6
hôm ấy đi chợ mai về, em đem tấm giấy điều, mực đen thẫm, treo trong phòng mình bên cạnh giường ngủ. tôi bước theo em về gian phòng nhỏ ở góc cuối dãy nhà, không khỏi chậm lại nửa nhịp, sợ làm xô nghiêng cái tĩnh mịch đang lắng đọng trong gian buồng nhỏ. nơi ấy vốn dĩ là chốn em lui tới mỗi độ đêm về, khi trăng lên lửng lơ trên đỉnh ngói rêu phong, hay những buổi trưa hè oi ả, gió lùa qua mái hiên râm ran tiếng chuồn chuồn vỗ cánh.
phòng của tỉnh nam cũng chẳng khác phòng tôi là bao, cũng chiếc giường tre trải chiếu cói kê sát vách, bốn chân giường kê bằng bát sành úp ngược để chống mối mọt, cũng chiếc tủ quần áo lâu chưa quét dầu, song gọn gàng và dễ chịu hơn nhiều. ở góc phòng, có chiếc án thư bằng gỗ mít nâu sẫm, trên bày một chiếc nghiên mực tàu, bút lông dựng ngay ngắn trong ống tre, mấy mảnh giấy dó cuộn lại bằng dải lụa lam và một cuốn sách tiếng pháp cũ, ghi dấu một thời miệt mài đèn sách của em chốn kinh thành huế. tôi liếc mắt, bắt gặp một bài thơ viết bằng chữ quốc ngữ uốn cong như ráng chiều, chẳng biết là em chép lại thơ ai hay là của chính lòng em thổ lộ. một chiếc đèn dầu thấp, thân bằng đồng đã xỉn màu, vẫn còn vương mùi khói loang, hẳn là em vừa dùng tới đêm qua.
phía bên khung cửa nhỏ có song gỗ, một chậu bạch thiên hương nở muộn treo lơ lửng, sắc hoa trắng muốt như nước da em, sáng trong giữa nước nam sương gió. ánh sáng giờ chính ngọ xiên qua, đậu lên một chiếc khăn tay còn dang dở trong khung thêu - từng mũi kim nho nhỏ thêu cánh bướm chấp chới. rổ kim chỉ, cuộn vải màu, cả chiếc kéo sắt cong cong cũng được xếp cẩn thận, khắc họa bàn tay nữ nhi trong phòng này chưa từng buông khỏi nề nếp.
một góc khác là chiếc tráp be bé, trên mặt phủ một mảnh lụa mỏng có thêu hoa văn sóng nước - không phải lối thêu huế, cũng chẳng giống hội an, tôi đoán là của cố hương cha mẹ em để lại. trên tráp đặt một con búp bê gỗ nhật nhỏ nhắn, có lẽ là thứ duy nhất em dám giữ lại từ quê nhà trong bao năm qua, mộc mạc mà vẹn toàn.
tôi chợt lặng người. em - tỉnh nam - sinh ra trong nhà buôn, từng học chữ tây, từng chong đèn soi sách ở huế, mà giờ co người trong một gian buồng chẳng rộng hơn cái sạp hàng, sống với mấy cánh cửa gỗ khép hờ và một khung giường tre. đáng lẽ, em phải được mặc áo lụa đi guốc sơn, ngồi chải tóc trước gương đồng mỗi sớm. nhưng em lại ở đây - vẫn dịu dàng, vẫn tỉ mẩn chăm lo từng thứ trong bối cảnh xã hội đang dần đẩy người ta tới bước đường cùng này - mà không một lời than thở.
có lẽ, từ lúc bước vào phòng em, tôi đã hiểu rõ hơn một điều: có những người con gái, dù sống trong cái khổ cực, vẫn giữ được bốn chữ công dung ngôn hạnh. và giữa thời buổi loạn lạc, cái đẹp ấy - cái đẹp lặng thầm của một người con gái sống bằng đôi tay mình - khiến tôi không khỏi cúi đầu.
