Chương 20 (Hoàn)
Năm 2027, Alex hai mươi chín tuổi. Mùa hè năm đó, cậu và bạn gái khi ấy của mình, tiểu thư Judy Lawrence, chia tay trong hòa bình.
Là một cô gái miền Nam chính gốc, Judy cởi mở, hào sảng, tính cách phóng khoáng, xét từ phương diện nào cũng là một đối tượng rất xứng đôi để trở thành bạn đời.
Thế nhưng nếu nói đến nguyên nhân thật sự khiến mối quan hệ của họ tan vỡ thì chỉ sợ rất nhiều người sẽ không thể nào hiểu nổi.
Hôm ấy, cô hẹn cậu đến chính nhà hàng nơi họ lần đầu gặp nhau, muốn cùng ăn bữa tối cuối cùng. Sắc mặt cô có phần tiều tụy nhưng không hề khóc, bởi rơi nước mắt vì chuyện thất tình quả thật quá không phù hợp với phong cách hành sự của Judy.
“Alex, em rất tốt, nói thật đấy, em chẳng có điểm nào để chỉ trích cả. Nhưng thứ chị cần là một người yêu, chứ không chỉ là một người cộng tác.” Judy buồn bã nói với cậu. “Nếu cứ tiếp tục thế này, sớm muộn gì chị cũng sẽ chìm trong sự dịu dàng của em, rồi tự thuyết phục mình rằng sống cả đời như vậy bên em cũng chẳng có gì không tốt.”
“Nhưng chị biết như thế là không ổn. Đối với em, tình yêu dường như là một vùng đất hoang.” Cô thậm chí còn nghiêng người sang ôm Alex một cái đầy nhân từ. “Em yêu, em phải cố để nơi đó mọc lên hoa tươi đi, nếu không cả đời này em sẽ quá đáng thương.”
Đối với lời đánh giá ấy, Alex cũng không có cách nào phản bác lấy một câu.
Huống hồ, đây cũng không phải lần đầu tiên cậu bị người ta đá. Người bạn trai cũ của cậu, giáo sư Roger, trước đó cũng từng dùng gần như cùng một giọng điệu để nói với cậu những lời tương tự.
Roger Ackerman tuy là giáo sư thương mại, nhưng lại có trình độ vô cùng sâu trong lĩnh vực văn học cổ điển, thậm chí còn từng xuất bản một tập thơ Hy Lạp ngữ. Ban đầu Alex chính là bị sự nhã nhặn và đa cảm ấy hấp dẫn. Trên phương diện chuyên môn, họ không thật sự có nhiều cộng hưởng, vì vậy so với việc đối thoại qua lại, Alex thường thích ngồi nghe Roger nói hơn. Nhưng rồi sau sáu tháng ở bên nhau một cách bình yên vô sự, vào một ngày hẹn hò nọ, Roger bỗng nói với cậu: “Alex, anh nghĩ có lẽ chúng ta nên đổi một cách ở cạnh nhau khác đi.”
Lời tuyên bố chia tay đầy uyển chuyển ấy lúc đầu khiến Alex hoàn toàn không hiểu. Bởi giữa họ không hề xảy ra mâu thuẫn gì, ngay cả chuyện mối quan hệ bị lộ ra ngoài cũng là hai người cùng nhau đối mặt. Chỉ là Roger dường như cũng chẳng định để lại cho cậu bất kỳ cơ hội níu kéo nào.
“Anh chỉ nghĩ, so với người yêu, em hợp làm bạn hơn.” Roger giải thích ngắn gọn.
“Ồ, vậy được thôi.” Alex vốn định ôm anh một cái, nhưng cuối cùng lại chỉ bất lực mà bắt tay với anh, còn đùa, “Bạn bè thì phải cư xử thế này đúng không?”
Đương nhiên, mấy năm sau đó cũng chứng minh quyết định khi ấy của Roger không hề sai, bởi đến tận hôm nay giữa họ vẫn giữ được một tình bạn khá sâu đậm. Roger thậm chí còn từng dẫn bạn trai mới của mình là Benjamin đến gặp Alex. Họ ngồi cùng bàn ăn cơm, thậm chí còn có thể đem đoạn tình cảm năm xưa giữa hai người ra kể cho Benjamin nghe như một câu chuyện vui.
