Truyen3h.Co

marhoon 𓂃 mộng huyễn

4,

aemorie


Trời tháng Tư xứ Nghệ, cái nắng trưa không chỉ đổ lửa mà như đang nung chảy từng thớ gạch, từng vách đất hầm hập hơi men của đất trời cằn cỗi. Cái oi nồng đặc quánh lại, đến cả bầy ve sầu trên ngọn bạch đàn cũng phải ngậm miệng trốn bặt vào vòm lá. Giữa cái không gian đặc sệt sự ngột ngạt ấy, cái bóng dáng phong trần của Phạm Minh Tiến lại lững thững lách qua cánh cổng rào tre, đem theo cái ngào ngạt của thứ gió đồng bốc lên từ bùn đất.

Bà ngoại đang ngồi bên cái ấm chè xanh úp trong giỏ đan bện bằng tre già, thấy bóng gã liền hếch cái cằm khô đét, giọng khàn khàn cười cợt:

Cái thằng Bắc kỳ tê răng mà lì lợm dữ hè! Trưa mô cũng cái nắng tóe khói cháy da cháy thịt rứa mà không chịu nằm im một chỗ, cứ thích quăng thân vào cái lò gạch ni để nướng hả con?

Minh Tiến cười hề hề, cái cười hào sảng của kẻ bốn bể là nhà, gã giũ vội cái túi vải sờn rách quăng lên thềm hiên rồi kéo chiếc ghế tre ngồi sụp xuống. Châu Huân từ gian nhà trong lầm lũi bước ra, trên tay vẫn ôm khư khư cái rổ tre đựng mớ đậu chưa nhặt dứt. Cậu liếc xéo gã một cái, đoạn nhạt giọng:

Chẳng có việc chi đặng làm hay răng mà ngày mô cũng mò sang đây quấy rầy rứa, bộ hết chỗ dung thân rồi hay răng hè?

Minh Tiến chưa kịp ném lại dăm câu cợt nhả bỡn cợt, thì đôi tròng mắt tinh anh, từng trải qua trăm trận lửa đạn của một gã lính chiến bỗng khựng lại, dính chặt vào cái góc vách đất nứt nẻ nham nhở. Nơi ấy, ngự trị trên chiếc bàn thờ gỗ mộc nghèo xác xơ, phủ đầy một lớp tro tàn mờ đục của khói nhang là một tấm ảnh trắng đen đã ngả màu hoen ố, viền khung bám đầy vết thời gian nham nhở. Gã chết trân tại chỗ. Nụ cười ngông nghênh vụt tắt ngấm trên môi. Đôi mày rậm chau lại, trĩu nặng một nét thành kính thiêng liêng. Gã nhận ra cái vành mũ quân nhân bạc màu, ánh mắt quắc thước mà u uất trong khung kính kia dấu ấn rành rành của những kiếp người từng đem thân vùi vào lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết.

Bà ngoại thẫn thờ nhìn theo hướng nhìn của gã, tiếng thở dài phả ra nghe mặn đắng như giọt nước mắt khô:

Đấy là bọ nó đấy cháu hè... Cái thời đánh Mỹ đầu dạo trước, nó tập kết ra Bắc rồi biền biệt đi luôn, mãi đận sau ni mới nhận được cái giấy báo tử gửi về từ cái chiến trường Quảng Trị đỏ lửa. Cốt nhục gửi lại giữa chốn bãi rậm hoang tàn ni, đến cái nấm mồ vuông tròn bẻ ba tấc đất cũng chẳng biết đường mô mà mò mẫm đặng tìm...

Cả khoảng hiên nhà bỗng chùng dình, đặc quánh lại giữa thứ âm thanh nhức nhối của bầy ruồi trâu vo ve khoét thịt và cái bầu không khí hầm hập như dội lửa từ nền gạch nung. Châu Huân cúi gằm mặt xuống tận sát vành rổ, mười đầu ngón tay gân guốc bới mạnh, cấu xé vào mớ đậu khô cằn. Tiếng hạt đậu cọ xát vào nhau kêu lạo xạo, khô khốc, gấp gáp và đầy rẫy sự bực dọc, hệt như cậu đang trút toàn bộ cái thứ nỗi niềm hờn tủi câm lặng, cái đắng cay ngút ngàn của bao đời vào mớ hạt lép mót nhặt nhạnh từ buổi sáng tinh sương.

Minh Tiến dường như câm nín, chẳng thốt nổi nửa lời thừa thãi. Gã lặng lẽ bước lại gần cái túi vải bố sờn rách đang vắt hững hờ trên thành ghế tựa, đoạn định bụng nhấc bổng lên để xin phép cáo từ, lủi thủi ra về. Nào ngờ, cái động tác vội vã, hấp tấp bỗng phản chủ; một vật nặng trịch giấu kín trong lòng chiếc túi tối om ngột ngạt ấy liền tuột tay, rơi phịch một tiếng chát chúa xuống nền gạch nung đỏ quánh.

Cộp.

Một cuốn sổ tay bìa da trâu đã tướt mép, rách bươm quăng phịch xuống. Ngay sát cạnh đó là tấm thẻ quân đội với những con dấu son đỏ chói lọi, nghiêm cẩn của Tổng cục Chính trị, tung toé thêm một tấm ảnh nhỏ chụp chung một tiểu đội pháo binh nằm bẹp dí dưới cái chiến hào đã nát bét vì mưa bom bão đạn. Đặc biệt hơn cả, khi Minh Tiến lật đật cúi thân xuống nhặt, cái vạt áo sơ mi xanh rêu đã bạc phếch màu nắng gió của gã vô tình kéo xốc ngược lên, để trần trụi một vết sẹo dài loang lổ, tím ngắt như vết dao cau chém, chạy ngoằn ngoèo từ cẳng tay ngược lên tận bắp tay, dấu tích rành rành, kiêu hãnh của mảnh pháo thù găm sâu vào da thịt từ những năm tháng khói lửa đạn bom.

