Truyen3h.Co

The Psychopath Inside

21

EgoBMLam

Phản ứng đầu tiên của tôi là:

"Chắc đang đùa tôi đấy à." Tôi thực sự bị sốc.

Nhưng rồi tôi chỉ bật cười. Tôi tự nhủ:

"À, mình hiểu trò đùa này rồi." Nếu suốt bao nhiêu năm qua, bạn được yêu cầu nghiên cứu não bộ của những kẻ giết người và tìm ra một đặc điểm chung giữa chúng, để rồi sau đó phát hiện ra chính mình cũng có đặc điểm y hệt, thì đúng là nực cười thật.

Nếu lúc đó tôi mảy may nghĩ rằng mình thực sự là một kẻ thái nhân cách (psychopath), có lẽ tôi đã phản ứng một cách nghiêm trọng hơn.

Nhưng tôi đã không nghĩ thế. Một lý do khiến tôi phủ nhận điều đó là vì, dù nghiên cứu sâu về não bộ và hành vi, tôi lại hiểu rất ít về khái niệm "kẻ thái nhân cách", bởi đó không phải là trọng tâm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của tôi.

Trong tâm trí tôi, họ chủ yếu là những kẻ bạo lực, bất ổn, thiếu đồng cảm và thích thao túng người khác.

Dù ai đó yêu hay ghét tôi đi chăng nữa, thì tôi cũng không phải là tội phạm.

Bộ não của tôi có thể trông rất giống bộ não của những kẻ sát nhân mà tôi đang nghiên cứu, nhưng tôi chưa từng giết hay hành hung dã man ai cả.

Tôi chưa bao giờ ảo tưởng về việc thực hiện hành vi bạo lực hay gây hại cho bất kỳ cá nhân nào.

Tôi là một người đàn ông thành đạt, một người cha hạnh phúc của ba đứa con, một gã hoàn toàn bình thường.

Hầu hết đồng nghiệp của tôi không biết về kết quả chụp não này trong suốt ba năm sau đó, nhưng tôi có nhắc đến nó trong một vài bài diễn thuyết về chứng thái nhân cách.

Mọi người đều nói:

"Chuyện này khá là điên rồ đấy, nhưng nó có ý nghĩa gì chứ?"

Họ không thể tiếp nhận được thông tin đó.

Rõ ràng tôi không phải là một kẻ sát nhân thái nhân cách giống như những đối tượng mà tôi nghiên cứu, vì vậy không ai coi đó là chuyện lớn.

Tôi có kể về bản quét não cho gia đình, nhưng họ không phải là nhà khoa học.

Họ chỉ nói:

"Ồ, thú vị đấy." Diane (vợ tôi) bảo tôi rằng:

"Em đã biết anh cả đời rồi, và anh chưa bao giờ động tay động chân với em cả. Bản quét đó đúng là lạ lùng thật, nhưng thực tế mới là câu trả lời xác đáng nhất. Chắc chắn là anh cũng có đầy thói hư tật xấu đấy, nhưng anh không phải là loại người đó."

Và tôi cũng chẳng hề nghi ngờ lời cô ấy.

CHƯƠNG 4: Những Dòng Máu
Dù không lo lắng rằng mình là một kẻ thái nhân cách, nhưng việc phát hiện bản quét não của chính mình khớp hoàn toàn với mẫu hình của những kẻ sát nhân thái nhân cách đã khiến tôi phải khựng lại suy nghĩ.

Tôi từng quá chắc chắn rằng mình đã khám phá ra một điều gì đó sâu sắc giúp chúng ta hiểu rõ hơn điều gì tạo nên một kẻ thái nhân cách, nhưng sự đứt gãy giữa mẫu hình não bộ và hành vi thực tế của tôi có thể ngụ ý rằng lý thuyết của tôi về não bộ kẻ thái nhân cách đã sai, hoặc ít nhất là chưa đầy đủ.

Vào tháng 12 năm 2005, hai tháng sau khi phát hiện ra bản quét não bất thường của mình, tôi và vợ, Diane, tổ chức một bữa tiệc nướng cho gia đình vào ngày Chủ nhật tại sân sau.

Khi tôi đang nướng các loại thịt và rau củ, mẹ tôi, bà Jennie, kéo tôi sang một bên.

"Mẹ nghe nói con đi khắp cả nước để thuyết trình về não bộ của những kẻ giết người," bà thì thầm.

