6; le lotus
Chương này lấy bối cảnh thời chiến Việt Nam, nên nhân vật sẽ đổi tên cho nó hay hơn. Về việc Hugo đi vào Miền Nam, giúp sức cho đất nước. Miền Tây thân thiết hay xưng vai vế như Chị Hai, Anh Ba rồi Anh Tư, Em Út.
Hugo Vivian - Duy An. Biệt danh là Vũ Quả
Julian Loki - Lợi An. Biệt danh là Lạc Cơ
Charles Chevalier thì gọi là Hạ Nhĩ, hay bé út Nhĩ.
Có sự xuất hiện của chị gái Hugo, gọi là chị Hai Trân hoặc chị Hai thôi.
Bối cảnh là miền Tây sông nước, rồi vào miền Nam. Cha mẹ bé út mất nên được tía má của anh Tư nuôi nấng, rồi từng người cũng rời đi, chỉ có bốn chị em gắn bó với nhau, sống chung trong một mái nhà.
________________________________
Năm đó, dải đất miền Tây vào mùa nước nổi muộn. Con rạch nhỏ chảy qua mé hông nhà chị Hai Trân lúc nào cũng sủi tăm cá linh, hai bên bờ là hàng dừa nước nghiêng mình soi bóng xuống dòng phù sa đỏ quạch.
Hồi ba đứa nhỏ còn chưa cao tới bậu cửa, tụi nó đã dính nhau như hình với bóng. Cứ trưa trưa, lúc người lớn chợp mắt trốn cái nắng đổ lửa Nam Bộ, ba cái bóng nhỏ xíu lại lén lút trèo qua bờ rào dâm bụt để tụ tập.
Thằng Ba An là đứa hiếu động nhất, chân tay lúc nào cũng lấm lem nhựa mít, nhựa xoài. Nó khoái nhất là dắt hai đứa nhỏ hàng xóm là thằng tư Lợi An với thằng út Nhĩ đi mót trái cây trĩu cành. Mẹ thằng Ba thấy con trai cưng hễ đi đâu về là túi áo bà ba lại căng phồng mấy quả ổi sẻ, quả vú sữa da láng bóng, bèn cốc đầu nó một cái rõ đau rồi mắng yêu:
-"Cái thằng Vũ Quả này! Mày cứ ham đi hái trái cây hoài, nắng nôi bể đầu có ngày nghe con!"
Biệt danh "Vũ Quả" chết tên với thằng Ba từ đó. Mà ngộ một điều, Vũ Quả hái được trái nào ngon cũng không ăn trước, toàn đưa cho thằng Tư Lợi An. Khác với vẻ thư sinh, thằng Tư nhỏ hơn anh hai tuổi nhưng có nước da rám nắng giòn tan vì suốt ngày đầu trần chạy dọc các con đê, đôi mắt sáng như hai hạt nhãn, tính tình lại bướng bỉnh và mê chạy nhảy.
Có lần, hai đứa nằm dài trên chõng tre ngắm đàn chim bay về tổ phía bên kia sông, thằng Ba An gối đầu lên tay, nhìn thằng Tư rồi thủ thỉ:
-"Tư nè, anh Ba đọc sách thấy người ta nói ngày xưa nước mình có loài chim quý tên là chim Lạc, thích bay cao, yêu tự do dữ lắm. Anh Ba thấy em giống hệt con chim đó, lúc nào cũng muốn chạy, muốn bay thôi. Từ nay anh Ba gọi em là Lạc Cơ nghen."
Thằng Tư cười tít mắt, làn da rám nắng càng làm nổi bật hàm răng sún coi bộ khoái chí lắm:
-"Dạ chịu! Anh Ba là Vũ Quả, em là Lạc Cơ. Hai đứa mình hứa không có rời nhau nghen anh Ba!"
Lúc đó, thằng Út Nhĩ mới lên sáu, mặc cái quần đùi bạc màu chạy tới, tay ôm cây đàn guitar cũ xì của tía nó để lại, phụng phịu:
-"Hai anh chơi cộc cằn hổng rủ Út gì hết trơn! Út méo mặt nghỉ chơi hai anh bây giờ!"
