102
Quyển hai: Chủ nhân Đông cung
Trong thư phòng Tần Vương phủ, trên án đặt bộ trà cụ tử sa bóng nhuận cổ phác, nước trà vừa sôi, hơi nước lượn lờ như sương, mang theo hương vị thanh khiết ngọt dịu của Long Tỉnh lan tỏa khắp nơi.
Triệu Huyền khoác trên người cẩm bào dệt kim hoa lệ, càng tăng thêm vài phần quý khí. Một tay hắn cầm ấm trà, rót đầy chén cho Bạch Dật Tương.
Bạch Dật Tương nâng chén nhẹ nhàng ngửi thử, chân mày khẽ nhướng lên: "Vũ tiền Long Tỉnh của điện hạ, hẳn là sản vật từ đỉnh Sư Phong Tây Hồ, vị thanh thuần cam liệt, quả thực thuộc hàng thượng phẩm."
Khóe môi Triệu Huyền nở nụ cười nhàn nhạt: "Tri Uyên phẩm trà thật chuẩn xác, trà này là do Tô Trung thư tặng. Hôm nay đặc biệt mời Tri Uyên cùng thưởng thức."
Bạch Dật Tương nhấp một ngụm, liên tục gật đầu: "Trà ngon, trà ngon."
Triệu Huyền cho lui toàn bộ người hầu bên cạnh, thần thái uy nghiêm giữa đôi mày còn hơn xưa.
Khí chất quý phái trời sinh cùng uy thế trầm ổn của người đứng trên cao tự nhiên tỏa ra từ quanh người hắn. Vị trí trữ quân Đông cung kia, dường như vốn được đúc ra dành riêng cho hắn, vừa vặn đến mức không thể bắt bẻ.
Bạch Dật Tương nhìn hắn, nhớ lại cảnh tượng năm xưa khi Triệu Ngọc được lập làm Thái tử —— dáng vẻ đắc chí kiêu căng của kẻ tiểu nhân gặp thời ấy, so với người trước mắt quả thực khác nhau một trời một vực.
Đều là hoàng tử, vì sao cách cục cùng lòng dạ lại có thể chênh lệch xa đến vậy?
Bạch Dật Tương nâng tay thi lễ, khóe môi mang theo ý cười: "Dật Tương vẫn chưa chúc mừng Thái tử điện hạ nhập chủ Đông cung."
Triệu Huyền nói: "Nếu không nhờ Tri Uyên bày mưu tính kế, Huyền há có ngày hôm nay? Tiên sinh phải đứng đầu công lao."
Bạch Dật Tương không khiêm nhường từ chối, chỉ khẽ cười không nói.
Triệu Huyền đặt chén trà xuống, cảm khái nói: "Ban đầu phụ hoàng đã sớm có ý đoạt binh quyền của Trần Liệt, nhưng e ngại hắn nhiều năm gây dựng căn cơ, sợ hắn dẫn đến cung biến, nên nhất thời không dám hành động. Là Tri Uyên hiến kế, giả truyền rằng Chu Khuê đã khai nhận toàn bộ, mới khiến Trần Liệt tự loạn trận cước, vội vàng hành động."
Bạch Dật Tương tiếp lời: "Trần Liệt là kẻ cố chấp tự phụ, lại cực kỳ coi trọng quyền thế. Hắn cùng Trần gia vốn một vinh cùng vinh, một tổn cùng tổn. Nay thấy Chu Khuê sa lưới, Trần quý phi bị giáng, tất nhiên sẽ sinh lòng hoảng sợ. Điện hạ khi ấy lại vừa được ban hôn với Tô gia, thanh thế ngày càng lớn, hắn nhất định cho rằng bệ hạ muốn lập điện hạ làm trữ quân, cắt đứt đường lui của hắn. Dưới nhiều áp lực chồng chất như vậy, nếu hắn không liều lĩnh đánh cược một phen, ngược lại mới là chuyện không hợp lẽ thường."
"Tri Uyên nói rất đúng." Triệu Huyền gật đầu, khẽ cười: "Tên Lý Phong làm Thái thú Tịnh Châu kia vốn là cựu tướng của Trần Liệt, nắm trong tay biên quân, xưa nay giao hảo với Trần Liệt. Nếu biết Trần Liệt bị bắt, hắn nhất định sẽ phái binh cứu viện. Đến lúc đó tình thế sẽ khó mà thu dọn. Việc Tri Uyên đề nghị để Hàn Chinh bắt lấy Tịnh Châu quả thật là kế sách rút củi dưới đáy nồi."
Nhắc đến chuyện này, trong mắt Bạch Dật Tương lóe lên tinh quang: "Hàn Chinh tuy lâu năm ở U Châu, người thường đều nói hắn không phục triều đình quản thúc. Nhưng người này dũng mãnh, hơn nữa vốn có thù cũ với Lý Phong. Điện hạ gửi mật thư mời hắn, hứa rằng sau khi bình định Lý Phong vẫn để hắn nắm quân chính Tịnh Châu, lại không truy cứu chuyện cũ, hắn tự nhiên sẽ nguyện ý mạo hiểm một phen."
Triệu Huyền nói: "Hàn Chinh dẫn quân tập kích doanh trại Lý Phong, Lý Phong trở tay không kịp, binh bại bị bắt. Chỉ là..."
Hắn chuyển giọng, giữa mày hiện lên vài phần lo lắng: "Hàn Chinh tuy bình định được loạn Tịnh Châu, nhưng cũng nhân cơ hội này thu nạp bộ hạ cũ của Lý Phong. Hiện nay hắn nắm trong tay trọng binh Tịnh Châu, thế lực quá lớn khó kiểm soát, đã trở thành mối họa mới. Phụ hoàng gần đây cũng từng nhắc đến, lo hắn sau này sẽ noi theo Lương Vương Triệu Thành, cát cứ một phương."
