Chương 19
Khi nước hồ ập vào mũi miệng, Henry không thể không nghĩ tới đêm của mười năm trước.
Đó là đêm hạnh phúc nhất từ khi anh chào đời, cũng là đêm đau đớn nhất từ khi anh chào đời. Anh nhớ ánh mắt kích động của Alex, nhớ thứ tình yêu khiến anh chỉ biết né tránh, cũng nhớ lúc ấy mình đã mang theo sự tuyệt vọng thân thiết đến mức nào mà nhảy xuống hồ.
Hôm ấy là ngày hè đậm ý vị, vậy nên nước hồ của đêm đó vốn nên ấm hơn rất nhiều so với tối nay, không phải sao?
Nhưng lần này, nước hồ lạnh lẽo lại giống như tử cung của mẹ, dịu dàng đến cực điểm mà bao bọc lấy anh.
Giống như đang nhân từ tiễn đưa anh, đẩy anh bước sang một đoạn đời hoàn toàn mới.
Không biết đã qua bao lâu, Henry mới chậm rãi mở mắt.
Giống như mọi bệnh nhân tỉnh lại sau trạng thái gây mê sâu, anh mất chừng một phút mới khiến suy nghĩ của mình đông đặc trở lại:
Thứ đầu tiên hiện vào tầm mắt là trần nhà cao, chiếc giường lớn nạm vàng kiểu Baroque, căn phòng lạnh lẽo mà xa hoa, nơi đã giam cầm anh gần nửa đời người, lại không có lấy một chỗ nào được chính tay anh bày biện.
Không còn nghi ngờ gì nữa, đây đương nhiên là nơi anh quen thuộc nhất.
Cung điện Kensington.
Được rồi, chỉ có thể là cung Kensington, anh không nghĩ ra mình còn có thể ở nơi nào khác.
Anh đoán không sai: lúc trước anh đã trốn khỏi vận mệnh bằng cách nào, thì bây giờ cũng phải trở về với vận mệnh bằng cách ấy. Mặt hồ đó là nơi nối liền hai thế giới. Một giây trước anh còn ở dưới ánh trăng Austin cảm nhận nhiệt độ cơ thể của Alex đang ngấm vào mình, thì giây tiếp theo mọi thứ trở lại vị trí cũ, anh tỉnh lại trong một buổi sáng London.
Đồng hồ chỉ mười giờ mười lăm phút sáng. Vẫn là đầu tháng Ba, thậm chí còn là đúng cùng một ngày với hôm anh tỉnh dậy trong căn biệt thự bên hồ ở Austin.
Henry lập tức hiểu ra, cuối cùng mình đã trở lại.
Hoặc nói đúng hơn, anh thật sự từng rời đi sao?
... Những gì anh trải qua, chân thật đến không tưởng, lẽ nào chỉ là một giấc mơ?
Hôm nay London hiếm hoi có thời tiết không tệ. Henry bước xuống giường, kéo tấm rèm nhung dày nặng ra để thả ánh mặt trời nhợt nhạt từ ngoài vào. Từ bên cửa sổ nhìn xuống, anh có thể thấy những người làm vườn của Kensington cung đang ngày qua ngày cắt tỉa cây cối thành những hình học khắc nghiệt. Mọi thứ đều giống như trước kia, không có bất kỳ thay đổi nào.
Thế nhưng, theo những ký ức về Alex sống lại, anh cũng đồng thời nhớ ra một vài câu chuyện hiếm hoi mang hương thơm từng diễn ra trong căn phòng này. Ví dụ như năm đó sau khi họ xem Wimbledon mở rộng trở về, họ từng lãng phí vài tiếng đồng hồ ở đây vào những chuyện hoàn toàn vô nghĩa. Anh chơi đàn cho Alex nghe, khoe khoang mình bác học đến mức nào. Một tên người Mỹ vô tri thì làm sao phân biệt được Liszt, Wagner với Scriabin chứ? Dù là Đại học Georgetown hay Đại học New York cũng đâu có dạy cậu mấy thứ này, cho nên dáng vẻ Alex cố gắng không để mình lộ vẻ dốt nát trong mắt Henry liền trở nên đáng yêu đến lạ. Còn quãng thời gian sau đó thì bị họ tiêu sạch vào chuyện làm tình, từ ghế sofa cho tới chiếc giường lớn hoa lệ đến mức khiến người ta không chịu nổi. Khi ấy ánh mắt Alex nhìn anh đã là một dạng quấn quýt đặc sệt như mật đường, cho dù họ vẫn luôn nhấn mạnh rằng mối tình này sẽ không làm thay đổi bản chất mối quan hệ giữa họ.