Vũ Quả cười xòa, tét vào mông thằng em út nhỏ hơn mình bốn tuổi một cái: "Thôi thương mà, Út Nhĩ của hai anh là ngoan nhất. Sau này anh Ba đi hái trái cây, Lạc Cơ chạy đi lượm, còn Út ngồi đàn cho hai anh nghe, chịu chưa?"
Ba đứa trẻ cười vang cả một góc vườn, tiếng cười trong trẻo hòa vào hương sen cạn thoang thoảng đầu làng, tưởng như chiến tranh khốc liệt ngoài kia chẳng thể nào chạm tới cái chòi tranh nhỏ bé của tụi nó.
Dòng thời gian trôi nhanh như nước đổ sau mưa. Thấm thoát, thằng Tư Lợi An đã bước sang tuổi mười lăm. Chiến tranh ngày một tàn khốc, nhưng Lợi An không chịu ngồi yên dưới hầm tránh bom. Nhờ nước da rám nắng lanh lẹ, đôi chân chạy nhanh tựa gió và cái mác "con nít trong xóm", cậu bí mật tham gia đội giao liên nhi đồng, chuyên giấu thư mật cách mạng vào giỏ xách, túi áo bà ba để qua mặt các trạm gác của địch.
Vào một buổi chiều định mệnh năm ấy, Lợi An nhận nhiệm vụ mang một bức thư thượng khẩn băng qua cánh đồng để kịp chuyển cho cơ sở nội đô. Không may, hành động của cậu lọt vào tầm ngắm của toán tuần tra địch. Tiếng súng chát chúa đột ngột vang lên xé toạc bầu trời miền Tây.
"Đứng lại! Thằng nhỏ kia đứng lại!"
Đoàng!Đoàng!
Lợi An hốt hoảng ôm chặt túi áo chứa thư mật, vắt chân lên cổ chạy hết tốc lực như một chú chim Lạc tìm đường về tổ. Nhưng đạn lạc vô tình bốc lên một màn bụi đất hoàng thổ. Một viên đạn sượt qua thái dương, găm thẳng vào vùng mắt của cậu thiếu niên mười lăm tuổi. Khi Vũ Quả và Chị Hai Trân nghe tiếng súng liền lao ra bờ kênh, Lợi An đã nằm gục bên bờ ruộng, máu từ trên trán chảy dài xuống khuôn mặt rám nắng đầy bùn đất. Bức thư mật trong túi áo đã được chuyển đi an toàn trước đó, nhưng cái giá phải trả quá đỗi đắt gắt.
Trận đạn năm mười lăm tuổi ấy không lấy đi mạng sống của người giao liên nhỏ tuổi, nhưng nó đã cướp đi đôi mắt sáng ngời của cậu thiếu niên. Đôi mắt từng nhìn thấu vạn vật, từng rực sáng mỗi khi chạy đua trên những con đường đất đỏ, giờ đây chỉ còn là một màu sương khói mờ đục, không còn nhìn rõ mặt người đối diện.
Chú chim Lạc yêu tự do thuở nào, giờ đây chính thức bị gãy cánh.
Lợi An hụt hẫng, em nhốt mình trong phòng, không chịu ăn uống, không chịu nói năng. Thằng Út Nhĩ bước sang tuổi mười ba đứng bên ngoài bậu cửa, ôm cây đàn guitar mà khóc rấm rứt vì bất lực trước nỗi đau của anh mình.
Vũ Quả bước vào phòng, nhìn bóng dáng gầy gò của Lợi An đang thu mình trong chiếc áo bà ba xám tro, lòng đau như cắt. Anh bước đến, quỳ xuống bên cạnh chõng tre, nắm lấy bàn tay run rẩy của Lợi An, áp lên má mình:
-"Lạc Cơ... em đừng vậy mà. Em hổng thấy đường, có anh Ba đây làm đôi mắt cho em. Em hổng chạy giao thư được nữa, anh Ba chạy thay phần của em, chiến đấu thay phần của em. Đừng bỏ cuộc nghen Lạc Cơ, anh Ba xin em đó..."