Bà biết tôi đã thực hiện một vài bài giảng, trong đó có đề cập rằng bộ não của chính mình trông giống hệt não của một kẻ sát nhân.

"Mẹ nghĩ có một thứ này con nên xem qua."

Bà đã hoàn toàn thu hút sự chú ý của tôi.

"Anh họ Dave của con có nhắc đến một cuốn sách lịch sử mới xuất bản về gia đình mình. À, thực ra là về gia đình bên nội của con."

Anh họ tôi, David Bohrer, một biên tập viên báo chí thực tế, trí tuệ và nhanh nhạy, là một người cực kỳ say mê gia phả và đã tình cờ tìm thấy cuốn sách này trong quá trình nghiên cứu.

Anh ấy và tôi đã thảo luận về lịch sử gia đình trong nhiều năm, và anh ấy đã nhắc đến cuốn sách với tôi mà không có bất kỳ cảnh báo đặc biệt nào về nội dung bên trong.

Tôi đã đặt mua nó vài tháng trước nhưng chưa buồn đọc.

"Con biết cuốn sách đó mà mẹ, nhưng con chưa có thời gian đọc."

"Tại sao lại chưa?"

"Thôi mà mẹ, con sẽ xem nó sau bữa tối."

Tôi biết cái cách mình định "đuổi khéo" mẹ sẽ không giữ chân bà được lâu.

Khi còn là một thiếu nữ, bà đã từng vượt qua hàng rào phòng thủ kiên cố của Elsa Einstein (vợ của Albert Einstein) sau khi gặp bà ấy trên đường phố Poughkeepsie, chỉ để xin chữ ký của chồng bà.

Sáu mươi năm sau, tôi từng lạc mất mẹ trong đám đông bên ngoài Bảo tàng Nghệ thuật Hạt Los Angeles, để rồi tìm thấy bà mười lăm phút sau đó đang "khẩu chiến" với DJ nhạc rock Rick Dees, bà cho rằng âm nhạc thời nay quá ồn ào và ca từ thật đáng xấu hổ, nên muốn nói thẳng vào mặt ông ta như vậy.

Tôi cũng từng thấy bà lên lớp người bạn của gia đình chúng tôi, George Carlin, vài lần về việc sử dụng lời lẽ thô tục trong các buổi biểu diễn của ông; Jennie bảo rằng ông ấy vốn đã đủ hài hước rồi, không cần phải dùng đến những trò chơi chữ rẻ tiền và thô thiển như thế.

Người phụ nữ gốc Sicily nhỏ bé này, dù đã 89 tuổi nhưng vẫn là một vị "công chúa" sắc sảo, sẽ không dễ dàng bỏ qua việc con trai mình thờ ơ với lời giới thiệu sách của bà.

Nhưng, vì tôn trọng quy tắc lâu đời rằng một bữa ăn ngon phải được ưu tiên hàng đầu, bà đã tạm nhượng bộ.

Nửa giờ sau khi kết thúc bữa tối, tôi lẻn vào văn phòng một lát, ngồi xuống với một ly espresso kép và một ly rượu anisette đen, kèm theo mười ba hạt cà phê thả vào theo đúng phong tục.

Vừa nhấm nháp hạt cà phê, vừa nhâm nhi rượu và cà phê, tôi đọc lướt qua cuốn sách.

Nó có tựa đề là Killed Strangely: The Death of Rebecca Cornell của Elaine Forman Crane.

Cuốn sách kể chi tiết về vụ giết bà Rebecca Cornell, 73 tuổi, bởi chính con trai bà, Thomas, 46 tuổi, vào năm 1673.

Đây là một trong những vụ án giết mẹ đầu tiên tại các thuộc địa Mỹ. (Gia phả nhà Cornell vốn được những người mê lịch sử Mỹ quan tâm, vì Rebecca là tổ tiên của Ezra Cornell, người sáng lập và cũng là người được đặt tên cho Đại học Cornell danh tiếng).

Rebecca từng sống trong một căn biệt thự lớn trên khu đất rộng một trăm mẫu Anh ven vịnh Narragansett ở Rhode Island cùng Thomas và gia đình anh ta.

Một đêm sau bữa tối, người ta tìm thấy bà bị cháy đen và vẫn còn đang bốc khói gần lò sưởi trong phòng ngủ, đến mức gần như không thể nhận dạng.