thấy tôi im lặng quá lâu, em đánh tiếng:
- chị chê giản dị quá phải không?
tôi giật thót, lại cuống cuồng lên vì sợ biểu cảm của mình đã phiền lòng em, bèn bẻ tay lái thật nhanh cho em đỡ suy nghĩ:
- không phải. tôi vẫn đang luận xem chữ ban sáng em xin có nghĩa là gì. bộ là mật ngữ của các cô thiếu nữ à? nếu vậy tôi cũng phải hiểu chứ.
em đưa ngón trỏ lên khóe môi bán nguyệt, lại làm bộ tinh nghịch mà ngúng nguẩy đôi chút, để những sợi tóc đen tuyền bị nắng xô, nhấp nhánh như kim tuyến trên tấc vải nhà em trưng tủ kính bán cho giới nhà giàu.
- cũng gần đúng. thiếu nữ... mà thương ai, thì chữ ấy treo lên là để mình nhớ. không phải để người ta hỏi.
tôi đứng thừ người ra, cảm giác nôn nao như những ngày lênh đênh trên biển bị sóng đánh cho xây sẩm mặt mày, không biết nên quay đầu là bờ hay tiến bước. giống như trong thơ ca nhật cổ tôi thường đọc suốt ba năm xa cách em, ngẩng đầu lên trời ví sao tựa ánh đèn hoa đăng chờ thời khắc trùng phùng, tôi nhớ nhất hình tượng người con gái thẹn thùng giấu mặt sau tay áo, đêm về viết đôi chừng câu thơ rồi bỏ dở, đều là hàm ý có tình mà không dám thổ lộ. trùng hợp thay, tỉnh nam đã hội tụ đủ những nét ẩn dụ ấy, trở thành người thiếu nữ uyển chuyển kín đáo trong nét bút đang yêu mơ màng của thi nhân xưa.
sự e ấp của em càng tỏ rõ, tôi càng rầu rĩ, bởi sự chắc chắn ai đó đã lọt vào mắt xanh của em đồng nghĩa với việc tôi cũng đã trở thành một thi sĩ đa tình, đem lòng tương tư một người không đoái hoài gì đến tấm thân này. tôi cười gượng, trò chuyện nhát gừng với em thêm dăm ba câu rồi xin cáo lui về phòng nghỉ trưa.
ban trưa xứ hội vẫn nóng như đổ lửa, vẫn khiến tôi trở mình qua lại như những phút giây ngắn ngủi nghỉ trưa khi trông tiệm gốm của cha ngày nào. tôi nhìn về phía cái ba lô to sụ màu xanh lục quân ở góc phòng, thầm nghĩ chắc có lẽ đã đến lúc quay trở về quân đội, tiếp tục hành trình tìm kiếm em trai mình. kiếp này những gì tôi mong cầu đã hóa hiện thực, tôi đã gặp lại người con gái tôi hằng thương nhớ, chỉ tiếc rằng trái tim em đã phủ đầy ánh trăng vàng ai tát nước đổ đi.
nhưng để tiếp tục đi lính, tôi phải biết được tung tích những người đồng đội của mình ở đâu trước đã. tôi nằm trằn trọc thêm một lúc nữa bèn tỉnh dậy, xỏ dép bước ra ngoài cửa hàng hóng gió, vừa hay là lúc tỉnh nam đang cầm chiếc lán nứa đi chợ thường ngày, đựng một ít thức ăn còn đang nghi ngút khói, chắc mẩm em nấu cơm trưa cho người tình. bụng tôi đâm châm chích khó chịu, bèn khịt mũi hỏi:
- em đi đâu giữa trưa nắng thế này?