Lợi An nghe tiếng gọi "Lạc Cơ", lồng ngực nghẹn ngào, em gục đầu vào vai Vũ Quả mà khóc nức nở. Bi kịch năm mười lăm tuổi trên đường giao liên đã ghì chặt chân em lại với mảnh đất này, nhưng cũng chính từ lúc đó, tình cảm giữa em và Vũ Quả đã vượt qua ranh giới của tình bạn thuở nhỏ, trở thành một thứ tình yêu sâu đậm, gắn kết bằng máu và nước mắt giữa thời chiến tranh.
Năm 1975, Sài Gòn và các tỉnh miền Nam bước vào những ngày tháng tư lịch sử. Không khí cách mạng sục sôi khắp các ngả đường. Vũ Quả lúc này đã là một thanh niên đôi mươi, vóc dáng cao rực, ánh mắt kiên định. Để tiếp bước con đường giao liên dở dang của người thương, anh quyết định xin vào chiến khu, chính thức tham gia vào lực lượng quân giải phóng.
Hạ Nhĩ khi ấy mười sáu tuổi biết chuyện, cậu im lặng cả ngày, đem hết số thuốc nam thu nhặt được gói ghém lại cho anh Ba. Cậu biết, anh Ba đi rồi, trọng trách chăm sóc anh Tư Lợi An sẽ dồn hết lên vai mình. Cậu phải trưởng thành, phải giấu đi sự hồn nhiên của bản thân năm nào để làm một người hậu phương vững chắc.
Chiều hôm đó, trước giờ giao liên tới đón, chị Hai Trân đứng trong bếp xếp mấy chiếc khăn rằn Nam Bộ và một bộ quần áo du kích đen vào ba lô cho em trai. Chị Hai lau nước mắt, nghiêm giọng bảo: "Thằng Ba, mày đi chuyến này phải giữ cái mạng mà về nghe hông. Ở nhà có tao với thằng Út lo cho thằng Tư rồi, mày hông phải bận lòng."
-"Dạ, em biết rồi chị Hai. Hai nhớ giữ gìn sức khỏe nghen Hai."
Vũ Quả khoác ba lô lên vai, bước ra hiên nhà. Lợi An đang ngồi đó, tà áo bà ba trắng phẳng lặng bay nhẹ trong gió chiều. Gương mặt rám nắng của em hướng về phía con rạch, đôi mắt mờ đục vô hồn, đôi tay gầy guộc đang mân mê một chiếc vòng tết bằng lá dừa khô, kỷ vật tuổi thơ của ba đứa nhỏ.
Vũ Quả bước tới, đỡ lấy bả vai Lợi An, giọng anh chùng xuống, ngọt ngào mà chứa chan niềm thương cảm: "Tư nè... Anh Ba chuẩn bị đi vô chiến khu với người ta rồi. Anh Ba gọt sẵn cho Tư mấy trái xoài cát để trong tô đó, chút xíu Út Nhĩ nó lấy cho Tư ăn nghen."
Lợi An quay gương mặt nhợt nhạt về phía giọng nói, khẽ cười buồn, giọng em nghẹn lại ở cổ họng: "Anh Ba đừng lo cho em. Anh đi chiến khu đạn lạc bom rơi, anh phải lo cho cái thân anh đi chuốc. Anh đi rồi... bỏ lại mình em với Út Nhĩ, em nhớ Anh Ba chết mất... Sao ác nghệt vậy anh Ba? Đã bảo là hổng rời nhau mà..."
Vũ Quả nghe lòng mình thắt lại. Anh ghé sát tai em, hơi thở ấm áp phả vào vành tai Lợi An, nói nhỏ bằng cái mật hiệu chỉ có hai người biết: "Lạc Cơ ơi... Duy An đi rồi Duy An sẽ về. Khi nào đất nước mình lặng gió, hết tiếng bom rơi, Anh Ba dắt em ra đầm sen đầu làng, ngửi mùi sen nở, hát cho em nghe bài thơ anh viết nghen em?"
Lợi An gật đầu, một giọt nước mắt hiếm hoi lăn dài từ đôi mắt mờ đục, thấm vào tà áo bà ba đen của Vũ Quả.