Ban đầu, cái chết được phán quyết là một “tai nạn không may”, nhưng anh trai của Rebecca sớm khẳng định đã nhìn thấy một linh hồn hiện về ám chỉ rằng có uẩn khúc.

Thomas, kẻ vốn phụ thuộc tài chính vào mẹ, thường xuyên bất hòa và đôi khi còn ngược đãi bà.

Thi thể của Rebecca được khai quật để khám nghiệm kỹ hơn, và một vết thương đáng ngờ được tìm thấy ở bụng, có thể là do bị đâm.

Bất chấp những bằng chứng yếu ớt, Thomas vẫn bị kết tội và bị treo cổ.

Mẹ tôi không chỉ quan tâm đến câu chuyện của Rebecca vì bà có gu giải trí kỳ quặc.

Theo lời David, Rebecca Cornell chính là cụ tổ 9 đời (great-great-great-great-great-great-great-great-great grandmother) của chúng tôi theo dòng nội.

Và hóa ra, Thomas không phải là kẻ sát nhân duy nhất trong gia tộc Cornell.

Cuốn sách chỉ ra rằng, Rebecca cũng là tổ tiên trực tiếp của Lizzie Borden, kẻ bị tình nghi là sát thủ dùng rìu giết chết cha đẻ và mẹ kế vào năm 1892.

Điều đó khiến Borden, theo lời David, trở thành chị em họ của chúng tôi.

Cuốn sách ghi chép rằng từ năm 1673 đến 1892, đã có một vài kẻ sát nhân và nghi phạm giết người khác trong dòng họ nội của tôi, mỗi người trong số họ đều bị buộc tội hoặc kết án vì giết một thành viên thân thiết trong gia đình.

Alvin Cornell, một hậu duệ của Rebecca, đã giết vợ mình là Hannah vào năm 1843, đầu tiên bằng cách dùng cán xẻng sắt đánh bà, sau đó dùng dao cạo rạch cổ bà.

Tôi thầm nghĩ, cái thiên hướng "giết người thân" của nhà Cornell đúng là một kiểu "tận tụy với gia đình" một cách đáng nguyền rủa, và thật may mắn (cũng như khá chắc chắn) là dấu vết này dường như đã nguội lạnh từ cuối thế kỷ 19, khiến tôi và cha tôi cách xa thế hệ đó nhiều đời.

David và một người anh họ khác là Arnold Fallon đã nghiên cứu gia phả của chúng tôi với sự nhiệt huyết và chuyên môn cao.

Thông qua những nỗ lực không mệt mỏi—bao gồm cả việc thăm viếng các nghĩa trang rải rác khắp New England, New York, Kansas và California—họ tiếp tục khám phá ra những tình tiết gia đình mới mẻ và đầy chấn động.

Trong năm 2011 và 2012, họ tìm thấy hai dòng họ nội khác mà ở đó những vụ hỗn loạn vẫn đang dần hé lộ, bao gồm một dòng họ có các sát nhân bị nghi ngờ và đã bị kết án (tổng cộng bảy người trong gia đình, hai trong số đó là phụ nữ), và một dòng họ có những người đàn ông có sở thích bỏ rơi vợ con để đi theo người phụ nữ khác hoặc vì những lý do hoàn toàn không xác định.

Ở cả hai dòng tộc này, và cả dòng họ Cornell, các tổ tiên nam giới của chúng tôi chỉ tàn ác hoặc có máu sát nhân với người thân trong gia đình, chứ chưa bao giờ đối xử như vậy với người lạ.

Ngược dòng thời gian xa hơn nữa, ông tổ xa xôi của tôi là Vua John Lackland (1167–1216) được biết đến là vị quân chủ tàn bạo và bị căm ghét nhất trong lịch sử Anh quốc, mặc dù ông đã ký Magna Carta, một trong những văn bản chống quân chủ quan trọng nhất mọi thời đại.

John là một kẻ đểu cáng thực thụ, được cho là thiếu lương tâm (điều mà một người bạn thân từng nói về tôi), gian trá và có khiếu hài hước kiểu "tinh quái" (điều mà chú Bob từng nói về tôi).

Ông có năng lượng rất cao—nếu không muốn nói là hưng cảm thì cũng là cận hưng cảm—và cực kỳ đa nghi, bất ổn, độc ác và tàn nhẫn.

