Truyen3h.Co

Luyện Hồn

Chương 31 (Phần 2)

TngMtThan

Mùa Xuân năm Diên Hòa thứ tám.

Đình Thiên được chiếu dời phủ vào tỉnh Nghệ An, thống lĩnh binh mã canh giữ biên giới Chiêm Lao. Cảm cái ơn cứu mạng của thôn nữ tên Thị Tấm kia, Đình Thiên liền đem kiệu tới đón rước nàng về phủ, hai người lên duyên vợ chồng.

Mùa Thu năm Diên Hòa thứ mười bốn.

Đất nước trải qua một phen biến loạn, cục diện chia làm ba phe, nhà Mạc cấu kết với quân Minh từ Trung Quốc tràn sang chiếm cứ một vùng rộng lớn trên mạn ngược. Nhà Lê được sự hậu thuẫn của chúa Trịnh giữ vững ngôi vua Đàng Ngoài, nhưng thực quyền chi phối triều chính và chỉ huy quân đội lại nằm trong tay chúa Trịnh. Họ Nguyễn sau khi bị đẩy vào Đàng Trong, không chấp nhận sự cai trị của chúa Trịnh nên lấy cớ phò Lê diệt Mạc thường xuyên đem quân ra Bắc đánh chiếm. Giữa lúc tình thế rối ren, ba quân giằng co quyết liệt, nội bộ đàng ngoài bỗng nảy sinh ra một sự kiện, nguy cơ thay đổi toàn cục.

Trịnh Tráng nhân danh vua Lê phong Trịnh Tạc làm Thái úy tả tướng tiết chế các doanh quân thủy, quân bộ các xứ, giữ quyền binh trong nước, tước Tây quận công, mở phủ Khiêm Định. Công việc nhà nước hết thảy đều ủy thác cho Tạc quyết đoán, bấy giờ liền có quan dâng sớ can rằng:

- Vương thượng đã một mình coi hết cả việc nước, đạo thần tử đã có chỗ khó rồi. Nay lại phong cho Vương trưởng tử làm Thái úy Tây quốc công, cho coi hết quốc gia trọng sự. Các vương tử mỗi người giữ lấy một trấn to, như thế là Vương thượng giữ nước làm của riêng đó.

Ấy là bởi chúa Trịnh lấy danh phù Lê nhưng thực chất là coi mình hơn vua, việc lớn bé trong triều đều tự quyết định, có giai thoại viết rằng, thứ gì trong cung có thì phủ chúa cũng có, còn tinh xảo hơn là đằng khác. Điều này khiến cho không ít quần thần chướng tai gai mắt, nhưng thanh thế của chúa đương lúc hưng thịnh, lại có quyền điều binh khiển tướng trong quân, thành thử không ai dám đứng lên phản đối.

Đỉnh điểm vào mùa thu năm Phúc Thái thứ bảy 1649, Lê Chân Tông yểu mệnh qua đời, không có con nối dõi, chúa Trịnh một lần nữa đem vua Lê Thần Tông bấy giờ đang là Thái thượng hoàng quay lại ngôi, hành động này cho thấy, chúa coi vua Lê như con rối trong tay, tự ý xoay vần. Chúa Nguyễn Đàng Trong lấy đó làm cớ dấy binh nổi loạn, muốn thay vua cắt lọc gian thần, chiến tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài nổ ra triền miên nhiều tháng vẫn bất phân thằng bại, con dân vì thế lầm than, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc.

Song song với đó là sự phát triển của tôn giáo, cả vua Lê, chúa Trịnh đều sùng đạo Phật, đời sống tinh thần của hoàng tộc và quan lại rất phong phú, ngân khố rót ra xây chùa chiền không biết bao nhiêu cho xuể. Trong khi dân chúng do chiến tranh nhiều năm và thiên tai, phải tha hương cầu thực khắp nơi, tạo cơ hội cho các đạo giáo khác nhau lan truyền rộng rãi. Một bộ phận người dân sau đó trốn đời đi ở ẩn, tự mình lập ra đạo phái, làm phát sinh nhiều biến tướng tôn giáo kỳ quái. Hoặc những người không còn niềm tin vào chính phái thường tập hợp nhau đi theo con đường tà đạo, đây cũng là thời điểm âm thịnh dương suy, phân hóa đảng phái sâu sắc nhất.

Ngay trong chính các giáo phái còn nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, đầu năm nay dân chúng truyền tai nhau rằng, tà phái đã quy về một mối, Tu Ma Nhân không còn phải lén lút như trước, chúng ngang nhiên giết gà dọa khỉ trên đường, làm ra những chuyện thương thiên hại lý, mục đích chèn ép chính phái tới bước tha hóa. Vốn dĩ niềm tin vào chính phái đã rất mong manh, giờ đây còn bị lung lay bởi những đồn thổi vô căn cứ, thậm chí họ còn nghe được là không ít người trong hoàng tộc cũng theo tà phái, dưới cái lốt Phật môn.

