Truyen3h.Co

Tây tiến

T

DoanUyen3

Dù thời gian có chảy trôi lâu hơn đi chăng nữa cái xúc nơi hai trái tim con người là thứ chẳng thể thay đổi. Chính lẽ dẫu cho đã đi cùng ta ngàn đời thì văn chương vẫn luôn là thứ bất hủ trong trái tim của con người, văn chương là ánh nhìn thời đại là thư ký lịch sử hữu hiệu nhất và trên mặt trận văn học việt nam ta không thể quên một chiến sĩ cách mạng rất lòng tận tâm cho chiến trường máu lửa chính là nhà thơ Tố Hữu.
Là cánh chim đầu đàn của một phong cách thơ mới, những chẳng phải lúc nào ông cũng chọn thứ thơ cách tân để đem vào gia tài của mình, mà ông dùng thơ cộng ánh nhìn trữ tình con người lãng mạn. 'lá cờ đầu của thi ca cách mạng Việt Nam đã mang đến một Việt Bắc hào hùng, đậm tình quân dân.
Chính tổ hữu tứng viết "thơ chỉ trào ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy việt bắc ra đời rất đúng lúc cùng là một bài thơ không viết không được, sau chín năm kháng chiến khi hòa bình một lần nữa lặp lại trên mảnh đất hình chữ S cũng chính là giây phút chia tay những người cán bộ miền xui khỏi mảnh đất Tây Bắc đầy hứa hẹn. sau những tháng ngày cũng chia sẻ những tấm chăn sui, những củ sắn lùi" Trong làn gió rét ta cảm nhận được hơi ấm thôi vào  lòng người ta nhè nhẹ chính là làn hơi ấm của tiếng hát khúc ca chiến thắng "việt Bắc", Bài thơ không chỉ gợi nhớ cho khoảng trời ký ức cùng nỗi nhớ, niềm vui, nỗi buồn mà con là một minh chứng cho tài văn thơ của lá cờ tiên phong Việt Nam. Tố Hữu đã xây dựng một bài thơ nói về tình nghĩa đối với quê hương, đối với kháng chiến trong niềm vui hiện tại và khát vọng về tương lai xa
Việt Bắc có tất cả những gì mà một bài thơ thời đại cần từ nét trữ tình lãng mạng, tới những yếu tố chính trị đầy sâu lắng cùng những mạch nguồn cảm xúc thiêng liêng trong thâm tâm nhà thơ : tình yêu quê hương đất nước.

Việt Bắc là lời thơ ngọt ngào tâm tình, rất tiêu biểu cho hồn thơ của tố hữu. Vẫn là tiếng nói của tình yêu, nhưng mà là tình yêu đất nước, nhân dân. Tố Hữu từng bộc bạch với nhà nghiên cứu ông quên rằng, ông đã phải lòng chính đất nước của mình, chính lẽ đó viết về nước ông  như viết về người đàn bà ông yêu. Cho nên tình yêu biến thành tình nghĩa và việc bắc trở thành tiếng nói chung của những người kháng chiến.

Người ra đi, người ở lại với xiết bao xuyến xao, trả lời cho biết bao suy nghĩ về một tương lai liệu có còn ân tình thuỷ chung như trước:

"Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn dinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu"

Hai tiểu đối "ta với mình- mình với ta" đan xen, kết hợp cùng đại từ mình ta tạo âm hưởng quấn quýt, sắc son một lòng một dạ.. Tuy hai mà một, dẫu cách nhau xa đến như thế nào, cũng luôn gắn bó  bền chặt, cán bộ nhân dân đã cùng nhau song hành trong ngắt nhịp 3/3 gắn bó với nhau trong suốt ngần ấy năm chinh chiến. Quan hệ từ "với" thể hiện sự kết nối, mức độ gắn bó can trường cao hơn, lòng ta trước sau như một không hề đổi thay. Từng vần thơ ngân lên tựa như lời thề nguyện gắn bó thuỷ chung tha thiết, kết hợp cùng "mặn mà đinh ninh" càng nhấn mạnh thêm tiếng tình nghĩa của người đi cho kẻ ở. Hình ảnh "nguồn" "nước" như thể là hiện thân cho lời gợi nhắc về đạo lý uống nước nhớ nguồn, khiên ta trăn trở về chân lý :

