Chương 3
Tôi với Huy cùng nhìn nhau trầm mặc. Giữa cái nắng trưa oi ả bắt đầu len qua những ngọn cỏ úa ở bãi hoang, nỗi buồn ly biệt cứ thế dâng lên, đặc quánh.
Thấy hai chúng tôi cứ đứng nghệt mặt ra, Chi khẽ mỉm cười. Nó đột ngột bước tới, dang rộng đôi tay nhỏ nhắn ôm chầm lấy cả hai đứa. Vòng ôm của nó thoảng mùi hương trầm nhẹ nhẹ, ấm áp. Rồi Chi bật cười, giọng lanh lảnh rạng rỡ:
- Cả hai bọn mày không cần phải căng thẳng vậy đâu, có phải tao đi luôn không về nữa đâu mà lo. Khi nào đến Điện thờ, tao sẽ nhờ người chuyển một ít quả ngọt về cho bọn mày. Thậm chí nếu được phép, tao sẽ lại trốn về đây chơi nữa ấy chứ!
Nói đoạn, nó tinh nghịch nghiêng đầu, chớp chớp mắt trêu chọc:
- Chỉ sợ lúc ấy ở nhà, hai đứa bọn mày lại nhớ tao quá mà mất ăn mất ngủ ấy chứ!
Huy bị ôm bất ngờ thì mặt đỏ lựng lên. Nó vội vàng gạt tay Chi ra, quay mặt đi chỗ khác, hất cằm nói bằng cái giọng điệu ấp úng nhưng vẫn cố vớt vát vẻ cao ngạo hằng ngày:
- Ai... ai thèm nhớ mày chứ? Tao còn đang định ăn mừng vì từ nay bớt đi được một đứa hay làm phiền đây này!
Tôi nhìn cái dáng vẻ "vừa ngượng vừa sướng" của Huy, rồi nhìn nụ cười híp cả mắt của Chi, nỗi thắt quặn trong lòng cũng vơi đi quá nửa. Biết Chi đang cố tình bày trò để chúng tôi bớt lo, tôi cũng nặn ra một nụ cười, bước tới vỗ vai nó:
- Vậy mày phải nhớ lời đấy nhé, lúc nào cũng phải về thăm bọn tao. Không là đến mùa thu hoạch tới, phần hồng chín ngon nhất làng là tao với thằng Huy ăn sạch, không chừa cho mày một quả nào đâu.
Chi nghe vậy liền giãy nảy lên, hai cái má bầu bĩnh phồng ra đầy hờn dỗi:
- Ê nha, bọn mày chơi ăn gian quá đấy! Không được ăn hết phần của tao đâu!
Nhìn bộ dạng cuống cuồng của Chi, cả ba chúng tôi cùng bật cười vang. Tiếng cười giòn tan, trong trẻo lơ lửng giữa khoảng không bãi hoang, xua đi cái ngột ngạt của nắng trưa dội xuống. Khoảnh khắc ấy bình yên đến lạ kỳ. Tôi nhắm mắt lại, tận hưởng ngọn gió đồi hiếm hoi thổi qua mái tóc, thầm ước giá như thời gian cứ dừng lại ở giây phút này, để chúng tôi mãi là ba đứa trẻ vô tư chạy nhảy dưới chân núi Sơn Trụ.
Một lúc sau, Chi đứng dậy, đưa bàn tay gầy guộc phủi phủi lớp bụi đất bám trên gấu quần nhem nhuốc:
- Thôi, nắng đứng bóng rồi, tao phải về đây. Chiều nay tao phải vào Điện thờ chính thức để chuẩn bị một vài việc cho buổi lễ rồi, không được tự ý ra ngoài nữa đâu. Lão Tế ti bảo từ lúc này tao phải tịnh thân, cấm túc hoàn toàn với bên ngoài, để không được nhiễm bụi bặm phàm trần trước ngày tế.
Nghe việc Chi sẽ bị giữ trong cái Điện thờ âm u ấy suốt mấy ngày liền, tôi hụt hẫng rõ rệt. Tôi mím môi, bước lại gần bấu lấy vạt áo Chi, buồn bã hỏi:
- Vậy là... từ giờ đến hôm đó bọn tao không được gặp mày nữa thật à?
- Không hẳn đâu! - Chi vội vàng nắm lấy tay tôi, hai bàn tay nó ấm áp, truyền cho tôi một sự trấn an dịu dàng - Lão Tế ti nói theo luật lệ, đến đêm hai mươi ba, tức là đêm ngay trước ngày khai lễ, Thần Nữ sẽ được cho phép trở về nhà một đêm để nói lời tạm biệt với gia đình.