Một người sống cùng thời với ông đã nói:

"John là một bạo chúa. Ông ta là một kẻ cai trị độc ác, không hành xử như một vị vua. Ông ta tham lam và vơ vét tiền bạc của dân chúng nhiều nhất có thể. Địa ngục vẫn là quá nhẹ nhàng cho một kẻ kinh khủng như ông ta."

Nhưng cũng có những lời khen ngợi dành cho ông.

Trong cuốn King John: England’s Evil King?, nhà sử học Ralph Turner viết:

"John có tiềm năng đạt được thành công lớn. Ông có trí thông minh, khả năng quản trị và giỏi lập kế hoạch cho các chiến dịch quân sự. Tuy nhiên, có quá nhiều khiếm khuyết trong nhân cách đã kìm hãm ông lại."

Cha của John, tức ông tổ Vua Henry II (1154–1189), cũng giống như John ở chỗ ông ta thường xuyên rơi vào những cơn thịnh nộ hung ác.

Đôi khi họ tức giận đến mức sùi cả bọt mép.

Henry cuối cùng bị chính con trai mình giết chết.

Các ông tổ Henry III và Edward I, cũng giống như Vua John, nổi tiếng là những kẻ hung hăng, bốc đồng và hẹp hòi; cả bốn người họ đều đối xử tàn bạo với người Do Thái.

Henry III bắt người Do Thái phải đeo phù hiệu nhục nhã nơi công cộng, còn Edward I thì trục xuất họ khỏi nước Anh vào năm 1290, nhưng trước đó đã kịp hành quyết ba trăm người. Edward là kẻ khiến ai cũng phải khiếp sợ khi đối đầu trực diện.

Ông ta to lớn, quyền lực, hung hãn và bị gọi một cách miệt thị là "con báo" trong bài thơ The Song of Lewes năm 1264.

Nhà sử học Michael Prestwich viết rằng vị trưởng ấn của nhà thờ St. Paul đã đối đầu với Edward về vấn đề thuế khóa và rồi (bằng cách nào đó) chết ngay tại chỗ dưới chân nhà vua; vì vậy, ông ta có thể đã bị giết bằng tay không, mặc dù tôi chưa từng thấy tài liệu nào xác nhận điều đó.

Diane và tôi đã đến thăm một lâu đài của "gia đình" (Lâu đài Caerphilly) ở Wales vào năm 2004.

Đây từng là sào huyệt của ông tổ Gilbert de Clare.

Ông ta cũng từng thảm sát người Do Thái (năm 1264) tại Canterbury.

Một gã tồi khác trong cùng dòng máu này là John Fitzalan.

Trong một chiến dịch, hắn ta dừng chân nghỉ ngơi tại một tu viện, nơi quân lính của hắn (và cả hắn nữa?) đã cưỡng hiếp tất cả phụ nữ bên trong, sau đó lục soát khắp vùng lân cận ở Brittany.

Ngay sau đó, khi đang ở trên thuyền ngoài khơi, một vài thuộc hạ của hắn trở nên hoảng loạn vì một cơn bão, thế là hắn giết luôn bọn họ.

Đây chỉ là một vài ví dụ điển hình, nhưng bấy nhiêu thôi cũng đủ để nói rằng tôi không hề xuất thân từ một dòng họ của những "người tử tế" (mensches).

Tôi biết mẹ mình rất đắc chí trước những phát hiện này.

Jennie, tên đầy đủ kiểu Sicily là Giovannina Giuseppina Salvetrica Sylvia Scoma, là con gái của những người nhập cư Sicily, những người giống như bao kẻ khác đến Mỹ để đổi đời, đã tham gia vào một số hoạt động mờ ám trong suốt cuộc đời họ.

Ông ngoại tôi, Tomas, từng làm nhiều công việc tử tế trong khi mẹ tôi và các anh chị em bà lớn lên: thông dịch viên tòa án, thợ cắt tóc, nhân viên xếp bóng bowling, nhạc công, nhưng ngay cả sau khi chuyển cả gia đình từ Brooklyn (nơi mẹ tôi sinh ra) đến Poughkeepsie, hằng tuần ông vẫn quay lại Brooklyn để điều hành "số đề" (tức là tổ chức xổ số bất hợp pháp) và bán đủ loại hàng lậu để mở nhà hàng riêng.

Vì đó là thời kỳ Cấm rượu, mẹ tôi cùng anh trai và ba chị em gái đã ủng hộ nỗ lực kinh doanh của cha mình bằng cách nấu bia lậu.