Từ ngoài ngõ, tiếng Hạ Nhĩ vọng vào cắt ngang bầu không khí đặc quánh: "Anh Ba ơi! Chị Hai kêu anh ra mau kìa, chú giao liên tới đón bên bờ kênh rồi, trễ giờ hổng kịp qua trạm gác đâu anh Ba!"
Dẫu tiếng thằng Út Nhĩ ngoài ngõ có thúc giục gắt gao, bước chân của Vũ Quả vẫn không đành lòng dứt ra khỏi bậu cửa. Anh quay trở vào buồng, bước chân nhẹ hẫng không tiếng động để tránh làm Lợi An giật mình. Trong căn buồng tối bảng lảng khói nhang trừ muỗi, Lợi An đang tựa đầu vào vách tre, gương mặt rám nắng nghiêng nghiêng đón chút ánh sáng ít ỏi rọi qua khe lá.
Vũ Quả quỳ một bên gối xuống nền đất nện, anh lấy từ túi áo ra một cây bút máy Kim Tinh cũ cùng một mảnh giấy thô cắt ra từ sổ tay giấu trong lòng bàn tay. Anh không viết thơ ra giấy lớn, vì thời chiến đạn lạc, giấy tờ trinh sát dễ bị tịch thu. Anh chọn cách của những nhà văn chiến sĩ ngày xưa, chép những dòng chữ nhỏ li ti, nắn nót bằng mực xanh lên lớp vải nẹp bên trong chiếc áo bà ba trắng gác bếp của Lợi An.
Anh vừa khẽ lật nẹp áo của người thương, vừa nhẹ nhàng đọc nhỏ như tiếng thì thầm của gió sông:
" Em thương yêu,
nơi rừng sâu sương phủ,
gửi chút lòng theo gió hát tình xa,
dẫu gian lao, anh vẫn bền chí cũ,
đợi ngày về chung lối nhỏ đi xưa."
Lợi An ngồi im, lồng ngực khẽ phập phồng theo từng nét bút máy tì nhẹ lên ngực áo mình. Em không nhìn thấy chữ, nhưng cái chạm của đầu bút và hơi thở nồng đượm mùi mủ cao su của Vũ Quả khiến vành tai em đỏ ửng. Tình yêu thời chiến của tụi nó là vậy đó, hổng có nắm tay, hổng có ôm hôn nồng nhiệt, chỉ có những dòng thơ chép vội trên nẹp áo và hương tóc vương mùi lá bưởi thoảng qua nhau giữa hai mùa bom đạn.
Vũ Quả viết xong nốt nét chữ cuối cùng, anh khẽ vuốt phẳng tà áo cho Lợi An rồi cầm lấy bàn tay rám nắng của em, đặt lên ngực trái của mình, nơi trái tim đang đập từng nhịp xao động: "Thơ anh viết, anh giấu ở nẹp áo ngực bên trái của Tư đó chuốc. Hễ đêm nào nhớ anh, Tư cứ áp tay vô chỗ này. Mực này hổng phai đâu, như cái tình của anh Ba dành cho Lạc Cơ vậy đó, hổng bao giờ phai."
Lợi An run run ngón tay, khẽ mím môi để ngăn tiếng nấc. Em nhớ ngày xưa tía má em cũng thương nhau bằng những bài thơ tình giấu trong gói thuốc rê gửi ra mặt trận. Giờ đây, đến lượt em nhận lấy thứ tình cảm thanh thuần mà nặng sâu như núi đá từ tay anh Ba.
Để xua đi bầu không khí u buồn, Vũ Quả khẽ hắng giọng, anh ghé sát tai Lợi An, nhịp ngón tay lên chõng tre giả làm tiếng đàn, cất giọng ca tài tử một câu vọng cổ ngắn ngọt ngào, tha thiết như điệu hò miền Tây sông nước:
" Chim Lạc bay mỏi cánh ôm sầu bóng nguyệt...
Tôi nguyện làm làn gió đưa lối em về..."