- em lên trạm xá ghi danh bệnh nhân giùm cha. thấy chị mệt nên em không đánh thức chị. chị có muốn đi cùng em luôn không?
ra rằng người em mến thương đang dưỡng bệnh, thảo nào em có nhiều thời gian bông đùa cùng tôi. lời mời của em như đổ thêm dầu vào lửa, tai mắt tôi nóng ran, tưởng như có thể trở thành cái bếp củi để nhóm cơm mỗi chiều tà. đã vậy, tôi phải đi để xem mặt mũi tên đó khôi ngô tuấn tú tới mức nào, mà có thể lấy được trái tim nữ nhân tài sắc vẹn toàn như em. đây cũng là cơ hội hoàn hảo để tôi nghe ngóng dấu vết của những người anh em thất lạc, nếu được thì sẽ khăn gói rời khỏi nơi này trong nay mai, cho cõi lòng đỡ bề day dứt.
đi chừng mươi phút thì tới trạm xá. trạm xá nằm bên rìa khu phố cổ, gần bến sông, cũng chỉ là một căn nhà ba gian cũ rích đến u hoài. nền đất đầm kỹ, thoảng mùi ẩm thấp của nước thuốc bắc và khói hương trầm, với những chiếc giường bệnh trải chiếu cói thủng lỗ chỗ do ẩm mốc cùng cái gối mây bện tay, lót vải nâu bạc màu.
tuy nghe tiêu điều là thế, trạm xá không bao giờ thật sự vắng người. mùi dầu cù là, mùi cao xoa bóp, xen cùng mùi thuốc bắc đắng chát len lỏi giữa tiếng rên rỉ của bệnh nhân và tiếng bước chân gấp gáp của người nhà. một vài y tá nữ mặc áo bà ba trắng, cổ đeo khăn vải, tóc búi gọn, tay bưng chậu nước sôi đi qua đi lại. những người dân quê tay bế tay bồng, áo nâu sờn vai, chờ được bắt mạch, sắc thuốc. có tiếng ru con, tiếng khấn nhỏ nơi góc tường, tiếng cầu trời lạy phật hòa lẫn tiếng sột soạt của gió từ mái ngói lùa qua khe cửa. nghe tiếng chày giã thuốc lóc cóc sau vách, xen lẫn tiếng bà cụ nào đó đang kể chuyện dân gian cho đứa trẻ nhỏ vừa sốt hạ hay tiếng leng keng của cái chuông cửa, báo hiệu có thêm một người lính mới bị thương được đưa đến, tôi rùng mình.
nhìn tỉnh nam chào hỏi những y sĩ, tôi cũng gật gù như gà mắc tóc mà chào theo, lòng thắc mắc không biết họ có nhớ tôi là người được em cứu ra ngoài hay không. lòng khấp khởi tò mò, tôi bước theo em tới gian cuối của trạm xá, chờ giây phút "diện kiến" người tình giấu mặt.
nhưng điều khiến tôi bất ngờ là, người ấy không những cũng là một cô gái, mà còn là... một đứa trẻ con.
nói trẻ con thì chưa đúng hẳn, chắc con bé rơi vào độ tuổi tầm mười bốn mười lăm, độ tuổi chiều cao đang bắt đầu chững lại, nước da bắt đầu hồng hào, ngũ quan bắt đầu hài hòa. nhưng giữa cảnh khốn khó thời chiến loạn, sắc mặt của nó vẫn cứ vàng vọt thảm thương, nhất là khi còn đang nằm chết dí trên giường bệnh. ấy vậy, dáng người con bé nom thanh mảnh, chân dài gần chạm tới đáy giường.
thấy người lạ, nó trố mắt, không nói không rằng, nhìn tỉnh nam như đang chờ lời giải thích:
- đây là chị tỉnh đào, bạn học cũ của chị từ thời ở huế. chị ấy thay cha mẹ đi buôn gốm chẳng may trúng đạn của quân nhật, nên về tạm nhà chị dưỡng thương một thời gian.
con bé gật gù, quay sang tôi, mỉm cười thay cho lời chào hỏi. nét mặt nó xinh xắn, hiền khô, làm tôi có chút tội lỗi vì lúc nãy đã chửi rủa nó. tỉnh nam tiếp tục:
- còn đây là tử du, năm nay mười bốn tuổi, là con của gia đình thương nhân gốc hoa. chị có nhớ lễ hội thả đèn hoa đăng ở đây không? nhà tử du là thợ làm đèn giấy, có khi chị đã từng thả đèn nhà con bé rồi cũng nên.
tôi "ồ" lên một tiếng, cười lại với tử du rồi nhìn tỉnh nam đem chén thức ăn còn ấm đưa cho con bé.
