6,
Cái màng sương lân tinh êm dịu, huyền ảo của vạn con đom đóm dập dềnh bên đôi bờ sông Lam rốt cuộc cũng bị xé toạc ra không thương tiếc bởi những vệt chớp sáng đầu tiên của một buổi bình minh hốt nhiên, chỏng chỏn. Trời xứ Nghệ khi con thái dương còn chưa kịp bứt mình ra khỏi những tầng mây đục xám ngắt ở chân trời phía đông, đã vội vã phả xuống mặt đất một thứ hơi sương ngai ngái mùi đất cằn rát bỏng, quyện chặt lấy cái thứ nhiệt năng còn đang âm ỉ tích tụ từ những thớ gạch nung đỏ sậm của ngày hôm trước. Cái tĩnh mịch thâm nghiêm của chốn làng quê cằn cỗi ấy còn chưa kịp thở đều trong giấc ngủ vùi, thì đã bị xáo động, dằn vặt bởi những tiếng bước chân giậm đều, dứt khoát và nặng trịch như nện búa trên mặt nền đất nện.
Bên gian nhà ngoài, khi những hạt sương đêm còn đọng lại ma mị trên từng con mắt tre tua tủa của hàng rào dâm bụt, Minh Tiến đã tỉnh giấc từ tự bao giờ. Đêm qua, cái hơi men ngai ngái của bùn non sông Lam cùng thứ gió Lào quật ngược qua rặng tre hắt hủi cái xó nhà nghèo túng không đủ làm chốn qua đêm yên ả cho một gã lính chiến; và chính cái tình người mộc mạc, cái khoé mắt đăm đắm thầm kín của thằng bé Châu Huân đã níu chân gã ở lại dưới mái hiên thưa này.
Giờ đây, gã không còn khoác cái vẻ thong dong, cợt nhả của một kẻ lãng du Bắc kỳ qua đường thích ghẹo người, ghẹo cảnh. Bộ quân phục màu xanh tô-pô bạc phếch dãi dầu nắng mưa, dẫu được gấp liệm gọn gàng dưới đáy chiếc túi vải sờn rách, nay đã được gã khoác lên người một cách phẳng phiêu, chỉnh tề đến kỳ lạ. Từng nếp gấp sắc cạnh trên thớ vải thô ráp ấy như đang gánh gồng cả một cái vạt bụi đường trường ngái ngủ của hàng ngàn cây số hành quân, đè nặng lên một kiếp người từng trải qua lắm bận lằn ranh tử sinh.
Trên chiếc bàn gỗ mộc bên hiên, cuốn sổ tay bìa da trâu nát mép cùng tấm thẻ căn cước quân đội mang con dấu đỏ chói lọi của Tổng cục Chính trị đã được xếp lại cẩn thận, nằm thu gọn bên cạnh chiếc ba lô có đơm vài miếng vá tay bằng chỉ gân thô. Bàn tay to bè, để lộ vết sẹo dài loang lổ tím ngắt chạy dọc cẳng tay thứ vết tích bi tráng của mảnh pháo năm xưa đang miết nhẹ lên mép vai áo, siết chặt lấy từng cái gút dây trang bị.
Bà ngoại tay chống chiếc gậy tre già lên từng bậc đá sứt mẻ, bước ra từ gian nhà khói mù mịt hơi trà. Đôi mắt mờ đục của cụ nheo lại dưới ánh mặt trời sớm mai đang hất những luồng quang phổ sắc lẹm qua kẽ lá. Cụ dừng lại bên cột nhà tro tàn, thở dài một tiếng thật sâu, tiếng thở nghe nặng trịch như mang cả cái nhọc nhằn của một đời người đã chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc chia ly trên đất gian lao này:
— Lại cuốn gói đi đấy hả cái thằng Bắc kỳ nớ? Trưa trật nắng nôi còn chưa tới mà cái chân đã đòi nhảy nhót rứa rồi? Cái giống trai thời chiến bọn mày, đi đến mô cũng chỉ coi đó là cái trạm dừng chân chốc quơ, chẳng chịu cắm sào đậu lại cho mạ nhờ lấy một ngày...
Minh Tiến ngừng tay siết quai ba lô, quay đầu nhìn cụ già với một nụ cười sảng khoái. Nụ cười ấy vẫn vương vất cái chất nghênh ngang của trai phố Bắc, nhưng đằng sau đôi mắt tinh anh lại đọng lại một sự trân trọng đến ngột ngạt:
— Bà cứ khéo đùa! Đời lính bọn cháu sinh ra vốn là để mòn gót giày trên mấy cái cung đường hành quân vượt núi băng sông cơ mà. Cứ bắt ở yên một chỗ là chân tay nó ngứa ngáy chịu sao nổi, hễ cứ nghe tiếng súng tiếng kèn ngoài mặt trận giục giã là thể nào cũng phải xách ba lô lên mà đi ngay. Đợt này trên cấp gấp rút hạ lệnh điều động từ Tổng cục, cháu phải tức tốc quay lại tuyến lửa Trị - Thiên ngay trong sáng nay thôi bà ạ, không thể khất lần thêm lấy một ngày được nữa đâu.
Châu Huân bước ra từ sau bức vách đất. Thiếu niên đứng lặng người ở ngưỡng cửa, nửa thân mình chìm trong bóng tối của gian nhà trong, nửa còn lại hứng trọn cái ánh sáng hanh hao của buổi hốt nhiên hừng đông. Cậu không nói một lời, nhưng đôi mắt sâu thẳm lại chớp nháy liên hồi, đăm đăm nhìn vào tấm lưng rộng bè đang vắt ngang chiếc ba lô nặng trịch của người lính.
