1,
Trời tháng Tư năm kỷ Mão, cái nắng nung người của miền xứ Nghệ đổ xuống mặt đất thứ ánh sáng vàng quánh và đặc quánh như mật chảy. Kim Châu Huân, một thiếu niên mười chín tuổi với cái trán đăm chiêu và thứ tâm hồn nghệ sĩ sớm đã mỏi mệt vì thời cuộc, đang ngồi lặng lẽ bên cái bến sông trơ trụi lòng phè. Cuốn sổ tay nhàu nát trên đầu gối gập ghềnh những dòng thơ cũ, thứ văn chương được vớt vát lại từ những cơn hoài niệm ẩm mốc. Và rồi, giữa cái không gian đặc quánh mùi phù sa oi ả ấy, Phạm Minh Tiến bước vào đời cậu như một sự ngẫu nhiên dữ dội của định mệnh.
Chẳng ai ngờ được, cái cuộc tao ngộ ngắn ngủi chưa lọt nổi nửa canh giờ ấy lại là một vết khắc hằn sâu hoắm, một thứ hành trang oằn vai mà Châu Huân phải mang theo cho đến tận cùng những giông bão của cuộc đời.
Cái mùa hè năm 1969 ấy mở ra bằng những luồng gió Lào quất rát thịt rát da. Mặt trời đã xế bóng về bên kia đỉnh núi, thế nhưng cái oi nồng của đất trời vẫn không chịu nhường bước, dội thẳng xuống mặt sông một thứ ánh nắng trắng lóa, chói chang đến nhức mắt. Con đường đất đỏ quánh chạy từ đầu làng cắm phập xuống bến nước vắng tanh không một bóng người. Cái ngột ngạt của trưa hè khiến người ta phải chui rúc vào chốn kín đáo mà tránh cái uy thế của thiên nhiên; duy chỉ có bầy ve sầu trên mấy gốc bạch đàn sau hợp tác xã là cứ khản cổ gào lên những âm thanh đinh tai nhức óc, như muốn xé toạc cả bầu không khí đặc quánh lại.
Châu Huân ngồi thu lu dưới gốc đa cổ thụ ở bến sông. Ngay cạnh đôi chân trần là đôi dép nhựa xanh đã mòn gót, chiếc áo sơ mi trắng ngả màu cháo lòng từ năm ngoái được vá vội một miếng vải vuông vức ở khuỷu tay. Trên đôi đầu gối gầy guộc là cuốn sổ tay mở sẵn, kẹp hờ hững một cánh hoa giấy ép khô từ lâu đã úa vàng tơi tả. Bà ngoại vẫn thường dặn cậu phải giữ lấy từng tấc giấy, bởi cái thời buổi nhiễu nhương này, kiếm được tờ giấy trắng quý như vàng mười. Nhưng Châu Huân vốn mang cái tính lãng du của kẻ đa sầu, cậu thích ghi lại cái nhịp đập phũ phàng của thời gian: hôm nay là cái oi bức của trời đất, ngày mai là chuyện con bò nhà bác Tư sổng chuồng quậy phá, còn những ngày trống trải quá thì cậu gửi gắm vào những vần thơ đứt nối.
Ngòi bút máy cũ kỹ miết trên trang giấy thô ráp phát ra thứ âm thanh sột soạt cô độc. Một con chuồn chuồn lửa đỏ chót bất thần sà xuống đậu hững hờ ngay mép trang giấy. Châu Huân vừa chớm đưa ngón tay gầy gò định bắt lấy cái khoảnh khắc mong manh ấy, thì nó đã vỗ cánh vút bay.
Đúng lúc ấy, từ khúc quanh heo hút cuối con đường đất dẫn vào xóm, một giọng nói vang lên phá tan cái tĩnh mịch đến rợn ngợp:
— Ấy, cho tôi hỏi thăm một tiếng được không?
Châu Huân ngẩng phắt đầu lên. Đập vào mắt cậu là một gã trai trẻ đang đứng chơ vơ ở đầu dốc. Hắn vận bộ quần áo nâu sồng đã bạc phếch và sờn rách, vai quẩy cái túi vải dính đầy bụi đường, ống quần bám một lớp đất đỏ quánh dày đặc. Nhìn bộ dạng ấy, ai cũng biết hắn đã phải lê la cái thân xác mệt mỏi dưới cái nắng tháng Tư ác liệt này từ rất lâu rồi. Tóc mái bết lại vì mồ hôi, dính bệt thành từng lọn lởm chởm trên cái trán sạm nắng. Thấy Châu Huân ngước lên nhìn, gã bật cười ngay, cái cười sản khoái của kẻ vừa vớ được chiếc phao cứu sinh giữa dòng nước bạc:
— Hú hồn, cuối cùng cũng vớ được một bóng người sống!