Henry đột nhiên không nghĩ ra nổi, suốt mười năm qua anh đã làm sao để vừa tự lăng trì mình, vừa làm như không thấy sự thật rằng Alex yêu anh sâu đậm đến vậy, hoặc từng yêu anh sâu đậm đến vậy.
Anh khó mà miêu tả cảm giác tắc nghẹn trong ngực, như thể trong phần thịt mềm bỗng có thứ gì đó cứng lại và bị anh chạm trúng. Anh biết mình vẫn chưa dám tùy tiện nhổ nó ra. Nhưng ít nhất, cuối cùng anh cũng biết cảm giác khó chịu ấy đến từ đâu.
Và chính vì thế, bất kể đó có phải là một giấc mơ hay không, điều Henry có thể chắc chắn là lúc này đây, anh đang phát điên vì nhớ Alex.
Anh thử đăng nhập mạng xã hội, phát hiện dòng tweet mới nhất của Alex dừng lại ở sáu ngày trước, khi ấy cậu đang thay mặt Texas đến Tennessee tham dự một hội nghị. Anh lại tìm tin tức liên quan, mới thấy rằng ngài Claremont-Diaz hiện đang là một thành viên trong đoàn đại biểu Thượng viện đang công du Pháp, mà hôm nay chính là ngày cuối cùng trong chuyến đi ấy, ngày mai họ sẽ lên đường trở về Hoa Kỳ.
Alex lúc này chỉ cách anh một múi giờ.
Sự thật ấy khiến Henry gần như không thể chịu nổi. Có lẽ anh lập tức có thể...
Nhưng ngay lúc ấy, tiếng gõ cửa đều đặn vang lên, rồi Shaan đẩy cửa bước vào.
“Điện hạ, chào buổi sáng.” Vị quản gia ấy vẫn điềm tĩnh và chỉn chu như nhiều năm nay. “Xin cho phép tôi nhắc ngài, chiều nay ngài có một cuộc gặp với tiểu thư Harold, e rằng nên chuẩn bị sớm.”
“Harold?” Henry mờ mịt hỏi lại.
“Tiểu thư Sophia Harold, con gái của Bá tước Lancashire, mẹ cô ấy là một nữ doanh nhân và nhà từ thiện nổi tiếng.”
Ký ức của Henry dần quay lại. Trước khi bắt đầu chuyến du hành thời gian quỷ dị này, vào bữa cơm gia đình tối hôm trước, Mary nữ vương quả thật đã nhân cơ hội nhắc tới vị tiểu thư Harold ấy. Bà miêu tả cô là một quý cô biết điều, mà kiểu miêu tả ấy, đối với Henry, gần như đồng nghĩa với nhạt nhẽo.
Nhưng khi đó, cho dù thế nào, anh cũng chẳng mấy bận tâm chuyện sắp phải gặp cô. Chẳng qua lại thêm một cuộc hẹn không đi tới đâu mà thôi, một bữa ăn, một ly cà phê, anh vốn rất giỏi ứng phó những chuyện này. Suốt mười năm qua, anh cũng vẫn luôn chỉ ứng phó như thế, đã sớm biết nghe lời đến mức thành thói quen.
Nhưng bây giờ, anh bỗng từ tận đáy lòng mà cảm thấy chán ghét tất cả những thứ đó.
“Ồ, tôi nhớ rồi, lại một cuộc xem mắt hoàn toàn vô nghĩa do Cung điện Buckingham sắp xếp.” Henry nhắc lại với vẻ chán ghét.
Rồi ánh mắt anh chợt thay đổi. Đó là một kiểu tỉnh ngộ rất khó diễn tả, sâu hơn, triệt để hơn. Anh kiên quyết từ chối: “Không, tôi sẽ không đi.”
“Điện hạ?” Shaan lộ ra vẻ ngạc nhiên.
“Shaan, tôi cần anh giúp tôi xin yết kiến tổ mẫu,” Henry nói. “Tôi phải gặp bà, càng sớm càng tốt.”