Tiếng hát trầm ấm, mộc mạc vương chút khói súng của anh làm Lợi An khẽ bật cười, nụ cười rạng rỡ thắp sáng cả khuôn mặt rám nắng. Em nghiêng đầu, thầm thì: "Em biết rồi, anh Ba đi chân cứng đá mềm nghen. Em ở nhà đợi anh về dắt ra đầm sen..."
Chỉ đến khi tiếng chị Hai Trân gắt lên từ phía bến nước ngoài xa, Vũ Quả mới lưu luyến buông tay, khoác vội chiếc ba lô vải bạt lao ra màn đêm đang dần buông xuống dòng kênh.
Chiến khu D những ngày cuối năm 1974, đầu năm 1975 không có một ngày lặng gió. Rừng miền Đông dập dìu tiếng lá trung quân, nhưng cũng chốc chốc lại bị xé toạc bởi những tiếng bom đạn, khói súng khét lẹt len lỏi vào từng kẽ đá, hốc hầm.
Duy An ở tiền tuyến không còn là cậu thiếu niên Ba An ham hái trái cây ngày nào. Anh đã là một chiến sĩ trinh sát thực thụ của quân giải phóng. Vóc dáng anh cao ráo, nước da cũng đã sạm đi vì nắng gió Trường Sơn, chiếc áo bà ba đen của du kích đã sờn rách một mảng lớn ngay bả vai, được anh khéo léo dùng dây rừng buộc lại để tiện hành quân. Thế nhưng, cái tính lãng mạn và tâm hồn người nghệ sĩ miền Tây trong anh thì không bom đạn nào giết chết được.
Cứ sau mỗi trận càn, khi tiếng súng vừa dứt và màn đêm buông xuống khu căn cứ, Vũ Quả lại ngồi bên bếp Hoàng Cầm, ôm cây đàn guitar cũ kỹ mà anh nâng niu như mạng sống. Những ngón tay đầy vết chai sần vì bóp cò súng, giờ đây lướt nhẹ trên dây đàn, bật lên những âm thanh trầm bổng giữa đại ngàn. Đồng đội trong tiểu đội bấy giờ mê tiếng hát của anh lắm. Họ quây quần bên anh, nghe anh hát những câu hò Nam Bộ ngọt lịm xua đi cái lạnh thấu xương của rừng già. Có anh bạn trẻ cùng quê thỉnh thoảng lại chọc:
-"Anh Ba An ảnh hát hay vậy hèn chi ở quê mấy cô hổng đổ rầm rầm. Mà sao thấy ảnh cứ khư khư cuốn sổ tay, hổng chịu viết thư cho cô nào hết trơn vậy ta?"
Duy An chỉ cười xòa, bàn tay khẽ vuốt ve bìa cuốn sổ tay chép thơ được bọc bằng một lớp ni-lông chống nước mua từ nội đô. Anh không viết thư gửi về nhà, vì con đường giao liên giờ đầy rẫy hiểm nguy, anh sợ thư rơi vào tay giặc sẽ làm liên lụy đến Chị Hai Trân, đến Lợi An và Út Nhĩ. Anh chọn cách trút hết nỗi lòng, hết tình yêu thanh thuần của mình vào những trang thơ chép vội dưới ánh đèn dầu tự chế bằng vỏ đạn.
Trong cuốn sổ tay ấy, mỗi trang giấy đều vương mùi khói đạn nhưng lại chứa đựng những dòng chữ nắn nót, thanh tao đến lạ kỳ. Anh viết về mảnh đất miền Tây đầy nắng, viết về hương vú sữa đầu mùa, nhưng nhiều nhất vẫn là viết về Lạc Cơ, người thương có đôi mắt mờ và làn da rám nắng đang đợi anh nơi quê nhà.
Có đêm, sau một trận hành quân suýt chết dưới làn đạn pháo, Vũ Quả tựa lưng vào thành hầm, bật quẹt lửa chép lại mấy câu thơ vừa nảy ra trong đầu:
" Trường Sơn đêm nay bom rơi buốt giá,
Anh nhớ em, nhớ tà áo bà ba.
Hỡi em yêu, đôi mắt em sao nhạt nhoà,
Em có thấy tình anh giữa ngàn khói lửa?
