánh tay phải còn lại tóm chặt lấy cổ áo gã thợ máy, dùng toàn bộ trọng lượng cơ thể ghim chặt gã hung thủ cố định vào vách bồn chứa bằng thép, dứt khoát không cho hắn bất kỳ cơ hội nào để tháo chạy.
Tiếng kim loại va đập thô bạo và tiếng giằng co động vách thép dội vang lập tức lọt vào hệ thống thính giác của Sherlock. Anh sải bước dài, lao thẳng vào lối đi hẹp như một bóng ma đen đặc bộc phát từ màn sương ngay khi John đang dùng chút sức tàn để kiềm tỏa hung thủ.
Sherlock vươn tay trái ra chộp lấy bả vai John, kéo mạnh thân hình anh lùi về sau để tách anh khỏi vùng nguy hiểm một cách tuyệt đối. Cùng lúc, tay phải của Sherlock vươn ra như một gọng kìm thép, năm ngón tay siết chặt lấy cổ họng gã thợ máy, dùng một lực ép bạo liệt ghim chặt gã hung thủ vào vách thép của bồn chứa nhiên liệu.
Khớp hàm Sherlock siết gắt đến mức các thớ cơ nổi rõ, đôi mắt xám lườm trừng trừng vào mặt gã thợ máy ở cự ly chỉ năm centimet. Giọng anh thấp, phẳng lặng nhưng đậm đặc sự đe dọa tàn nhẫn:
"Mọi chuyển động co cơ chống cự tiếp theo của ngươi... Sẽ làm gãy đốt sống cổ số ba ngay lập tức."
Ý tưởng về một cái chết sinh học tức thì đóng vai trò là điểm neo định hướng, bóp nghẹt mọi ý định phản kháng của hung thủ. Nhìn thẳng vào đôi mắt không tính người của vị thám tử, gã thợ máy hoàn toàn kinh hoàng. Hắn buông xuôi hai tay, đứng im lịm chịu trói, không dám nhúc nhích dù chỉ một milimet.
Từ ngoài hàng rào bến cảng, tiếng còi hú dồn dập của xe tuần tra Scotland Yard cùng ánh đèn pha màu xanh quét qua sương mù bắt đầu xuất hiện ở phía cổng xa. Đội của Lestrade đang rầm rộ tiến vào hiện trường.
Sherlock buông cổ họng gã thợ máy ra bằng một động tác dứt khoát. Anh lùi lại một bước, thu tay về bên hông, giấu mình vào bóng tối.
John Watson đứng tựa lưng vào đường ống dẫn dầu bên cạnh để giữ thăng bằng. Tay phải anh cúi xuống nhặt lại chiếc đèn pin, nhưng cánh tay trái lúc này đã hoàn toàn bất động, bả vai trái nhô lệch trục rõ rệt dưới lớp vải áo khoác dã chiến thô ráp. Sắc mặt anh nhợt nhạt, môi run lên vì cơn đau vật lý đang hành hạ dưới ánh đèn pin tù mù.
Sherlock sải bước lại gần, đứng sát cạnh bên bả vai phải của John. Anh dựng cao tà áo choàng Belstaff rộng của mình, biến thân hình cao lớn thành một tấm lá chắn để che chắn toàn bộ tầm nhìn tổn thương của John khỏi sự dòm ngó từ phía ngoài hàng rào công trường. Sherlock không hỏi John có đau không.
Hai ngón tay phải của Sherlock chạm nhẹ vào cổ áo John.
Hơi ấm từ ngón tay thon dài của vị thám tử xuyên qua lớp vải dạ thô ráp, miết một đường ngắn đầy cẩn trọng ngay sát vị trí vùng khớp xương vừa trật trục. Qua điểm chạm duy nhất ấy, Sherlock ghi nhận sự lệch trục cơ học của xương bả vai, trong khi John cảm nhận được lực giữ vững chãi từ bàn tay luôn biết cách kiểm soát mọi tình huống.
Sau khi xác định xong dữ liệu, anh dửng dưng buông một câu nói phẳng lặng, khôi phục lại quyền kiểm soát không gian của hai người:
"Taxi của chúng ta sẽ đến trước xe cứu thương của Scotland Yard sáu phút bốn mươi giây. Về nhà thôi, John."
John nén cơn đau dữ dội ở khớp vai, khẽ gật đầu. Hai bóng lưng đi sát cạnh nhau, bờ vai Belstaff của Sherlock khẽ tì nhẹ vào người John như một sự nâng đỡ ngầm vững chãi. Họ cùng bước qua vũng sình lầy lội dưới màn mưa phùn, hướng thẳng ra phía cổng bến cảng hoang vắng trước khi ánh đèn của Scotland Yard kịp chạm tới.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co