Châu Huân ngẩn người ra một nhịp. Cái làng An Bình này người với người nhẵn mặt nhau từng chân tơ kẽ tóc, khách khứa lạ mặt bén mảng đến đây đã là của hiếm, huống chi lại có cái kiểu vừa gặp đã sỗ sàng tự nhiên đến thế. Gã thanh niên dùng mu bàn tay quệt ngang trán, hất hàm nhìn quanh cái không gian vắng ngắt như chùa bà Đanh của ngôi làng:
— Tôi đi bộ rạc cả cẳng từ đầu làng tới đây, dọc đường toàn thấy trâu với bò là trâu với bò!
Nói đoạn, hắn giơ tay trỏ ngoắt về phía con trâu già đang lững thững nhải cỏ dưới gốc tre bên đường. Châu Huân nheo mắt nhìn theo ngón tay gã, thấy con vật vẫn ung dung vẫy cái đuôi đuổi ruồi, đoạn không kìm được mà khóe môi hơi nhếch lên thành một nụ cười kín đáo.
— Nhà bác Ba Lợi đi ngả nào vậy cậu? — Gã hỏi dồn.
Châu Huân ngước đôi tròng mắt trong veo nhìn gã, đoạn giơ tay vươn về phía rặng tre xanh ng ngút ở cuối làng:
— Cứ men theo con đường này, tới cuối rẽ trái.
— Có xa không đấy?
— Gần nớ mà. Qua dăm thửa ruộng là tới ngõ.
Gã thanh niên nheo mắt nhìn theo hướng tay chỉ. Con đường đất đỏ cứ ngoằn ngoèo lượn lờ qua mấy thửa ruộng khô cằn rồi khuất hút sau rặng tre rậm rạp, nhìn thế nào cũng chẳng ra cái khoảng cách mà người ta có thể thản nhiên gọi là "không xa".
— Không xa là mấy quãng đường? — Gã nhíu mày, giọng nửa đùa nửa thật.
— Thì... đi thêm một đợt nữa là tới.
Gã trai chống nạnh đứng giữa cái chảo rang của nắng chiều, nghe cái câu trả lời lấp lửng thì ngửa cổ cười vang:
— Cậu chỉ đường thế này, chắc tôi lê cái xác này đến tối mịt vẫn chưa thấy bóng nhà người ta!
Thực ra, cái cách chỉ đường ấy là cái thói quen ngấm vào máu thịt của người dân xứ này từ thuở lọt lòng. Châu Huân nghe quen tai nên thấy nó đường đường chính chính là thế, nhưng nhìn cái nét mặt nhăn nhó dở khóc dở cười của kẻ lữ hành trước mặt, cậu bỗng áy náy nhận ra cái sự "chỉ đường" của mình hình như chẳng đem lại chút ánh sáng nào cho người ta.
Cậu gấp vội cuốn sổ tay, đứng phắt dậy, phủi phủi lớp bụi đất bám dính trên vạt quần. Đưa mắt nhìn lại con đường hun hút dẫn vào xóm vắng, cậu cất giọng bình thản:
— Thôi, để tôi dẫn anh đi một đoạn.
Gã thanh niên nghe vậy thì mừng ra mặt, hai mắt sáng rực lên:
— Thế thì quá phúc đức cho tôi rồi!
Nói đoạn, hắn xốc lại cái quai túi trên vai, lững thững bước theo sau lưng Châu Huân. Cái buổi chiều hè ở làng quê chìm trong một thứ tĩnh lặng đến u hoài. Vài con gà mải miết bới tìm hạt thóc lép bên hàng rào tre mục nát, dăm ba đứa trẻ đang ngồi xổm dưới bóng cây chơi đánh chuyền cãi nhau ôm xóm cả một góc trời. Trước hiên một ngôi nhà tranh, một bà cụ ngồi cúi lom khom nhặt mớ rau muống, thỉnh thoảng lại thở dài đánh thượt. Đâu đó văng vẳng tiếng loa phát thanh của xã phát ra từng hồi rè đứt quãng, đều đều nhai lại những bản tin đã cũ rích từ dạo nào. Một con chó vàng gầy trơ xương nằm dài ngủ li bì dưới bóng râm, thi thoảng giật mình vểnh tai lên khi có tiếng chân người, nhưng rồi lại mệt mỏi cụp mắt xuống chìm vào giấc ngủ mê mệt.
Gã thanh niên này quả thực là cái giống người sinh ra để nói. Mới quen nhau chưa được một nén nhang mà hắn đã moi móc sạch sành sanh từ chuyện cỏn con đến chuyện đẩu chuyện đâu. Đi được dăm bước, hắn lại nghiêng đầu hỏi:
— Cậu tên gì nhỉ?
— Kim Châu Huân.
— Học hành thế nào rồi?
— Tôi hết lớp bảy.
— Chà, thế là cái chữ cũng kha khá đấy chứ!