Đất nước mình sắp đến ngày xốc mở,
Cánh chim gãy rồi hông phải sợ cô đơn,
Anh đi thay em, đi suốt vạn dặm đường,
Mai anh về làm đôi mắt cho em..."
Tình yêu của anh nơi chiến chinh giản dị, mộc mạc nhưng đầy kiên định như từng bụi tùng trúc. Giữa ranh giới mong manh của cái chết và sự sống, hình bóng Lợi An mặc chiếc áo bà ba trắng ngồi bên bậu cửa chính là chiếc neo duy nhất giữ cho tâm hồn anh không bị sự tàn khốc của thời chiến nuốt chửng. Mỗi lần mệt mỏi, anh lại đưa tay sờ lên ngực áo, nơi anh tưởng tượng ra dòng chữ mực xanh anh từng chép trên nẹp áo của Lợi An ngày rời đi, thầm nhủ: "Lạc Cơ đợi anh, nhất định, anh sẽ về dắt em ra đầm sen."
Tháng 4 năm 1975, mệnh lệnh tổng tiến công vang lên khắp các mặt trận. Tiểu đội của Duy An nhận nhiệm vụ mở đường, đánh chiếm một cứ điểm quan trọng vùng ven để dọn đường cho đại quân tiến về giải phóng Sài Gòn. Trận đánh diễn ra vô cùng khốc liệt ngay bên cạnh một vùng đầm lầy rộng lớn, nơi có những đóa sen dại đang mùa nở rộ, tỏa hương thơm ngát giữa tiếng đạn bom gầm rú.
Duy An ôm súng, băng qua những công sự với tốc độ và sự nhạy bén phi thường. Anh như một ngọn lửa rực cháy, dẫn đầu đồng đội xông lên. Thế nhưng, trong loạt pháo kích cuối cùng của địch hòng chống trả tuyệt vọng, một mảnh đạn pháo tầm xa đã găm thẳng vào lồng ngực bên trái của anh, ngay vị trí trái tim đang đập vì lý tưởng và tình yêu.
Duy An ngã xuống bên bờ đầm. Chiếc áo bà ba đen rách vai thấm đẫm máu tươi.
Máu của anh tuôn ra, nhuộm đỏ một khoảng đất mọc đầy những bông sen cạn. Khi sức tàn lực kiệt, xung quanh anh tiếng súng đạn thưa dần, chỉ còn mùi hương sen thanh khiết bao bọc lấy thân thể. Trong khoảnh khắc ấy, mọi đau đớn dường như biến sạch, anh chỉ thấy trước mắt mình hiện ra con rạch nhỏ quê nhà, thấy thằng Út Nhĩ đang ôm đàn guitar, và thấy Lợi An, chú chim Lạc với làn da rám nắng ngày nào đang mỉm cười đưa tay về phía anh.
Vũ Quả gắng gượng chút hơi tàn cuối cùng, run rẩy móc từ trong túi áo bà ba ra cuốn sổ tay chép thơ đã hoen màu máu. Anh áp nó vào ngực, đôi môi mấp máy những thanh âm đứt quãng:
-"Lạc Cơ...Anh Ba...hông về dắt em đi ngắm sen được rồi... Em... áp tay vô nẹp áo... nghe anh hát... nghen em..."
Đôi mắt anh khép lại, bình thản và nhẹ nhàng giữa đầm sen dại miền Đông. Anh hy sinh khi chỉ còn cách ngày hòa bình đúng một bước chân ngắn ngủi, gửi lại tuổi hai mươi đẹp đẽ nhất cho đất mẹ Nam Bộ.
Sáng ngày ba mươi tháng tư năm 1975, loa phát thanh dọc theo các trục đường miền Tây oang oang thông báo tin thắng trận. Người dân đổ ra đường đông như trảy hội, cờ đỏ sao vàng rợp một khoảng trời phù sa. Tiếng cười, tiếng khóc nghẹn ngào của những gia đình đoàn tụ vang lên xé toạc bầu không khí vốn dĩ luôn căng thẳng suốt bao năm qua.
Thế nhưng, trong căn nhà nhỏ bên hông con rạch của Chị Hai Trân, không gian lại tĩnh lặng đến lạ kỳ.