"Nước trôi nước có về nguồn
Mây đi mây có cùng non về"

Nỗi nhớ là miền biển xanh ngắt, mà đã lỡ xa chân chạm tới, ta chẳng thể nào thoát ly được, tiếp nối những hẹn thề trăn trở của nỗi niềm người đi, thì giờ đây chính là những nhớ rất riêng, rất là mãnh liệt trong vần thơ Tố Hữu:

"Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ nhung từng rừng nứa bờ tre
Ngòi thia, sông đáy, suối lê vơi đầy"

Nhà văn đã ví cái nỗi nhờ mình có như nhớ người tình, một nỗi nhớ đầy da diết, nỗi nhớ của cả một vùng đất nhưng tựa như nhớ người con gái trong mộng, qua đó thấy rõ được tình cảm nặng lòng của đoàn binh việt bắc với mảnh đất nơi đây,  nơi tình treo trên mặt trăng, chiếu rọi dọc đường người đi, tựa như những ân tình sắc son rọi đường cho những người chiến sĩ đi, ánh trăng kỳ ảo nơi đêm muộn cùng ánh sáng chiều trên nương, tố hữu đã vẽ tranh bằng chữ, đã tạo nên một khung cảnh đầy màu sắc cuộc đời, cùng xiết bao những nỗi niềm tình người, nỗi nhớ trong cùng khung cảnh. Điệp từ "nhớ" được lặp đi lặp lại nhiều lần trong câu, tạo lập lại những khoảng không gian, cho nỗi nhớ những ngày gắn bó hiện lên, những nỗi nhớ những khói sương trên mái nhà tranh. Với tố hữu "việt bắc" như đã nhập vào hồn ông, như đã ngự trị trong hồn ông những mảnh tình đong đầy, việt bắc với nhà thơ tố hữu là những giá trị nỗi nhớ đầy da diết chính lẽ ấy điệp từ nhớ như được trở đi trở lại trong tâm thức của nhà thơ và rợn ngợp trong tâm hồn người ở lại. Từng bản khói trong cơn gió lam chiều, từng sương phủ lạnh giá đêm đêm, cũng không ngăn được hơi ấm đã bếp lửa mà người thương đã bám vào, từng rừng nứa. Khung cảnh sinh hoạt được gài gắm vào trong những vần thơ, những địa điểm, từ rừng nứa bờ tre đến những địa danh như "ngòi thia, sông đáy, suối lê" nhưng một phép nói cho nỗi nhớ đc đan trãi vô bến bờ, đầy dài rộng.

Thơ ca là nơi ấp ủ cuộc đời, nơi những nỗi nhớ thương được dâng trào. Mỗi trang thơ là một vần điệu riêng nơi tạo cho con người ta những cảm xúc đầy ứ đọng. Bao trùm lên trên một việt bắc của tố hữu chính là một nỗi nhớ sâu vào miền núi từng gắn bó.

"Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi"

Nếu người ở lại đã cất tiếng mình đi mình có nhớ ta thì giờ đây người đi cất tiếng đáp, "ta đi nhớ những ngày", đó là những thiết tha mà còn lại của mười lăm năm thiết tha bên mặn nồng" với bao ân tình cao đẹp, mười lăm năm ấy laf gồng gánh cả một thời đại đất nước, một giang sơn đang chờ được giải phóng, chịu đứng bao gian khổ, khốn cùng,  đầy vấp ngã, cùng nhau qua những biến cố, đã thấm nhuần được ngần ấy những năm tháng Đắng cay ngọt bùi, chính lẽ ấy việt bắc người đi và việt bắc người ở đều là tiếng nói bất tử về tình yêu trên cuộc đời, dùng thành ngữ đắng cay ngọt bùi để nói về những gian lao khắc khổ mình từng đi chung để khắc ghi thứ tình cảm sinh ra từ trong tâm từ trong những ngày khốn khổ của con người nơi chiến trường thời buổi can trường. những ngày tháng gian khổ cùng nhau đã trở thành nỗi da diết trong trái tim nằm  trong mảnh hồn người về xuôi và với cuộc chiến, Việt Bắc đã thực sự là một tổ ấm đón đời ta về với những người thương.