- cháo hành đấy, em ăn đi, mấy hôm nữa khỏi hẳn thì được về nhà với ông bà. lúc đó chị sẽ sang gấp đèn với em.
- chị nam hứa đó nha.
- rồi, chị hứa.
hai chị em trao nhau cái móc ngoéo thì tử du mới chịu ăn. con bé cũng múc từng thìa thật nhỏ, run run suýt mấy lần làm rớt cháo ra khỏi tô, giống tôi hồi mới tỉnh. tỉnh nam kiên nhẫn ngồi đợi con bé ăn chút một chút một, nhìn nó trìu mến, thi thoảng còn động viên nếu con bé có dấu hiệu bỏ mứa tô cháo đang dần vữa ra.
nhưng cách tỉnh nam nhìn tôi và tử du không giống nhau, chí ít là tôi cảm thấy thế. tỉnh nam nhìn tử du giống như một người chị ruột, bao dung, thương yêu những sự vụng về của con bé có phần vỗ về, tựa mặt trời sưởi ấm vạn vật trong cõi cơ hàn. còn những khi em nhìn tôi, đôi mắt em lại giống mặt trăng đổ xuống sông hoài, vằng vặc kết trái cho nỗi niềm nhân thế. tôi sẽ chỉ thấy mặt trời ấm áp, nhưng lại muốn hiểu được bóng trăng đang nói gì sau từng gợn sóng hoài giang thăm thẳm, dù cho có phải tát cạn giang sơn.
tỉnh nam để tôi ngồi chơi với tử du buổi chiều hôm đó trong lúc em phụ cha ghi danh thương binh. tử du không chia sẻ gì về mình nhiều, nhưng lại rất muốn biết về tôi, và về quãng thời gian tôi với tỉnh nam là bạn học. và sau khi vỡ lẽ ra nó là đứa em cưng của tỉnh nam, tôi không còn cách nào khác ngoài bịa ra một đống câu chuyện và ghép chúng lại với nhau sao cho ăn khớp nhất có thể. nào là chữ tôi xấu nhất lớp, chữ tỉnh nam đẹp nhất trường, tỉnh nam luôn đứng đầu môn tiếng pháp, hay tôi thường xuyên đi muộn bị phạt đứng ngoài cửa lớp. chắc trong trí óc đương mới lớn của con bé, như thế là quá nhiều thông tin về một thế giới mới, thế giới của tri thức và những hoài bão tuổi trẻ. gương mặt hiền lành của con bé sáng lên những ước mơ, và tôi đã nghĩ rằng có lẽ nó chỉ đơn thuần quan tâm tới việc đi học, được biết tới con chữ, được gần bạn bè thầy cô, điều mà ở hoàn cảnh của nó bây giờ là hoàn toàn không thể.
ấy thế mà tự nhiên nó bảo:
- đúng là em tò mò về việc đi học, nhưng em tò mò về chị hơn.
- chị ư? tại sao?
- vì chị là người bạn đầu tiên chị tỉnh nam có, hoặc có thể là duy nhất từ khi em về đây. trước giờ, chị tỉnh nam chỉ chơi với trẻ con thôi.
đó cũng là những câu đối thoại cuối cùng trước khi tỉnh nam xong việc và chúng tôi trở về nhà. em vẫn vậy, không tỏ ra có gì quá đặc biệt, nhưng tôi, không những không có tung tích gì về đồng đội, mà còn phải đi ngủ với hai nỗi băn khoăn: ai là người em đang để mắt tới, và tại sao tử du lại nói như vậy.
có lẽ, tôi sẽ phải lưu lại thêm xứ hội thêm một thời gian nữa rồi.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co