Chính vì thế, khi chuyện cũ lặp lại vào lúc này, Alex cũng không thấy việc chia tay với Judy có gì quá đáng để khiến mình bị tổn thương.
Chỉ là, khách quan mà nói, chuyện này lại vừa khéo xảy ra vào năm tổng tuyển cử, nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến thế cục của cậu. Bất kể là trong thời kỳ cậu còn là “cục cưng của nước Mỹ”, hay sau này khi dần trở thành một ngôi sao mới của chính trị, cậu đều là kiểu người sinh ra đã biết cách thu hút ánh nhìn. Tiền đồ của cậu tất nhiên sẽ rực rỡ chói lọi, còn tình trường trắc trở đối với cậu thì lại gần như là một điểm cộng về thiên thời địa lợi, chẳng phải sao?
Vì vậy trước khi chiến dịch bầu cử giữa kỳ chính thức bắt đầu, Alex đã rút ra một tuần nghỉ dài giữa trăm công nghìn việc. Cậu công khai rằng mình cần chút thời gian để chỉnh đốn tâm trạng, rồi quyết định đi một chuyến du lịch nói đi là đi: không mục đích, muốn đến đâu thì bay đến đó. Thế là cậu lần lượt đi qua Hollywood, Rio, Wimbledon, và trạm cuối cùng là Paris.
Cũng chính ở đó, cậu gặp công chúa Beatrice , khi ấy đang đại diện cho Anh đi công du.
Ở Le Marais, Paris, có một quán bar nhỏ tên Hồng Phòng nổi tiếng với cocktail pha chế riêng theo phong vị đặc biệt. Đó là nơi Beatrice và chồng cô + Bá tước Elgin, Faust - từng đính ước với nhau. Vì vậy bất cứ khi nào trở lại Paris, họ cũng không quản ngại đường xa mà ghé qua đây, gọi hai ly Mince Pie Martini để ôn lại quãng thời gian yêu đương.
Nhưng ngày hôm đó không khí trong quán dường như hỗn loạn hơn bình thường, có lẽ là vì một con bướm hoa nào đó đã ghé qua. Mà thân phận của “con bướm hoa” ấy thì lại càng khiến Beatrice chấn động: cậu mặc một chiếc áo da sờn cũ đến hơi lôi thôi, nhưng điều đó hoàn toàn không ảnh hưởng đến vẻ điển trai của cậu. Năm tháng đã làm phần thiếu niên trong cậu bốc hơi sạch sẽ, khiến giờ đây cậu trưởng thành đến mức Beatrice suýt nữa không nhận ra.
“Trời ơi, cậu là Alex sao?!”
“Ồ!... Chào, công chúa điện hạ,” Alex rõ ràng cũng không ngờ lại gặp cô ở đây. “Lâu rồi không gặp.”
“Tôi hoàn toàn không ngờ lại có thể gặp cậu ở đây! Bất ngờ quá!”
“Xem ra cuộc đời chúng ta lúc nào cũng đầy những điều bất ngờ.” Alex cười sảng khoái. “Muốn làm một ly rượu mùa thu không, công chúa điện hạ?”
Cuối cùng, Faust bị tống sang ghế dài ngồi chờ, còn Beatrice thì ngồi với Alex ở quầy bar, nhìn người pha chế như làm ảo thuật mà biến ra những ly cocktail họ thích.
“Từ lúc mẹ tôi từ nhiệm, tôi cũng không còn vinh hạnh được bước chân vào cung điện của quý quốc nữa,” Alex đùa. “Mọi chuyện đều ổn chứ?”
“Tôi đoán cậu đang muốn hỏi Henry?” Beatrice nói.
“Ồ, dĩ nhiên, dĩ nhiên là cả Henry vương tử nữa.”
“Vậy trước khi trả lời câu hỏi ấy, tôi phải hỏi ngược lại đã,” Beatrice nói, “còn cậu thì sao, Alex? Cậu ổn chứ?”
