Truyen3h.Co

Tây tiến

H

DoanUyen3

Đất Nước ( 9c đầu)
"Đất nước ơi, Đất Nước ơi
từ thuở còn nằm nôi
sáng chắn bão giông, chiều chắn nắng lửa"
Mỗi khi những câu hát ấy được ca vang lên thì hình ảnh Đất Nước lại hiện lên trong thâm tâm những người con đất Việt một cách đầy thiêng liêng, cao cả, xiết bao đầy bình dị, hình ảnh Đất Nước cũng khơi nguồn cảm hứng cho biết bao người nghệ sĩ, là nét màu rực rỡ trong bao hồn thơ bất hủ. Chính lẽ đó sẽ chẳng khó để kiếm cho mình một áng thơ, áng văn về Đất Nước nhưng ắt hẳn họa hoằn lắm ta mới thấy được một "Đất Nước" như Nguyễn Khoa Điềm, một Đất Nước không xa hoa kiều diễm, trừu tượng mà là một Đất Nước đơn thuần, giản dị nhưng không đánh mất đi sự oai hùng.

    Đất Nước trong tập trường ca khát vọng được hình thành trong khói lửa chiến trinh tại chiến khu trị thiên và đoạn trích Đất nước là phần đầu  của chương 5 trong trường ca mặt đường khát vọng là những cảm nhận của một Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước về vai trò của những sự hi sinh to lớn của nhân dân trong công cuộc cứu và giữ nước, cũng như những nhà văn chiến sĩ cùng thời Nguyễn Khoa Điềm cũng bộc bạch tư tưởng của  bản thân vào từng con chữ lời thơ trong trường ca mặt đường khát vọng. Tư tưởng " Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thân thoại" chính tư tưởng chủ đạo này đã chi phối hình thức lẫn nội dung của bài thơ.
           
              Tư tưởng chủ đạo trong bài thơ đã được tác giả thể hiện qua các bình diện trải dài từ văn hóa, lịch sử, địa lý, trải rộng trên mọi khoảng không gian, những sự gắn kết giữa các nét đẹp văn hóa, tâm hồn đã tạo nên bức tranh rất đậm chất thơ của Nguyễn Khoa Điềm. Và chín câu thơ đầu đã khéo léo gợi lên câu hỏi Đất Nước có từ bao giờ? . Đất nước như một sinh thể có sự sinh ra lớn lên, phát triển và trưởng thành, trong đó ba câu thơ đầu chính là quá trình "sinh ra" của Đất Nước.
"khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có từ ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bà ăn"
            Đất nước vốn không xạ lạ trong con mắt văn chương xong nếu xưa đến nay ta đều thấy những "Đất Nước" rất trừu tượng khó chạm đến, Đất Nước không chỉ là của những vua quan triều đình,. những bậc anh hùng thời đại mà ta khắc ghi như trong "đại cáo bình ngô" Đất Nước đã được gợi lên trên bình diện nghệ thuật văn hiến lâu đời khẳng định sự tồn tại của Đất Nước đại việt từ bao đời qua những dòng thơ kì vĩ mạnh mẽ đanh thép:
như nước đại việt ta từ trước
vốn xưng nền văn hiến đã lâu
núi sông bờ cõi đã chia
phong tục bắc nam cũng khác
từ triệu đinh lý trần bao đời xây nền độc lập
cùng hán đường tống nguyên mỗi bên xưng đế một phương
tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
song hào kiệt đời nào cũng có"

              Những ánh nhìn đó rất đẹp rất nên thơ, những áng thơ ấy đã thể hiện lên những gì Đất Nước có, những gì Đất Nước cho, lại có phần xa cách, xong khi đặt cạnh Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm sự "xa lạ" ấy được đè nét rõ lên hơn bao giờ hết mà Đất Nước chỉ đơn giản chính là của chúng ta, của những người nhân dân, những người anh hùng chẳng được khắc mặt đặt tên, và đặt tên nước ở trong lồng ngực bên trái của từng người dân đất việt. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm ta thấy Đất Nước mình bình dị thân quen đến, một Đất Nước gần gũi với những quan điểm văn hóa văn học dân gian, Đất Nước trong cái ngày xửa ngày xưa, Đất Nước qua miếng trầu bà ăn, trong giọt máu, tiếng ca con người ta chính là Đất Nước. Như chính ông từng nói "Đất Nước với nhà thơ khác là huyền thoại, của anh hùng, nhưng với tôi là của những con người vô danh, của bản thân". Qua đó ba câu đầu đã khẳng định cho cội nguồn Đất Nước, cũng trả lời một phần cho câu hỏi Đất Nước có từ bao giờ.

               Sự bình dị thân thuộc không những được thể hiện qua các cội nguồn của Đất Nước, mà còn phảng phất ở lời thơ thủ thỉ tâm tình. Đất nước chính là không gian sống nơi dan tay đón ta vào đời cho tới khi ta hóa hư vô, Đất nước như một người mẹ, một cái nôi chung của dân tộc, ru đời ta xanh tươi

                                                "Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi"
     Tô điểm bằng cách viết hoa hai tiếng "Đất Nước", theo lẽ thường người ta thường chỉ viết hoa tên riêng, hay các tên địa lý việt nam và cũng chẳng có ai viết hoa Đất Nước như Nguyễn Khoa Điềm. Phải chăng chính tác giả đã xem Đất Nước như một sinh thể, mà có một cái tên riêng được in tạt và viết hoa trang trọng, thể hiện sự trân trọng và ngợi ca tổ quốc của chúng ta. Đất nước đã có từ khi ta lớn lên, từ "ta" trong câu thơ chính là sự gợi nhắc đến con người chúng ta, "ta" chỉ đơn thuần đến một cá nhân nào mà "ta" một tiếng gọi mơ hồi nhưng sắc nét, ta có thể là bất cứ ai. Dùng từ ngữ phiếm định "khi ta lớn lên" đã chỉ rõ Đất Nước đã có trước cả khi ta lớn lên, có từ trước đó, từ ngàn đời mà sừng sững hiên ngang đứng đợi ta sinh ra lớn lên, từ bước "xây thành đắp lũy" , cho ta những nhận thức muôn đời, bồi đắp chỗ đệm vững chắc cho những mộng mơ non trẻ, Đất nước ở đó, ở trong phía bên trái lồng ngực mỗi con người, ngày nào trái tim còn đập là chứng ấy ngày con người ta tạt hình bóng Đất Nước vào sâu trong tim mình, khắc ghi từng chút một những công lao, những giá trị của Đất Nước. Chính lẽ đó Đất Nước xứng đáng được coi như một sinh thể, cùng một cái tên riêng đầy trân trọng. 
        Tiếp nối câu thơ đầu tiên, câu thơ thứ hai là lý giải về cội nguồn của Đất Nước.
"Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể'
          