Huy đang tựa lưng vào gốc cây, nghe đến hai chữ "đêm hai mươi ba" thì mắt chợt sáng lên. Nó bước tới, hạ thấp giọng đầy bí hiểm:
- Đêm hai mươi ba? Trùng hợp thế! Tao vừa nghe lỏm được bố tao nói chuyện với Tế ti lúc sáng này. Bình thường tiệc khai mạc đại lễ sẽ tổ chức vào chiều tối ngày hai mươi bốn, nhưng năm nay Tế ti lại đẩy sớm lên ngay tối ngày hai mươi ba. Bố tao bảo năm nay linh khí đầy đủ, lại là sao Lộc Tồn chiếu mệnh, là Thiên Cơ chi Tinh gì đó nên phải mở tiệc sớm để làng ta thêm thịnh vượng. Hôm nay họ mới công bố cho dân làng biết đấy!
Tôi với Chi ngơ ngác nhìn Huy. Huy đập tay bộp một cái, hào hứng vạch kế hoạch:
- Đêm hai mươi ba, khi Chi được thả về nhà, cũng là lúc cả làng này tập trung mở tiệc rượu say sưa ở phủ trưởng làng. Lúc ấy đám lính gác cổng hay gác Điện thờ chắc chắn sẽ lo rượu chè mà lơ là. Với lại, tao là con trưởng làng nên ra vào đâu cũng dễ. Nhân lúc mọi người ngà ngà say, tao với Nguyệt sẽ lẻn ra, còn Chi thì trốn từ nhà ra đây. Ba đứa mình lại tụ họp tại gốc đa này, làm một buổi chia tay bí mật của riêng ba đứa, bọn mày thấy sao?
Lời đề nghị của Huy như một đốm lửa sưởi ấm lòng tôi. Chi gật đầu cái rụp, đôi mắt nó lấp lánh niềm vui:
- Được đấy! Đằng nào đêm đó tao cũng ở nhà với bà. Hẹn gặp ở gốc đa này nhé, không gặp không về!
- Cứ quyết thế đi. Giờ thì về thôi, nhớ đi cẩn thận nhé!
- Được, bọn mày cũng về cẩn thận! Tạm biệt!
- Tạm biệt!
Chúng tôi rẽ bước theo ba ngả đường khác nhau. Tôi đi được một đoạn thì dừng lại, lặng lẽ quay đầu nhìn theo bóng lưng hai đứa bạn thân đang mờ dần dưới cái nắng trưa vàng vọt. Căn nhà của tôi nằm khuất ở phía gần cuối làng. Từ đây nhìn sang bên tay trái, đi qua mấy căn nhà vách đất san sát nhau, khuất sau giàn bầu là mái nhà tranh nhỏ nơi Chi đang ở cùng bà. Còn nhà của Huy thì nằm biệt lập ở tận phía ngược lại, nguy nga bệ thế ngay gần chân núi - nơi Điện thờ thâm nghiêm đang ngự trị.
Ngôi làng Sơn Trụ bao năm qua vẫn vậy, nhà cửa của kẻ quyền thế và người nghèo khó cách nhau một khoảng xa vời vợi, ấy thế mà ba đứa chúng tôi lại gắn bó, thân thiết với nhau như ruột thịt. Tình bạn này đối với tôi, chính là điều tốt đẹp duy nhất mà mảnh đất cằn cỗi này ban tặng.
Một lúc sau, tôi bước chân vào khoảng sân đất đầy bụi bặm nhà mình. Căn nhà sập xệ, cũ kỹ đón tôi bằng một bầu không khí âm u, ẩm thấp quen thuộc. Cái nắng gắt ngoài kia như bị chặn đứng bên ngoài bộc cửa gỗ mục nát. Tôi đảo mắt nhìn quanh một lượt, thấy trong nhà im ắng, biết là cha và em trai Thành Dương đều chưa về, tôi khẽ thở phào nhẹ nhõm.
Tôi lầm lũi vào bếp, xúc phần cơm trưa của mình ra một cái bát sứt mẻ rồi ngồi thụp xuống góc nhà. Bữa cơm đơn giản đến tội nghiệp, chỉ có vài khúc sắn luộc độn với nắm rau dại hái ngoài bờ mương. Sắn đã nguội ngắt, hơi sượng, nhưng vị ngọt bùi thanh thanh của nó hòa với chút muối vừng lại khiến tôi thấy lòng mình ấm áp lạ kỳ. Tôi ăn từng miếng một, chậm rãi, tận hưởng khoảng không gian yên bình hiếm hoi.