Châu Huân chết trân, máu trong người như đông đặc lại. Mớ hạt đậu lạo xạo trong rổ tuột rơi lả tả, bắn tung toé xuống đôi chân đang chôn chặt dưới nền gạch.

Hóa ra, cái gã lãng du quanh năm tếu táo, tay xách nách mang ấy không phải là kẻ lang thang vô định. Gã là một người lính thực thụ, một chiến sĩ đang trên đường hành quân làm nhiệm vụ đặc biệt từ tuyến lửa miền trong trở ra Bắc, ghé qua cái làng nghèo hẻo lánh này như một định mệnh tình cờ của thời cuộc.

Bà ngoại nheo đôi mắt mờ đục nhìn đống giấy tờ rơi vãi, đoạn bập bẹ cất giọng run rẩy:

Thì ra... chú mày cũng là bộ đội.

Minh Tiến đứng thẳng người dậy, bàn tay thô ráp khẽ phủi mớ bụi bám trên cuốn sổ tay. Nhìn ánh mắt đang ngỡ ngàng, sững sờ của thiếu niên, gã không còn cái vẻ cợt nhả thường ngày nữa. Trái lại, đôi mắt gã sáng quắc lên một thứ ánh sáng kiêu hãnh, trầm tĩnh và đầy nghĩa khí của người từng trải qua chiến trận:

Bà ngoại đoán không trật đi đâu được ạ. — Minh Tiến xoay người, hướng thẳng ánh mắt về phía Châu Huân, giọng trầm đục vang lên giữa cái tĩnh mịch của trưa hè. — Tôi không phải lang thang vô định chi cả. Đợt này tôi nhận lệnh từ trong Nam ra Bắc để công tác, tiện ghé qua đây trao đổi dăm ba việc giấy tờ của đơn vị. Hôm qua đi ngang qua ngõ, thấy chú em rồi tự dưng cái hình ảnh ấy... nó làm tôi nhớ đến đứa em út ở tiểu đội pháo binh năm xưa giờ đã nằm lại bên kia sông Bến Hải.

Châu Huân câm nín, cổ họng nghẹn đắng lại như bị ai bóp nghẹn. Cái nhìn của thiếu niên xoáy sâu vào vết sẹo lồi lõm, tím ngắt trên cánh tay gã, rồi trượt sang tấm thẻ quân nhân với những nét mực đã nhạt nhòa theo dâu bể thời gian. Trong lồng ngực non trẻ bỗng chốc dâng lên một thứ dung nham cảm xúc ngổn ngang, hỗn độn đến cùng kiệt: ở đó có cái giật mình ngỡ ngàng buốt giá, có niềm kính trọng bỗng nhiên bùng phát nghẹn ngào, và sâu thẳm hơn cả là một sợi dây vô hình, vô lượng đang căng phồng lên, nảy nở để kết nối trực diện cái thân phận côi cút của cậu với hình bóng người bố chưa một lần diện kiến trong khung ảnh thờ khói hương mịt mờ, lạnh ngắt.

Mặt trời đã đứng bóng ngay trên đỉnh chóp, chói cang phóng xuống khoảng sân gạch từng luồng ánh sáng sắc lẹm như xé thịt. Minh Tiến dường như tuyệt nhiên không hé thêm một lời thừa thãi. Gã vớ lấy chiếc bát sứ mẻ vành nham nhở, múc từ chiếc ấm đất nung ra một dòng chè xanh sánh đặc thứ màu nhựa lá già đen kịt, rồi đưa lên miệng chiêu liền một hớp cạn tráo, ngấu nghiến trọn vẹn cái vị chát đắng gân guốc của chảo lửa xứ Nghệ.

Cái vị chát đắng ngắt, gan góc phóng thẳng vào đầu lưỡi, đoạn trượt qua vòm họng để lại một thứ dư vị ngọt lịm, đậm đà đến rỏ nước mắt, cái vị mộc mạc, gân guốc của đất đai xứ Nghệ cằn cỗi, mà cũng chính là vị của những năm tháng gian khổ, bi tráng đến tận cùng nhưng hào hùng ngút ngàn của cả một thời đại gang thép.

Châu Huân ngước đôi tròng mắt sâu thẳm, thăm thẳm nét u buồn lên nhìn gã trân trân. Mười đầu ngón tay đang bới cấu mớ đậu khô cằn bỗng khựng bặt hẳn lại. Cậu chậm chạp, thành kính nhấc cái ấm đất nung còn bốc hơi nóng hổi, tự tay rót đầy tràn một chén dâng tới trước mặt Minh Tiến, đoạn buông ra một câu ngắn ngủn, lạnh tanh mà như chứa đựng cả một trận lở núi sụp đồi, một sự xoay chuyển càn khôn từ sâu thẳm đáy lòng:

Chè xanh nhà tự hái, nấu bằng cái nước giếng khơi chân rú ngọt lịm đấy anh hè... Anh uống mấn cho lại người... rồi thong thả kể tôi nghe chuyện ngoài mạn mặt trận cấy nả.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co