Ba.
Tôi thường đến lớp rất sớm. Tôi thích đứng bên khung cửa sổ cũ kỹ của lớp học, nơi nhìn ra phía sau trường. Gọi là "sân sau" cho oai vậy thôi, chứ thực ra chỉ là một khoảng đất hẹp, được rào lại bằng hàng kẽm gai cũ xỉn như để đề phòng ai đó rớt xuống...
Ở đó có mấy cây bần mọc lẻ loi, phía sau là những mái nhà lúp xúp nghèo nàn. Tôi hay thấy vài đứa nhóc trạc tuổi tôi, đen nhẻm, áo quần lấm lem, chạy nhảy lăng xăng, cười la om sòm như chẳng bao giờ biết buồn là gì.
Nhưng cái tuổi thơ hồn nhiên đó của tôi đã khép lại rất nhanh vào một buổi chiều mẹ tôi đổ bệnh.
Tôi chẳng biết mẹ bệnh gì. Chỉ thấy bà không còn ngồi bên khung nón như mọi ngày. Mẹ nằm dài trong căn phòng nhỏ, mặt xanh xao, tay yếu ớt. Tôi cứ nghĩ mẹ chỉ cảm xoàng như mọi lần, nằm nghỉ vài bữa là khỏi.
"Mẹ, mẹ mệt lắm hả mẹ? Mẹ đau nhiều lắm à?"
Mẹ tôi húng hắng ho, cố nở nụ cười trên đôi môi héo hắt một màu tím nhạt:
"Không sao đâu con à, vài hôm nữa mẹ lành thôi. Con hãy chơi gần gần quanh nhà, lỡ mẹ có gọi thì con về ngay nhé"
"Dạ"
Thấy không có ai sai bảo việc gì, tôi lại tót ra ngoài vườn chơi với đám bạn. Trẻ con mà, vô lo. Ít lâu sau, tôi nhận thấy cha tôi vắng nhà nhiều hơn mọi khi. Tối đến, cha cầm về một ôm gói thuốc bắc. Nước mắt chạy vòng quanh mi, cha ngắm mẹ tôi ngủ.
"Hải Lân ơi..."
"Dạ"
"Con đừng đi chơi xa nhé!"
"Dạ"
"Con đừng trèo cây, lội sông nhiều... nguy hiểm"
"Dạ"
"Con ... con phải vâng lời cha nhé"
"Dạ"
Tôi liếc nhìn gương mặt nhòe nước mắt của mẹ. Lạ chưa? Tại sao mẹ lại khóc? Sao mẹ cứ ưa dặn dò hàng trăm lần những điều cũ rích? tôi lơ đễnh nghe mẹ khó nhọc nói tiếp:
"Nếu cha có vợ, con phải biết vâng lời mẹ kế. Ðừng chọc giận bả, bả đánh con đau lắm, con nhé!"
Tôi quên cả dạ vì lời dặn dò quá lạ lùng. Tôi nhìn đăm đăm vào đôi mắt nhợt nhạt của mẹ vẫn không thôi những lời nghẹn ngào:
"Mẹ ... chết... chết rồi, con đừng khóc nhiều, đừng buồn... buồn nhiều nghe con"
Tôi hiểu rồi. Mẹ tôi sắp bỏ tôi mà đi mãi mãi. Quì thụp xuống bên giường, ôm chặt lấy người mẹ, tôi rướn cổ lên, gào thật lớn:
"Mẹ! mẹ ơi! Mẹ đừng chết! Ðừng chết! Con không thích đâu, mẹ không được chết. Mẹ ơi..."
Thôi rồi, mẹ đi mất rồi! Như một tên điên cuồn tí hon, tôi vừa hét vừa đá lia lịa vào chiếc hồm làm như nó muốn bung nắp ra
"Không, không! Mẹ chưa chết! Mẹ còn mở mắt, mẹ còn sống mà. Sao nhốt mẹ trong cái thùng này. Mở ra, mở ra! Mẹ ngộp thở mất, mẹ ngộp rồi mẹ chết thật cho coi. Mở ra! Mở ra!"