Vì thế ba tiếng sau, Henry như nguyện gặp được Mary, trong căn phòng khách màu xanh nhạt mà anh quen thuộc nhất ở Cung điện Buckingham.
Ngày mai nữ vương sẽ lên đường công du Trung Quốc, lúc này bà đang ngồi trên ghế tựa xử lý công vụ. Và lần này, Henry có thể chắc chắn đây đúng là nữ vương bệ hạ đã tồn tại trong ký ức anh suốt mười năm qua. Ánh mắt bà vẫn luôn như mắt chim ưng, cho dù đã già đi nhưng vẫn lóe lên thứ ánh sáng sắc lạnh tuyệt đối.
Thế nhưng trước mắt Henry lại hiện lên một cảnh tượng ở thế giới kia: Mary và Catherine ngồi sau bàn làm việc, giấy tờ như tuyết rơi sắp vùi lấp họ, nhưng giữa họ luôn có sự bàn bạc và trao đổi. Anh hành lễ với Mary, gọi bà là nữ vương bệ hạ, còn bà chỉ ngẩng đầu lên khỏi chiếc ghế bành to đến mức gần như nuốt trọn cả người mình, không bộc lộ cảm xúc gì mà nói với anh: “Con vẫn nên gọi ta là bà ngoại đi.”
Anh luôn cảm thấy nữ vương như thế mới là tồn tại chân thật, là bà ngoại của anh, chứ không phải một cỗ máy chính sự lạnh băng. Phải biết rằng hồi nhỏ bà cũng từng nắm tay anh và Beatrice. Hai chị em nhà Fox nhỏ tuổi cứ một trái một phải mà đi cùng bà dạo trên quảng trường tượng đài, để mặc từng đàn bồ câu trắng dang cánh lượn qua trên đầu họ.
“Henry, nói ngắn gọn thôi, ta còn rất nhiều việc quan trọng phải xử lý.” Mary không ngẩng đầu nói. “Vừa rồi ta nghe nói con đã từ chối gặp tiểu thư Harold?”
“Đúng vậy, bà ngoại,” Henry chậm rãi đáp, cố để từng từ mình nói ra đều vang lên rắn rỏi, “con không muốn.”
“Ồ, con không muốn.” Nữ vương chẳng hề để tâm mà nhắc lại. “Thật hiếm có. Mấy năm qua con vẫn luôn biểu hiện rất tốt.”
“Chẳng lẽ ngài không biết vì sao sao?” Henry hỏi.
Tạ ơn Chúa, có lẽ vì câu hỏi ấy chứa quá nhiều hàm ý, Mary nữ vương cuối cùng cũng hạ cố nhấc mí mắt lên.
Bà nhìn Henry đầy ẩn ý: “Đứa trẻ thân yêu của ta, rốt cuộc con muốn nói điều gì?”
Lại là cái kiểu đó, cái giọng đó, cái ánh mắt đó. Suốt mười năm qua, Henry thật sự sợ hãi thái độ như hiểu rõ tất cả ấy của bà. Chỉ cần bị bà nhìn như vậy, lòng bàn tay anh sẽ bất giác đẫm mồ hôi, mà giờ phút này cũng không ngoại lệ.
Nhưng lần này, anh không trốn tránh, cũng không né đi ánh mắt của bà.
Henry siết chặt lòng bàn tay, hít sâu một hơi dài, rồi trịnh trọng nói bằng giọng chắc chắn như đang kể lại chuyện trái đất xoay quanh mặt trời: “Bà ngoại, con nghĩ con cần chính thức nói rõ với ngài rằng trên thực tế con là một người đồng tính hoàn toàn, triệt để. Con không nên tiếp tục gặp những cô gái ấy nữa, không nên tiếp tục duy trì cái vẻ giả dối rằng con là người dị tính. Suốt mấy năm qua, đúng như ngài nói, con vẫn luôn ‘rất tốt’, và chính vì vậy con tin rằng vì sự yếu đuối của mình mà con đã làm tổn thương đủ nhiều người rồi. Con không muốn tiếp tục như vậy nữa.”