Tương truyền có một điện thờ rất lớn được xây dựng trên núi cao, nguy nga như một cung điện nhưng không phải thờ Phật, mà là để nuôi Nhục Long Mẫu. Hiểu nôm na đó là xác của một con rồng cái, trong tín ngưỡng thì giống như một loại tà thần mình rắn đầu rồng, người thờ nó cầu gì được nấy, rất linh thiêng. Thậm chí dưới chân núi người dân còn bán một loại nước đỏ như máu, gọi là huyết long, được đào ra từ mạch nước dưới nền chùa, uống vào trị được bách bệnh. Nhưng lạ ở chỗ chùa không tiếp đón thường dân, lại nghe nói vào mỗi tuần trăng dưới làng mạc xung quanh chân núi sẽ có một trinh nữ mất tích, họ quả quyết những người đó đã đi vào ngôi chùa kia.

Ngược lại với sự khoa trương của bè lũ Tu Ma Nhân, chính phái mà điển hình là Phật giáo không có nhiều động thái tích cực, trong những năm tháng binh đao loạn lạc, chùa chiền trở nên vô cùng vắng vẻ, người dân không còn mặn mà với chốn thần phật nữa, họ cần một thế lực có thực quyền để bảo vệ cuộc sống của bản thân. Ranh giới chính tà ngày càng bất phân, dù không mắt thấy tai nghe nhưng Tu Ma Nhân vẫn không ngừng lớn mạnh, ngấm ngầm cắn nuốt niềm tin trong dân chúng, cũng không rõ từ khi nào mà chính phái đã trở thành cái bóng cho chúng.

Lại nói tới Đình Thiên bấy giờ đang là An thân vương, cai quản phủ Bạc tại Nghệ An, có vợ là Thị Tấm phong hiệu Đăng Lệ vương phi, năm 1647 vương phi hạ sinh một đứa con gái, đặt tên là Khả Uyên. Sau khi hoàng thượng quyết định nhường ngôi cho con trai Liễu Ánh quý phi, Đình Thiên lui về nhậm chức tại Nghệ An, cuộc sống không có nhiều biến chuyển.

Mang tiếng là thân vương nhưng Đình Thiên ít tham gia vào những việc nội bộ hoàng tộc, phủ Bạc lại ở xa kinh thành, tin tức trao đổi rất thưa thớt. Đình Thiên sớm nhận ra sức ảnh hưởng của chúa Trịnh trong triều đình quá lớn, vua cha lại đành khoanh tay rủ áo, thân chỉ là một vương gia, không có nhiều quyền hạn, nên Đình Thiên dù bất mãn cũng không dám can thiệp quá sâu.

Tới đầu năm Thịnh Đức thứ ba 1655, chúa Nguyễn kéo quân ra Bắc lần thứ năm, binh mã ồ ạt vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính, tướng Trịnh bại trận ra hàng, quân Nguyễn kéo tới sát Nghệ An. Đình Thiên lấy danh nghĩa là An thân vương tự mình đứng ra tập hợp dân chúng, phối hợp với quân triều đình trấn giữ cổng thành, vương phi cùng con gái do chiến tranh nên phải di tản về quê ngoại ở mạn Hải Hưng tránh trú. Giằng co không bao lâu, tối một ngày kia, có quân trinh sát báo về, tướng nhà Nguyễn điều sứ giả tới gặp An thân vương. Sứ giả nói:

- Hay tin An thân vương thân chinh ra trận, chúng thần yết kiến chậm trễ, xin vương gia tha tội.

- Trong nước yên ổn chưa lâu, quần thần họ Nguyễn hà cớ gì dấy binh nổi loạn? Phải chăng là có ý đồ tạo phản, muốn chống lại triều đình? – An thân vương nghiêm nghị hỏi.

- Khởi bẩm vương gia, chúa Hiền là thần tử của triều đình, hưởng gia ân bổng lộc của hoàng thượng mà dốc lòng trung nghĩa, nào dám nghĩ tới chuyện phản trắc. Chuyến này vương thượng đem quân ra bắc là thuận theo ý muốn của hoàng thất, dẹp loạn gian thần, thống nhất nước nhà làm một.

- Ý muốn của hoàng thất? Ta chưa từng nghe qua chuyện này.

- Xin vương gia thứ tội cho thần nói thằng, Trịnh Tráng âm mưu thao túng triều đình, khinh thường hoàng tộc, coi hoàng thượng trong tay như quân cờ, tội này thật đáng muôn chết. Vương gia lẽ nào không biết?