Cùng lúc đó, cô gần như nín thở để quan sát vẻ mặt Alex, dù chính cô cũng không thật sự biết rốt cuộc mình muốn nhìn ra điều gì từ gương mặt ấy.
“... Tôi nghĩ, chắc là khá ổn?” Alex nhún vai, đáp rất tự nhiên.
“Vậy thì Henry cũng khá ổn.” Beatrice nói.
Cô dừng lại một giây, nhận ly Mince Pie Martini từ tay bartender, rồi đứng dậy rời khỏi quầy, đồng thời nở với Alex một nụ cười giả tạo đến mức chẳng buồn che giấu: “Tiền boa cậu trả nhé, cảm ơn Alex.”
“Tóm lại, em không biết tình hình lúc đó đâu, Henry.” Beatrice thở dài thật mạnh.
“Alex ngập trong giai nhân, rượu ngon và champagne, trông xuân phong đắc ý vô cùng. Đám con gái con trai kia vây quanh cậu ấy như ong, mà cậu ấy thì ai đến cũng không từ chối. Ừ thì, dù sao cậu ấy cũng là người song tính, lại vừa mới độc thân trở lại, cậu ấy thậm chí có thể tán tỉnh tất cả mọi người. Lúc đó trong lòng chị còn nghĩ, cái tên American đáng ghét, trăng hoa này, rốt cuộc em trai chị năm xưa sao lại yêu cậu ấy được chứ.” Nhưng rất nhanh, vẻ mặt cô lại hiện lên một nỗi buồn khó tả. “Nhưng rồi cậu ấy uống say, thật đấy, say đến bất tỉnh nhân sự. Nửa đêm, chị nhìn thấy cậu ấy hôn lên má một cậu trai - một cậu trai tóc vàng - rồi dùng ánh mắt mơ màng nhìn người ta, hỏi rằng: Henry, sao anh gầy đi vậy?”
“Đúng vậy, chị đã nghe rõ, cậu ấy hỏi là,” Beatrice dịu giọng lặp lại, “Henry, sao anh gầy đi vậy.”
“... Ồ.” Henry chớp mắt, ngồi chết lặng tại chỗ, như thể không thật sự hiểu Beatrice đang nói gì, cho đến tận nửa phút sau anh mới từ cơn ngơ ngác mà tỉnh lại.
Anh cảm thấy trong lồng ngực mình như bị ai xé toạc ra một lỗ hổng rất lớn, để toàn bộ gió rét tháng Mười Hai của London đổ ập vào, húc tung khắp nơi trong ngực anh, khiến thần kinh anh đau nhức, đáy mắt cay xè. “... Nhưng chị phải biết mà, chị à, trên đời này có vô số người tên Henry.”
“Nhưng chị thề, cậu trai đó không tên là Henry. Cậu ta chắc phải tên là Leno hay Lyon gì đó, một cái tên Pháp rất chuẩn, chị nghe đám bạn cậu ta gọi rồi.” Beatrice nói. “Huống hồ, liên quan đến Alex thì còn có thể là Henry nào nữa chứ, Henry? Ít nhất em đừng tự lừa mình nữa.”
Lúc này họ đang ở phòng học nhạc trên tầng hai, là căn phòng duy nhất trong tòa cung điện này được chính tay họ bày biện. Henry ngồi xếp bằng trên tấm thảm Ba Tư đỏ tím, còn Bea thì ôm đĩa bánh quy bơ vụn dựa trên chiếc sofa màu lá thuốc. Vừa nói, cô vừa vô thức vò ngón tay, để những mảnh bánh rơi xuống như cát qua kẽ tay.
“Mà chuyện chị không nói với em về việc đó...” Beatrice nuốt khan, có vẻ không biết có nên nhắc tới chuyện kia không. “Cưng à, em còn nhớ Francis không?”
“... Francis?” Henry nghĩ một chút. “Cậu người Ý đó à?”
“Đúng.” Beatrice nói. “Francis Colombo.”