Tôi nghe cha tôi kêu lên khàn khàn:
"Mình ơi, tội con quá mình ơi!..."
Tôi không la hét được nữa vì mệt lừ người. Qua đôi mắt nhạt nhòa nước, tôi mờ mờ thấy ánh nến lập lòe cùng chiếc hòm được nhiều người để trên vai từ từ đưa đi. Ðầu óc tôi giờ đây đã ù đặc, váng vất, đôi chân tôi kéo lệt xệt theo bàn tay lôi đi của ai đó.
Tuy vậy, tiếng kèn ò e, ò e vui tai làm tôi nguôi ngoai. Tôi dụi mắt thật kỹ, nhìn tới trước mặt. Chao! Ðông thiệt đông! Người đi theo sau chiếc hòm mẹ tôi lặng lẽ với nước mắt chảy dài. Toàn là những người quen trong xóm.
Cha tôi, từ ngày mẹ tôi mất, ông càng ít ở nhà hơn, ít chú ý đến tôi, nhưng tôi không thiếu người săn sóc chu đáo. Những người hàng xóm tốt bụng đối xử với tôi rất gượng nhẹ, dành cho tôi mọi ưu đãi, y như rằng dưới con mắt họ, một đứa trẻ con như tôi, đã sớm mất mẹ thì sẽ như chiếc bình thủy tinh dễ vỡ, nhỡ mạnh tay một tí, nó sẽ tan tành ngay. Nhưng người thương yêu tôi hơn cả, xem chẳng khác ruột thịt, đó là chị Tuệ.
Tôi không biết vì sao chị biết được nhà tôi. Có thể là do Trí hoặc Hân đã kể. Cũng có thể... do chị tự tìm tới. Chị luôn có cái cách lặng lẽ bước vào cuộc đời người khác như thế, dịu dàng như một vạt nắng chiều, không báo trước.
"Ầu ơi... trưa buồn chim ngủ bên sông,
Chị thương em bé, hát lòng mênh mông"
Chị hát không hay. Giọng chị mảnh như tơ, đôi chỗ lại khàn khàn như sợi dây đàn cũ bị nới lỏng. Nhưng tôi lại thích lắm. Mỗi khi chị hát, tôi như nghe thấy gió trưa thổi qua bờ ruộng, nghe cả tiếng mẹ tôi từ một nơi nào đó rất xa, đang vỗ về tôi bằng những lời ru êm đềm.
"Chị ơi... Cha em lấy người khác rồi, bà ấy ác lắm, hay xui cha đánh em!"
Chị Tuệ ôm tôi vào lòng, tay nhẹ nhàng vuốt lưng tôi như vỗ về một chiếc lá đang run:
"Hải Lân ngoan, không khóc..."
Chị không hỏi vì sao. Cũng không trách móc hay giảng giải đạo lý. Cái ôm lặng lẽ ấy, cái ôm mà tôi đã thiếu vắng từ ngày mẹ mất, khiến lòng tôi mềm ra, như mặt đất sau một cơn mưa đầu mùa.
Vậy mà, đau xót thay, mỗi lúc trong lòng dậy lên một nỗi khát khao như thế, tôi lại phải học cách xua đuổi nó đi, dập tắt nó như người ta dập tàn lửa. Tôi luôn tự nhắc mình: "Tôi chỉ là một đứa trẻ mồ côi. Không còn ai ruột thịt, không còn ai thân yêu trên cõi đời này"
Không! Tôi vẫn còn một người cha đấy chứ. Nhưng chính sự thờ ơ và những trận đòn roi của ông đã giết chết cái gọi là tình phụ tử trong tôi, kể từ dạo ấy.
Từ hôm mẹ tôi mất, bỗng dưng, tôi cảm thấy không còn thích ở trong căn nhà này nữa.