Điều Triệu Huyền lo lắng, Bạch Dật Tương cũng từng thận trọng cân nhắc. Hắn vẫn nhớ cảnh tượng mình từng nhìn thấy sau khi chết —— Hàn Chinh phản loạn, vốn không phải chủ ý ban đầu của hắn, mà là bởi sau khi Thái tử đăng cơ, hoang dâm vô đạo, lạm sát công thần, lại hà khắc đối xử với biên quân, khiến dân chúng oán than khắp nơi. Hàn Chinh nhiều năm trấn thủ biên cương, tận mắt chứng kiến nỗi khổ của dân sinh, lại bị triều đình nghi kỵ chèn ép, cuối cùng mới bị ép vào đường cùng.
Bạch Dật Tương cười nói: "Hàn Chinh thuở đầu vốn một lòng hướng về triều đình, chỉ là khổ vì không được trọng dụng, lại bị phe Triệu Thần chèn ép, mới buộc phải cát cứ U Châu để tự bảo vệ mình. Thái tử điện hạ lòng mang thiên hạ, biết dùng người, lại thương xót quân dân. Nếu sau này đăng cơ, có thể dùng thành tâm đối đãi, để hắn có cơ hội thi triển hoài bão, hắn nhất định sẽ trung thành tận tâm, thay Đại Tĩnh trấn thủ Bắc cương, báo đáp ân tri ngộ."
Triệu Huyền nghe vậy, vẻ lo lắng trong mắt dần tan đi, như có điều suy nghĩ: "Nói như vậy, Hàn Chinh không phải không thể khống chế, mấu chốt nằm ở cách đối đãi với hắn."
"Chính là như vậy." Bạch Dật Tương nói: "Hiện nay Trần Liệt nhập ngục, Lý Phong bị bắt, bè đảng của hắn hoặc bị tiêu diệt, hoặc bị lưu đày. Trên triều đình, phe Tấn Vương đã tổn thương nguyên khí, khó thành đại sự. Nhưng trong triều ngoài nội, trong ngoài biên cương Đại Tĩnh vẫn còn nguy cơ trùng trùng, khó khăn chồng chất. Điện hạ vẫn cần thận trọng hành sự, quét sạch hậu họa, mới có thể thuận lợi đăng cơ."
Triệu Huyền đương nhiên hiểu rõ lợi hại trong đó. Bộ hạ cũ của Trần Liệt tuy đã được thanh trừ, nhưng trong triều vẫn còn một số quan viên mang tâm lý quan sát, hoặc âm thầm dựa vào các hoàng tử khác; địa phương ngoài Hàn Chinh ra, vẫn còn vài thế lực phiên trấn rắc rối phức tạp, ngoài mặt thuận theo nhưng bên trong chống đối chính lệnh triều đình; về dân sinh, trải qua nhiều năm chiến loạn cùng chính sách hà khắc, bách tính khốn khổ, quốc khố trống rỗng, cần gấp việc nghỉ ngơi dưỡng sức.
Từng chuyện từng chuyện, đều là những vấn đề hắn phải trực tiếp đối mặt sau này.
Bạch Dật Tương nói: "Hiện nay điện hạ thân là Thái tử, đã có thể danh chính ngôn thuận tham dự triều chính, đây chính là thời cơ tốt để tiến hành cải cách. Thần cho rằng việc cấp bách nhất không gì hơn cải cách ba phương diện: nông nghiệp, quan trị, quân chính. Nông nghiệp là gốc lập quốc; quan trị liên quan đến dân sinh; quân chính quyết định sự ổn định biên cương. Ba thứ hỗ trợ lẫn nhau, không thể thiếu một."
Triệu Huyền vội nói: "Hôm nay mời Tri Uyên đến, chính là muốn cùng tiên sinh bàn bạc đại kế sau này. Huyền có một ý tưởng, mong tiên sinh nghe thử xem thế nào."
Bạch Dật Tương nói: "Điện hạ xin cứ nói."
Triệu Huyền nói: "Hiện nay Đại Tĩnh vẫn tiếp tục dùng 'chiếm điền chế' của tiền triều. Tai hại của chế độ này, căn nguyên nằm ở hai chữ 'bất công'. Sĩ tộc quan liêu dựa theo phẩm cấp để chiếm ruộng, nhất phẩm có thể chiếm năm mươi khoảnh, còn có thể che chở hàng chục hộ tá điền miễn nộp thuế; nhưng nam đinh bách tính phải dựa theo năm mươi mẫu ruộng được phân để nộp tô thuế, nữ tử cũng phải gánh hai mươi mẫu thuế khóa. Cho dù ruộng bỏ hoang, không trồng ra lương thực, tô thuế vẫn không thể thiếu một phần. Hiện nay hào cường địa phương dựa vào chế độ này mà trắng trợn thôn tính ruộng đất, lưu dân khắp nơi, triều đình vừa không quản được hào cường, vừa ép bách tính không còn đường sống —— chế độ này nếu không sửa, chẳng bao lâu nữa Đại Tĩnh tất loạn."
Từng câu từng chữ của Triệu Huyền đều như châu ngọc, trong mắt Bạch Dật Tương hiện lên vẻ tán thưởng, liên tục gật đầu: "Quả thật như vậy, điện hạ cho rằng nên giải quyết thế nào?"
Triệu Huyền nói: "Có thể thực hiện 'Quân điền lệnh' mà Tri Uyên từng đề cập."