Thuở còn nằm nôi chẳng có ai là chưa được nghe tới những câu chuyện cổ tích "ngày xửa ngày xưa" từ người bà, người mẹ. "Ngày xửa ngày xưa" tựa một nét tinh tế của tác giả bởi nó gợi nhắc gần như hết thảy tuổi thơ của những người con đất việt, một cụm từ đầy tình cảm in sâu trong tâm can người đọc. "Ngày xửa ngày xưa" là nét cổ kính ru hồn người đọc vào miền đất hứa, trở lại khi ta còn bé trong chiếc nôi bé bỏng, bên chiếc võng kẽo cà kẽo kẹt, nơi chiếc quạt nan bà phe phẩy. "Ngày xửa ngày xưa" thường dùng để bắt đầu cho một câu chuyện cổ tích nơi hướng cho những đứa trẻ tới chân lý thiện ác để viết vào trong "trang giấy" trắng ấy những quan điểm tốt đẹp muôn đời của ông cha ta như "ở hiền gặp lành" , một nàng tấm trong dịu hiền, một thạch sanh quả cảm và ngày xửa ngày xưa còn là một tiếng nói thời đại, tiếng than khóc lầm than của những người dân lương thiện bị bức ép đến tức tử. Nguyễn Khoa Điềm khi ấy với 28 mùa xuân vẫn đã thấm thía nỗi đau muôn phần khi Đất Nước bị dày xéo, lầm than dùng ngày xửa ngày xưa để khơi lên cội nguồn khơi lên Đất Nước trong thâm tâm từng người chiến sĩ, từng người dân về những ký ức thuở xa xưa tươi đẹp, từng vệt nắng ấm trong tuổi đơn sơ của mỗi người. Hình ảnh mẹ thường hay kể chính là hình ảnh quen thuộc khắc ghi trong thâm tâm từng người con, câu thơ là lời gợi nhắc đầy tinh tế về tuổi thơ, về mẹ những xúc cảm rung động mãnh liệt trong thâm tâm con người, ta sinh thành lớn lên không chỉ qua "bàn tay" Đất Nước mà con là trong vòng tay mẹ ẵm bồng, bàn tay mẹ dìu dắt. Câu thơ không đơn thuần là lời gợi nói về tuổi thơ mà còn gợi nhắc về chiều dài lịch sử của Đất Nước vọng về nguyên sơ.

Và rồi
                            "Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn"
        
   Trải dài theo bề dày sử sách miếng trầu đi cùng năm tháng, đã đi vào trong tiềm thức biết bao thế hệ, miếng trầu là đầu câu chào, là mở đầu cho bao câu chuyện bà kể. Chẳng ai từng hỏi rằng miếng trầu bà ăn xuất hiện từ khi nào? tựa như ca dao, miếng trầu cùng câu chuyện bà kể đã có từ xa sôi của quá khứ vọng về, gánh trên mình lịch sử ngàn năm văn hiến. Tục ăn trầu xuất hiện từ thời vua hùng với sự tích bắt nguồn từ tình cảm anh em gắn bó, tình nghĩa vợ chồng sâu đậm"  Hương trầu đưa ta về miền kí ức xưa, chở cả một Đất Nước cùng đi, còn nhớ nàng tấm trong chuyện tấm cám, khi bị biến thành quả thị, thì cũng chính miếng trầu nàng têm đã giúp cho hoàng tử nhận ra nàng, một minh chứng cho tình nghĩa thủy chung. Hình ảnh "miếng trầu" bé nhỏ trong nắm tay nhưng chứa đựng cả một cuộc đời "Đất Nước", một hình ảnh mang tầm vóc lịch sử, "miếng trầu" còn gắn liền trong đời sống nhân dân bao thế hệ, miếng trầu trong lễ cưới hỏi, miếng trầu chễm trệ một vị trí quan trọng trong phong tục tập quán của hàng triệu người con việt. Không chỉ vậy miếng trầu còn là một hiện vật văn hóa mang giá trị to lớn, ăn trầu nhuộm răng, thế hệ ông ba ta với hàm răng đen bóng khỏe là hình ảnh biểu trưng cho một thế hệ bất khuất quyết tâm gìn giữ độc lập dân tộc quyết không bị đồng hóa với quân thù, chính lẽ đó mà có được Đất Nước ngày nay. Dẫu cho giờ đây không còn mấy ai gìn  giữ xong mỗi khi nhắc về ta như khứ hồi lại một thời đẹp đẻ của ông cha ta cố gắng bảo vệ, phát triển Đất Nước.

và rồi Đất Nước lớn lên như một con người thật sự, Đất Nước lớn lên cùng lũy tre :
             
"Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc"
      
tre chẳng biết từ thuở nào đã gắn bó sâu sắc với làng quê việt nam  đi vào bao câu hát "tre xanh xanh từ bao giờ, chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh" giống như nguyễn duy đã viết trên bờ tre xanh. Và Đất Nước âm thầm lặng lẽ lớn lên như bờ tre xanh. Hai chữ dân mình trong câu nghe mới thân thương làm sao, bởi lẽ dân mình cùng chung dòng máu rồng tiên cùng chung một góc gác cội nguồn và cùng mang trong mình tương liên huyết mạch là máu thịt là anh em, là người một nhà. Nếu như câu đầu, dân sống lòng ta bằng những âm thanh trong trẻo, những tiếng vọng từ quá khứ, thì nửa sau của câu thơ làm ta nhớ đến chàng phù đổng thiên vương, nhổ bụi tre ngà đánh giặc, hình ảnh ấy đã len lỏi vào trong hình ảnh thơ của Nguyễn Khoa Điềm với cụm "biết trồng tre đánh giặc", và trong những dòng thơ 'Quang vinh tổ quốc" Tố Hữu cũng từng xuýt xoa "một tiếng nói cũng đẩy hồn thánh gióng" , từ chính bờ tre hiền lành mộc mạc ấy nhưng đã bộc lộ lên sức mạnh của một dân tộc trở mình vươn lên đánh đuổi giặc xâm lược, dẫu không có vũ khí sắc nhọn và chỉ bằng bờ tre xanh thôi nhân dân ta đã đánh đuổi được những quân thù hung tàn bảo vệ lấy miếng đất hứa. Trưởng thành từ chính những gian truân thử thách, Đất Nước đã lớn lên như thế, như một sinh thể thực sự, biết bao phen nguy nan biết bao đời chịu đủ thương đau, những Đất Nước vẫn vượt qua tất cả bởi Đất Nước có chúng ta những người con yêu quý miền đất hứa này, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Đất Nước dẫu có phải hy sinh tính mạng của mình không nề hà chùn bước bởi lẽ sâu thẳm trong tâm trí mọi người chỉ cần trái tim còn đập, lồng ngực còn hơi thở cuối ta vẫn sẽ dành trọn cho tổ quốc thân yêu.
        Viết về Đất Nước là một chủ đề phổ biến bởi đây là chủ đề khơi gợi biết bao cảm xúc trong lòng những thi nhân. Cùng là nguồn cảm hứng về Đất Nước, trong bài thơ mũi cà mau của xuân diệu:

Tổ quốc tôi như một con tàu,
Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau

hay năm xưa nguyễn trãi và tác phẩm bình ngô đại cáo nếu xuân diệu Đất Nước như con tàu hùng dũng hiên ngang thì Nguyễn Trãi đưa ta bước vào những âm vang hào sảng của một Đất Nước văn hiến nghìn năm hai nhà thơ hai thời đại cách xa nhau nhưng lại gặp nhau trong giọng thờ đầy mạnh mẽ khi nói về Đất Nước mình. Còn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm thì sao,  không viết về Đất Nước một cách đầy hào hùng tráng lệ, mà Đất Nước trong ông. trong trái tim ông chỉ đơn thuần giản dị, Đất Nước trong chính trái tim ta, chính vì lẽ đó dẫu đi sau những Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm không hề bị lu mờ bởi những tráng khí đi trước trái lại ông đã khẳng định một nước yên bình, một Đất Nước giản dị trong mình, đồng thời cũng khẳng định chính mình trong thi đàn và rồi khi viết tiếp về Đất Nước ông vẫn đùng lời thơ dịu dàng thủ thỉ như những lời tâm tình.

"tóc mẹ bới sau đầu
cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn"

mẹ chính là hơi ấm, cùng tình thương dạt dào bao la mẹ chính là hiện thân của một Đất Nước, Đất Nước trong mẹ, dịu dàng chở che đàn con thơ. Như mở ra đoạn phim trắng đen ngắn ngủi bên hiên nhà mẹ với búi tóc gọn gàng t Mái tóc mẹ bới sau đầu, cuộn tròn gọn gàng lăn vào dòng cảm xúc của nhà thơ, mái tóc mẹ đen nhánh bóng mượt đước búi tròn gọn gàng sau đầu. Hình ảnh đó cũng đã trở thành nét đặc trưng văn hóa của nhân dân ta, "tục búi tóc thành cuộn" sau gáy, gọi chung thành tiếng "mẹ" thương yêu.  Búi tóc mẹ không trang sức, không trâm cài ngọc ngà, nhưng lại mang nhiều hơn cả, chứa trong cái búi tóc ấy chính là tình thương, tình yêu, cùng nét tảo tần của người mẹ dành cho con, cho gia đình của mình, và cùng với người cha đã tạo nên một gia đình.

           Trong từng người con đất việt không chỉ là miếng trầu hay mái tóc bới gọn sau gáy  mà còn có sự son sắt của tình nghĩa vợ chồng, là gia đình. Cha mẹ sống với ta không chỉ bằng tình yêu, mà còn bằng ân nghĩa sâu nặng với thời gian tựa như gừng dù bao năm gừng vẫn còn cay và muối không bao giờ suy suyển bớt mặn đi như gừng cay vậy. Thứ ân tình thắm thiết ấy giống như tình nghĩa vợ chồng đã đi vào sâu trong ca dao về lời răn dạy tình nghĩa vợ chồng đạo vợ chồng trăm năm như gừng như muối vậy. Dạy con người ta biết sống có nghĩa có tình, dẫu cho  hết tình thì vẫn còn cái nghĩa một đời không đổi cũng chẳng thay

"Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta nghĩa nặng tình đầy
Dẫu có xa nhau đi nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa"

vẫn lời thơ thủ thỉ tâm tình ấy nhà thơ cũng đã  gợi lên truyền thống đặt tên của dân tộc ta:
"cái kèo cái cột thành tên"
Cái kèo, cái cột thành tên dân tộc ta, từ những điều thân thuộc và đời thường ấy đã tạo nên những cái tên thân thuộc chứa chan bao tình yêu thg, đặt tên xấu để bảo vệ con mong con cả đời bình an,  từ lâu đạo lý đó đã được truyền lại từ đời này sang đời khác được thế hệ sau tiếp nối và truyền dạy, là lời dạy của cổ xưa xưa đặt tên con giản dị tránh con gặp tai ương sóng gió, cho con cuộc sống bình an và khỏe mạnh và trong ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm không chỉ có vậy mà cái kèo cái  cột còn là những đôi mắt nhìn biết bao, chứng kiến hết thảy biết bao biến cố dân tộc, cho đến sự trở mình mạnh mẽ đấu tranh, phát triển Đất Nước, tiếng nói người việt. Ngôn ngữ việt nam tiếng nói ta tự hòa là thứ tiếng trong sáng.

     Qua 7 câu thơ đó chính  là biết bao văn hóa, biết bao truyền thuyết, và trong từng tập tục văn hóa, trong từng truyền thuyết đương thời lại gắn với bao câu chuyện nước Nam, mang tới cho từng câu thơ những nỗi niềm những cảm xúc riêng. Chẳng có lý do gì mà nhà thơ lại bỏ qua một truyền thống đã đi cùng nhân dân ta, đã bồi đắp cho nên lớp nền vững chãi cho ta cắm lên ngọn cờ dân tộc tung bay phất phới, đó chính là truyền thống ngàn đời.

Và rồi Đất Nước lại lớn lên, với hình ảnh hạt gạo, trải qua biết bao thử thách để được trắng ngần, dẻo thơm, và hạt gạo cũng chính là nguồn sống nuôi dưỡng bao thế hệ:
"Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng"
           Hạt gạo đã họa lên truyền thống trồng lúa cùng như thể hiện được đức tính cần cù chịu thương chịu khó của nhân dân ta. Bởi một hạt gạo muốn thành cơm phải trải qua biết bao gian truân  một nắng hai sương biết bao đời gìn giữ gắn bó, nhắc đến bông lúa ta như thoang thoảng ngửi được hương thật thơm, thật ngọt của mùi lúa chín, Hạt gạo muối trắng thơm bóng mẩy chính là khơi nguồn từ biết bao công đoạn  từ ngày gieo mạ, đến ngày trổ bông, lúa gặt về còn phải xay, giã, giần, sàng, phải công phu lắm mới làm nên được bát cơm trắng dẻo:
"Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần"
Chính vì thế hạt gạo đã quí nay còn quý hơn.
xay, giã, giần, sàng bốn công đoạn quan trọng để tạo nên hạt gạo đã gợi lên sự cực nhọc vất vả, và nhọc nhằn của người nông dân để tạo ra hạt lúa, hạt gạo. Cơm trắng ta ăn chính là thành quả của những giọt mồ hôi đã rơi xuống để đỡ lấy những hạt ngọc tinh túy của đất trời, bằng đôi tay chai sần vì nắng, vì gió, vì đồng áng, của người nông dân Việt Nam chất phát thật thà. Mỗi hạt gạo nhắc người ta nhớ đến sự lao động của người nông dân từ đó biết quý trọng hạt gạo bởi mỗi hạt gạo chứa đựng cả truyền thống lịch sử dân tộc ta.