Mây gió, cỏ hoa, xinh tươi đến đâu hết thảy đều từ trong lòng người nảy ra" (ngô thời nhậm). hỡi cho dù khuất bóng phía ngàn mây, vượt sóng vượt gió nơi núi sâu vực thẳm, tâm hồn người cầm bút vẫn đầy tình cảm bộc lộ dạt dào từ nỗi nhớ, đã hóa tinh khôi trong những trải nghiệm xiết bao của cay đắng cuộc đời và nhà thơ tố hữu đã thỏa nỗi nhớ thương tới những con người việt bắt và chặng đường hành quân, chính vì lẽ đó đã trở thành những hoa cỏ xanh tươi:

"Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô"

Thước phim hiện đại được tua ngược lại về những chiến địa ngày xưa, quay đến những ngày lạnh giá rét, buốt xương, buốt thịt, thiếu thốn đầy khốn khổ, phải chia sẻ nhau từng miếng sắn lùi, bát cơm "sẻ" nữa, đến tâm chăn sui cũng đắp cùng. Là những hình tháng gian khổ đầy thực tế, giữa người cán bộ và nhân dân, thương yêu nhau, gắn bó keo sơn, xót thương cho suốt những tháng ngày ấy bên nhau. Ba động từ "chia" "sẻ" "đắp" đã cụ thể hoá những hành động, những gắn bó, những yêu thương nơi giữa người đi và người ở. Những ngày tháng đồng cam cộng khổ bên nhau, những ngày tháng đói kém thì chia ngọt sẻ bùi, đói ta chia nhau củ sắn ăn chung, đến những bát cơm sẻ nửa. Và nhớ mùa đông năm ấy, giữa trong cái gió rét buốt có miến chăn sui đắp cùng. Ngoài trời gió lộng khắp lối nhưng những ấm áp ngự trị trên câu chữ được tố hữu gửi vào:

"Củ khoai, củ sắn thay cơm
Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng"

Tình cảm giữa người cán bộ cùng nhân dân tựa như thứ men tình cảm ấp ủ, ngày càng sinh sôi, đông đầy to lớn. Có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia. Tình cảm ấy làm ta như nhớ tới hình ảnh những người mẹ Việt Bắc hết lòng vì những đứa con, về những gian lao, khắc khổ cho một chiến địa việt bắc.

"Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô"

Hình ảnh người mẹ nắng cháy lưng đã gợi lên nhiều liên tưởng, cùng nhiều chiêm nghiệm sâu sắc. "Nắng cháy lưng" như nói đến thiên nhiên khắc nghiệt nơi núi rừng việt bắc. "Nắng cháy lưng" bờ lưng của người mẹ như thể được chiếu vuông góc với ánh nắng mặt trời, đã đốt cháy bờ lưng ấy, đấy chính là những chịu thương, chịu khó của người mẹ, của những người phụ nữ thời đại trong chiến tranh đầy khốn khổ, qua đó bật lên tiếng nói nhớ nhung của tác giả với những người mẹ "địu con" "bẻ từng" bắp ngô, lao đồng đầy vất vả, âm điệu nhẹ nhàng ấy dường như được bắt gặp trong tiếng thơ của  Nguyễn Khoa Điềm:
" ngủ ngoan a kay ơi, ngủ ngoan a kay hỡi
Mẹ thương akay, mẹ thương đất nước
Con mơ cho mẹ được thấy bác hồ
Mai sau con lớn làm người tự do"