Bạch Dật Tương nhướng mày. Quả thật hắn từng nhắc đến Quân điền lệnh với Triệu Huyền, nhưng đó là chuyện đã lâu, hơn nữa chưa từng bàn luận sâu về vấn đề này. Không ngờ Triệu Huyền vẫn luôn ghi nhớ trong lòng.
Hắn nói: "Nhưng không biết 'Quân điền lệnh' của điện hạ, cụ thể sẽ là chính sách thế nào?"
"Không chỉ cải cách nông nghiệp, mà còn có quan trị, thương nghiệp, quân chế. Để ta nói từng việc một." Triệu Huyền xắn tay áo, hai mắt sáng lên.
"Về nông nghiệp, thực hiện Quân điền lệnh, đem đất vô chủ phân cho lưu dân, khuyến khích khai hoang, đồng thời giảm miễn thuế khóa, để khơi dậy nhiệt tình canh tác của bách tính."
"Về quan trị, cần chỉnh đốn phong khí quan trường, nghiêm trị tham ô hủ bại, cải cách chế độ tuyển quan, phá bỏ tệ nạn thế tập thế ấm, lấy năng lực cùng chính tích để bổ nhiệm quan chức."
"Về quân chính, cần tiếp tục thúc đẩy cải cách quân chế, tăng cường sự kiểm soát của trung ương đối với binh quyền, tuyển chọn tướng lĩnh trẻ, cải tiến quân giới, nâng cao sức chiến đấu của quân đội. Quan trọng hơn, ta muốn dâng biểu lên phụ hoàng, bãi bỏ 'thế binh chế', đổi thành binh bộ quản lý danh sách quân lính, cấp ruộng nuôi quân."
"Về thương nghiệp, bãi bỏ luật cũ 'thương nhân không được mặc lụa cưỡi xe', giảm thương thuế, lập quy chế thị trường, mở cửa quan thông thương, để thương nhân và nông dân đều được quan phủ bảo hộ bình đẳng. Cho phép thương nhân dùng lợi nhuận kinh doanh mua ruộng mà không tăng thêm thuế; lập 'Thương bộ' quản lý thương mại, định giá thị trường, khai thông quan ải đường sá để thúc đẩy lưu thông hàng hóa, cải cách tệ nạn 'ức thương' từ trước."
Hắn dừng lại, dùng đầu ngón tay chấm chút nước trà, vẽ chữ "Tứ" trên mặt bàn, cười nói: "Bốn quốc sách này, Tri Uyên thấy thế nào?"
Bạch Dật Tương từ lâu đã nghe đến mức tâm triều dâng trào. Ý tưởng của Triệu Huyền vậy mà không khác kế hoạch của hắn chút nào! Hắn khó che giấu kích động nói: "Điện hạ anh minh! Đây chính là đại kế kinh thiên nhằm an định thiên hạ! Chỉ không biết, mỗi chính sách đã có chương trình chi tiết hơn chưa?"
Triệu Huyền cười nói: "Chương trình đã có vài nét ban đầu, đang muốn cùng Tri Uyên bàn bạc, bổ sung những chỗ thiếu sót."
Bạch Dật Tương vội nói: "Điện hạ mau nói!"
Đêm hôm đó, hai người ngồi quanh án, từ quy định đo đạc ruộng đất trong Quân điền lệnh, đến tiêu chuẩn khảo hạch trong cải cách quan trị, rồi hạn mức cấp ruộng cho binh sĩ trong điều chỉnh quân chế, quy trình vận hành của Thương bộ, từng vấn đề đều được phân tích thảo luận. Ngay cả những trở ngại có thể gặp phải khi thi hành cùng phương án đối phó cũng đều được suy xét chu toàn.
Càng nói càng hợp ý, chỉ cảm thấy vẫn chưa tận hứng. Đến khi đêm đã khuya, cơn buồn ngủ cũng tan biến, Bạch Dật Tương thuận theo lời giữ lại của Triệu Huyền, ở lại trong phủ qua đêm.
Sau đó vài ngày, hai người gần như ngày nào cũng tụ họp trong thư phòng Tần Vương phủ để bàn bạc kỹ càng. Một bộ cơ chế cải cách vừa chi tiết vừa quy mô lớn, cuối cùng cũng dần thành hình sau nhiều lần mài giũa.
Triệu Huyền đem phương án cải cách đã soạn thảo hoàn chỉnh chỉnh lý thành sách, dâng lên cho Triệu Uyên.
Triệu Uyên trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng chỉ dùng bút son phê chuẩn trên phương án cải cách nông nghiệp, cho phép thi hành; còn cải cách quan trị và quân chính thì ông gác sang một bên, chỉ phê mấy chữ: "Việc này còn cần bàn bạc lâu dài."
Triệu Huyền đem kết quả ngự phê báo lại cho Bạch Dật Tương. Bạch Dật Tương nghe xong lại không hề bất ngờ, ôn hòa khuyên nhủ:
"Điện hạ không cần nản lòng, việc bệ hạ làm như vậy, Dật Tương đã sớm dự liệu."
"Tiên sinh đã sớm đoán được?" Triệu Huyền kinh ngạc hỏi.
Bạch Dật Tương nói:
"Bệ hạ tại vị nhiều năm, trước nay luôn cầu ổn định, kiêng kỵ nhất là triều cục rung chuyển. Cải cách quan trị sẽ động chạm đến căn cơ của thế gia, cải cách quân chính lại càng chạm vào yếu huyệt của quốc gia, chỉ cần xảy ra chút sơ suất, liền có thể họa khởi tiêu tường (họa loạn phát sinh ngay trong nội bộ). Bệ hạ tuổi đã cao, há lại muốn vào những năm cuối đời mạo hiểm như vậy?"