                                              "Đất Nước có từ ngày đó"

Vậy là  Đất Nước có từ ngày đó, Nguyễn Khoa Điềm đã kết thúc cho câu hỏi Đất nước có từ bao giờ. Đất nước đã được Nhà thơ khởi nguồn lên qua những chất liệu văn hóa dân gian, khi câu từ không chỉ trau chuốt mượt mà, mà còn gợi hình gợi cảm, dẫu không nhắc trọn vẹn câu ca dao, không những sự tích, phong tục đời thường mà tất cả chỉ gợi, nhưng chính điều ấy đã tô điểm cho tư tưởng "Đất Nước của nhân dân, của ca dao thần thoại" tạo dựng một hình ảnh Đất Nước đầy quen thuộc gần gũi và trường tồn với đời.  âm thanh nghe như những tiếng từ ngày xa xôi vọng hai tiếng ngày đó, khơi gợi lên cảm nhận về khoảng thời gian thật lâu về trước, ngày xửa ngày xưa, và lời thơ như được ngân dài tựa như nỗi nhung nhớ mỗi khi Đất Nước được 'cất tiếng" thành lời. Đến câu Đất Nước có từ ngày đó người đọc đều như  nhỏ giọng hơn để cho thanh âm nhỏ dàn nhạc dân, để lắng nghe cho tiếng nói Đất Nước rõ hơn hòa cùng trong không gian vẫn miệt mài chảy trôi.

     Đất nước Khổ 3

               Tư tưởng chủ đạo trong bài thơ đã được tác giả thể hiện qua các bình diện trải dài từ văn hóa, lịch sử, địa lý, trải rộng trên mọi khoảng không gian, những sự gắn kết giữa các nét đẹp văn hóa, tâm hồn đã tạo nên bức tranh rất đậm chất thơ của Nguyễn Khoa Điềm và mười ba câu thơ tiếp là những minh chứng cho điều ấy.

             Nguyễn khoa Điềm đã làm rõ nên tư tưởng chủ đạo "Đất Nước của nhân dân" ngay từ những câu đầu tiên, như thể hiện lên những nồng cốt rằng Đất Nước ở trong ta không đâu xa mà giản dị bồi hồi gắn kết con người ta với nhau, thể hiện sâu sắc nên cội nguồn văn hóa:'

           Một bài thơ hay, chính là những vần thơ mang đầy nhạc điệu, tạo nên khúc ca tươi tắn, thúc đẩy những mộng tưởng, những khát vọng về Đất Nước, về sống trách nhiệm.
                                 "trong em và anh hôm nay
đều có một phần Đất Nước
       Lời thơ là tiếng ngân dài mở rộng không gian của Nguyễn Khoa Điềm, cùng thể thơ tự do, tạo nên không gian to lớn để thêm vào đó những thông điệp sâu sắc, những lý tưởng cuộc đời và trách nhiệm với Đất Nước. Đất Nước giờ đây không còn là chỉ trong những câu chuyện dân gian hay trong không gian địa lý, lịch sử và Đất Nước giờ đây không chỉ là những điều gần gũi bình dị mà còn ở trong chính con người chúng ta. GIữa anh và em có một tiếng và tiếp nối, tựa như khẳng định sứ mệnh Đất Nước có trong mỗi con người, cùng mang Đất Nước trong hành trình đi lên, một tiếng và đã nói lên sứ mệnh của cá nhân với cộng động.  Trong anh và em đều có một phần Đất Nước, chính ta là định nghĩa của một Đất Nước, Đất nước có phong tục, có những tính nết riêng và ta, sinh ra và lớn lên trong lòng Đất Nước ấy, ta thấm nhuần những cốt cách đơn thuần ấy mà lớn lên, chính lẽ đó trong anh và em đều có một phần Đất Nước. Nhưng những người con của Đất Nước, ta lớn lên ở những nơi khác nhau trên Đất Nước, ta có nhiều hơn một cái riêng trong chính ta, nhưng cái riêng ấy không mất đi đâu, hay biến tính ra sao mà cái riêng ấy, cái riêng trong phần anh, cái riêng trong phần em, hai thứ riêng biệt với điểm chung cùng có trong mình một phần Đất Nước. giữa anh và em có một tiếng và tiếp nối, tựa như khẳng định sứ mệnh Đất Nước có trong mỗi con người, cùng mang Đất Nước trong hành trình đi lên, một tiếng và đã nói lên sứ mệnh của cá nhân với cộng động. Thời gian ngày "hôm nay", là kết tinh của Đất Nước hôm qua, Đất Nước như lớn lên từng ngày, lời khẳng định một phần Đất Nước, tiếng ní đầy tự hòa , ý niệm mỗi công dân đều là một phần tử của cộng đồng" được diễn tả một cách đây trữ tình tình từ đó gieo biết bao. Mỗi người anh và em đều mang trong mình một phần Đất Nước, đó chính là tiếng nói tự hào đầy thiên liên. là lời khẳng định với ý niệm mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng" được diễn đạt một cách trữ tình, giản dị qua cách nói chuyện của đôi lứa, trong từng con người có một niềm tin chiến thắng mãnh liệt:
"thế hệ chúng con ồn ào, dày dạn
sống thì đi mà chết thì nằm
Giọt lệ phần mình, nụ cười dành bạn
Đất nước là một cuộc hành quân dài"

Từng anh từng em đến mọi người, từ hôm nay đến ngày mai, mọi thứ đang được Nguyễn Khoa Điềm sắp xếp theo tuần tự tăng dần về hình thức lẫn số lượng, những điều này đã góp phần thể hiện một sứ mệnh kết nối, đoàn kết là sức mạnh của Đất Nước:

Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng mình hài hòa nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn, to lớn"