Mới trưa ngày hôm qua thôi, Châu Huân còn nhìn gã bằng đôi mắt hằn học, dè chừng của một đứa trẻ mồ côi mang lòng bất mãn với sự đời. Mới ban trưa thôi, cậu còn hờ hững trút nỗi tủi hờn vào rổ đậu khô lạo xạo. Nhưng rồi chén chè xanh chát đắng ngập tràn dư vị ngọt lịm, vết sẹo dài trên cẳng tay gã, và đặc biệt là dải lụa đom đóm dập dềnh lấp lánh bên bờ sông Lam đêm qua đã đập tan cái vỏ bọc xù xì ấy. Người đàn ông lãng du trước mặt cậu không phải kẻ lang thang vô định, mà là một nhịp cầu nối thẳng tâm hồn cậu với người cha đã nằm lại giữa ranh giới sinh tử Quảng Trị.
Châu Huân chầm chậm bước lại gần hiên nhà. Bước chân thiếu niên ngập ngừng trên nền gạch nung đỏ quánh. Cậu nhìn thẳng vào đôi mắt người lính Bắc kỳ, cất giọng cộc lốc nhưng hơi thở đã nghẹn lại ở vòm họng:
— Bộ... đi gấp rứa thật hở anh? Không đợi hết cái đợt nắng tháng Tư ni rồi hẵng hay sao? Sông Lam mùa ni nước đang cạn, đường vô trong nớ bụi mù trời...
— Đời lính tráng bọn tôi quen gói ghém hành trang trong chớp mắt, nhổ neo bất chợt như ngọn cỏ ven sông rồi cậu em ạ. Nhưng lần này rời đi... trong lòng lại thấy lấn cấn lạ thường. — Minh Tiến hạ thấp giọng, nụ cười tếu táo ngày thường nhường chỗ cho một vẻ trầm tư sâu kín. — Ở cái tuổi của cậu, đừng có lúc nào cũng cắm mặt vào mớ hạt đậu lép hay ôm khư khư cái cục hờn tủi với đời. Phải ngẩng cao đầu lên mà nhìn rộng ra ngoài kia. Đất nước mình còn dài, còn rộng lắm, và phía trước... — Minh Tiến đưa tay vỗ nhẹ lên vai Châu Huân, ngón tay vô tình chạm qua vạt áo, ánh mắt nhìn thẳng vào đôi tròng mắt đang ngấn buồn của thiếu niên — ...còn rất nhiều việc đại nghĩa, và cả những đợi chờ đang ở phía trước. Cứ vững vàng mà sống, đợi ngày tôi quay lại, nghe chưa?
Minh Tiến cúi xuống, nhặt một chiếc lá bàng non vừa rụng xuống góc sân gạch. Gã gấp đôi mép lá, đưa lên môi, lấy hơi từ lồng ngực vạm vỡ rồi thổi nhẹ.
Tót... toe... tót...
Âm thanh phát ra từ chiếc lá bàng mỏng manh nghe sao mà lanh lảnh, hoang hoải và rợn ngợp đến thế! Đó không phải là thứ âm điệu êm ả của chốn đô thành đài các, mà là thứ tiếng gọi hoang sơ của đại ngàn, tiếng kèn hành quân vượt qua những đỉnh đèo mây phủ, mang theo cái tráng khí bi hùng của một thế hệ cầm súng dọc chiều dài đất nước.
Bà ngoại tựa lưng vào mép hiên, tay run run nhấc cái bát sứ mẻ, múc một ngụm nước chè xanh đặc sánh còn bốc khói nghi ngút đưa về phía Minh Tiến. Gã lãng du nhếch môi cười, hai tay đỡ lấy bát nước, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch. Cái vị đắng chát xộc thẳng lên vị giác, để rồi đọng lại một chút ngọt hậu nồng nã nơi cuống họng cái hương vị gân guốc của đất đai xứ Nghệ như một lời tiễn biệt thầm lặng nhưng sâu sắc vô cùng.
— Cháo bẹ rau rau đắng lòng, nhưng uống cái thứ chè này vào là sáng mắt sáng lòng ra ngay! — Minh Tiến quăng cái bát về lại chõng tre, quay người bước thẳng ra phía cổng rào tre.
Gã không ngoái đầu lại. Đôi giày vải dù mòn vẹt đế miết xuống lối mòn đầy cát bụi, tạo nên những vệt bụi đỏ ngầu cuốn theo chân gã. Bóng gã in dài ngoằn ngoèo dưới vầng thái dương đang rực cháy trên đỉnh rặng tre làng.
Châu Huân đứng chết sững bên thềm hiên, đôi bàn tay gầy guộc khum lại, bấu chặt đến trắng bệch vào chiếc cụm tre già bên giàn hoa cúc dại. Cậu đờ đẫn nhìn theo cái bóng áo xanh bạc màu đang xa dần, khuất dần giữa bụi đường mịt mờ của con đường cái quan dẫn thốc vô hỏa. Lạ lùng thay, cuộn xoáy trong lồng ngực thiếu niên lúc này không chỉ có nỗi xót xa tê tái, mà là một thứ cảm xúc quái lạ, ngang trái và bấn loạn đến mức không tài nào giải tích nổi, thứ men tình ái cay đắng vừa chớm nở đã bị dứt phăng ra bằng roi vọt của thời cuộc. Giữa cái không gian trống hoắc và hoang lạnh đến rợn ngợp, tiếng kèn lá bàng mỏng manh bỗng vút lên lần cuối từ một góc xa xăm nào đó, lanh lảnh, nức nở rồi xoáy sâu vào tâm can, hóa thành một khúc vĩ thanh đứt ruột, âm ỉ cháy trong tâm trí người thiếu niên xứ Nghệ.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co