“Ồ, đồng tính luyến ái.” Mary không mấy bận tâm đặt cây bút máy trong tay xuống, đan hai tay trước ngực. “Dĩ nhiên ta biết con là người đồng tính, hơn nữa biết từ rất lâu rồi. Nhưng Henry, con phải hiểu rằng con yêu đàn ông hay đàn bà, đối với ta mà nói không quan trọng, đối với đất nước này mà nói cũng hoàn toàn không quan trọng.”
“Nhưng với con thì quan trọng.” Henry nói. “Nó quyết định con có thể trở thành chính mình hay không.”
Nữ vương khựng lại một chút, nheo mắt: “Henry, ta không biết vì sao hôm nay con lại nói với ta những lời đại nghịch bất đạo như vậy.”
Trong tòa cung điện nơi vô số linh hồn tổ tiên vẫn như còn quanh quẩn này, họ lặng lẽ giằng co. Một vệt nắng mảnh lọt ra từ sau tấm rèm nhung nặng nề, dát lên mái tóc trắng bạc của nữ vương. Bà đã để kiểu tóc bob ấy suốt bao năm như một ngày, khiến đường nét nghiêng của bà luôn mang vẻ lạnh lùng vô tình. Nó kéo giãn khoảng cách giữa bà và tất cả thành viên của gia tộc Windsor, biến bà thành một vị quân chủ nhiều hơn là người thân. Bà cũng luôn dùng uy quyền của một quân chủ để trấn áp mọi người.
Nhưng Henry nghĩ, lần này anh tuyệt đối sẽ không khuất phục.
“Đúng vậy, con chính là ngỗ nghịch như thế. Có lẽ ngài có thể chọn nhốt con lại, nhốt vào bất cứ căn phòng nào trong năm trăm căn phòng của tòa cung điện này, để từ nay về sau không ai có thể tìm thấy con, rồi phát một bản cáo phó nói rằng con đã chết.” Henry đứng thẳng lưng, thậm chí còn ngẩng cao cằm. “Nhưng nếu ngài không làm vậy, thì con sẽ không bao giờ tiếp tục làm những điều mà ngài muốn con làm nữa. Con thà chết cũng sẽ không sống như trước đây.”
“… Henry, tùy hứng là chuyện không thể chấp nhận.” Trong giọng nữ vương đã thấp thoáng lộ ra tức giận.
Bà đã ngoài chín mươi, đôi tay khô gầy, khuôn mặt hóp lại và sắc bén, mỗi chỗ đều cho thấy bà đã già đến không thể già hơn. Thế nhưng bà vẫn nghiêm cẩn như cũ. Bà đã hiến dâng cả đời cho nước Anh, biến bản thân thành một chiếc khuy măng-sét lấp lánh, ghim chặt trên cổ tay áo của bộ lễ phục dạ hội mang tên vương quốc, vì vậy cũng đòi hỏi huyết mạch của mình phải bước theo bà. Điều đó vốn dĩ là đương nhiên, chẳng phải sao?
Chỉ là Henry lúc này trông vẫn không hề e sợ: “Đây không phải là tùy hứng, bà ngoại. Con vẫn sẵn lòng cống hiến cho đất nước, vẫn sẵn lòng dùng sức lực của mình để ủng hộ người dân của chúng ta, bởi trong quốc gia này cũng không hề thiếu những người giống như con, họ cũng là thần dân của đất nước này, chẳng phải sao? Và nếu vương quốc không còn cần một vị vương tử như con nữa, vậy thì con cũng có thể không làm vương tử. Nhưng bất kể thế nào, con cũng sẽ không tiếp tục làm một kẻ giả dối, một con rối.”
“Đây là tất cả những gì con muốn nói, nữ vương bệ hạ.” Henry bình tĩnh lặp lại. “Con thà chết, cũng sẽ không sống như trước đây.”
Khi nói “con thà chết”, anh nhấn từng chữ một rất nặng. Nhưng anh vẫn thấy ngạc nhiên, bởi anh đã nhìn thấy trên gương mặt Mary nữ vương một vết rạn vô cùng khó chịu.
Và chính khoảnh khắc đó, Henry đột nhiên ý thức được: có lẽ bà ngoại thật sự đã già rồi.
Khi hoàng hôn buông xuống, lúc Henry trở về Kensington cung, Bea đang ngồi trên sofa trong phòng khách, căng thẳng bứt ngón tay. Trên đầu gối cô đặt một đĩa bánh quy bơ, gần như đã bị cô nghiền thành vụn.