Đình Thiên không đáp, chuyện này trong nước đã lan truyền từ lâu, chỉ là e sợ khi quân phạm thượng mà giữ im lặng, dẫu vậy thì chúa Trịnh cũng không làm gì càn quấy, đối với chuyện triều chính đúng là có quá phận, nhưng vẫn luôn nghĩ cho muôn dân bách tính, đám con đen dưới chân thiên tử lại càng không muốn chiến tranh, vì hai đàng đánh chiếm lẫn nhau dù bên nào thắng cũng không đem lại lợi ích gì cho họ.

Đấy là chưa nói đến chúa Trịnh nắm trong tay quân đội, hoàng thượng giống như cá trong chậu, xử lý không tốt có thể biến thành đảo chính, đến lúc đó an nguy của vua cha khác nào chỉ mành treo chuông. Có thể thấy hoàng thượng từ lâu đã không còn ý định tranh quyền với chúa Trịnh, tại sao bây giờ lại cùng với chúa Nguyễn âm mưu dấy binh nổi loạn, mục đích có thật là như sứ giả kia nói. Đình Thiên cảm thấy trong chuyện này còn nhiều uẩn khúc, liền ra lệnh:

- Người đâu bắt sứ giả lại cho ta, đem vào lao phòng tra khảo, ta muốn biết là kẻ nào trong hoàng thất cấu kết với đàng trong, mau nói mưu đồ của các ngươi là gì!

Tra khảo hai ngày hai đêm, sứ giả vì sợ cực hình liền khai nhận. Có tổng cộng mười hai người trong hoàng tộc, bao gồm cả các thân vương là con trai hoàng thượng, do bất mãn vì không được chọn nối ngôi đã nảy sinh lòng thù hận, chuyến này ngoài việc lật đổ chúa Trịnh, thì mục đích lớn nhất là giành ngôi vua.

Tướng nhà Nguyễn tưởng rằng Đình Thiên cũng giống những thân vương kia, nên đã cho sứ giả tới thương thuyết, muốn mua chuộc An thân vương mở cổng thành, Nghệ An là một trong những cứ điểm trọng yếu mà quân Nguyễn phải vượt qua. Trong trường hợp thân vương đồng ý góp sức người sức của, khi tiến vào kinh thành có sự phối hợp của quân tiếp ứng từ các tỉnh lân cận, thì cơ hội thắng trận sẽ rất cao.

Có một điều khiến Đình Thiên căm tức hơn cả, người đứng sau cấu kết với chùa Nguyễn và kêu gọi các thân vương, khốn thay lại chính là người được lòng vua cha nhất. Kế hoạch này vốn đã định sẵn từ nhiều năm trước, sau khi vua Lê Thần Tông một lần nữa lên ngôi, thấy rõ bộ mặt nhu nhược của vua tôi nhà Lê trước vương tử Trịnh Tráng, người này đã rắp tâm lập mưu phế vua, đưa người của mình lên thay.

Tất cả những gì sứ giả khai nhận đều được viết vào một cuốn sớ, ngay trong đêm, Đình Thiên cùng một toán hộ vệ lên đường về kinh, muốn nhanh chóng báo tin cho hoàng thượng. Phải bằng mọi cách ngăn chặn cuộc đảo chính này lại, không những hoàng tộc sẽ có tổn thất mà dân chúng trong ngoài thành cũng bị kéo vào chiến tranh phi nghĩa.

Đoàn người ngựa đi được nửa ngày, tới một vùng đồi núi hiểm trở, hai bên vách đá cheo leo, đây là độc đạo, ngoài eo núi hẹp kia thì không có đường nào khác, muốn đi vòng thì phải sang địa giới của Chiêm Lao. Đình Thiên nhẩm tính, thời gian không có nhiều, nếu quân Nguyễn vượt qua Nghệ An, sẽ rất nhanh đánh tới kinh thành, trước mắt trực tiếp bỏ qua an toàn của bản thân, rút ngắn quãng đường, nội trong tám ngày nữa phải tới được kinh thành.

Đoàn người ngựa chạy vào lòng núi, đường đá sỏi gập ghềnh, không thể đi nhanh được. Càng vào sâu trong núi, Đình Thiên càng cảm thấy ở đây có điều bất thường, hai bên thành vách có rất nhiều mô đá nhô ra, hình dạng không giống tạo thành tự nhiên, chắc chắn đã trải qua tôn tạo, vì thế mà mặt đường mới nhiều đá dăm như vậy. Nếu chỉ là đường đi thì không cần phải gọt giũa thành vách công phu, khả năng còn có nguyên nhân khác, Đình Thiên ra hiệu cho tùy tùng cẩn thận, ở đây dễ có mai phục. Quả nhiên vừa đi được nửa quả núi, bỗng phía sau có tiếng gió rít lên vù vù, tiếp theo một con ngựa đang chạy liền ngã quỵ, người cưỡi ngựa đập đầu vào vách đá chết tươi. Sau đó lần lượt là người ngựa hai bên tả hữu đồng loại lao vào vách đá không rõ nguyên nhân.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co