Khi Henry hai mươi tám tuổi, anh quen chàng trai người Ý ấy tại một trận đấu polo gây quỹ. Francis là sinh viên khoa điêu khắc môi trường công cộng của Học viện Mỹ thuật Quốc gia Florence, đồng thời cũng là một vận động viên polo rất giỏi, nhỏ hơn Henry bốn tuổi. Thành thật mà nói, vào thời điểm đó Henry không hề nghĩ mình còn nhớ mãi không quên Alex đến thế, và anh cũng không hề bài xích những người mới, những mối quan hệ mới, những khả năng mới. Vì vậy sau trận đấu, khi Francis uyển chuyển xin thông tin liên lạc của anh, Henry đã đồng ý.
Nhất kiến chung tình, chuyện đó thú vị mà, không phải sao? Mà nếu người khiến cậu nhất kiến chung tình lại còn là một vị vương tử, thì thật khó nói rốt cuộc là may mắn hay bất hạnh.
Dù bây giờ nhớ lại, Henry vẫn phải thừa nhận rằng xét trên tư cách một người theo đuổi, Francis quả thật không có gì để chê. Cậu nhiệt tình, tinh tế, kiên trì, có sự lãng mạn mà người Ý tự hào, hơn nữa hoàn toàn không hề sợ hãi trước chồng giấy thỏa thuận bảo mật dày cộp. Đến cả Philip, kẻ xưa nay luôn thích bới lông tìm vết, cũng không moi ra được điểm gì để chê cậu, ngoại trừ giới tính. Phải biết rằng như vậy đã là chuyện vô cùng hiếm rồi, thử nghĩ xem ngày xưa hắn từng dùng những lời cay nghiệt thế nào với một người Mỹ khác đi.
Henry không phải sắt đá. Nếu có thể, anh cũng chẳng ngại tận hưởng một đoạn tình yêu biết dừng đúng lúc, ít nhất một mối quan hệ thể xác ổn định đem lại cho anh lợi nhiều hơn hại. Nhưng điều khiến anh kinh hồn bạt vía là, chẳng mấy chốc, anh đã nhìn thấy trong mắt Francis một thứ vô cùng quen thuộc.
Thứ si mê bén rễ ấy khiến anh nhớ tới Alex ở tuổi hai mươi hai.
Và chính vì thế, trước khi mọi chuyện thực sự bắt đầu, Henry đã nhanh tay xóa liên lạc của Francis trước.
“Chính từ lúc đó, chị mới hiểu điều em thật sự kháng cự là gì.” Beatrice nói. “Thật ra không quan trọng người yêu em là ai, cũng không phải vì họ làm chưa đủ tốt. Em chỉ sợ mình không thể đáp lại họ bằng một tình cảm tương xứng, mà chuyện phụ lòng họ sẽ khiến em đứng ngồi không yên, nên ngay từ đầu em đã thà không cần.”
Vừa nói, cô vừa đưa tay vuốt tóc Henry từ trên xuống, giống như Catherine từng làm với họ lúc còn nhỏ. Đó là một cử chỉ trấn an, vỗ về, thấu hiểu: “Và cũng chính vì thế, Henry, chị đã tình nguyện làm người ích kỷ nhất vì em. Sau lần gặp Alex ấy, chị đã không biết bao nhiêu lần nghĩ tới chuyện có nên nói cho em nghe hay không. Nhưng rồi chị nghĩ, nhiều năm như vậy, khó khăn lắm em mới gượng dậy sống giống một con người, vậy thì chị tuyệt đối không thể lại mang cậu ấy quay vào cuộc đời em, để em tự dưng thêm phiền não... Cho đến hôm nay, em vậy mà lại đem tất cả những chuyện này nói với bà ngoại.”