"Người chấp thuận kế sách hưng nông, đã là một sự nhượng bộ cực lớn. Dù sao việc phát triển nông nghiệp có thể ổn định lòng dân, làm đầy quốc khố, đối với người mà nói, chỉ có trăm lợi mà không có một hại."
Hắn dừng lại một chút, ý vị sâu xa nói:
"Điện hạ, cải cách quan trị và quân chính chính là củ khoai nóng phỏng tay. Bệ hạ thấu hiểu sâu sắc thuật đế vương, tuyệt đối sẽ không tự mình ra tay. Những tệ nạn tích tụ này, người muốn để lại cho điện hạ xử lý."
"Đợi sau khi điện hạ đăng cơ, có thể nhân danh cải cách mà thanh lọc triều đình, củng cố hoàng quyền. Khi đó tân chính được thi hành, vừa không tổn hại danh tiếng của tiên hoàng, lại có thể khiến tân hoàng giành được lòng dân. Đây chính là đế vương tâm thuật của bệ hạ."
Triệu Huyền nghe vậy, như mây mù tan hết, mọi ưu tư trong lòng đều biến mất.
"Ta hiểu rồi."
Bạch Dật Tương nói không sai chút nào. Mỗi một cuộc cải cách đều liên quan đến toàn cục, chỉ cần sơ suất nhỏ cũng có thể làm rung chuyển triều chính, lay động nền tảng quốc gia, khiến thiên hạ rơi vào hỗn loạn; nghiêm trọng hơn, còn có thể để lại tiếng xấu trị quốc vô năng khắc vào sử sách, khiến phụ hoàng dù có chết cũng không thoát khỏi tiếng "di xú vạn niên" (để tiếng xấu muôn đời).
Một vị hoàng đế từng không tiếc giết sử quan, sao có thể cho phép sử sách lưu lại dù chỉ nửa nét bút về việc ông "trị quốc bất lực"?
Những việc khó xử như vậy, đương nhiên phải giao cho vị quân chủ kế nhiệm xử lý, mới có thể bảo toàn danh tiết của bản thân.
Cũng được! Công nghiệp lưu danh thiên cổ này, cứ để hắn cùng Bạch Dật Tương cùng nhau gánh vác.
Nhắc đến sử quan, Triệu Huyền bỗng nhớ ra, vị Thái sử lệnh Ôn Minh đã trở về kinh báo cáo công vụ.
Ôn Minh được bổ nhiệm làm Thái sử lệnh, phụ trách việc biên soạn sử sách và điển tịch.
Những công lao như phá tan Hung Nô ở phía tây, ổn định biên cương, dẹp loạn phản nghịch của Trần Liệt, đều được ghi chép tỉ mỉ trong sử sách.
Những công tích này vừa là vinh quang của hắn, cũng là chiến công trị quốc của phụ hoàng trong thời gian tại vị. Triệu Uyên vui vẻ nhìn thấy điều đó, nhiều lần ban lời khen ngợi cho Ôn Minh.
Nghĩ đến đây, Triệu Huyền nhìn sang Bạch Dật Tương bên cạnh, khóe môi bất giác nở một nụ cười nhạt.
Đợi khi những cuộc cải cách này bén rễ, trong sử sách ngày sau nhất định sẽ dành cho hai người bọn họ một nét bút đậm màu.
Ghi lại ánh đèn họ thức trắng đêm bàn bạc, ghi lại nhiệt huyết họ cùng nhau hoạch định quốc sách, ghi lại tâm huyết họ đã bỏ ra vì giang sơn vạn dặm này.
Nếu hậu thế có người lật mở sử sách, đầu ngón tay lướt qua từng trang giấy, có thể đồng thời nhìn thấy tên hắn và Bạch Dật Tương, biết rằng bọn họ từng kề vai sát cánh vì thiên hạ mà bôn ba.
Vậy có tính là... dùng một phương thức khác, vĩnh viễn ở bên nhau hay không?
Đúng lúc ấy, một ngày nọ, Triệu Huyền cưỡi xe nhẹ đi đường quen, cho lui toàn bộ tùy tùng, chỉ mang theo một vò rượu Đỗ Khang lâu năm, đến nơi ở của Bạch Dật Tương.
Khi ấy, Bạch Dật Tương đang ngồi bên cửa sổ đọc sách "Phiếm Thắng Chi Thư". Trên bàn trải mấy thẻ tre ghi đầy những câu tục ngữ về nông nghiệp — đó là bản sao những sách nông nghiệp thời Hán mà hai người trước đây đặc biệt thu thập khi bàn về chế độ quân điền, nhằm tham khảo phương pháp canh tác cổ xưa để cải tiến kỹ thuật trồng trọt.
Thấy Triệu Huyền bước vào, Bạch Dật Tương vội đứng dậy nghênh đón, dẫn hắn vào trong sảnh ngồi xuống, rồi lấy chén rượu, tự tay rót đầy cho hắn.
Hai người ngồi đối diện trên giường thấp. Trên bàn ngoài vò rượu chỉ bày hai đĩa hoa quả theo mùa: một đĩa là quả dương mai mới hái, một đĩa là thanh mai ngâm trong mật ong, đều là trái cây đúng mùa kết trên cây trong phủ Bạch gia.
Hôm nay hai người không bàn chuyện triều đình, cũng không nhắc đến kế sách cải cách, chỉ tùy ý trò chuyện những chuyện thường ngày.
Nói về những ruộng hoang mới khai phá của tá điền vùng ngoại ô kinh thành đã mọc lên những mầm non xanh biếc, màn sương xanh phủ khắp sườn núi;
Nói về những tấm lụa Ngô mới nhập từ Tây thị, màu sắc thanh nhã, hoa văn độc đáo;
Nói về tập mới của "Cổ thi thập cửu thủ" được truyền chép trong cung gần đây, đang lưu truyền rộng rãi trong giới sĩ tộc, từng câu chữ đều chất chứa nỗi sầu man mác.