        anh và em một Đất Nước Đất Nước trong tâm hồn anh trong trái tim em, ta đứng hai bên chiến tuyến nhưng có cùng một sợi dây liên kết, Đất Nước không chỉ nơi ta đứng mà con là mảnh hồn ta lớn lên từng ng trong thâm tâm ta, Đất Nước ở trong ta khi còn thơ bé, đến khi trở  thành người có ích cho đời. cầm tay truyền gửi sự yêu thương trân thành, tựa như bồ công anh, một ngọn gió cuộc đời ghé qua làm bùng lên cả một chân trời hoa lệ, gieo hạt mầm móng xuống đất, vào trong chính con người ta tự như âm vang của sự reo vui nồng nàn khi ta yêu nhau, khi trao yêu thương cho nhau. Đất Nước trọn vẹn không có bất cứ khoảng cách, nhưng khi ta sống vì mọi người cống hiến cho xã hội, thì khi ấy cái nắm tay trở thành cầu nối giữa người với người biến hai cá thể riêng thành một bởi ta có chung một Đất Nước, "khi ta nắm tay, Đất Nước trong ta hài hòa nồng thắm" ta tô màu cho cái chung của đôi ta bằng một màu sắc hòa trộn giữa hai ta. Nguyễn Khoa Điềm đã tạo dựng một Đất Nước đầy gần gũi với những lẽ thường trong cuộc sống, lấy tình yêu đôi lứa để chan hòa cho hai tiếng Đất Nước, hay trên tất cả Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm mang đến những màu nhiệm riêng, mang đến những sắc màu riêng của cuộc sống. Sử dụng điệp từ "cầm tay" Nguyễn Khoa Điềm như thể hiện lên một  Đất nước lớn mạnh, trọn vẹn và to lớn khi và chỉ khi ta cầm tay mọi người, ngụ ý cho một sức mạnh đoàn thể, của những con người có lẽ còn khác nhau tập tục văn hóa, nhưng lại hòa chung với nhau một nỗi niềm Đất Nước, đầy to lớn, câu thơ tựa như bài hát "nối vòng tay lớn" của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, khi ta nắm tay ta chan hoà tất cả ta hoà thành một, thành bức tường thành bao bọc lại Đất Nước, nối Đất Nước lại cùng nhau. Một Đất Nước vẹn tròn to lớn vì ta yêu, ta công hiến chính khối  đại đoàn kết dân tộc ngày càng đưa Đất Nước đi cao đi xa hơn, không điều gì làm ta lung lay, làm hoài nghi Đất Nước tất cả đều mang chung một Đất Nước
  đất Nước của người con gái, người con trai
đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
xa nhau không hề rơi nước mắt
nước mắt để dành cho những ngày gặp nhau"
          một Đất Nước Nhân dân cùng đã từng được nam hà khẳng định đất nc trong mỗi cá nhân khi ta cùng hòa hợp Đất Nước không chỉ đẹp ngát hương như những cánh hồng mà còn trở nên mạnh mẽ tựa sắt thép chiến đấu quân thù, tất cả trước mắt nỗi đau của chiến tranh ta giữ lại cho ngày gặp nhau, ngày đoàn viên, ngày đại thắng. Giữa những cá nhân ta đã hòa cùng nhau trong khúc hành ca chiến thắng chính lẽ ấy mà mới tạo nên một đất màu nhiệm đến nhường ấy. Cùng thể thơ tự do không hạn định về không gian khoảng cách, bài thơ đã được ngân dài vô ngã, Đất Nước trong cách dựng hình của Nguyễn Khoa Điềm tựa như một con rồng nhập vào từng hồn cốt người việt, chảy chung dòng máu lạc hồng.
         Tiếp nối của những tình yêu về một Đất Nước con người, Nguyễn Khoa Điềm nối dài tiếng nói nghệ thuật đồng thời gửi gắm một niềm tin cho thế hệ trẻ.

Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng
               
          Đất nước ko chỉ ngày một ngày hai, Đất Nước là quá trình dài dẳng đau thương và mất mát. Ở đoạn thơ trước nhà thơ gọi nhắc về quá khứ "những người đã khuất" nhắc đến thế hệ hôm nay qua "những ai bây giờ",  và đến đoạn thơ này  chính là tiếng  "mai này" cùng "con ta"  Nguyễn khoa điềm đã gửi gắm niềm tin cho tương lai của Đất Nước, một lần nữa đại từ phiếm chỉ "ta" được sử dụng, "con ta" là những đứa con của triệu gia đình, dùng hai tiếng con ta tựa như tình cảm của chúng, ta cùng là con của một gia đình máu đỏ, da vàng. Cái niềm gửi gắm của Nguyễn Khoa Điềm đã vô tình mà đồng điệu cùng lời thơ của phan hoàng đang cho con mình đều là những khát khao về mai này:
Một nụ cười của con
một nụ tầm xuân
từ máu thịt mẹ cha nở ra xanh ngắt
khơi ngọn lửa khát vọng
xua mùa đông giá rét
bừng ngôi sao ước mơ
tỏa hy vọng những trần đời
Những người con ấy lớn lên từng ngày trong tình yêu thương của gia đình, đã trưởng thành để vững bước trên hành trình phát triển, bước từng bước trên đại lộ thành công, làm rạng danh nước nhà, cho lá cờ đỏ sao vàng được phất phới trong nền trời tự hào, mạnh mẽ. Những ước mơ được đặt lên lớp con sau này chính là những mong mỏi hoài bão của thế hệ đi trước, những lớp người đã không kịp thực hiện ước mơ, giờ đây họ gửi gắm nó tới con cái, những con đường tươi sáng, không khó nhọc cực khổ. Những năm tháng chìm trong khói lửa, ước rằng Đất Nước được độc lập vẹn toàn thì giờ đây khi Đất Nước độc lập, mong muốn khẳng định mình trên giản đồ thế giới. Những lớp người sau này mang trong mình hành trang của thời đại, gánh vác một Đất Nước đi lên. Dù có đi xa đến đâu ta vẫn là một phần Đất Nước từng lời ăn tiếng nói ta đại biểu đi xa, dẫu là có đi ngàn dặm đường Đất Nước vẫn không bao giờ nhòa đi trong trái tim bởi dòng máu lạc hồng sẽ mãi chảy trôi trong từng con người ta. Đất nước vẫn ở đấy qua hai chữ "lớn lên" đã thể hiện một tháng ngày mơ mộng mà ta phải cống hiến xây dựng cho tổ quốc, tạo nên tuổi trẻ tươi đẹp với những tháng ngày hoa mộng vì tuổi trẻ ấy ta sống có ích, sống có ý nghĩa, đã cống hiến hết mình vì chăm sóc bảo vệ. Đất Nước không thể tự khoác áo bào cho mình những con người ta thì có thể, dẫu cho có khác nhau thì phần người sẽ luôn sẽ luôn không ngừng tiếng bước để bồi tụ cho một Đất Nước muôn đời, chạm đến những tháng ngày mơ mộng. Một giấc mộng huy hai hoàng rực rỡ ta đặt tên Đất Nước mình lên đại lộ danh vọng của thời đại, khẳng định một Đất Nước dẫu nhỏ nhưng không yếu.
      "Anh không bắt đầu thơ mình từ sách vở, từ phòng văn mà từ hiện thực cuộc chiến đấu của nhân dân, Đất Nước" Như một thứ tư tưởng chung đã thấm nhuần vào trong tất cả, Nguyễn khoa điềm lần nữa khẳng định Đất Nước trong ta, từng máu xương ta có đều thể hiện một phần Đất Nước:

Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
làm nên Đất Nước muôn đời..."