Bản thân Henry cũng chẳng khá hơn là bao, mồ hôi lạnh gần như thấm ướt cả áo sơ mi. Phải biết rằng, trong thế giới mà anh từng biết, khi anh đối đầu với Mary trước kia, đã có Alex ở bên cạnh, đã có Catherine đứng về phía anh. Mà hôm nay anh vậy mà một mình gắng gượng hết, dù chuyện đó gần như khiến anh kiệt quệ.
Tạ ơn Chúa, tất cả dường như thật ra không khó khăn đến mức ấy, hoặc cũng có thể là vì Mary đã già thêm mười tuổi. Bởi có một khoảnh khắc, Henry không hề nghi ngờ rằng bà thật sự đã nảy ra ý muốn nhốt anh lại hoàn toàn, chỉ là rõ ràng cuộc đời bà đã sắp đi đến cuối, còn cuộc đời Henry mới vừa bắt đầu, vậy nên bất kể thế nào bà cũng không thể là người thắng cuối cùng. Người có năm tháng mới là người có thế giới, không phải sao. Đạo lý đơn giản như vậy, trước đây sao anh lại chưa từng nghĩ ra chứ.
“Cưng à, em ổn không?” Beatrice lo lắng chạy tới đón anh.
“Em nghĩ chắc là vẫn ổn,” Henry nở một nụ cười yếu ớt. “Dù không biết sau này sẽ ra sao, nhưng ít nhất hôm nay em đã thẳng thắn, mà tổ mẫu cũng không nhốt em lại, cũng không phong tỏa cung Kensington, đúng không?”
“Vậy là em nói hết với bà rồi?” Beatrice thấp giọng kinh hô. “Sao có thể, chị không nhớ gần đây em có chuyện tình cảm gì mới... Hay là em chỉ muốn nói ra thôi? Giai đoạn phản nghịch của em đến rồi, em ghét cuộc sống như thế này?”
“Có lẽ đều có cả.” Henry cảm thấy trong lồng ngực mình có một khối không khí nặng nề đình trệ, như một chiếc giẻ lau mãi không vắt khô, gần như làm nơi đó lên mùi chua thối. Anh nhắm mắt lại, bất lực đáp, “Nếu nhất định phải nói, thì là vì Alex.”
“Ồ, Alex!” Đồng tử Beatrice lập tức co lại như mắt mèo. “Chị cứ tưởng hai người đã sớm...”
“Đúng là như vậy, bọn em đã không liên lạc với nhau rất nhiều năm.” Henry nói. Anh dường như cuối cùng cũng cúi đầu trước vận mệnh của chính mình, “nhưng vẫn luôn là cậu ấy, chỉ có cậu ấy. Em phải thừa nhận rằng em vẫn yêu cậu ấy, hơn nữa chưa từng có lấy một khoảnh khắc nào ngừng yêu.”
Đương nhiên là anh yêu cậu ấy, nếu không làm sao có thể ghi nhớ từng mối tình của cậu, nếu không làm sao cái tên ấy có thể bám mãi trong tim như dấu ấn, khắc sâu trong đầu như con dấu suốt mười năm ròng. Nếu không, tại sao khi nhìn thấy cậu trong thế giới kia, dây leo mọc lên từ trái tim anh lại siết đến mức anh không thở nổi?
Chỉ là anh hiểu quá rõ rằng mình không thể cung cấp dưỡng chất cho tình yêu ấy, cũng quá sợ rằng nó sẽ biến thành máu muỗi, thành cơm trắng viên.
“… Trời ạ, Henry.” Nhưng một giây sau, Beatrice nhào tới ôm chặt lấy anh.
Henry theo phản xạ giơ tay đón lấy chị gái mình. Bea vòng tay quanh cổ anh, bật ra một tiếng nức nở đầy đau đớn.
“Này, Bea, chị sao vậy?” Henry vỗ lưng cô, có chút không hiểu hỏi. “Chuyện gì thế?”
“Henry, chị muốn nói...” Giọng Beatrice truyền ra từ vai anh, ồm ồm.
“Nói gì?” Henry hỏi.
Beatrice đáp: “Ba năm trước ở Paris, thật ra chị đã từng gặp Alex một lần, nhưng chuyện đó chị chưa bao giờ kể cho em nghe.”
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co