Ngoài cửa sổ, cây lựu nở rộ, những cánh hoa đỏ rực nhẹ nhàng rơi xuống, phủ trên nền đá xanh, phản chiếu cùng chén sứ ngọc trên bàn, càng thêm vài phần thanh nhã.
Đợi đến khi mặt trời nghiêng về phía tây, chiếc chuông đồng nơi mái hiên khẽ vang theo gió chiều, Triệu Huyền mới đứng dậy cáo từ.
Khi đi đến cửa, hắn bỗng dừng bước, quay đầu nhìn Bạch Dật Tương:
"Tri Duyên, ba ngày sau ta cưới Tô Cẩm Sắt. Đây là do ngươi lựa chọn giúp ta — thế lực của Tô gia trong Trung thư tỉnh quả thực có lợi cho việc thúc đẩy kế sách xây dựng thương bộ sau này, ngươi suy tính rất chu toàn."
Bạch Dật Tương vốn biết Triệu Huyền tâm tư sáng suốt, nhất định sẽ đoán ra bản thân hắn đứng sau thúc đẩy chuyện này.
Nhưng sau ngày ban hôn, Triệu Huyền chưa từng nhắc đến việc ấy với hắn. Hắn vốn tưởng chuyện này đã qua, không ngờ Triệu Huyền lại nói thẳng ra vào lúc này.
Giọng Triệu Huyền bình thản, không hề có chút trách móc, giống như chỉ đang nói về một sự sắp xếp triều chính bình thường.
Khóe môi hắn tuy mang theo nụ cười nhạt, nhưng giữa hàng mày lại giấu một tia cô đơn khó nhận ra.
Sự cô đơn ấy lại khiến Bạch Dật Tương cũng sinh ra vài phần buồn bã.
Hắn nên vui mừng thay Triệu Huyền.
Cưới Tô Cẩm Sắt, hắn có thể dựa vào danh vọng của Tô gia trong giới sĩ tộc để củng cố địa vị; đối với việc thúc đẩy quân điền và hưng thương đều là trợ lực; đối với việc Triệu Huyền ngồi vững vị trí thái tử càng là trăm lợi không một hại.
Nhưng hắn lại không sao vui nổi.
Nhìn thấy hắn thất thần, Triệu Huyền ôn hòa nói:
"Tô tiểu thư... xuất thân từ thế gia thư hương, vốn có thể tìm một người tâm đầu ý hợp mà kết duyên. Nhưng hiện giờ lại phải gả vào Đông cung, giữ một cuộc hôn nhân không có tình yêu, thật quá bất công với nàng."
"Còn ta... sinh ra trong hoàng gia, cũng không thể tùy tâm tùy ý, cùng người mình yêu thương sống bên nhau dài lâu..."
Bạch Dật Tương nghe vậy sững người, ngẩng đầu nhìn hắn.
Ánh mắt Triệu Huyền dao động, một luồng nhiệt ý dường như muốn trào ra từ đáy mắt.
Hắn vội dời ánh nhìn, nhìn về phía ánh chiều tà đang dần buông xuống nơi xa, giọng nói bỗng trở nên kiên định:
"Ta sẽ không yêu nàng ấy. Vĩnh viễn cũng không."
Cổ họng Bạch Dật Tương nghẹn lại, không nói nên lời.
Sau đó hắn nghe Triệu Huyền nói tiếp:
"Tri Duyên, trong lòng ta, từ đầu đến cuối chỉ có một người — phần tình ý này, dù trải qua bao biến đổi của thế sự, tuyệt đối không thay đổi."
Triệu Huyền lại quay đầu nhìn hắn.
Hai người đối mắt hồi lâu, lâu đến mức tim Bạch Dật Tương bắt đầu đập nhanh.
Triệu Huyền cuối cùng dường như không cam lòng, quay mặt đi, xoay người rời khỏi.
Ngày hôm sau, một phong thư mộc mạc được đưa đến trước án của Bạch Dật Tương.
Trên thư là nét chữ của Ôn Tình Lam, mời hắn đến "Yên Đình Thư Trúc" ở phía nam thành để cùng thanh đàm.
Từ sau khi Trần Liệt bị bắt giam, cây đổ khỉ tan, phe Triệu Thần đã hoàn toàn thất thế.
Trần Võ trước kia dựa thế bắt nạt người khác, nay mất đi chỗ dựa, giống như con ác khuyển bị nhổ răng, không còn chút khí thế hung hăng nào.
Triệu Huyền tự tay viết thư hòa ly, vừa chấm dứt đoạn nghiệt duyên này, vừa trả lại cho Ôn Tình Lam sự tôn nghiêm và tự do của một nữ tử.
Không chỉ vậy, Bạch Dật Tương còn đề nghị Triệu Huyền tiến cử Ôn Tình Lam vào triều làm quan.
Trong thời đại "nữ tử không tài mới là đức", hành động để nữ tử xuất đầu lộ diện như vậy chẳng khác nào chuyện kinh thế hãi tục.
Thế nhưng khi những bản thảo ghi chép chi tiết về trận chiến Tiêu Quan, nỗi khổ nơi biên cương, cho đến những hành vi bạo ngược của Trần Võ được dâng lên trước ngự tiền, ngay cả Triệu Uyên cũng phải động lòng, khen rằng:
"Tài năng của nữ tử này không thua phụ thân nàng; khí tiết của nàng còn hơn nam tử vạn lần!"
Triệu Uyên ban một đạo thánh chỉ, phá lệ đề bạt Ôn Tình Lam làm trước tác lang của Bí thư tỉnh.