Lợi An ngồi im thin thít trên chiếc chõng tre gác mái hiên. Em mặc chiếc áo bà ba trắng cũ kỹ, nẹp áo bên ngực trái đã sờn lòng nhưng dòng chữ mực xanh của anh Ba chép ngày đi thì vẫn nằm im lìm ở đó.
Ngày trước, lúc ba đứa trẻ còn xúm xít bên mâm cơm nghèo, tía má hai bên tụi nó từng biểu: "Nhà mình ngộ thiệt, đặt tên hai đứa nhỏ đều chung một chữ An. Thằng Ba là Duy An, thằng Tư là Lợi An. Hai chữ An đi liền nhau là ước vọng của người miền Nam mình về một ngày non sông yên bình, không còn tiếng bom rền đạn lạc."
-"Duy An Lợi An, nguyện cầu về một mai giữ vững giang sơn, thiên hạ thịnh vượng."
Tụi nó đã lớn lên cùng hai chữ An thanh thuần như thế, chở che nhau qua những mùa giông bão để mong chờ một ngày đất nước thực sự được bình an.
Đôi mắt mờ đục của Lợi An hướng vô định về phía dòng sông rộng. Bỗng nhiên, chiếc mũi rám nắng của em hít hà vào khoảng không, em giật mình, bờ vai run lên bần bật: "Út... Út Nhĩ ơi! Em có ngửi thấy cái mùi gì hông Út?"
Hạ Nhĩ mười sáu tuổi đang lúi cúi dọn dẹp dưới sàn đợi, nghe anh gọi liền vén áo lau mồ hôi trán, ngước lên nhìn: "Mùi gì đâu anh Tư? Ngoài lộ người ta đang đốt pháo ăn mừng rần rần đó chớ, khói khét lẹt chớ có mùi gì đâu anh?"
-"Hông phải!"
Giọng Lợi An lạc đi, gã quờ quạng hai tay ra trước mặt, giọng run rẩy như sắp khóc.
-"Mùi hoa sen... Mùi hoa sen dại ngào ngạt lắm Út ơi. Anh Ba... Anh Ba về rồi đúng hông em? Anh Ba hứa hết tiếng bom là dắt anh ra đầm sen đầu làng mà... Anh Ba về rồi phải hông Út?"
Hạ Nhĩ lặng người nhìn ông anh họ. Trên chiếc bàn gỗ giữa nhà, bình hoa sen cạn Chị Hai Trân mới hái cắm cúng tía má sáng nay đột ngột rụng xuống một cánh mềm. Đúng lúc đó, tiếng bước chân nặng nề từ đầu ngõ vọng vào.
Chị Hai bước vào sân, chiếc khăn rằn trên cổ chị ướt đẫm nước mắt. Đi bên cạnh chị là một anh chiến sĩ giải phóng quân, trên tay anh ôm một gói vải bạt hành quân bạc màu, trên mặt gói vải vẫn còn vương những vết bùn đất miền Đông chưa kịp ráo.
Hạ Nhĩ vừa nhìn thấy gói kỷ vật, cây chổi trên tay cậu rơi bịch xuống đất. Cậu thiếu niên mười sáu tuổi chôn chân tại chỗ, lồng ngực thắt lại đầy đau đớn.
Người chiến sĩ bước vào nhà, nhìn Lợi An đang ngồi run rẩy trên chõng, anh bùi ngùi đặt gói kỷ vật vào lòng em, nghẹn ngào nói: "Tôi là đồng đội cùng tiểu đội trinh sát với anh Ba An... Anh An hy sinh rồi các đồng chí ạ. Anh ấy ngã xuống ngay bên đầm sen trước cửa ngõ Sài Gòn, chỉ vài tiếng trước giờ ngưng bắn. Trước lúc đi, anh ấy khư khư ôm cuốn sổ này, dặn tôi bằng mọi giá phải mang về giao tận tay cho người tên Lợi An... Anh ấy nói, người đó đang đợi anh ấy về làm đôi mắt..."