Vẻ đẹp của người mẹ tà ôi trong những năm tháng kháng chiến hay vẻ đẹp của người mẹ trong những năm tháng kháng chiến của việt bắc. Tất cả bằng ấy đều nhấn mạnh lên tinh thần, ý chí một người mẹ, lam lũ đầy bất khuất, xứng đáng với tám chữ vàng mà bác hồ trao tặng "anh hùng-bất khuất-trung hậu- đảm đang"

Đỗ lai thuý từng tâm niệm "thơ ca là cấu trúc ngôn ngữ phức tạp, nó bắt ta phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ bằng chính những ngôn ngữ của nó" chính lẽ đó những vần thơ dẫu nhìn đơn giản, nhưng ta cần phải dàn trải, phải hiểu và suy nghĩ để nhìn nhận được trong nó chính là những nỗi nhớ nhung ân tình, những nỗi nhớ cách mạng tha thiết trong suốt những năm chiến đấu trên chiến trường, những năm tháng cách mạng trên mảnh đất việt bắt thân yêu.

"Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng, những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa"

Những năm tháng kháng chiến khắc nghiệt- một thời vang bóng trên khắp dọc đường đất nước, đã từng chiến đấu biết bao giặc, giặc đói , giặc dốt, giặc ngoại xâm, ... và khi cách mạng về con chữ theo đó mà gần thêm với những con người nơi đây. Những lớp học bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ. Đọc câu thơ lớp học i tờ như nhớ lại những ngày ấu thơ, được nghe những thanh âm rộn ràng của đám trẻ đánh vần, ghép chữ. Khắp núi rừng non sông như bừng rực lên những "đồng khuya đuốc sáng" trong những giờ liên hoan ấm áp đến nao lòng và thôi hiệu cũng phải từng bật thốt khi ghé đến vùng cầm sơn cũng phải bật thốt vì thứ tình cảm quân dân đậm đà:
"Ở đây bản vắng rừng u tối
Bộ đội mang gieo ánh chói loà
Ở đây những mặt buồn như đất
Bộ đội cười lên vui như hoa"

Nói về chiến trinh, nhưng không ngập màu đỏ, nói đến việt bắc ta chỉ thấy tâm hồn nhớ nhung da giết, cùng thứ tình cảm quyến luyện bện chặt của những người chiến sĩ lạc quan, yêu đời, trên tuyến đường hành quân.

"Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa"

Câu thơ giàu tính nhạc, ngân giọng trong câu thơ, điệp âm a như tiếng hát xa cho một quảng tương lai tươi sáng của đảng, cách mạng, tinh thần ấy đã xua đi những gian nan, khắc khổ trên tuyến đường đi và khắc sâu từng chút một những điều diệu kỳ trên tuyến đường hành quân giữa người đi kẻ ở trong một thời đã qua. Từng tiếng mõ rừng chiều" hiện lên, từng "chày đêm nện cối" văng vẳng "đều đều suối xa" chảy trôi trong dòng chảy triền miên của cuộc đời, chính những vẻ đẹp ấy gợi hồn ta trở lại với những nhớ thương để rồi bất thốt lên tiếng "nhớ sao" đầy lưu luyến, Dẫu những chi tiết nhỏ bé, nhưng lại mang sức gợi hình gợi tả đầy lớn kao. Những Thanh âm mang đậm tiếng nói thân thương quen thuộc suốt ngần ấy năm, ít tạt và dường như chẳng tài nào có thể quên đi được.

Đoạn trích là tiêu biểu cho khúc tâm tình của người đi dành cho người ở lại, qua cách vận dụng tài tình biện pháp nghệ thuật, cùng thể thơ truyền thống, điệp từ nhớ được lặp đi lặp lại nhiều lần, thể hiện nên rõ âm hưởng thường trực trong bài thơ. với lối đáp "mình-ta" tạo tiếng lắng đọng, và tô hữu đã hòa mình vào niềm vui lớn, tình cảm lớn của dân tộc, với những hình ảnh như nắng chiều, bếp lửa chăn sui tiếng mõ, tiếng chày đã gợi đến những tháng ngày gian khổ, lam lũ của con người việt bắc nơi đây.