Cha tôi và gia đình ông, vốn không hề nghi ngờ về nguồn gốc không mấy sạch sẽ của chính mình, thường rất thích trêu chọc mẹ tôi về quá khứ của bà.

Vì vậy, tôi không ngạc nhiên khi thấy một tia sáng tinh quái trong mắt Jennie khi bà kể cho tôi nghe về những tổ tiên khát máu bên họ nội của tôi.

Cũng giống như bản quét não, việc phát hiện ra cuốn sách này—và sau đó là phần còn lại của lịch sử—không khiến tôi quá bận tâm.

Đối với tôi, đó là loại tiết lộ mà người ta thậm chí có thể đem ra khoe khoang, giống như việc phát hiện ra gia đình mình có nhiều kẻ trộm ngựa hơn là người quý tộc.

Tôi cũng biết rằng tổ tiên không đồng nghĩa với di truyền học, và với sự pha loãng tác động của gen qua mỗi thế hệ, thật khó để khẳng định rằng một dòng dõi lâu đời và đầy vết nhơ trải dài hàng thế kỷ lại có thể quyết định lý do và cách thức một người cụ thể hành xử (hay hư hỏng).

Tuy nhiên, trong gia đình chúng tôi, chúng tôi biết ít nhất có hai dòng sát nhân và một dòng những kẻ bỏ rơi vợ con.

Kiểu trò chơi "gia phả học" này khiến người ta tự hỏi liệu một xu hướng nhẹ đối với một vài tính trạng nào đó có thể thẩm thấu qua hàng bao nhiêu thế hệ đến tận hiện tại hay không.

Để câu chuyện thêm phần phức tạp, cha tôi, ông nội Harry Cornell Fallon và hai người chú từng chiến đấu trong Thế chiến II đều là những người từ chối cầm súng vì lương tâm (conscientious objectors), nhưng họ vẫn làm cứu thương trong các trận đánh tại Iwo Jima, New Guinea và New Caledonia.

Tuy nhiên, tôi cũng cần chỉ ra rằng, ông nội tôi rất thích đánh lộn.

Ngoài ra, trong thế hệ anh em trai và anh em họ của tôi, ít nhất năm người là những võ sĩ quyền anh và đấu sĩ đường phố hung hãn, không biết sợ hãi.

Họ thực sự thích đánh nhau, thậm chí sẵn sàng một mình đối đầu với nhiều người cùng lúc.

Những gã này (hombres) vô cùng liều lĩnh và hung hăng.

Nhưng họ cũng là những người ham vui, hài hước và thông minh.

Lịch sử gia đình tôi bắt đầu mang một sức nặng mới khi tôi bắt đầu tìm hiểu về chính bộ gen của mình.

Là một phần của nghiên cứu quét não về bệnh Alzheimer, phòng thí nghiệm của tôi đã lấy mẫu máu để phân tích di truyền.

Và ngay khi nhìn thấy bản quét não của chính mình, tôi quyết định chúng tôi nên kiểm tra những mẫu máu đó để tìm các đặc điểm liên quan đến hành vi gây hấn.

Gen ảnh hưởng đến hành vi như thế nào?

Để bắt đầu trả lời câu hỏi này, điều quan trọng là phải hiểu một số kiến thức cơ bản về di truyền học.

Có khoảng 20.000 gen trong bộ gen người.

Các gen nằm trong 46 nhiễm sắc thể (23 cặp), một bộ trong mỗi cặp có nguồn gốc từ mẹ, một bộ từ cha, nằm trong nhân của hầu hết các tế bào trong cơ thể.

Những tế bào duy nhất không chứa đủ 46 nhiễm sắc thể là các tế bào mầm trong tinh hoàn hoặc buồng trứng, mỗi tế bào này chỉ có 23 nhiễm sắc thể, bằng một nửa số lượng trong các tế bào xô-ma (tế bào cơ thể).

Các tế bào chứa đầy đủ 46 nhiễm sắc thể được gọi là tế bào lưỡng bội (diploid), trong khi các tế bào mầm được gọi là đơn bội (haploid).

Nhiễm sắc thể được cấu tạo từ DNA, bản thiết kế chủ đạo của một tế bào. DNA được mã hóa dựa trên trình tự của bốn loại hóa chất khác nhau gọi là các bazơ (base).

Các bazơ này đi thành từng cặp với T (thymine) đi cùng A (adenine) và G (guanine) đi cùng C (cytosine).