Từ đó, vương triều Đại Tĩnh nghênh đón vị nữ sử quan đầu tiên trong lịch sử.
Nàng cùng huynh trưởng Ôn Mẫn, trong Lan Đài chất đầy sách cũ, bắt đầu viết nên bộ Xuân Thu của riêng mình.
Bút của Ôn Tình Lam không giống sự khéo léo của Ôn Minh, cũng không giống sự trung dung của Ôn Mẫn, mà tựa như một lưỡi dao sắc bén có thể róc tận xương.
Từ xưa sử quan ghi chép sự việc, coi trọng "vi ngôn đại nghĩa" (lời ít ý sâu), vì người có địa vị cao mà tránh né khuyết điểm. Cho dù là kẻ gian thần nịnh bợ, khi đặt bút cũng thường để lại ba phần khoan dung, cầu sự cân bằng ổn thỏa.
Nhưng Ôn Tình Lam lại cứ nhất quyết không như vậy.
Nàng kế thừa cốt cách cứng cỏi của sử quan Ôn gia: "Thà cất tiếng mà chết, còn hơn im lặng mà sống", lại thêm sự tinh tế và nhạy bén vốn có của nữ tử, ngòi bút cay nghiệt, sắc bén, chạm thấu tận xương.
Nàng tuyển chọn một nhóm thư lệnh sử trẻ tuổi, phân phái đi khắp nơi.
Vị đại thần nào ngủ gật trong buổi thiết triều, vị hoàng thân nào tranh giành tình nhân ở thanh lâu, vị tướng quân nào cắt xén quân lương — chỉ cần bị nhóm người ghi chép tựa như u linh này bắt gặp khi xuyên qua cung đình phố thị, ngày hôm sau tất cả sẽ hóa thành những dòng chữ trắng mực đen, bị ngọn bút sử quan vô tình đóng đinh lên cột nhục nhã.
Nhất thời, từ văn võ bá quan trong triều cho đến cung nữ nội thị, ai nấy đều sống trong thấp thỏm bất an.
Những quyền quý trước kia từng ngang ngược kiêu ngạo, nay mỗi khi nhìn thấy thư lệnh sử khoác áo xanh, tay cầm sách vở, đều chẳng khác nào gặp Diêm Vương sống, tránh còn không kịp.
Tương truyền một ngày nọ, khi Cận Trung dâng trà cho Triệu Uyên, không nhịn được mà than phiền:
"Những việc Ôn gia nữ lang làm, chẳng phải quá mức mất thể thống hay sao?"
Triệu Uyên lại nói:
"Có một 'mẫu đại trùng' (con cọp cái) còn sắc bén hơn Ngự sử đài như vậy giúp chỉnh đốn triều cương, làm trong sạch quan lại, ràng buộc lời nói hành vi, chẳng phải là chuyện tốt sao?"
Triệu Uyên không những không trách phạt, ngược lại còn phất tay ban cho nàng quyền hành lớn hơn — tăng thêm số lượng thư lệnh sử, cho phép nàng đeo "Lan Đài yêu bài" đặc chế, có thể tự do ra vào sáu bộ nha môn, vương phủ hầu môn, đi lại như chốn không người.
Từ đó, chuyện của Ôn Tình Lam trở thành giai thoại được truyền tụng trong giới sĩ lâm.
......
Trong lúc hệ thống văn quan chấn động, bên phía võ tướng cũng xảy ra biến động lớn.
Đại thắng Tiêu Quan, triều đình luận công ban thưởng.
Ái tướng tâm phúc của Triệu Huyền là Bành Kiên, nhờ công lao xông pha trận mạc, được gia phong làm Hổ Bí Trung Lang tướng, thống lĩnh thân quân của hắn.
Còn chức vị thống lĩnh cấm quân vốn bỏ trống đã lâu, từng khiến các thế lực thèm muốn — quyền chỉ huy Tả Vệ quân trước kia do Trần Liệt nắm giữ — nay trở thành trọng điểm tranh đoạt trên triều đình.
Đây là vị trí then chốt bảo vệ kinh thành, liên quan đến an nguy hoàng cung. Ai nắm giữ quyền lực này, chẳng khác nào nắm trong tay nửa mạch máu của thành Lạc Dương.
Phe Triệu Thần tuy đã sụp đổ, nhưng trong triều vẫn còn những lão hồ ly như Tô Hưu, Vương Vân âm thầm quan sát.
Triệu Huyền hiểu rõ, lúc này nếu cưỡng ép đưa Bành Kiên lên vị trí ấy, không những tư lịch chưa đủ, mà còn dễ khiến người khác phản đối, bị chụp lên đầu cái mũ "kết bè kết phái, mưu lợi riêng".
Vì vậy, hắn tiếp thu kế sách của Bạch Dật Tương, đi một nước cờ cân bằng vô cùng tinh diệu — không tiến cử thân tín, ngược lại chủ động dâng tấu, đề cử Vương Hiển, đích tôn của Thái Nguyên Vương thị.
Vương Hiển tuổi vừa đôi mươi, đã là thiếu niên anh tài nổi danh khắp kinh thành.
Hắn xuất thân từ gia học uyên thâm, tinh thông binh pháp thao lược. Điều khó có được hơn cả là dù xuất thân từ môn phiệt đứng đầu, hắn lại không mang thói quen ăn chơi phóng túng của con cháu quyền quý, vốn có phong thái hiệp nghĩa, võ nghệ cũng xuất chúng, rất có danh vọng trong lớp trẻ ở kinh thành.
Đề cử này vừa đưa ra, Thượng thư lệnh Vương Vân đương nhiên vô cùng vui mừng — cháu mình nắm giữ cấm quân, vừa là vinh dự lớn lao, vừa là thực quyền trong tay, không nghi ngờ gì chính là minh chứng Đông cung đang bày tỏ thiện ý.