Châu Huân chẳng biết cái lời khen bâng quơ ấy là thật hay châm biếm, đành ngậm tăm im lặng. Người ở cái vùng đất quạnh hiu này phần lớn phải bỏ dở bút nghiên từ sớm để quăng mình vào sỏi đá ruộng đồng; cậu mà lần mò lết được đến cái lớp bảy ấy cũng là nhờ ông thầy giáo làng mấy bận lế thế đến tận nhà chèo kéo bà ngoại. Thấy cậu làm thinh, Minh Tiến chẳng giận, tay tiện đẻn nhặt một nhành cây khô bên đường vừa đi vừa khua khoắn:
— Tôi nói thật đấy. Hồi tôi còn bé, bắt tôi ngồi yên ê a một bài văn còn nhục nhằn hơn là bắt tôi xách cuốc phạng tung cả sào ruộng khoai.
Hắn liếc ngang nhìn cuốn sổ vẫn đang ôm chặt trong tay Châu Huân, thứ mà hắn đã tia thấy từ lúc còn đứng bên bến sông:
— Cái quái gì mà chép sột soạt trong sổ thế?
— Thơ.
— Thích thơ à?
— Ừ.
Minh Tiến gật gù ra cái vẻ uyên bác lắm, nhưng đoạn lại bĩu môi tự cười vào mũi mình:
— Chịu, cái món đấy thì tôi xin bái lạy.
— Răng rứa?
— Dốt đặc cán mai chứ sao!
Hắn ném ra câu đó một cách tỉnh queo, chẳng mảy may bận tâm đến cái sĩ diện của kẻ đàn ông. Châu Huân quay đầu nhìn gã. Từ đầu tới chân con người này toát lên cái vẻ phóng túng, nói năng cứ tự nhiên như ruồi, chẳng có lấy một chút vỏ bọc câu nệ khách sáo nào.
Bắt gặp cái nhìn chăm chú của thiếu niên, Minh Tiến toét miệng cười:
— Thật mà! Hồi tôi đi học, ông thầy bắt chép có hai trang giấy mà tôi dây dưa mất trọn ba ngày trời.
— Ba ngày cơ á?
— Chứ sao! Ngày đầu chép được nửa trang thì trốn miết ra đầm bắt cá. Ngày thứ hai thì quẳng toi cuốn vở xó nào chẳng nhớ. Đến ngày thứ ba bị thầy xách tai lôi cổ lên bục giảng mới lòi mắt ra mà nhớ với chả quên.
Châu Huân đến lúc này không nhịn được nữa, đành phải bật cười thành tiếng. Tiếng cười vừa thoát ra khỏi lồng ngực khiến chính cậu cũng phải giật mình ngạc nhiên. Vốn dĩ từ nhỏ cậu là kẻ kiệm lời, đứng trước người lạ thì cổ họng cứng đờ như ngậm hòn đá cuội, thế mà chỉ mới lê la đi cùng gã lãng du này chưa hết quãng đường làng mà đã buông lỏng được mấy bận cười giòn giã.
Càng đi sâu vào trong, bóng râm từ những hàng cau dừa càng kéo dài lê thê. Hai bên đường là những dậu tre lúp xúp và những mái ngói rêu phong nhuốm màu tang tóc của thời gian. Lũ trẻ con bu quanh gốc khế tò mò ngước những cặp mắt tròn xoe nhìn gã khách lạ đi ngang qua.
— Cậu sinh ra và lớn lên ở cái xứ này à? — Minh Tiến cất tiếng hỏi.
— Sinh ra ở chái bếp này chớ đâu.
— Sướng thật đấy.
Hắn đá văng một hòn sỏi cuội nhỏ bên đường, đôi mắt đăm đăm hướng về phía cánh đồng lúa đang ngả màu vàng úa ở cuối chân trời:
— Tôi bôn ba qua bao nhiêu chốn, ngắm chán cái cảnh người ta ngược xuôi rồi, chẳng có nơi nào giống nơi nào cả. Có xứ làng mạc áp sát chân núi đá tai mèo, có xứ bám chặt lấy cái mép biển mặn mòi, lại có nơi đi rạc cả cẳng dăm ngày chẳng thấy nổi bóng người qua lại.
Hắn ngập ngừng một lát, đoạn nhếch môi cười nhạt:
— Chỉ có điều, người trong mấy cái làng ấy chẳng ai giống tôi. Ai cũng có chốn để quay về, có gương mặt để nhớ nhung.
— Anh không có lấy một chốn dung thân sao?
Lần đầu tiên kể từ lúc gặp gỡ, chính Châu Huân lại là kẻ khơi mào câu chuyện.
Gã lãng du ngẩn người ra một khắc, rồi bật cười khô khốc:
— Có chứ. Chỉ là đi lâu quá, hóa thành kẻ vong thân, sợ cái làng cũ nó quên ừ mất cái mặt mũi thằng này rồi.