Đoạn 12c khác (mái đình tân trào cây đa)

Thấu kính của nỗi nhớ bao trùm núi non, cội nguồn, nhắc nhớ người đi về những tháng ngày bom rơi đạn lạc khắc nghiệt mà quãng đường hành quân đã phải trải qua. Đại ngàn việt bắc không chỉ hùng vĩ vô tận mà còn chứa đựng những cơn "mưa nguồn" "suối lũ" "mây mù" chứa đựng biết bao mồ hôi công sức đã hòa cùng những trận mưa bão và cứ thế cuốn trôi từng kiếp người đau khổ, nhưng sau tất cả nhân dân Việc Bắt, cán bộ và chiến sĩ cách mạng vẫn vượt qua tất thảy những bão giông mà cùng nhau tiến về phía lá cờ đỏ kia:

"mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai"

Cặp thơ được Tố Hữu vận dụng như hai câu hỏi tu từ được cất lên đầy tha thiết, nhưng câu hỏi này không để hỏi, không bao hàm câu trả lời, mà là lời thơ khẳng định, nhắc nhớ lại những ân tình thủy chung chốn ban sơ, về những tháng ngày đồng đội gắn bó với nhau đầy sâu sắc. Căn cứ chiến địa Việt Bắc rộng lớn những núi non trùng điệp, rừng rậm bạc ngàn đã tạo nên thử thách của những con người sống tại nơi đây. Nhưng dẫu trong hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt, thức ăn không được đảm bảo, dẫu những "mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù" "miếng cơm chấm muối" vất vả khốn khổ đến nhường ấy, trên vai họ vẫn mang lấy trọng trách lớn lao của dân tộc, những nỗi đau đầy khốn khổ nơi ngực trái bồi hồi mỗi khi thấy đồng bào lần lược ngã xuống, sự đau đớn xé lòng ấy, ở lại trong thâm tâm người chiến sĩ, để trong trái tim là ngọn lửa hận thù chẳng tàn phai, đánh đổi bằng một ngày đại thắng trong tương lai đáng trông đợi. Dọc đường thơ Việt BẮc chính là tiếng hát những nỗi nhớ bất hủ của cuộc đời, vang vọng mãi trong thâm tâm người chiến sĩ, người cán bộ, nhắc nhớ về  những ngày khốn khổ quây quần bên nhau chia sẻ miếng cơm manh áo, san sẻ từng bat bát cơm cho ngày mai lên đường kháng chiến, dẫu dang truân khắc nghiệt của biết bao bom rơi đạn lạc nhưng cũng chẳng thể chia cắt được trái tim ân tình thủy chung luôn về nhau, cùng nhau đứng lên bảo vệ đất nước chữ S đáng kính.

Trên nhịp điệu thoi đưa của chiếc máy dệt, từng dòng kí ức dần hiện lên đan lát thành từng tấm lụa của nhung nhớ:

"Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già"

"các anh đi rồi, các anh về miền xuôi" "trám bùi" để lại cho ai "măng mau" đến bao giờ mới có thể được dùng?" dường như ở người ở lại có một nỗi xót xa đến vô ngần, nên mới cất lên lời ướm hỏi thầm lặng. Mượn "cái thừa" để nói "cái thiếu" trong vật chất, trong linh hồn, qua đó tác giả như nhấn mạnh rằng không chỉ nhân dân việt bắc mà thiên nhiên ở đây cũng vậy, cũng nhớ các anh đến vô ngần. Cả con người cùng thiên nhiên nơi đây như đang độc tấu chung khúc ca nhớ thương quyến luyến người đi. Tất thảy tạo nên một bầu không khí đấy tĩnh lặng nhớ thương, dạt dào chan chứa đong đầy cảm xúc vô cùng...