Có hôm, ngồi một mình trong ngôi nhà vắng lặng tôi nhìn quanh quất, lẩn thẩn kiểm điểm xem có vật gì trong nhà này còn thuộc về mẹ không. Không có gì cả, ngoại trừ chiếc bàn thờ đơn giản chưng bức ảnh mẹ tôi, một bát hương, hai chân đèn cùng bột lư nhỏ bằng đồng.
Kia là bộ bàn ăn, nơi mẹ tôi vẩn ngồi bên tôi và đầu bàn, cha tôi thường chống đũa trong bữa ăn, tươi cười ngắm hai mẹ con tôi đùn nhau một dĩa đồ ăn ngon lành. Thật là một gia đình đầm ấm. Giờ đây thì còn đâu nữa? Chỗ mẹ tôi, dì ghẻ đã thế vào.
Nào là tấm phản gỗ nặng chình chịch và láng bóng như gương ngày trước dùng làm chỗ ngủ cho khách khưá, nay là chỗ tôi nằm một mình rộng thênh thang. Tôi không còn được ngủ trong buồng kia, nó đã thuộc quyền sử dụng của dì ghẻ tôi.
Vì thế mà tôi thường xuyên ghé sang nhà chị, đến nỗi nó thành một thói quen khó bỏ. Và lạ thay, lần nào tôi đến, chị cũng bước ra mở cửa ngay, như thể đã đợi tôi từ rất lâu rồi.
"Chị ơi... em ước gì mẹ em vẫn còn sống."
"Chị cũng từng ước như vậy."
"Rồi chị có còn ước nữa không?"
Chị Tuệ ngẩng lên nhìn mấy chùm hoa giấy đang đong đưa trước gió, khẽ lắc đầu:
"Không. Giờ thì chị chỉ mong mình sống tốt, để nếu mẹ nhìn xuống, mẹ sẽ thấy nhẹ lòng"
Tôi ngồi im, không nói gì nữa. Bỗng dưng tôi thấy cổ họng mình nghẹn lại như có cái gì đó chặn ngang.
"Chị ơi... nếu một ngày chị không còn ở đây nữa thì sao?"
Câu hỏi bật ra mà chính tôi cũng ngạc nhiên. Nó như một hạt bụi vương vào mi mắt, chẳng đáng gì, nhưng lại khiến tôi rưng rưng. Chị nhìn tôi, đôi mắt không buồn mà cũng chẳng vui:
"Thì em sẽ lớn lên, sẽ tự biết lau nước mắt cho mình, rồi sẽ có lúc em tự thấy rằng... hóa ra mình mạnh mẽ hơn mình tưởng"
Tôi không biết mình có thể mạnh mẽ như chị hay không. Tôi chỉ biết, nếu một ngày nào đó, tôi gõ cửa mà không thấy chị ra mở, tôi sẽ lạc lõng lắm.
"Ê! Lân! Lân!" Trí gọi giật từ sau lưng.
"Dề?"
"Tao thấy mày hay sang nhà chị Tuệ lắm"
"Thì sao?"
"Bộ người ta không thấy phiền hả?"
Tôi đỏ mặt, lườm nó:
"Người ta chưa đuổi là biết chưa phiền"
"Chà, gan dữ! Mai mốt chị ấy cho cái bánh cưới thì nhớ chia tao một miếng nha!"
Tôi chưa kịp đáp, Hân ở đâu lù lù xuất hiện sau gốc cây phượng, giọng tỉnh bơ như đã nghe trọn cuộc trò chuyện:
"Bánh cưới mà chia mày thì chắc tan banh trước khi tới miệng!"
Trí quay ngoắt lại, há hốc mồm:
"Trời đất, mày rình tụi tao đó hả?"