Triệu Uyên sau khi khảo nghiệm võ nghệ cùng sách lược của Vương Hiển, cũng vô cùng hài lòng, lập tức dùng bút son phê chuẩn, bổ nhiệm hắn làm Tả Vệ tướng quân, nắm quyền Tả doanh cấm quân.
Nước cờ này vừa trấn an thế gia, vừa cài vào cấm quân một lực lượng có thể trở thành đồng minh, có thể nói là một mũi tên trúng hai đích.
Mà nguyên nhân Bạch Dật Tương tiến cử Vương Hiển, còn không chỉ có vậy.
Lần trước trên giáo trường, hắn từng từ xa nhìn thấy vị thiếu niên tướng quân này. Khi ấy ánh mắt Vương Hiển nhìn Triệu Huyền tuy không rõ ràng ý quy thuận, nhưng lại thấp thoáng sự kính trọng và hướng tới cường giả.
Đồng minh vững chắc nhất trên đời này, thường không phải do huyết thống hay lợi ích trói buộc, mà bắt nguồn từ chí hướng tương đồng, tâm hồn tương thông.
Thanh bảo kiếm chưa rút khỏi vỏ như Vương Hiển, chỉ cần mài giũa đúng cách, sau này chưa chắc không thể trở thành lưỡi dao sắc bén trong tay Triệu Huyền.
Bạch Dật Tương thu hồi suy nghĩ, lại nhìn tấm thiệp mời của "Yên Đình Thư Trúc".
Hôm nay không có việc gì, đi xem thử cũng không sao.
Bạch Dật Tương sai Thạch Đầu chuẩn bị xe ngựa, đi về phía nam kinh thành, đến Yên Đình Thư Trúc.
Nơi này xây dựng bên dòng nước, bóng cây bao quanh, đường nhỏ quanh co dẫn đến nơi thanh u, là chốn tụ hội tao nhã được con cháu sĩ tộc trong kinh yêu thích nhất.
Hôm nay nơi đây càng náo nhiệt hơn, xe sang ngựa quý nối dài không dứt, chỉ vì vị "thiết diện nữ sử" mới nổi Ôn Tình Lam đã tổ chức tại đây một buổi thanh đàm nhã tập đặc biệt.
Trong đình các của thư trúc, mọi thứ đã sớm được bố trí ổn thỏa.
Bốn phía rèm trúc cuốn nửa, gió nhẹ lướt qua mặt nước mang theo hương sen, hòa cùng mùi trầm thủy hương lượn lờ trên bàn, khiến lòng người thư thái.
Trong bữa tiệc, mấy vị danh sĩ mặc áo rộng tay dài, tay cầm phất trần, đang ngồi quây quần đàm luận. Chủ đề chính là vấn đề đang thịnh hành nhất lúc bấy giờ: "hữu vô chi biện" (tranh luận về có và không).
"Mọi vật trong trời đất đều sinh ra từ cái có, cái có lại sinh ra từ cái không."
Một vị công tử quý tộc xuất thân từ Lang Gia Vương thị nhẹ nhàng phe phẩy phất trần, vẻ mặt ung dung:
"Vì vậy, cái 'không' chính là căn bản của đạo, là mẹ của vạn vật. Người đời chúng ta khi xử thế nên lấy hư tĩnh làm gốc, quên đi được mất, như vậy mới có thể hòa hợp với đại đạo."
Mọi người nghe vậy đều khẽ gật đầu, hoặc vỗ tay tán thưởng, hoặc thấp giọng phụ họa.
Nhưng tâm tư của Bạch Dật Tương lại không đặt trên những lời huyền lý trống rỗng ấy.
Người chủ trì hôm nay là Ôn Tình Lam, nàng mặc một bộ khúc cư thâm y màu xanh trúc thanh nhã, không trang điểm phấn son, vẻ đẹp thanh tú càng khó che giấu.
Nàng tuy không nói một lời, nhưng thần sắc lại giống như đã nhìn thấu sự hư vô phía sau vẻ phong nhã đầy đường kia.
Theo hiểu biết của hắn về Tình Lam, nàng vốn không thích những cuộc tranh luận hư vô như vậy, ngược lại yêu thích những bàn luận thời thế có nội dung thực chất hơn.
Hôm nay đột nhiên tổ chức "hữu vô chi biện", chuyện khác thường tất có nguyên do —
Buổi nhã tập này, e rằng là "Hạng Trang múa kiếm, ý tại Bái Công" (bề ngoài làm một việc, thực chất nhắm vào mục đích khác).
Quả nhiên, khi cuộc thanh đàm dần đi đến hồi kết, mọi người vẫn còn chưa thỏa mãn mà lần lượt rời đi, Ôn Tình Lam bỗng đứng dậy, đi đến trước mặt Bạch Dật Tương.
"Tiên sinh Tri Duyên."
Nàng hơi cúi người hành lễ, giọng nói thanh lạnh mà lễ độ:
"Nghe nói tiên sinh cũng có kiến giải độc đáo về Kinh Dịch, trong lòng Tình Lam có vài điều nghi hoặc, không biết tiên sinh có thể dời bước đến thư các, giải đáp giúp ta hay không?"
Bạch Dật Tương đứng dậy đáp lễ:
"Đại nhân trước tác lang đã đích thân mời, Dật Tương sao dám không theo."
Đi qua một cánh cổng nguyệt môn, vòng qua mấy khóm trúc xanh, phía trước là một gian noãn các được bố trí cực kỳ thanh u tao nhã.
Vừa bước vào cửa, Ôn Tình Lam liền cho lui toàn bộ thị nữ bên cạnh, tự tay khép cửa lại.