Mười lăm năm dằng dẵng bên nhau, cùng nhau trên tuyến đường việt bắc, mười lăm năm xuân xanh của những người chiến sĩ đắm mình trong mưa bom bão đạn và cả tình yêu thương gia diết của những nhân dân việt bắc đối với cán bộ miền xuôi. Chính lẽ ấy nhà thơ Tố Hữu đã phải bật thốt lên tiếng lòng "cảnh vật việt bắc như đã nhập vào hồn tôi, máu thịt tôi" Một bóng hình việc Bắc trong tim, trong tinh thần, ý chí của nhân dân và cán bộ, chính lẽ ấy khi phải rời xa mái nhà từng quyến luyến lòng người không khỏi những nuối tiếc:

"mình đi, có nhớ những nhà
hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son"

Những xót xa buổi tối, tựa phút chia tay người yêu được bộc lên nơi người ở lại đầy xót xa, cùng những băn khoăn 'liệu có nhớ" liệu người đi có nhớ về những ngôi nhà sàn thấp thoáng sau những bụi lau sậy hoang vắng, có nhớ những tấm lòng son sắt, thủy chung một lòng hướng về những người chiến sĩ cách mạng ngày ấy. Tâm trạng như lắng lại cho khoảng trời kí ức lần lần hiện rõ, khiến những nỗi nhớ những gia diết cứ thế quanh đi quẩn lại trong vần thơ của tố hữu qua những từ láy "hắt hiu" "đậm đà"  đều là những từ láy được đảo lên đầu câu nhằm nhấn mạnh cho sắc xám tro hiu hắt của cảnh vật và tình cảm đậm đà của nhân dân việt bắc. Dẫu thiên nhiên việt bắc có khắc nghiệt đến đâu, hoàn cảnh chiến đấu có thiếu thốn đến nhường nào thì những màu xám xịt của hiện thực ấy cũng chẳng thể xóa nhòa đi những tấm lòng son một lòng hướng về những người cán bộ, những người đã hiến về các anh trong suốt mười lăm năm chiến đấu. Hai hình ảnh đối lập giữa đời sống khắc nghiệt, khó khăn, một bên là son sắc thủy chung mãi không bao giờ thay đổi dẫu thế gian có truân chuyển thêm bao lâu đi nữa, dẫu cuộc đời có chuyển dời ra sao, thì lời người ở lại vẫn thế, vẫn sẽ ôm, sẽ chất chứa gia biết bao nỗi nhớ nhung, muôn vàn cảm xúc sẽ ở ngay bờ môi chẳng cách nào bật thốt.

Nỗi niềm lưu luyến, bịn rịn bao trùm lấy đoạn thơ, cảm xúc ấy ngày một lớn lan tỏa đến từng ngôi nhà sàn heo hút, núi non đất trời Việt Bắc.

"MÌnh về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, Thuở còn Việt Minh"

Tấm lụa đan lát bằng con chữ như biển nỗi nhớ của nhà thơ hiện hữu đầy rõ nét, trong từng cảnh vật của bao kỉ niệm đã từng qua, từng kí ức lần hồi hiện về, ngân nga trong từng vần thơ đậm đà tính dân tộc của Tố Hữu. Từ những ngày cao trào của kháng chiến kháng nhật cứu nước, từ khởi nghĩa từng phần và rồi nhân dân ta đứng dậy đấu tranh chống phát xít nhật bản ngay sau khi chúng đảo chính Pháp ở đông dương, đêns mặt trận việt minh "vũ khí chính trị" hiệu quả của ta khi thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, và rồi tất thảy trở thành nốt son chói lọi cho chiến thắng của cách mạng tháng tám sau này. Tất cả những tháng ngày ấy đi vào lịch sử, và rồi tìm cho mình một chỗ đứng trong tim của không chỉ những người cách mạng mà còn là nhân dân việt bắc nơi đây. Ngược dòng về quá khứ vàng son, ta nhắc nhớ lại những nỗi niềm trong tim người đi kẻ ở thêm phần gia diết xiết bao gợi bao kỉ niệm về từng địa danh đax đi qua

"mình đi có nhớ nhớ mình
Tân trào, hồng thái, mái đình cây đa"