Tiếng gọi "em ơi em", tựa như tiếng gọi tâm tình của đôi lứa yêu nhau, tiếng "em ơi em" vang lên như tiếng gọi yêu hỡi muốn bày tỏ hết những tâm tình mình cho người mình yêu, Nguyễn Khoa Điềm đã hóa giọng văn chính luận thành những nét trữ tình  khiến giọng văn chính luận không còn khô khan mà còn tô điểm thêm những màu sắc, từng nét nghệ thuật trong Đất Nước đều đã đặt tã cho một Đất nước từ những gì nguyên sơ chân thành nhất đại biểu cho tiếng gọi những người em, người đồng đội, những chiến sĩ cách mạng đang mất dần những hoài mong vào Đất Nước. Một tiếng Đất nước là máu xương của mình, độc lập ngyaf hôm nay, yên bình ngyaf mai chính là được đánh đổi bằng biết bao xương máu, từng lớp người của thời đại vàng ấy, đã bón thân mình cho đất, đã gieo hồn mình vào núi non, để bảo vệ lấy từng tất da tất đất Đất Nước, nhuộm đỏ một lá cờ bay phất  phới, giờ đây lá cờ phất phới trong ngày độc lập hôm nay, là lời khẳng định cho những người cha, người ông, người anh, người chị đã dành cho Đất Nước, mong cho từng tất đất khắc ghi công lao của nhwungx người nằm xuống, có vinh quang được hưởng lấy độc lập những thế hệ sau "phải biết" phải điệp phải biết trong thơ nGuyễn Khoa Điềm đã khẳng định cho vai trò tầm vóc, và giờ đây nó là sứ mệnh ta đặt trên trái tim, phải biết gắn bó san sẻ Một lần nữa khẳng định lại hình hài tình thái Đất Nước, rằng ko nhìn đâu xa, chẳng đi đâu vội ta nhìn ngay ta, chính đôi tay ta đang viết, đôi mắt ta nhìn nhung và dòng máu đỏ chảy trong huyết quản ta chính là Đất Nước. Nghệ thuật điệp cấu trúc "phải biết" như một mệnh lệnh từ trái tim để nhấn mạnh, để khắc sâu sứ mệnh tổ quốc trong thâm tâm, hàng loạt động từ mạnh "gắn bó' "san sẻ" "hóa thân" xuất hiện dồn dập ở mức độ tăng tiến càng khơi dậy khát vọng, lý tưởng lẽ sống cao đẹp với Đất Nước,Phải gắn bó san sẻ với chính mình tựa như tìm về những ý niệm trg linh hồn, chỉ khi hiểu được ta là ai, ta muốn gì ta mới giúp chính mình đi lên và Đất Nước cũng thế, chính ta một phần của Đất Nước ấy phải hiểu Đất Nước cần gì để cho Đất Nước, để cống hiến cho Đất Nước, tất cả hòa quyện lên một. Biết gắn bó san sẻ là khi ta sẵn sàng cho đi, hy sinh vì Đất Nước như chế lan viên
"ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt
như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi tổ quốc nếu cần ta chết
cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông'
Đất Nước không chỉ dừng lại ở chừng ấy mà "hóa thân", một quan niệm trong phật pháp là nhập vào hay biến thành, ta từng thấy nó trong cùng một cái ngày xửa ngày xưa của cô tấm đã lần lượt hóa thân thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửa, rồi đến quả thị, nhưng để có thể hóa thân cho một Đất Nước trong thâm tâm mỗi chúng ta cần có một tình yêu, lòng dũng cảm bất khuất sẵn sàng hy sinh. Tứ thơ đã để lại trong lòng người đọc biết bao suy tư tình cảm về tổ quốc ấy chính là tiếng nói mang sức mạnh "mang sức mạnh ý chí khát vọng vượt ra ngoài giới hạn thông tin ngôn từ" mà Nguyễn Khoa Điềm bộc bạch, tựa như dòng huyết quản chảy trong lời thơ Xuân Diệu:
Tình yêu tổ quốc là đỉnh núi bờ sông
Đến lúc tột cùng là dòng huyết chảy"
   
   "giá trị nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó, nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc tình cảm, chứ không phải cái tư tưởng thẳng đơ trên giấy", lật dở từ trang vang ta thấy được Đất Nước với tư tưởng "Đất Nước của nhân dân" đã thấm nhuần trg con chữ, mạ lấy những con chữ thời đại, từ chiều dài lịch sử, chiều rộng không gian địa lý và chiều sâu văn hóa dân tộc bao đời nay gìn giữ, vậy nên Đất Nước chính là nhân dân là thế hệ đầu bồi đắp lên những Đất Nước ngày nay, là lời khẳng định cho sự gắn bó lâu dài và bền chặt với Đất Nước Chính lẽ đó ta phải bảo vệ chính mình, chính là đang bảo vệ lấy một tương lai Đất Nước. Gắn bó với Đất Nước qua những câu chuyện ngày xửa ngày xưa được kể lại, ta gắn bó với những năm tháng chiến tranh tất tử, ta đã dành ngần ấy năm để đi qua giông bão, Đất Nước đã ở đấy cả nghìn năm để hình hài như lúc này. Chứng ấy đã đủ để ta soi chiếu một Đất Nước

12 câu tiếp (cuối)
nối tiếp những tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến ánh nhìn mới trong nhận thức, sự hóa thân của nhân dân trong từng vùng đất chữ S. Đi suốt ngần ấy năm trong khói lửa nhân gian, chính nguyễn khoa điềm đã hiếm ngần ấy những rung động của cuộc đời, giọng nói cuộc đời của nguyễn khoa điềm chảy trôi trong từng con chữ nơi được ông gửi vào đây khắc ghi những sa trường cuộc đời. Đất nước là một bình diện cuộc sống đầy văn hóa tình nghĩa, Đất Nước nguyễn khoa điềm là Đất Nước với những kỳ quan nối dài với những văn hóa đời thừa đầy sáng trong. Đất Nước gắn liền với những tạo vật của cuộc đời của trời đất, những sự trù phú trên đời được trời đất bồi tụ mà còn là những hình ảnh gắn liền với đời sống đời thường:

" những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi vọng phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn trống mái"

NHững con  người nơi Đất Nước của nguyễn khoa điềm những hóa thân của cuộc đời màu nhiệm, những người đã góp phần hồn mình vào những thắng cảnh, gieo phần thân mình vào từng tất da tất đất bồi tụ trên dọc mảnh đất rồng thiêng. Nhà văn chọn cho chính mình nhưng thắng cảnh mà góp vào đời ở nơi những hòn vọng phu tại bình định gắn liền cùng với nàng tô thị bồng con chờ chồng mà hóa đá. Tiết hạnh người đàn bà  cùng sự chung thủy, làm người đọc như hồi tưởng lại những dòng ca dao
"đồng đăng có phố kỳ lừa
có nàng tô thị có chùa tam thanh"
nối tiếp những vẻ đẹp sắc son trong con người Nguyễn khoa điềm tiếp tục dùng những vần thơ, địa danh gây liên tưởng đầy cao cả tạo nhìn nhận đến những sắc son tình nghĩa chung thủy của những người vợ khéo dài thêm những dòng liên tưởng chính là nguyễn khoa điềm với những hòn trống mái, tiếp tục là những vần thơ mang đậm đầy tình nghĩa, về chàng ngư phủ cùng người vợ tiên kết duyên đã hóa thân thành mãi những sắc son núi non . Những vẻ đẹp ấy chan hòa, hòa quyện thành những nét đời trên dọc mặt trận chữ S, tình nghĩa ấy dường như làm ta gợi nhớ đến nàng vũ nương,  những người phụ nữ sắc son chờ chồng đã in sâu vào những trang văn, tạo nên những dòng rung cảm rất mực rõ nét trên cuộc đời. Dùng những ân nghĩa tình cảm vợ chồng để làm đẹp lên hình tượng bất diệt của Đất Nước mình trên năm châu bốn bể, trở thành một phần sức sống cho thơ ca:
"vọng phu đá ẩn bóng người
Trông chồng mòn mỏi biển trời khắc ghi
đây hòn trống mái uy nghi
Mối tình son sắt chia ly sao đành"