Không đợi Bạch Dật Tương mở lời, phía sau tấm bình phong lụa mỏng, một bóng người xinh đẹp chậm rãi bước ra.
Nữ tử ấy mặc một bộ quảng tụ nhu quần màu trắng ánh trăng, thêu cành mai, mái tóc chỉ tùy ý búi thành kiểu oa đọa, cài nghiêng một cây trâm bạch ngọc trong suốt, càng làm nổi bật làn da trắng như ngọc, mịn màng sáng bóng.
Nữ tử này dung mạo cực kỳ xinh đẹp, nhưng không phải vẻ đẹp mềm mại yếu đuối như cành liễu trong gió, mà mang theo vài phần thanh lãnh sắc bén.
Đôi mắt hơi xếch lên, ẩn chứa sự trầm ổn và thông suốt vượt xa tuổi tác.
Nàng là... Tô Cẩm Sắt?
Bạch Dật Tương chưa từng tận mắt gặp Tô Cẩm Sắt, nhưng không hiểu vì sao trong lòng hắn lại lập tức nảy sinh dự cảm ấy.
"Các người nói chuyện đi."
Ôn Tình Lam khẽ mỉm cười, sau đó lui ra ngoài, đóng chặt cửa.
Bạch Dật Tương không kịp gọi nàng lại, chỉ liếc nhìn Tô Cẩm Sắt một cái, rồi cúi mắt chỉnh lại y phục, cúi người hành đại lễ:
"Vi thần Bạch Dật Tương, tham kiến Thái tử phi điện hạ."
"Tại sao tiên sinh Tri Duyên biết là ta?"
Tô Cẩm Sắt không hề né tránh, đôi mắt đẹp từ trên xuống dưới đánh giá hắn thật kỹ, trong mắt hiện lên vẻ kinh ngạc, khẽ lẩm bẩm:
"Chẳng trách..."
Bạch Dật Tương cẩn thận lùi nửa bước, cung kính nói:
"Trong số quý nữ kinh thành, người có dung mạo và khí độ như vậy, ngoài chuẩn Thái tử phi, còn có thể là ai?"
Một lúc lâu sau, Tô Cẩm Sắt mới nói:
"Tiên sinh Tri Duyên không cần đa lễ, xin đứng lên."
Bạch Dật Tương đứng dậy, cúi đầu đứng sang một bên, dáng vẻ cung kính.
Tô Cẩm Sắt thấy hắn không nói gì, vẫn tùy ý đánh giá người trước mặt, chậm rãi nói: "Là ta muốn gặp tiên sinh, lại e ngại điều kiêng kỵ nam nữ gặp riêng, nên mới mượn danh nghĩa 'thanh đàm' của Tình Lam, ép nàng ấy làm chuyện se duyên dẫn mối này. Nếu tiên sinh muốn trách, vậy cứ trách ta là được, chớ nên giận lây sang Tình Lam."
Trong lòng Bạch Dật Tương sinh nghi hoặc: "Vi thần nào dám? Điện hạ nếu có sai bảo, chỉ cần truyền triệu là được, hà tất phải vòng vo như vậy? Điện hạ có lời gì, cứ nói thẳng, vi thần xin rửa tai lắng nghe."
Ánh mắt Tô Cẩm Sắt lưu chuyển, khẽ bật cười: "Tri Nguyên tiên sinh có biết, trước khi thánh chỉ ban hôn của bệ hạ được hạ xuống... Thái tử điện hạ từng đến tìm ta không?"
Đôi mắt đang rũ xuống của Bạch Dật Tương khẽ động, nhưng không nói một lời, chỉ lặng lẽ chờ nàng nói tiếp.
Tô Cẩm Sắt ngồi xuống trên đệm mềm, đưa tay ra hiệu: "Tiên sinh mời ngồi."
Bạch Dật Tương làm theo lời, ngồi xuống đối diện. Tô Cẩm Sắt lại hỏi: "Tiên sinh có biết, Thái tử điện hạ tìm ta vì chuyện gì không?"
Bạch Dật Tương suy nghĩ một lát, đáp: "Dật Tương không biết."
Tô Cẩm Sắt nói: "Ngài ấy nói... ngài ấy thích nam nhân."
Bạch Dật Tương đột nhiên mở lớn hai mắt, không còn để ý lễ nghi câu nệ, ngẩng đầu nhìn về phía Tô Cẩm Sắt, vừa lúc chạm phải đôi mắt đang mang ý cười của nàng.
"Chuyện này..."
Trên gương mặt vốn luôn bình thản ung dung của Bạch Dật Tương, cuối cùng cũng xuất hiện một vết nứt.
Khi ấy chính là thời khắc then chốt trong cuộc tranh đoạt ngôi vị, liên quan đến tính mạng bản thân, liên quan đến giang sơn xã tắc Đại Tĩnh, hắn sao dám đem bí mật đủ khiến bản thân vạn kiếp bất phục này, cứ như vậy không chút che giấu nói cho một nữ tử còn chưa xuất giá?
Trong lòng Bạch Dật Tương vừa nóng ruột vừa tức giận, nhưng lại nghe Tô Cẩm Sắt "phì" một tiếng bật cười.
Ánh mắt nàng đầy vẻ thích thú đảo qua người Bạch Dật Tương một lượt, tiếp tục nói: "Hơn nữa, ngài ấy còn nói..."
Bạch Dật Tương vội hỏi: "Ngài ấy còn nói chuyện gì?"
Tô Cẩm Sắt nói: "Ngài ấy nói... ngài ấy đã có người trong lòng, đời này ngoài người đó ra, không thể dung nạp thêm bất kỳ ai khác."
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co