Bộ gen 46 nhiễm sắc thể (lưỡng bội) chứa hơn sáu tỷ cặp bazơ.

Các trình tự của cặp bazơ, được gọi là gen, mã hóa và tạo ra các sản phẩm của gen như protein.

Nếu chỉ một trong các cặp bazơ bị thay đổi do đột biến—chẳng hạn từ tác hại của tia cực tím, virus hoặc khói thuốc lá—protein kết quả sẽ bị biến dị và thường là bị lỗi.

Một số đột biến này không gây chết người và thực tế được các tế bào và quần thể lưu giữ lại.

Chúng được gọi là đa hình đơn nucleotide, hay SNP.

Nếu tỷ lệ xuất hiện của sự thay đổi được tìm thấy ở ít hơn 1% dân số người, nó được gọi là đột biến; nếu nhiều hơn 1%, nó thường được gọi là một SNP.

Có khoảng 20 triệu SNP được tìm thấy ở người, và chúng giải thích cho nhiều sự khác biệt về ngoại hình và hành vi của con người, từ tóc xoăn đến béo phì hay nghiện ma túy.

Chính những SNP này là nơi mà cuộc săn tìm các "nguyên nhân" di truyền của các đặc điểm và bệnh tật đã tập trung vào kể từ những năm 1990.

Những biến đổi quan trọng khác đối với mã di truyền liên quan đến cái gọi là các vùng khởi động (promoters) và vùng ức chế (inhibitors), những đoạn gen điều chỉnh khả năng tạo ra sản phẩm của gen đó.

Một số sản phẩm này điều chỉnh hành vi của các chất dẫn truyền thần kinh.

Vì vậy, vùng khởi động và vùng ức chế giống như bàn đạp ga và bàn đạp phanh của một gen khi chúng kiểm soát việc vận chuyển các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin và dopamine trong não.

Đối với serotonin—chất liên quan đến trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn giấc ngủ và ăn uống, tâm thần phân liệt, ảo giác và các cơn hoảng loạn, cũng như chứng thái nhân cách—enzyme phân hủy nó là MAO-A.

MAOA, gen tạo ra enzyme này, có một vùng khởi động tồn tại ở dạng ngắn hoặc dạng dài.

Phiên bản gen MAOA có vùng khởi động ngắn có liên quan đến hành vi hung hãn và được gọi là “gen chiến binh” (warrior gene).

Có lẽ có từ 20 đến 50 hoặc nhiều hơn các SNP tham gia vào việc gây ra hầu hết các loại bệnh.

Do đó, những tuyên bố rằng gen chiến binh “gây ra” sự hung hãn, bạo lực và trả đũa thường khiến các nhà di truyền học phải dè chừng, vì có lẽ có hàng chục hoặc nhiều hơn các “gen chiến binh” khác ở những người đặc biệt bạo lực.

Nhưng ngay cả những căn bệnh đơn giản (gọi là bệnh Mendelian, đặt theo tên người cha đẻ của di truyền học, Gregor Mendel)—như bệnh xơ nang, vốn do một đột biến đơn lẻ trong gen mã hóa kênh chloride trong màng tế bào—cũng có thể xuất hiện dưới dạng 50 chứng rối loạn khác nhau ở 50 cá nhân khác nhau mắc bệnh.

Trong trường hợp bệnh xơ nang, đột biến kênh chloride đơn lẻ đó ảnh hưởng đến các thành phần tế bào và cơ quan khác.

Sự tương tác giữa gen với gen, hay chính xác hơn là tương tác giữa sản phẩm gen với sản phẩm gen, được gọi là epistasis (hiện tượng át chế), và hiệu ứng này cũng phải được xem xét khi xác định nguyên nhân, triệu chứng và cách chữa trị cho mọi loại bệnh, thậm chí là các rối loạn tâm thần.

Chất dẫn truyền thần kinh dopamine có liên quan đến một vài rối loạn tâm thần.

Các loại thuốc làm tăng truyền dẫn dopamine có thể làm giảm các triệu chứng trầm cảm, và các loại thuốc làm giảm nó có thể làm dịu bệnh tâm thần phân liệt.

Động lực để bắt đầu một hành vi được “cân nhắc” bởi vỏ não tiền trán phần lớn nằm dưới sự kiểm soát năng lượng của dopamine, vốn chủ yếu được sản xuất ở não giữa.

Khi dopamine được giải phóng, mọi thứ sẽ diễn ra.