Lợi An không khóc, chỉ dùng đôi bàn tay thô ráp của mình từ từ mở gói vải bạt ra. Bên trong là một cây bút máy Kim Tinh đã nứt vỏ, và cuốn sổ tay chép thơ bằng giấy thô đã bị máu tươi nhuộm đỏ thẫm một nửa. Em áp cuốn sổ ấy lên má, lên mũi.
Đúng rồi.
Mùi máu, mùi khói súng và mùi hương sen dại ngào ngạt đang tỏa ra từ chính những trang giấy này.
-" Anh Ba... Duy An của em..."
Lợi An thì thầm, hai hàng nước mắt nóng hổi cuối cùng cũng trào ra từ đôi mắt mờ đục, lăn dài trên gò má.
Em vội vàng dùng ngón tay tự cào vào ngực áo mình, lật phần nẹp áo bà ba trắng ra, áp chặt cuốn sổ đẫm máu của Vũ Quả vào dòng chữ mực xanh năm nào. Hai hàng chữ, một bằng mực xanh thanh thuần thời thiếu niên, một bằng máu tươi kiên cường thời chiến trận, giờ đây hòa vào làm một trên ngực trái của chú chim Lạc.
Chợt em nhớ lại lời hứa về hai chữ An của cả hai, về một mai đất nước sóng yên biển lặng. Sự hòa bình của non sông ngày hôm nay, hóa ra lại được đổi bằng chính sự chia ly vĩnh viễn của hai mảnh đời gắn kết như thế.
Chị Hai Trân khóc nấc lên, khuỵu xuống bên cạnh ôm lấy Lợi An. Hạ Nhĩ đứng chôn chân bên bậu cửa, cậu không khóc thành tiếng, nhưng đôi bàn tay siết chặt đến mức bật máu. Người anh cả vĩ đại của tụi nó, người luôn che chở cho tụi nó từ những mùa hái trái cây thuở nhỏ, cuối cùng đã chọn nằm lại với đất mẹ Nam Bộ, đổi lấy bầu trời tự do cho chú chim Lạc của mình.
Chiều hôm đó, trời miền Tây lặng gió đến lạ lùng, con rạch nhỏ phẳng lặng như một tấm gương soi.
Hạ Nhĩ ôm cây đàn guitar cũ của tía, bước ra ngồi bên hiên nhà. Cậu không đàn những giai điệu vui tươi của ngày chiến thắng, cậu đặt tay lên phím đàn, gảy lên những nốt trầm buồn, da diết của điệu dân ca Nam Bộ. Tiếng đàn vang lên, buồn thấu tận tâm can, bay qua hàng dừa nước, bay ra tận đầm sen cạn đầu làng.
Lạc Cơ mặc chiếc áo bà ba trắng, tay ôm chặt cuốn sổ thơ của Vũ Quả, hướng gương mặt rám nắng về phía hoàng hôn đỏ rực như máu. Em khẽ mấp máy môi, dùng giọng ca khàn đặc vì khóc nấc của mình để hát nốt bài thơ tình viết dở trong cuốn sổ tay:
"Trường Sơn đêm nay bom rơi buốt giá,
Anh đi thay em, đi suốt vạn dặm đường...
Mai anh về làm đôi mắt cho em..."
Hát đến câu cuối cùng, Lợi An ngước mặt lên trời, trong khoảng không gian mờ tối của đôi mắt, em như chợt nhìn thấy một bóng dáng cao ráo, mặc chiếc áo bà ba đen rách vai, tay cầm một chùm quả chín mỉm cười đứng bên kia bờ kênh vẫy tay gọi: "Lạc Cơ ơi, Anh Ba về rồi nè em!"
Đất nước đã thực sự thái bình, hai chữ An ngày nay giờ đây đã hòa làm một vào dòng chảy của non sông. Chú chim Lạc dẫu gãy cánh vẫn có thể tự do ngẩng cao đầu hót vang giữa bầu trời xanh thẳm, bởi lẽ linh hồn và đôi mắt của Duy An đã vĩnh viễn hòa vào làm một với đôi cánh của người thương. Anh không mất đi, anh chỉ hóa thành hương sen thanh khiết, ngàn năm bay lượn cùng Lạc Cơ của mình trên mảnh đất miền Tây rực nắng tự do.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co