Henry không lên tiếng. Anh chỉ ngồi đó, có chút thất thần nhìn chị gái, trông chẳng khác nào một cậu bé ngoan ngoãn. Thế là mắt Beatrice lại đỏ lên: “Chị thật sự không thể tưởng tượng nổi em đã làm điều đó như thế nào. Bao nhiêu năm rồi... Bao nhiêu năm rồi, Henry, em còn chưa nhận ra sao? Dù có người có thể xông vào lâu đài của em, thì cũng phải là em chịu để người đó cứu, em mới có thể được cứu. Nên thật ra, chỉ có chính em mới cứu được chính mình. Tuy chị không chắc hiện tại Alex có còn yêu em như em yêu cậu ấy hay không, nhưng ít nhất việc em dám vì cậu ấy mà bước ra khỏi tòa lâu đài này, đó đã là chuyện dũng cảm nhất em từng có thể làm vì cậu ấy rồi.”
“Vậy nên đi tìm cậu ấy đi, cưng,” rồi cô cong người xuống, đặt lên trán em trai mình một nụ hôn rất khẽ, “thử mang hoa tươi, suối nước, trả lại cho cậu ấy đi, dù sao đó cũng là những thứ ngày xưa em đã lấy khỏi cuộc đời cậu ấy.”
“Ồ, đương nhiên rồi.” Henry lặng lẽ đón nhận nụ hôn dịu dàng ấy, rồi đứng dậy khỏi tấm thảm sang trọng. Lần này anh không khóc. Anh trông như vừa cởi bỏ một lớp giáp, nhưng cũng giống như vừa mọc ra lớp vảy rắn chắc nhất, nhất quyết phải dùng chính cơ thể mình đi đón lấy mưa gió. “Hơn nữa, em phải đi ngay bây giờ.”
Henry nghĩ, đương nhiên anh sẽ đi tìm cậu ấy, bởi đó là lời anh đã hứa với một Alex khác, không phải sao?
Chỉ là, khi quay lại thế giới này, sau khi vì buổi xem mắt vô nghĩa kia mà ý thức được hoàn cảnh của mình, rồi lựa chọn đối mặt với nữ vương Mary, anh cũng vẫn luôn tự hỏi: mười năm chia cách đã sớm biến họ thành hai con người khác. Việc anh bây giờ muốn đi tìm lại Alex thực chất là muốn theo đuổi cậu ấy một lần nữa.
Vì vậy ít nhất anh phải cẩn thận hơn một chút. Việc một lần nữa xuất hiện trong thế giới của Alex, việc ngả bài với Mary chỉ mới là bước đầu. Anh còn cần sự ủng hộ của công chúng, cần quyền lên tiếng, mọi thứ đều phải từ từ mà làm... Anh đương nhiên cũng cần phải trả giá một chút, để nói cho Alex thấy quyết tâm của mình, dù đó là một kiểu chứng minh bằng máu.
Ban đầu anh đã nghĩ như vậy, anh luôn phải suy tính nhiều hơn. Nếu không thì bao nhiêu đau khổ mà họ chịu suốt những năm qua là vì cái gì chứ.
Nhưng bây giờ, anh không muốn chờ thêm một giây nào nữa.
Và cuối cùng anh cũng hiểu vì sao Alex kia đã cầu xin anh “cứu vớt” cậu ấy. Điều đáng sợ nhất không phải là vết thương nhìn thấy bằng mắt thường, mà là cái miệng vết thương không tiếng động thối rữa nằm sâu dưới da, đến cả chính bản thân cũng không biết đến. Nó ăn mòn đời cậu ấy, ký sinh lên đời cậu ấy, rồi chờ đến một ngày lớp da đẹp đẽ rỗng ruột kia không thể gắng gượng thêm nữa, cậu ấy thậm chí còn chẳng biết tại sao.
Anh phải lấp đầy máu thịt cho cậu ấy, phải làm trái tim cậu ấy sống lại. Ngoài anh ra, không ai có thể làm được điều đó.
Và đó chính là việc mà vào giờ phút này, anh cảm thấy vừa không thể chối từ, vừa nóng lòng muốn làm nhất.
Một tiếng sau, Henry đã ngồi trong phòng chờ hạng thương gia ở sân bay Heathrow, cảm nhận rõ trái tim mình đập nhanh đến mức nào.
Vì anh từ chối dùng máy bay riêng của nhà Windsor, nên Beatrice lặng lẽ mua cho anh một vé bay sang Paris khởi hành sau hai tiếng rưỡi, còn lấy cớ kéo Henry ra ngoài mua dụng cụ vẽ rồi tự mình đưa anh ra sân bay.