Dopamine không quyết định chính xác điều gì sẽ xảy ra, nhưng nó quyết định điều đó xảy ra nhanh và mạnh như thế nào, và trong bao lâu, giống như bàn đạp ga trên một chiếc ô tô vậy.

Mức độ ảnh hưởng của các monoamine như serotonin và dopamine lên mỗi cá nhân phụ thuộc vào cấu trúc di truyền và sự trưởng thành của hệ thống mạch thần kinh cơ bản—đặc biệt là các gen kiểm soát việc tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh này—nhưng quan trọng hơn nhiều là các enzyme như MAO-A, vốn có nhiệm vụ phân hủy và chấm dứt hoạt động của chúng tại các khe xi-náp.

Ngoài ra, mức độ tổng hợp và hoạt động của hàng chục loại thụ thể đối với các monoamine này cũng có ý nghĩa quan trọng, cũng như các gen kiểm soát hiệu suất của các protein vận chuyển màng xi-náp, thứ vốn có nhiệm vụ "hút" chất dẫn truyền thần kinh ra khỏi xi-náp (khoảng không giữa các tế bào) và dừng việc truyền tín hiệu của chúng.

Những protein vận chuyển này có liên quan đến một số chức năng não bộ khá "kỳ lạ", ví dụ như khả năng biểu diễn vũ đạo sáng tạo hay cảm thức về tâm linh.

Rõ ràng là với tất cả các tổ hợp alen có thể có của các gen liên quan đến monoamine, cũng như glutamate, axit amin gamma amino butyric (GABA) và hệ thống cholinergic trong các vùng vỏ não này, có tới hàng nghìn kiểu vỏ não tiền trán được coi là "bình thường".

Hàng nghìn kiểu vỏ não tiền trán này có thể sở hữu những mức độ biến thiên khác nhau về các đặc điểm như trí nhớ, cảm xúc, tính hung hãn và khuynh hướng tình dục.

Tương tự, do tất cả các biến số di truyền này, thực tế có vô số cách để một người trở nên tâm thần phân liệt hoặc trầm cảm.

Một số chứng rối loạn tiền trán phức tạp hơn những cái khác, và chắc chắn tâm thần phân liệt là một trong những loại phức tạp nhất.

Nhưng có lẽ cũng có nhiều con đường dẫn đến việc trở thành kẻ thái nhân cách, khi xem xét tất cả các hệ thống thần kinh và yếu tố di truyền kết hợp lại.

Đáng tiếc là, chúng ta vẫn biết rất ít về cơ sở sinh học, đặc biệt là di truyền học, của não bộ những kẻ thái nhân cách.

Bất chấp những con số ấn tượng liên quan đến bộ gen người, thông tin mang trên 20.000 gen, 46 nhiễm sắc thể và 6 tỷ cặp bazơ đó chỉ kể được 5% câu chuyện.

95% còn lại nằm trong một "hỗn hợp" vẫn còn đầy bí ẩn của các axit nucleic không mã hóa, những mảnh DNA và RNA mà giờ đây được tin là có ảnh hưởng sâu sắc đến những gì mã di truyền trong nhân tế bào thực sự tạo ra.

Chúng giúp điều phối chức năng của tế bào, sự tương tác xã hội giữa các tế bào trong mô và cơ quan, sự tương tác giữa các hệ thống cơ quan, và cả những gì một kẻ thái nhân cách mơ mộng, toan tính và thực hiện với người khác trong những hành trình săn mồi hàng ngày của hắn.

Có một cách nhìn về việc thông tin di truyền thực sự được sắp xếp như thế nào trong nhân tế bào khá khác so với những gì chúng ta từng học, vốn chỉ thấy 46 nhiễm sắc thể cuộn chặt thành hình chữ X đặc trưng trong giai đoạn phân bào ngắn ngủi.

Hầu hết thời gian, DNA tháo xoắn thành những sợi dài, giống như những sợi mì trong một bát súp Ý (Italian wedding soup).

Những sợi mì dài (sợi DNA) trôi nổi trong một biển lớn nước dùng cùng với các loại gia vị và thảo mộc (các yếu tố di truyền vận động và các đoạn DNA/RNA không mã hóa nhỏ khác) cùng với những "viên thịt" thỉnh thoảng xuất hiện (histone, loại protein đóng vai trò như các cuộn chỉ cho DNA).