Tình nghĩa vợ chồng đầy sắc son trong những nghịch cảnh, trong muôn vàn nghịch cảnh từng hiện diện, chiến trinh là nơi uyên ương xa cách nhưng lại là ẩn hiện cho văn hóa nhân dân ta đầy sâu sắc, văn hóa chống giặc ngoại xâm được lưu truyền trong những phần hồn đất việt như cái tên của chàng phù đổng thiên vương năm xưa:

"gót ngựa của thánh gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
chín mươi chín con voi góp mình dựng đất tổ hùng vương"

những danh lam thắng cảnh đã góp phần tạo nên một Đất Nước đầy màu nhiệm, của những câu chuyện thần thoại đầy hào hùng đã góp phần làm rõ hơn những gì mà nguyễn khoa điềm đã mang vào,  tạo nên những nhịp điệu tinh tế trong phương thức liệt kê từng địa danh, góp phần tạo nên bề dày chiều sâu của Đất Nước, ở những nơi núi non, những dấu vết trên cuộc đời. Nếu chín câu đầu tre đã lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc thì giờ đây, tre đã trưởng thành hơn khi chính trễ giờ đây, tre đánh đuổi giặc ân, góp phần cùng chàng gióng bảo vệ chính phần Đất Nước, và rồi để lại với dân gian "ao dầm" hình móng chân ngựa có ở khắp chân núi Sóc Sơn, đã khiến độc giả không ngừng tự hào. "chín mươi chín con voi" bao quanh hy cường ở phú thọ đã góp phần tạo nên một phần lịch sử Đất Nước đầy thân thuộc, hình ảnh con người phi thường, hình ảnh những con vật quen thuộc trong mỗi bảng làng: ngựa với cùng tập hợp để tạo nên những thần hôn thắng cảnh cho một phần Đất Nước khứ hồi cho một khoảng thời gian tươi đẹp đầy diệu kỳ với truyền thống anh hùng dân tộc yêu nước và quyết tâm giữ lấy Đất Nước.

Đất nước có Bắc có Nam, cùng những hình ảnh đầy thân quen :
"những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm"
Đứng đầu trong hàng ngũ của tứ linh "long- lân-quy-phụng" hình tượng rồng luôn được biểu trưng với những nét bút đặt xuống đầy tinh xảo trên nhưng chiếc áo vua ngày xưa, nét đặt tả đầy trù phú thịnh vượng tựa như ẩn hiện cho một niềm khát khao về một Đất Nước phồn thịnh, Như gợi nhớ lại cho con người ta đến với tên gọi đầu tiên của thủ đô Hà Nội " thăng long" _rồng bay, và rồi ở vùng đông bắc có hạ long- rồng hạ, và vùng đồng bằng sông cửu long chảy nặng những phù sa bồi tụ đưa con sóng xô vào lòng dân tộc một miền kì vĩ, để rồi từ hình ảnh cửu long giang ấy, một lần nữa hiện lên trước mặt người đọc, để rồi phải choáng ngợp trước vần thơ "im lìm" của Nguyễn KHoa điềm như đang tạo ra trăm rồng cùng đua trên mặt chữ , nhưng lại nằm im trên mảnh đất chữ S, phải chăng những long thần đã chôn cất riêng phần mình để an ủi, gìn giữ từng tất da tất đất của mãnh hồn cho dáng hình chữ S thân thương. Nguyễn Khoa điềm thật sự đã có một hành trình dài để nuôi lấy trong hồn mình những giá trị Đất Nước đầy rõ nét như cái cách chế lan viên khẳng định về hồn thơ.

"cái kết tinh của vần thơ là muối biển
muối lắng ở ô nề và thơ đọng ở bề sâu"

Văn chương lỗi lạc, gìn giữ trong con người trong suốt những tháng ngày phong ba bão táp chính  là hành trình đi tìm kiếm tri thức, chính lẽ ấy đã góp phần tạo nên những năm  tháng tri thức, gieo những hạt mầm tạo nên những niềm kiêu hãnh của Đất Nước.

"Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi bút non nghiên"

Bay bổng trong dòng thơ chính là ánh nhìn đầy hiếu học của những hồn con đất việt, những núi bút non nghiên được những người học trò nghèo, nhưng hiếu học tạo thành. Một truyền thống hiếu học không chấp nhận những bất khuất trước cuộc đời, từng ấy đã góp sức cho một mặt trời đầy rõ nét về những chân lý ngạo nghễ cuộc đời, chính tri thức là nguồn cứu đói, chính tri thức sẽ đưa con người đi xa, xuyên suốt hành trình trưởng thành con người ta dần nhìn nhận được những khắc đã hy sinh của biết bao máu thịt cha ông của những vị anh  hùng chẳng được nhớ mặt đặt tên. chính từ ngày ấy nền văn hóa đại việt, nền văn hiến lâu đời đầy rạng rỡ.

Nhà thơ lưu quang vũ viết " nếu ta là những kẻ không có tài chí lắm, không viết được điều gì to tát, thì cũng sẽ viết được những trang sách về những năm tháng ta sống, về những cay đắng và những niềm yêu thương đơn giản của con người" thưởng trọn những trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm ta càng thêm trân quý những điều giản đơn trên dọc đường Đất Nước:
     
  "con cóc, con gà quê hương cùng góp cho hạ long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông đốc, Ông trang, Bà đen, bà điểm"

Hàng loạt những động từ được tiếp nối nhau "góp" "góp nên" "để lại"... được nhắc đến trùng diệp đầy tinh tế đã và đang tô điểm cho từng tất đất việt nam, đã để lại một Đất Nước trên bình diện đầy mới mẻ qua từng dòng thơ, tù những ngựa voi rồng cho tới những con vật nhỏ bé như con cóc con gà, tất cả đều mang dáng hình quê hương, làm đẹp cho một Đất Nước trọn vẹn suốt bao trăng. "cùng góp cho hạ long một thắng cảnh" là di tích thế giới được ghi nhận bởi UNESCO, như một lời khẳng định cho vẻ đẹp của Đất Nước ta, in dấu ấn mãi trong lòng những người may mắn được ghé thăm, Và rồi Đất Nước lớn lên từ "những người dân" "góp tên ông đốc, ông trang, bà đen, bà điểm". và miền nam hiện lên trong trang văn hình ảnh chịu thương chịu khó, lam lũ dãi nắng dầm sương tạo nên biết bao cơ đồ, dựng xây núi sông, bờ cõi, nhà của, ruộng nương. Từ bắc vào nam nơi đâu cũng đầy những chiến tích lịch sử đầy oai hùng, đến đâu cũng là những núi non trùng diệp được phủ từ những ước mong khát vọng và lần lần chìm vào thân trầm và bình dị.