Ăn xong, tôi bắt đầu dọn dẹp nhà cửa. Tôi lau chùi chiếc phản gỗ, quét sạch lớp tro bếp vương vãi, chuyển động một cách tỉ mỉ. Khi mọi việc đã xong xuôi, tôi ngó đầu ra cửa canh chừng một lần nữa để đảm bảo không có ai về, rồi mới nhẹ nhàng quỳ xuống, luồn tay vào khoảng tối sâu nhất dưới gầm chiếc giường tre ọp ẹp để lấy chiếc hộp bí mật của mình ra.
Tôi ngồi bệt xuống nền đất mát lạnh, cẩn thận mở nắp chiếc hộp gỗ mít cũ kỹ. Mùi gỗ khô lẫn mùi trầm thoang thoảng bay ra. Bên trong là một cây trâm nhỏ được đục đẽo từ một thanh gỗ mít. Trông nó vẫn còn vô cùng thô sơ, những đường uốn lượn trên thân trâm còn gồ ghề, dang dở.
Cây trâm gỗ này chính là món quà mà tôi đã âm thầm chuẩn bị suốt một tháng qua để tặng Chi. Nó không chỉ là một khúc gỗ, mà là nơi tôi gửi gắm tất cả những kỷ niệm ấu thơ, những tiếng cười trên bãi hoang và cả tình cảm khăng khít của ba đứa. Tôi và Huy đều mong rằng, sau này ở nơi xa lạ, mỗi khi Chi cảm thấy cô đơn hay nhớ nhà, chỉ cần chạm vào cây trâm này, lòng nó sẽ vơi bớt phần nào tủi thân.
Tôi cầm con dao nhỏ, bắt đầu tỉ mỉ gọt từng chút một. Tôi dồn hết sự chú ý vào đầu mũi dao, đưa tay khéo léo và nhẹ nhàng như sợ làm đau thớ gỗ. Từng lớp phôi gỗ mít mỏng mảnh, thơm nhẹ rơi xuống chân, để lộ ra những đường nét tinh xảo - những chi tiết điêu khắc phức tạp mà ngày xưa bà nội đã từng kiên nhẫn cầm tay dạy cho tôi.
Làng Sơn Trụ từ xưa đã nặng nề tư tưởng trọng nam khinh nữ. Những việc trọng yếu liên quan đến thần linh, cúng bái hay đục đẽo vật dụng trong cung cấm tuyệt đối không cho đàn bà chạm tay vào vì sợ "ô uế". Khi bà tôi ngày trước ngỏ ý muốn làm, đám đàn ông trong ban tế lễ đã ra sức phản đối, tìm đủ mọi cách gây khó dễ, khinh miệt và chèn ép bà đủ đường.
Nhưng bà tôi là một người phụ nữ kiên cường. Bà không nói nửa lời, chỉ lặng lẽ dùng trí tuệ và tài năng điêu khắc thiên bẩm để chứng minh. Những sản phẩm thờ cúng do chính tay bà đục đẽo tinh xảo, sống động đến mức khiến tất cả những tay thợ nam khéo nhất làng đều phải cúi đầu im bặt. Bà từng bước chinh phục và có được sự tín nhiệm của lão Tế ti đương nhiệm, trở thành người thợ điêu khắc giỏi nhất làng.
Ký ức đưa tôi trở về những buổi trưa hè oi ả năm tôi mười tuổi. Khi ấy, tôi cứ ngồi thu lu một góc bếp, đôi mắt mở to mê mẩn nhìn đôi bàn tay gầy guộc, đầy vết chai sần của bà đưa thoăn thoắt trên thớ gỗ lim cứng ngắc.
Từng nhịp búa gõ lốc cốc, từng đường dao gọt ngọt lịm của bà như có phép thuật, biến khúc gỗ vô tri thành những bông hoa, những hình chim muông sống động. Gương mặt bà lúc làm việc tỏa ra một sự điềm tĩnh và định lực khiến tôi ngưỡng mộ sâu sắc. Khi ấy, trong lòng đứa trẻ mười tuổi là tôi chỉ có một khát khao duy nhất, trong sáng và giản đơn: *"Nếu sau này mình lớn lên được tài giỏi và mạnh mẽ giống như bà thì tốt biết mấy!"*
Có lẽ cảm nhận được ánh mắt thèm thuồng, đầy sùng bái của đứa cháu gái nhỏ, bà dừng tay dao. Bà thổi nhẹ cho bay bớt lớp bụi gỗ bám trên thanh tà vẹt, rồi quay sang nhìn tôi. Đôi mắt mờ đục theo thời gian của bà bỗng chốc cong lên, ánh lên nụ cười hiền từ, ấm áp như vạt nắng mùa thu. Bà khẽ đưa bàn tay còn dính đầy bụi gỗ xoa nhẹ đầu tôi, giọng trầm ấm, dịu dàng hỏi:
- Nguyệt Nhi, cháu có muốn học không?
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen3h.Co