Một câu thơ có đến ba chữ "mình", láy đi láy lại như gợi lên nhiều suy tư cho người đọc. Chữ "mình" không được xác định chủ thể rõ ràng,  bởi đó không chỉ là lời của người ở lại dành cho người về xuôi, mà còn là của người người về xuôi tự vấn chính mình, tự hỏi lòng mình sau ngần ấy năm tháng trôi qua? "mình" có nhớ "mình", có từng nhớ bản thân từng kiên cường như thế nào trong những năm tháng chiến chinh đầy gian khổ nhưng đầy hào hùng, vinh quang ấy? "Mình" có nhớ "mình" của những năm tháng dãi nắng dầm mưa cùng nhân dân miền núi nơi đây, "chia củ sắn lùi" "bát cơm xẻ nửa" "chăn sui đắp cùng". Vận dụng thủ pháp liệt kê, tác giả như có như không nhắc nhớ về những địa danh cách mạng nổi tiếng như "tân trào, Hồng thái" cho đến những điều thân thuộc gần gũi nhất "mái đình cây đa". Vốn là "mái đình hồng thái, cây đa tân trào" nay lại được đảo tên địa danh lên trước, như nhằm khắc sâu vào lòng người, khắc tạc trên trái tim cái tên, cái biểu tượng của chiến khu Việt bắc một thời lẫy lừng. Khắc tên những chứng nhân lịch sử, những người đã góp lên phần hồn của đất nước trong những năm tháng oanh liệt của chiến tranh. Dưới bóng cây tân trào, Việt nam giải phóng quân đã làm lễ xuất quân dưới sự chứng kiến của nhân dân Tân Trào và 60 đại biểu. Cũng chính tại nơi đây đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đọc bản quân lệnh số 1 và tiến quân lên giải phóng Hà Nội. Và mái đình hồng thái là nơi đã đón tiếp bác- chủ tịch HỒ chí minh trở về từ pác bó-cao bằng về căn cứ địa tân trào. Những kỉ niệm ấy như được đan lát trên tấm lụa thời gian, nhìn nhận đầy rõ nét, phép điệp từ "mình đi", "mình về" có sự kết hợp hài hòa giữa nhiều biện pháp tu từ cùng nhau đã hội tụ nên vần thơ rất riêng khảm vào lòng người đọc, dù có nghìn vạn dặm xa xôi, vẫn luôn nhắc nhớ mình về những ngày vào sinh ra tử, mười lăm năm ấy vì

"nước trôi nước có về nguồn
mây đi mây có cùng non trở về"

Nguyễn đình thi từng danh cho tố hữu những ca từ "trọn đời tố hữu là một chiến sĩ cách mạng làm thơ và là nhà thơ của cách mạng.. và trong lửa thơ của anh, có biết bao yêu thương dịu dàng với quê hương đất nước và những con người của đất nước quê hương. Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ điển của dân tộc". Chính quá trình bắt nguồn ấy đã nuôi dưỡng mạch ngầm nơi tìm trong từng vần thơ của tố hữu, và việc bắc chính là vần thơ thôi thúc những xúc cảm đong đầy trong tim. Tố hữu đã kết hợp hàng loạt biện pháp nghệ thuật, như tiểu đối, ngắt nhịp đều đặn, nhạc tính réo rắt ngân vang trên từng câu chữ, tạo cho đoạn thơ một màu sắc cổ điển như những câu kiều giản dị bình dị gần gũi tựa những câu ca dao xưa của Việt nam ta. Bao nhiêu tình bao nhiêu thiết tha được nhà thơ bao trọn vào trong con chữ tạo nên chất keo dính bền chặt những ân tình thủy chung của người đi kẻ ở, chính những điều ấy tạo nên một áng thơ bất hoại. Chính kháng chiến đã đi qua, nhà thơ đã khiến độc giả nhìn nhận lại đầy sâu sắc của hành trình giữ và cứu nước cho ta thêm xiết bao biết ơn những khó khăn gian khổ năm xưa và trân trọng những gì ta đang có ngày hôm nay, ra sức học hỏi để bảo vệ xây dựng tổ quốc ngày một tươi đẹp.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co