Ta còn nhớ văng vẳng câu thơ đầy ám ảnh trong tác phẩm tây tiến:
"rải rác biên cương, mồ viễn xứ
chiến trường đi chẳng tiếc đời anh'
dáng hình Đất Nước ngày hôm nay, là ngần ấy những thăng trầm bom đạn, là ngần ấy những xác thịt cha ông rơi dọc suốt dọc đường hành quân, là những xương, thịt nối dài mảnh đất, là những hồn xanh đã góp đời xinh tươi , chính cảm hứng ấy dường như khiến Nguyễn khoa điềm khẳng định:'

"và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha"

tiếng " một điệp liên dòng từng khúc trong câu thơ như cho ta thấy được dáng hình nhân dân trên "khắp ruộng đồng gò bãi" dù nơi nhỏ hẹp nhất hay nơi rộng lớn nhất, đều là những góp sức những xây dựng của những danh tinh kiêu hùng được lưu danh sử sách, được khắc lên những bia mộ về những chiến công cuộc đời, đó là một lối sống một khát khao ngàn đời của ông cha ta. qua đó chính câu thơ khẳng định: "nhân dân không chỉ góp nê những danh lam thắng cảnh mà còn góp nên những giá trị tinh thần, văn hóa, phong tục tập quán đã và đang lưu dấu qua từng thế hệ.

"ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta...'

điệp từ "ta" cùng "ôi" được lặp lại lần nữa kết hợp cùng nhau như tạo nên một âm vang ngân dài đầy lắng đọng, thể hiện lên những nỗi niềm. "núi sông ta" ngày hôm nay vẫn sừng sững hiên ngang chính bởi vì những tổ tiên ta những con người đã hóa núi sông, góp thân mình cho mùa xuân mới của tổ quốc. Và sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy những cuộc đời, những số phận đã góp nên những núi những sông của ngày hôm nay, đã được in  những dòng chữ in hoa trên những ngã rẽ, con đường. Một câu thơ đầy chan chứa những tình cảm, tình nghĩa đầy sâu sắc. Tất thảy tạo nên một Đất Nước tuyệt đẹp.

Mười hai câu thơ chính là mười hai trang viết bộc lộ hết thảy những tận hứng cuộc đời của Nguyễn Khoa Điềm với Đất Nước, Đất Nước được khám phá trong những góc độ đầy mới lạ và làm rõ lên tư tưởng "Đất Nước của ca dao thần thoại, Đất Nước của nhân dân"  Bằng cách liệt kê các địa danh theo hướng từ bắc xuống nam Nguyễn Khoa điềm đã dựng nên một tấm bản đồ bằng chữ, nhưng lại đầy sinh đẹp lộng lẫy với những cảnh đẹp trời cho Đất Nước ta, Dòng thơ là lời khẳng định cho vẻ đẹp, tình cảm ngàn đời của Đất Nước ta. Nguyễn khoa điềm đã giải nghĩa từng những địa danh qua từng câu chuyện, sự tích gắn liền bao đời nay, đã thể hiện được  sự hóa thân nhân dân vào Đất Nước, tất cả hóa thân cho một dáng hình Đất Nước đầy trù phú, trong từng địa danh nối lên vòng Đất Nước, lời thơ là lời khẳng định cho sự to lớn, vĩ đại của một Đất Nước, qua từng ý thơ trùng điệp Nguyễn Khoa Điềm không chỉ khẳng định từng tất da tất đất của Đất Nước ta mà qua đó còn cho ta nhận ra, trong từng nắm đất mồ cỏ là máu thịt ông cha, và ta những người con chảy chung dòng máu đất việt có chung một sứ mệnh gìn giữ  lấy từng gò đất ấy. từng danh lam thắng cảnh ấy.

KẾT BÀI

   Khép lại (chín/12/13)  câu thơ (đầu) Nguyễn Khoa Điềm  đã hoàn thiện bức  họa Đất Nước bằng cách vẽ của riêng mình Đất Nước trong ông đã hiện lên trước mắt người thơ ông không nhiều vần, ko đi theo một lối cụ thể tưởng chừng như sẽ rất nhàm chán nhưng không Đất Nước của ông ko bị lu mờ, bị cuốn trôi theo dòng chảy của thời gian và cũng không bị lu mờ bỡi nhg bài thơ về Đất Nước cùng thời, Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, không vần, không quy luật rõ ràng xong chính điều ấy đã làm cho vần thơ cứ thế mà mặc sức lan tỏa cảm súc tới sâu hơn chính bỡi ngôn từ bình dị mộc mạc ko phô trương  bề thế mà Đất Nước dịu êm như bản tình ca khắc sâu vào lòng mỗi người bản tình ca giữa ta và Đất Nước, cùng vs kiến thức phong phú uyên bác nhà thơ đã  đưa hết 4 nghìn năm lịch sử vào từng câu từng chữ, giáo sư văn học từng nói rằng trần đình hữ "Một Đất Nước như thế ko thể có được bằng bút phát miêu tả bên ngoài" chính vì thế mà nhà thơ đã  dùng cách sũy tưỡng liệt kê đẽ đưa người đọc vào sự suy tưởng của chính mình, vào trong kí ức của mỗi người để khứ hồi về một miền xưa cũ của mình và nhìn Đất Nước bằng chính tâm hồn họ.
        Nhìn chung văn học Việt Nam thời kỳ chống mỹ đã chứng kiến sự ra đời của nhiều tuyệt tác. Đây là một gia đoạn thơ văn nở rộ như một vườn  hoa rực rỡ đầy sắc màu đặt biệt là văn học miền nam chính bởi vậy Đất Nước đã góp nên hương sắc dịu dịu vào trong tâm trí, in sâu vào trong ý chí các thế hệ thanh niên trên miền nam bây giờ cũng như toàn thể người dân đã thức tỉnh họ bảo vệ tổ quốc của một dân tộc anh hùng đâu ra đời trong thời địa mưa bão chiến trinh  nhưng "Đất Nước" vẫn dịu dàng như ng mẹ đẻ rồi bao nhiêu năm qua như đứng ngoài quy luật của thời gian Đất Nước vẫn giữ nguyên giá trị tinh thần ban đầu mà nhà thơ đã hướng đến ta càng hiểu càng thêm trân trọng càng thêm giữ gìn bảo vệ Đất Nước của chính mình.
vận dụng được chất trữ tình chính luận trong thơ, từng dòng thơ của Nguyễn Khoa Điềm là lời thức tỉnh tinh thần của thế hệ trẻ Miền Nam, dứt khoát đứng lên chọn lựa đứng về phía nhân dân và cách mạng. "Đất Nước" chính là nơi nguyễn khoa điềm đưa những cảm xúc, tình cảm thấm đẫm trong từng ánh nhìn kể về Đất Nước. Cùng ngòi bút giàu  tính suy tưởng thể hiện mạch lạc từng cảm xúc tạo nên một thi vị đầy nét trữ tình  chính luận.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co