Hân nhún vai, tay cầm cái bánh mì ổ cắn dở:
"Tao đi ngang, tai nghe chứ có rình gì đâu. Mà... mày nói cũng đúng. Lân dạo này lạ lắm nha. Mắt lúc nào cũng như gắn lò xo, chỉ cần ai nhắc tới chị Tuệ là búng cái bật lên liền"
Tôi vừa tức vừa mắc cỡ, lúng búng:
"Tụi bay rảnh ghê! Tao qua chơi chứ bộ... với lại chị ấy cũng quý tao..."
Trí ôm bụng cười lăn:
"Trời ơi nghe chưa, 'chị ấy cũng quý tao'! Trời đánh tránh miệng khen mình luôn đó Lân!"
Tôi đỏ mặt, gắt nhẹ:
"Tụi bay thôi đi! Nói chuyện kiểu đó hoài tao không chơi nữa!"
Trí giả bộ hốt hoảng:
"Đừng đừng! Đừng giận! Không chơi với mày thì còn ai dẫn đi uống trà sữa, ai lấy kẹo của chị Tuệ cho tụi tao ăn?"
Hân gật đầu cái rụp:
"Ờ ha. Với lại... chị Tuệ hiền quá trời. Bữa thấy mày ngủ gục ngoài hiên, chị còn lấy khăn đắp cho nữa. Tao mà là chị, chắc đã cột mày vào cột nhà cho khỏi lần sau tới nữa"
Tôi gãi đầu, vừa quê vừa vui. Ừ thì... tụi nó có nói gì đi nữa, tôi cũng chẳng giận nổi.
Chiều thứ bảy, trời bỗng nắng gắt như thể ông mặt trời giận ai đó mà trút giận lên đầu bọn tôi. Giàn hoa giấy bên nhà chị Tuệ bắt đầu rụng những cánh đầu tiên, mỏng như khói, bay lượn rồi đáp xuống sân nhẹ như tro bụi.
Tôi ghé qua nhà chị sớm, tay cầm hai ly trà sữa mua từ cái tiệm nhỏ gần bưu điện. Cái quán nhìn bé tí, chật chội, lúc nào cũng có người xếp hàng, vậy mà làm món trà sữa thạch trái cây ngon đến mức tôi với đám bạn chẳng ai chê được câu nào.
Tôi đặt ly trà trà sữa lên cái bàn gỗ quen thuộc ngoài hiên:
"Tặng chị. Em không lấy tiền đâu"
Chị nhìn tôi:
"Vậy lấy gì?"
Tôi gãi đầu, không trả lời. Chị cười. Lần đầu tiên, tôi thấy chị cười dài hơn mười giây.
"Hồi chị bằng tuổi em, chị cũng có một người bạn ngồi cùng bàn," chị nói, tay khuấy ly trà, "ngốc ngốc giống em, cũng hay giả bộ làm rơi bút để người ta cúi xuống nhặt giùm."
Tôi tròn mắt:
"Rồi sao nữa?"
"Rồi... người đó chuyển đi. Không nói gì. Không hẹn. Không thư. Không cả một lời từ biệt. Mỗi lần chị nhìn thấy ai đó đứng đợi ai dưới mưa, chị lại thấy giống mình ngày xưa. Mà cũng thấy buồn cười"
Tôi chống cằm nhìn chị, lòng cứ thấy ngứa ngứa như có kiến bò ngang ngực. Chị kể chuyện mà mặt cứ thản nhiên như đang kể một giấc mơ cũ, trong khi tôi thì thấy tim mình đập không đúng nhịp từ lúc chị nói câu "giống em".
Tôi ấp úng:
"Vậy... chị có buồn không?"
Chị mỉm cười, nhưng lần này là kiểu cười gọn lỏn như một nốt nhạc ngắn ngủi:
"Hồi đó thì buồn. Giờ thì hết rồi. Mình đâu thể buồn mãi được, phải không?"
Tôi gật đầu, dù trong lòng hơi tiếc. Giá mà chị còn buồn một chút, chắc tôi có cớ để an ủi.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co