Mọi chuyện diễn ra rất nhanh, mà nữ vương lúc này đang bận chuẩn bị cho chuyến thăm Trung Quốc, nên họ đoán rằng đến khi nữ vương cùng đám hóa thạch ở Buckingham phản ứng lại, thì ít nhất Henry cũng đã bay qua Eo biển Anh rồi.
Thế nhưng khi chỉ còn chưa đầy nửa tiếng nữa là đến giờ lên máy bay, một cuộc gọi từ Shaan lại bất ngờ gọi tới.
Henry căng thẳng siết chặt ngón tay cái, tự trấn an rằng ít nhất người gọi không phải người hoàng gia phái đến để bắt anh quay về, nếu không họ đã không để Shaan liên lạc.
“Có chuyện gì?” Anh bắt máy hỏi.
“Điện hạ, để tránh một chuyến công cốc, có lẽ bây giờ ngài cần đổi vé ngay lập tức,” Shaan nói ngắn gọn. “Bay thẳng đến Texas có lẽ sẽ là lựa chọn tốt nhất.”
“Ý anh là sao?” Henry sững người.
Shaan khẽ thở dài rất khó nhận ra ở đầu dây bên kia, rồi nói nhanh hơn: “Điện hạ, mong ngài hiểu rõ một sự thật, tôi là người hầu của ngài, ít nhất không phải gián điệp do Buckingham phái tới theo dõi ngài, à tất nhiên cũng không phải người của phố Downing, nên xin ngài tin tôi thêm một chút, được chứ? Quay lại chuyện chính: theo hành trình mới nhất của ngài Claremont-Diaz, cậu ấy sẽ rời Paris sớm hơn, đáp chuyến bay cất cánh sau hai mươi phút để về Mỹ. Nếu ngài muốn đi tìm cậu ấy, tốt nhất ngài nên đổi sang chuyến cất cánh sau một tiếng, bay thẳng tới sân bay Bergstrom ở Austin. Nếu ngài cần, tôi có thể xử lý thủ tục đổi vé ngay.”
“... Ồ, cần! Đương nhiên là cần!” Henry suýt nữa bị nghẹn cả lời. “Làm ơn, Shaan.”
“Rất hân hạnh được phục vụ ngài,” Shaan lại trở về đúng chất giọng công thức quen thuộc, “thưa điện hạ của tôi.”
Sau khi cúp máy, Shaan lại chuyển tiếp cho Henry một đường link. Henry lập tức ngồi không yên mà bấm vào, và phát hiện đó là một đoạn video do người qua đường đăng trên mạng xã hội: có một công dân Mỹ tình cờ gặp nghị viên Claremont-Diaz đang chuẩn bị lên máy bay về nước sớm hơn dự kiến, nên đã tiến tới bắt chuyện.
“Chào ngài Claremont-Diaz,” giọng người sau máy quay hỏi, “theo như tôi biết thì đoàn đại biểu Thượng viện đáng lẽ tối nay vẫn còn một buổi dạ tiệc tiễn trước khi rời Pháp, mà trước nay ngài luôn là thành phần tích cực trong những dịp như vậy. Vậy tại sao lần này ngài lại đột ngột về nước sớm?”
“Để tôi nghĩ xem phải trả lời câu hỏi của bạn thế nào.” Alex nói, nở một nụ cười mê người. Cậu nhìn thẳng vào máy quay, như thể đang xuyên qua ống kính đối thoại với một người nào đó ở rất xa trong năm tháng. “Trong đời mình, từng có những chuyện xảy ra khiến tôi vô cùng khó chấp nhận, và trong nhiều lúc tôi đã nghĩ đó chính là kết cục. Nhưng tối qua, tôi bỗng mơ một giấc mơ cực kỳ, cực kỳ kỳ diệu, như thể số phận đột nhiên nói với tôi rằng, nó đối xử với tôi còn nhân từ hơn nhiều so với những gì tôi vẫn tưởng.”