Những cấu trúc không phải gen này hiện được cho là gốc rễ gây ra một số rối loạn, bao gồm tâm thần phân liệt, trầm cảm và nghiện ngập, cũng như nhiều dạng ung thư và rối loạn miễn dịch.

Những yếu tố này dường như được tiếp nhận từ các sinh vật khác như virus và vi khuẩn trong quá trình tiến hóa, và cả từ thực phẩm chúng ta ăn.

Thứ từng bị coi là "DNA rác" trước năm 2000 giờ đây được biết là không hề rác rưởi chút nào, dù nhiều chức năng của chúng vẫn còn là ẩn số.

Người có công lớn trong khám phá này là Barbara McClintock, người đã thực hiện nghiên cứu đạt giải Nobel tại Đại học Missouri và Phòng thí nghiệm Cold Spring Harbor từ những năm 1920 đến 1950, dù bản chất khám phá của bà về "DNA rác" phải mất nhiều thập kỷ sau mới được thấu hiểu.

Hệ quả của sự tồn tại các bộ điều chỉnh di truyền không mã hóa này là: ngay cả khi chúng ta xác định được các tổ hợp gen mã hóa gây ra chứng thái nhân cách, vẫn sẽ có hàng triệu tổ hợp của chúng với các yếu tố không mã hóa mà chúng ta cần xem xét để hiểu được cơ sở di truyền thực sự của nó.

Nhưng ít nhất chúng ta đã biết được một vài điều. Vào năm 2006, tôi đã biết rằng "gen chiến binh" có tác động rõ rệt đến sự hung hăng và bạo lực, và biến thể này chắc chắn nằm trong danh sách dài các gen tiềm năng liên quan đến đặc điểm thái nhân cách.

Nhưng lúc đó điều này chưa được chứng minh, và mọi người suy đoán đúng rằng sẽ còn nhiều gen khác tác động đến tính cách này.

Có vài ứng viên được biết là ảnh hưởng đến sự hung hăng, và chúng hầu hết liên quan đến hệ thống chất dẫn truyền thần kinh monoamine.

Các chất dẫn truyền thần kinh monoamine, hay các "chất điều biến" như cách chúng thường được gọi, giống như các nút điều chỉnh âm lượng trong não bộ.

Các neuron "nói chuyện" với nhau bằng cách giải phóng các phân tử nhỏ gọi là chất dẫn truyền thần kinh vào các khe hở giữa chúng gọi là xi-náp.

Neuron phát tín hiệu giải phóng một gói các chất dẫn truyền, các chất này sau đó khớp vào các thụ thể trên neuron tiếp nhận, làm thay đổi hành vi của neuron đó.

Sau đó, các chất dẫn truyền bị phân hủy hoặc được vận chuyển ngược trở lại vào bên trong neuron phát tín hiệu ban đầu.

Hai chất dẫn truyền thần kinh quan trọng nhất là glutamate và GABA.

Glutamate có tính kích thích, nghĩa là khi nó được giải phóng và gặp một thụ thể, nó khuyến khích neuron thứ hai đó "phát hỏa" và gửi tín hiệu tiếp đi.

GABA là chất dẫn truyền thần kinh ức chế chính, nghĩa là nó bảo các neuron đừng phát hỏa.

Nếu không có nó, não bộ sẽ trở nên loạn xạ.

Glutamate và GABA tạo nên nền tảng của các hành vi được thiết lập sẵn, nhưng nếu chúng làm việc một mình, bạn sẽ có một cỗ máy khá vụng về.

Các monoamine, đặc biệt là serotonin, dopamine và norepinephrine, có vai trò điều biến tín hiệu xi-náp và giúp cỗ máy vận hành trơn tru hơn.

Đây là những chất dẫn truyền liên quan nhiều nhất đến các rối loạn tâm thần từ tâm thần phân liệt đến trầm cảm và rối loạn lưỡng cực.

Chẳng hạn, các loại thuốc chống trầm cảm phổ biến nhất như Prozac và Zoloft là các chất SSRI (ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc).

Chúng ngăn không cho serotonin bị hút ngược trở lại neuron phát tín hiệu, cho phép nó tiếp tục thực hiện công việc của mình.

Một loại thuốc ít phổ biến hơn là MAOI (chất ức chế monoamine oxidase), có tác dụng ngăn chặn các enzyme MAO-A và MAO-B.

Vì các enzyme này phân hủy monoamine, việc ngăn chặn chúng sẽ làm tăng sự truyền dẫn serotonin.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co