Gió từ ngoài đồng nội bạt mạng thổi thốc vào, làm mấy tàu lá cau khua lên những âm thanh khô khốc, xào xạc như tiếng thở dài của đất mẹ. Châu Huân im lặng, chẳng biết đáp lại thế nào. Cậu chẳng hiểu vì sao, nhưng trong cái khoảnh khắc heo may ấy, cậu láng mờ nhận ra đằng sau cái vẻ mặt bỡn cợt, tưng tửng bất cần đời kia lại là một cõi lòng trống hoác, lạnh lẽo đến nao lòng.
Đi thêm chừng dăm phút nữa, cuối cùng họ cũng đến nơi. Ngôi nhà ngói cũ kỹ lọt thỏm sau hàng cau cao vút hiện ra sau khúc cua tay áo. Trước khoảng sân rộng, mấy con gà mái tơ đang cặm cụi bới rác tìm mồi.
Châu Huân khựng chân lại:
— Đến nhà bác Ba Lợi rồi đấy.
Minh Tiến ngước mắt nhìn căn nhà, đoạn thở phào nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng ngàn cân trên vai. Hắn đứng ngây ra trước cổng, chưa vội bước chân vào ngay. Ánh hoàng hôn chạng vạng hắt qua những tàu cau gầy guộc, rọi lên tấm lưng gù và bờ vai sờn bạc của hắn những vệt sáng loang lổ, buồn hiu hắt. Gió chiều lùa qua, cuốn theo mấy chiếc lá khô xơ xác lăn lóc trên nền đất.
— May mà có cậu dắt mối, không thì tôi bỏ xác ngoài đường rồi.
Châu Huân lắc đầu, buông lỏng hai tay:
— Có chi mô mà khách sáo. Ai qua đoạn nớ mà chẳng rứa.
Thực ra trong thâm tâm cậu nghĩ đó chỉ là một nghĩa cử vô thưởng vô phạt. Bất cứ kẻ nào trong cái làng này nếu bắt gặp một lữ khách lạc đường cũng sẽ làm cái việc cạn tàu bay tỏ ấy mà thôi.
Minh Tiến nhìn chăm chăm vào thiếu niên thêm một lúc lâu, đoạn gã vỗ trán cười vang:
— Ái chà, suýt quên mất cái phép lịch sự tối thiểu!
Hắn vươn cánh tay sạm nắng ra trước mặt:
— Tôi là Phạm Minh Tiến.
Châu Huân cúi dán mắt xuống bàn tay gã. Đó là một bàn tay thô ráp, các khớp xương to bè nổi cộm lên, lòng bàn tay chi chít những vết chai sần của kẻ quanh năm bám mặt vào đất bám lưng vào trời, va đập với đủ thứ khốn cùng của cuộc mưu sinh. Thiếu niên ngập ngừng chần chừ trong chốc lát, rồi rụt rè đưa bàn tay trắng trẻo của mình ra nắm lấy cái siết tay ấm áp ấy.
— Còn tôi là Kim Châu Huân.
Minh Tiến là kẻ buông tay trước. Lòng bàn tay hắn vẫn còn phả ra cái hơi nóng hầm hập của một ngày dài đằng đẵng lội nắng băng đồng.
— Cảm ơn cậu nhé.
— Có chi mô.
— Hôm nào rảnh rỗi, tôi tìm củ khoai nướng đãi cậu gọi là tạ ơn.
Hắn nói xong lại tự cười khì, tự biết cái lời hứa hẹn bâng quơ ấy chẳng có mấy phần trọng lượng trong cái thời buổi đói kém này.
Châu Huân chỉ mỉm cười, khẽ gật đầu thay cho câu trả lời.
Minh Tiến xốc lại cái quai túi vải, quay lưng bước qua khung cửa ngập tràn nắng chiều. Mấy con gà mái giật mình đập cánh bay tán loạn dưới gốc cau. Tiếng gọi nhà í ới vang lên phá vỡ sự tĩnh lặng của khu vườn nhỏ.
Châu Huân vẫn đứng lặng phắc bên ngoài cánh cổng gỗ mục.
Gió chiều vẫn miệt mài thổi qua hàng cau ru lên những khúc điệu buồn bã. Đợi đến khi bóng dáng gã trai lãng du đã khuất hẳn sau căn nhà ngói âm dương trầm mặc, thiếu niên mới lững thững quay đầu bước trở lại con đường cũ dẫn về phía bến sông.
Cõi đường làng vẫn y nguyên như lúc cậu rời bước. Chỉ có điều, chẳng hiểu vì cớ gì, quãng đường ngắn ngủi quay về lúc này bỗng chốc bạt ngàn và xa xăm hơn lúc đi rất nhiều.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co