“Giấc mơ? Là giấc mơ như thế nào vậy?” Giọng người kia lại hỏi. “Thật khó tin là ngài cũng sẽ tin vào mấy thứ như cảnh trong mơ.”
“Tại sao lại không chứ, nếu đó là một giấc mơ đẹp đến mức không thể đẹp hơn,” Alex khẽ rũ mắt xuống, vẻ mặt trở nên dịu dàng vô cùng. Mà trong mắt Henry, cậu đang dần chồng lên Alex của thế giới kia. “Tôi chỉ có thể nói, tôi vẫn luôn chờ một người, đã chờ suốt rất nhiều năm rồi. Có lẽ đến cả bản thân tôi cũng chưa từng ý thức được điều đó, nhưng tôi đúng là vẫn luôn làm như vậy. Dù đến bây giờ tôi vẫn không biết anh ấy có đến hay không, nhưng tôi nghĩ, tôi vẫn luôn sẵn sàng đón nhận khả năng đó.”
Trong khoảnh khắc ấy, một cơn choáng váng dữ dội bất ngờ ập đến với Henry.
Giọng nói của Alex như xuyên qua thời gian và không gian, đi ngược dòng năm tháng, vang lên bên tai anh như tiếng Phạn. Cậu nói cậu vẫn luôn chờ một người, đã chờ suốt rất nhiều năm. Cậu nói cậu không biết người ấy có đến hay không, nhưng vẫn luôn sẵn sàng đón nhận khả năng đó.
Trước mắt Henry, vô số ký ức như tuyết rơi vùn vụt lướt qua: căn nhà nhỏ bên hồ ở Austin, hòn đảo nổi rộng rãi giữa mặt hồ, Alex ướt đẫm mà hôn lên bờ vai anh, trong mắt cậu cháy rực ngọn lửa tình yêu. Anh từng cho rằng thứ nhiệt độ ấy sẽ đồng thời thiêu đốt cả hai người, nhưng lại không ngờ thứ ánh sáng ấy cũng có thể đồng thời soi sáng cả hai người. Cuối cùng, như linh hồn xuất khiếu, Henry bay lơ lửng giữa không trung, quay trở về đêm của mười năm trước. Anh nhìn thấy chính mình khi ấy đã nhắm mắt dưới ánh nến chập chờn ra sao, để mặc nước mắt lăn dài trên má. Nước mắt anh rơi xuống thảm, lặng lẽ thấm vào từng sợi vải, như thể chuyện mất đi người mình yêu chỉ là một chuyện cô quạnh đến vậy mà thôi.
Nhưng tiếng đau đớn ở khoảnh khắc ấy lại vang dội đến mức đánh thức cả tâm can, khiến anh không dám nhìn lại chính mình đã cắn răng chịu đựng mười năm đó như thế nào nữa.
Trên thực tế, cho dù là hiện tại, anh vẫn không biết tương lai mình còn phải đối mặt với những gì: sự gây khó dễ của Mary, sự chất vấn và khiển trách từ hoàng gia, sự phê bình của công chúng sao? Có lẽ xuất thân của anh và lý tưởng chính trị của Alex vẫn sẽ như nước với lửa, trước mắt anh rõ ràng vẫn còn những ngọn núi rất cao phải vượt qua.
Nhưng giờ khắc này, như thể con thuyền nhẹ đã qua muôn trùng sóng, anh nghĩ điều duy nhất mình có thể chắc chắn là anh phải nắm lấy tay Alex. Họ phải cùng nhau đối mặt với mọi khả năng của ngày mai, bất kể ngày mai là gấm hoa rực rỡ hay gươm sương sắc lạnh.
Mà ngoài điều đó ra, việc cấp bách nhất lúc này nhất định là-
Henry đứng bật dậy, kiên quyết bước về phía cửa lên máy bay. Bước chân anh càng lúc càng nhanh, càng lúc càng nhanh, cuối cùng gần như lao đi mà chạy.
Anh nghĩ, anh phải lập tức, lập tức bay qua bên kia đại dương, bay về phía Alex.
Bay về bình minh nơi Austin, nơi đã được định sẵn trong số mệnh của anh.
—END—
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co